1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sưu tầm hiện vật bảo tàng: Sưu tầm những hiện vật liên quan đến Quan họ Bắc Ninh

19 300 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 33,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Dân ca quan họ Bắc Ninh là biểu hiện tình cảm của những người quan họ, tình cảm trong sáng, thủy chung, trân trọng, quý trọng và đề cao nhau chứ không riêng là tình yêu nam nữ như các

Trang 1

Sưu tầm hiện vật bảo tàng Sưu tầm những hiện vật liên quan đến Quan họ Bắc Ninh

I Khái quát chung về quan họ.

1 Khái quát chung về quan họ Bắc Ninh

- Dân ca quan họ ( hay còn gọi là dân ca quan họ Kinh Bắc) là những làn điệu dân ca thuộc vùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam Phân bố ở vùng văn hóa Kinh Bắc đặc biệt là vùng danh giới 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh

- Ngày 30 tháng 9 năm 2009 tại kì họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ( từ ngày 28 tháng

9 tới ngày 2 tháng 10 năm 2009 ) quan họ được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

- Dân ca quan họ Bắc Ninh là biểu hiện tình cảm của những người quan

họ, tình cảm trong sáng, thủy chung, trân trọng, quý trọng và đề cao nhau chứ không riêng là tình yêu nam nữ như các loại hình dân ca giao duyên khác Dân

ca quan họ hát đối nam , đối nữ Họ hát quan họ vào mùa xuân, mùa thu khi

có lễ hội hay khi có bạn bè đến xuyên suốt trong thời gian, giăng đầy trong không gian kinh bắc quan họ giống như bầu khí quyển đặc thù của mảnh đất này

- Trong phạm vi UNESCO công nhận ban đầu chỉ gồm có 49 làng quan

họ Tiêu biểu là làng Diềm – quê hương của thủy tổ quan họ

2 Nguồn gốc quan họ

a Thông qua câu chuyện cổ của vua bà

- Đức vua bà là con vua hùng vương thứ 6 đến tuổi lấy chồng thì nhà vua cho mở cuộc thi kén phò mã Vua bà là 1 người rất đoan trang thùy mị là

1 người có tài có đức, Khi tổ chức cuộc thi kén phò mã có rất nhiều người đến muốn lấy nhưng không biết gả cho ai nên tổ chức cuộc thi tung cầu nhưng vua

Trang 2

bà không ưng ý hẹn 3 tháng sau lấy chồng Bà xin vua cha cùng 49 nam 49 nữ cùng đi du ngoạn, trên đường đi bị 1 cơn phong vũ cuốn toàn bộ về trên trời, sau đó lại ngã xuống làng Diềm xưa gọi là ấp Viêm Trang và vua Bà ở lại Vua bà khai hoang lập đất, mở rộng nông nghiệp, trồng dâu nuôi tằm ,cấy lúa

và trong khi lao động bà sáng tác ra các lời ca tiếng hát dạy cho mọi người , giúp mọi người yêu thương quý mến nhau

b Thông qua ý kiến khác

- Ý nghĩa của từ “quan họ “ thường được tách thành 2 từ rồi lý giải nghĩa đen về mặt từ nguyên của “quan “ và “họ” Điều này dẫn đến kiến giải về quan họ xuất phát từ âm nhạc cung đình hay gắn với sự tích 1 ông quan khi đi qua vùng Kinh Bắc đã ngây ngất bởi tiếng hát của liền anh liền chị ở đó và dừng bước để thưởng thức

- Một số quan điểm cho rằng quan họ bắt nguồn từ những nghi lễ tôn giáo mang yếu tố phồn thực chứ không phải quan họ bắt nguồn từ âm nhạc cung đình

