1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG bài kien thuc tong hop duoc khoa

94 384 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 778,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI GIẢNG bài kien thuc tong hop duoc khoa BÀI GIẢNG bài kien thuc tong hop duoc khoa BÀI GIẢNG bài kien thuc tong hop duoc khoa BÀI GIẢNG bài kien thuc tong hop duoc khoa BÀI GIẢNG bài kien thuc tong hop duoc khoa BÀI GIẢNG bài kien thuc tong hop duoc khoa BÀI GIẢNG bài kien thuc tong hop duoc khoa BÀI GIẢNG bài kien thuc tong hop duoc khoa BÀI GIẢNG bài kien thuc tong hop duoc khoa BÀI GIẢNG bài kien thuc tong hop duoc khoa BÀI GIẢNG bài kien thuc tong hop duoc khoa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN

KHOA DƢỢC



BÀI GIẢNG MỘT SỐ KIẾN THỨC TỔNG HỢP DƢỢC KHOA

Giảng viên biên soạn:

LÊ VINH BẢO CHÂU NGUYỄN TẤN ĐẠT

Hậu Giang – Năm 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯƠNG TOẢN

BÀI GIẢNG MÔN HỌC

Tên môn học: Một số kiến thức chuyên môn

tổng hợp

Trình độ: Cao đẳn Dược

Số tín chỉ: 5 Giờ lý thuyết: 75 tiết Giờ thực hành:

Thông tin Giảng viên:

 Tên Giảng viên: Lê Vinh Bảo Châu, Nguyễn Tấn Đạt

 Đơn vị: Bộ môn Hóa Dược- Dược lý- Dược lâm sàng- Hóa sinh

 Điện thoại: 0939809525,

 E-mail: lvbchau@vttu.edu.vn, ntdat@vttu.edu.vn

NỘI DUNG BÀI GIẢNG

1 Điều kiện tiên quyết:

2 Mục tiêu môn học:

- Tìm kiếm, phân tích, tổng hợp lại kiến thức các môn học chuyên ngành

- Trình bày những kiến thức liên quan đến nguồn gốc tự nhiên của hoạt chất, mô

tả thực vật, phương pháp chiết xuất, định tính, định lượng, ứng dụng trong lâm sàng

và thông tư quản lý trong việc vận chuyển, bảo quản các hoạt chất trên

Phương pháp giảng dạy: sinh viên tự nghiên cứu, tổng hợp kiến thức đã học làm

tiểu luận nộp lại cho giảng viên chấm bài, chỉnh sửa lại tiểu luận và đánh giá cuối

môn dựa trên kiến thức đã chỉnh sửa

3 Đánh giá môn học:

3.1 Thang điểm:

- Điểm giữa kỳ chiếm trọng số 30% Hình thức: làm tiểu luận

- Điểm cuối kỳ chiếm trọng số 70% Hình thức thi: trắc nghiệm khách quan

Trang 3

3.2 Số lần dự đánh giá kết quả cuối kỳ hoặc thi cuối kỳ: 01 lần

3.3 Điểm công nhận đạt: tổng điểm từ 4.0 trở lên (theo thang điểm 10)

3.4 Điều kiện dự đánh giá cuối kỳ hoặc thi cuối kỳ:

Sinh viên được dự thi hoặc đánh giá cuối kỳ nếu không rơi vào một trong các trường hợp sau:

- Sinh viên không hoàn thành tiểu luận đúng hạn

- Sinh viên nằm trong danh sách bị cấm thi tất cả các học phần của học kỳ do không đóng học phí hoặc đóng học phí không đúng hạn

- Sinh viên nằm trong danh sách đề nghị cấm dự thi kết thúc học phần hoặc cấm dự đánh giá kết thúc học phần do giảng viên giảng dạy học phần đề xuất về trung tâm Khảo thí và Kiểm định chất lượng

- Sinh viên vi phạm nội quy, quy chế học vụ và các quy định khác sẽ bị cấm thi theo quy định

Lưu ý: Sinh viên bị cấm thi học phần hoặc cấm dự đánh giá kết thúc học phần thì điểm đánh giá học phần sẽ là 0 điểm

5 Tài liệu tham khảo:

[1] Hoàng Thị Kim Huyền, Dược lâm sàng, (2006), NXB Y học

[2] Trần Thị Thu Hằng, Dược động học lâm sàng, (2009), NXB Phương Đông

[3] Bộ môn Dược lý – dược lâm sàng, Giáo trình lý thuyết Dược lâm sàng, 2010, trường đại học Y Dược Cần Thơ

[4] Đỗ Tất Lợi, Cây Thuốc và vị thuốc việt Nam, NXB Y học, 2003

[5] Nguyễn Minh Đức, HPLC, Y học, 2004

[6] Trường ĐHYD Hà Nội, Bài Giảng dược liệu tập II, NXB Y Học, 1998

[7] W Tang G Eisenbrand,Chinese drugs of plan orgin

[8] Bài giảng Dược liệu tập I, trường Đại học Dược Hà nội, Nhà xuất bản Y học,

Trang 4

[11] Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam, Đỗ Tất Lợi, Nhà xuất bản Y học, 1999 [12] Dược điển Mỹ (USP32-NF27)

Trang 6

PHẦN 1

A DƢỢC LIỆU 1.1 CÂY TỎI ĐỘC

Tên khoa học: Colchicum autumnale Họ Liliaceae

1.1.1 Mô tả thực vật, bộ phận dùng

Tỏi độc là một loài cỏ sống lâu năm

Phấn hoa được truyền đi do sâu bọ hay do gió rơi Tuy nhiên sự phối hợp các giao tử tiến hành chậm, sau khi thụ phấn nhiều tháng

Lá cây tỏi độc to, dài, đầu lá hẹp nhọn Khi quả chín thì lá héo đi và trên mặt đất hầu như không còn dấu vết gì của cây nữa cho đến khi mùa thu tới lại thấy hoa từ dưới đất xuất hiện

Bộ phận dùng: Dò cây tỏi độc hái về phơi khô, hạt phơi hay sấy khô

1.1.2 Phân bố, thu hái

Tỏi độc là một loại cỏ mọc hoang ở những bãi cỏ những vùng ôn đới lạnh Châu Âu Năm 1958, Đỗ Tất Lợi và cộng sự thí nghiệm di thực vào nước ta nhưng chưa thành công

Muốn thu hoạch dò cần đào sau khi lá đã hoàn toàn héo và trước khi ra hoa, thường ở châu Âu tháng thu hoạch tốt nhất là tháng 8 Sau khi đào dò về, người ta hái bỏ thân mang hoa, cắt bỏ rễ, sau đó phơi khô Tuy nhiên người ta thấy dùng dò tươi có tác dụng mạnh hơn Khi dò còn tươi, ta thấy dò mẫm chắc, khi ép sẽ có một dịch chảy

ra, vị đắng, màu đục như sữa vì chứa rất nhiều tinh bột

Hạt có thành phần ổn định hơn, dễ phơi hơn, bảo quản dễ hơn, do đó nhiều nước chỉ công nhận hạt dùng làm thuốc, Hạt hái vào lúc quả chín, loại bỏ tạp chất rồi phơi khô

Trang 7

1.2 DƯƠNG ĐỊA HOÀNG TÍA

Tên khoa học: Digitalis purpurea Họ Scrophulariaceae

1.2.1 Mô tả thực vật, bộ phận dùng

Cây thân thảo sống 1, 2 hoặc nhiều năm Thân nhẵn, màu đỏ tía nhạt Năm đầu chỉ

có một cụm lá mọc ở gốc, năm thứ hai từ giữa cụm lá đó mọc lên một thân cao, phía ngọn mang hoa mọc thành chùm

Bộ rễ rất phát triển Các gân chính và phụ lá ở mặt dưới nỗi lên rất rõ Mặt trên của lá

có màu xanh sẫm, mặt dưới màu xanh xám, có lông, cuống lá dài Tuy nhiên, những

lá mọc ở phần trên chỉ có cuống ngắn hoặc không có cuống

Quả nang hình trứng, màu nâu nhạt, đầu có mũi nhọn, quả tự nứt khi chín mở ra thành hai mảnh

Bộ phận dùng: Lá

1.2.2 Phân bố, thu hái

Cây mọc hoang và được trồng ở khắp các nước Châu Âu và Bắc Mỹ Ở nước ta cũng

đã di thực được từ năm 1960 nhưng không nhân rộng Cây thích nghi ở vùng khí hậu mát như Sapa, Hà Nội, Vĩnh Phú

Thời gian thu hái thích hợp nhất là có thể tiến hành vào cuối năm thứ nhất, lúc này lá cho hàm lượng glycosid cao Vào năm thứ hai, hái trước khi ra hoa, khi trời khô ráo

và khi lá cây đã chuyển sang màu xanh sẫm, phiến lá dầy

Khi hái lá, tay nắm phiến lá, kéo về một phía, làm phiến lá đứt khỏi gốc Những cuống lá có dính nhiều đất bùn, phải rửa cho sạch rồi phơi cho khô

1.2.3 Thành phần, công dụng

Làm thuốc điều hoà hoạt động của tim và làm thuốc trị phù thũng toàn thân Dùng ngoài làm cho vết thương chóng lành Làm thuốc trợ tim trong trường hợp suy tim nhịp không đều, làm nguyên liệu chiết xuất các glycosid tim

Với liều dược dụng, nó làm cho tim hoạt động, làm cho hưng phấn, cường tim, tăng thêm sức co bóp của tim và làm cho tim đập dịu, còn có tác dụng lợi tiểu Với liều cao, nó gây độc mạnh

1.3 IPECA

Tên khoa học: Cephaelis ipecacuanha Họ Rubiaceae

1.3.1 Mô tả thực vật, bộ phận dùng

Trang 8

Cây Ipeca thuộc thảo, cao khoảng 20 – 40 cm, sống lâu, cây luôn luôn xanh, có rễ gồm rất nhiều đốt ngắn họp thành những vòng như nhẫn quanh lõi rễ, lá mọc đối phiến lá hình bầu dục, lúc đầu có lông, sau nhẵn Có hai lá kèm dính với nhau lại thành bẹ giữa hai cuống lá Hoa màu trắng, quả hình trứng khi chín mầu tím sẫm

Bộ phận dùng: Rễ đã phơi hay sấy khô, dược liệu là những mẫu rễ nhỏ, ngoằn ngoèo

Ngoài mặt sùi thành từng ngấn, màu xám đỏ, mùi đặc biệt, buôn nôn, vị hắc, đắng

1.3.2 Phân bố, thu hái

Cây mọc hoang ở những rừng thưa như vùng nhiệt đới Brazil Ipeca đã được trồng ở

Ấn Độ, Malaysia, nhưng nơi trồng và cung cấp chính vẫn là Brazil

Trồng bằng hạt hay mẫu rễ Thường thu hoạch rễ từ cây 3 – 4 tuổi, có thể thu lấy rễ quanh năm Rễ đào lên, đem rửa sạch, phơi hay sấy khô, cắt thành từng mẫu rồi đóng vào bao

1.4 MA HOÀNG

Tên khoa học:

Thảo ma hoàng:Ephedra sinica

Mộc tặc ma hoàng: Ephedra equisetina

Trung gian ma hoàng: Ephedra intermedia

Họ Ephedraceae

1.4.1 Mô tả thực vật, bộ phận dùng

Thảo ma hoàng cao 30 – 70 cm Mộc tặc ma hoàng, cao tới 2m, cành cứng hơn Căn cứ vào chiều dài của đốt, có thể phân biệt hai loài ma hoàng: thảo ma hoàng có đốt dài hơn (3 – 6 cm), hạt thò ra ngoài, còn mộc ma hoàng đốt ngắn hơn (1 – 3 cm), hạt không thò ra

Trung ma hoàng cũng có đốt dài như thảo ma hoàng, nhưng đường kính cành trung

ma hoàng thường hơn 2mm, còn đường kính thảo ma hoàng chỉ khoảng 1,5 – 2 mm

Bộ phận dùng: ngọn hay phần trên mặt đất, phơi hay sấy khô Đôi khi dùng cả rễ

1.4.2 Phân bố, thu hái

Năm 1885 và 1887, hai nhà thực vật học Nhật Bản là Nagai và Hamanashi đã chiết được từ ma hoàng chất alkaloid gọi là ephedrin

Ma hoàng chưa thấy ở nước ta, thường nhập từ Trung Quốc Ma hoàng Trung Quốc được coi là tốt nhất, vì nhiều hoạt chất Tại Trung Quốc, ma hoàng chủ yếu là mọc

Trang 9

hoang Ma hoàng dùng trong nước phổ biến nhất là thảo ma hoàng, rồi đến mộc tặc

ma hoàng Loài trung ma hoàng thường ít khi bán đi nơi khác

Thường thu hái ma hoàng vào mùa thu, hoạt chất đạt tới 100% Thần nông bản thảo

quy định ma hoàng phải hái vào tiết lập thu, khi thân còn hơi xanh, bỏ qua các mấu

và quả do chứa rất ít alkaloid

1.5 HƯƠNG NHU TÍA

Tên khoa học: Ocimum sanctum Họ Lamiaceae

1.5.1 Mô tả thực vật, bộ phận dùng

Cây thảo cao gần 1 mét Thân cành màu đỏ tía, có lông Lá mọc đối, mép khía răng, thường có màu nâu đỏ, có lông ở cả hai mặt; cuống lá dài Cụm hoa là chùm đứng gồm nhiều hoa màu trắng hay tím, có cuống dài, xếp thành vòng 6-8 chiếc Quả bế nhỏ Toàn cây có mùi thơm dịu

Bộ phận dùng: phần cây trên mặt đất

1.5.2 Phân bố, thu hái

Loài cây cổ nhiệt đới, thường được trồng lấy lá làm rau ăn, nhưng chủ yếu để làm thuốc Có thể trồng bằng hạt vào cuối mùa xuân, sau 6 tháng đã có thể thu hoạch Khi cần, thu hái cả cây trừ rễ, lúc cây đang ra hoa, để nguyên hay cắt thành từng đoạn 2 – 3 cm, rồi đem phơi âm can đến khô

1.6 CAM THẢO

Tên khoa học: Glycyrrhiza uralensis Glycyrrhiza glabra Họ Fabaceae

1.6.1 Mô tả thực vật, bộ phận dùng

Cây Cam thảo là cây sống lâu năm thân có thể cao tới 1m hay 1,5m Toàn thân cây

có lông rất nhỏ Lá kép lông chim lẻ Vào mùa hạ và mùa thu nở hoa màu tím nhạt Quả giáp cong hình lưỡi liềm

Bộ phận dùng; Rễ, rễ to, ngoài màu hồng, trong màu vàng, ngọt, nhiều bột, ít xơ là tốt

1.6.2 Phân bố, thu hái

Cây cam thảo có nguồn gốc Uran Glycyrrhiza uralensis hay cây cam thảo Châu Âu Glycyrrhiza glabra

Được trồng ở nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Mông Cổ, Hungari Từ năm

1958, cam thảo được du nhập vào Việt Nam Cây mọc khỏe vào mùa xuân hạ và thu

Trang 10

Lượng chất trong rễ mỗi năm mỗi tăng Một số tài liệu nói rằng cây trồng thường không ra hoa

Trồng bằng hạt hoặc bằng thân rễ Sau 4 – 5 năm trở lên có thể thu hoạch Đào rễ và thân rễ vào mùa xuân hoặc thu đông Nhưng mùa thu đông cam thảo tốt hơn Khi đào thường người ta chỉ lấy rễ, nhưng nhiều khi lấy cả thân rễ

1.7 Á PHIỆN

Tên khoa học: Papaver somniferum Họ Papaveraceae

1.7.1 Mô tả thực vật, bộ phận dùng

Cây thảo, sống lâu năm, cao 0,7 – 1,5m

Lá mọc cách, lá phía dưới có cuốn ngắn, lá phía trên không cuốn, mọc ôm vào thân, mép có răng cưa

Quả là một nang hình cầu hoặc hình trứng.Quả chín có màu vàng xám Hạt nhỏ và nhiều, hơi giống hình thận, trên mặt có vân hình mạng

Căn cứ vào màu sắc của hoa, hạt, hình dáng và kích thước của quả, theo lối cổ điển người ta phân biệt ra các thứ sau:

Thứ nhẵn: hoa tím, quả hình cầu rộng, hạt đen tím, trồng ở Trung Á

Thứ trắng: hoa trắng, quả hình trứng, hạt trắng vàng nhạt, trồng tại Ấn Độ và Iran Thứ đen: hoa tím, quả hình cầu ở phía dưới, mở lỗ trên mép đầu nhụy, hạt màu xám, trồng ở châu Âu

Thứ lông cứng: hoa tím, cuống hoa và lá phủ đầy lông cứng, ở miền nam châu Âu Thứ trắng thường được trồng để lấy nhựa, thứ đen để lấy dầu

Bộ phận dùng: nhựa thuốc phiện lấy từ quả, hạt, lá

1.7.2 Phân bố, thu hái

Thuốc phiện có nguồn gốc tại Châu Á, Châu Âu, các nước vùng Địa Trung Hải Thuốc phiện được trồng nhiều ở vùng khí hậu ôn đới và nhiệt đới lâu năm

Tại tam giác vàng biên giới 3 nước Lào, Thái Lan, Myanma nổi tiếng là nơi sản xuất thuốc phiện lớn nhất thế giới

Ở Việt Nam, trước đây, vùng cao phía bắc Việt Nam trồng cây thuốc phiện vào vụ đông, thu hoạch nhựa đầu vụ xuân Từ 1995, Việt Nam cấm trồng cây Anh Túc Tùy theo mục đích trồng để lấy nhựa, lấy dầu hay chiết xuất alcaloid mà có sự thu hái khác nhau

Trang 11

Lấy nhựa: khi quả còn xanh bắt đầu chuyển sang màu vàng nhạt, phải chích lấy nhựa vào lúc trời khô ráo

Lấy hạt ép dầu: thu hoạch quả chín khi thân và lá đã khô vì hạt trong quả có hàm lượng dầu tối đa và đỡ công phơi sấy

1.8 CANHKINA

Tên khoa hoc: Cinchona sp Họ Rubiaceae

1.8.1 Mô tả thực vật, bộ phận dùng

Có khoảng 40 loài Canhkina

Canhkina có thể cao đến 15 – 20 m Lá mọc đối, với lá kèm thường sớm rụng Hoa mọc thành chum xim tận cùng, Hạt nhiều, nhỏ, dẹt có dìa hơi có răng

Tùy theo mục đích chữa bệnh hay làm nguyên liệu chiết alkaloid người ta dùng vỏ những cây Canhkina khác nhau:

Để làm thuốc bổ, chữa sốt thường người ta dùng vỏ cây Canhkina đỏ - Cinchona succirubra

Để chiết alkaloid toàn phần người ta có thể dùng vỏ cây Canhkina đỏ hoặc vỏ

Canhkina vàng Cinchona calisaya

Vỏ cây Canhkina xám Cinchona officinalis thường được dùng để chế biến rượu khai

vị

Bộ phận dùng: vỏ thân, vỏ cành và vỏ rễ phơi sấy khô (Cortex Cinchonae)

1.8.2 Phân bố, thu hái

Canhkina có nguồn gốc từ Nam Mỹ

Vỏ canhkina lần đầu tiên dược giới thiệu ở Anh vào năm 1677

Tại Việt Nam, canhkina được trồng nhiều ở vùng đất đỏ trên cao nguyên Lang biang, Trung Bộ

Tỷ lệ alkaloid trong vỏ cây canhkina tăng dần cho tới năm thứ năm, sau đó giảm dần xuống Tuy nhiên, người ta chờ cho cây lớn mới thu hái vỏ, vì khối lượng vỏ mỗi năm sẽ mỗi tăng

Thường người ta hái vỏ vào năm thứ 10, vì tỷ lệ quinin không bị giảm, vỏ dày, dễ bóc hơn Có hai phương pháp khai thác vỏ là đào và chặt

Ở Java người ta thường áp dụng phương pháp đào cây bóc lấy vỏ, vỏ cành và vỏ cả của rễ Ở Ấn Độ người ta áp dụng phương pháp chặt cây 7 – 8 tuổi

1.9 THÔNG ĐỎ

Trang 12

Tên khoa học: Taxus wallichiana Họ Taxaceae

1.9.1 Mô tả thực vật, bộ phận dùng

Chi Taxus có 7 – 8 loài thông đỏ trên thế giới có thể chiết được Taxol

Cây to thường xanh, cao đến 20 m, thân có nhiều mảnh, khi non màu xanh lục Lá mọc so le, thường xếp hai dãy như một lá kép Cụm hoa đơn tính, khác gốc, nón đực

và nón cái mọc ở kẻ lá Quả hình trứng dài

Bộ phận dùng: vỏ thân, rễ, lá

1.9.2 Phân bố, thu hái

Phân bố rải rác ở vùng ôn đới ẩm, vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới núi cao bắc bán

cầu 2 loài ở Việt Nam là Taxus chinensis thường gọi là thông đỏ lá ngắn và Taxus wallichiana zucc gọi là thông đỏ lá dài

Đầu năm 1960, viện Ung thư quốc gia Mỹ đã tách ra được một hợp chất có hoạt tính

từ cây Thông đỏ gọi là Taxol

Năm 1967, từ vỏ thân thông đỏ, chiết taxol tinh khiết (paclitaxel) Chế phẩm Taxol® (Bristol – Myers Squibb)

Taxus chinensis (Thông đỏ lá ngắn) mọc rải rác chủ yếu trong rừng cây lá hẹp trên

đỉnh núi đá vôi ở Sơn La, Hà Giang, Cao Bằng và Hoà Bình

Loài Taxus wallichiana zucc (Thông đỏ nam, Thông đỏ Hymalaya) là một trong

những loài có hàm lượng Taxol cao nhất thế giới, chủ yếu ở Lâm Đồng, và một phần nhỏ ở Khánh Hòa

