Tên công trình: Nghiên cứu hiện trạng chim di trú và hướng phát triển loại hình du lịch quan sát chim di trú trong mô hình Du lịch sinh thái tại VQG Xuân Thủy... Vậy nên
Trang 1Tên công trình: Nghiên cứu hiện trạng chim di trú và hướng phát triển loại hình du lịch quan sát chim di trú trong mô hình Du lịch sinh thái tại VQG Xuân Thủy
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Mục đích nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
PHẦN NỘI DUNG 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VQG XUÂN THỦY VÀ HIỆN TRẠNG CÁC LOÀI CHIM DI TRÚ 2
1.1 Giới thiệu khái quát về VQG Xuân Thủy 2
1.2 Hiện trạng các loài chim di trú ở VQG Xuân Thủy 2
2.1 Tiềm năng phát triển loại hình du lịch quan sát chim di trú của VQG Xuân Thủy 3
2.2 Công tác bảo tồn và phát triển loại hình du lịch quan sát chim di trú trong mô hình DLST tại VQG Xuân Thủy 3
3.1 Giải pháp bảo tồn và quản lý phát triển bền vững 3
3.2 Giải pháp chất lượng dịch vụ và thị trường 3
3.3 Giải pháp bổ trợ khác 3
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ VQG XUÂN THỦY VÀ HIỆN TRẠNG CÁC LOÀI CHIM DI TRÚ 4
1 Giới thiệu khái quát về VQG Xuân Thủy 4
2 Hiện trạng các loài chim di trú ở VQG Xuân Thủy 7
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH QUAN SÁT CHIM DI TRÚ TRONG MÔ HÌNH DU LỊCH SINH THÁI TẠI VQG XUÂN THỦY 17
2.1 Tiềm năng phát triển loại hình du lịch quan sát chim di trú của VQG Xuân Thủy 17
Trang 32.2 Công tác bảo tồn và phát triển loại hình du lịch quan sát chim di trú
trong mô hình DLST tại VQG Xuân Thủy 19
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH QUAN SÁT CHIM DI TRÚ TRONG MÔ HÌNH DLST TẠI VQG XUÂN THỦY 30
3.1 Giải pháp bảo tồn và quản lý phát triển bền vững 30
3.2 Giải pháp chất lượng dịch vụ và thị trường 31
3.3 Một số giải pháp bổ trợ khác 33
KẾT LUẬN 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
PHỤ LỤC 37
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT HST: Hệ sinh thái VQG: Vườn Quốc Gia DLST: Du lịch sinh thái
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống các VQG tại Việt Nam, VQG Xuân Thủy tuy là mộtkhu vườn mới được thành lập nhưng tiềm năng và lợi thế về DLST rất lớn,trong đó tiềm năng về môi trjường và DLST của các loài chim di trú quý hiếmđang sinh trưởng tại đây rất có giá trị và là nét riêng biệt so với các VQG kháctại Việt Nam
HST ở VQG còn tương đối nguyên sơ, là nơi cư trú của hơn 30.000 cáthể chim nước, trong đó có nhiều loài chim quý hiếm Với những tiềm năngsẵn có mà thiên nhiên ban tặng cho VQG Xuân Thủy nơi đây thực sự là mộtđiểm đến DLST hấp dẫn cho du khách
Thế nhưng, trong những năm vừa qua, những “tiềm năng vàng” nàymới chỉ được khai thác ở mức độ khá khiêm tốn, đặc biệt là việc quản lý vàkhai thác các loài chim di trú quý hiếm trong phát triển du lịch sinh thái chưathực sự mang lại hiệu quả cao
Vậy nên chúng tôi đã quyết đinh chọn đề tài “Nghiên cứu hiện trạng chim
di trú và hướng phát triển loại hình du lịch quan sát chim di trú trong mô hìnhDLST tại VQG Xuân Thủy” cho công trình dự thi sinh viên nghiên cứu cácmôn khoa học cơ bản năm 2014
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về sách báo đã xuất bản: Các cuốn sách viết về Nam Định và Giao
Thủy như “Di tích lịch sử- văn hóa tỉnh Nam Định”- Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, năm 2008 , “Giới thiệu chung về huyện Giao Thủy” của tác
giả Khánh Nguyên- Phòng VHTT Giao Thủy, đã đề cập đến điều kiện tựnhiên, lịch sử hình thành, dân cư ở VQG Xuân Thủy Nam Định Về các tạpchí, báo điện tử như www.baomoi.com có nhiều bài viết quảng bá về VQGqua web như dulichnamdinh.com.vn, Văn hóa- Du lịch Giao Thủy đặc biệtlà kênh thông tin chính thức là website: www.vuonquocgiaxuanthuy.org.vn đã
Trang 6đề cập và nhấn mạnh tới tiềm năng lớn để phát triển mô hình DLST của VQGXuân Thủy Về các luận văn và luận án , đã có các luận văn của tác giả Trần
Thị Huệ, Đại học Nông Nghiệp Hà nội, với đề tài: “ Nghiên cứu phát triển
khu du lịch sinh thái của Vườn quốc gia Xuân Thủy, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định’’
Nhìn chung, các tài liệu trên đã đề cập một cách tổng quan về VQGXuân Thủy và những thế mạnh về du lịch sinh thái nói chung của vườn Vềcác loài chim di trú và khai thác để phát triển du lịch cụ thể là DLST chưa cócông trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và cụ thể
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng: giá trị các loài chim di trú mà chủ thể là các lo ài chim ditrú tại VQG Xuân Thủy
Về phạm vi nghiên cứu:
Nội dung phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu hiện trạng chim di trú vàhướng phát triển loại hình du lịch quan sát chim di trú trong mô hình DLSTtại VQG Xuân Thủy
Phạm vi không gian: đề tài được thực hiện tại vùng lõi VQG XuânThủy huyện Giao thủy tỉnh Nam Định
4 Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu hiện trạng các loài chim di trú tại VQG Xuân Thủy Từhiện trạng đó đề ra những giải pháp nhằm phát triển tiề m năng của các loàichim di trú, lấy hoạt động quan sát chim di trú làm chiến lược, tạo điểm nhấnnhằm thúc đẩy phát triển mô hình DLST tại VQG Xuân Thủy Nam Định
