1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Lựa chọn bài tập nâng cao hiệu quả phát triển sức nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc

84 325 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BIỂU BẢNG Bảng 3.1 Về thực trạng đội ngũ giáo viên trong trường n= 19 37 Bảng 3.2 Kết quả phỏng vấn giáo viên về lựa chọn một số bài tập nâng cao hiệu quả phát triển sức nhanh c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

TRIỆU THỊ THU QUỲNH

LỰA CHỌN BÀI TẬP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN SỨC NHANH CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRƯỜNG MẦM NON KHAI QUANG - VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Sư phạm Giáo dục Mầm non

Hướng dẫn khoá luận:

ThS Nguyễn Hữu Hiệp

HÀ NỘI- 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, em luôn nhận được sự hướng dẫn, chỉ đạo nhiệt tình của Th.S Nguyễn Hữu Hiệp, sự động viên, khích lệ của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non và khoa Giáo dục Thể chất Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Hữu Hiệp cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non và khoa Giáo dục Thể chất cũng như các cô giáo ở Trường Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc đã giúp em hoàn thành khóa luận này

Trong khuôn khổ thời gian có hạn nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế Em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô cùng bạn đọc để em tiếp tục hoàn thiện trong quá trình học tập và giảng dạy sau này

Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2016

Sinh viên

Triệu Thị Thu Quỳnh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Triệu Thị Thu Quỳnh Sinh viên lớp K38B - GDMN Trường ĐHSP Hà Nội 2

Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi, kết quả nghiên cứu của đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu nào nghiên cứu về vấn đề này tại Trường Mần non Khai Quang - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc Toàn bộ những vấn đề đưa ra bàn luận, nghiên cứu là những vấn đề mang tính thời sự, cấp bách và đúng thực tế tại Trường Mần non Khai Quang - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc

Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2016

Sinh viên

Triệu Thị Thu Quỳnh

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

Từ viết tắt Giải thích từ viết tắt

CP Chính phủ CTGDMN Chương trình Giáo dục Mầm non

ĐC Đối chứng

GD - ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo GDMN Giáo dục Mầm non GDTC Giáo dục Thể chất GVMN Giáo dục Thể lực MGL Mẫu giáo lớn NXB Nhà xuất bản

QĐ Quy định STT

SL

Số thứ tự

Số lượng TDTT Thể dục Thể thao

TN Thực nghiệm TT-BGDĐT Thông tư - Bộ Giáo dục Đạo tạo

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lý luận xác định định hướng nghiên cứu của đề tài 5

1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về Giáo dục Thể chất trong trường mầm non 5

1.1.2 Vị trí, vai trò của Giáo dục Thể chất đối với lứa tuổi mầm non 6

1.1.3 Sự quan tâm của xã hội đối với Giáo dục Thể chất ở mầm non 10

1.1.4 Giáo dục Thể chất ở trường mầm non 11

1.1.4.1 Nội dung Giáo dục Thể chất ở trường mầm non 11

1.1.4.2 Nhiệm vụ Giáo dục Thể chất cho trẻ mẫu giáo 11

1.1.5 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn 14

1.1.5.1 Sự phát triển của cơ thể trẻ em 14

1.1.5.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn 15

1.1.5.3 Đặc điểm sinh lý 18

1.2 Một số nét đặc trưng của bài tập thể chất 21

1.2.1 Ý nghĩa của bài tập thể chất 21

1.2.2 Phân loại các bài tập 22

1.2.3 Một số hạn chế khi áp dụng bài tập thể chất đối với trẻ mẫu giáo lớn 23 1.3 Cơ sở giáo dục sức nhanh 23

1.3.1 Khái niệm và các hình thức biểu hiện của sức nhanh 23

1.3.2 Đặc điểm của sức nhanh 24

1.3.3 Cơ sở sinh lý hóa của sức nhanh 25

1.4 Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động 26

1.4.1 Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động đơn giản 26

1.4.2 Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động phức tạp 28

Trang 6

1.4.3 Phương pháp rèn luyện sức nhanh tần số động tác 28

Chương 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP, TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 30

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 30

2.2 Các phương pháp nghiên cứu chính 30

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 30

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 31

2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm 31

2.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 31

2.2.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm 32

2.2.6 Phương pháp toán thống kê 32

2.3 Tổ chức nghiên cứu 34

2.3.1 Thời gian nghiên cứu 34

2.2.2 Đối tượng nghiên cứu 34

2.3.3 Địa điểm nghiên cứu 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1 Đánh giá thực trạng tổ chức Giáo dục Thể chất và việc sử dụng các bài tập nâng cao hiệu quả phát triển sức nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 36

3.1.1 Thực trạng thực hiện chương trình Giáo dục Thể chất 36

3.1.2 Thực trạng về trình độ đội ngũ cán bộ, giáo viên trong trường 37

3.1.3 Thực trạng cơ sở vật chất 38

3.1.4 Thực trạng việc sử dụng các bài tập thể chất trong các giờ học chính khóa 38

3.1.5 Thực trạng sử dụng một số bài tập thể chất trong hoạt động ngoại khóa 39 3.1.6 Thực trạng quá trình sử dụng bài tập thể chất nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn 40

Trang 7

3.2 Lựa chọn và đánh giá hiệu quả sử dụng bài tập nhằm nâng cao hiệu quả phát triển sức nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai Quang -

Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 41

3.2.1 Cơ sở lựa chọn bài tập 41

3.2.4 Lựa chọn test đánh giá sức nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai Quang 52

3.2.5 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập đã chọn nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ MGL Trường Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên 53

3.2.5.1 Tổ chức thực nghiệm 53

3.2.5.2 Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm 53

3.2.5.3 Xây dựng tiến trình thực nghiệm 54

3.2.5.4 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm 55

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BIỂU BẢNG

Bảng 3.1 Về thực trạng đội ngũ giáo viên trong trường (n= 19) 37 Bảng 3.2 Kết quả phỏng vấn giáo viên về lựa chọn một số bài tập

nâng cao hiệu quả phát triển sức nhanh cho trẻ mẫu giáo

Bảng 3.3 Kết quả phỏng vấn giáo viên về mức độ ưu tiên sử dụng

buổi tập trong tuần nhằm nâng cao hiệu quả phát triển sức nhanh cho trẻ MGL (n = 19) 51 Bảng 3.4 Kết quả phỏng vấn giáo viên về số lượng thời gian sử

dụng trong mỗi buổi tập (n = 19) 51 Bảng 3.5 Bảng phỏng vấn giáo viên về mức độ ưu tiên test kiểm tra

đánh giá sức nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Khai Quang (n=19) 52 Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của 2 nhóm đối

chứng và thực nghiệm (nA = nB = 30) 54 Bảng 3.7 Tiến trình thực nghiệm các bài tập đã lựa chọn 55 Bảng 3.8 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của nhóm đối chứng và

nhóm thực nghiệm (nA = nB = 30) 56 Biểu đồ 1 Thành tích chạy xuất phát cao 30mcủa 2 nhóm thực

nghiệm và đối chứng trước và sau thực nghiệm 57 Biểu đồ 2 Thành tích chạy xuất phát cao 30m của 2 nhóm đối chứng

và thực nghiệm của nữ trước và sau thực nghiệm 58

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Một quốc gia hùng mạnh là một quốc gia có nền giáo dục phát triển Đầu tư cho giáo dục là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người tương lai của đất nước, có đầy đủ phẩm chất đạo đức và năng lực “vừa hồng vừa chuyên” như lời Bác Hồ dặn

Đại hội Đảng khóa IX đã xác định: “Giáo dục - đào tạo là quốc sách

hàng đầu, phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người” [7] Vì vậy, giáo dục đã trở thành mối quan tâm

của toàn xã hội Đặc biệt, Giáo dục Mầm non (GDMN) có một vị trí quan trọng, là nấc thang khởi đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân với mục tiêu giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:

“Trẻ em như búp trên cành Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”

Trẻ em sinh ra có quyền được chăm sóc và bảo vệ, được tồn tại và chấp nhận Đó vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng Trẻ em là công dân của xã hội, là thế hệ tương lai của đất nước nên ngay từ thủa lọt lòng, chúng ta cần chăm sóc giáo dục trẻ thật chu đáo cả

về thể chất lẫn tinh thần Ở lứa tuổi này, trẻ đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ về tất cả các mặt, trong đó các hệ thần kinh, cơ xương hình thành nhanh, bộ máy hô hấp đang ngày càng được hoàn thiện Cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc, mất cân đối nếu không được chăm sóc giáo dục đúng đắn thì có thể gây nên những thiếu sót trong sự phát triển cơ thể trẻ mà không thể khắc phục được Hơn nữa, việc rèn luyện thân thể có tác dụng

Trang 10

phòng bệnh và chữa bệnh rất tích cực, lấy lại sự cân bằng âm dương của cơ thể Nếu con người không vận động, không rèn luyện thì khả năng thích nghi kém, tuổi thọ không thể kéo dài