1.10.2 Phân bố, thu hái

Camellia sinensis xuất xứ từ Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á, nhưng ngày nay nó

được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới

Trang 13

Chè là một cây nguồn gốc Trung Quốc Nhân dân Trung Quốc đã biết dùng chè từ

2500 năm trước công nguyên, sau tới Nhật Bản và nhiều nước châu Á khác

Ở nước ta chè được trồng nhiều nhất tại các tỉnh Phú Thọ, rồi tới Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên, các tỉnh miền Nam cũng trồng rất nhiều

Thông thường, chỉ có lá chồi và 2 đến 3 lá mới mọc gần thời gian đó được thu hoạch

để chế biến Việc thu hoạch thủ công bằng tay diễn ra đều đặn mỗi 1 đến 2 tuần

1.11 VÀNG ĐẮNG:

Tên khác: dây đằng giang, hoàng đằng, hòang dằng lá trắng, dây khai, vàng đắng

Tên khoa học: Coscinium usitatum Pierre

Thuộc họ: Menispermaceae (Tiết dê)

1.11.1 Mô tả cây

Vàng đằng là một cây leo to, có phân nhánh, mọc bò trên mặt đất hoặc leo lên những cây gỗ cao Thân hình trụ, đường kình từ 5-10cm Thân non màu trắng bạc, thân già màu ngà, xù xì có vết tích của lá rụng Cắt ngang thân có hình banh xa với những tia tủy như nan hoa bánhxe, màu vàng, giữa có vòng lõi tủy xốp lá mọc so le, mặt trên xanh, mặt dứới màu trắng nhạt, dài 15-30cm, rộng 10-20cm, có 5 gân (3 gân nỗi rõ) Mặt dưới có phủ lông tơ Hoa màu trắng phớt tím, mọc thành xim ở kẽ lá Cuống hoa rất ngắn, rễ hình trụ, đầu thuôn hình nón, mặt ngoài màu trắng nhạt, mặt trong màu vàng, cắt ngang có hình bánh xe với những tia tủy hình nan hoa Vị đắng

1.11.2 Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang dại rất phổ biến ở miền Đông nam bộ, nam trung bộ, Tây nguyên Còn thấy mọc nhiều ở Trung và Hạ lào, Campuchia Trữ lượng khá nhiều, người ta dùng thân và rễ, thu hái hầu như quanh năm Hái về thái mỏng, phơi hay sấy khô, không phải chế biến gì khác

Trang 14

Có thể dùng làm nguyên liệu chiết berberin Berberin clorua có thể chữa sốt, sốt rét,

lỵ, đau mắt, dùng trong: ngày uống 0,02g - 0,2g dưới dạng thuốc viên Người ta còn dùng chữa bệnh về gan, mật, vàng da, ăn uống khó tiêu

Dùng ngoài: chế thuốc đau mắt dưới dạng dung dịch 0,5%-1%

1.12 THUỐC PHIỆN:

Tên khoa học: Papaver somniferum L., họ Papaveraceae

Cây thuốc phiện còn có tên: A phiến, a phù dung, cổ tử túc, anh túc

Quả là một nang hình cầu hoặc hình trứng dài 4-7 cm, đường kính 3-6 cm, ở đỉnh

có núm, quả có cuống phình ra ở chỗ nối Quả chín có màu vàng xám Hạt nhỏ và nhiều (25000-30000 hạt/quả), hơi giống hình thận, dài 0,5 – 1 mm, trên mặt có vân hình mạng, màu xám hay vàng nhạt hoặc xám đen

Toàn thân cây chỗ nào bấm cũng có nhựa mủ màu trắng, để lâu chuyển thành nâu đen

Thuốc phiện là cây được trồng từ lâu đời, nguồn gốc có lẽ từ các nước vùng Địa Trung Hải Căn cứ vào màu sắc của hoa, hạt, hình dáng và kích thước của quả, theo lối cổ điển người ta phân biệt ra các thứ sau:

- Thứ nhẵn (Papaver somniferum var glabrum Bois): Hoa tím, quả hình cầu rộng,

hạt đen tím, trồng ở Trung Á

- Thứ trắng (Papaver somniferum var album DC.) Hoa trắng, quả hình trứng, hạt

trắng vàng nhạt Trồng tại Ấn độ và Iran

- Thứ đen (Papaver somniferum var nigrum DC.) Hoa tím, quả hình cầu ở phía

dưới, mở lỗ trên mép đầu nhụy, hạt màu xám, Trồng ở châu Âu

Trang 15

- Thứ lông cứng (Papaver somniferum var setigerum DC.) Hoa tím, cuống hoa và

lá phủ đầy lông cứng Mọc bán hoang dại ở miền nam châu Âu

Trong các thứ này, thứ trắng thường được trồng để lấy nhựa, thứ đen để lấy dầu Trên thực tế người ta vẫn chích lấy nhựa từ quả chưa chín hoặc lấy dầu từ hạt quả chín già của 2 thứ này Ngày nay người ta lai giống tạo ra các loài có hàm lượng alcaloid cao và thu thu được dầu của hạt

Thuốc phiện được trồng nhiều ở vùng khí hậu ôn đới và nhiệt đới từ lâu, nhưng vì

là cây cho nhựa gây nghiện nên nhiều chính phủ đã cấm trồng thuốc phiện tự do; ở nhiều nước, nhà nước quản lý trồng và sản xuất thuốc phiện Các nước trồng nhiều thuốc phiện Ấn Độ, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Nam Tư, Nga, Mianma, Lào …

Tại Đông Nam Á, Tam giác Vàng (biên giới ba nước Lào, Thái Lan, Myanma), nổi tiếng là nơi sản xuất thuốc phiện lớn nhất thế giới Ở Việt Nam, trước đây, vùng cao phía bắc Việt Nam trồng cây thuốc phiện vào vụ đông, thu hoạch nhựa đầu vụ xuân Từ 1995, VN cấm trồng cây Anh Túc và thay thế bằng cây dược liệu, cây ăn quả, cây công nghiệp Hiện nay, về cơ bản thuốc phiện đã bị xoá bỏ, tuy nhiên, còn

có một số địa phương có tình trạng tái trồng cây thuốc phiện

1.12.2 Trồng và thu hái

Thuốc phiện mọc tốt tại các vùng khí hậu mát Cây chịu được khí hậu lạnh (từ

5-100 C) và nóng bức Nhưng những tuần đầu tiên của sự sinh trưởng thời tiết phải mát

và ẩm, sau đó khí hậu nóng và khô thì cây mới phát triển tốt, ở nước ta cây phù hợp với khí hậu vùng núi có độ cao 800 – 2000 m Sau khi phơi khô, lá Coca được bó thành từng bó, để trong vòng 3 ngày trước khi đưa ra thị trường hoặc làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất cocain

Ở các nước có mùa đông giá lạnh người ta thường gieo hạt vào mùa xuân, có nơi gieo hạt vào cuối mùa thu cho tuyết rơi xuống bảo vệ hạtqua mùa đông và thu hoạch vào cuối tháng 7 đầu tháng 8 Ở nước ta thường gieo vào cuối tháng 10 đầu tháng 11, thu hoạch vào cuối tháng 3 đầu tháng 4

Trước đây các nước châu Âu thường trồng loại cây thuốc phiện cho dầu để ép lấy dầu từ hạt và chiết alcaloid từ quả chín Mặc dù hàm lượng alcaloid thấp (quả chín của cây thuốc phiện chưa qua giai đoạn chọn giống chỉ có 0,10 – 0,20% morphin trong khi đó nhựa thuốc phiện chưa 5 – 15% morphin) nhưng vì việc chích quả lấy nhựa đòi hỏi nhiều nhân công tốn kém Còn các nước châu Á thường trồng cây thuốc

Trang 16

phiện để chính lấy nhựa Ngày nay người ta thường trồng các loài thuốc phiện đã được cải tạo do các biện pháp trồng trọt và lai chọn giống có tỷ lệ alcaloid cao mà hoạt chất chính là morphin và đạt những yêu cầu về việc thu hái bằng cơ giới Theo Mothes, có thể tạo ra những loài thuốc phiện chỉ giàu một alcaloid cần thiết nào đó (morphin, codein, thebain… )

Thu hoạch: Tùy theo mục đích trồng để lấy nhựa hay lấy dầu và chiết xuất alcaloid từ quả mà có sự thu hái khác nhau

a/ Lấy nhựa: Khi quả còn xanh bắt đầu chuyển sang màu vàng nhạt, phải chính lấy nhựa vào lúc trời khô ráo Dụng cụ để rạch có 3 – 5 răng hình dáng khác nhau tùy theo địa phương, người ta rạch các vết ngang hay dọc hoặc nghiêng, hình xoắn ốc tùy theo từng nơi Vết rạch phải đủ sâu tới các ống nhựa mủ của vỏ hoặc khi gặp mưa nước sẽ theo chỗ rạch vào trong quả làm thối hạt Có thể rạch một lần hay nhiều lần trên một quả Người ta rạch nhựa vào buổi sáng, buổi chiều lấy cạo lấy nhựa Hoặc rạch nhựa vào buổi trưa hay chiều hôm trước đến sáng sớm ngày hôm sau cạo lấy nhựa khô Nói chung, sau khi rạch trên quả phải để 8 – 12 giờ cho nhựa tiếp xúc với không khí và ánh sáng làm khô dần Sau đó dùng dao hoặc dụng cụ đơn giản bằng gỗ hay bằng sắt lấy nhựa quánh đen phơi nắng cho khô Nhựa thuốc phiện có màu sẫm khi cứng lại; người ta đóng thành bánh có kích thước khác nhau (0,3 – 2 kg) và bọc bằng lá thuốc phiện hay bọc giấy đỏ … Ngay nay nhiều nơi người ta thường trộn nhựa của nhiều đợt lấy khác nhau để có chất lượng đều

Mỗi quả thuốc phiện có khoảng 0,02g nhựa Sản lượng tùy vào khí hậu và những yếu tố ảnh hưởng khác, chúng giao động trong khoảng 5 – 20 kg nhựa cho mỗi hecta Năng suất trung bình ở ta thường đạt 10 – 15kg nhựa/1ha Hàm lượng morphin trong nhựa thường là 12%

b/ Thu hoạch quả để chiết alcaloid và lấy hạt ép dầu Việc chích nhựa như trên phải làm bằng tay tốn nhiều nhân công Từ năm 1927 Kabay đã đem trồng thử tại Hungari để lấy quả chín chiết xuất alcaloid Phương pháp này cũng có năng suất đảm bảo việc khai thác đem lại lợi ích kinh tế Có nhiều ý kiến khác nhau về việc thu hoach tối ưu Có tác giả cho rằng hàm lượng morphin đạt tối đa (0,3 – 0,4%) khoảng

10 ngày trước khi hạt chín hoàn toàn, thời tiết khô ráo thì hàm lượng alcaloid gần như không đổi, nhưng khi trời mưa thì giảm xuống đáng kể Nhưng người ta ưa thu hoạch quả chín khi thân và lá đã khô vì hạt trong quả có hàm lượng dầu tối đa và đỡ