3 Đặc trưng của quan họ

a Lề lối hát quan họ

- Hát đối đáp: Bao giờ Quan họ cũng tuân theo lề luật: đối đáp nam nữ, đối giọng, đối lời và hát đôi nam đối với nữ.Ðối đáp nam nữ là bên gái hát một bài, tiếp đó, bên trai lại hát một bài, cứ thế dài hết cuộc hát hoặc canh hát Ðối giọng: bên hát trước hát bài có làn điệu âm nhạc như thế nào thì bên hát sau phải hát đối lại một bài cũng có làn điệu âm nhạc như thế, được coi là đối giọng.Ðối lời: Ðối lời khác với đối giọng không chỉ ở chỗ một bên thuộc lĩnh vực âm nhạc, một bên thuộc lĩnh vực thơ ca, mà còn khác ở chỗ: nếu bên hát trước đã hát một lời ca nào đấy (một đoạn thơ, một bài thơ ) thì bên hát sau cũng sử dụng làn điệu âm nhạc giống như bên hát trước, nhưng lời ca phải khác đi mà vẫn gắn bó với tình, ý, hình tượng của lời ca người hát trước để tạo nên hiệu quả hô-ứng, tương hằng, đối xứng, cảm thông

Trang 3

Hát đối nam nữ, đối giọng, đối lời được coi là sự đối đáp hoàn chỉnh theo

lề lối của Quan họ Ðiều này cũng giống lề lối của nhiều dòng dân ca khác

- Hát canh: gồm 3 chặng

+ chặng đầu tiên: ở chặng hát này, người ta hát những giọng cổ cũng gọi là giọng lề lối Chặng ca những bài cổ là chặng bắt buộc, được duy trì rất nghiêm, có thể coi là tiêu chuẩn để đánh giá sự nghiêm chỉnh, đúng lề lối Quan họ Không làm như vậy sẽ bị chê cười

+ Chặng giữa tiếp theo sau chặng hát những bài giọng cổ như trên Lúc này, Quan họ hát sang những bài thuộc hệ thống mà người Quan họ gọi là Giọng vặt Vào chặng ca giọng vặt, không phải ca theo một trình tự bắt buộc theo thứ tự tên các bài ca

+ Chặng cuối thường diễn ra vào khoảng 12 giờ đêm, 1 giờ sáng, có thể cuối hoặc gần cuối chặng hát giữa, su lúc người Quan họ mời nhau xơi tiệc mặn và tiệc ngọt có nơi uống rượu, có nơi không Quan họ cũng có thể hát đối đáp thêm một số câu giọng vặt nữa rồi chuyển sang ca những bài ca giã từ bạn, cũng tức là chuyển sang chặng cuối của canh hát

- Hát hội : Từ ngày 4 tháng giêng âm lịch cho đến ngày 28 tháng hai âm lịch, liên tiếp các hội làng diễn ra trong vùng Quan họ Suốt tháng 8 âm lịch hàng năm, các làng lại có lệ vào đám, ở hội đình, Quan họ lại có dịp mời nhau

dự hội, ca hát ở hội có 2 hình thức ca hát:

+ hát vui : hình thức "hát vui đôi câu để vui xuân, vui hội, vui bàu, vui bạn" là hình thức ca hát Quan họ chủ yếu ở hội

+ Hát thi: Không phải hội làng nào trong vùng Quan họ cũng có hát thi hoặc hát giải Cũng không phải ở một làng nào đấy cứ giữ lệ hàng năm đến hội là đều có hát giải Tuỳ từng năm, ví dụ được mùa, làng mở hội to, dài ngày, Quan họ trong làng náo nức xin dân mời Quan họ các nơi về hát giải , thì năm ấy, có thể có hát giải trong hội

- Hát lễ thờ : Sau khi đặt lễ cúng thánh trong tiếng trống thờ uy nghiêm

Trang 4

xong, các nhóm Quan họ thường ca một đôi bài theo giọng La rằng để chúc thánh, chúc dân người an, vật thịnh, phúc, lộc, thọ, khang ninh Như vậy, Quan họ gọi là hát lễ thờ

- Hát cầu đảo: Hát cầu đảo thường chỉ có Quan họ nữ Dân làng gọi hết Quan họ nữ trong làng, giữ gìn chay tịnh, đến ăn ngủ tại cửa đền hát liền 2, 3 ngày đêm Không hát những bài tình tứ trao duyên như Quan họ thường hát

mà chỉ hát những bài có nội dung cầu nguyện mưa thuận gió hoà và chỉ hát một giọng La rằng.Người ta nói rằng hát như vậy cũng có linh nghiệm

