1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHẢN ỨNG XÃ HỘI TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

338 321 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 338
Dung lượng 2,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

R với “Class and class conflict in industrial society” 1929 [“Giai cấp và xung đột giai cấp trong xã hội công nghiệp”] và Park R.E and Burgess E.W với “Competition, Conflict, accomomdati

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

- *** -

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2011

Mã số: B.11 - 26

NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHẢN ỨNG XÃ HỘI TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN

XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Cơ quan chủ trì: Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Đỗ Đình Hãng Thư ký đề tài: Th.S Giang Thị Huyền

9120

Trang 2

LỰC LƯỢNG NGHIÊN CỨU

1 Th.S Trịnh Vương Cường Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

2 TS Vũ Trường Giang Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

3 Th.S Bùi Thanh Hà Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

4 Th.S Nguyễn Thanh Hà Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

5 PGS.TS Đỗ Đình Hãng Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

6 Th.S Hà Thị Thu Hằng Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

7 Th.S Đỗ Thanh Hiền Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

8 CN Hoàng Minh Hiến UBND huyện Chương Mỹ - Hà Nội

9 Th.S Lưu Khương Hoa Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

10 Th.S Giang Thị Huyền Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

11 NCS Trần Thị Lan Học viện Báo chí & Tuyên truyền

12 Th.S Tạ Khánh Trường Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu ……… ………… ……… 6

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phản ứng xã hội…… 16

1.1 Những khái niệm cơ bản… ……… 16

1.1.1 Khái niệm phản ứng…… ……… 16

1.1.2 Khái niệm phản ứng xã hội……… 20

1.1.3 Khái niệm xung đột xã hội……… 21

1.2 Phân loại các hình thức phản ứng xã hội……… 24

1.2.1 Phân loại phản ứng xã hội theo hình thức biểu hiện……… 25

1.2.2 Phân loại phản ứng xã hội theo lĩnh vực (nội dung)……… 26

1.3 Chức năng của phản ứng xã hội……… 27

1.3.1 Chức năng tích cực của phản ứng xã hội……… 28

1.3.2 Chức năng tiêu cực của phản ứng xã hội……… 29

Chương 2: Thực trạng phản ứng - xung đột xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay 31 2.1 Nhận diện các hình thức phản ứng - xung đột xã hội………… 31

2.1.1 Phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột lợi ích……… 31

2.1.2 Phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột văn hóa……… 51

2.1.3 Phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột tôn giáo……… 59

2.1.4 Phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột tộc người……… 67

2.2 Nguyên nhân của phản ứng xã hội……… 75

2.2.1 Những nguyên nhân từ lợi ích……… 75

2.2.2 Những nguyên nhân từ văn hóa lối sống……… 76

2.2.3 Những nguyên nhân do bất bình đẳng dân tộc và do địch lợi dụng, kích động 77 2.2.4 Những nguyên nhân nảy sinh từ chính quá trình đổi mới, phát triển nhưng chưa được giải quyết thỏa đáng 78 2.2.5 Những nguyên nhân từ phía cơ chế, chính sách……… 80

2.2.6 Những nguyên nhân từ phía hệ thống chính trị ở nông thôn…… 83

2.2.7 Những nguyên nhân từ phía cán bộ và đội ngũ cán bộ………… 86

2.2.8 Những nguyên nhân từ phía quần chúng nhân dân……… 90

2.3 Tác động của phản ứng - xung đột xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời gian qua 92 2.3.1 Phản ứng - xung đột đã gây ra nhiều hệ quả tiêu cực đến quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội 92 2.3.2 Khía cạnh tích cực từ thực tiễn phản ứng - xung đột xã hội…… 95

Chương 3: Tiêu chí đánh giá phản ứng - xung đột xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay 97 3.1 Dự báo xu hướng và hình thức phản ứng - xung đột xã hội ở nước ta thời gian tới 97 3.1.1 Các xu hướng chính tác động đến phản ứng - xung đột xã hội…… 97

Trang 4

3.1.2 Dự báo các hình thức phản ứng - xung đột xã hội……… 99 3.2 Quan điểm định hướng ……… 102 3.2.1 Tôn trọng quyền con người và luật pháp trong giải quyết khiếu nại, khiếu kiện, tố cáo

3.3.3 Các chủ thể tham gia phản ứng - xung đột xã hội……… 112 3.3.4 Hoàn cảnh và phạm vi diễn ra phản ứng - xung đột xã hội…… 113 3.3.5 Tiêu chí về tính động cơ và nguyên nhân diễn ra phản ứng -

Trang 5

MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1 VỀ MẶT LÝ LUẬN

Phản ứng xã hội là một hiện tượng bình thường trong quá trình phát

triển, khi con người đứng trước các tác động của tự nhiên hay xã hội Phản ứng

xã hội khác với các phản ứng của các sinh thể tự nhiên ở dạng thức, cấu trúc,

chức năng và không chỉ rất khó nhận dạng, mà cả nắm bắt, quản trị chúng

một cách có hiệu quả, tránh gây nên các tác động tiêu cực đối với bản thân từng con người cũng như cả xã hội Việt Nam đang trong thời kỳ nền kinh tế chuyển đổi, ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới và chịu nhiều tác động bất lợi do biến đổi môi trường tự nhiên và xã hội Do vậy, phản ứng xã hội của các nhóm dân cư diễn biến rất phức tạp Đối diện với những biến đổi của

nền kinh tế, của môi trường tự nhiên và xã hội, bản thân tâm lý, tính cách, hành vi, lối sống con người cũng có những biến đổi so với thời kỳ bao cấp, khép kín Diễn biến của phản ứng xã hội có khi theo cá nhân hoặc nhóm xã hội, biểu hiện dưới nhiều hình thức Xuất phát từ những nhận thức trên cho

thấy nghiên cứu phản ứng xã hội dưới góc độ học thuật nhằm cung cấp các khái niệm công cụ, nhận diện loại hình, các hình thức biểu hiện của chúng là