5 Phương pháp nghiên cứu.
Khảo sát thực địa và nghiên cứu, phân tích tài liệu
Trang 7Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển loại hình du lịch quan sát chim
di trú trong mô hình du lịch sinh thái tại VQG Xuân Thủy
2.1 Tiềm năng phát triển loại hình du lịch quan sát chim di trú của VQGXuân Thủy
2.2 Công tác bảo tồn và phát triển loại hình du lịch quan sát chim di trútrong mô hình DLST tại VQG Xuân Thủy
Chương 3: Một số giải pháp phát triển loại hình du lịch quan sát chim di trútrong mô hình DLST tại VQG Xuân Thủy
3.1 Giải pháp bảo tồn và quản lý phát triển bền vững
3.2 Giải pháp chất lượng dịch vụ và thị trường
3.3 Giải pháp bổ trợ khác
Trang 8Chương 1:
TỔNG QUAN VỀ VQG XUÂN THỦY VÀ HIỆN TRẠNG
CÁC LOÀI CHIM DI TRÚ
1 Giới thiệu khái quát về VQG Xuân Thủy
VQG Xuân Thủy vốn là vùng đất ngập nước thuộc cửa sông ven biểnhuyện Giao Thủy tỉnh Nam Định Vùng đất này được hình thành do quá trìnhlấn đất, mở mang bờ cõi của cha ông xưa Đây là vùng đất ngập nước đầu tiêncủa Việt Nam tham gia công ước Ramsar, được UNESCO chính thức côngnhận vào tháng 01/1989 (công ước bảo vệ những vùng đất ngập nước có tầmquan trọng quốc tế, đặc biệt như nơi cư trú của những loài chim nước) Đâycũng là điểm Ramsar thứ 50 của thế giới, đầu tiên của Đông Nam Á và ViệtNam Nhằm thuận lợi cho công tác quản lý và thực hiện tốt công ước quốc tếRamsar ngày 02/01/2003, thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 01/2003/QĐ-TTG chuẩn y việc “chuyển khu bảo tồn thiên nhiên đất nhập nước XuânThủy thành VQG Xuân Thủy”
Về vị trí địa lý, VQG Xuân Thủy cách Hà Nội 150 km, nằm ở phíaĐông Nam huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Đây là vùng cửa sông ven biểntiêu biểu cho mẫu chuẩn của HST đất ngập nước điển hình ở miền Bắc Tổngdiện tích của vườn gồm 2 vùng; vùng lõi rộng 7.000 ha gồm diện tích CồnXanh, Cồn Lu và một phần Cồn Ngạn; vùng đệm rộng 8.000 ha gồm diện tíchcòn lại của Cồn Ngạn, diện tích Bãi Trong, diện tích năm xã Giao Thiện, Giao
An, Giao Lạc, Giao Xuân và Giao Hải ( 7;6 )
Tháng 12/2003, UNESCO tiếp tục công nhận khu dự trữ sinh quyển thếgiới, đất ngập nước ven biển tỉnh châu thổ sông Hồng, trong đó vùng lõi cótầm quan trọng đặc biệt của khu dự trữ sinh quyển thế giới này Tháng12/2004, UNESCO lại tiếp tục công nhận VQG Xuân Thủy trở thành vùng lõi
Trang 9của khu dự trữ sinh quyển thế giới khu vực ven biển liên tỉnh đồng bằngChâu thổ sông Hồng ( 7;6 ).
Như vậy, VQG Xuân Thủy đã vốn được hình thành từ lâu đời và cho đến naysuốt 10 năm hình thành và phát triển, VQG Xuân Thủy đã và đang từng bướchoàn thiện và phát triển ngày các có nhiều khởi sắc
Về điều kiện tự nhiên
Theo “Báo cáo tình hình kinh tế xã hội VQG Xuân Thủy, tỉnh NamĐịnh năm 2003” của Trung tâm tài nguyên và môi trường Lâm nghiệp thì đấtđai ở VQG Xuân Thủy được hình thành từ nguồn phù sa sông Hồng bồi đắpvới 2 loại hình chủ yếu là bùn phù sa và cát lắng đọng đã tạo ra những loại đấtchủ yếu sau: đất nhẹ, cát pha và thịt nhẹ, đất thịt trung bình, đất nặng từ thịtnặng đến đất sét
Thủy triều ở VQG Xuân Thủy thuộc chế độ “Nhật triều” với chu kìkhoảng 25 giờ, biên độ trung bình là 150-180cm, lượng nước trung bình là114.109 m3/năm và dòng bùn là 115 triệu tấn/năm, độ mặn nước biển của khuvực phụ thuộc vào pha của thủy văn và độ lũ của sông Hồng
Về khí hậu, VQG Xuân Thủy là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùađông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, đầu mùa đông không khí lạnh khô,cuối mùa đông không khí lạnh ẩm Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9, khí hậunóng ẩm thường xuyên xuất hiện dông bão và áp thấp nhiệt đới Lượng mưatrung bình là 1.175 mm/năm, độ ẩm không khí từ 70-90%
Như vậy với những đặc thù về tự nhiên VQG Xuân Thủy có nhữngthuận lợi cho sự sinh trưởng của các loài động, thực vật trong vườn đặc biệt làcác loài chim nước, bên cạnh đó sự phụ thuộc vào chế độ thủy văn cũng gâykhó khăn trong việc di chuyển tới các điểm DLST của du khách Vì vậy đâysẽ là việc mà Ban quản lý VQG Xuân Thủy cần đầu tư nghiên cứu để pháttriển tốt những tiềm năng của vườn
Trang 10Về dân cư
Toàn bộ 5 xã vùng đệm VQG Xuân Thủy có 45.967 hộ Mật độ dân sốtrong các xã tương đối đồng đều, trung bình 1.206 người/km2 Xã có mật độcao nhất là 1.331 người/km2, xã có mật độ thấp nhất là 1.023 người/km 2
( [7,8];7 )
Do lịch sử phát triển tôn giáo của đạo Thiên Chúa Giáo ở Việt Nam, vìvậy khu vực 5 xã Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân và Giao Hải lànơi có số lượng giáo dân đông đảo, tỷ lệ theo đạo Thiên Chúa Giáo chiếm41%, nhưng phân bố trong các xã không đồng đều đó là xã Giao Thiện chiếmtỉ lệ cao nhất 72%, xã Giao An chiếm 32%, xã Giao Lạc chiếm 71%, xã GiaoXuân chiếm 27%, xã Giao Hải chiếm 3,6% Với số lượng giáo dân đông đảonên nơi đây có số lượng nhà thờ dày đặc với hơn 23 nhà thờ lớn nhỏ, kiến trúc
đa dạng độc đáo, trong đó có nhà thờ giáo họ Sa Nam ( xã Giao Thiện ) thuhút nhiều du khách tham quan nhất ( 8;7 )
Kinh tế chủ yếu của các xã vùng đệm là nông nghiệp với 2 nghànhchính là trồng trọt và chăn nuôi Nhưng gần đây việc phát triển kinh tế biểncũng được xác định là nghành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế khu vực,trong đó nghành nuôi trồng thủy sản chiếm 51,5%, khai thác tự nhiên chiếm48,5% Qua điều tra từ hoạt động nuôi trồng thủy sản và khai thác nguồn lợitự nhiên là cao nhất so với các ngành hiện có của địa phương, theo điều tracủa VQG Xuân Thủy thì thu nhập bình quân 1 ngày/1 lao động từ 40.000 tới60.000 đồng Các ngành khác như thương mại, dịch vụ nhìn chung còn kémphát triển ( 13;7 ) Cho đến nay việc khai thác nguồn lợi từ tự nhiên trong đóchủ yếu là nguồn lợi từ khu Ramsar vẫn chiếm số lượng lớn ( có tới 1/3 dânsố sống dựa vào việc khai thác nguồn lợi từ khu Ramsar )
Nhìn chung với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên như vậy, VQGXuân Thủy có những tiềm năng để phát triển DLST cụ thể là loại hình quansát chim di trú Sự đặc thù của tự nhiên đã tạo nên một khu vườn hết sức độcđáo kết hợp giữa chim trời cá nước, con người phóng khoáng, hồn hậu và thân
Trang 11thiện Tuy nhiên sự thuận lợi về điều kiện tự nhiên cũng chính là lí do VQGXuân Thủy phải đối diện với những khó khăn, áp lực về khai thác nguồn lợikhu Ramsar nói chung, tài nguyên môi trường nói riêng.