- Hát giải hạn: Sau khi làm các nghi thức cúng lễ, thường mời 4,5,6 nhóm Quan họ vừa nam, vừa nữ đến nhà ca một đêm Quan họ với niềm tin rằng có Quan họ nam nữ dập dìu đến nhà, ca xướng giao hoà đông vui, gắn bó thì cái may sẽ đến, cái rủi sẽ qua, vững lòng sống trong niềm tin, hy vọng có che chở Hát giải hạn không bị gò bó nhiều vào lề lối mà có thể chỉ ca đối đáp một bài theo giọng La rằng, sau đó bên hát trước muốn hát bài nào thì bên hát sau hát đối bài đấy

- Hát mừng: Trong những cuộc hát mừng này, Quan họ không phải tuân thủ lề lối nghiêm ngặt mà cốt sao có nam, có nữ, có đối đáp, hầu hết là ca những bài giọng Vặt có nội dung lời ca sâu nặng nghĩa tình, gắn bó keo sơn và không khí hát phải thật vui, nhiều tiếng cười, lời nói vui xen vào khi hát

- Hát kết chạ:( kết ước hay kết chạ anh em ) Cuộc hát này thường gồm nhiều bài ca chúc tụng theo giọng La rằng, sau đó là đối đáp một số bài giọng Vặt mà Quan họ cho là hay, phải có giọng ca thật khéo mới "bắt" nổi Một cuộc phô diễn khả năng, trình độ nghệ thuật ca hát kín đáo diễn ra giữa Quan

họ 2 làng, không có phân định hơn thua nhưng không kém phần sôi nổi, hào hứng Xong cuộc hát Quan họ kết chạ này, các nhóm Quan họ mới mời nhau toả đi hát tự do trong hội

b Làn điệu quan họ

- Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho

Trang 5

tàng dân ca Việt Nam Mỗi một bài quan họ đều có giai điệu riêng Cho đến nay, đã có ít nhất 500 bài quan họ với 36 giọng

- Các làn điệu quan họ cổ: La rằng, Đường bạn Kim Loan, Cây gạo, Giã bạn, Hừ la, La hời, Tình tang, Cái ả, Lên núi, Xuống sông, Cái hờn, cái ả, Gió mát trăng thanh, Tứ quý v v v

c Phân biệt quan họ

* Quan họ truyên thống :

- Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam Mỗi một bài quan họ đều có giai điệu riêng Quan họ truyền thống hát không có nhạc đệm Cho đến nay, đã có ít nhất 300 bài quan

họ đã được ký âm Người xưa thường gọi là “ chơi quan họ “ Các bài quan họ được giới thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca quan họ đã được khám phá Kho băng ghi âm hàng nghìn bài quan họ cổ do các nghệ nhân ở các làng quan họ hát hiện vẫn được lưu giữ tại Sở Văn hóa hai tỉnh Bắc Giang

và Bắc Ninh

- Các làn điệu quan họ cổ: La rằng, Đường bạn Kim Loan, Cây gạo, Giã bạn, Hừ la, La hời, Tình tang, Cái ả, Lên núi, Xuống sông, Cái hờn, cái ả, Gió mát trăng thanh, Tứ quý v v v

* Quan họ mới:

- Quan họ mới còn được gọi là "hát Quan họ", là hình thức biểu diễn (hát) quan họ chủ yếu trên sân khấu hoặc trong các sinh hoạt cộng đồng Tết đầu xuân, lễ hội, hoạt động du lịch, nhà hàng, trên nền nhạc đệm Thực tế, quan họ mới được trình diễn vào bất kỳ ngày nào trong năm Các băng đĩa

CD, DVD về quan họ ngày nay đều là hình thức quan họ biểu diễn trên sân khấu, tức quan họ mới Quan họ mới luôn có khán thính giả, người hát trao đổi tình cảm với khán thính giả không còn là tình cảm giữa bạn hát với nhau Quan họ mới không còn nằm ở không gian làng xã mà đã vươn ra ở nhiều nơi, đến với nhiều thính giả ở các quốc gia trên trên thế giới

