Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý hoạt động tự học của lưu học sinh Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam” để nghiên cứu với mong muốn sẽ có những đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_
LÊ PHÚ THẮNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA LƯU HỌC SINH NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_
LÊ PHÚ THẮNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA LƯU HỌC SINH NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 62.14.01.14
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS NGUYỄN BÁ MINH
2 PGS.TS NGÔ QUANG SƠN
NGHỆ AN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực Những kết luận của luận án chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Nghệ An, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Lê Phú Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn
Bá Minh, PGS.TS Ngô Quang Sơn, những người Thầy đã tận tình hướng
dẫn tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện và hoàn thiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, lãnh đạo Phòng Sau đại học, Khoa Giáo dục, các Phòng ban đơn vị, các giảng viên, các nhà khoa học Trường Đại học Vinh đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, giáo viên Trường Hữu Nghị T78 và Trường Hữu Nghị 80 đã tạo điều kiện, hỗ trợ tôi trong quá trình triển khai tổ chức khảo sát, thực nghiệm và thu thập tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, cán bộ, chuyên viên Vụ Hợp tác Quốc tế, Vụ Giáo dục Dân tộc - Bộ Giáo dục & Đào tạo
và Phòng Tham tán Văn hóa Giáo dục, Đại Sứ quán nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam đã động viên, ủng hộ và giúp đỡ tôi hoàn thành luận án
Trong quá trình thực hiện luận án, tôi cũng nhận được nhiều sự ủng hộ, động viên từ phía gia đình, bạn bè đồng nghiệp thân thiết Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới những sự ủng hộ, giúp đỡ đầy quý báu đó
Nghệ An, ngày tháng năm 2017
Nghiên cứu sinh
Lê Phú Thắng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA LƯU HỌC SINH 11
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 11
1.2 Các khái niệm cơ bản 26
1.2.1 Lưu học sinh 26
1.2.2 Hoạt động tự học 27
1.2.3 Quản lý hoạt động tự học 30
1.2.4 Giải pháp quản lý hoạt động tự học 30
1.3 Hoạt động tự học của lưu học sinh 31
1.3.1 Ý nghĩa của hoạt động tự học đối với lưu học sinh 31
1.3.2 Động cơ, kỹ năng và thói quen tự học 32
1.3.3 Các điều kiện thực hiện hoạt động tự học của lưu học sinh 35
1.3.4 Nội dung, phương pháp và hình thức tự học của lưu học sinh 38
1.3.5 Đánh giá kết quả hoạt động tự học của lưu học sinh 41
1.3.6 Những đặc điểm về hoạt động tự học của lưu học sinh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 43
1.4 Quản lý hoạt động tự học của lưu học sinh 46
1.4.1 Sự cần thiết phải quản lý hoạt đô ̣ng tự ho ̣c của lưu học sinh 46
1.4.2 Mục tiêu quản lý hoạt đô ̣ng tự ho ̣c của lưu học sinh 47
1.4.3 Nội dung quản lý hoạt động tự học của lưu học sinh 48
1.4.4 Chủ thể quản lý hoạt động tự học của lưu học sinh 55
Trang 61.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự học của lưu
học sinh 58
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌCCỦA LƯU HỌC SINH NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TẠI VIỆT NAM 66
2.1 Khái quát tổ chức khảo sát thực trạng 66
2.1.1 Mục đích khảo sát 66
2.1.2 Nội dung khảo sát thực trạng 66
2.1.3 Đối tượng khảo sát 67
2.1.4 Địa bàn khảo sát 67
2.1.5 Phương pháp khảo sát 67
2.1.6 Đánh giá kết quả khảo sát 68
2.1.7 Cách thức xử lý dữ liệu khảo sát 69
2.1.8 Thời gian khảo sát 69
2.2 Kết quả khảo sát 70
2.2.1 Thực trạng đào tạo lưu học sinh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong các nhà trường ở Việt Nam 70
2.2.2 Thực trạng hoạt động tự học của lưu học sinh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam 76
2.2.3 Thực trạng quản lý hoạt động tự học của lưu học sinh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam 89
2.2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự học của lưu học sinh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam 104
2.3 Đánh giá thực trạng 107
2.3.1 Những điểm ma ̣nh và nguyên nhân 107
2.3.2 Những điểm yếu và nguyên nhân 111
2.3.3 Cơ hội 114
2.3.4 Thách thức 115
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC 118
Trang 7CỦA LƯU HỌC SINH NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
TẠI VIỆT NAM 118
3.1 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 118
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tự học của lưu học sinh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam 119
3.2.1 Tổ chức quán triệt tầm quan trọng của quản lý hoạt động tự học đối với lưu học sinh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào cho mọi lực lượng có trách nhiệm với đào tạo 119
3.2.2 Kế hoạch hóa hoạt đô ̣ng tự ho ̣c của lưu học sinh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 122
3.2.3 Xây dựng cơ chế tổ chức hoạt động tự học cho lưu học sinh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 125
3.2.4 Tăng cường chỉ đạo hoạt động tự học của lưu học sinh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 137
3.2.5 Xây dựng Bộ tiêu chí để đánh giá hiệu quả quản lý hoạt động tự học của lưu học sinh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 139
3.2.6 Đảm bảo các điều kiện để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tự học của lưu học sinh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 145
3.3 Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất 150
3.4 Thực nghiệm 154
3.4.1 Khái quát về thực nghiệm 154
3.4.2 Phân tích kết quả thực nghiệm 157
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 168
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌCLIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 173 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
LHS : Lưu học sinh
HĐTH : Hoạt động tự học
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ
Sơ đồ 1.1 Khái quát quan điểm lấy tự học làm cốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh 16
Sơ đồ 1.2 Quan hệ giữa thời gian tự học và các nhân tố khác 38
Sơ đồ 3.1 Cơ chế quản lý HĐTH với chủ thể quản lý 126
Sơ đồ 3.2 Cơ chế quản lý HĐTH với chủ thể là LHS 127
Sơ đồ 3.3 Mô hình tự học “Đôi bạn cùng tiến” 129
Sơ đồ 3.4 Mô hình tự học “Học ở nhà dân” 131
Bảng Bảng 2.1 Tổng hợp đối tượng khảo sát thực trạng 67
Bảng 2.2 Thống kê số phiếu khảo sát điều tra 69
Bảng 2.3 Tổng số suất học bổng do Chính phủ Việt Nam dành cho Lào hàng năm 71
Bảng 2.4 Thực trạng số lượng sinh viên Lào đã và đang theo học tại Việt Nam từ năm 2011-2015 72
Bảng 2.5 Số lượng LHS Lào đã tốt nghiệp tại Việt Nam từ năm 2011 - 2015 72
Bảng 2.6 Thực trạng LHS Lào bị thôi học về nước từ 2011- 2015 73
Bảng 2.7 Thực trạng hình thức và số lượng LHS Lào đang học tập tại các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam 73
Bảng 2.8 Thực trạng LHS Lào tại Việt Nam năm 2013 74
Bảng 2.9 Tổng hợp thời gian (mức trung bình) trong một ngày dành cho HĐTH của LHS Lào 76
Bảng 2.10 Kết quả tổng hợp mục đích tự học của LHS Lào 77
Bảng 2.11 Kết quả khảo sát về thực trạng thực hiện các kỹ năng tự học của LHS Lào 78
Bảng 2.12 Kết quả tổng hợp nội dung tự học của LHS Lào 80
Trang 10Bảng 2.13 Tổng hợp đánh giá việc sử dụng các phương pháp tự học của
LHS Lào 82
Bảng 2.14 Kết quả khảo sát việc lựa chọn các hình thức tự học của LHS Lào 85 Bảng 2.15 Kết quả khảo sát đánh giá về kết quả tự học của LHS Lào 87