điều cấp thiết của nhiều bộ môn khoa học từ chính trị học, khoa học lãnh đạo

- quản lý, xã hội học, tâm lý học, văn hoá học đến các ngành khoa học phát

triển khác

1.2 VỀ MẶT THỰC TIỄN Phản ứng xã hội ở nước ta hiện nay đang diễn biến có phần phức tạp và nhiều khi khó nhận dạng Nhiều hình thức phản ứng xã hội mới nảy sinh trong

cơ chế thị trường, toàn cầu hoá mà nguồn gốc của nó chưa được cắt nghĩa một cách thấu đáo Phản ứng xã hội từ nhóm lẻ có khả năng lan truyền thành mạng

xã hội khi được sự hỗ trợ bởi mạng truyền thông phi thể chế, điện thoại di động, internet Những hình thức phản ứng xã hội dưới hình thức vô ngôn,

Trang 6

biểu hiện của thái độ bàng quan chính trị, thờ ơ và vô cảm trước mọi phong

trào xã hội, trước cổ động của bộ máy tuyên truyền là những dấu hiệu không

thể xem thường

Vì vậy, nhận diện các hình thức phản ứng xã hội, phân loại các hình thức phản ứng xã hội, xây dựng hệ tiêu chí đánh giá phản ứng xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay là vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc

II TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2.1 NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI

Có thể thống kê thành 3 nhóm sau đây của các nhà nghiên cứu nước ngoài về phản ứng xã hội:

Thứ nhất, các nghiên cứu lý thuyết về phản ứng xã hội được thể hiện

trong các công trình của Russell Huebsch (2003): Social Reaction Theory [“Lý

thuyết phản ứng xã hội”], của Jarn R (2008): Social Reaction or Labeling

Theory [“Lý thuyết nhận diện phản ứng xã hội”], của Wellford, C (1975): Labeling Theory and Criminology An Assessment - Social Problems [“ Lý

thuyết nhận diện và đánh giá tội phạm học - Những vấn đề xã hội”] Các nghiên cứu này đã đưa ra quan niệm về phản ứng xã hội, phân lọai phản ứng xã hội, bước đầu chỉ ra chức năng ( cả phản chức năng) của phản ứng xã hội , tác động của nó đối với quản lý phát triển xã hội

Thứ hai, các nghiên cứu phân tích hình thức và cơ chế biểu hiện của

phản ứng xã hội, bản chất của nó trong giải quyết các quan hệ xã hội mang tính cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng Đáng chú ý là nghiên cứu của Sanna Eronen (2006): Social Reaction Styles, Interpersonal Behaviours and Person Perception: A Multi-Informant Approach [“Các hình thức phản ứng xã hội,

nhận thức con người và cách hành xử cá nhân với nhau: một sự tiếp cận nhiều nguồn tin”] Hình thức của phản ứng xã hội được đề cập ở các nghiên cứu này rất đa dạng bao gồm cả cá nhân và tập thể, theo kiểu lan truyền đám đông Cơ

chế phản ứng xã hội có khi thông qua ngôn luận hoặc hành động cụ thể mà

Trang 7

hậu quả của nó rất khó định lượng Phản ứng xã hội do xung đột về giá trị, đức tin tôn giáo được đề cập trong nghiên cứu của Frederic Harrison (1913): The positive evolution of religion: its moral and social reaction [“Sự tiến triển

tích cực của tôn giáo: luân lý và phản ứng xã hội”

Thứ ba, các nghiên cứu về phản ứng xã hội biểu hiện thành xung đột

xã hội Đây là loại công trình được nghiên cứu rất phổ biến ở phương Tây Tiêu biểu là các nghiên cứu của Collins R (1974), “The basic of conflict theory, Conflict sociology [“Vấn đề cơ bản của xung đột xã hội, xã hội học xung đột”], của Coser L (1956): The Funcions of social conflict” [“Các chức năng của xung đột xã hội”], Dahrendorf R với “Class and class conflict in industrial society” (1929) [“Giai cấp và xung đột giai cấp trong xã hội công nghiệp”] và Park R.E and Burgess E.W với “Competition, Conflict, accomomdation and Assimilation” (1977) [“Cạnh tranh, xung đột, thích nghi

và đồng hoá”]… Các công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng phản ứng xã hội tồn tại một cách khách quan nhưng có khả năng chuyển hoá thành xung đột xã hội hay không lại chịu sự tác động của nhiều tác nhân khác nhau Phản

ứng xã hội nếu không được nhận diện, xử lý và hoá giải thấu đáo thường tích

tụ, dồn nén, biến thái thành các xung đột xã hội trên phạm vi rộng lớn hơn

2.2 NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC Các nghiên cứu về phản ứng xã hội ở Việt Nam tuy có muộn hơn so với nước ngoài, nhưng các chiều cạnh của phản ứng xã hội cũng được đề cập khá phong phú