Trang 17

công phơi sấy, đồng thời tránh bảo quản khối lượng lớn nguyên liệu như khi thu hoạch cây còn xanh

Việc thu hái còn dùng tay ở những nơi trồng ít, còn những nơi trồng lớn thường dùng máy gặt đập Năng suất đạt 300 – 500 kg vỏ quả và 300 – 500 kg hạt/ha

1.12.3 Bộ phận dùng

a Nhựa thuốc phiện lấy từ quả chín (Opium)

Quan sát bên ngoài: Bánh hình tròn hay hình vuông, có khi hình chữ nhật Mặt ngoài màu nâu đen, đôi khi còn sót những mảnh lá hay vỏ quả thuốc phiện Mặt cắt mịn hay hơi lổn nhổn Khi còn mới thì mềm, dẻo, để lâu thì cứng, giòn Mùi đặc biệt

vị đắng

Soi kính hiển vi: Nghiền ít bột thuốc phiện trong dung dịch cloral hydrat 10%, soi kính hiển vi sẽ thấy: Những hạt nhỏ màu nâu, đứng riêng lẻ hay tụ thành đám, to nhỏ không đều (nhựa mủ) Mảnh vỏ quả ngoài gồm tế bào hình nhiều cạnh, có thành dày màu trắng nhạt Khoang (lumem) hình sao trong chứa một chất màu nâu

b Quả (Fructus Papaveris):

- Quả chưa lấy nhựa dùng cho công nghiệp chiết xuất alcaloid có kèm theo đoạn cuống dài 10 – 12 cm

- Quả hái sau khi lấy nhựa (anh túc xác, cù túc xác)

Tùy theo thứ mà có hình dạng và kích thước khác nhau, hình trứng hoặc tròn có lỗ

mở hay không Từ thành quả nang vào trong có 8 – 12 vách phân chia quả thành các

ô không hoàn chỉnh mang hạt

Quả thu hái trước khi chín hoàn toàn có màu vàng xám nhạt Ở trạng thái khô quả không có mùi, vị hơi đắng Phải loại hạt trước khi đem dùng trong ngành Dược Cắt ngang quả sẽ thấy: Vỏ quả ngoài có tế bào nhỏ, bên ngoài phủ một lớp cutin dày Vỏ quả giữa bao gồm các tế bào thành bằng cellulose Vỏ quả trong bào gồm các tế bào dẹt và lấm chấm kéo dài tới các lá noãn với mô mềm hơi xốp Trước mỗi tấm lá noãn trong vỏ quả giữa có một bó libe gỗ với các sợi trụ bì, có các ống nhựa

mủ xếp thành mạng lưới

c Hạt (Semen Papaveris)

Hạt hình thận, rất nhỏ, đường kính khoảng 0,1 – 0,2 mm, cân nặng khoảng 0,1 – 2mg, mặt trên hạt có hình mạng Màu vàng nhạt, trắng, xám, nâu hoặc đen tùy theo

Trang 18

từng thứ thuốc phiện Nội nhũ có nhiều dầu và alơron, phôi rất nhỏ, hạt không có mùi vị “dầu”

d Lá:

Đôi khi cũng được dùng ngoài làm thuốc giảm đau

1.12.4 Thành phần hóa học

- Lá: Chỉ có vết alcaloid (0,02 – 0,04%)

- Quả: Tỷ lệ alcaloid thay đổi tùy theo nòi

- Trong quả khô thường có 0,02 – 0,03% alcaloid toàn phần, bằng con đường chọn giống người ta có thể nâng hàm lượng morphin lên ới 0,8%

- Ở những quả khô đã lấy nhựa thì hàm lượng alcaloid nhất là morphin chỉ còn lại rất ít

- Hạt: Không có alcaloid, chứa 15% glucid, 20% protein, 40 – 45% dầu Dầu béo gồm các glycerid của các acid béo không no

- Nhựa thuốc phiện: Hoạt chất trong nhựa thuốc phiện là các lcaloid (20 – 30%) ở dạng muối (meconat, lactat,…) Tới nay đã phân lập được khoảng 40 alcaloid Căn

cứ vào cấu tạo hóa học người ta xếp vào nhiều nhóm

Trang 20

- Các acid hữu cơ: Acid meconic (3 – 5%), acid lactic (1 – 2%), acid acetic, fumaric, vanilic, gần đây người ta còn thấy có acid cetonic (oxalcetic, pyruvic, cetoglutaric)

Trong các acid hữu cơ này có acid meconic cần chú ý Nó cho màu đỏ máu với muối sắt (III), phản ứng này dùng để định tính nhựa thuốc phiện

- Ngoài ra còn có nước (5 – 10%), chất vô cơ (5 – 6%), đường, chất nhày và pectin (20%) ít protid và acid amin tự do, lipid, chất cao su, tanin, men…

1.12.5 Chiết xuất alcaloid

a Chiết xuất morphin từ nhựa thuốc phiện

Theo phương pháp của Thiboumery: Chiết nhựa thuốc phiện bằng nước nóng Rót dịch chiết vào sữa vôi nóng, calci morphinat tan trong nước vôi thừa, còn tạp chất thì tủa xuống Lọc, đun sôi dịch lọc và thêm amoni clorid sẽ có morphin base tủa xuống Rửa tủa bằng nước, rồi hòa tan trong acid HCl sẽ có morphin hydroclorid, sau cho kết tinh lại nhiều lấn sẽ thu được morphin hydroclorid tinh khiết

Ngoài ra còn nhiều phương pháp khác Hiện nay người ta còn dùng các nhựa trao đổi ion, morphin gắn vào nhựa anion có tính kiềm mạnh (anioit), sau đó đem ngâm tách bằng acid loãng

b Chiết từ quả khô chưa chích nhựa:

Theo phương pháp Kabay: Lấy quả thuốc phiện khô có đoạn cuống 10 – 12cm xay nhỏ Chiết bột dược liệu bằng nước nóng, cô dịch chiết thành cao đặc, chiết lại bằng cồn, cất thu hồi dung môi và tủa morphin bằng amoni sulfat ở môi trường kiềm có benzen Lấy riêng tủa morphin Có một số alcaloid khác như codein, narcotin và thebain… hòa tan trong benzen Tách lớp benzen rồi lần lượt làm kết tủa để lấy riêng codein, narcotin và thebain bằng cách tạo muối thích hợp

Ngoài ra người ta còn phân lập morphin và các alcaloid phụ bằng phương pháp trao đổi ion

Trang 21

Đối với bộ máy tiêu hóa: Liều nhỏ kích thích co bóp dạ dày, có thể gây nôn, liều cao có tác dụng chông nôn, khi uống làm giảm nhu động ruột nên dùng chữa ỉa chảy Morphin có tác dụng lên thần kinh trung ương nhất là vỏ não, ức chế trung tâm đau gây ngủ Liều thấp kích thích hô hấp, liều cao hơn thì ức chế trung tâm này, liều cao có thể làm liệt hô hấp Morphin cũng ức chế trung tâm ho nhưng kém hơn codein

Codein ít độc hơn morphin, tác dụng giảm đau kém nhưng tác dung ức chế trung tâm ho mạnh nên được dùng làm thuốc chữa ho tốt Lạm dụng thuốc sẽ bị nghiện Papaverin kích thích thần kinh ngoại biên, làm giảm co thắt cơ trơn, đặc biệt đối với dạ dày và ruột

Noscapin không gây ngủ, co giật ở liều cao nên trong các thuốc phiện người ta thường loại bỏ nó đi; tuy vậy, đôi khi người ta cũng kết hợp với morphin để làm tăng tác dụng giảm đau đồng thời ngăn cản hiện tượnglamf liệt trung tâm hô hấp do morphin Ngoài ra, noscapin được dùng để điều chế cotacnin có tác dụng cầm máu

1.12.7 Công dụng và liều dùng:

a Quả

a/ Đối với quả chưa chích nhựa

- Dùng để chiết xuất morphin, đa phần morphin được chuyển thành codein

- Chế cao toàn phần để làm thuốc thay thế cho nhựa thuốc phiện

- Dùng làm thuốc giảm đau

b/ Quả đã chích nhựa (anh túc xác)

- Làm thuốc chữa ho, tả, lỵ, đau bụng, giảm đau Dùng 4-6g/ngày dưới dạng thuốc sắc hay hãm

b Hạt

Trang 22

Một phần được dùng làm thực phẩm cho người hoặc chim Đa phần dùng để ép dầu Dầu dùng để ăn, dùng trong công nghiệp sơn và dùng trong ngành Dược Dầu dùng để chế dầu iod (lipiodol hoặc iodolipol) dùng làm thuốc cản quang khi chiếu các xoang trong cơ thể, chế thuốc xoa bóp, thuốc mỡ… Bã dầu dung làm thức ăn gia súc

c Nhựa thuốc phiện:

- Dùng làm thuốc giảm đau, thuốc ngủ, thuốc ho, chữa ỉa chảy Nhựa thường dùng phối hợp với các vị thuốc dưới dạng cao đơn hoàn tán hoặc ở các dạng:

+ Bột thuốc phiện (10% morphin), uống liều 0,05g/lần và 0,2g/24h

+ Cao thuốc phiện (20% morphin) dùng liều 0,05-0,1g/24h

+ Cồn thuốc phiện (1% morphin), 56 giọt = 1g dùng 1-3g/24h

Nhựa thuốc phiện xếp loại độc A gây nghiện, không được dùng liên tục quá 7 ngày và phải rất thận trọng khi dùng cho trẻ em và người già

- Dùng để chiết xuất alcaloid Phần lớn việc sản xuất nhựa thuốc phiện hợp pháp dùng để chiết xuất morphin Trên thế giới hàng năm cần hàng trăm tấn

Morphin dùng làm thuốc giảm đau, chữa co giật mê sảng, động kinh Thường dùng dưới dạng morphin hydroclorid để tiêm dưới da hoặc tiêm bắp Liều tối đa 0,02g/1 lần và 0,05g/24h

Việc tiêu thụ morphin không nhiều còn phần lớn dùng để điều chế các dẫn chất như codein, codetylin…

Codein dùng để chữa ho, dùng dưới dạng bột, viên, siro… codetylin cũng có tác dụng tương tự codein

Papaverin dùng làm thuốc giảm đau dùng trong bệnh co thắt dạ dày, ruột, mật, co thắt tử cung trong khi đẻ, đe dọa xẩy thai, co thắt mạch máu… Papaverin dùng trên thị trường phần lớn được điều chế bằng phương pháp tổng hợp

Narcein và thebain ít được sử dụng

d Lá:

Đôi khi được dùng làm thuốc giảm đau

1.13 MAO ĐỊA HOÀNG:

Tên khác: Địa chung hoa (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển)