Bảng 2.16 Kết qủa đánh giá công tác quản lý lập kế hoạch cho HĐTH của LHS Lào 89
Bảng 2.17 Kết quả đánh giá công tác quản lý việc tổ chức HĐTH của LHS Lào 91
Bảng 2.18 Kết quả đánh giá thực trạng quản lý việc chỉ đa ̣o HĐTH của LHS Lào 93
Bảng 2.19 Kết quả khảo sát thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá HĐTH của LHS Lào 95
Bảng 2.20 Kết quả khảo sát về thực trạng quản lý HĐTH của LHS Lào 97
Bảng 2.21 Kết quả khảo sát thực trạng vai trò của các chủ thể quản lý HĐTH của LHS Lào 100
Bảng 2.22 Kết quả khảo sát thực trạng huy động các điều kiện và nguồn lực đảm bảo cho HĐTH cho LHS Lào 101
Bảng 2.23 Kết quả khảo sát thực trạng chất lượng và hiệu quả của quản lý HĐTH đối với LHS Lào 103
Bảng 2.24 Kết quả khảo sát về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới công tác quản lý HĐTH của LHS Lào 105
Bảng 3.1 Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý HĐTH của LHS Lào 140
Bảng 3.2 Sự cần thiết của 06 giải pháp 152
Bảng 3.3 Tính khả thi của các giải pháp 153
Bảng 3.4 Bảng điểm trung bình và tần số Lớp Đối chứng Tiếng Việt 4 157
Bảng 3.5 Bảng điểm trung bình và tần số Lớp Thực nghiệm Tiếng Việt 5 158
Bảng 3.6 Tổng hợp kết quả xếp loại học tập Lớp Đối chứng Tiếng Việt 4 160
Bảng 3.7 Kết quả xếp loại học tập Lớp Thực nghiệm Tiếng Việt 5 160
Trang 11Biểu
Biểu 2.1 Sự thay đổi số suất học bổng theo cấp học do Chính phủ Việt Nam
dành cho Lào giai đoạn 2011 - 2015 71
Biểu 2.2 Cơ cấu nguồn học bổng dành cho LHS Lào đang học tập tại Việt Nam 73
Biểu 2.3 Thời gian dành cho HĐTH của LHS Lào 76
Biểu 2.4 Nội dung tự học của LHS Lào 80
Biểu 2.5 Đánh giá về hình thức tự học của LHS Lào 85
Biểu 2.6 Đánh giá về kết quả tự học của LHS Lào 88
Biểu 2.7 Kết quả đánh giá về công tác quản lý lập kế hoạch tự học cho LHS Lào 90
Biểu 2.8 Kết quả đánh giá quản lý tổ chức HĐTH của LHS Lào 92
Biểu 2.9 Kết quả đánh giá quản lý chỉ đạo HĐTH của LHS Lào 94
Biểu 2.10 Kết quả khảo sát về công tác kiểm tra, đánh giá HĐTH của LHS Lào 96
Biểu 2.11 Kết quả đánh giá các nội dung của quản lý HĐTH của LHS Lào 98
Biểu 2.12 Kết quả đánh giá công tác huy động các điều kiện và nguồn lực đảm bảo HĐTH của LHS Lào 102
Biểu 2.13 Kết quả đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới quản lý HĐTH của LHS Lào 105
Biểu 3.1 Mối tương quan giữa mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các giải pháp được đề xuất 154
Biểu 3.2 Sự thay đổi trong kết quả học tập sau khi thực nghiệm 161
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 HĐTH nói riêng và hoạt động học tập nói chung là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: Tâm lý học đại cương; Tâm lý học dạy học; Lý luận dạy học; Lý luận giáo dục và nhiều chuyên ngành khác Mỗi chuyên ngành khoa học xem xét, nghiên cứu HĐTH ở mỗi góc độ khác nhau
và có những đánh giá, sản phẩm khoa học khác nhau về vấn đề này Tuy nhiên, cơ sở và nền tảng để nghiên cứu, khám phá vấn đề HĐTH là lý thuyết
về hoạt động Tức là HĐTH được xem như là một hoạt động với các thành tố cấu trúc bao gồm: hành động, kỹ năng, mục đích, động cơ, kết quả và điều kiện thực hiện; được sắp xếp thành hai bộ phận chủ thể và khách thể Tuy góc nhìn và phương thức tiếp cận về HĐTH khác nhau, song đa số các tác giả, các trường phái khoa học đều thừa nhận và đánh giá rất cao vai trò chủ thể của người học (chủ động, tích cực và sáng tạo) ở tất cả các cấp học và bậc học Để phát huy vai trò chủ thể đó cần có một hệ thống các giải pháp đồng bộ, khoa học và phù hợp
HĐTH có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người học, là một trong những yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập ở người học Nếu người học chủ động, tích cực và sáng tạo và tự xây dựng kế hoạch học tập về tự học một cách nghiêm túc thì hiệu quả, chất lượng học tập
sẽ được nâng cao rõ rệt Ngược lại, nếu người học ỷ lại tham gia hoạt động tự học có tính chất đối phó, hình thức thì không thể có chất lượng và hiệu quả cao được Bên cạnh vai trò chủ thể là người học, thì công tác quản lý đối với HĐTH cũng có vai trò rất quan trọng để nâng cao thành tích học tập và rèn luyện cho học sinh Nếu công tác quản lý được tổ chức, thực hiện một cách có
kế hoạch, hệ thống, có tổ chức và được kiểm tra, giám sát với các giải pháp có
Trang 13tính khả thi và hiệu quả thì HĐTH của học sinh sẽ có những chuyển biến tích cực và rõ rệt; góp phần cùng nâng cao kết quả học tập cho học sinh
HĐTH của học sinh và sinh viên được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu Chính vì vậy, thành quả khoa học về vấn đề này rất đa dạng, phong phú; làm cơ sở cho các chuyên ngành khoa học khác có liên quan có thể kế thừa và phát triển Bên cạnh đó, nhiều tác giả tập trung nghiên cứu cách thức, phương thức quản lý và tổ chức HĐTH sao cho đạt hiệu quả cao nhất ở nhiều lứa tuổi học sinh, sinh viên khác nhau (từ tiểu học đến trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học và sau đại học) Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình, đề tài nào đề cập đến việc quản lý HĐTH của một đối tượng rất đặc biệt, đó là LHS Lào
1.2 Thời gian qua, Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực cho Lào Rất nhiều LHS Lào đang theo học tại Việt Nam sau khi trở về nước đã có sự trưởng thành, hiện đang đảm nhận nhiều trọng trách trong bộ máy chính quyền các cấp cũng như trong các lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ, đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Lào
Những năm gần đây, các cơ sở giáo dục của Việt Nam được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực giúp nước bạn Lào đã có nhiều cố gắng về mọi mặt, từ việc tích cực đổi mới về phương pháp, tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, tổ chức quản lý hoạt động dạy -học đến viê ̣c không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo LHS Lào
Bên cạnh kết quả đạt được, các nhà trường vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế trong việc đào tạo LHS Lào Cụ thể, kết quả học tập tiếng Việt, học văn hóa và cả các môn chuyên ngành của LHS trong các nhà trường nhìn chung còn thấp Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan tác động làm cho chất lượng đào tạo LHS Lào chưa được như mong muốn, trong đó có nguyên nhân thuộc về công tác quản lý, tổ chức hoạt động dạy và học của các nhà
Trang 14trường; chưa phát huy được tính độc lập, tự chủ và sáng tạo của người học; chưa tổ chức và quản lý tốt HĐTH của LHS Lào
Thực tế hiện nay cho thấy, HĐTH của học sinh, sinh viên nói chung và LHS Lào nói riêng trong các nhà trường ở Việt Nam chưa nhận được sự quan tâm đúng mức Các nhà trường chưa có biện pháp quản lý thực sự hiệu quả đối với hoạt động này Những biện pháp quản lý HĐTH của học sinh, sinh viên hiện nay đang tiến hành trong các nhà trường phần lớn chỉ đạt tới mục đích là quản lý về mặt thời gian và con người Tác động quản lý của nhà trường tới việc tự học của học sinh, sinh viên còn ở mức độ tuyên truyền kêu gọi, nhắc nhở HĐTH của người học hầu như vẫn diễn ra một cách tự phát , ít
có sự quản lý , giám sát của giáo viên nên hiệu quả chưa cao Đặc biệt, ở đối tượng LHS Lào điều này càng biểu hiện rõ
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý hoạt động
tự học của lưu học sinh Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam” để nghiên cứu với mong muốn sẽ có những đóng góp nhất định cho các