2 Hiện trạng các loài chim di trú ở VQG Xuân Thủy
Về thành phần, nơi phân bố và đặc điểm di trú
VQG Xuân Thủy là nơi hội tụ của nhiều loài chim hoang dã di trú trongđó có nhiều loài quý hiếm Theo điều tra bước đầu của Birdlife International ởVQG Xuân Thủy có 219 loài chim thuộc 41 họ, 13 bộ Trong đó có 150 loàichim di cư, 50 loài chim nước, đặc biệt có 14 loài quý hiếm được ghi trongsách đỏ quốc tế Khu hệ chim ở đây tiêu biểu là các loài bộ Hạc, bộ Ngỗng,bộ Rẽ và bộ Sẻ Trong 13 bộ chim ở khu vực bộ Sẻ chiếm số lượng lớn nhất40%, sau đó là bộ Rẽ, bộ Hạc, bộ Sếu và bộ Ngỗng Nếu so sánh với danhmục các loài chim ở Việt Nam thì VQG Xuân Thủy có 219 loài bằng 26,5%
so với tổng số chim cả nước là 828 loài, 41 họ bằng 50,61% tổng số họ cảnước là 81 họ, 13 bộ bằng 68,42% so với tổng số bộ cả nước là 19 bộ ( 15;9 ) Vào mùa chim lúc cá thể đông nhất tại VQG Xuân Thủy theo bác NguyễnHuy Thắng xã Giao xuân trước là thợ săn chim giờ đã tham gia vào câu lạc bộbảo vệ các loài chim quan trọng là khoảng 30.000-40.000 cá thể
Về nơi phân bố hay nói cách khác là sinh cảnh sống của các loài chim;sinh cảnh ở đây theo định nghĩa của Sinh thái học có nghĩa là sinh cảnh của 1loài miêu tả môi trường theo đó loài được biết là có mặt ở đó và kiểu cộngđồng loài đó được hình thành Trong các loài chim đang sinh trưởng tại XuânThủy thì có 64,6% các loài chim sống ở rừng ngập mặn, 67,4% sử dụng bãiSậy và Cói, 55,1% số loài sử dụng bãi cồn cát và 42,2% số loài sử dụng rừngphi lao làm nơi kiếm sống và cư trú (15;9 )
Trong vùng lõi của VQG Xuân Thủy, các loài chim phân bố tập trungchủ yếu ở Cồn Ngạn, Cồn Lu, một số ít ở Bãi Trong và Cồn Xanh Nhưng cácloài chim có đặc điểm là sống ở xa khu trung tâm VQG Xuân Thủy, tập trung
Trang 12chủ yếu chạy dọc theo mé ngoài Cồn Lu, Cồn Xanh ( 4 ) Theo tác giả Hà ThịThuần Nhân có 6 sinh cảnh sống chủ yếu của các loài chim quý hiếm sau:
Sinh cảnh đầm tôm:
Sinh cảnh đầm tôm chiếm diện tích nhỏ, phân bố chủ yếu ở phía BắcCồn Ngạn và một phần nhỏ Cồn Lu.Thông thường trên các đầm tôm được tạo
ra thành 2 dạng gồm mặt nước không có cây và phần có thực vật che phủ.Sinh cảnh này là nơi kiếm ăn và làm tổ chủ yếu của nhiều loài chim trong khuvực, trong đó có các loài chim quý hiếm như Cò Lạo Ấn Độ, Choắt lớn mỏvàng, Vịt đầu đen và đặc biệt là loài Cò thìa mặt den thường xuyên kiếm ăntrong sinh cảnh này
Sinh cảnh cồn cát và bãi cát:
Sinh cảnh cồn cát và bãi cát chiếm diện tích tương đối lớn, bao gồmtoàn bộ Cồn Xanh và một phần diện tích các bãi cát thuộc Cồn Lu Các bãicát có 2 dạng khác nhau đó là cồn cát và bãi cát phẳng Trên các bãi cát phẳngthường không có thực vật che phủ còn trên các cồn cát tỷ lệ cát chiếm đa số,thực vật nổi chủ yếu trên cồn cát này là Muống biển Chính vì vậy, sinh cảnhnày là nơi sinh sống và nơi kiếm ăn của một số loài chim như Rẽ mỏ thìa,Choắt lớn mỏ vàng, Mòng bể mỏ ngắn…
Sinh cảnh phù sa lầy bồi lắng:
Sinh cảnh này tập trung ở cửa biển Ba Lạt và các bãi vạng ở phía NamCồn Lu Ở đây không có loài thực vật bậc cao nhưng lại tập trung nhiều loàithực vật nổi và nhiều động vật thủy sinh tạo nguồn thức ăn vô tận cho các loàichim nước Một số loài chim quý hiếm thường xuyên xuất hiện kiếm ăn ở đâylà Cò thìa, Rẽ mỏ thìa, Mòng bể mó ngắn, Choắt chân màng lớn và loài Bồnông chân xám Phải khẳng định là nếu không có sinh cảnh này thì một sốloài chim di trú sẽ không tồn tại, trong đó có loài Cò thìa mặt đen
Sinh cảnh mặt nước sông, biển:
Sinh cảnh này chiếm diện tích lớn nhất, bao gồm mặt nước các sông vàmặt nước biển có độ sâu dưới 6m Đây là sinh cảnh có tính đa dạng sinh học
Trang 13cao nhất của VQG Xuân Thủy, hầu hết các loài thủy sinh sống trong sinhcảnh này Các loài chim có mặt trong sinh cảnh này là Bồ nông chân xám,Choắt chân màng lớn và nhiều loài chim nước khác…