Tên khoa học: Digitalis purpurea L

Họ khoa học: Scrophulariaceae

Trang 23

1.13.1 Mô tả: Cây thân thảo, sống 1,2 hoặc nhiều năm Bộ rễ rất phát triển Lá mọc

từ gốc, rất dầy, hình trứng tròn dài, mép lá có răng cưa, gân lá hình mạng nhện, nổi

rõ trên mặt lá Mặt trên của lá có màu xanh sẫm, mặt dưới màu xanh xám, có lông, cuống lá dài Tuy nhiên, những lá mọc ở phần trên chỉ có cuống ngắn hoặc không có cuống Vào tháng 5-6 cây ra hoa, cọng hoa dài 10-17cm ở trên phủ đầy lông tơ Hoa

tự mọc thành chùm, hoa mọc lệch về một phía, hoa hình chuông, ở đầu cánh hoa xèo

ra như hình môi Tràng hoa màu tính đỏ, tím nhạt rồi trắng dần, trong có vết chấm Đài hoa có 5 cánh, to nhỏ khác nhau, xếp đè lên nhau như mái ngói Hoa có hai nhị đực, bầu hoa có 2 ngăn, núm hoa xẻ thành hình chữ thập Quả tự nứt khi chín, hình chiếc dùi trong và có nhiều hạt

1.13.2 Thu hái, sơ chế: Thời gian thu hái thích hợp nhất là khi lá cây đã chuyển sang

màu xanh sẫm, phiến lá dầy, gân lá nổi rõ, phiến lá thô cứng, các lá mọc ở gốc cây không phát triển nữa, hơi chuyển dần thành màu xanh lá cây Lúc này là lúc có thể hái lá, ở những vùng ấm áp, cây được chăm sóc thì cứ cách 30-40 ngày là có thể hái

lá một lượt Thời gian thu hái kéo dài từ hạ tuần tháng 4 hoặc tháng 5 đến tháng 11 hoặc hạ tuần tháng 12, trong thời gian này có thể thu hoạch 6-7 lần

Khi hái lá, tay nắm phiến lá, kéo về một phía, làm phiến lá đứt khỏi gốc Khi đã hái đầy tay, thì một tay nắm lá, tay kia nắm cuống, gấp lại cho lá gẫy rời cuống, rồi để lá

và cuống riêng vào hai sọt khác nhau cho tiện phơi khô Những cuống lá có dính nhiều đất bùn, phải rửa cho sạch rồi phơi cho khô

Hoa hái về cũng nên tập trung lại, phơi khô Hàm lượng tạp chất ở hoa tuy không cao, nhưng có thể dùng làm chất bổ sung cho bột lá cây ngoài tiêu chuẩn, so với tinh bột thì kinh tế hơn

Lá hái về phơi khô ngay, không nên chất thành đống vì dễ bị mốc Nếu chưa kịp phơi khô thì phải để ở nơi thoáng gió, tránh làm hư hao thành phần hoạt chất của lá

Phải sấy khô lá Dương địa hoàng bằng nhiệt độ thấp trong thời gian ngắn Có nhiều cách sấy khô, phơi khô hoặc sấy qua lửa Phơi cần nhiều thời gian, dễ làm lá gẫy biến màu biến chất Phơi nắng chỉ thực hiện trong mùa hạ, nhưng phải rải cho mỏng

và đảo đều mới có thể thu hoạch được sản phẩm tốt, nếu nhiệt độ sấy tăng thì hàm lượng hoạt chất sẽ giảm đi nhanh chóng Để bảo đảm chất lượng cao, ngoài việc phơi nắng ra, thì tốt nhất nên sấy trong phòng có nhiệt độ từ 50-700C

1.13.3 Thành phần hóa học:

Trang 24

Có khoảng 20 glycosid tim (digoxin, digitoxin và lanatosid) mà phần genin của chúng theo 3 nhóm: gitoxigenin (3,14,16-Trihydroxycard-20(22)-enolide), gitaloxigenin (3,14-Dihydroxycard-20(22)-enolide-16yl formate), digitoxigenin*

(3,14-Dihydroxycard-20(22)-enolide)

1.13.4 Công dụng: Trợ tim, làm hưng phấn, làm tăng thêm bài tết của dạ dày, làm

thuốc lợi tiểu chống phù thủng

1.13.5 Bảo quản: Lá Dương địa hoàng dễ bị hút ẩm, biến chất, lượng hoạt chất dễ bị

giảm, dưới ánh nắng mặt trời dễ bị phân giải, nên phải đóng gói kín, để nơi khô ráo

để trong các vật không để ánh nắng xuyên qua

1.14 CÀ PHÊ:

Có 3 loài chính:

Cà phê chè (Coffea arabica L)

Cà phê mít (Coffea exselea Chev.)

Cà phê vối (Coffea robusta Chev.)

Họ Cà phê - Rubiaceae

1.14.1 Đặc điểm thực vật

Cây cà phê sống lâu năm Thân gỗ, cao 3-5m (cà phê chè) hoặc 10 – 15m (cà phê vối, mít Vỏ thân thường mốc trắng Cành chia 2 loại: các chồi vượt và các cành ngang mọc từ các mắt của chồi vượt Các cành tạo thành tầng quanh thân chính và cành vượt Lá đơn, mọc đối, hình dạng khác nhau tùy theo loài: Hình trứng hay hình lưỡi mác (cà phê chè và cà phê vối) hình bầu dục (cà phê mít) Hoa lưỡng tính, mọc đơn độc hay thành chùm màu đỏ tím hay đen ngà, có lớp thịt quả bọc quanh hạt Mỗi quả có hai hạt, dính vào nhau bởi một mặt phẳng phía trong, mặt ngoài của hạt cong hình bầu dục

1.14.2 Phân bố

Cà phê chè (Coffea arabica L) được trồng nhiều ở vùng châu Mỹ la tinh, Trung

Phi, ấn độ, Papua New Guinea, Indonexia, Philippin, Mianma.Thái Lan và Việt Nam;

Cà phê mít (Coffea exselea Chev.) được trồng nhiều ở Indonexia,Việt Nam, Ấn

Độ, Thái Lan, Đông Timo, Đài Loan, Nigeria, Congo, Liberia, malaysia, Philippin

Loài cà phê vối (Coffea exselea Chev.) được trồng nhiều ở Indonesia, Việt Nam, Ấn

Độ

Trang 25

Ở Việt Nam, cà phê do người Pháp đưa vào từ cuối thế kỉ XIX hoặc đầu thế kỉ

XX trồng nhiều ở vùng đồi núi trung du của các tỉnh miền Trung và miền Bắc, vùng Tây Nguyên như Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Bình Dương, Đồng Nai…

1.14.3 Bộ phận dùng, thu hái, chế biến

Hạt và lá

Thu hoạch cà phê bằng cách hái quả chín đang còn ở trên cây, hoặc đợi khi quả chín rụng rồi nhặt Mùa hái cà phê từ tháng 11 đến tháng một năm sau, cà phê vối: tháng 1 – 4, cà phê mít: tháng 4 – 8 Thu hoạch về đem phơi khô, rồi giã cho chóc

vỏ, sẩy sạch; hoặc hái về loại bớt thịt quả bằng cách sát dưới nước, sau đó ủ cho lên men 2 -3 ngày, rồi rửa sạch, phơi khô, xát sẩy cho hết lớp vỏ giấy ở hạt Khi rang cà phê phải rang chín tới giữa hạt mà ngoài không bị cháy, cắt hạt thấy màu bên trong giống màu bên ngoài Cà phê rang rồi phải đậy kín

Lá hái về phơi trong râm mát đến khô

1.14.4 Thành phần hóa học

Hạt cà phê chứa 0,3 – 2,5% cafein và có ít theobromin, theophyllin, phần lớn alcaloid kết hợp với acid clorogenic Ngoài ra còn có chất béo, protein, trigonellin, đường và chất vô cơ

1.14.5 Công dụng và liều dùng

- Cà phê sống: Giã nát ngâm rượu uống chữa tê thấp

- Cà phê rang: Pha nước uống có tác dụng kích thích thần kinh, trợ tim và lợi tiểu tiện Có tác dụng giải độc thuốc phiện và say rượu

Người ta còn dùng viên cà phê ngậm để làm tinh thần sảng khoái, minh mẫn và chống buồn ngủ trong khi làm việc

1.15 MÃ TIỀN:

Tên khoa học: Strychnos nux-vomica L, thuộc họ Mã tiền - Loganiaceae

1.15.1 Mô tả: Cây gỗ cao 5-12m, tới 25m, phân cành trên 7m Vỏ thân màu xám

trắng Cành non nhẵn, đôi khi có gai ở nách lá Lá đơn, mọc đối, mặt trên bóng có 5 gân hình cung, gân nhỏ hình mạng Cụm hoa mọc ở nách lá đầu cành, hình ngù tán, mỗi ngù có 8-10 hoa, 4-6 ngù họp thành tán Hoa trắng hoặc vàng nhạt, có mùi thơm Quả thịt hình cầu, đường kính 2,5-4cm khi chín màu vàng lục, chứa 1-5 hạt hình tròn dẹt như chiếc khuy áo, một mặt lồi, một mặt lõm, có lông mượt bóng

Trang 26

1.15.2 Bộ phận dùng: Hạt - Semen Strychni, được gọi là Mã tiền tử

1.15.3 Phân bố và thu hái: Cây của miền Ðông Dương và Ấn Ðộ mọc hoang ở

vùng rừng núi Mã tiền mọc tương đối khá ở vùng chân núi tới độ cao dưới 200m Ðến mùa quả chín, ta hái được quả già bổ ra lấy hạt, loại bỏ các hạt lép non hay thối đen ruột, phơi nắng hoặc sấy đến khô Ðể nơi khô ráo tránh mối mọt Khi dùng ngâm nước vo gạo 1 đêm ngày (36 giờ) đến khi mềm, cạo bỏ vỏ ngoài, lấy nhân, bỏ mầm Thái mỏng sấy khô Tẩm dầu vừng một đêm đem sao lên cho vàng đậm

1.15.4 Thành phần hoá học: Hạt Mã tiền có chứa các alcaloid chính là strychnin,

brucin và các alcaloid -B-colubrin vomicon, novacin, icagin và loganin Strychnin là một chất độc

1.15.5 Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng trị: ăn uống không biết

ngon, tiêu hoá kém; phong thấp nhức mỏi tay chân, bại liệt; trị đau dây thần kinh, liệt

do rượu, liệt não do có nguồn gốc tuỷ; suy nhược thần kinh, suy mòn; ho lao mạn tính; đái dầm; tiêu khí huyết tích tụ trong bụng

1.15.6 Cách dùng: Người lớn ngày dùng trung bình mỗi lần 0,05g (24 giờ 0,15g)

Liều tối đa một lần 0,10g (24 giờ 0,30g) Trẻ em dưới 2 tuổi không dùng Từ 3 tuổi trở lên dùng 0,005g cho 1 tuổi Dùng dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột Còn dùng dạng cao rượu và cồn thuốc Không dùng quá liều qui định Người có bệnh di tinh, mất ngủ không dùng

Dùng ngoài, lấy bột Mã tiền giã ra trộn với dầu xát ban lở ngoài da và làm thuốc diệt chuột Vỏ cây cũng dùng thoa ban lở, phong cùi Những người bị trúng phong lấy vỏ sắc cho uống