Mặt khác, Giáo dục Thể chất (GDTC) cho trẻ mầm non là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện, có mối quan hệ mật thiết với giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ và lao động Nó là một quá trình sư phạm tác động trực tiếp lên con người một cách có mục đích, có kế hoạch, bằng các phương pháp, phương tiện nhằm phát triển năng lực con người nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội Do vậy, trong những năm gần đây GDMN được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và chú trọng tới công tác chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non bằng cách nâng cao chất lượng đào tạo; đầu tư về cơ sở, trang thiết bị; lựa chọn các hình thức, nội dung, phương pháp hoạt động phong phú ở từng cấp học… nhằm đem lại hiệu quả lớn trong công tác giáo

dục thể chất.Như lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Mỗi một người dân

yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân mạnh khỏe tức làgóp phần cho cả nước mạnh khỏe” [8]

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, tình hình sức khỏe còn nhiều vấn đề đáng lo ngại Nhiều trẻ mắc bệnh còi xương, suy dinh dưỡng, các bệnh đường hô hấp, các bệnh đường ruột… Các điều kiện đảm bảo và chăm sóc sức khỏe của trẻ còn nhiều thiếu thốn, cơ sở vật chất ở các trường và gia đình còn quá chật hẹp, chưa đảm bảo vệ sinh môi trường cho trẻ sinh hoạt, học tập Do đó, GDTC cho trẻ em ở nước ta cần được tiến hành một cách mạnh mẽ, toàn diện, cần được sự quan tâm, ủng hộ của toàn xã hội, tạo điều kiện cho trẻ được phát triển tốt nhất

Ngoài ra trong quá trình GDTC cho trẻ mầm non, các nhiệm vụ về GDTC được tổ chức và hoàn thành bằng các bài tập thể chất khác nhau tạo nên một chế độ vận động nhất định, cần thiết cho sự phát triển đầy đủ về cơ

Trang 11

thể và củng cố sức khỏe cho trẻ Mà mục tiêu hàng đầu của GDTC là người tập không ngừng phát triển và hoàn thiện các tố chất thể lực cũng như giáo dục tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập nhằm phục vụ, xây dựng sự nghiệp bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Một vấn đề đặt ra là muốn đạt được hiệu quả cao trong quá trình giáo dục các tố chất thể lực nói chung và giáo dục sức nhanh cho trẻ nói riêng cần phải lựa chọn các bài tập gì?, dùng các phương tiện, phương pháp tập luyện như thế nào? Để từ đó tạo được sự kích thích ở trẻ lòng yêu thích thể dục thể thao, sự say mê, hứng thú trong luyện tập, cũng như tạo nên một lượng vận động hợp lí với trình độ thể lực và đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của trẻ mầm non: “Dễ nhớ, dễ quên, học qua chơi, chơi qua học”

Trong quá trình thực tập được tiếp xúc, dự giờ các giáo viên và tham gia hỗ trợ, tôi nhận thấy rằng việc phát triển vận động cho trẻ mầm non là việc làm thường ngày của các giáo viên Song, khi đi sâu vào chuyên đề sử dụng các bài tập thể chất để phát triển các tố chất thể lực nói chung và phát triển sức nhanh cho trẻ nói riêng chưa được chú trọng nhiều, cũng như việc tổ chức thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế như: đội ngũ cán bộ, giáo viên chưa được tập huấn, bồi dưỡng về chuyên đề; phòng nhóm lớp chật hẹp chưa có góc hoạt động chức năng riêng cho từng chuyên đề; trang thiết bị, dụng cụ cho trẻ tập luyện ở tại các nhóm lớp còn thiếu; khả năng xây dựng kế hoạch và sự sáng tạo của một số giáo viên còn hạn chế, chưa biết lựa chọn các bài tập phù hợp với yêu cầu của từng chuyên đề đưa ra…

Trên thực tế tìm hiểu, đã có nhiều công trình của các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề giáo dục thể chất cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo Một số công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này đã thành

công và được công bố như: “Một số biện pháp tổ chức trò chơi dân gian cho

trẻ mẫu giáo bé nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho trẻ” (Huỳnh

Trang 12

Kim Vui, Đại học Sư phạm Hà Nội - 2005); “Một số biện pháp phát huy tính

tích cực của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi trong hoạt động chung có mục đích giáo dục thể chất” (Lý Thị Anh, Đại học Sư phạm Hà Nội - 2005); “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề” (Lục Thị Trung Hải, Đại học Sư phạm Hà Nội -

2005)… Song, cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về việc lựa chọn bài tập nhằm nâng cao hiệu quả phát triển sức nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai Quang -Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc

Vì thế, là một giáo viên mầm non tương lai rất quan tâm đến vấn đề này

nên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Lựa chọn bài tập nâng cao

hiệu quả phát triển sức nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc”

* Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả phát triển sức nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Khai Quang nói riêng và các trường mầm non khác nói chung góp phần đào tạo những con người phát triển toàn diện cho đất nước

* Giả thiết khoa học

Trong quá trình giảng dạy phát triển thể chất cho trẻ, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau nên việc tổ chức các hoạt động thể chất cho trẻ chưa thực sự hiệu quả và còn nhiều hạn chế Nếu việc lựa chọn và

áp dụng các bài tập đạt hiệu quả thì sẽ tạo điều kiện tốt để tìm ra các biện pháp, phương pháp phù hợp với điều kiện vật chất, đặc điểm tâm sinh lý của trẻ nhằm nâng cao hiệu quả phát triển sức nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn Trường

Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận xác định định hướng nghiên cứu của đề tài

1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về Giáo dục Thể chất trong trường mầm non

Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của GDMN trong sự phát triển nhân cách con người Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, đổi mới chương trình, nội dung phương pháp dạy và học, phương pháp thi kiểm tra theo hướng hiện đại nhằm nâng cao năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội

Luật giáo dục được Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 02/12/1998 và pháp lệnh TDTT được ủy ban

Thường vụ quốc hội thông qua tháng 9/2000 quy định:“Nhà nước coi trọng

TDTT trong trường học nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên nhi đồng GDTC là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại học TDTT trường học bao gồm cả việc tiến hành chương trình giáo dục và tổ chức TDTT ngoại khóa cho người học Nhà nước khuyến khích đào tạo và tạo điều kiện cho học sinh tập luyện TDTT phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện từng nơi GDTC là bộ phận quan trọng để thực hiện nguyên tắc giáo dục toàn diện góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[7]

Quan niệm giáo dục hiện đại và tiến bộ nhấn mạnh rằng cùng với việc chăm lo nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe của trẻ, người lớn cần nhạy cảm và đón nhận thỏa mãn nhu cầu phát triển của trẻ, làm nảy sinh nhu cầu mới, từng bước hoàn thiện và phát triển nhân cách trẻ Quyết định của thủ tướng chính

Trang 14

phủ số 149/2006/QĐ ngày 23/6/2006 phê duyệt đề án phát triển GDMN giai

đoạn 2006 - 2015: “Nhà nước có trách nhiệm quản lý, đầu tư phát triển giáo

dục mầm non; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách, đẩy mạnh công tác xã hội hóa; nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục mầm non các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn” “Việc chăm sóc giáo dục mầm non phải thực hiện gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình

và xã hội Coi trọng và nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức chăm sóc, giáo dục cho các bậc phụ huynh cha mẹ của trẻ nhằm thực hiện đa dạng hóa phương thức chăm sóc giáo dục trẻ em”[13]

Chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ đối với GDMN nêu trong quyết định

số 09/2005/QĐ ngày 11/1/2005 của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề

án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo

dục giai đoạn 2005 - 2010”

Con người cần nâng cao giáo dục đào tạo một cách có hệ thống ngay từ khi bước những bước chập chững đầu tiên Trong điều kiện phát triển giáo dục có tổ chức một cách đặc biệt, thì khả năng tiềm tàng to lớn của trẻ sẽ được bộc lộ, do đó hình thành nhân cách cho trẻ sẽ thu được những công trình

to lớn

Quan điểm chiến lược về GDMN đến năm 2020 là thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong những năm tới Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII

khẳng định: “Ở mọi cấp học, ngành học, bậc học, nhất thiết không thể coi nhẹ

việc chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho học sinh, tạo điều kiện cho các em rèn luyện thông qua hoạt động, đặc biệt là hoạt động TDTT”[10]

1.1.2 Vị trí, vai trò của giáo dục thể chất đối với lứa tuổi mầm non

Những năm gần đây, ngành GDMN ở các địa phương trong cả nước đã

có những chuyển biến tích cực: tỷ lệ trẻ em đến lớp tăng, cơ sở trường lớp

Trang 15

ngày càng khang trang, đội ngũ GVMN được bổ sung về số lượng và từng bước được nâng cao trình độ nghiệp vụ

Tuy được đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị tương đối đồng bộ, nhưng chất lượng dạy và học ở bậc mầm non tại các địa phương còn nhiều bất cập Tại các thành phố, bên cạnh các trường công lập, xuất hiện nhiều trường mầm non dân lập, tư thục Còn ở các làng quê, số trường lớp rất thưa vắng, số lượng giáo viên còn thiếu

Chất lượng GDMN cũng không đồng đều, thậm chí nhiều trường mầm non tư thục có phương pháp chăm sóc trẻ tốt hơn trường công lập Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do đời sống của GVMN công lập, nhất là ở nông thôn, miền núi chưa được quan tâm đúng mức So với những giáo viên ở cấp bậc học khác, công việc của GVMN khá bận rộn, ngoài việc hướng dẫn dạy dỗ các em, GVMN còn phải thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng

Vậy để nâng cao chất lượng GDMN, cần đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và quan tâm phát triển đội ngũ giáo viên giỏi, tâm huyết với nghề Chính sách đối với GVMN cần được chỉnh sửa phù hợp hơn nữa, ưu tiên GVMN làm việc tại nông thôn và các vùng khó khăn

Ở độ tuổi mầm non cơ thể trẻ đang phát triển nhanh, nhưng sức đề kháng còn yếu, các cơ quan phát triển chưa hoàn thiện Vì vậy, giai đoạn này GDTC

có nhiệm vụ vô cùng quan trọng: bảo vệ, tăng cường sức khỏe nhằm đảm bảo

sự phát triển toàn diện ngay từ những năm tháng đầu của cuộc đời Nếu cuộc đời con người là một ngôi nhà thì ngôi nhà đó sẽ không vững chắc nếu như không có một nền móng tốt Cho nên, chúng ta phải xây được những viên gạch thật chắc chắn, đặt nền móng cho chúng bằng việc GDTC ngay từ đầu

Sự phát triển tinh thần và thể chất của trẻ em luôn theo những quy luật nhất định Do đó, việc lựa chọn và áp dụng những bài tập rèn luyện thể lực cần được quan tâm đặc biệt

Trang 16

Có thể thấy các em lứa tuổi mẫu giáo có nhu cầu rất lớn về vận động, các nhu cầu này phải được đưa vào hoạt động hằng ngày Vì vậy, phải tạo điều kiện cho các em trong mỗi mùa đều vận động một cách đầy đủ Các bậc cha mẹ và những người làm công tác dạy trẻ có thể khuyến khích các em rèn luyện thể lực bằng các bài tập và trò chơi đơn giản

Các cử động của trẻ còn chậm và vụng về, điều đó thể hiện rất rõ ràng trong khi chạy nhảy Với lứa tuổi này, trẻ chưa làm chủ được cơ thể nên khi ngã chưa tự chống đỡ được Nguyên nhân là do trẻ chưa phát triển thể lực và khả năng phối hợp vận động (vận động của chân - tay, chân tay - thân mình) nên dẫn đến động tác thừa không cần thiết Trẻ 5 - 6 tuổi sức bền bỉ, dẻo dai còn rất yếu, khi hoạt động nhiều trẻ dễ bị mệt cả về thể chất lẫn tâm lý

Qua những đặc điểm trên, ta có thể thấy rằng hoạt động TDTT là một hoạt động không thể thiếu được trong sự phát triển cơ bản của trẻ Tập luyện TDTT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc gìn giữ, tăng cường sức khỏe, đồng thời GDTC có tác dụng rèn luyện một cách toàn diện cả về mặt thể chất

và tinh thần cho trẻ

GDTC không những có thể bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cho học sinh

mà còn làm cho tinh thần con người mạnh khỏe, cuộc sống văn minh, vui vẻ,

có ý nghĩa tạo nên hành vi văn minh như tôn trọng tập thể, tôn trọng trật tự công cộng; là cầu nối để con người giao lưu, học hỏi, đoàn kết lại với nhau, khích lệ lòng tự tin, dũng cảm của bản thân

Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Để đảm bảo cho sự phát triển của toàn xã hội, việc phát triển nhân tố con người, nguồn nhân lực con người phải tiến hành không ngừng ngay từ khi trẻ mới sinh, thậm chí ngay từ khi trẻ vẫn đang còn là bào thai trong bụng mẹ Vì vậy, công tác chăm sóc giáo dục trẻ, đặc biệt là GDTC vẫn đang có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của trẻ nói riêng và nguồn lực nói chung

Trang 17

Không ai có thể phủ nhận vai trò của sức khỏe đối với sự phát triển của

mỗi con người C.Mác cho rằng: “Việc kết hợp lao động sản xuất với trí dục

và thể dục không những chỉ là một trong những phương tiện tăng thêm sản xuất xã hội mà còn là phương tiện duy nhất để đào tạo con người phát triển toàn diện” [1] Nhận thức rõ được điều đó, Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân

tập thể dục, bởi mỗi người dân khỏe mạnh là làm cho cả nước hùng mạnh

Mục tiêu của nền giáo dục nước ta đặt ra là phải đào tạo ra những con người toàn diện về mọi mặt có đủ: đức, trí, thể, mỹ, lao động Bên cạnh công tác giáo dục văn hóa thì GDTC cũng chiếm một vị trí quan trọng Nó là một tiền đề giúp người học có đủ sức khỏe, tinh thần thoải mái, sảng khoái để tiếp thu kiến thức của bộ môn khác

GDTC trường học là cơ sở nền tảng của TDTT quốc dân Đây là một chiến lược quan trọng, là yếu tố cơ bản để chuẩn bị sức khỏe, thể lực phục vụ cho lao động, sẵn sàng bảo vệ tổ quốc

GDTC còn có mối liên hệ mật thiết tới việc giáo dục đức, trí, thẩm mỹ

và lao động cho trẻ Bởi các hoạt động của trẻ phụ thuộc vào các trạng thái sức khỏe của trẻ Sự khỏe mạnh giúp trẻ linh hoạt hơn, năng động hơn, tinh tế hơn và có khả năng tạo ra cái đẹp trong mọi hoạt động của cuộc sống Thể dục giúp trẻ có sức khỏe dẻo dai, có các thao tác vận động chính xác, có cảm giác tốt về nhịp điệu và định hướng không gian nhanh nhẹn Từ đó giúp trẻ dễ dàng hoàn thành các nhiệm vụ được giao

Ở nước ta, GDTC đang ngày càng được quan tâm và chú trọng Đây được coi là những nhiệm vụ hàng đầu của giáo dục nói chung và trường mầm non nói riêng Bởi lẽ, sức khỏe là vốn quý nhất, có ý nghĩa sống còn của con người

Tuy nhiên, tình hình sức khỏe của trẻ em ở nước ta còn rất nhiều vấn đề đáng lo ngại, vẫn còn nhiều trẻ mắc bệnh còi xương, suy dinh dưỡng, các

Trang 18

bệnh về đường hô hấp và đường ruột… Ngoài ra, điều kiện giáo dục và chăm sóc sức khỏe của trẻ còn nhiều thiếu thốn, cơ sở vật chất ở các trường và gia đình còn quá chật hẹp, chưa đảm bảo vệ sinh môi trường cho trẻ sinh hoạt và học tập

1.1.3 Sự quan tâm của xã hội đối với Giáo dục Thể chất ở mầm non

Các chương trình nghiên cứu giáo dục trẻ em mầm non (từ 0 - 6 tuổi) trên thế giới đều cho rằng: sự phát triển trong những năm đầu đời quyết định

tương lai của cả cuộc đời, đặc biệt là giai đoạn từ 0 đến 3 tuổi là “Giai đoạn

vàng”, “Cửa sổ cơ hội” để não bộ được hoàn thiện Đây cũng là thời kỳ chịu

ảnh hưởng nhiều nhất từ tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe, môi trường sống, nội dung phương pháp giáo dục

Có thể khẳng định rằng, trẻ em mầm non là nhóm trẻ đặc biệt quan trọng, là nền tảng trong phát triển chiến lược con người, phát triển kinh tế đất nước Vì vậy, cung cấp dịch vụ chăm sóc và giáo dục có chất lượng cao cho trẻ mầm non là nhiệm vụ cấp thiết để thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em, đảm bảo công bằng xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tương lai, góp phần đào tạo cho đất nước

GDMN không phải chỉ để nuôi trẻ lớn, nuôi trẻ học những kiến thức khoa học mà đây là loại hình giáo dục đặc biệt, là sự chuẩn bị cho trẻ những tiền đề quan trọng: tố chất, tiềm năng của trẻ trước khi bước vào trường phổ thông

Với quan điểm chăm lo cho GDMN là nhiệm vụ chung của các cấp, các ngành, của mỗi gia đình và toàn xã hội Có thể khẳng định, GDMN là cấp học

xã hội hóa cao hơn các cấp học khác Cho đến nay, GDMN đã và đang tồn tại các quy mô trường lớp, nhóm với các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục Trong đó, loại hình tư thục đang trên đà phát triển ở các thành phố, thị

xã và những nơi có nền kinh tế phát triển; loại hình bán công đang dần được chuyển sang loại hình công lập

Trang 19

Việc đổi mới nhận thức về sứ mạng của GDMN là việc làm hết sức cần thiết, phải coi GDMN là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân vì: trong những năm đầu đời, đặc biệt là trong giai đoạn từ 0 - 3 tuổi nếu trẻ được sống trong môi trường chăm sóc giáo dục đúng đắn, đa dạng, được kích hoạt não sớm, trẻ sẽ hình thành nên hàng tỉ các kết nối thần kinh dày đặc trên não bộ, giúp trẻ đạt được những tiềm năng trí lực tối đa cho cả cuộc đời

1.1.4 Giáo dục Thể chất ở trường mầm non

1.1.4.1 Nội dung Giáo dục Thể chất ở trường mầm non

Nội dung giáo dục gồm: phát triển vận động và giáo dục dinh dưỡng sức khỏe

- Phát triển vận động:

+ Tập động tác phát triển nhóm cơ và hô hấp

+ Tập các vận động cơ bản và phát triển tố chất vận động ban đầu

+ Tập các cử động bàn tay, ngón tay

- Giáo dục dinh dưỡng sức khỏe:

+ Tập luyện nề nếp, thói quen tốt trong sinh hoạt

+ Làm quen với một số việc tự phục vụ, giữ gìn sức khỏe

+ Nhận biết và tránh một số nguy cơ không an toàn

1.1.4.2 Nhiệm vụ Giáo dục Thể chất cho trẻ mẫu giáo

Tại quyết định 55 của bộ giáo dục đã quy định: “Hình thành ở trẻ những

cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam”:

+ Khỏe mạnh, nhanh nhẹn, có thể phát triển hài hòa, cân đối

+ Giàu lòng thương, biết quan tâm, nhường nhịn, giúp đỡ những người gần gũi (bố, mẹ, bạn bè, cô giáo) thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên

+ Thông minh, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá, có một số kỹ năng sơ đẳng (quan sát, phân tích, tổng hợp, suy luận…) cần thiết vào trường phổ thông, thích đi học

Trang 20

+ Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp

ở xung quanh[12]

Thực hiện mục tiêu GDMN là chuẩn bị tiền đề quan trọng đảm bảo những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục Để thực hiệm mục tiêu giáo dục mầm non thì GDTC trong trường mẫu giáo cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

1.1.4.2.1 Nhiệm vụ bảo vệ tính mạng và tăng cường sức khỏe, đảm bảo sự tăng trưởng hài hòa của trẻ

Rèn luyện cơ thể, nâng cao tính miễn dịch đối với các loại bệnh trẻ thường mắc phải, đảm bảo sự tăng trưởng, phát triển đúng lúc và hoàn chỉnh của trẻ Giúp trẻ có trạng thái hoạt động cân bằng, có trạng thái tâm lý vui tươi, ngăn ngừa sự mệt mỏi cho hệ thần kinh

Cần đảm bảo chế độ ăn uống, chế độ sinh hoạt (học tập, ăn, ngủ, vận động) hợp lý, phù hợp với từng độ tuổi, từng đối tượng trẻ Bên cạnh đó, phải tích cực phòng bệnh của trẻ, tiêm phòng cho trẻ đúng, đủ loại vắc - xin theo quy định của bộ y tế Cần làm tốt công tác vệ sinh môi trường, vệ sinh quần

áo, thân thể sạch sẽ, đảm bảo sự luôn phiên hoạt động, nghỉ ngơi hợp lý, đảm bảo trạng thái cân bằng của hệ thần kinh giúp cơ thể phát triển tốt

Tổ chức cho trẻ vận động, rèn luyện sức khỏe cho trẻ một cách hợp lý nhằm nâng cao sức khỏe, sức đề kháng cho trẻ, giúp cơ thể phát triển một cách cân đối, hoàn chỉnh, tăng cường khả năng hoạt động, sự định hướng không gian và sự thích ứng của trẻ với sự thay đổi của thời tiết xung quanh, tăng cường khả năng miễn dịch cho trẻ

1.1.4.2.2 Rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản và những phẩm chất vận động

Cùng với việc bảo vệ tính mạng và tăng cường sức khỏe, đảm bảo sự tăng trưởng hài hòa của cơ thể trẻ thì chúng ta cần hình thành, phát triển và

Trang 21

hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản như: đi, chạy, nhảy, leo trèo, ném, trườn… Rèn luyện kỹ năng phối hợp cảm giác với vận động, phối hợp các vận động của các bộ phận cơ thể với nhau như: đầu, thân, mình, chân, tay, năng lực định hướng trong vận động như: trái, phải, trước, sau để vận động của trẻ được nhanh nhạy, chính xác

Tiếp tục hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo vận động, đồng thời rèn luyện những phẩm chất vận động cho trẻ, dần hoàn thiện các động tác để chúng trở nên nhanh nhạy, chính xác, linh hoạt, gọn gàng, dẻo dai, không còn những động tác thừa như nghẹo cổ, thè lưỡi, xô người về phía trước hay phía sau khi không cần thiết Trẻ biết thực hiện các bài tập vận động một cách hợp lý trong các điều kiện khác nhau và biết kết hợp các bài tập vận động đã học khác

1.1.4.2.3 Giáo dục nếp sống có giờ giấc, có thói quen và các kỹ năng giữ gìn

vệ sinh

Thói quen thường để chỉ những hành động của cá nhân được diễn ra trong những điều kiện ổn định về thời gian, không gian và các quan hệ xã hội nhất định Thói quen có nội dung tâm lý ổn định và thường gắn với các nhu cầu cá nhân Khi đã trở thành thói quen, mọi hoạt động tâm lý trở nên ổn định, cân bằng và khó loại bỏ

Giáo dục cho trẻ nếp sống có giờ giấc, rèn luyện thói quen ăn, ngủ, thức đúng giờ và dễ dàng thích nghi chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác Thói quen này giúp đưa trẻ vào nề nếp, thúc đẩy quá trình tiêu hóa, có khả năng làm việc cao hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển thể chất diễn ra bình thường và sức khỏe của trẻ được củng cố

Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo vệ sinh có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc bảo vệ sức khỏe và tăng cường thể lực Bởi khi trẻ biết vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh quần áo và môi trường xung quanh sẽ tăng cường khả năng miễn dịch cho trẻ, giúp ngăn chặn những ảnh hưởng xấu từ

Trang 22

môi trường xung quanh đến trẻ Tuy nhiên, khả năng nhận thức cũng như vận động của trẻ còn hạn chế nên chúng ta cần hình thành, rèn luyện những thói quen đó một cách tỉ mỉ, kiên trì trong thời gian dài để thói quen được củng cố

ổn định

1.1.5 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn

1.1.5.1 Sự phát triển của cơ thể trẻ em

Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1, hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh

lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời

Tốc độ phát triển chiều cao và cân nặng của trẻ từ 4 - 6 tuổi chậm hơn

so với trẻ 3 tuổi, nhưng tính trong cả đời người thì đây là giai đoạn phát triển với tốc độ cao Hằng năm, trẻ 4 - 6 tuổi tăng được 5 cm, cân nặng mỗi năm tăng 2kg Nói chung, con trai cao hơn, nặng hơn con gái, trẻ nhỏ ở thành phố cao hơn và nặng hơn trẻ nhỏ ở nông thôn

Chiều cao và cân nặng của trẻ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố di truyền, dinh dưỡng trong quá trình nuôi và yếu tố bệnh tật Trẻ 4 - 6 tuổi có tốc độ phát triển nhanh nhưng dung lượng nhịp đập còn yếu cho nên không thể tham gia các hoạt động trong thời gian dài Đại não trẻ 4 - 6 tuổi phát triển nhanh, trẻ 6 tuổi não nặng 125g, chức năng của não phát triển, kết cấu thần kinh của não có xu thế sớm trưởng thành Song trẻ ở lứa tuổi này do công năng hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh chưa cân bằng, nên nếu chỉ làm một việc đơn thuần, kéo dài sẽ gây mệt mỏi Đôi khi trẻ chơi vui quá không kiềm chế được mải chơi quên cả ăn quên cả ngủ

Sức chống đỡ bệnh tật của trẻ còn yếu, dễ mắc các bệnh do hệ miễn dịch còn kém, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm vì vậy nên cho trẻ chơi ngoài

Trang 23

trời vừa phải, chú ý đến môi trường bên ngoài, chú ý cho trẻ rèn luyện cơ thể Trẻ từ 4 - 6 tuổi có thể chạy nhảy, biết dùng đôi tay nắm chặt đồ vật, biết leo trèo bằng đôi tay, chân chạy nhảy liên tục Trẻ 5 tuổi đã có vận động toàn thân, hoặc làm các động tác phức tạp hơn như đá cầu, nhảy dây, leo trèo…

Các ngón tay cử động chậm hơn so với vận động toàn thân nhưng trẻ 4 tuổi hầu hết đã có thể thực hiện được các động tác nắn, vẽ hay bóp một cách thành thạo Các ngón tay của trẻ 5 tuổi có thể hoạt động nhanh nhẹn, hoàn chỉnh hơn và tinh tế hơn

Trẻ 5 - 6 tuổi trong quá trình chơi cảm thấy vô cùng thích thú, cho nên suốt ngày chạy nhảy không lúc nào ngồi yên Trẻ ở giai đoạn này đặc biệt nổi bật là hoạt bát, hiếu động chính là do sự phát triển của cơ thể quyết định

1.1.5.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn

Theo A.X.Macarenco, một nhà giáo dục nổi tiếng của Nga, ông cho

rằng: “Nền tảng của giáo dục chủ yếu được xây dựng từ khi trước tuổi lên 5,

nó chiếm 90% chất lượng giáo dục”

Trẻ 5 - 6 tuổi là giai đoạn cuối của trẻ em ở tuổi mầm non Ở giai đoạn này những đặc điểm, cấu tạo tâm lý đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ Với sự giáo dục của người lớn thì những chức năng tâm lý đó sẽ được hoàn thiện về mọi phương diện để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu của nhân cách con người

Về ngôn ngữ - giao tiếp:

Một trong những thành tựu lớn lao của GDMN là làm cho trẻ sử dụng được một cách thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hằng ngày Nhà thơ nổi

tiếng ở Đaghextan là Ganzalop từng nói: “Khi chết người cha để lại cho con

cái mình nhà cửa, ruộng vườn, thanh kiếm và cây đàn pandua Nhưng một thế

hệ khi mất đi thì để lại cho thế hệ tiếp theo tiếng nói Ai có tiếng nói người ấy

sẽ xây dựng nhà mình, sẽ cày được ruộng, đúc kiếm, lên được dây đàn pandua và gẩy được nó”