Sinh cảnh thảm rừng cây gỗ ngập mặn:
Sinh cảnh này phân bố ở vùng trung tâm, chiếm diện tích chủ yếu phầnđất nổi của VQG Xuân Thủy Thành phần thực vật chủ yếu là Sú, Trang, Bần,Mắm và loài cây bụi Ôrô Rừng dày đặc với cành và rễ nổi đan xen nhâu rấtkhó xâm nhập nên là nơi làm tổ sinh sản của các loài chim di cư như Bìm bịp,Quốc, Le le…Chúng ta rất ít gặp các loài chim quý hiếm trong sinh cảnh này
Sinh cảnh rừng phi lao:
Sinh cảnh này trồng phi lao là chủ yếu trên đất cát sát với biển với mụcđích chắn cát và sóng Do điều kiện lập địa chủ yếu là cát cộng ảnh hưởng củasóng gió mạnh nên rừng phi lao thường thấp, phân cành sớm Đây là nơi đậuvà kiếm ăn của các loài chim như Đuôi cụt bụng đỏ, Diều đầu trắng, Diềumướp…và cũng là nơi làm tổ của nhiều loài chim nhỏ khác
Về thời gian di trú
Cứ mùa đông đến từ khoảng tháng 11, 12 năm trước đến tháng tháng 3,
4 năm sau là mùa chim về nhiều nhất Vào mùa chim về VQG Xuân Thủytràn ngập tiếng chim, đến với nơi đây vào đúng mùa chim về sẽ đem lại cho
du khách những khoảng thời gian thú vị, được tận mắt thấy những đàn chimnước, có được cảm giác hồi hộp chờ đợi chim về Tuy nhiên ở đây có loài về
từ tháng 9 nên để quan sát các loài chim du khách nên đến vào khoảng thờigian từ tháng 9, 10 năm trước đến tháng 3, 4 năm sau
Tháng 11, 12: Chim di trú từ Xibêri, Hàn Quốc, bắc Trung Quốc di cưtránh rét xuống phía Nam và dừng chân ở VQG Xuân Thủy chuẩn bị chohành trình tiếp tục
Thánng 3, 4: Mùa xuân ấm áp, chim lại về từ phái Nam (Australia,Malaysia, Indonesia ) quay về nơi sinh sản và cũng dừng chân tại VQG XuânThủy
Trang 14Đặc biệt nơi đây có loài Cò thìa có thời gian lưu trú khá dàu là từ tháng
9 năm trước đến tháng 4 năm sau Tuy nhiên du khách yêu thích mùa hè tớiVQG Xuân Thủy du khách vẫn có thể xem được các loài chim di trú tránhnóng đến từ Nam Bộ và Campuchia như Bồ nông, Giang sen
Đặc điểm các loài chim cơ bản
Rẽ mỏ thìa ( Eurynorbychus pygmcus ) thuộc họ Scolopacidace
Tình trạng bảo tồn và phân bố: Rất nguy cấp ( IUCN, 2008 ), là loài trú đôngvà dừng chân trên đường di cư, hiếm thấy
Mô tả: 14-16cm Con trưởng thành ngoài mùa sinh sản; phần trên cơthể màu xanh, mỏ đen, hình thìa Trán, long mày và bụng đều trắng Con non;Mặt và trán trắng Vùng trước mắt và vùng tai đen Toàn bộ phần long cơ thểvà lông bả vai trắng hơn
Sinh cảnh sống: Sinh cảnh phù sa và lầy bồi lắng
Quan sát: Các bãi bồi và bãi lầy ở Cồn Lu ( Giao Xuân ) và Bãi Nứt,Cồn Xanh Dễ quan sát lúc đỉnh triều vào khoảng thời gian từ tháng 10 đếntháng 4
Choắt lớn mỏ vàng (Tringa guttifer ) thuộc họ Threskiornithidae
Tình trạng bảo tồn và phân bố: Nguy cấp ( IUCN, 2008, sách đỏ ViệtNam, 2007 ) Là loài trú đông và dừng chân trên đường di cư hiếm gặp
Mô tả: 29-32cm Mỏ hơi cong lên, có 2 màu Chân ngắn, màu vàng Cổ ngắn.Khi bay lộ rõ phần lông bao trên đuôi màu trắng và đuôi màu hơi xám Con
Trang 15non có màu hơn so với con trưởng thành ngoài mùa sinh sản, có vệt chữ Vmàu trắng trên bả vai, bao cánh màu trắng, ngực hơi nâu và các vạch mở bênsườn.
Sinh cảnh sống: Bãi cát và bãi ngập triều
Quan sát: Các bãi lầy và cồn cát ở Cồn Lu, Cồn Ngạn Lúc thủy triềuthấp Thời gian lưu trú từ tháng 9 đến tháng 4
Cò thìa mặt đen ( Platalea minor ) thuộc họ Threskiornithidae
Tình trạng bảo tồn và phân bố: Nguy cấp ( IUCN, 2008, sách đỏ ViệtNam, 2007 ) Là loài trú đông, thường xuyên gặp Số lượng trung bình trongnhững năm gần đây từ 40-70 cá thể
Mô tả: 76-78cm Kích thước nhỏ hơn Cò thìa Á Âu Chim trưởng thànhngoài mùa sinh sản; da mặt đen bao quanh mỏ, mỏ đen Chim non: đầu mútlông cánh đen
Sinh cảnh sống: Đầm lầy, bãi bồi ngập triều và các đầm tôm
Quan sát: Đầm tôm Cồn Ngạn, bãi bồi Cồn Lu, Cồn Xanh từ tháng 9 tới tháng
4 Thường nghỉ ngơi và kiếm ăn trong các đầm tôm vào ban ngày
Trang 16 Mòng bể mỏ ngắn ( Larus saundersi ) thuộc họ Laridae.