Thứ nhất, các bài viết đề cập đến các dạng thức phản ứng xã hội bột

phát gây bức xúc trong xã hội, thường bộc lộ một cách nhanh chóng, sôi động, có ảnh hưởng lan toả trong xã hội Đó là các bài viết đề cập đến các

phản ứng xã hội biểu hiện bằng hành động xã hội của Lê Xuân Thanh:

“Những vấn đề đình công và giải quyết đình công” [2010], của Điền Bắc - Nguyễn Duy: “Vụ TP Vinh khốn đốn vì rác: Hàng trăm người lập chốt chặn

xe rác” [2001], của Công Bính: “Dân chặn xe vì quá bụi, gần 100 xe chở đất

Trang 8

“tê liệt” [2011], của Phong Cầm - Hữu Cẩm: “Gần 2.000 công nhân đình

công” [2011] Nhiều bài viết chỉ rõ, trong thời gian qua, phản ứng xã hội

diễn ra trên nhiều mặt của đời sống khi đụng chạm đến lợi ích của một nhóm

xã hội cụ thể, trong đó đình công của công nhân, phản ứng có tính đám đông của nông dân ở vùng thu hồi đất phục vụ xây dựng khu công nghiệp là những vấn đề thường nổi bật, thu hút sự quan tâm của dư luận và các nhà quản lý Cũng có những phản ứng xã hội xuất hiện trước một tình huống cụ thể thể hiện qua bài viết … Nó cho thấy tính phong phú, đa dạng của phản ứng xã hội trong muôn mặt của đời sống con người mà các nhà quản trị phát triển xã hội luôn phải trù liệu đầy đủ

Thứ hai, Các nghiên cứu đề cập đến phản ứng xã hội dưới hình thức

ngôn luận, đặc biệt thông qua phản biện xã hội của giới tinh hoa Đây có thể được xem là phản ứng xã hội đặc thù của một bộ phận nhỏ trong xã hội thu hút

được sự quan tâm của cả phía người dân lẫn các nhà hoạch định chính sách Có

thể kể các công trình nghiên cứu của Kiên Định: “Phản biện xã hội - nhân tố quan trọng của sự phát triển xã hội” [2007], Nguyễn Trần Bạt: “Phản biện xã hội” [2009], Chính Tâm: “Phản biện xã hội và sự phát triển của Việt Nam” [2007], Trịnh Duy Luân: “Một số vấn đề về tham gia xã hội và phản biện xã hội” [2009]… đã chỉ ra một số hình thức đặc thù của phản ứng xã hội mà nếu các nhà quản lý biết cách lắng nghe, xử lý sẽ cung cấp các thông tin đầu vào

có chất lượng cho các quyết định quản lý

Thứ ba, Các nghiên cứu đề cập đến môi trường, công cụ, không gian,

điều kiện, cơ chế cho bộc lộ phản ứng - xung đột xã hội Công cụ, phương

tiện giúp bày tỏ phản ứng xã hội được giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm là

báo chí, truyền thông, đặc biệt qua nghiên cứu của Phan Văn Tú: “Truyền

thông và dư luận xã hội” [2006], của Đỗ Chí Nghĩa :"Vai trò báo chí trong định

hướng dư luận xã hội" [2009], của Minh Đăng: “ Báo chí khẳng định vai trò diễn đàn phản biện xã hội” [2011] Các nghiên cứu này cho rằng, báo chí giúp bộc lộ phản ứng xã hội một cách gián tiếp, nhưng rất thụ động, tạo ra dư luận

Trang 9

nhanh chóng, nhưng cũng dễ sai sót Vì vậy, để phản ứng xã hội thông qua

báo chí có tác dụng định hướng dư luận đòi hỏi phải phát huy trách nhiệm xã hội của báo chí, của nhà báo và từng tờ báo Phản ứng xã hội còn có thể bộc lộ

ở nhiều môi trường phong phú khác nhau, nhất là những nơi tụ tập đông người,

được thể hiện qua nghiên cứu của Nguyễn Quý Thanh, Trịnh Ngọc Hà: “Không gian bán công và sự hình thành dư luận xã hội: Nghiên cứu trường hợp quán

cà phê ở Hà Nội” [2009] Tất nhiên, từ phản ứng xã hội đến dư luận xã hội là

hai khoảng cách khác nhau về tính chất của phản hồi xã hội

Thứ tư, Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa phản ứng xã hội với

xung đột xã hội Đáng chú ý trong nhóm nghiên cứu này là công trình cura

Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của chính phủ:

“Tranh chấp khiếu nại, tố cáo về đất đai và giải quyết tranh chấp, khiếu nại,

tố cáo về đất đai” [2009], của Phan Tân: “Xung đột xã hội về đất đai ở nông thôn thời kỳ đổi mới (trường hợp tỉnh Hà Tây cũ)” [2009], của Thế Cường:

“Góp phần tìm hiểu biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay” [2010], của Nguyễn Đình Tấn (chủ biên): “Xu hướng phân tầng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” [2010], của Hồ Bá Thâm - Nguyễn Trần Dương: “Kinh tế thị trường và mâu thuẫn, xung đột lợi ích giữa nhóm trục lợi và nhóm thiệt hại hiện nay” [2010], của Thanh tra chính phủ: “Khiếu nại, tố cáo đông người - Đất đai vẫn là điểm nóng” [2010], của Trần Văn Long: “Bàn về xung đột lợi ích” [2011]… Các nghiên cứu trên đề cập đến các

dạng thức phản ứng xã hội chuyển hóa thành xung đột xã hội cần được quan

tâm đặc biệt Trong đó, đáng chú ý là những nỗ lực truy tìm cơ sở kinh tế - xã hội của các phản ứng xã hội, đặc biệt là lợi ích của các nhóm xã hội, từ đó

khuyến nghị giải pháp phải bắt đầu từ hài hòa hóa quan hệ lợi ích Một hướng

nghiên cứu khác lại truy tìm nguồn gốc phản ứng xã hội từ yếu tố tâm lý như các công trình của Nguyễn Văn Hiện: “Giải tỏa xung đột trong khiếu kiện của công dân dưới góc độ tâm lý học” [2009], của Vũ Trung Quý: “Bàn về khái niệm “đám đông gây rối an ninh trật tự” [2007] Các nghiên cứu trên đã đề cập

Trang 10

đến phản ứng xã hội biến thành đám đông, mang tính xã hội rộng lớn mà bất

cứ hệ thống quản lý nào cũng không thể xem thường Cơ chế tâm lý gây nên

phản ứng xã hội được bàn sâu hơn trong bài viết của Lưu Song Hà: “Tâm trạng của người nông dân bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp liên quan đến việc làm” [2008], của Lê Văn Hảo: “Hành vi xã hội trong một số tình huống (trường hợp một xã ven đô” [2009], của Phan Thị Mai Hương:

“Tâm trạng của các nhóm dân cư Đà Nẵng trước những biến đổi về xã hội do tác động của đô thị hóa” [2009]… Đây thường là những phân tích trường

hợp, được lưu ý tới là các nhóm cư dân đô thị bị mất đất, với các biểu hiện tâm lý bất thường có thể gây nên các phản ứng xã hội mà giải quyết chúng phải bằng các chính sách hợp lý về đền bù đất đai đồng thời tránh bị kích động tâm lý tạo nên đám đông

Thứ năm, Các nghiên cứu về quản trị phản ứng xã hội có ý nghĩa đặc

biệt quan trọng đối với quá trình triển khai đề tài này Công trình nghiên cứu

của Bùi Thị Xuân Mai: “Lắng nghe - một kỹ năng tham vấn cơ bản của cán

bộ xã hội” [2007] đã chỉ ra một cách thức quan trọng để thâu nhận các phản

ứng xã hội là lắng nghe ý kiến của người dân, quan sát các động thái ảnh hưởng đến lợi ích của người dân, phân tích các tác nhân với người dân khi xuất hiện các phản ứng Điều này rất cần thiết với mọi cán bộ lãnh đạo - quản

lý chứ không chỉ riêng cán bộ làm công tác xã hội Tính pháp lý khi nhìn nhận, đánh giá, phân tích một trường hợp cụ thể của phản ứng xã hội được

phân tích trong nghiên cứu của Vũ Quỳnh: “Không dễ đình công đúng luật” [2010], của Ngọc Hùng: “Chuyện đình công - đôi điều suy nghĩ” [2010], của Bảo Chân: “Đình công bất hợp pháp có dấu hiệu gia tăng Vai trò của công đoàn ở đâu?” [2010]… Các bài viết cũng đề xuất cần xây dựng hệ thống

pháp luật đồng bộ đảm bảo quyền phản ứng xã hội và phòng ngừa các xung đột xã hội có khả năng gây bất ổn xã hội, đe dọa đến an ninh quốc gia, trật tự

an toàn xã hội Đặc biệt, một số nghiên cứu trên bình diện rộng lớn hơn của phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đã đề xuất hướng quản trị phản

Trang 11

ứng xã hội từ thực hiện công bằng xã hội, giải quyết các nguyên nhân kinh tế

- xã hội phát sinh phản ứng xã hội như bài viết của Phạm Quốc Anh (chủ

biên): “Một số tình hình và giải pháp phòng ngừa, giải quyết “điểm nóng” ở

cơ sở nông thôn nước ta” [2000], của Châu Thanh: “Giá trị của sự đồng thuận” [2007], của Nguyễn Thị Kim Ngân: “Triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng ta về các vấn đề xã hội” [2008], của Nguyễn Thị Mai Anh: "Điểm nóng chính trị - xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng - Nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm" [2008], của Nguyễn Ngọc Điện: “Giải quyết xung đột lợi ích” [2009], của Võ Khánh Vinh (chủ nhiệm): “Xung đột xã hội và đồng thuận xã hội trong quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội: cơ sở lý luận và thực tiễn” [2009], của Hoàng Chí Bảo (chủ biên): “Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới” [2010], của Trần Đức Cường (chủ biên): “Những yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam” [2010], của Đinh Xuân

Lý (chủ biên): “Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời

kỳ đổi mới: Mô hình, thực tiễn và kinh nghiệm” [2010], của Lưu Văn Sùng:

“Một số điểm nóng chính trị - xã hội điển hình tại các vùng đa dân tộc ở miền núi trong những năm gần đây hiện trạng, vấn đề các bài học kinh nghiệm trong xử lý tình huống” [2010], của Nguyễn Vũ Tiến: “Lý thuyết chung về quản lý xã hội” [2010], của Võ Khánh Vinh (chủ biên): “Xung đột xã hội một

số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” [2010]… Nhìn chung, các nghiên

cứu đều xem phản ứng xã hội phải được giải quyết bằng nhiều biện pháp cả kinh tế - xã hội thông qua hài hòa hóa lợi ích, đảm bảo phúc lợi con người lẫn tác động đến hành vi thông qua tôn trọng các giá trị, xử lý các yếu tố thuộc về tâm lý ở những thời điểm cụ thể

Các nhóm nghiên cứu nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng cho nghiên

cứu đề tài này, gồm cả cung cấp tư liệu và cách tiếp cận Tuy vậy, các nghiên

cứu trên mới chỉ là các nghiên cứu ở một vài trường hợp đơn lẻ của phản ứng

Trang 12

xã hội, nhất là chưa phân loại rõ các loại hình phản ứng xã hội, chưa nghiên cứu sâu về các tiêu chí đánh giá phản ứng - xung đột xã hội trong quá trính quản lý phát triển xã hội ở nước ta

III MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

- Nhận diện, phân loại các hình thức phản ứng xã hội

- Đề xuất hệ tiêu chí cơ bản để đánh giá phản ứng - xung đột xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN

- Tiếp cận hệ thống:

Với cách tiếp cận hệ thống, nghiên cứu phản ứng xã hội được đặt trong tổng thể các vấn đề xã hội của đất nước và thế giới; giữa nghiên cứu phản ứng xã hội với phản biện xã hội, xung đột xã hội và rộng hơn là quản lý và phát triển xã hội Cách tiếp cận này cho phép định vị phản ứng xã hội trong các vấn đề xã hội

và các mối quan hệ tương tác của các bộ phận cấu thành của phát triển xã hội

- Tiếp cận lịch sử - cụ thể:

Tiếp cận lịch sử - cụ thể đòi hỏi nhận diện và phân tích phản ứng xã hội gắn với bối cảnh, điều kiện cụ thể của đất nước, của thời cuộc, của từng thời điểm, từng địa bàn nhất định Phải trên quan điểm lịch sử - cụ thể mới cắt nghĩa được các chiều cạnh của thực trạng, đề xuất tiêu chí đánh giá phản ứng

xã hội - xung đột xã hội sát với thực tiễn đất nước, đặc điểm từng hình thức phản ứng xã hội, đặc biệt là những dấu hiệu mới nảy sinh trong quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kinh tế thị trường, toàn cầu hóa Tiếp cận lịch sử - cụ thể còn phải xem xét phản ứng xã hội trong điều kiện nền chính trị nhất nguyên, một đảng cầm quyền để theo đó có tiêu chí đánh giá thích ứng trong thâu nhận, xử lý và đo đạc các phản ứng xã hội

- Tiếp cận chức năng:

Tiếp cận chức năng cho phép làm rõ chức năng của phản ứng xã hội

đối với bản thân chủ thể phát sinh phản ứng đó cũng như với cộng đồng xã

Trang 13

hội; phản chức năng của phản ứng xã hội nếu không được định hướng hành vi

và kiểm soát hợp lý; loạn chức năng nếu bị các tác nhân bên ngoài lợi dụng,

tác động ngoài khả năng kiểm soát của bản thân từng chủ thể và hệ thống quản lý

4.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỤ THỂ

- Phương pháp phân tích và tổng hợp:

Phương pháp phân tích được sử dụng trong phân tích tài liệu, văn bản, công trình nghiên cứu liên quan

- Phương pháp chuyên gia:

Phương pháp chuyên gia nhằm thu thập ý kiến của các chuyên gia về

xã hội học hành vi, xã hội học xung đột, tâm lý học, văn hóa học

- Phương pháp phỏng vấn:

Đưa ra các câu hỏi cho người đối thoại để thu thập thông tin Chọn người đối thoại theo mức độ am hiểu vấn đề (rất am hiểu, am hiểu ít, hoàn toàn không hiểu), thông qua các phỏng vấn khác nhau (có chuẩn bị trước, không chuẩn bị trước; trao đổi trực tiếp; trao đổi qua điện thoại; phỏng vấn

để biết và phỏng vấn sâu)

Mặc dù không có điều kiện để thực hiện đề tài qua phương pháp điều tra xã hội học, nhưng các thành viên tham gia đề tài hầu hết là giảng viên của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh có điều kiện thực tế và giảng dạy tại nhiều địa phương nên thuận lợi trong nghiên cứu thực tế và tiến hành phương pháp phỏng vấn khá hiệu quả, thiết thực cho đề tài với nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cấp cơ sở

Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu chung và cụ thể còn có sự kết hợp nhằm đạt mục tiêu đề ra

V GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu phản ứng xã hội có phạm vi nghiên cứu rất rộng cần có

sự phối hợp của nhiều nghành và thời gian nghiên cứu phù hợp

Trang 14

Xuất phát từ thực trạng và yêu cầu quản trị phản ứng xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay, phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc chỉ đề cập đến một loại phản ứng xã hội được xem là bức xúc, nhạy cảm hiện nay, đó là phản ứng - xung đột xã hội, một trong những phản ứng cấp độ cao

Những vụ việc thực tế được dẫn làm minh chứng cho sự phân tích có liên quan đến phản ứng - xung đột xã hội ở khoảng thời gian hai thập niên gần đây