Trang 24

Trẻ 5 - 6 tuổi phát triển khá hoàn chỉnh về khả năng giao tiếp, trẻ có khả năng phát âm tương đối chuẩn tiếng mẹ đẻ kể cả những âm khó, hay có khả năng nói các câu đầy đủ đôi khi cả những câu phức tạp, cũng như có thể nghe hiểu được những câu nói dài của người khác Trẻ biết sử dụng ngữ điệu phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung câu chuyện trẻ kể cho người khác nghe Vốn từ của trẻ tăng lên nhanh chóng và phong phú, ngôn ngữ mạch lạc phát triển mạnh, trẻ có nhu cầu giải thích những điều trẻ cần cho người lớn hiểu Để có được điều đó đòi hỏi trẻ phải đạt đến một tư duy nhất định: tư duy trực quan - sơ đồ

Về xúc cảm - cảm xúc:

Ở lứa tuổi này trẻ đã xuất hiện tình cảm bạn bè Đời sống xúc cảm - tình cảm ổn định hơn so với trẻ 4 - 5 tuổi, mức độ phong phú, phức tạp tăng dần theo các mối quan hệ giao tiếp với những người xung quanh như quan hệ với bố mẹ, anh chị em, bạn bè, cô giáo và những người thân quanh trẻ

Giai đoạn này, trẻ cũng rất dễ xúc động , dễ cười, dễ khóc Tâm tư của trẻ ở tuổi này cũng được bộc lộ ra ngoài Trẻ bắt đầu thích nghe chuyện có một chút kịch tính, phức tạp hơn trẻ 4 - 5 tuổi Tính tưởng tượng phong phú,

có tính hiện thực khiến chúng luôn nhân cách hóa sự vật xung quanh

- Tình cảm trí tuệ: Tình cảm trí tuệ của trẻ phát triển, mỗi nhận thức

đều kích thích niềm vui, hứng thú, sự say mê, thích thú của trẻ, tính tò mò ham hiểu biết, làm nảy sinh nhiều xúc cảm tích cực

- Tình cảm đạo đức: Trẻ đã lĩnh hội được ý nghĩa chuẩn mực hành vi

tốt, xấu qua các hoạt động hằng ngày và biết thực hiện hành vi nào để mọi

người vui lòng

- Tình cảm thẩm mỹ: Trẻ ý thức rõ được cái đẹp, cái xấu theo chuẩn

mực, xúc cảm thẩm mỹ và óc thẩm mỹ phát triển thông qua các tiết học nghệ thuật như tạo hình, âm nhạc…

Trang 25

Ý thức về cái tôi phát triển mạnh:

Ngay từ khi lên 3 tuổi trẻ đã phân biệt giữa bản thân và người khác, trẻ hiểu được mình là như thế nào, có phẩm chất gì, những người xung quanh đối

xử với mình ra sao, vì sao lại làm việc này, mình làm việc này tốt hay chưa tốt, đúng hay sai… Từ đó, trẻ hay đưa ra các lời nhận xét về bản thân mình

và người khác, hay thể hiện cái tôi của mình qua thái độ so sánh, ganh tị hay

tự tin hơn Đồng thời, trẻ cũng thường có những suy nghĩ, nhận định độc lập, thích tự quyết định, tự làm chứ không nhờ tới người khác

Trẻ biết chăm sóc cho bản thân mình, tự phục vụ sinh hoạt hằng ngày, muốn chứng tỏ bản thân với người lớn và mong muốn được khen ngợi, công nhận điều đó

Trẻ cũng dần ý thức và nhận biết về giới tính của bản thân Vì vậy ở lứa tuổi này, người lớn có tác động rất lớn tới hành động và nhận thức của trẻ

Ý thức về cái tôi giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc của xã hội Từ đó, những hành vi của trẻ mang tính xã hội và tính nhân cách đậm nét hơn trước

Sự phát triển ý chí:

Trẻ đã dần xác định rõ được mục đích của hành động Tính mục đích ngày càng được trẻ ý thức và cố gắng hoàn thành công việc

Trẻ biết sắp xếp công việc vui chơi cũng như phụ giúp cha mẹ một cách hợp lý, tinh thần trách nhiệm của trẻ cũng được hình thành

Sự phát triển ý chí mạnh mẽ hay yếu đuối tùy thuộc phần lớn vào sự giáo dục của cha mẹ, giáo viên và những người xung quanh

Sự phát triển tư duy:

Tư duy của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi có một bước ngoặt lớn Ở trẻ xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới - tư duy trực quan sơ đồ và những yếu tố của kiểu tư duy logic Trẻ có thể hiểu một cách dễ dàng và nhanh

Trang 26

chóng về cách biểu diễn sơ đồ và sử dụng có kết quả những sơ đồ để tìm hiểu

sự vật Trẻ có những hình tượng và biểu tượng trong đầu để giải quyết các vấn đề một cách chính xác, nhanh gọn

1.1.5.3 Đặc điểm sinh lý

Tuổi mẫu giáo (3 - 6 tuổi): Đây là thời kỳ thuận lợi để trẻ tiếp thu và củng cố các kỹ năng cần thiết Trẻ ở lứa tuổi này lớn nhanh, cảm thấy như gầy hơn, mất vẻ tròn trĩnh, mập mạp đã có ở tuổi nhà trẻ Đặc trưng của lứa tuổi này là cơ thể trẻ phát triển chưa ổn định và khả năng vận động còn hạn chế

Hệ thần kinh: Đây là thời kỳ phát triển nhanh và rõ nhất trong cuộc

đời Song ở lứa tuổi này, khả năng hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh chưa cân bằng, nên nếu để trẻ làm việc gì đơn thuần và kéo dài sẽ dễ bị mệt mỏi Nếu ban ngày chơi nghịch quá nhiều hay gặp kích thích mạnh, ban đêm dễ sinh mộng mị, la hoảng, khả năng tự kiềm chế, điều tiết còn kém khi trẻ hưng phấn làm một việc gì đó rất tập trung, quên ăn quên ngủ Vì vậy, người lớn không nên kéo dài thời gian hưng phấn, nhằm tránh gây mệt mỏi cho trẻ

Hệ vận động gồm hệ xương và hệ cơ và khớp:

- Hệ xương: Bộ xương của trẻ còn mềm, dẻo chưa hoàn toàn cốt hóa,

các thành phần hóa học còn nhiều nước và chất hữu cơ Sự liên kết giữa các xương chưa thật vững chắc, do vậy dễ bị cong, vẹo khớp Ở trẻ 5 - 6 tuổi, xương cột sống có hai đoạn uốn cong vĩnh viễn ở cổ và ngực, lồng ngực đã hẹp hơn, đường kính ngang lớn hơn đường kính trước - sau, xương sườn

chếch theo hướng dốc nghiêng

- Hệ cơ: Hệ cơ của trẻ phát triển yếu Khi trẻ mới sinh trọng lượng cơ

thể chiếm 23% trọng lượng cơ thể, sau đó hệ cơ phát triển dần Đến 6 tuổi cơ chiếm 27% thể trọng Các sợi cơ còn mảnh, lực cơ còn yếu nên trẻ làm việc chóng mệt mỏi Trong cơ thể của trẻ nước chiếm nhiều, ít đạm và mỡ Vì vậy,

ở lứa tuổi này không thích nghi được với sự căng thẳng lâu của cơ bắp, cần

Trang 27

xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi thích hợp Về khả năng phối hợp các hoạt

động: trẻ có sự phối hợp vận động của nhiều nhóm cơ như ở người lớn

- Khớp: Khớp của trẻ có đặc điểm là ổ khớp còn nông, cơ bắp xung

quanh khớp còn mềm yếu, dây chằng lỏng lẻo, tính vững chắc của khớp còn tương đối kém Hoạt động vận động phù hợp với lứa tuổi của trẻ sẽ giúp khớp

được rèn luyện, từ đó tăng dần tính vững chắc của khớp

Hệ tuần hoàn: Là một hệ thống đường ống khép kín do tim và mạch

cấu tạo thành, hay còn gọi là hệ tim mạch Vận động của hệ tim mạch chủ yếu dựa vào sự co bóp của tim, sự co bóp của cơ tim còn yếu, mỗi lần co bóp chỉ chuyển đi được một lượng máu rất ít nhưng mạch đập nhanh hơn ở người lớn Trẻ càng nhỏ tuổi thì tần số mạch đập càng nhanh Điều hòa thần kinh tim ở trẻ còn chưa hoàn thiện nên nhịp co bóp dễ mất ổn định, cơ tim dễ hưng phấn

và chóng mệt mỏi khi tham gia vận động kéo dài Nhưng khi thay đổi hoạt động, tim của trẻ nhanh hồi phục

Trọng lượng của tim tăng gấp 5 - 6 lần khi mới sinh Tần số co bóp của tim là 80 - 110 lần/ phút Để tăng cường công năng của tim, khi cho trẻ luyện tập nên đa dạng hóa các dạng bài tập, nâng dần lượng vận động cũng như cường độ vận động, phối hợp động và tĩnh một cách nhịp nhàng