Tình trạng bảo tồn và phân bố: Sắp nguy cấp ( IUCN, 2008, sách đỏViệt Nam, 2007 ) Là loài trú đông, rất hiếm gặp
Mô tả: 33-34cm Chim trưởng thành ngoài mùa sinh sản; nhỏ hơnMòng bể đầu đen bởi mỏ đen, ngắn và dày hơn Đầu cánh sơ cấp trắng Khibay phía ngoài và phía trên cánh sơ cấp trắng, điểm một số các viền đen nhỏ.Chim non; viền cánh thứ cấp nhỏ và đứt đoạn hơn, phía ngoài đầu cánh khôngcó đốm trắng, viền đuôi đen và hẹp hơn Sinh cảnh sống: Bờ cát, bãi lầy, cửasông ven biển, bờ ao Quan sát: Các vùng bùn lầy và bãi cát, vùng cửa songtại Cồn Lu và các đầm tôm tại Cồn Ngạn từ tháng 9 đến tháng 4
Cò trắng Trung Quốc (Egretta eulophotes ) thuộc họ Ardeidae
Tình trạng bảo tồn và phân bố: Sắp nguy cấp ( IUCN, 2008, sách đỏViệt Nam, 2007 ) Là loài dừng chân trên đường di cư, hiếm gặp
Trang 17Mô tả: 66-68cm Chim ngoài mùa sinh sản; toàn thân trắng Chân vàngxanh nhạt Hai phần ba mỏ dưới vàng Chạy trong khi kiếm mồi, cánh giangrộng.
Sinh cảnh sống: Vùng ngập triều và vùng rừng ngập mặn
Quan sát: Vùng ngập triều và rừng ngập mặn tại Cồn Lu và cửa sôngVọp từ tháng 9 đến tháng 11
Trên đây là các loài chim cơ bản mà chúng ta dễ quan sát và dễ gặp tạiVQG Xuân Thủy, trong đó có loài Cò thìa mặt đen du khách sẽ dễ quan sátnhất vì có số lượng nhiều, tương đối ổn định (40-70 cá thể), và thời gian lưutrú dài ( tháng 9 đến tháng 4 )
Hiện trạng các loài chim quý hiếm tại VQG Xuân Thủy
Bảng 1: Những loài chim quý hiếm tại Vườn Quốc Gia Xuân Thủy (Dựa theo phân loại của IUCN)
Thứ tự Tên Tiếng Việt Tên Tiếng Anh Tên Khoa học Tình trạng
vàng
Spotted
Trang 185 Cò trắng Trung
Egretta
VU 1
VU 1
xám
Spot-billedPelican
Numeniusmadagascarien
sis
VU
12 Chắt mỏ thẳng
Limnodromus
Nguồn: Trung tâm DLST VQG Xuân Thủy
Ghi chú:
CR: Critical Engdangered (Rất nguy cấp)
EN: Engdangered (Nguy cấp)
VU: Vulnerable (Sẽ nguy cấp)
NT: Near Threatened (Sắp bị đe dọa)
LC: Least Concern (Ít lo ngại)
Trang 19Theo số liệu của Birdlife tại Việt nam cung cấp, số liệu thống kê từkhách xem chim và số liệu thống kê được qua các đợt giám sát chim hàngnăm của cán bộ VQG Xuân Thủy trong khoảng 10 năm trở lại đây số lượngcá thể của các loài chim quý hiếm đang có chiều hướng suy giảm Cụ thể nhưsau:
Bảng 2: Thống kê số lượng Cò thìa qua các năm tại VQG Xuân Thủy
2002-2003
2004
2003-2005
2004-2006
2005-2007
2006-2008
2007-2009
2008-2010Số
2006-2008
2007-2009
2008-2010
2009-2011
Nguồn: Trung tâm DLST VQG Xuân ThủyNhư vậy số lượng cá thể chim quý hiếm qua các năm biến động rấtnhạy cảm, chủ yếu các loài đều có xu hướng giảm, trong đó có những loài báođộng nghiêm trọng đó là loài Bồ nông chân xám và Rẽ mỏ thìa Tuy nhiênriêng với Cò thìa mặt đen tại vườn số lượng cá thể rất ổn định qua các nămvới hơn 50 cá thể thường xuyên quan sát được Những mối đe dọa tới các loài
Trang 20chim quý hiếm giờ đây là càng đáng nên án hơn bao giờ hết Vì vậy bảo vệcác loài chim quý hiếm này là nhiệm vụ hết sức quan trọng của VQG XuânThủy, của cả quốc tế và những biện pháp hiệu quả là công việc cấp bách củatất cả chúng ta.
Trang 21Quan sát chim là một sở thích của bất kỳ ai yêu thích thiên nhiên, thíchkhám phá, đặc biệt các loài chim hoang dã, quý hiếm Loại hình du lịch quansát chim có 2 cấp độ chính: chỉ đi quan sát chim và vừa quan sát chim vừa cónhững giải trí khác Thực sự loại hình du lịch quan sát chim này có sức hút rấtlớn khiến nhiều người đã vác balô, không ngại những chặng đường dài hàngnghìn cây số để tìm đến các điểm quan sát chim lý tưởng Hiện nay, khi màđiều kiện sống của con người ngày càng được nâng cao, con người thường có
xu hướng tìm về với thiên nhiên Từ những năm 1990, tại các khu rừng nhiệtđới Việt Nam đã rải rác xuất hiện những nhóm du khách quốc tế đến quan sátchim Sau hơn 20 năm phát triển nhìn chung loại hình du lịch này còn mới vàcó sức hấp dẫn rất lớn Theo tổ chức Birdlife, Việt Nam là một trong nhữngquốc gia hàng đầu thế giới về mức độ đa dạng sinh học và số lượng loài chimbị đe dọa… Và theo thống kê của tổ chức này thì Việt Nam có hơn 870 loàichim, trong đó có 9 loài hiếm gặp, và 43 loài bị đe dọa
Tại VQG Xuân Thủy có 219 loài, chiếm 26,5% so với số lượng chimtrong cả nước, 41 họ bằng 50,61%, 13 bộ bằng 68,42% Đặc biệt ở đây có tới
14 loài chim quý hiếm nằm trong sách đỏ thế giới Ấn tượng nhất đó là ởVQG Xuân Thủy có số lượng cá thể các loài chim rất đông đúc, vào mùachim số lượng cá thể lúc đông nhất lên tới 30.000-40.000 cá thể ( Theo bácNguyễn Huy Thắng trú tại xã Giao Xuân ) Ở Việt Nam hiện nay, nếu quansát Cò thìa thì chỉ duy nhất VQG Xuân Thủy là dễ dàng quan sát với số lượng
ổn định từ 50-70 cá thể Sự đa dạng, phong phú, đông đảo của các loài chimchính là cơ sở quan trọng để VQG Xuân Thủy xây dựng loại hình du lịch
Trang 22quan sát chim hứa hẹn sẽ là một sản phẩm du lịch độc đáo phục vụ du kháchquan tâm.