cơ sở giáo dục, các nhà trường trong việc đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng dạy học cho LHS Lào tại Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luâ ̣n và thực tiễn đề xuất các giải pháp quản
lý HĐTH của LHS Lào nhằm nâng cao chất lượng dạy và học LHS Lào tại Việt Nam
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động học tập của LHS Lào
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý HĐTH của LHS Lào tại Việt Nam
Trang 154 Giả thuyết khoa học
Chất lượng HĐTH, quản lý HĐTH của LHS Lào tại Việt Nam có thể được cải thiện, nâng cao nếu đề xuất và thực hiện có hiệu quả các giải pháp quản lý HĐTH của LHS Lào dựa trên chức năng quản lý và đă ̣c điểm HĐTH của LHS Lào
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý HĐTH của LHS
5.2 Khảo sát thực trạng quản lý HĐTH của LHS Lào tại Việt Nam
5.3 Đề xuất các giải pháp quản lý HĐTH của LHS Lào tại Việt Nam
5.4 Thăm dò sự cần thiết, tính khả thi và thực nghiệm các giải pháp đề
xuất
6 Phạm vi nghiên cứu đề tài
6.1 Đề tài nghiên cứu các lý luận, tổ chức khảo sát thực trạng và đề
xuất các giải pháp quản lý HĐTH của LHS Lào dưới góc độ quản lý giáo dục, với chủ thể quản lý là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, trưởng các phòng ban, cán bộ quản lý, giáo viên giảng dạy LHS Lào; Khách thể nghiên cứu
là LHS Lào
6.2 Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng HĐTH; thực trạng quản lý
HĐTH và thực nghiệm một số giải pháp quản lý HĐTH của LHS Lào tại
Trường Hữu Nghị T78 và Trường Hữu Nghị 80
7 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Quan điểm tiếp cận
7.1.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống
Khi tổ chức nghiên cứu quản lý HĐTH của LHS Lào theo quan điểm
hệ thống, cần:
- Nghiên cứu quản lý HĐTH của LHS Lào một cách toàn diện, nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận mà xem xét cụ thể
Trang 16- Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố để tìm ra quy luật phát triển từng mặt và của toàn bộ nội dung quản lý HĐTH của LHS Lào
- Nghiên cứu quản lý HĐTH của LHS Lào trong mối quan hệ với các công tác quản lý khác trong lĩnh vực giáo dục
- Trình bày quản lý HĐTH của LHS Lào rõ ràng, khúc chiết, theo một
hệ thống chặt chẽ có tính logic cao
7.1.2 Quan điểm tiếp cận chức năng quản lý
Đây là một trong những quan điểm trụ cột khi tiến hành các đề tài khoa học có đặc thù quản lý giáo dục Bất cứ hoạt động quản lý nào cũng phải xác định được câu hỏi: Quản lý cái gì (tức là nội dung quản lý) và quản lý theo phương thức, cách thức nào (tức là chức năng quản lý) Việc áp dụng quan
điểm này khi triển khai trong đề tài “Quản lý hoạt động tự học của lưu học
sinh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” sẽ giúp tác giả phân tích và làm
rõ được việc tổ chức quản lý HĐTH của LHS Lào theo các cách thức cụ thể (lập kế hoạch tổ chức HĐTH; công tác chỉ đạo, tổ chức HĐTH; công tác kiểm tra, đánh giá HĐTH của LHS Lào)
7.1.3 Quan điểm tiếp cận thực tiễn
- Quan điểm này đòi hỏi trong quá trình nghiên cứu phải bám sát thực tiễn HĐTH của LHS Lào tại các cơ sở đào tạo
- Phát hiện được những mâu thuẫn, khó khăn của thực tiễn trong quản
lý HĐTH của LHS Lào để từ đó đề xuất các giải pháp quản lý HĐTH của LHS Lào có cơ sở khoa học và có tính khả thi
7.1.4 Quan điểm tiếp cận phát triển
Quan điểm này yêu cầu việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp quản lý HĐTH của LHS Lào phải theo định hướng phát triển bền vững, phù hợp với
xu thế giáo dục hiện đại
Trang 177.1.5 Quan điểm tiếp cận hoạt động
Quan điểm này đòi hỏi việc xem xét và đề xuất các giải pháp quản lý HĐTH của LHS Lào phải được triển khai trên các hoạt động quản lý cụ thể của các nhà trường cũng như HĐTH của chính LHS Lào
Đồng thời quan điểm này cho phép tác giả xem xét HĐTH nói chung
và HĐTH của LHS Lào với tư cách là một hoạt động Điều này có nghĩa là: HĐTH bao gồm nhiều thành tố cấu trúc khác nhau; sự vận động và phát triển của các thành tố này tạo nên sự vận động chung của HĐTH HĐTH cũng có thể được phân tích thành các hành động và kỹ năng bộ phận nhằm thực hiện động cơ và các mục đích cụ thể
Luận án sẽ nhìn nhận quản lý HĐTH của LHS Lào theo các nội dung quản lý giáo dục Quản lý HĐTH của LHS Lào bao gồm các nội dung quản lý
cụ thể: Quản lý kế hoạch tổ chức HĐTH; quản lý tổ chức HĐTH; quản lý công tác chỉ đạo HĐTH; quản lý công tác kiểm tra, đánh giá HĐTH của LHS Lào
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng để phân tích và tổng hợp tài liệu có liên quan đếnquản lý HĐTH của LHS Lào nhằm hiểu biết sâu sắc, đầy đủ hơn bản chất cũng như những dấu hiệu đặc thù của hoạt động quản lý HĐTH của LHS Lào, trên cơ sở đó sắp xếp chúng thành một hệ thống lý thuyết của đề tài
- Phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa
Phương pháp này được sử dụng để rút ra những luận điểm có tính khái quát về các vấn đề nghiên cứu, từ những quan điểm, quan niệm độc lập
- Phương pháp mô hình hóa
Tác giả sử dụng phương pháp này để hệ thống hóa, sắp xếp các vấn đề cần nghiên cứu theo những mô thức khác nhau, phù hợp với logic vận động
Trang 18và phát triển của vấn đề nghiên cứu; đồng thời biểu đạt được các mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài giữa các thành tố của một hay nhiều hệ thống khác nhau Phương pháp mô hình hóa giúp tác giả có cách nhìn trực quan, trực diện vào vấn đề nghiên cứu mà vẫn có góc nhìn tổng thể và bao quát về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử
Là phương pháp nghiên cứu bằng cách đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và biến hóa của đối tượng để phát hiện bản chất và quy luật của đối tượng Phương pháp này được sử dụng để phân tích các tài liệu lý thuyết đã có nhằm phát hiện các xu hướng, các trường phái nghiên cứu, từ đó xây dựng tổng quan về vấn đề nghiên cứu (lịch sử nghiên cứu vấn đề) Xây dựng tổng quan giúp ta phát hiện những thiếu hụt, những điều chưa hoàn chỉnh trong các tài liệu đã có, từ đó tìm ra chỗ đứng của đề tài nghiên cứu của từng cá nhân
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát khoa học
Đề tài thực hiện quan sát các hoạt động của LHS Lào, của giáo viên để
đánh giá những biểu hiện về HĐTH và kết quả của HĐTH
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn và thực nghiệm khoa học
Đề tài tiến hành điều tra thực trạng đào tạo LHS Lào tại Việt Nam, thực trạng HĐTH của LHS Lào Đồng thời, đề tài tiến hành điều tra thực trạng quản lý HĐTH của LHS Lào
Các hình thức điều tra: Phiếu Anket, trao đổi trực tiếp với cán bộ quản
lý giáo dục, giáo viên, các lực lượng giáo dục khác và LHS Lào, quan sát các hoạt động
Đề tài thiết kế câu hỏi phỏng vấn sâu các nhà quản lý giáo dục, giáo viên và LHS Lào để tìm hiểu về thực trạng của HĐTH, các giải pháp đã thực hiện
Trang 19Đề tài tiến hành thực nghiệm HĐTH tại Trường Hữu Nghị T78 trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2015 để rút ra kết luận về việc vận dụng các giải pháp quản lý HĐTH cho LHS Lào đã đề xuất và kiểm chứng khoa học
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
Đề tài tổ chức nghiên cứu thực tế, tìm hiểu các cơ sở giáo dục có LHS Lào để tìm hiểu, tổng kết kinh nghiệm quản lý HĐTH và kinh nghiệm sử dụng các biện pháp quản lý HĐTH
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Thực hiện lấy ý kiến của các nhà khoa học giáo dục, các nhà quản lý giáo dục, các cán bộ giảng dạy có thâm niên và kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý HĐTH về các vấn đề: Các khái niệm khoa học, những luận cứ khoa học, thực trạng sử dụng các biện pháp quản lý HĐTH, cách tổ chức thực nghiệm khoa học và cách xử lý số liệu