1.16 CÀ ĐỘC DƢỢC:

Cà độc dược - Datura metel L., thuộc họ Cà - Solanaceae

1.16.1 Mô tả: Cây thảo cao đến 2m, sống hằng năm, phần gốc của thân hoá gỗ Thân

và cành non màu xanh lục hay tím, có nhiều lông tơ ngắn Lá đơn, mọc so le; phiến

lá nguyên, hình trứng nhọn, gốc phiến lá không đều Hoa to, mọc đứng, thường đơn độc, ít khi xếp từng đôi ở nách lá; đài hoa liền nhau, hình ống, màu xanh, phía trên

có 5 răng; cánh hoa màu trắng, dính liền với nhau thành hình phễu dài đến 20cm nhưng vẫn thấy có 5 thuỳ; có 5 nhị dính trên cánh hoa; bầu trên, có 2 lá noãn, hàn liền nhau, chứa nhiều noãn Quả hình cầu, màu lục, đường kính 3cm, có nhiều gai

Trang 27

mềm mỏng ở mặt ngoài, khi chín nở làm 4 mảnh Hạt nhiều, nhăn nheo, màu nâu nhạt

Mùa hoa quả: Tháng 4 đến tháng 11

1.16.2 Bộ phận dùng: Hoa và lá - Flos et Folium Daturae, thường có tên là Dương

kim hoa

1.16.3 Phân bố và thu hái: Cây của Mỹ châu nhiệt đới, được thuần hoá ở nhiều

miền nhiệt đới và ôn đới Ở nước ta, cây mọc hoang khắp nơi và cũng được trồng làm cảnh và làm thuốc Trồng bằng hạt trước mùa mưa Người ta đã tạo ra nhiều giống trồng với lá có màu khác nhau: xanh, tía hay tim tím, hoa đơn hay hoa đôi Có thể thu hái hoa vào mùa thu; thu hái lá quanh năm

1.16.4 Thành phần hóa học: Trong cây chứa nhiều alcaloid, chủ yếu là scopolamin;

còn có hyoscyamin, atropin, norhyoscyamin với tỷ lệ ít hơn Người ta đã tìm được những chất khác như saponin, cumarin, flavonoid, tanin và chất béo Lá chứa nhiều hyoscyamin Nhựa chứa dầu cố định 12% và allantoin Rễ cũng có hyoscyamin Hoa chứa nhiều scopolamin và hyoscyamin với lượng ít hơn

1.16.5 Công dụng, chỉ định và phối hợp: Hoa được dùng trị ho, suyễn thở, ngực

bụng lạnh đau, phong thấp đau nhức, trẻ em cam tích Còn dùng làm thuốc tê trong phẫu thuật Lá Cà độc dược là vị thuốc chặn cơn hen suyễn, chống co bóp trong bệnh đau loét dạ dày ruột, chống say sóng gây chóng mặt, nôn mửa khi đi tàu, thuyền và máy bay Còn dùng chữa phong tê thấp, cước khí (sưng chân), đau dây thần kinh toạ, đau răng, động kinh, lòi dom Lá đem ngâm lấy nước trị chứng ho có tính co cứng, suyễn và các nhánh khí quản viêm

1.16.6 Cách dùng: Thường được dùng dưới dạng cao, bột, cồn thuốc, cồn thuốc

tươi Dùng ngoài làm thuốc hút, nướng đắp hoặc giã đắp Để trị hen, dùng 1-1,5g lá hoặc hoa khô cuốn vào giấy hút lúc lên cơn hen

Dùng lá hoặc hạt ngâm rượu uống mỗi ngày 10-15 giọt chữa nôn mửa, đau dạ dày ruột Có thể ngâm lá tươi vào rượu để dùng Dùng ngoài đắp mụn nhọt cho khỏi đau nhức, hơ nóng đắp trị đau dây thần kinh toạ

1.17 BA GẠC:

Ba gạc, Ba gạc vòng, Tích tiên - Rauvolfia verticillata (Lour.) Baill, thuộc họ Trúc đào - Apocynaceae

Trang 28

Mô tả: Cây nhỏ, cao 1-1,5m Thân nhẵn, có những nốt sần nhỏ màu lục sau xám Lá

mọc vòng 3 có khi 4-5; phiến lá hình ngọn giáo dài 4-16cm, rộng 1-3cm, gốc thuôn, chóp nhọn Hoa nhỏ màu trắng, hình ống phình ở họng, mọc thành xim dạng tán kép dài 4-7cm Quả dài xếp từng đôi, hình trứng, khi chín có màu đỏ tươi rồi chuyển sang màu tím đen

Ra hoa tháng 3-12, có quả tháng 5 trở đi Ở đồng bằng, có khi hoa nở quanh năm

Bộ phận dùng: Rễ - Radix Rauvolfiae Verticilatae, thường có tên là La phụ mộc: Lá

cũng được dùng

Nơi sống và thu hái: Cây mọc hoang ở Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thanh Hoá,

Lào Cai Cùng phân bố ở Trung Quốc Có thể trồng bằng hạt hay hom thân cành Sau

2 năm có thể thu hoạch Ta thường thu hái rễ cây mọc hoang, có thể đào quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa thu đông Ðào rễ về rửa sạch đất, phơi hay sấy khô

Loài này đã được khai thác làm thuốc triệt để và liên tục từ nhiều năm nay, nên hiện nay cây đã hiếm dần

Thành phần hoá học học: Trong rễ và lá có alcaloid toàn phần là 0,9-2,12% (rễ) và

0,72-1,69% (lá) trong đó chủ yếu là reserpin rescinnamin,

canescin, raunescin, serpentinin, ranvolfia A (C25H28N2O2)

Tính vị, tác dụng: Rễ Ba gạc có vị đắng, tính hàn, hơi có độc, có tác dụng thanh

nhiệt hoạt huyết, giải độc, giáng huyết áp Nước sắc Ba gạc có tác dụng làm giảm huyết áp có nguồn gốc trung ương, làm tim đập chậm, lại có tác dụng an thần và gây ngủ

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ðược dùng trị huyết áp cao đau đầu, mất ngủ,

choáng váng, đòn ngã, dao chém, sởi, ngoại cảm thấp nhiệt, động kinh, rắn cắn, ghẻ

lở Hiện nay ta chế thuốc dưới dạng cao lỏng, chứa 1,5% alcaloid toàn phần, 1g cao bằng 1g vỏ rễ để chữa cao huyết áp và làm thuốc an thần Liều dùng trung bình của cao lỏng là 30 giọt một ngày; có thể tăng lên 45-60 giọt Thời gian điều trị có thể kéo dài nhưng thường sau 10-15 ngày cần nghỉ

Trang 29

rõ ở mặt dưới, 3-5 cặp gân phụ, có ít lông màu nâu trên gân; cuống phình dài 2-2,5

mm Cuống lá màu xanh, hình trụ hơi lõm ở mặt trên, dài 1,2-1,8 cm, đáy cuống có phần phình dài 3-4 mm Lá kèm 2, hình móc câu, màu xanh, dài 3-4 mm, có nhiều lông và chấm đen ở mặt trong của lá; rụng sớm Cụm hoa: dạng chùm mọc ở đầu ngọn cành, dài 9-10 cm Trục phát hoa màu xanh và có lông màu nâu Hoa: không đều, lưỡng tính, mẫu 5 Cuống hoa màu xanh, dài 2 mm, có lông nâu Lá bắc nhỏ, dạng vảy rụng sớm để lại một vết màu nâu Đài hoa: 5 lá đài màu xanh, không đều, dính nhau tạo thành ống dài 3 mm, trên chia 5 răng, mặt ngoài các lá đài có lông, tiền khai van Tràng hoa: 5 cánh hoa rời, tiền khai cờ, mỗi cánh có 1 gân chính và nhiều gân phụ màu xanh; cánh cờ màu trắng có móng ngắn 1,5-2 mm, phiến gần tròn có thùy cạn ở đỉnh, khi hoa nở ưỡn ra phía sau; 2 cánh bên màu trắng xanh, móng ngắn

3 mm màu tím, phiến dài 7-8 mm, rộng 3-4 mm; 2 cánh trước trắng xanh tạo thành lườn, rời, móng ngắn 2,5-3 mm màu tím, phiến dài 8-9 mm, rộng 4-5 mm Bộ nhị: 10 nhị rời đính trên một vòng, không đều, chỉ nhị màu trắng, dạng sợi cong ở gần ngọn, dài 9-13 mm; bao phấn màu vàng, thuôn dài, 2 ô, hướng trong, nứt dọc, đính giữa, dài 0,5-0,75 mm; hạt phấn rời, hình hạt gạo, màu vàng có rãnh, dài 20-22,5 µm Bộ nhụy: 2 lá noãn,bầu trên 1 ô màu xanh, có lông màu nâu, nhiều noãn đính mép; vòi nhụy màu trắng dạng sợi, dài 3 mm Quả loại đậu, dài 4-9 cm, không mở, thắt lại thành từng khúc (2-6 khúc) không đều nhau, mỗi khúc hình bầu dục hoặc gần tròn; quả non màu vàng chanh, nhẵn bóng, có nhựa mủ; quả già khô xác, màu nâu vàng, nhăn nheo Hạt hình hạt đậu, màu xanh, dài 1-1,2 cm, rộng 0,7-0,8 cm, không nội nhũ, vỏ hạt màu đen bóng

1.18.2 Phân bố, sinh học và sinh thái:

Trang 30

Chi Sophora phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Việt Nam có 5 loài Hòe được trồng rộng rãi ở các tỉnh phía bắc, chủ yếu ở Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An… Hòe thuộc lại cây gỗ trung sinh, ưa sáng và ưa ẩm

Mùa hoa: tháng 5-8, mùa quả: tháng 9-11

1.18.3 Bộ phận dùng:

Nụ hoa đã phơi hoặc sấy nhẹ đến khô (Flos Styphnolobii japonici imaturi)

Dược liệu có màu vàng, vị hơi đắng, dài 0,5-0,8 cm, rộng 0,2-0,3 cm, cánh hoa vàng nâu, đài hoa vàng xám Nụ hòe có thể dùng sống hoặc sao cháy Các bộ phận khác cũng có thể dùng làm thuốc là hòe đã nở, quả, lá đã được phơi hoặc sấy khô Lá cũng

có thể dùng tươi

1.18.4 Thành phần hóa học:

Hòe rất giàu rutin Hòe nở: 8%, vỏ quả 4-11%, hạt 0,5-2%, lá chét 5-6%, cành con 0,5-2%, hòe nếp 44%, hòe tẻ 40,6%, dạng sống 34,7%, sao cháy 18,5%, sao vàng 28,9%

Nụ hòe còn chứa betulin, sophoradiol, sophorin A, sophorin B, sophorin C, sophorose Ngoài các chất rutin và quercetin, quả còn chứa genistein, kaempferol, sophoricosid, genistein-7-diglucosid, sophorose, genistein-7-diglucorhamnosid, kaempferol-3-sophorosid, kaempferol-3-rhamnodiglucosid Hạt hòe chứa 1,75% flavonoid toàn phần trong dó rutin 0,5%, alkaloid 0,035% (cytisin, N-metylcytisin, sophocarpin, matrin, 8-24% chất béo và galactomanan Lá hòe chứa 4,4% rutin, 19% protein, 3,5% lipid Rễ chứa irrisolidon, 5,7-dihydroxy-3’,4’-methylenodioxy-isoflavon, biochanin A, flemichaparin B, maackianin, sophorapanicin, puerol A, puerol B, sophorasid Gỗ chứa rutin, irisolidon 7-D-glucosid, biochanin A 7-D-xylosylglucosid, biochanin A 7-D-glucosid (sissotrin)