VQG Xuân Thủy nằm trong tam giác du lịch Hà Nội-Quảng Ninh-HảiPhòng nên rất thuận lợi trong việc liên kết tour mở rộng mô hình DLST TừHà Nội về VQG Xuân Thủy mất khảng 4 giờ, cách 150km, theo quốc lộ 1A,dẽ vào hướng Phủ Lý đi thẳng về xã Giao Thiện sẽ có dịch vụ xe đưa đón dukhách tại bến xe xã Giao Thiện nên khá thuận tiện trong việc di chuyển của
du khách
Hiện nay trên địa bàn khu vực các xã hệ thống điện lưới khá tốt, tại mỗi
xã đều đặt các trạm biến áp nên điện sử dụng rất mạnh và ổn định Hệ thốngthông tin liên lạc, trạm ý tế…, được nâng cấp khá đầy đủ và đang dần hoànchỉnh nên đây sẽ là những điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển du lịch( trong đó có DLST ) của VQG Xuân Thủy Trong các năm qua, công tácquốc phòng an ninh trên địa bàn các xã được chú trọng vì thế tình trạng anninh khu vực rất ổn định tạo ra một miền quê yên bình, an toàn cho du kháchkhi đặt chân tới nơi đây
Trong quy hoạch của VQG Xuân Thủy thời gian tới vườn sẽ tập trungxây dựng các điểm vui chơi giải trí gồm sân thể thao ( bóng chuyền, tennis ),công viên, vườn dạo…Tiếp tục hoàn thiện các điểm thăm quan như bãi tắm ởCồn Lu, cắm trại Như vậy sau khi các cơ sở này được hoàn chỉnh du kháchsẽ được đáp ứng đầy đủ nhu cầu về giải trí Chính điều này cũng sẽ kéo dàithời gian lưu trú của du khách và từ đó tăng doanh thu cho vườn
Một thuận lợi nữa mà theo Ông Nguyễn Viết Cách- Giám đốc VQGXuân Thủy cho biết đó là: VQG Xuân Thủy có lợi thế để phát triển du lịch cả
4 mùa, mùa hè cũng như các cơ sở du lịch khác Xuân Thủy có thể đón dukhách thăm cảnh quan nơi rừng giao hòa với biển, khi các cơ sở dịch vụ hoànchỉnh du khách còn có thể nghĩ dưỡng, thực hiện các chuyến picnic đầy thú vị
ở các điểm vui chơi giải trí và cắm trại gần gũi với môi trường thiên nhiên
Trang 23hoang dã Vào mùa đông trong khi các cơ sở du lịch khác gần như đóng cửathì Xuân Thủy lại nhộn nhịp với các tour quan sát chim
Đáng chú ý ở đây là mùa chim di trú ở VQG Xuân Thủy nằm trongkhoảng thời gian cuối năm, dịp Tết Nguyên Đán nên đây sẽ là cơ hội tốt đểVQG đón các khách miền Nam với xu hướng đi du xuân, nghỉ ngơi…Nhưvậy khoảng thời gian này sẽ ít chịu sự cạnh tranh từ các điểm du lịch khác nênđây sẽ là lựa chọn tuyệt vời phù hợp mọi điều kiện thời gian, kinh tế, tâm lývà nhu cầu
Tóm lại VQG Xuân Thủy- 1 di sản thiên nhiên tươi đẹp, 1 không gianvăn hóa giàu bản sắc dân tộc, trong tương lai không xa hứa hẹn sẽ là 1 điểmquan sát chim lý thú và độc đáo Lợi thế tự nhiên kết hợp lợi thế về thời gian,
an toàn nên VQG Xuân Thủy có đầy đủ điều kiện để phát triển loại hình dulịch quan sát chim, thu hút du khách khắp muôn phương
2.2 Công tác bảo tồn và phát triển loại hình du lịch quan sát chim di trú trong mô hình DLST tại VQG Xuân Thủy
Công tác bảo tồn chim nước tại VQG Xuân Thủy
Kinh tế các xã vùng đệm của VQG Xuân Thủy nhìn chung khá đơngiản Các hoạt động kinh tế trong vườn chủ yếu là nông nghiệp, ngoài ra còncó nuôi trồng và khai thác thủy sản, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Trongkhi đó, dân số lại tăng nhanh mặc dù vài năm trở lại đây đã giảm nên vấn đềviệc làm luôn có nhiều bức xúc Năm 2003 các xã vùng đệm có tới 1/3 dân sốvùng đệm sống dựa vào nguồn lợi thiên nhiên ở khu Ramsar ( 13;7 ) Các đốitượng của họ khai thác bao gồm thủy hải sản điển hình là các hoạt động nuôitôm, nuôi ngao, vạng và cả các loài chim cũng không tránh khỏi đối tượngkhai thác này; cứ mỗi đôi Mòng, Vịt giá 150.000 đồng, một đôi cò giá 50.000đồng đã có sức hấp dẫn ma thuật với các thợ săn chuyên nghiệp và cả khôngchuyên nghiệp Trước thời điểm năm 1989 việc săn bắn chim di trú đã trởthành nghề phụ của một số hộ dân trong các xã vùng đệm Họ thường sử dụngcông cụ đánh bắt bằng lưới, bẫy, dò, súng săn và thường trực ở ngoài bãi triềutrong cả mùa chim Sau khi Xuân Thủy tham gia công ước Ramsar chínhquyền địa phương đã ban hành những văn bản quy cấm việc săn bắn chim thú
Trang 24ở khu vực vùng lõi Tuy nhiên đến năm 1995, khi thành lập khu bảo tồn thiênnhiên vẫn còn tồn tại nhiều vụ săn bắn chim bằng súng và đánh lưới Thờigian đầu Ban quản lý khu bảo tồn hầu như dốc toàn bộ lực lượng tập trunglàm công tác bảo vệ, nhằm thiết kỷ cương, trật tự về khai thác tài nguyêntrong khu vực, đồng thời tăng cường hợp tác tuyên truyền nâng cao nhận thứcchung cho cộng đồng Những năm 1995- 1996 là thời gian ban quản lý khubảo tồn bắt giữ được khá nhiều vụ xâm phạm tài nguyên môi trường Các vụviệc chính là: săn bẫy chim hoang dã, chặt phá cây rừng làm nguyên liệu vàkhai thác ngòn lợi thủy sản bằng xung điện.