Hệ hô hấp: Hệ hô hấp được cấu thành bởi đường hô hấp gồm mũi,

mồm, họng, khí quản, phế quản và phổi

Đường hô hấp của trẻ em tương đối hẹp, niêm mạc đường hô hấp mềm, mao mạch phong phú, dễ phát sinh nhiễm cảm Khí quản của trẻ em nhỏ, không khí đưa vào ít, trẻ thở nông nên khả năng trao đổi không khí của phổi kém Thở nông làm cho không khí phổi chưa ổn định, tạo nên sự ứ đọng không khí ở phổi, do đó nên tiến hành thể dục ở ngoài trời nơi không khí thoáng mát

Khi vận động cơ thể trẻ đòi hỏi lượng trao đổi khí tăng lên rõ rệt, điều này thúc đẩy các tế bào phổi tham gia vào vận động hô hấp tăng lên, nâng cao

Trang 28

tính đàn hồi của thành phổi, cơ hô hấp mạnh dần lên, tăng lượng thông khí phổi và dung tích sống

Bộ máy hô hấp của trẻ còn nhỏ không chịu đựng được những vận động quá sức kéo dài liên tục, những vận động đó sẽ làm cho các cơ đang vận động trong quá trình luyện tập sẽ tạo điều kiện cho cơ thể trẻ thích ứng với việc tăng lượng oxy cần thiết và ngăn ngừa được sự xuất hiện của lượng oxy quá lớn của cơ thể

Hệ trao đổi chất: Cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tục

năng lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan

và mô

Quá trình hấp thụ các chất ở trẻ vượt cao hơn quá trình phân hủy và đốt cháy Tuổi càng nhỏ thì quá trình lớn lên và sự hình thành các tế bào và mô của trẻ diễn ra ngày càng mạnh Khác với người lớn, ở trẻ em năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và dự trữ chất nhiều hơn là cho hoạt động cơ bắp Do vậy, khi trẻ hoạt động vận động quá mức, ngay cả khi dinh dưỡng đầy đủ thường dẫn đến tiêu hao năng lượng dự trữ trong các cơ bắp và đọng lại những sản phẩm độc hại ở các cơ quan trong quá trình trao đổi chất Điều này gây cảm giác mệt mỏi cho trẻ và ảnh hưởng không tốt đến công năng hoạt động của cơ bắp và hệ thần kinh, làm giảm độ nhạy cảm giữa hệ thần kinh trung ương và những dây thần kinh điều khiển hoạt động cơ bắp Sự mệt mỏi của các nhóm

cơ riêng lẻ xuất hiện nếu kéo dài hoạt động liên tục của từng nhóm cơ Do đó, cần thường xuyên thay đổi vận động của các cơ, chọn hình thức vận động phù hợp với trẻ

Từ việc nghiên cứu, tìm tòi dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, nhận thức được vai trò to lớn của GDTC đối với trẻ mầm non, trong quá trình thực tập chúng tôi đã lựa chọn và ứng dụng một số bài tập nhằm nâng cao hiệu quả phát triển sức nhanh cho trẻ MGL Trường Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên

Trang 29

với mong muốn sẽ góp phần nâng cao công tác giáo dục thể chất tại trường Các em rất hào hứng nhiệt tình tham gia, vui chơi, để tinh thần thoải mái, xua tan mệt mỏi Giúp trẻ thêm yêu trường, yêu lớp, mến bạn hơn, trẻ muốn được đến trường mỗi ngày

1.2 Một số nét đặc trưng của bài tập thể chất

1.2.1 Ý nghĩa của bài tập thể chất

Các bài tập thể chất nói chung chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của trẻ Vì vậy, chúng được coi là một trong những phương tiện giáo dục quan trọng và thường xuyên của trẻ mầm non

Ở trường mầm non, các bài tập thể chất được sử dụng nhiều Nó vừa là nội dung học trong chương trình GDTC, vừa là phương pháp dạy học vận động, vừa là hình thức tổ chức vui chơi, nghỉ ngơi tích cực, được trẻ rất ham thích, vừa là phương tiện để giáo dục toàn diện

Khi thực hiện các bài tập thể chất, chúng tác động nhiều lên các nhóm

cơ, làm tăng quá trình trao đổi chất Tham gia vào các bài tập thể chất, trẻ tự điều chỉnh được nhịp điệu, lượng vận động và loại trừ được sự mệt mỏi Đồng thời, các bài tập này tác động vào hệ thần kinh, các quá trình hưng phấn và ức chế được hoàn thiện và cân bằng Đây chính là điều kiện để hình thành thói quen vận động cho trẻ Bên cạnh đó, các bài tập được lựa chọn còn làm thỏa mãn cảm xúc, đem lại sự vui vẻ, tăng quá trình tuần hoàn, hô hấp của cơ thể trẻ, làm thay đổi trạng thái cơ thể giữa các hoạt động, giúp trẻ trở về trạng thái cân bằng, tăng cường sinh lực sống

Khi thực hiện bài tập thể chất cũng ảnh hưởng đến tính cách, khí chất của trẻ Trong khi chơi trẻ thể hiện hành vi, mặt đạo đức của trẻ Việc tuân theo quy tắc sẽ điều khiển được hành vi của bản thân khi thực hiện chúng, tạo khả năng hình thành sự giúp đỡ lẫn nhau, tính trung thực, lòng dũng cảm, tính kiên trì

Trang 30

Bên cạnh đó, các bài tập thể chất có tác dụng làm phát triển ở trẻ những phẩm chất tư duy và ngôn ngữ Để thực hiện tốt các bài tập đề ra, trẻ phải hiểu được cách tiến hành, cách xử lý các tình huống và mối quan hệ của bản thân với các bạn còn lại, làm cho các thao tác tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp và khái quát được phát triển

Các bài tập thể chất làm theo bài hát, câu thơ để mô tả các động tác vận động làm cho ngôn ngữ, óc tưởng tượng của trẻ được phát triển và nâng cao Khi giáo viên hướng dẫn, giải thích cho trẻ nội dung, các động tác, cách thực hiện, trẻ phải ghi nhớ từ mới, ý nghĩa của chúng, tập vận động phù hợp với lời hướng dẫn của giáo viên tạo điều kiện để trẻ phát triển vốn từ

Các bài tập thể chất giúp trẻ mở rộng và khắc sâu hơn những biểu tượng của mình về thế giới xung quanh như: đặc điểm lao động của người lớn, cách thức vận động và phương tiện giao thông… ở trẻ sẽ phát triển mối xúc cảm với thế giới xung quanh

1.2.2 Phân loại các bài tập

Có nhiều cách phân loại bài tập khác nhau nhưng cách phân loại chung nhất và thông dụng nhất là phân loại dựa trên các hệ thống phương tiện và phương pháp GDTC đã được hình thành trong lịch sử, đó là: Thể dục, thể thao, trò chơi và du lịch Mặc dù ý nghĩa thực tiễn của cách phân loại này không nhiều nhưng nó giúp chúng ta có được cái nhìn tổng quát về các hình thức hoạt động vận động chủ yếu của các bài tập TDTT Cụ thể:

- Thể dục: Thể dục cơ bản, thể dục có khuynh hướng thể thao và thể dục bổ trợ

- Thể thao: Các môn thể thao hiện đại, các môn thể thao dân tộc và các

môn thể thao kỹ thuật

- Trò chơi: Trò chơi mô phỏng, trò chơi đơn giản và các trò chơi thể

thao chính

- Du lịch: Đi dạo và tham quan, du lịch dã ngoại

Trang 31

1.2.3 Một số hạn chế khi áp dụng bài tập thể chất đối với trẻ mẫu giáo lớn

Dưới tác động của bài tập thể chất, cơ thể trẻ có những biến đổi về chức năng Những biến đổi đó giúp cho cơ thể trẻ thích nghi và hoàn thiện dần chức năng của các hệ cơ quan trong cơ thể Ngoài ra, việc tập luyện các bài tập còn góp phần hoàn thiện các phẩm chất tâm lí của trẻ, vừa cải biến hoạt động ý thức làm phát triển cảm xúc, ý chí của trẻ

Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức hoạt động GDTC cho trẻ còn gặp một số hạn chế như sau:

- Một số trẻ tham gia vượt quá khả năng chịu đựng để xảy ra những tai nạn đáng tiếc

- Trong quá trình chơi, trẻ hứng thú, nhiệt tình và quá say mê tham gia vào bài tập dẫn đến lượng vận động khó được kiểm soát

- Nhiều lúc trẻ tham gia một cách hời hợt, thiếu tích cực, không phát huy hết được hiệu quả của bài tập

- Đôi khi giáo viên chưa thể kiểm soát hết được lượng vận động của trẻ trong lúc thực hiện bài tập

Vì vậy, việc lựa chọn và áp dụng có hiệu quả các bài tập cho trẻ mẫu giáo lớn là rất quan trọng

1.3 Cơ sở giáo dục sức nhanh

1.3.1 Khái niệm và các hình thức biểu hiện của sức nhanh

Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong thời gian ngắn nhất ở một điều kiện nhất định Nó quy định chủ yếu và trực tiếp đặc tính tốc độ cũng như thời gian phản ứng vận động

Người ta phân biệt 3 hình thức biểu hiện sức nhanh như sau:

1 Thời gian tiềm tàng của phản ứng vận động

2 Tốc độ động tác đơn (với số lượng đối kháng bên ngoài nhỏ)

3 Tần số động tác

Trang 32

Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau Đặc biệt, những chỉ số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc độ động tác Những hình thức kể trên là thể hiện các năng lực tốc độ khác nhau Trong thực tiễn thì sức nhanh được biểu hiện tổng hợp Ví dụ: thành tích chạy ngắn phụ thuộc vào thời gian phản ứng vận động lúc xuất phát, tốc độ động tác đơn (đạp sau và chuyển lùi) và tần số bước chạy Trong động tác có sự phối hợp phức tạp thì tốc độ không chỉ phụ thuộc vào sức nhanh mà còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác Ví dụ: trong chạy thì tốc độ phụ thuộc vào độ dài bước chạy và tần số của bước, còn bước chạy lại phụ thuộc vào độ dài chi dưới và lúc đạp sau Vì tốc độ động tác hoàn chỉnh biểu hiện gián tiếp sức nhanh của con người cho nên trong khi phân tích đánh giá sức nhanh của con người phải căn cứ vào mức độ phát triển của từng hình thức đơn giản của nó

1.3.2 Đặc điểm của sức nhanh

Sức nhanh là một tố chất thể lực để tiến hành các hành vi vận động trong thời gian ngắn nhất trong các điều kiện quy định

Sức nhanh động tác là một trong những cơ sở quyết định thành tích trong nhiều môn thể thao có chu kỳ

Trong các môn thể thao có chu kỳ, sức nhanh động tác cũng đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ hoặc đối với các tình huống từng phần trong các môn chạy cự ly ngắn, cũng như trong giai đoạn tăng tốc và xuất phát trong đua thuyền, đua ca nô và bơi

Các tiền đề quan trọng cho sức nhanh là tính linh hoạt của các quá trình thần kinh, sức mạnh - nhanh, khả năng kéo căng kéo giãn, tính đàn hồi và khả năng thả lỏng của các cơ, ý chí tinh thần và cơ chế sinh hóa

- Tính linh hoạt của các quá trình thần kinh: chỉ khi nào thay đổi một

cách nhanh nhất giữa hưng phấn và ức chế trong những sự điều hòa tương

Trang 33

ứng của hệ thần kinh cơ, kết hợp dùng lực tốt nhất thì mới có thể đạt được một tốc độ động tác cao và tần số động tác tối đa

- Năng lực sức mạnh - nhanh: là tỉ lệ sức mạnh - nhanh Trong sức

nhanh phản ứng đặc biệt trong tăng tốc cao lúc xuất phát và khả năng nhanh chóng đạt tốc độ cao như trong chạy cự li ngắn, đua thuyền và hầu hết các môn bóng Về phương diện sinh hóa sức nhanh phụ thuộc một cách đặc biệt vào các nguồn dự trữ năng lượng trong cơ và mức độ của sự huy động năng lượng hóa học ở dạng yếm khí

- Tính đàn hồi của cơ: khả năng kéo dãn, tính đàn hồi và khả năng thả

lỏng của cơ hoạt động thay đổi trong các bài tập sức nhanh Nếu các tính chất này không được phát triển đầy đủ thì không thể đạt được biên độ động tác cần thiết và các cơ đồng vận phải khắc phục một lực cản rất lớn trong quá trình thực hiện động tác, đặc biệt ở những điểm tiếp của động tác Do đó, các bài tập kéo dãn và thả lỏng phải luôn là thành phần của huấn luyện nhằm phát triển sức nhanh

- Sự nỗ lực về ý chí: việc đạt được sức nhanh cao nhất phụ thuộc một

cách quyết định vào sự nỗ lực của ý chí thông qua các yêu cầu cao trong huấn luyện Trong đó, một điều kiện không thể thiếu được là thông báo là tốc độ đạt được bằng sự đo chính xác về thời gian, điều này được tiến hành tốt nhất trong huấn luyện thi đấu với đối phương

Như vậy, sức nhanh phụ thuộc chủ yếu vào tính linh hoạt của quá trình thần kinh cơ và tốc độ co cơ Cả 2 nhóm mặc dù biến đổi dưới tác dụng của tập luyện, nhưng nói chung đều là những yếu tố được quy định với các đặc điểm di truyền Do đó, trong quá trình tập luyện, sức nhanh biến đổi chậm và

ít hơn sức mạnh

1.3.3 Cơ sở sinh lý hóa của sức nhanh

Thời gian của phản ứng vận động gồm 5 giai đoạn:

1 Xuất hiện hưng phấn trong cơ quan thụ cảm

Trang 34

2 Dẫn truyền hưng phấn vào HTK trung ương

3 Truyền tín hiệu trong tổ chức lưới và hình thành tín hiệu ly tâm

4 Truyền tín hiệu từ thần kinh trung ương đến cơ

Các động tác rất nhanh và được thực hiện với tần số cao Ví dụ trong chạy cự ly ngắn, cơ chỉ hoạt động tích cực ở những điểm cuối cùng của biên

độ động tác Động năng được truyền cho một bộ phận nào đó của cơ thể, sau

đó bị triệt tiêu khi các cơ đối kháng tham gia hoạt động và truyền cho bộ phận này một gia tốc theo hướng ngược lại Trong động tác tốc độ lớn, hoạt tính của cơ thể diễn ra trong thời gian ngắn đến mức cơ không kịp co lại nhiều và thực tế cơ hoạt động theo chế độ đẳng trường

Tần số động tác phụ thuộc vào tính linh hoạt của 2 quá trình thần kinh hưng phấn và ức chế được chi phối bởi 3 yếu tố: cường độ, độ cân bằng và độ linh hoạt Một yếu tố cũng cần được chúng ta để ý là tính chất bẩm sinh Những ai trong thành phần cơ có nhiều sợi cơ trắng thì phát triển sức nhanh Những ai trong thành phần cơ có nhiều sợi cơ đỏ thì phát triển sức mạnh

Do đó, cơ sở sinh lý phát triển sức nhanh là tăng cường độ linh hoạt và tốc độ dẫn truyền hưng phấn ở trung tâm thần kinh và bộ máy vận động tăng cường sự phối hợp giữa các sợi cơ và các cơ, nâng cao khả năng thả lỏng

1.4 Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động

1.4.1 Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động đơn giản

Phản ứng vận động đơn giản là sự đáp lại những tín hiệu đã biết như xuất hiện đột ngột bằng những động tác định trước Ví dụ: phản ứng đối với

Trang 35

tiếng lệnh trong xuất phát của chạy, bơi Sức nhanh phản ứng vận động đơn giản có ý nghĩa thực dụng rất lớn trong cuộc sống và có khả năng “chuyển” rất cao, tức là những người có phản ứng nhanh trong tình huống này thì dễ có khả năng phản ứng nhanh trong tình huống khác

Phương pháp giáo dục sức nhanh phản ứng vận động đơn giản:

- Thông thường người ta sử dụng các trò chơi vận động, các môn bóng

để giáo dục phản ứng vận động

- Phương pháp phổ biến nhất là tập lặp đi lặp lại với các tín hiệu xuất hiện đột ngột

- Bài tập sức nhanh phản ứng vận động đơn giản gồm 2 phần:

Tập phản ứng trong điều kiện thuận lợi và tốc độ động tác tiếp theo Trong thực tiễn huấn luyện người ta còn sử dụng rộng rãi phương pháp cảm giác vận động do Galerstin năm 1958 để hoàn thiện phản ứng vận động đơn giản Cơ sở khoa học của phương pháp này là quy luật về mối tương quan chặt chẽ giữa sức nhanh phản ứng và tri giác thời gian của con người Thông thường, những người có khả năng cảm thụ những khoảng thời gian ngắn thì có sức nhanh phản ứng rất cao Bản chất của phương pháp hoàn thành sức nhanh phản ứng vận động đơn giản thông qua việc hoàn thiện tri giác thời gian

Tập luyện sức nhanh phản ứng vận động theo phương pháp cảm giác vận động được tiến hành theo 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Người tập thực hiện động tác trong điều kiện phản ứng nhanh nhất đối với tín hiệu Sau mỗi lần thực hiện bài tập, huấn luyện viên thông báo cho người tập về thành tích đạt được

+ Giai đoạn 2: Cũng thực hiện các bài tập như giai đoạn 1 nhưng khi về đích huấn luyện viên hỏi người tập thời gian đạt được, sau đó huấn luyện viên thông báo cho người tập thời gian đạt được thực tế

+ Giai đoạn 3: Huấn luyện viên yêu cầu người tập thực hiện với tốc độ cho trước

Trang 36

Trải qua 3 giai đoạn tập luyện như trên sức nhanh phản ứng vận động đơn giản sẽ được nâng lên

1.4.2 Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động phức tạp

Phản ứng vận động phức tạp trong thể thao thường gặp có 2 loại:

- Phản ứng với vật thể di động

- Phản ứng lựa chọn

Phản ứng với các vật thể di động thường thấy trong các môn bóng và các môn đối kháng cá nhân, phản ứng với vật thể di động thường kéo dài từ 0,25 đến 1 giây Trong phản ứng đối với vật di động thì kỹ năng quan sát giữ vai trò cơ bản Vì vậy, cần đặc biệt chú ý kỹ năng này Để phát triển kỹ năng quan sát người ta sử dụng các bài tập đối với vật thể di động Yêu cầu tập luyện là tăng tốc độ vật thể, tăng tính bất ngờ và rút ngắn cự li