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Đề tài sử dụng phương pháp toán xác suất thống kê để xử lý các số liệu thu thập thông qua cách lập bảng, vẽ đồ thị hoặc tính tham số đặc trưng (Trung bình mẫu, trung bình cộng, phương sai, độ lệch chuẩn, T-test, hệ số tương quan) Trên cơ sở đó tiến hành so sánh các giá trị thu được giữa các nhóm thực nghiệm và đối chứng
8 Những luận điểm cần bảo vệ
8.1 HĐTH có vai trò rất quan trọng trong các nhà trường Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, thông tin truyền thông và kinh tế xã hội thì vai trò của tự học càng được khẳng định Quản lý HĐTH có
ý nghĩa hết sức cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động học tập của học sinh, sinh viên nói chung và LHS Lào nói riêng
Trang 208.2 HĐTH của LHS Lào tại Việt Nam dù đã có nhiều cố gắng song vẫn bộc lộ những hạn chế, nhược điểm Những hạn chế, nhược điểm đó chủ yếu thể hiện ở một số mặt sau: Việc lập kế hoạch tự học của LHS Lào chưa
có hệ thống; cơ chế quản lý HĐTH tại các cơ sở giáo dục làm nhiệm vụ đào tạo LHS Lào chưa chặt chẽ; điều kiện cho HĐTH của LHS Lào chưa được đảm bảo
8.3 HĐTH của LHS Lào tại Việt Nam cần phải có sự quản lý chặt chẽ Trong bối cảnh hiện nay, việc quản lý nhằm tập trung vào: Nâng cao nhận thức cho đội ngũ và LHS Lào về sự cần thiết phải quản lý HĐTH; xây dựng
cơ chế quản lý và mô hình tự học phù hợp với đối tượng LHS Lào; xác định các tiêu chí để đánh giá hiệu quả HĐTH của LHS Lào; cung ứng các điều kiện phục vụ cho HĐTH của LHS Lào
9 Đóng góp của luận án
9.1 Về mặt lý luận
Đề tài đã hệ thống hóa, làm sáng tỏ và phát triển các vấn đề lý luận có liên quan đến HĐTH và quản lý HĐTH của LHS Lào Cụ thể, đó là tổng kết những vấn đề khoa học có thể kế thừa của các tác giả đi trước; phân tích và làm rõ các chức năng cùng các vấn đề cơ bản của quản lý đối với HĐTH của LHS Lào; đi sâu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến HĐTH của LHS Lào
9.2 Về mặt thực tiễn
(1) Luận án đã điều tra và đánh giá được thực trạng công tác quản lý HĐTH của LHS Lào tại Trường Hữu Nghị T78 và Trường Hữu Nghị 80; làm
rõ các điểm mạnh, điểm yếu của công tác này đồng thời dự báo những cơ hội
và thách thức của công tác quản lý HĐTH của LHS Lào
(2) Luận án đã xây dựng và đề xuất được các cơ chế quản lý HĐTH và
mô hình tổ chức tự học (Học ở nhà dân, Đôi bạn cùng tiến, Vui học Tiếng Việt) cho LHS Lào; xây dựng và đề xuất Bộ tiêu chí để đánh giá hiệu quả quản lý HĐTH của LHS Lào tại Việt Nam
Trang 21(3) Luận án đã đề xuất được 06 giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý HĐTH của LHS Lào; trên cơ sở đó thực nghiệm một số giải pháp chủ yếu Kết quả thực nghiệm cho thấy các giải pháp đề xuất là rất cần thiết cho thực tiễn giáo dục, có tính khả thi cao và đạt hiệu quả khi áp dụng vào thực tiễn
10 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận án được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của lưu ho ̣c sinh Chương 2: Thực tra ̣ng quản lý hoạt động tự học của lưu học sinh nước
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp quản lý hoạt động tự học của lưu học sinh
nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam
Trang 22Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
CỦA LƯU HỌC SINH
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
1.1.1 Các nghiên cứu ơ ̉ ngoài nước
1.1.1.1 Các nghiên cứu về hoạt động tự học
Trong lịch sử giáo dục, tự học là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm Song, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, tự học được đề cập dưới các góc độ và hình thức khác nhau Các tác giả đã làm
rõ vai trò của HĐTH, tự nghiên cứu tìm tòi, khám phá của bản thân người học, đó là cơ sở cho mọi sự thành công trong học tập
Cách đây hàng ngàn năm trước công nguyên các nhà triết học, các nhà giáo dục vĩ đại ở phương Tây đã khẳng định vai trò của giáo dục, tự học, tự rèn luyện tri thức như Heraclitus (530-475 TCN); Socrate (470-399 TCN); Theo Platon (427-384 TCN)… Theo các nhà tư tưởng này thì giáo dục sẽ là ngọn đuốc soi sáng để con người có thể tự nhận ra con đường của mình tự bước đi trên con đường đó Giáo dục cũng giúp con người tự nhận ra mình ở
giữa đám đông mà không tách biệt mình ra khỏi đám đông hay xã hội Hơn
nữa họ cũng khẳng định rằng mọi người đều phải học và học đến nơi đến chốn Đặc biệt là người thầy, để dạy người, thì phải được giáo dục đến nơi đến chốn Để làm được như vậy, ở thời cổ đại con đường chủ yếu vẫn là tự học, tự học thường xuyên, tự học lâu dài
Cùng thời gian đó, các nhà triết học, tư tưởng lớn phương Đông như
Mă ̣c Tử (475-390 TCN) và ông đã phân biệt ba loại tri thức: Thân tri, văn tri, trí tri, thì ngoài văn tri - nghe mà biết, còn thân tri - tự nhận biết và trí tri - tự suy luận mà biết đều do tự chiêm nghiệm, tức là do tự học vậy
Trang 23Thời cận đại, nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc J A Komensky
(1592-1670) đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở
thành tài năng” Năm 1657, ông đã hoàn thành tác phẩm “Khoa Sư phạm vĩ đại” trong đó nêu rõ: “Việc học hành, muốn trau dồi kiến thức vững chắc không thể làm một lần mà phải ôn đi ôn lại, có bài tập thường xuyên phù hợp với trình độ” [136]
Ở thế kỷ XVIII-XIX, các nhà giáo dục lỗi lạc như Jan Jac Rousseau (1712-1778), J.H.Pestalozzi (1746-1827), A.Distervers (1790-1866), K.D.Usinxki (1824-1870) đã đi sâu nghiên cứu về sự phát triển trí tuệ, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học trong dạy học Các tác giả trên
đã cho rằng đây chính là cơ sở duy nhất để sự học có hiệu quả Vì thế, cần giáo dục cho học sinh khả năng định hướng trong môi trường xung quanh, biết hoạt động một cách linh hoạt, sáng tạo, biết tự mình nâng cao kiến thức
để phát triển bản thân một cách tốt nhất, phải định hướng người học suy nghĩ, tìm tòi trong quá trình dạy học của mình Các nhà giáo dục lỗi lạc khi xây dựng quan điểm dạy học cũng cho rằng cần hướng cho học sinh tự nắm lấy kiến thức bằng cách tự tìm hiểu, tự khám phá, tự tìm tòi và sáng tạo
Theo N.A.Rubakin: “Tự học là một quá trình lĩnh hội tri thức, kinh
nghiệm xã hội, hoạt động lý luận và thực tiễn của cá nhân Bằng cách thiết lập các quan hệ mới cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu các mô hình phản ánh hoàn cảnh hiện tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể” [146]
Tự học là quá trình bản thân người học độc lập, tự giác chiếm lĩnh tri thức, tích cực tìm tòi, phân tích sách vở, tài liệu tham khảo bằng những phương pháp phù hợp trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên
Nhiều nhà giáo dục ở châu Á cũng đã quan tâm đến lĩnh vực tự học của học sinh Nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật, ông T.Makiguchi đã trình bày
Trang 24những tư tưởng giáo dục mới trong tác phẩm“Giáo dục vì cuộc sống sáng
tạo” [139] Ông cho rằng, giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn tự học
mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng
Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn Độ trong tác phẩm “Giáo dục cho thế
kỷ XXI, những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương” [143] đã đưa ra quan
điểm về quá trình“Nhận biết dạy-học” Theo ông người học phải là người tham gia tích cực vào quá trình “Nhận biết dạy-học” và “Sự học tập do người
học chủ đạo” Các nhà giáo dục hiện đại đi sâu nghiên cứu khoa học giáo dục