Bảng 6:Vi phạm xâm hại tài nguyên qua các năm tại VQG Xuân Thủy
Vi phạm pháp
Nguồn ( 22;7 )Nguyên nhân số lượng các vụ vi phạm giảm rõ rệt qua các năm là do
1995 Ban quản lý VQG Xuân Thủy mới chính thức được thành lập, thì VQGXuân Thủy mới có năng lực pháp lý để xử lý các hành vi vi phạm Các trườnghợp vẫn vi phạm là do nhận thức về bảo vệ môi trường còn kém, thiếu sự phốihợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng địa phương lực lượng cán bộ cònqúa mỏng
Đến năm 2007, sau 8 năm thành lập khu bảo tồn và 4 năm chuyểnthành VQG hầu như ít có hiện tượng săn bắn chim, các vụ vi phạm hầu nhưkhông còn Vì khi xảy ra đều bị phát giác, bị bắt giữ và xử lý nghiêm khắc.Một số thợ săn cũ đã bỏ nghề truyền thống đăng ký tham gia câu lạc bộ bảotồn chim rừng Câu lạc bộ là sản phẩm của dự án hợp tác với Birdlife ViệtNam với VQG Xuân Thủy năm 2003-2004 Câu lạc bộ có tới 30 hội viên, quacác đợt tập huấn, thực hành quan trắc bảo vệ chim di trú ý thức bảo vệ môitrường, đặc biệt các loài chim quý hiếm được nâng cao rõ rệt
Trang 25Trước tình trạng xâm hại các loài chim của người dân các xã vùng đệm,Ban quản lý VQG đã phối hợp hành động tích cực với chính quyền địaphương, hợp tác với các tổ chức bảo tồn chim quốc tế, từ đó đã đưa ra nhữngquy phạm xử lý thích hợp các hành vi vi phạm, rất nhiều dự án được kí kếtvới các tổ chức trong và ngoài nước kết hợp hài hòa giữa yêu cầu bảo tồn vàphát triển được xúc tiến bước đầu đã đem lại những kết quả rất đáng khích lệ.Thông qua các dự án hợp tác giữa Birdlife International và VQG Xuân Thủyqua các năm 1996:” Khảo sát, đánh giá tiềm năng các vùng chim quan trọng ởven biển đồng bằng châu thổ sông Hồng” và khu bảo tồn thiên nhiên VQGXuân Thủy được nhà nước xếp hạng đặc biệt vì có các chỉ số bảo tồn cao nhấtkhu vực.
Năm 2002 dự án giám sát sinh thái do quỹ bảo tồn thiên nhiên Nhật tàitrợ đã tập huấn cho các cán bộ kỹ thuật công nghệ và triển khai hoạt độnggiám sát sinh thái ở khu bảo tồn chim nước Năm 2003-2004 thực hiện dự ánbảo tồn vùng chim quan trọng ở Cồn Lu và đã xây dựng được Câu lạc bộ bảotồn các loài chim quan trọng gồm có 30 hội viên Năm 2006 trung tâm bảotồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng ( MCD ) đã chọn xã Giao Xuân đểxây dựng chương trình thí điểm kết hợp du lịch cộng đồng với bảo tồn sinhthái và cải thiện đời sống nhân dân; các chuyên gia MCD dạy cho họ cáchchế biến thực phẩm, kỹ năng phục vụ, tập huấn bảo vệ môi trường, giải phápMCD là sự khôn khéo khi hợp tác với chính người dân, lấy cộng đồng làmtâm để phát triển MCD đã có những bước đầu thành công khi hỗ trợ , xâydựng tổ chức tour du lịch sinh thái đi thăm VQG, phát triển làng chài, làngnghề Mô hình đã tạo được sự gắn kết giữa quyền lợi của người dân với môitrường thiên nhiên như một hàng rào vô hình bảo vệ môi trường cho khu vựcđất ngập nước này Và như vậy nhiều người trước kia sống bằng nghề săn bắnchim giờ đã chuyển sang làm du lịch, tham gia tích cực các đội bảo vệ chimnước
Trang 26Hiện nay, tình trạng sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên trong khuvực vẫn là nguồn sống quan trọng của cộng đồng các xã vùng đệm VQG.Thủy hải sản là một trong những nguồn thu nhập lớn nhất trong cơ cấu kinh tếhộ gia đình, mặc dù trong các xã không có hộ nào sống phụ thuộc hoàn toànvào nguồn lợi tự nhiên của khu Ramsar Những hộ có thu nhập trực tiếp từnguồn lợi tự nhiên trong khu vực là 3.000 hộ (1/3 số hộ trong khu vực), hoạtđộng nuôi tôm theo thống kê có tới 168 đầm tôm (bình quân 5 hộ/ đầm) ( 13;7) Hàng năm, các bãi vạng cho thu nhập hàng trăm tỷ đồng Cho đến nay dosự biến động về thị trường, giá cả cùng với sự thất thường của thời tiết, các hộnuôi tôm đã tự ý chuyển sang mô hình nuôi ngao đã khiến cho môi trường bị
ô nhiễm nghiêm trọng, diện tích rừng bị thu hẹp làm phá vỡ cảnh quan và mất
đi nơi trú ngụ của nhiều loài chim
Rõ ràng, cùng với việc người dân khai thác các nguồn lợi để làm giàutrong đó việc sử dụng các phương tiện khai thác như te điện, đăng đáy, lờ bắtquái đã khiến nguồn tài nguyên, thủy sản bị suy giảm nghiêm trọng, dẫn tớinguồn thức ăn của các loài chim bị cạn kiệt VQG Xuân Thủy đang phải đốimặt với các vấn đề suy thoái môi trường Điều này có thể dễ dàng nhận thấyqua sự giảm sút sản lượng nuôi trồng thủy sản, khả năng lấn biển của HSTrừng giảm rất nhiều so với trước kia, một số loài chim bị giảm nhiều về sốlượng cá thể HST đất ngập nước vốn dĩ đã rất nhạy cảm, nay trước những tácđộng của con người sẽ làm thay đổi, phá vỡ cấu trúc sinh cảnh làm tác độngtrực tiếp tới môi trường sống của các loài chim - mà cụ thể là hoạt động chặtphá rừng, khai thác bừa bãi tài nguyên…
Nguyên nhân sâu xa nhất của thực trạng trên là xuất phát từ nhận thứccủa người dân về giá trị tài nguyên chưa cao, đời sống nhân dân còn nghèonên họ không có sự lựa chọn nào khác là khai thác thiên nhiên, song có mộtthực tế là khi họ khai thác bừa bãi như vậy không giúp họ hết nghèo mà dẫntới cái nghèo nguy hiểm hơn đó là nghèo tài nguyên, HST; môi trường ônhiễm, lũ lụt triền miên mà họ chính là người phải gánh chịu do việc làm của
Trang 27mình tạo ra Rốt cuộc cái vòng luẩn quẩn đói nghèo- phá rừng- đói nghèo- táiphá rừng như sợi dây nhiều nút ngày càng siết chặt cuộc sống của họ Và mộtnguyên nhân khách quan làm giảm số lượng một số loài chim là do sự nónglên của trái đất, thời tiết diễn biến thất thường đã khiến các loài chim khóthích nghí, một phần bị mất đi trên đường di cư, một phần tới không dừngchân thường xuyên tại VQG Xuân Thủy.