Phản ứng lựa chọn xảy ra khi chọn một trong số những động tác lặp lại

sự thay đổi hành vi của đối phương hoặc sự biến đổi tình huống Để giáo dục phản ứng lựa chọn cần tuân thủ quy tắc từ đơn giản đến phức tạp, số lượng biến đổi tình huống cũng phải tăng lên dần dần

1.4.3 Phương pháp rèn luyện sức nhanh tần số động tác

Mặc dù phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưng tốc độ tối đa phụ thuộc chủ yếu vào tính linh hoạt của quá trình thần kinh Suy rộng ra thì tốc độ chủ yếu phụ thuộc vào tần số động tác Như vậy, bản chất của rèn luyện tốc độ là tác động nâng cao tần số động tác Phương tiện rèn luyện sức nhanh tần số là các bài tập, các bài tập này thỏa mãn 3 yêu cầu:

- Kỹ thuật động tác cho phép thực hiện với tốc độ giới hạn

- Kỹ thuật bài tập đã được tiếp thu tới mức kỹ xảo

- Thời gian bài tập tương đối ngắn (không quá 20 - 22 giây) để tốc độ không bị giảm sút ở cuối cự li

Trang 37

Về nguyên tắc, cần tạo điều kiện phát huy tần số động tác tối đa Các thành phần lượng vận động và quãng nghỉ trong các phương pháp rèn luyện tốc độ đều phải hướng tới tần số tối đa

Như vậy, để giáo dục phát triển sức nhanh một cách hoàn chỉnh thì cần đưa vào các nội dung bài tập phong phú, đa dạng và đảm bảo tính khoa học toàn diện trên cơ sở lý luận, tâm sinh lí lứa tuổi

Trang 38

Chương 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP, TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Căn cứ vào mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đề ra 2 nhiệm vụ chính sau:

- Nhiệm vụ 1:Đánh giá thực trạng tổ chứcgiáo dục thể chất và việc sử

dụng các bài tập thể chất nhằm nâng cao hiệu quả phát triển sức nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn ở Trường Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc

- Nhiệm vụ 2: Lựa chọn, đánh giá hiệu quả sử dụng các bài tập thể chất

nhằm nâng cao hiệu quả phát triển sức nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn ở Trường Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc

2.2 Các phương pháp nghiên cứu chính

Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Là phương pháp thu thập những nguồn thông tin bằng cách tìm hiểu và đọc các tài liệu tham khảo có liên quan, các tài liệu chuyên môn nhằm hệ thống hóa kiến thức, hình thành cơ sở lý luận, xây dựng giả thiết khoa học, xác định mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, kiểm chứng kết quả trong khi thực hiện đề tài Các tài liệu chuyên môn có liên quan được lấy từ các nguồn tài liệu khác nhau như: sách, báo, internet, các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, của ngành TDTT và của bộ GD - ĐT, các tài liệu lưu trữ, sách viết chuyên khoa, các tư liệu giảng dạy về giáo dục thể chất, tài liệu nghiên cứu về tâm sinh lý trẻ em, các sách viết về trò chơi vận động, các bài tập phát triển sức nhanh… với mong muốn mở rộng kiến thức, nâng cao công tác huấn luyện nhằm giải quyết các nhiệm vụ của đề tài Phương pháp này được sử dụng suốt trong thời gian nghiên cứu

Trang 39

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Đây là phương pháp thu thập thông tin qua việc hỏi - trả lời giữa người

nghiên cứu với các cá nhân, tổ chức khác nhau về vấn đề nghiên cứu

Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn gián tiếp và trao đổi tọa đàm:

+ Phỏng vấn trực tiếp là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi - trả lời miệng giữa người nghiên cứu và người được hỏi

+ Phỏng vấn gián tiếp là phương pháp thu thập thông tin bằng phiếu hỏi, phiếu điều tra… theo một hệ thống câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn

+ Trao đổi, tọa đàm là phương pháp thu thập thông tin nhiều chiều giữa nhà nghiên cứu với một số cá nhân về vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp nhằm phỏng vấn các giáo viên trong trường mầm non để lựa chọn các bài tập phù hợp với lứa tuổi nghiên cứu, lựa chọn được các bài test đánh giá khả năng phát triển sức nhanh và các test đánh giá hiệu quả bài tập cho trẻ 5-6 tuổi Trường Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên - Vĩnh phúc

2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Phương pháp quan sát sư phạm sẽ giúp đề tài nghiên cứu tiếp cận và bao quát toàn diện ưu, nhược điểm của đối tượng nghiên cứu

Trong quá trình quan sát, chúng tôi ghi chép lại những kết quả thu được

Từ đó đánh giá được chính xác vấn đề nhằm lựa chọn ra những bài tập đặc thù

để phát triển sức nhanh cho trẻ MGL Trường Mầm non Khai Quang Mặt khác,

đề tài sử dụng phương pháp quan sát quá trình thực hiện bài tập của trẻ trong quá trình dự giờ, quan sát giờ thể dục sáng, các tiết học thể dục và các hoạt động khác để kịp thời uốn nắn, sửa chữa những sai sót

2.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài tiến hành thực nghiệm so sánh để thấy được tính thực tiễn và hiệu quả của các bài tập ứng dụng làm cơ sở kiểm

Trang 40

tra ban đầu để phân nhóm Thực nghiệm được tiến hành với 60 trẻ được chia làm hai nhóm đối tượng, nhóm đối chứng (n=30) và nhóm thực nghiệm (n=30) Số lượng trẻ ở hai nhóm là trẻ mẫu giáolớn Trường Mầm non Khai Quang Nhóm đối chứng sẽ tập luyện theo hình thức và nội dung bài tập của nhà trường, nhóm thực nghiệm sẽ thực hiện theo kế hoạch và nội dung các bài tập mà đề tài đã lựa chọn Kết quả được đánh giá sau khi kết thúc quá trình thực nghiệm với hình thức, thời gian, quy trình và đảm bảo tính đông nhất trong các lần kiểm tra là như nhau

2.2.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Đề tài sử dụng phương pháp kiểm tra sư phạm để đánh giá mức độ phát

triển sức nhanh của đối tượng nghiên cứu trước và sau thực nghiệm

Phương pháp này nhằm mục đích kiểm tra đánh giá sức nhanh của trẻ MGL Trường Mầm non Khai Quang một cách chính xác và khách quan thông qua những test chuyên môn đã được lựa chọn Và trong quá trình nghiên cứu,

đề tài tiến hành kiểm tra đối tượng nghiên cứu trước và sau thực nghiệm

thông qua test “Chạy xuất phát cao 30m” Trên cơ sở đó có những nhận xét,

kết luận về hiệu quả của các bài tập đã lựa chọn để phát triển sức nhanh cho

trẻ mẫu giáo lớn trong trường

2.2.6 Phương pháp toán thống kê [18]

Phương pháp này được sử dụng để xử lý các số liệu thu được qua kiểm tra sư phạm, xác định được hiệu quả của bài tập trong phát triển sức nhanh cho MGL Trường Mầm non Khai Quang - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc sau khi thu thập số liệu thô Đề tài sử dụng một số công thức sau:

 Số trung bình cộng:

=

Ngày đăng: 15/03/2017, 20:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm (1995), Giáo dục mầm non tập I, Đại học Sƣ phạm Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non tập I
Tác giả: Đào Thanh Âm
Năm: 1995
2. Phạm Tiến Bình, 100 trò chơi khỏe, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 trò chơi khỏe
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
3. Hoàng Thị Bưởi (2009), Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non
Tác giả: Hoàng Thị Bưởi
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
4. Vũ Cao Đàm (1995), Phương pháp nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
5. Hoàng Thị Đông (biên soạn), Giáo trình lý luận và phương pháp thể dục thể thao, NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình lý luận và phương pháp thể dục thể thao
Nhà XB: NXB TDTT
6. Hà Đình Lâm (1996), Giáo trình trò chơi, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình trò chơi
Tác giả: Hà Đình Lâm
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
Năm: 1996
11. Đặng Hồng Phương (2008), Giáo trình lý luận và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi mầm non
Tác giả: Đặng Hồng Phương
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2008
15. Nguyễn Toán - Phạm Danh Tốn (1991), Lý luận và phương pháp TDTT, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp TDTT
Tác giả: Nguyễn Toán - Phạm Danh Tốn
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
Năm: 1991
16. Đồng Văn Triệu (2000), Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất trong trường học, NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất trong trường học
Tác giả: Đồng Văn Triệu
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2000
17. Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên), Tâm lý học lứa tuổi Mầm non, NXB Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi Mầm non
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
18. Nguyễn Đức Văn (1987), Phương pháp thống kê toán học trong TDTT, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong TDTT
Tác giả: Nguyễn Đức Văn
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
Năm: 1987
19. Lê Thanh Vân, Sinh lý trẻ em, NXB Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý trẻ em
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
8. Hồ Chí Minh với thể thao Việt Nam (2000), NXB Hà Nội Khác
9. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tƣ Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng (khóa VII), số 04- NQ/HNTW, ngày 14 tháng 01 năm 1993 Khác
12. Quyết định số 55/QĐ năm 1990 ngày 03 tháng 02 của Bộ GD & ĐT Khác
13. Quyết định của thủ tướng chính phủ số 149/2006/QĐ ngày 23/6/2006 phê duyệt đề án phát triển GDMN giai đoạn 2006 - 2015 Khác
14. Quy định số 53/2008/QĐ - Bộ GDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w