cũng đã khẳng định vai trò to lớn của HĐTH Phát triển tư tưởng từ quan điểm của các nhà giáo dục tiền bối, họ đã chỉ ra một số yếu tố quan trọng (như N.A.Rubakin, Smit Hecbéc) nhấn mạnh việc quan tâm giáo dục động cơ hoạt động đúng đắn là điều kiện để học sinh tích cực, chủ động trong học tập
Để giúp người học nâng cao tính tích cực nhận thức và đạt hiệu quả trong HĐTH, các tác giả (A.M.Machiuskin, A.V.Petrovski) đã đề ra trong việc thiết
kế các bài tập nhận thức, nhất là bài tập nêu vấn đề để học sinh thực hiện trong thời gian tự học đó là trách nhiệm của người giáo viên
Cuối thế kỷ XX, quan niệm về học tập suốt đời được coi là chìa khóa
mở cửa vào thế kỷ XXI Theo khuyến cáo về “Giáo dục cho thế kỷ XXI”, UNESCO đã nêu bốn trụ cột về giáo dục, đó là: “Học để biết, học để làm, học
để cùng chung sống, học để làm người” [148]
Trong tác phẩm “Phương pháp dạy và học đại học” [135] của Garry
Hess & Steven Friedland, Lê Nết (biên dịch) đã chỉ ra bản chất học hỏi của người lớn có yếu tố tự giác Họ có động cơ học tập rõ ràng và sẵn sàng tham gia vào nhiều phương thức đào tạo
Nhằm tổ chức có hiệu quả HĐTH của người học, các tác giả còn phân tích rõ vai trò của nhà trường và của người thầy trong việc tổ chức và bồi
Trang 25dưỡng kỹ năng tự học cho người học Theo các tác giả, một biện pháp quan trọng để nâng cao tính tích cực và hiệu quả HĐTH của sinh viên chính là các bài tập nhận thức mà sinh viên thực hiện trong thời gian tự học
1.1.1.2 Các nghiên cứu về quản lý hoạt động tự học
Năm 1971, tác giả A.A Goroxepxki đã viết cuốn “Tổ chức công việc
tự học của sinh viên đại học” [132] trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm công tác
cá nhân của mình trong các trường đại học đối với việc tổ chức tự học cho sinh viên Tác giả đã đưa ra đề nghị về phương pháp học tập của sinh viên đại học trên một số vấn đề cơ bản: Nghe và ghi bài giảng; đọc và ghi tài liệu; chuẩn bị Seminar (là một dạng hội thảo, nghiên cứu chuyên đề, có thể hiểu đơn giản là một hình thức học tập mà trong đó người học chủ động hoàn toàn
từ khâu chuẩn bị tài liệu, trình bày nội dung đưa dẫn chứng, trao đổi, thảo luận với các thành viên khác và cuối cùng tự rút ra nội dung bài học hay vấn
đề khoa học cũng như đề xuất các ý kiến để mở rộng nội dung); làm bài tập nghiên cứu và luận văn tốt nghiệp; chuẩn bị kiểm tra và thi; tổ chức lao động trí óc và kế hoạch làm việc
Đầu những năm 80 của thế kỷ XX, R.Retzke đã chủ biên cuốn sách
“Học tập hợp lý” [144] đề cập đến vấn đề bồi dưỡng năng lực tự học, tự
nghiên cứu cho sinh viên đại học mới được tuyển vào hệ tập trung của các trường đại học Cuốn sách nhấn mạnh: “Học tập ở đại học là một quá trình phát triển con người, quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố và việc hoàn thành có kết quả những nhiệm vụ học tập đòi hỏi phải đấu tranh với bản thân
và tập thể một cách có phê phán và đầy sáng tạo trong quá trình học tập” Cuốn sách gợi hướng giải quyết cho sinh viên từ các vấn đề khúc mắc trong tâm tư của mình đối với nhiệm vụ học tập đến những điểm có tính chất quyết định đối với việc học tập ở đại học trên con đường dẫn đến thành công
Năm 1985, tác giả G.D.Sharma và Shakti R.Ahmed trong tác phẩm
“Phương pháp dạy học ở đại học” [145] đã nghiên cứu HĐTH như là một
Trang 26phương pháp dạy học hiệu quả - phương pháp tự học Theo các tác giả, trước tiên người giáo viên phải lồng ghép phương pháp này vào công việc của chính mình, sau đó phải tìm ra một phương thức hoạt động nhằm khuyến khích sinh viên của mình tự học Phương pháp này có thể thực hiện được trong các nội dung bài giảng khác nhau theo những hình thức khác nhau, và
ở trình độ tổng quát nhất, phương pháp này có thể được hình dung như một quá trình gồm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: Người giáo viên phải thiết kế bài tập; cung cấp các nguồn
tài liệu cần thiết cho bài tập; chỉ dẫn cụ thể và rõ ràng cho học viên những gì học viên phải làm
Giai đoạn 2: Học viên tự làm bài tập với sự hỗ trợ của những thông tin
có sẵn
Giai đoạn 3: Học viên nộp bài tập đã hoàn thành , giáo viên kiểm tra
dựa trên một số tiêu chuẩn nhất định
Như vậy, qua các nghiên cứu tiêu biểu của các nhà giáo dục thế giới về
tự học, chúng tôi nhận thấy: Tự học và quản lý HĐTH có một ý nghĩa vô cùng cần thiết, ảnh hưởng to lớn và trực tiếp tới việc học của người học trong quá trình dạy học, đặc biệt tự học là yếu tố quyết định cho xu hướng học tập suốt đời của mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
1.1.2.1 Các nghiên cứu về hoạt động tự học
1.1.2.1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về tự học
Hồ Chí Minh là lãnh tụ kiệt xuất, là nhà giáo dục vĩ đại của dân tộc Việt Nam Người đã để lại cho chúng ta nhiều lời khuyên về tự học Năm
1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” [82], khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn như sau: “Lấy tự học làm cốt,
do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”[82]
Trang 27Sơ đồ 1.1 Khái quát quan điểm lấy tự học làm cốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh Thứ nhất, vai trò của tự học đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định
“làm cốt” Tự học chính là yếu tốt cốt lõi của hoạt động học tập, là bộ khung,
là nội lực quyết định chất lượng hoạt động học tập của người học và các yếu
tố khác chính là ngoại lực tác động
Thứ hai, vai trò của hoạt động thảo luận tập thể, hội thảo, seminar…
ngày càng được đề cao vì hoạt động này huy động được trí tuệ của tập thể, thúc đẩy sự sáng tạo, tính chủ động của người học Tuy nhiên, muốn hoạt động thảo luận đạt được hiệu quả tích cực thì người tham gia thảo luận phải
thực hiện phương châm “dự hội phải thảo” và những người có nội lực tự học
lớn thì mới đóng góp tích cực cho hoạt động thảo luận được
Thứ ba, “Chỉ đạo giúp vào” là ngoại lực tác động thêm vào bên cạnh
nội lực, là hoạt động tự học và nhà quản lý giỏi là người biết kích thích người học biết tự quản, tự học, thúc đẩy học sáng tạo
Tóm lại, với lời dạy chỉ có 13 từ của Người về tự học nhưng hàm chứa
một nội dung sâu sắc về tự học là điều kiện cho hoạt động tự học được diễn ra thành công trong thực tiễn “Lấy tự học làm cốt”- Người muốn khuyên mỗi người phải có động lực cho sự tiến bộ của bản thân qua tự học và “Có thảo luận” nghĩa là cùng với nội lực là tự học thì phải có môi trường để trao đổi,
Trang 28chia sẻ những suy nghĩ, ý tưởng của bản thân, đồng thời có thể học hỏi thêm những kinh nghiệm và tiếp thu kiến thức mới Đặc biệt, môi trường thảo luận
sẽ tạo nên trạng thái “Học thầy không tày học bạn” giúp học sinh dễ dàng trao đổi và chia sẻ tự tin hơn “Chỉ đạo thêm vào” nghĩa là phải có nhân tố quản lý
để gắn nội lực với ngoại lực Nội lực tốt nhưng ngoại lực không tốt thì cũng không mang lại kết quả cao trong học tập và ngược lại ngoại lực tốt mà nội lực yếu thì cũng không thành công Nhân tố quản lý thúc đẩy cho sự phát triển của nội lực và ngoại lực trong việc tự học Có thể thấy, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học đã xác định rõ vai trò của người học Họ vừa là đối tượng của HĐTH đồng thời họ cũng là chủ thể của HĐTH Họ có thể thực hiện HĐTH tự học nhằm phát huy nội lực, điều khiển hoạt động thảo luận nhằm phát huy tinh thần tập thể, huy động được sự sáng tạo của tập thể và qua đó họ tham mưu cho các chủ thể khác nhằm có những chỉ đạo đúng đắn, sát thực tế cho HĐTH
Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Phải biết tự