VI Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

6.1 Ý NGHĨA VỀ PHƯƠNG DIỆN LÝ LUẬN Góp phần xây dựng tiêu chí đánh giá phản ứng xã hội - xung đột xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tình hình hiện nay

6.2 Ý NGHĨA VỀ PHƯƠNG DIỆN THỰC TIỄN Góp phần vào việc quản trị các phản ứng xã hội, nhất là quản trị xung đột xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

VII KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Kiến nghị, Tài liệu tham khảo, Nội dung của đề tài được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về phản ứng xã hội Chương 2 Thực trạng phản ứng - xung đột xã hội trong quản lý phát

triển xã hội ở nước ta hiện nay

Chương 3 Tiêu chí đánh giá phản ứng - xung đột xã hội trong quản lý

phát triển xã hội ở nước ta hiện nay

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

đề hình như có tính quy luật: ở nước nào có sự phát triển kinh tế nhanh, chuyển biến xã hội chưa theo kịp với chuyển biến kinh tế thì càng dẫn đến biến động nhanh về kết cấu xã hội, điều chỉnh bố cục lợi ích và thay đổi trong quan niệm tư tưởng dẫn đến nhiều lợi ích, mục đích, giá trị bất tương đồng, đôi khi còn loại trừ nhau và tương ứng với nó càng có nhiều mâu thuẫn, nhiều nguồn phản ứng xã hội tiềm ẩn

Trong khoảng hai thập niên trở lại đây, ở nước ta, phản ứng xã hội biểu hiện ở cấp độ cao - xung đột xã hội có chiều hướng gia tăng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Tình hình trên đang đặt ra cho công tác quản lý

xã hội, quản lý phát triển xã hội những nhiệm vụ mới, phức tạp, nặng nề và khó khăn hơn Chỉ giới hạn trong lĩnh vực quản lý xung đột xã hội không thôi cũng cho thấy nếu thiếu sự hiểu biết khoa học về phản ứng xã hội, nhận diện, đánh giá phản ứng xã hội thiếu chính xác, thiếu sự sáng tạo trong quản lý không thể có hiệu quả cao khi giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn

để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội

1.1.1 Khái niệm phản ứng:

Khi khái quát và làm rõ cơ sở lý luận của phản ứng xã hội và dạng biểu hiện rõ nhất của nó là phản ứng - xung đột xã hội chúng tôi dựa vào nội hàm và đặc tính của phản ánh tâm lý có ý thức của con người

Trang 16

Thuật ngữ phản ứng theo La tinh bao gồm: re - đáp lại, chống lại kết hợp với từ actio - có nghĩa là hành động Kết hợp nghĩa của hai từ trên có thể hiểu phản ứng là hành động đáp lại khi có tác động

Trong Từ điển tiếng Việt của tác giả Minh Tân, Thanh Nghi và Xuân

Lãm, khái niệm phản ứng được thể hiện ở hai nghĩa:

- Ở nghĩa thứ hai bao gồm:

+ Có phản ứng trước một tác động, một sự việc nào đó

+ Có phản ứng trước những kích thích nào đó đối với cơ thể

+ Tham gia vào một phản ứng hóa học1

Trong "Từ điển từ và ngữ Việt Nam" của Nguyễn Lân, khái niệm phản

ứng được hiểu theo các nghĩa sau đây:

+ Chống đối lại một sự việc, một hành động

+ Sự chống lại một việc làm mà mình không tán thành

+ Hiện tượng sinh lý xảy ra sau khi cơ thể bị kích thích

+ Hiện tượng hóa học xảy ra khiến những hóa chất tiếp xúc với nhau

và có tác động qua lại2

Như vậy theo nhận thức chung, hàm nghĩa của khái niệm phản ứng ngoài việc ám chỉ sự đáp lại trước kích thích bên ngoài hay bên trong còn bao gồm các loại hình và mức độ phản ứng (phản ứng hóa học, phản ứng sinh học)

1 Từ điển tiếng Việt, (1998), Nxb Thanh Hóa, tr 914

2 NguyÔn L©n,(2000) Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr 1422

Trang 17

- Phản ứng hóa học là sự chuyển hóa chất này thành chất khác mà nó

có thành phần tính chất khác với chất ban đầu

- Phản ứng sinh học: Phản ứng thích nghi của động vật và của con người bị quy định bởi sự kích thích các bộ phận tiếp nhận và bởi hoạt động của hệ thần kinh trung tâm ở những mức độ khác nhau Ở động vật và người các phản ứng được thể hiện ở hai loại phản xạ: Phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện Hiện tượng hành động tâm lý có bản chất phản xạ đã được chứng minh bởi các nhà sinh lý học nổi tiếng Xê-trô-nốp và I.Ráp-lốp

+ Phản xạ không điều kiện là những phản ứng đáp lại có tính chất bẩm sinh của cơ thể giống nhau ở các cơ thể riêng biệt thuộc cùng một loài

Những phức thể phức tạp và những chuỗi phản xạ không điều kiện được gọi là những bản năng và chúng có được do cơ chế di truyền

+ Phản xạ có điều kiện là những phản ứng mà cơ thể có được trong đời sống để đáp ứng sự kích thích các bộ phận tiếp nhận; ở sinh vật bậc cao

và ở người các phản xạ có điều kiện được hình thành bằng cách tạo nên những dây liên hệ thần kinh tạm thời trong vỏ não và dùng làm cơ chế để thích nghi với những điều kiện thay đổi phức tạp của môi trường bên ngoài1