Nhìn nhận từ thực trạng trên, theo quyết định số 126/QĐ-TTG ngày02/02/2012 của thủ tướng chính phủ về việc “ thí điểm cơ chế chia sẻ lợi íchtrong quản lý bảo vệ và phát triển bền vừng rừng đặc dụng được triển khai tạiVQG Xuân Thủy” và quyết định số 1010/QĐ-BNN-TCLN ngày 7/5/2013 củaTổng cục Lâm Nghiệp về việc phê duyệt phương án “chia sẻ lợi ích trongquản lý bảo vệ và phát triển bền vững vườn đặc dụng tại VQG Xuân Thủy”.Đến nay VQG Xuân Thủy đã có những kết quả khả quan đó là đã tiến hànhký cam kết và thỏa thuận quản lý và sử dụng tài nguyên với các nhóm cộngđồng khai thác dược liệu, thủy sản thủ công trong vùng lõi Thiết lập cácnhóm giám sát để giám sát các hoạt động khai thác tài nguyên khu vực VQGXuân Thủy
Phương án chia sẻ lợi ích đã góp phần quản lý tài nguyên được tốt hơn(trong đó có các loài chim), sau khi thực hiện chính sách phát triển cộng đồnghiệu quả rõ ràng từ phương án này đã giảm sức ép rất nhiều tới VQG vì khiphép khai thác một số tài nguyên nhưng đồng thời lại có trách nhiệm và bảovệ tài nguyên nên đây là phương án rất thích hợp và khôn khéo của VQGXuân Thủy
Sau hơn 20 năm tham gia công tác Ramsar, đến nay Ban quản lý VQGXuân Thủy đã làm được khá nhiều việc trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ tàinguyên môi trường Các loài chim đã được bảo vệ tốt hơn Hàng năm chúngvẫn về cư trú khá đông đúc Trong đó loài Cò Thìa là ổn định và đông đảonhất (hơn 50 cá thể) Bắt một con chim chỉ nấu được một tô cháo nhưng cứ để
Trang 28nó sống thì du khách đến thăm nhiều hơn, chúng ta sẽ có được nhiều “tôcháo”.
Tóm lại trong công tác bảo tồn các loài chim rút ra kết luân như sau:
Thuận lợi
- Ban quản lý VQG Xuân Thủy có tinh thần trách nhiệm, đầy nỗ lực, linhhoạt và đưa nhiều biện pháp ngăn ngừa kịp thời Tuy chỉ có 13 cán bộ nhưngsức làm việc của tập thể rất cao Và thực tế những gì họ đã làm được là kếtquả của tinh thần trách nhiệm, sự cố gắng, sự nỗ lực rất đáng khích lệ
- Sự vào cuộc của nhiều cơ quan chức năng trong và ngoài nước (Birdlife) đãcó sự hỗ trợ thiết thực cùng tiến hành thực hiện công tác bảo tồn HST đấtngập nước Qua đó, VQG Xuân Thủy đã được hỗ trợ về nhiều mặt; tiếp thu,học hỏi được nhiều kiến thức và nhiều kinh nghiệm quản lý quý giá của Quốctế để từ đó nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ
- VQG Xuân Thủy có tính đa dạng sinh học cao, nguồn thủy hải sản vô cùngphong phú Và đây cũng là nguồn thức ăn lớn cho các loài chim tại vườn
Khó khăn
- Điều kiện sống của cộng đồng vùng đệm phần lớn có sinh kế phụ thuộc vàotài nguyên thiên nhiên Chính vì vậy, việc khai thác ồ ạt, bừa bãi đã khiếnnguồn thủy sản bị suy giảm nghiêm trọng dẫn tới nguồn thức ăn cho các loàichim nước bị cạn kiệt Ngoài ra, sự hiểu biết của cộng đồng địa phương về đadạng sinh học, về giá trị của tài nguyên thiên nhiên và các loài chim quý hiếmcòn rất hạn chế nên người dân địa phương không tích cực tham gia vào cáchoạt động bảo tồn của VQG Xuân Thủy Trong các hoạt động xâm hại thìhoạt động săn bắn chim trái phép có thể coi là mối đe dọa nghiêm trọng đốivới các loài chim
- Lực lượng cán bộ còn mỏng (13 cán bộ), năng lực quản lý còn hạn chế nênkhó có thể ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại tới các loài chim di trú,thêm nữa lực lượng cán bộ của VQG được giao quản lý nhưng công tác bảovệ trực tiếp lại do lực lượng kiểm lâm Việc phân cấp này dẫn tới sự bất cập