Trang 6

- Quan họ mới có hình thức biểu diễn phong phú hơn quan họ truyền thống, bao gồm cả hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát có múa phụ họa Quan họ mới cải biên các bài bản truyền thống theo hai cách: không có ý thức và có ý thức.Dù ít hay nhiều nhưng hình thức hát quan họ có nhạc đệm được coi là cách cải biên không có ý thức Đa số các bài quan họ mới thuộc dạng cải biên này Cải biên có ý thức là những bài bản đã cải biên cả nhạc và lời của bài bản quan họ truyền thống Loại cải biên này không nhiều, ví dụ bài "Người ở đừng về" là cải biên từ làn điệu "Chuông vàng gác cửa tam quan" (Xuân Tứ cải biên)

c văn hóa sinh hoạt quan họ :

* Tục kết bạn ( kết chạ ) :

- Tục kết chạ của người quan họ cũng đều tập trung vào hai mặt chủ yếu

là Lễ và Nghĩa, phản ánh tình người trong cộng đồng và giữa các cộng đồng Nội dung, bản chất của tục kết chạ giữa các làng đã được phản ánh qua lời ca như một hình thức sinh hoạt văn hoá Lễ Nghĩa tiêu biểu của đất và người quan họ

“Nghĩa người đem cất trong cơi Lâu lâu xếp lại, để nơi giường nằm Mỗi ngày ba, bảy lần thăm Mỗi ngày ba, bảy lần thăm nghĩa người”

- Ngày xưa, tổ chức quan họ ở cơ sở được gọi là “bọn quan họ” chứ không gọi là câu lạc bộ quan họ như ngày nay Trong một làng quan họ gốc thường có nhiều bọn quan họ Có bọn quan họ nam và bọn quan họ nữ Các bọn quan họ kết bạn với nhau theo nguyên tắc "Âm- Dương tương cấu" Có nghĩa là bọn quan họ nam ở làng này kết bạn với bọn quan họ nữ ở làng kia và ngược lại

- Theo các nhà nghiên cứu cho biết thì thường có hai loại kết bạn quan họ: Kết bạn bền vững và kết bạn không bền vững Loại kết bạn không bền

Trang 7

vững, chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khoảng bốn, năm năm lại có thể thay bạn hoặc kết thêm bạn, nghĩa là một bọn có thể kết bạn với nhiều bọn khác ở các làng Loại kết bạn này thường không phải là của những làng kết chạ với nhau Song, phổ biến và rất được trân trọng trong vùng quan họ Bắc Ninh là loại kết bạn bền vững Đây là loại kết bạn truyền đời theo nguyên tắc đối xứng một- một Ví như ở làng Diềm có tới hơn chục bọn quan họ nam, nữ song duy nhất chỉ có bọn quan họ kết bạn với quan họ làng Bựu là bền vững truyền đời Như vậy, có thể giả thuyết rằng: Tục kết bạn quan họ chính là bắt nguồn từ tục kết chạ vốn có từ xa xưa trong các làng quê xứ Bắc

“Trong sáu tỉnh người đà chưa tỏ Ngoại năm thành chỉ có Bắc Ninh Yêu nhau trở lại xuân đình Nghề chơi quan họ có tinh mới tường”

- Ðã là Quan họ kết bạn thì phải khác giới, khác làng, đều là anh, là chị,

là em của nhau, rất ít khi Quan họ đã kết bạn lấy nhau thành vợ thành chồng

Dù giữ tình bạn kết trong một số năm, hoặc trọn đời, hoặc truyền đời thì các Quan họ vẫn cư xử thân thiết, quý trọng, giữ đường đi lối lại thăm hỏi khi vui buồn đến trọn đời

- Khi đi hội hè hoặc đi ca hát ở đâu, các Quan họ kết bạn thường hẹn rủ nhau cùng đi Mỗi khi làng có hội lệ, hoặc những việc vui mừng Quan họ kết bạn cũng thường mời nhau đến nhà ca hát