động học tập” tức là không phải dựa vào ai mà phải tự mình biến báo xoay
sở, tự mình biết thực hành công tác theo nhiều hình thức mới mẻ phong phú
Người cũng khẳng định tự học là phải mọi lúc, mọi nơi: “Còn sống thì phải
học” hay “Không phải chỉ ở tại nhà trường, có lên lớp, mới học tập, tu dưỡng, rèn luyện và tự cải tạo được”
Người cũng cho rằng, tự học để phát triển bản thân, phát triển nhân
cách và tự khẳng định mình: “Phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để
tiến bộ mãi” tức là mục đích của tự học là phát triển bản thân và có tiến bộ
không ngừng thì mới hoàn thiện nhân cách
1.1.2.1.2 Các quan điểm khác về tự học
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đánh giá rất cao vai trò của phương pháp tự học và lòng ham học đối với việc nâng cao kết quả học tập của người học và cho rằng đó là vốn quý nhất
Trang 29So với lý luận dạy học hiện đại, những nhận định nêu trên vẫn còn nguyên giá trị cả về học thuật cũng như thực tiễn giáo dục Vì nó đánh giá cao vai trò của tính chủ động, tích cực và sáng tạo của người học trong quá trình học tập
Các tác giả có truyền thống và bề dày nghiên cứu về vấn đề tự học của người học phải kể đến Đặng Vũ Hoạt, Lê Khánh Bằng và Hà Thị Đức [8] [9] [10] [36] [52] Họ đã có nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt là những giáo trình về lý luận dạy học đã đề cập khá cụ thể và chi tiết về vấn đề tự học Tuy nhiên, các tác giả này chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề tự học của sinh viên đại học, chưa đề cập đến đối tượng học sinh trung học phổ thông và các bậc học thấp hơn Song, các kết quả nghiên cứu của họ có giá trị là cơ sở để tham khảo khi nghiên cứu vấn đề tự học của các đối tượng khác
Một số tác giả khác cũng đi sâu nghiên cứu vấn đề tự học của sinh viên
là Nguyễn Kỳ và Nguyễn Cảnh Toàn với các công trình như: “Biến quá trình
dạy học thành quá trình tự học” [64] của Nguyễn Kỳ và “Phương pháp luận, phương pháp tự học” [113] của Nguyễn Cảnh Toàn Nếu như tác giả Nguyễn
Kỳ đi sâu phân tích vai trò, ý nghĩa và cách thức dạy tự học cho sinh viên thì tác giả Nguyễn Cảnh Toàn lại đề cập đến những vấn đề có tính học thuật và hàn lâm rất cao của lý luận dạy học, trong đó tự học vừa được xem như một hoạt động tự thân, vừa là mục đích của quá trình dạy học Các kết quả nghiên cứu của hai tác giả này là cơ sở rất quan trọng để các tác giả sau này sử dụng,
kế thừa trong các đề tài, công trình nghiên cứu khoa học của mình
Tuy có sự khác biệt trong cách định nghĩa của các tác giả nêu trên, song các tác giả đều chỉ ra vai trò rất quan trọng của tính chủ động, tích cực và sáng tạo của người học Đó là nhân tố quyết định đến kết quả tự học nói riêng
và kết quả học tập nói chung
Trang 30Một số tác giả cũng đã nghiên cứu vấn đề tự học của học sinh trung học phổ thông như Phạm Thị Tố Oanh và Lê Khắc Phượng Song, kết quả nghiên cứu còn khá khiêm tốn trên phạm vi một trường trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh, chưa mang tính đại diện, phổ quát và có giá trị áp dụng rộng rãi Các tác giả này cũng chưa đưa ra được các giải pháp cần thiết
và hiệu quả để phát triển năng lực tự học của đối tượng học sinh trung học phổ thông Như vậy, các công trình nghiên cứu về vấn đề tự học của học sinh trung học phổ thông và các đối tượng ở bậc học thấp hơn còn ít về số lượng, tính tiêu biểu và tính khả thi còn nhiều hạn chế; chưa được thực nghiệm và áp dụng rộng rãi trong thực tiễn dạy học
Xét trên bình diện chung thì số lượng các công trình, đề tài khoa học tập trung nghiên cứu về vấn đề tự học của đối tượng là sinh viên khá phong phú về số lượng và có nhiều giá trị học thuật, có thể kể đến:
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền, Nguyễn Văn Hiến và Phương
Diễm Hương với đề tài: “Thực trạng kỹ năng tự học ngoài lớp học của sinh
viên chính quy sư phạm Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh”
[59] đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến kỹ năng tự học, thực
trạng các kỹ năng tự học ngoài lớp của sinh viên Trên cơ sở đó, nhóm tác giả
đã đề xuấ 04 nhóm biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề: Sinh viên chính quy sư phạm Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh có nhận thức đúng đắn về vai trò của kỹ năng tự học ngoài lớp học hay không? Mức độ thực hiện các kỹ năng tự học ngoài lớp học của sinh viên Tìm hiểu những
nguyên nhân chủ yếu của thực trạng…
Tác giả Phạm Văn Tuân, Trường Đại học Trà Vinh với bài viết: “Một
số vấn đề lý luận và hoạt động về dạy tự học tại Trường Đại học Trà Vinh
[120] đăng trên Tạp chí Khoa học số 01 (2013) - Đại học An Giang đã đưa ra quan điểmvề tự học và vai trò của hoạt động dạy tự học Đây là một thành
Trang 31phần quan trọng của dạy học, là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giảng viên và của nhà trường
Tác giả Nguyễn Quang Đông với bài viết: “Khảo sát các yếu tố ảnh
hưởng đến việc tự học học phần Vật lý - lý sinh y học của sinh viên chính quy Trường Đại học Y- Dược Thái Nguyên” [35] đã khảo sát và thảo luận việc tự
học học phần Vật lý - lý sinh y học của sinh viên Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên Phân tích thực trạng và xác định những khó khăn mà sinh viên gặp phải trong quá trình tự học, mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tự học học phần Vật lý - lý sinh y học của sinh viên hệ chính quy Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên Đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng tự học học phần Vật lý - lý sinh y học cho sinh viên
Tác giả Trịnh Quốc Lập với bài viết: “Phát triển năng lực tự học trong
hoàn cảnh tại Việt Nam” [67] cho rằng năng lực tự học không chỉ là một
phẩm chất dành cho người học thuộc thế giới phương Tây, và về bản chất mà nói, sinh viên châu Á không phải là không có năng lực tự học; hệ thống giáo dục ở các nước châu Á chưa tạo đủ điều kiện để sinh viên phát triển năng lực
tự học Kết quả nghiên cứu của bài viết đã chứng minh rằng trong hoàn cảnh Việt Nam, năng lực tự học có thể được phát triển thông qua việc ứng dụng học tập tự điều chỉnh
Qua nghiên cứu công trình, đề tài của các tác giả này, chúng tôi nhận thấy:
Các đề tài đã kế thừa cách tiếp cận, cách định nghĩa về vấn đề tự học của các tác giả đi trước (Đặng Vũ Hoạt, Lê Khánh Bằng, Hà Thị Đức, Thái Duy Tuyên) để tập trung làm rõ nội hàm của khái niệm tự học ở sinh viên đại học Họ cũng chỉ ra các đặc điểm cơ bản của HĐTH ở sinh viên đại học; đánh giá thực trạng HĐTH cũng như công tác quản lý HĐTH ở một số trường đại học; trên cơ sở đó, các tác giả này đã đề xuất những giải pháp cụ thể để nâng cao kết quả của HĐTH cũng như hoạt động học tập của sinh viên
Trang 32Tuy nhiên, với phạm vi của các bài báo khoa học, các công trình khoa học nêu trên mới chỉ dừng lại ở mức độ tổng kết thực tiễn HĐTH của sinh viên ở một số trường đại học; chưa tổ chức nghiên cứu một cách bài bản, khoa học và toàn diện về vấn đề tự học của sinh viên Song, các kết quả nghiên cứu này cũng có một số giá trị nhất định khi nghiên cứu về vấn đề tự học của đối tượng rất đặc biệt là LHS Lào
1.1.2.2 Các nghiên cứu về quản lý hoạt động tự học
Cho đến nay, có nhiều tác giả trực tiếp hoặc gián tiếp nghiên cứu về quản lý HĐTH Các công trình và đề tài khoa học tập trung nghiên cứu vấn đề này khá phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình và có nhiều giá trị học thuật cũng như tính khả thi cao
Một trong số tác giả đó, phải kể đến Đỗ Khắc Thanh với luận án Tiến sĩ