Khái niệm phản ứng được sử dụng trong đề tài này chính là những phản xạ có điều kiện của các cá nhân, các nhóm xã hội nhằm đáp lại sự tác động từ môi trường tự nhiên và xã hội có liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu của cá nhân hay của nhóm xã hội đó

Trong cuộc sống cá nhân hay nhóm xã hội trước tác động của hiện thực đều có sự phản ứng đáp trả lại mà nó được biểu hiện chủ yếu dưới dạng

Trang 18

Những nghiên cứu về thái độ (phản ứng) của cá nhân và nhóm xã hội hiện rất sớm Ngay từ năm 1918 hai nhà tâm lý học Mỹ là W.I.Thomas và F.Zraiecki đã tìm hiểu sự thích ứng và thái độ của những người nông dân Ba Lan khi họ di cư sang Mỹ Tuy nhiên, những nghiên cứu về thái độ thực sự có

hệ thống chỉ bắt đầu vào những năm 50 của thế kỷ XX dưới góc độ tâm lý học

xã hội Trong các nghiên cứu của M Rokeach (1968), M.P Zanna và J R.Rempell (1988), W.J.Me Guire (1969, 1985) đã đưa ra những quan niệm, làm rõ cấu trúc và chức năng của thái độ.1 Một số lý thuyết khác như " Thuyết bất đồng nhận thức", "Thuyết tự thể hiện", "Thuyết tự tin " cũng đã tập trung nghiên cứu sự hình thành, thay đổi thái độ, các thang độ thái độ2

Những nghiên cứu về thái độ được chú trọng ở Đức, đặc biệt là ở Liên

Xô cũ như: Thuyết định vị của V.A Iadov, Thuyết thái độ nhân cách của V.N.Miaxisev, Thuyết thái độ chủ quan của B.Ph.Lomov và nhất là Thuyết tâm thế của D.N Uzatze3

Trong lý thuyết tâm thế D.N Uzatze đã làm rõ :

- Về khái niệm: Tâm thế là một trạng thái tâm lý hoàn thiện, là tâm trạng của cá nhân trong một hành động nhất định

- Muốn có tâm thế thực hiện hành động thì người đó phải có nhu cầu

về hành động đó và phải ở trong một tình huống tương ứng

- Khi tâm thế xuất hiện ở con người thì những đặc điểm của nhận thức, sự đánh giá và hành vi của người đó đều do tâm thế xác định

- Các nhân tố làm kích thích tâm thế bao gồm:

+ Các nhu cầu của con người + Sự nhận thức về bản thân + Hiện thực vật chất

1 Guire MC, W.J.(1985) Attitudes and Action Change, Handbook of Social Psychology, vol 2, New York

2 Festinger, L.A, (1957), Theory of Conitive Dissonance, Evansnton, III: Row Peterson

3 Xem: S.A.Naddivasnili: Tâm lý học tuyên truyền, Nxb Thông tin lý luận, H, 1984 Bản dịch tiếng Việt

Trang 19

+ Những yêu cầu xã hội: môi trường văn hóa và xã hội, các nhóm xã hội riêng biệt, các nhóm chuẩn nhỏ mà cá nhân đang sống

- Chức năng của tâm thế là lựa chọn từ môi trường xung quanh con người và từ nhận thức, cảm xúc, kinh nghiệm của những khách thể cần thiết cho việc thực hiện hành vi

- Tâm thế có tính hai mặt - con người có thái độ khẳng định hay phủ định đối với những khách thể Thái độ này có tính chất tình huống, thời điểm song nó cũng có thể định hình và ổn định

- Các thành phần của tâm thế gồm: nhận thức, xúc cảm - tình cảm và hành vi Trong ba thành phần trên, hành vi là hình thức biểu hiện cụ thể nhất của thái độ

- Khái niệm tâm thế được hiểu đồng nghĩa với khái niệm thái độ (attitude)

Từ những điều đã phân tích và khái quát ở trên có thể đi đến lựa chọn quan niệm về phản ứng như sau:

Phản ứng là thái độ (attitude) hay tâm thế của cá nhân mà biểu hiện

cụ thể nhất của nó là hành vi đáp trả lại tác động của hiện thực dưới hình thức khẳng định hay phủ định khi những tác động đó có liên quan đến việc thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu của cá nhân đó

1.1.2 Khái niệm phản ứng xã hội:

Từ việc khái quát và làm rõ khái niệm phản ứng có thể hiểu khái niệm phản ứng xã hội như sau:

Phản ứng xã hội là sự đáp trả lại của các cá nhân trong mỗi nhóm xã hội, giữa các nhóm xã hội và xã hội nói chung dưới dạng cụ thể, nhất là hành

vi trước tác động nào đó của hiện thực dưới hình thức khẳng định hay phủ định những tác động đó có liên quan tới việc thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu của họ

Phản ứng xã hội dưới dạng hành vi xã hội - hành vi của nhiều người thông thường là hành vi có mục đích, có ý thức Khuynh hướng, tính chất,