1.18.5 Tác dụng dƣợc lý - Công dụng:

Tăng cường sức đề kháng, giảm tính thẩm thấu của mao mạch, hồi phục tính thẩm thấu của mao mạch đã bị tổn thương Tác dụng chống viêm, bảo vệ cơ thể chống chiếu xạ, hạ huyết áp, hạ cholesterol máu, cầm máu, chống kết tập tiểu cầu, quercetin làm giãn mạch vành, cải thiện tuần hoàn tim

Theo y học hiện đại, nụ hòe và rutin được dùng làm thuốc cầm máu trong các trường hợp xuất huyết, đề phòng tai biến do xơ vữa mạch máu, tổn thương mao mạch, xuất

Trang 31

huyết dưới da, xuất huyết có liên quan đến xơ vữa động mạch, xuất huyết võng mạc, tăng huyết áp

Theo y học cổ truyền, hòe điều trị trường phong tiện huyết (đi ngoài ra máu tích phong nhiệt), niệu huyết, huyết lãm, băng lậu, trĩ ra máu, chảy máu cam, nôn ra máu, tăng huyết áp

1.19 PILOCARPUS

Có nhiều loài Pilocarpus :

Pilocarpus jaborandi Holmes

Pilocarpus microphyllus Stapf

Pilocarpus pennatifolius Lemaire

Pilocarpus racemosus Vahl

Thuộc họ Cam – Rutaceae

1.19.1 Đặc điểm thực vật và phân bố

Pilocarpus là những cây cao từ 3-8m, cây nhỏ, nhẵn hay có ít lông Lá có cuống,

lá đơn hoặc lá kép lông chim, có thể mọc cách hoặc mọc đối, không có lá kèm

Trong lá nhìn thấy nhiều điểm chấm, đó là các túi tiết rất lớn Hoa mọc thành chùm đơn hoặc kép, có khi mọc thành bông

Pilocarpus có nguồn gốc ở Nam và Trung Mỹ và Tây Ấn, mọc hoang nhiều ở Brazil

1.19.2 Bộ phận dùng

Lá (Folium Pilocarpi) có hình dạng thay đổi tuỳ theo loài

- Pilocarpus japorandi: Lá đơn hay kép gồm 1-4 đôi lá chét, mọc gần như đối

chiếu Lá chét hình bầu dục, mép nguyên, đầu lá thường xẻ đôi, rất ít lông, dài 7-15

cm, rộng 3-6 cm, mùi thơm, vị đắng, nóng, nhai sẽ gây chảy nhiều nước bọt

- Pilocarpus microphyllus: Lá kép thường có 3 đôi lá chét, hơi tròn, đầu lá xẻ rộng

hơn, dài 2,5 - 4 cm

- Pilocarpus pennatifolius: Lá chét có cuống phình to ra, lông rụng sớm, lá già

gần như không có lông

Trên thị trường buôn bán thường dùng hỗn hợp các lá của nhiều loài trên

1.19.3 Thành phần hóa học

Thành phần chủ yếu trong các loài pilocarpus là alcaloid có nhân imidazol Chúng được chiết xuất lần đầu tiên năm 1875

Trang 32

Trong lá tươi hoặc sấy khô có 0,2 – 1% pilocarpin (hàm lượng giảm khi nhiều khi

để khô), còn có isopilocarpin là đồng phân không gian của pilocarpin (khoảng 50% lượng pilocarpin) Chúng được phân biệt nhờ của 2 carbon bất đối ở vòng

25-lacton Trong lá tươi còn có các alcarloid phụ khác pilocarpidin và pilosin cũng như đồng phân của 2 alcaloid này

- Ngoài alcaloid còn có tinh dầu, tanin, acid hữu cơ…

B CÁC PHƯƠNG PHÁP CHIẾT XUẤT DƯỢC LIỆU

1 Saponin

Saponin trung tính và acid:

Bột dược liệu được chiết với ether dầu hỏa để loại chất béo

rồi chiết saponin bằng methanol – nước (4:1)

Loại methanol dưới áp suất giảm

Hòa cặn trong nước để có dung dịch 10% rồi lắc với n-butanol

Tách lớp n-butanol, bốc hơi n-butanol dưới áp suất giảm rồi hòa cặn với methanol Tinh chế thêm bằng cách rót từ từ dung dịch methanol vào ether có lượng lớn gấp 10 – 15 lần

Saponin kiềm thuộc nhóm spirosolan và solanidan:

Trang 33

Bột dược liệu thêm methanol đun nóng đến sôi trên nồi cách thủy

Dịch lọc đem bốc hơi đến khô trên nồi cách thủy

Cắn được hòa tan trong acid acetic 5%, đun nóng đến 80oC rồi kiềm hóa bằng amoniac

Tủa được ly tâm rồi hòa tan vào ethanol 96%

2 Anthranoid

Dạng glycosid: dùng cồn ethylic hoặc cồn methylic hoặc hỗn hợp cồn - nước

Phần aglycon: thủy phân bằng acid sau đó chiết bằng ether hoặc chloroform

3 Flavonoid

Không có một phương pháp chung nào để chiết xuất các flavonoid vì chúng rất khác nhau về độ tan trong nước và trong các dung môi hữu cơ

Các flavonoid glycosid thường dễ tan trong các dung môi phân cực

Các flavonoid aglycon dễ tan trong dung môi kém phân cực

Các dẫn chất flavon, flavonol có OH tự do ở vị trí 7 tan được trong dung dịch kiềm loãng

Dựa vào độ tan khác nhau này để chiết các flavonoid mong muốn

Ví dụ để chiết rutin trong hoa hòe ta có thể dùng dung dịch kiềm Na2CO3 loãng để hoà tan flavonoid ra khỏi nguyên liệu, sau đó acid hoá bằng HCl để kết tủa lại rutin

Chiết các flavonoid glycosid:

Loại các chất thân dầu bằng ether dầu hỏa

Sau đó chiết bằng nước nóng hoặc methanol hoặc ethanol hay hỗn hợp CHCl3 và ethanol

Cồn ở các nồng độ khác nhau và nước thường chiết được phần lớn các flavonoid Hỗn hợp CHCl3 và cồn hay dùng để chiết các dẫn chất methoxy flavonoid

Các chất anthocyanin thường kém bền vững nhất là các acyl anthocyanin được acyl hoá với các acid aliphatic do đó người ta thường chiết bằng methanol có mặt của các acid yếu như acid acetic, tartric hoặc citric thay vì HCl

Đôi khi để tinh chế hoặc tách flavonoid, người ta dùng muối chì để kết tủa Sau khi thu tủa người ta tách chì bằng cách sục dihydrosulfid thì flavonoid được giải phóng

4 Coumarin

Dựa vào sự đóng mở vòng lacton để chiết xuất một số coumarin:

Trước hết là chiết coumarin bằng ether dầu hoặc bằng một dung môi hữu cơ khác

Trang 34

Tiếp theo, lắc dung môi hữu cơ với dung dịch natri hydroxyd

Tách riêng lớp kiềm rồi lại acid hóa, sau đó lại chiết lại với dung môi hữu cơ, bốc hơi dung môi rồi tinh chế

Đối với các dẫn chất coumarin có nhiều nhóm OH hoặc đối với coumarin glycosid thì khó hòa tan trong dung môi hữu cơ Trong trường hợp này nên chiết bằng các dung môi kém phân cực rồi tăng dần độ phân cực Bốc hơi từng dung môi, kiểm tra

sự có mặt của coumarin rồi tách riêng biệt từng dẫn chất coumarin bằng sắc ký cột

5 Tinh dầu

Có 4 phương pháp được áp dụng để chế tạo tinh dầu:

Phương pháp cất kéo hơi nước

Phương pháp chiết xuất bằng dung môi

Phương pháp ướp

Phương pháp ép

Phương pháp cất kéo hơi nước

Phương pháp này được áp dụng rộng rãi nhất

Dựa trên nguyên tắc cất một hỗn hợp 2 chất lỏng bay hơi được không trộn lẫn vào nhau (nước và tinh dầu) Khi áp suất hơi bão hoà bằng áp suất khí quyển, hỗn hợp bắt đầu sôi và hơi nước kéo theo hơi tinh dầu

Hơi nước có thể đưa từ bên ngoài do các nồi hơi cung cấp hoặc tự tạo trong nồi cất

Độ chia nhỏ dược liệu phải phù hợp với bản chất dược liệu Những dược liệu chứa tinh dầu nằm trong tế bào ở sâu trong các mô, cần chia nhỏ đến tỷ lệ thích hợp

Thời gian cất tuỳ theo bản chất của dược liệu và tính chất của tinh dầu Với tinh dầu giun cần cất nhanh, nếu không tinh dầu sẽ bị phân huỷ (30 phút)

Tinh dầu sau khi thu được cần phải loại nước triệt để bằng phương pháp ly tâm

Phương pháp dùng dung môi

Dung môi không bay hơi:

Dầu béo hoặc dầu paraphin

Ngâm dược liệu, thường là hoa, trong dung môi đã được làm nóng 60-70oC, trong 12 – 48 giờ tuỳ theo từng loại hoa Làm nhiều lần cho đến khi dung môi bão hoà tinh dầu Dùng alcol để tách riêng tinh dầu khỏi dầu béo và cất thu hồi alcol dưới áp lực giảm sẽ thu được tinh dầu

Dung môi dễ bay hơi:

Trang 35

Phương pháp này hay dùng để chiết xuất tinh dầu trong hoa

Dung môi thường dùng là ete dầu hoả

Sau khi chiết, cất thu hồi dung môi dưới áp lực giảm sẽ thu được tinh dầu có lẫn sáp

và một số tạp chất khác và thường ở thể đặc Hoà tan dạng tinh dầu này bằng một ít cồn cao độ, tinh dầu sẽ tan trong cồn, để lạnh, lọc bỏ phần sáp, phần dung dịch còn lại được đem cất kéo hơi nước Những tinh dầu được điều chế bằng phương pháp này thường rất thơm, giá thành cao và được dùng để điều chế mỹ phẩm và nước hoa cao cấp

Phương pháp chiết xuất tinh dầu tốt nhất hiện nay là phương pháp chiết xuất bằng dung môi kết hợp với khí CO2 lỏng Phương pháp này cho hiệu xuất cao, tiêu tốn ít dung môi, cho tinh dầu chất lượng tốt, thường áp dụng chiết xuất các tinh dầu của hoa, tinh dầu quý hiếm Hạn chế của phương pháp này là đòi hỏi thiết bị đắt tiền, vì vậy đến nay chưa được ứng dụng rộng rãi