có tên: “Nâng cao biện pháp quản lý HĐTH của sinh viên Trường Đại học
Hùng Vương” [104] Tác giả này đã tổ chức khảo sát và đánh giá về công tác
quản lý HĐTH của Trường Đại học Hùng Vương rất toàn diện từ ý thức tự học, thói quen, kỹ năng tự học cho đến các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến kết quả tự học Cụ thể hơn, tác giả đã chỉ ra các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng lớn đến HĐTH của sinh viên như sau:
Các yếu tố khách quan bao gồm: (a) chủ trương chính sách liên quan
đến vấn đề dạy và học, (b) chương trình đào tạo, sự hấp dẫn của môn học, (c) phương pháp giảng dạy của giảng viên, môi trường học tập
Các yếu tố chủ quan bao gồm: (i) động cơ học tập, (ii) phương pháp và
kỹ năng tự học, (iii) ý thức tự giác, (iv) khả năng nhận thức, (v) kế hoạch quản lý việc tự học
Đồng thời, tác giả Đỗ Khắc Thanh đã đề xuất 06 biện pháp quản lý HĐTH bao gồm: Kế hoạch hóa công tác quản lý HĐTH; Tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức, xây dựng động cơ thái độ và bồi dưỡng kỹ
Trang 33năng tự học cho sinh viên; Tổ chức thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực tự học; Tăng cường các hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm phát huy động cơ tự học; Tổ chức và quản lý các hoạt động trong ngoài giờ lên lớp cho sinh viên; Quản lý và sử dụng có hiệu quả
cơ sở vật chất phục vụ cho HĐTH
Như vậy, có thể xác định, công trình của tác giả Đỗ Khắc Thanh có giá trị học thuật và tính khả thi rất lớn nếu áp dụng vào thực tiễn Các vấn đề từ lý luận đến thực trạng và việc đề xuất các giải pháp có mối liên quan chặt chẽ với nhau, kế thừa và đan xen vào nhau
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh với Luận án Tiến sĩ: “Biện pháp hoàn
thiện kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên đại học sư phạm theo quan điểm sư phạm tương tác” [42] đã tập trung xây dựng các biện pháp, thực
nghiệm các biện pháp này trên cơ sở điều tra thực trạng dạy học môn Giáo dục học cho sinh viên đại học sư phạm
Bên cạnh đó, tác giả Lê Trọng Dương đã đánh giá thực trạng về dạy
tự học trong việc đào tạo giáo viên dạy Toán ở bậc trung học cơ sở của các trường cao đẳng sư phạm Từ đó, tác giả đã đề xuất các biện pháp nhằm phát triển năng lực tự nghiên cứu, tự học cho sinh viên ngành Toán Trong
luận án Tiến sĩ: “Hình thành và phát triển năng lực tự học cho sinh viên
ngành Toán hệ cao đẳng sư phạm” [25], tác giả đã đề xuất được quy trình
dạy học mới nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học cho sinh viên thông qua các biện pháp cụ thể
Luận án Tiến sĩ: “Phát triển kỹ năng tự học Toán cho sinh viên các
trường đại học đào tạo giáo viên tiểu học”, tác giả Đỗ Thị Phương Thảo
[107] đã hệ thống hóa và xác lập những cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên đại học sư phạm tiểu học, đồng thời xây dựng các tiêu chí nhận dạy và đánh giá kỹ năng tự học của sinh viên đại
Trang 34học sư phạm tiểu học và đề xuất 05 biện pháp cụ thể phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên đại học sư phạm tiểu học
Bên cạnh đó, một số tác giả khác cũng nghiên cứu về quản lý HĐTH một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
Tác giả Trần Bá Khiêm với đề tài: “Các biện pháp quản lý HĐTH của
học viên Trường Sĩ quan Lục quân 2” [60] Theo tác giả, việc nâng cao chất lượng công tác giáo dục - đào tạo ở Trường Sĩ quan Lục quân 2 cốt lõi là nâng cao chất lượng quá trình dạy học Một trong các yếu tố quyết định chất lượng của quá trình dạy học là chất lượng HĐTH của học viên HĐTH là hoạt động tổ chức nhận thức nhằm đạt tới mục đích nhất định, do chính người học tiến hành trong quá trình học tập, tự học giúp người học nâng cao trí thức, kỹ năng và biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Vì vậy, phẩm chất
và năng lực của người cán bộ tương lai phụ thuộc rất nhiều vào việc tự học
của họ trong nhà trường
Tác giả Hoàng Văn Quang với đề tài: “Các biện pháp quản lý HĐTH
của sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Sơn La” [95]. Theo tác giả, HĐTH của sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Sơn La còn một số hạn chế nhất định
do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Nguyên nhân chủ quan là sinh viên chưa có phương pháp học tập hợp lý, các em còn lúng túng trong việc áp dụng phương pháp tự học, học còn nặng về thi cử, kiểm tra, thiếu tinh thần học hỏi và ý chí tự vươn lên Nguyên nhân khách quan do các thầy cô mới chỉ chú trọng tới nội dung truyền thụ kiến thức mà chưa áp dụng các phương pháp dạy tự học Các công tác tổ chức và quản lý hoạt động tự học của sinh viên còn nhiều hạn chế Đề tài đã đề xuất được 05 nhóm giải pháp
nhằm hoàn thiện HĐTH của sinh viên nội trú của nhà trường
Tác giả Quản Thương Lý với đề tài: “Một số biện pháp quản lý HĐTH
của sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây” [78] đã nghiên cứu
Trang 35công tác quản lý HĐTH dưới góc độ các chức năng quản lý giáo dục và tập trung nghiên cứu công tác tổ chức HĐTH của sinh viên nội trú Tác giả cũng
đã phân tích và tìm ra các nguyên nhân của hạn chế trong công tác quản lý
HĐTH và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác này
Có thể nói, các tác giả nêu trên đã tập trung nghiên cứu những vấn đề, những mặt, những nội dung khác nhau của công tác quản lý HĐTH trên đối tượng sinh viên đại học Mỗi công trình, đề tài hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý HĐTH của sinh viên trên cơ sở khảo sát và đánh giá thực trạng, hiệu quả công tác này tại một số trường đại học Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu nêu trên chưa tập trung nghiên cứu công tác quản lý HĐTH của một đối tượng đặc biệt là LHS Lào Vì vậy, các kết quả nghiên cứu này chỉ có giá trị tham khảo khi chúng tôi triển khai nghiên cứu công tác quản lý HĐTH của LHS Lào mà thôi
1.1.3 Đa ́ nh giá chung
1.1.3.1 Những luận điểm có thể kế thừa
Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu các kết quả nghiên cứu ngoài nước và trong nước của các tác giả khác nhau, chúng tôi nhận thấy: Đề tài có thể kế thừa một số luận điểm sau:
Thứ nhất, HĐTH của học sinh là một loại hoạt động Theo lý thuyết
hoạt động của A.N.Leonchiev: HĐTH được thúc đẩy bởi động cơ tìm tòi, khám phá và hoàn thiện tri thức của học sinh nhằm thực hiện các nhiệm vụ học tập cụ thể HĐTH được xem như một hoạt động nên bao gồm các kỹ năng cụ thể : Lập kế hoạch tự ho ̣c , tự tổ chức HĐTH, tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của bản thân…
Thứ hai, thống nhất đánh giá cao vai trò của HĐTH trong việc nâng cao
kết quả học tập của học sinh HĐTH được xem như mô ̣t yếu tố chủ lực để phát huy cao độ tính chủ động, tích cực và sáng tạo của học sinh
Trang 36Thứ ba, công tác quản lý HĐTH của học sinh là một nội dung của hoạt
động quản lý của người hiệu trưởng Thực tế, đây là trách nhiệm của hiệu trưởng Thông qua các tác động quản lý phù hợp, HĐTH của học sinh được tổ chức một cách khoa học, kế hoạch và hiệu quả
Thứ tư, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn có vai trò tác động
trực tiếp đến kết quả HĐTH của học sinh Họ là những người trực tiếp tổ chức, triển khai, kiểm tra, đánh giá và giám sát HĐTH của học sinh, biến các giải pháp quản lý của hiệu trưởng trở thành hiện thực
1.1.3.2 Những vấn đề còn chưa được đề cập nghiên cứu
Mặc dù đã có nhiều tác giả nghiên cứu về HĐTH của học sinh, song vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến các vấn đề sau:
Thứ nhất, chưa tập trung nghiên cứu về đối tượng là HĐTH của LHS
nói chung và LHS Lào nói riêng - một đối tượng hết sức đặc thù trong bối cảnh số lượng LHS đến học tập tại Việt Nam ngày càng tăng về số lượng và quốc tịch ngày càng đa dạng, phong phú
Thứ hai, các nghiên cứu chưa đi sâu, làm rõ vai trò của giáo viên nói
chung và giáo viên bộ môn nói riêng trong việc tổ chức, hình thành động cơ thúc đẩy HĐTH của học sinh; chưa làm rõ được vai trò giáo dục, khơi dậy ở học sinh khát vọng tìm kiếm và hoàn thiện tri thức của bản thân Thực chất đây mới là động cơ có tính quyết định thúc đẩy HĐTH của học sinh
Thứ ba, chưa đề xuất được các mô hình tổ chức tự học hiệu quả cho
LHS; chưa xác định được vai trò của các đơn vị, bộ phận trong nhà trường đối với công tác quản lý, tổ chức HĐTH của LHS; chưa có biện pháp phát huy cao độ vai trò của LHS (chủ động, tích cực và sáng tạo) trong HĐTH
1.1.3.3 Những vấn đề luận án cần tập trung nghiên cứu giải quyết
Về mặt lý luận: Tập trung làm rõ động cơ thúc đẩy HĐTH của LHS;
xây dựng văn hóa tự học cho LHS Đồng thời, tác giả cũng đề xuất mô hình tổ
Trang 37chức HĐTH cho LHS trên cơ sở phát huy tối đa vai trò của các đơn vị, bộ phận trong và ngoài nhà trường Bên cạnh đó, tác giả cũng sẽ đi sâu phân tích
và làm rõ bản chất HĐTH của đối tượng chưa từng được nghiên cứu là LHS Lào trên cơ sở phân tích những đặc điểm nhận thức, tâm - sinh lý, văn hóa, phong tục tập quán của đối tượng này
Về mặt thực tiễn: Phân tích và đánh giá thực trạng tổ chức, quản lý
HĐTH của LHS Lào tại một số cơ sở giáo dục có đối tượng là LHS Lào Từ
đó, xác định được những nội dung mà công tác quản lý HĐTH của LHS Lào
đã làm tốt và những hạn chế cần phải khắc phục, những khó khăn cần phải giải quyết
Đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý HĐTH của LHS Lào và thực nghiệm một số giải pháp trong thực tiễn hoạt động quản
lý HĐTH của LHS Lào tại Trường Hữu Nghị T78
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Lưu học sinh
Theo Từ điển tiếng Việt: “Lưu học sinh là khái niệm dùng để chỉ chung
mọi học sinh đi học ở nước ngoài” [125]
Ngày 25 tháng 02 năm 1914, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 03/2014 về Quy chế quản lý người nước ngoài học tập tại Việt Nam Theo đó , LHS là danh từ dùng chỉ các đối tượng : học sinh tiểu học , trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiê ̣p; sinh viên cao đẳng, đa ̣i ho ̣c ; học viên chương trình đào tạo thạc sĩ ; nghiên cứu sinh ; học viên chương trình bồi dưỡng nâng cao trình đô ̣; thực tâ ̣p sinh
Như vậy, có thể khẳng định: LHS là những công dân có quốc tịch nước
ngoài đến học tập và nghiên cứu tại Việt Nam; chịu sự quản lý về Nhà nước
Trang 38của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ sở giáo dục của Việt Nam trong hoạt động học tập và nghiên cứu
LHS Lào là những công dân Lào đến học tập và nghiên cứu tại Việt Nam Tại các cơ sở giáo dục, LHS Lào được học tập tiếng Việt và bổ sung kiến thức về giao tiếp, văn hóa của Việt Nam để chuẩn bị cho việc học tập và rèn luyện tại các trường đại học của Việt Nam Vì vậy, trong luận án này, chúng tôi sử dụng khái niệm LHS Lào là những đối tượng dự bị đại học cho
các trường đại học, cao đẳng của Việt Nam
1.2.2 Hoạt động tự học
1.2.2.1 Tự học
Vấn đề tự học đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra các quan điểm khác nhau như:
Nghiên cứu vấn đề tự học-tự đào tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
“Tự học chính là sự nỗ lực của bản thân người học, sự làm việc của bản thân người học một cách có kế hoạch trên tinh thần tự động học tập, lại còn cần phải có môi trường (tập thể để thảo luận) và sự quản lý chỉ đạo giúp vào”
[79, tr.168]
Theo Nguyễn Cảnh Toàn:“Tự học là tự mình động não, sử dụng các
năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động
cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”[115, tr.59-60]
Theo Võ Quang Phúc: “Tự học là một bộ phận của học, nó được tạo
thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ
Trang 39thống tương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh rõ nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nội dung học tập nhất định”[91, tr.37]
Theo tác giả Vũ Văn Tảo:“Học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển
nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người bằng cách thu nhận, xử lý và điều chỉnh thông tin từ môi trường sống của chủ thể”[100, tr.53]
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo… và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học” [124]
Tác giả Nguyễn Văn Đạo định nghĩa: “Tự học là công cụ tự giác của
mỗi người do nhận thức được đúng đắn vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ xã hội”[33]
Theo tác giả Lưu Xuân Mới: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức
của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính sinh viên tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp theo hoặc không ttheo chương trình và sách giáo khoa đã quy định” [83]
Tiếp thu và kế thừa những quan niệm trên, chúng tôi đưa ra khái niệm
tự học như sau: Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri
thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo của chính bản thân người học Trong quá trình đó, người học thực sự là chủ thể của quá trình nhận thức, nỗ lực huy động các chức năng tâm lý, tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu đã định Tự học là “nội lực” quyết định chất lượng học tập, sáng tạo cho hôm nay và mai sau
1.2.2.2 Hoạt động tự học
Trang 40HĐTH được coi là hoạt động tự tổ chức để chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo diễn ra dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, tự học được diễn ra theo 3 hình thức:
Hình thức 1: Tự học có điều khiển (tự học giáp mặt)
Hình thức 2: Tự học không có sự điều khiển (tự học không giáp mặt) Hình thức 3: Người học tự tìm kiếm tri thức để thoả mãn nhu cầu hiểu
biết của mình bằng cách tự tìm tài liệu, tự rút kinh nghiệm về tư duy, tự phân tích, tự đánh giá… coi đó là tự học ở mức độ cao
Trong tác phẩm“Luận bàn về kinh nghiệm tự học”, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đã viết: “Hệ phương pháp dạy-học tích cực lấy người học làm trung tâm
gọi tắt theo đúng thực chất của nó là hệ phương pháp dạy-tự học đã được xem như là một hệ thống phương pháp có thể đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục thời kỳ đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa và có khả năng định hướng cho việc tổ chức quá trình dạy-học kết hợp với quá trình tự học, quá trình kết hợp cá nhân hóa và xã hội hóa việc học”[112, tr.183] Đó
cũng là định hướng hiện nay trong việc quản lý HĐTH, đặc biệt là quản lý HĐTH trong nội trú: ở đó diễn ra quá trình lao động tập thể, trao đổi học tập, đối thoại và hợp tác, giao tiếp… trong tập thể lớp học, trong nhà trường, trên cơ
sở phát huy được nội lực-năng lực tự học, tính tự lực chủ động của LHS Lào
Theo tác giả Nguyễn Hiến Lê, “Tự học là không ai bắt buộc mà tự
mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm Có thầy hay không, ta không cần biết Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được, đó mới là điều kiện quan trọng” [68, tr.12]
Theo tác giả Lưu Xuân Mới: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức
của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính sinh viên tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp theo hoặc không ttheo chương trình và sách giáo khoa đã quy định” [83, tr 276]