- Cũng có sự đùm bọc lẫn nhau về vật chất những khi một ai đó trong nhóm Quan họ kết bạn gặp hoạn nạn, khó khăn

- Trong giao tiếp thường giữ gìn phong độ lịch sự từ ngôn ngữ, cử chỉ, khi đứng, khi ngồi; từ chén nước, miếng trầu, mâm cơm thết bạn đều biểu lộ

sự tôn trọng, quý mến lẫn nhau Không có sự suồng sã, thô lỗ, trong giao tiếp Quan họ

* Tục rủ bọn:

Trang 8

- Muốn đi hát Quan họ phải có bọn: bọn nam hoặc nữ Có nơi do các anh lớn Quan họ, chị lớn Quan họ đứng ra rủ bạn cho các em bé Quan họ Nhưng cũng có nhiều nơi do lòng yêu thích ca hát Quan họ, còn gọi là chơi Quan họ, những chàng trai, cô gái, 15,16,17 tuổi tự rủ nhau thành bọn rồi tìm đến một vài anh lớn, chị lớn hoặc vài cụ Quan họ để học ca hát, rồi nhờ các bậc đi trước đưa đường, chỉ lối, bắc cầu cho tìm nơi kết bạn Mỗi bọn Quan họ thường có 4,4,6 người và được đặt tên từ chị Hai, chị Ba, chị Tư, chị Năm hoặc anh Hai, anh Ba, anh Tư, anh Năm, có đôi làng có đến anh Sáu, chị Sáu Nếu số người đông đến 7,8 người thì có thể đặt thêm: anh Ba (bé), chị Tư (bé)v.v mà không đặt anh Bẩy, chị Tám v.v Không có chị cả, anh cả trong bọn Quan họ

- Khi ra hội hoặc giao tiếp giữa các Quan họ, thường gọi nhau bằng tên anh Hai, chị Ba hoặc liền anh Quan họ, liền chị Quan họ mà không gọi tên thật Trong một bọn Quan họ, tuy chia ra anh Hai, Ba, Tư, Năm nhưng họ sống bình đẳng, đùm bọc, thương yêu, gắn bó cùng nhau Cả ngày lao động, nhưng đêm đến, họ thường rủ nhau ngủ bọn ở nhà một anh lớn, chị lớn nào đấy để học câu luyện giọng Trước tiên là học đủ lối, đủ câu; luyện giọng sao cho mẫm, cho nền, cho vang, cho ngọt, cho nẩy, cho rền Sau đó là tập nói năng, lề lối ứng xử, giao tiếp, rồi mới tiến đến chỗ đi hát hội, kết bạn, hát canh, hát thi Cao hơn nữa là biết đặt câu (sáng tác lời thơ làm lời ca), bẻ giọng (phổ nhạc cho thơ) và ứng đối kịp thời

d Trang phục khi hát quan họ

- Trang phục quan họ bao gồm trang phục của các liền anh và trang phục của các liền chị Trong các lễ hội quan họ có cả những cuộc thi trang phục quan họ

- Liền anh mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối Thường bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai áo

Trang 9

dài Riêng áo dài bên ngoài thường màu đen, chất liệu là lương, the, hoặc đối với người khá giả hơn thì áo ngoài may bằng đoạn màu đen, cũng có người áo dài phủ ngoài may hai lần với một lần ngoài bằng lương hoặc the, đoạn, lần trong bằng lụa mỏng màu xanh cốm, xanh lá mạ non, màu vàng chanh gọi là

áo kép Quần của liền anh là quần dài trắng, ống rộng, may kiểu có chân què dài tới mắt cá chân, chất liệu may quần cũng bằng diềm bâu, phin, trúc bâu, hoặc lụa truội màu mỡ gà Có thắt lưng nhỏ để thắt chặt cạp quần Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp

- Trang phục liền chị thường được gọi là "áo mớ ba mớ bảy", nghĩa là liền chị có thể mặc ba áo dài lồng vào nhau (mớ ba) hoặc bảy áo dài lồng vào nhau (mớ bảy) Về cơ bản trang phục bao gồm các thành phần: trong cùng là một chiếc yếm có màu rực rỡ thường làm bằng lụa truội nhuộm

+ Yếm thường có hai loại là yếm cổ xẻ (dùng cho trung niên) và yếm cổ viền (dùng cho thanh nữ) Bên ngoài yếm là một chiếc áo cánh màu trắng, vàng, ngà Ngoài cùng là những lượt áo dài năm thân, cách phối màu cũng tương tự như ở bộ trang phục nam nhưng màu sắc tươi hơn Áo dài năm thân của nữ, có cài khuy, khác với kiểu tứ thân thắt hai vạt trước.Áo dài ngoài thường mang màu nền nã như màu nâu già, nâu non, màu đen, màu cánh gián trong khi áo dài trong thường nhuộm màu khác nhau: màu cánh sen, màu hoa hiên, màu thiên thanh, màu hồ thuỷ, màu vàng chanh, màu vàng cốm Yếm thường nhuộm màu đỏ (xưa gọi là yếm thắm), vàng thư (hoa hiên), xanh da trời (thiên thanh), hồng nhạt (cánh sen), hồ thủy (xanh biển) Giải yếm to buông ngoài lưng áo và giải yếm thắt vòng quanh eo rồi thắt múi phía trước cùng với bao và thắt lưng

+ Liền chị mang dép cong làm bằng da trâu thuộc theo phương pháp thủ công; có một vòng tròn bằng da trên mặt dép để xỏ ngón chân thứ hai khiến khi đi lại, không rơi được dép Mũi dép uốn cong và người thợ làm dép phải biết nện, thuộc cho mũi dép cứng, như một lá chắn nhỏ, che giấu đầu các ngón

Trang 10

+ Ngoài áo, quần, thắt lưng, dép, người liền chị còn chít khăn mỏ quạ, đội nón quai thao, và thắt lưng đeo dây xà tích

e Ẩm thực của người quan họ

- Tiệc ngọt : Khách đến chơi nhà bọn quan họ thường mời chén trà và miếng trầu têm cầu kì Miếng trầu của người quan họ có hai loại: giầu têm cánh phượng và giầu têm cánh quế

- Tiệc mặn : Cơm Quan họ bao giờ cũng phải là “mâm đan, bát đàn” nghĩa là mâm tròn bằng gỗ, sơn đỏ, bát tiện bằng gỗ cây bạch đàn Các món

ăn bắt buộc phải có 2 đĩa giò lụa, 1 đĩa thịt gà, ngoài ra là các thức ăn khác tùy

ý Ăn xong mà có hát canh thì không được uống rượu Trong bữa, khách ăn trước, chủ ngồi cạnh ca cho khách nghe Khách xơi cơm xong, chủ mới ngồi vào mâm của mình, đến lượt khách ngồi cạnh ca cho chủ nghe

II Làng Diềm - cái nôi của quan họ

1 Giới thiệu

- Làng Diềm là tên gọi nôm của thôn Viêm Xá, xã Hòa Long, tỉnh Bắc Ninh Đây là một ngôi làng cổ, nơi có đền thờ Đức Vua Bà - Thuỷ tổ Quan họ

và các di tích khác nổi bật như đình Diềm , đền Cùng -Giếng Ngọc, không gian sinh hoạt văn hóa quan họ như nhà chứa, hồ bán nguyệt, bãi hội

- Tương truyền rằng Vua Bà xuống nơi đây khai hoang lập nghiệp :

“ Làng ta thờ đức Vua Bà Dạy ta quan họ lời ca cổ truyền Khai làng lập nghiệp quê hương Dưới sông nước chảy bên trên có cầu Vua Bà người sáng tạo ra

Trồng dâu dệt lụa thêu hoa nuôi tằm “

- Làng Diềm cũng được coi là cái nôi của quan họ Trong gia phả làng được các cụ nghệ nhân kể lại có đoạn :

Ngày đăng: 15/03/2017, 16:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w