Phương pháp ướp

Dùng khuôn bằng gỗ, ở giữa đặt tấm thuỷ tinh được phết mỡ lợn cả 2 mặt Đặt lên trên bề mặt chất béo một lớp lụa mỏng, rải lên trên hoa tươi, khô ráo, đã loại bỏ lá đài Các khuôn gỗ được xếp chồng lên nhau rồi để trong phòng kín

Sau 24 - 72 giờ tuỳ theo từng loại hoa, người ta thay lớp hoa mới cho đến khi lớp chất béo bão hoà tinh dầu Có thể dùng mỡ có chứa tinh dầu, hoặc tách riêng tinh dầu bằng alcol

Phương pháp ép

Phương pháp này chỉ áp dụng để điều chế tinh dầu ở quả các loài Citrus

Trong vỏ cam, chanh tinh dầu nằm trong túi tiết ở lớp vỏ ngoài, chỉ cần tác động lực

cơ học là có thể giải phóng ra Vì vậy phương pháp ép rất phù hợp

Các túi tiết tinh dầu trong vỏ các loài Citrus được bao bọc bởi các màng pectin Càng gia nhiệt màng càng đông cứng lại Nếu muốn điều chế tinh dầu bằng các phương pháp cất, trước hết phải phá vỡ màng này Có thể dùng các tác nhân sau:

Cơ học: Chia nhỏ dược liệu

Hoá học: Dung dịch acid hydrocloric hoặc acid oxalic loãng

Enzym

Dịch ép có chứa nhiều pectin, sau khi ép phải lọc, li tâm và bảo quản tinh dầu ở nhiệt

độ thấp

Trang 36

6 Alcaloid

Chiết bằng dung môi hữu cơ không phân cực

Ưu điểm: hiệu suất chiết các hoạt chất từ dược liệu cao do dịch chiết rút ra sạch, dễ

tinh chế loại các tạp đi kèm theo Các dung môi hữu cơ không phân cực thường là các dung môi có khả năng chiết chọn lọc đối với alcaloid ở dạng base

Nhược điểm: dung môi hữu cơ thường là các dung môi đắt tiền Khi sử dụng các

dung môi này để chiết đòi hỏi các thiết bị phức tạp đầu tư cho thiết bị lớn

Phương pháp tiến hành gồm các giai đoạn sau:

Chuẩn bị nguyên liệu: để tăng khả năng chiết ta phải chia nhỏ dược liệu trước khi chiết nhằm làm tăng bề mặt tiếp xúc giữa hai pha rắn và lỏng đẩy nhanh quá trình khuếch tán Tuy nhiên nếu ta chia nhỏ dược liệu quá dung môi sẽ khó chuyển động qua khối dược liệu và ta rất khó thu được dịch chiết, do đó tuỳ thuộc vào từng loại dược liệu ta có thể xay nhỏ khác nhau

Kiềm hoá và làm trương nở nguyên liệu bằng dung dịch kiềm để chuyển alcaloid

trong nguyên liệu sang dạng base

Chiết: sử dụng các dung môi chiết là các dung môi hữu cơ không phân cực

Tinh chế thu các alcaloid bằng cách chuyển dạng muối với acid và chuyển dạng base bằng kiềm và phân chia chúng giữa hai pha dung môi hữu cơ không phân cực và nước để loại các tạp chất không phải là alcaloid

Chiết bằng dung môi phân cực: nước, nước acid, ethanol, methanol

Ưu điểm: dung môi rẻ tiền, dễ kiếm Thiết bị chiết xuất đơn giản, đầu tư ít

Nhược điểm: dịch chiết rút ra lẫn nhiều tạp chất, khó tinh chế do đó mất mát nhiều

trong khâu tinh chế làm cho hiệu suất chiết thấp.Đối với các dược liệu chứa nhiều

chất nhầy, việc sử dụng nước làm dung môi chiết gặp khó khăn trong khâu rút dịch chiết

Phương pháp tiến hành gồm các giai đoạn sau:

Chuẩn bị nguyên liệu: nguyên liệu thực vật được xay thô, sau đó được làm ẩm cho trương nở bằng nước

Chiết: sử dụng dung môi là nước chiết alcaloid dưới dạng muối tự nhiên hoặc muối với acid vô cơ, hoặc dung môi là cồn ethylic hoặc methylic để chiết alcaloid cả dưới dạng muối và base

Tinh chế:

Trang 37

Trong trường hợp chiết bằng nước, alcaloid base được giải phóng từ dịch chiết bằng cách thêm kiềm sau đó được chiết bằng một dung môi hữu cơ không hòa tan trong nước Tiếp tục tinh chế bằng cách bốc hơi dung môi và kết tinh lại trong dung môi

hữu cơ hoặc chuyển sang dạng muối kết tinh lại

Trong trường hợp chiết bằng cồn, dịch chiết cồn được cô đặc, thêm acid và loại các tạp chất bằng cách chiết bằng dung môi hữu cơ không phân cực, thêm kiềm chuyển

alcaloid sang dạng base rồi chiết alcaloid bằng một dung môi hữu cơ Bốc hơi dung môi hữu cơ rồi kết tinh alcaloid hoặc chuyển sang dạng muối kết tinh lại

7 Tanin

Tanin hầu như không tan trong các dung môi kém phân cực, tan được trong cồn loãng, tốt nhất là nước nóng Hiệu suất chiết được nâng cao nếu được tác động bằng siêu âm

Sau khi chiết bằng nước, có thể tủa tanin bằng (NH4)2SO4, lọc, lấy tủa, hoà lại trong aceton nước (6:1), cất đến khô rồi rửa bằng ether

Trong quá trình chiết xuất, muốn tránh sự oxy hoá thì có thể cho thêm vào dịch chiết một ít acid ascorbic hoặc metabisulfit

8 Glycosid tim: không tan trong các dung môi kém phân cực, tan được trong cồn

Trang 38

PHẦN 2 KIỂM NGHIỆM 2.1 COLCHICIN

Phương pháp quang phổ: colchicin có thể định lượng bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao trong pha động là nước – methanol, phát hiện ở bước sóng 254nm

Phương pháp cân: dược điển quốc tế định lượng colchicin bằng phương pháp cân theo nguyên tắc: chiết colchicin bằng cồn 95˚, cho bốc hơi cồn, hòa tan cắn trong dung dịch Na2SO4 20%, rồi loại tạp chất bằng cách lắc với ether Sau đó chuyển alcaloid sang dung môi cloroform, bốc hơi dung môi, cho vào cắn ít cồn 95˚ rồi cho bốc hơi cồn Sau đó sấy khô cắn colchicin ở 100˚C tới khối lượng không đổi rồi đem cân

Phương pháp so màu: dựa vào nguyên tắc đun nóng colchicin với acid HCl đặc, colchicin biến đổi thành colchicein Hợp chất này có nhóm OH-phenol tác dụng với FeCl3 tạo ra dung dịch có màu xanh

2.2 DIGITOXIN

2.2.1 Định tính

Hoà tan vào ethanol 60%, thêm vài giọt acid dinitrobenzoic và vài giọt NaOH loãng, xuất hiện màu tím

Trong acid acetic khan có FeCl3 + H2SO4 đậm đặc, xuất hiện màu xanh

Phổ IR hoặc sắc ký, so với digitoxin chuẩn

2.2.2 Định lƣợng

Phương pháp đo quang: phản ứng tạo màu giữa digitoxin với dung dịch natri picrat

Trang 39

kiềm, đo độ hấp thu ở 495 nm Tiến hành đồng thời với digitoxin chuẩn

2.3 EMETIN

2.3.1 Định tính

Phản ứng tạo màu:

Phản ứng với acid Bouchadart xuất hiện màu đỏ nâu

Phản ứng acid picric xuất hiện màu vàng

Phản ứng acid silicovolframic xuất hiện màu trắng

Quang phổ:

UV – Vis: emetin dihydroclorid hấp thu ở 230 và 280nm

IR: so sánh với phổ chất chuẩn

2.3.2 Định lƣợng

Phương pháp đo acid trong môi trường khan:

Hòa tan với dung môi CH3COOH, anhydric acetic Định lượng bằng dung dịch HClO4 0,1N Xác định điểm tương đương bằng đo điện thế hoặc dùng chỉ thị màu

đồ của dung dịch thử phải có vết cùng màu sắc với giá trị Rf với ephedrin trên sắc ký

đồ của dung dịch đối chiếu

2.4.2 Định lƣợng

Định lượng trong môi trường khan với dung dịch chuẩn độ là acid percloric, chỉ thị

là dung dịch bão hòa methyl da cam trong aceton

Định lượng bằng phương pháp trung hòa trực tiếp bằng HCl 0.1N, chỉ thị đỏ methyl

Chiết lấy dịch ether, thêm chính xác lượng dung dịch acid sulfuric, lắc đều, để yên lớp acid trong bình gạn cho phân lớp Lấy riêng lớp acid cho vào bình nón, đun cách thủy đuổi hết ether và để nguội, chuẩn độ acid thừa bằng dung dịch natri hydroxyd, dùng 2 giọt đỏ methyl làm chất chỉ thị màu

2.5 EUGENOL

Trang 40

Dung môi khai triển: Ethyl acetat – toluen (1:9)

Quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 254 nm Dung dịch thử phải cho vết chính có vị trí và kích thước tương ứng với vết chính của dung dịch đối chiếu

Phun bản mỏng bằng dung dịch anisaldehyd, sấy bản mỏng ở 100o

C-105oC trong 10 phút Dung dịch thử phải cho vết chính có vị trí, màu sắc và kích thước tương ứng với vết chính của dung dịch chiếu

2.5.2 Định lƣợng

Eugenol tác dụng với dung dịch kiềm tạo thành eugenat tan trong nước Phản ứng được tiến hành trong bình cassia Đọc lượng tinh dầu không tham gia phản ứng ở phần cổ bình có chia vạch

2.6 GLYCYRRHIZIN

2.6.1 Định tính

Phương pháp sắc ký lớp mỏng:

Dung môi khai triển: cloroform - methanol - hexan (7 : 1 : 2)

Thuốc thử hiện màu: dung dịch acid sulfuric 10% trong methanol, sấy bản mỏng ở

105oC trong 5 phút Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết cùng màu và cùng giá trị Rf với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu

2.6.2 Định lƣợng

Phương pháp cân: loại tạp chất bằng ether, chiết bằng cồn, bốc hơi cồn, hoà tan cặn trong nước, tủa acid glycyrrhizic trong nước bằng H2SO4 Ly tâm để lấy tủa, rửa tủa bằng nước lạnh rồi hoà tan lại trong cồn 95o

sôi Bốc hơi trong chén, sấy 100oC rồi cân

Phương pháp acid – base: chiết bằng aceton có mặt của acid nitric Thêm amoniac vào dịch chiết, sẽ có amoni glycyrrhizat kết tủa Lọc lấy tủa, hoà vào nước, thêm formalin thì acid glycyrrhizic được giải phóng và có hexamethylentetramin tạo thành Sau đó chuẩn độ acid glycyrrhizic bằng dung dịch kiềm

Ngày đăng: 15/03/2017, 17:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w