Trang 20

mức độ của các phản ứng xã hội dưới dạng hành vi xã hội phụ thuộc vào mức

độ nhận thức, cảm xúc của các chủ thể và tình huống hiện thực

Những nghiên cứu của các nhà tâm lý học như M.Smith - người Mỹ, năm 1942, Fishbein và Ajzen (1975), Rokeach (1968), Đ.N Uznatze (1950), S.A.Nadirasvili (1980) đã chỉ ra rằng hành vi của các cá nhân hay hành vi của nhóm diễn ra như thế nào trước tiên phụ thuộc vào sự nhận thức (quan điểm),

sự hiểu biết về đối tượng gây ra phản ứng và xúc cảm, tình cảm (sự hài lòng hay bực tức, đồng tình hay phản đối, quan tâm hay thờ ơ ) của các chủ thể hành vi Nhận thức, cảm xúc, hành vi của các chủ thể hành động hay ở mỗi cá nhân có mối liên hệ, tác động lẫn nhau Thí dụ: một người có hành vi đạo đức đúng đắn thì thường người đó có nhận thức, tình cảm đạo đức đúng về đối tượng đó Tuy nhiên, trong cuộc sống của con người mối quan hệ giữa ba mặt trên không phải lúc nào cũng như vậy Có người có hành vi đạo đức đúng đắn song chính người đó chưa chắc đã có nhận thức đầy đủ, sâu sắc về đối tượng hay ngược lại

1.1.3 Khái niệm xung đột xã hội:

Xung đột xã hội xuất hiện rất sớm trong xã hội loài người Từ xã hội nguyên thủy, trong quá trình hoạt động chung của nhóm, xung đột đã xuất hiện ở mức độ khác nhau Đến khi xã hội có giai cấp, có nhà nước, xung đột

xã hội đã phát triển đa dạng về hình thức và chủng loại trở thành vấn đề trọng tâm trong quản lý xã hội Như vậy về mặt khách quan, xung đột xã hội là hiện tượng bình thường trong bất kỳ cơ cấu xã hội nào, nó là điều kiện tất yếu của

sự phát triển xã hội

Cho đến nay xung đột xã hội đã được nhiều khoa học quan tâm nghiên cứu như: xã hội học, tâm lý học xã hội và đôi khi còn cả ở bình diện triết học, kinh tế - chính trị học Có thể khái quát một số quan điểm về xung đột như sau:

- Thời cổ đại, các nhà triết học mà tiêu biểu là Heerraclit dựa trên hệ thống những quan niệm chung về thế giới quan cho rằng các cuộc chiến tranh

Trang 21

và xung đột là quy luật thống trị trên hành tinh, là thuộc tính quan trọng và tất yếu của đời sống xã hội

- Thời cận đại, các nhà tư tưởng như J.J.Russo, I Kant cũng đã chú trọng đến xung đột xã hội và cho rằng sự đồng thuận giữa mọi người giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển xã hội; các ông phê phán chiến tranh và những hiện tượng nổi loạn ở thời kỳ đó Heghen cũng nói đến vai trò của chiến tranh đối với sự phát triển xã hội

- Những nghiên cứu về xung đột xã hội ở phương Tây từ giữa thế kỷ XIX đến những thập niên đầu thế kỷ XX trên phương hướng có tính phương pháp luận của chủ nghĩa Darwin về xã hội và sự phát triển của các khoa học như xã hội học, chính trị học, luật học đã rút ra những luận điểm hiện đại về xung đột xã hội như:

+ Xung đột xã hội là hiện tượng xã hội bình thường bởi vì trong bản chất con người luôn chứa đựng những yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội làm nảy sinh xung đột xã hội

+ Xung đột xã hội có vai trò tích cực đối với quá trình phát triển xã hội + Sự mâu thuẫn giữa số ít những người thống trị với số nhiều những người bị thống trị làm phát sinh các va chạm, mâu thuẫn và xung đột xã hội

+ Có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa sự thay đổi trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội với các tình huống xung đột

+ Những xung đột xã hội nếu được nhận diện đúng, giải quyết tốt sẽ tạo ra sự cân bằng nhất định về mặt xã hội

Từ những năm 60 của thế kỷ XX trở lại đây, vấn đề xung đột xã hội

đã được quan tâm nghiên cứu không chỉ ở phương Tây, mà còn ở nhiều nước trên thế giới từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng cơ bản nhất vẫn là cách tiếp cận xã hội học Các lý thuyết về xung đột xã hội của xã hội học và tâm lý học xã hội như: lý thuyết vai trò, lý thuyết tiếp biến văn hóa, lý thuyết trung tâm - ngoại vi, lý thuyết xã hội nhiều thể chế1, có thể khái quát như sau:

1 Vũ Quang Hà: Xã hội học đại cương, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2002, tr 122 - 123

Trang 22

- Xung đột xã hội là sự mâu thuẫn xã hội căng thẳng nhất thể hiện sự xung khắc giữa các cộng đồng xã hội khác nhau - các giai cấp, các chủng tộc, các quốc gia, các nhóm xã hội, các thiết chế xã hội do sự đối lập hoặc sự khác biệt đáng

kể về lợi ích, mục đích, khuynh hướng phát triển của chúng quyết định

- Xung đột xã hội là sự đụng độ trực tiếp hay gián tiếp của lực lượng

xã hội trên cơ sở phản kháng hay ủng hộ trật tự xã hội hiện tại, là hình thức đặc biệt về mặt lịch sử của sự thống nhất mới về mặt xã hội

- Xung đột xã hội là tình huống khi hai bên tác động lẫn nhau, theo đuổi những mục đích nào đó của mình và những mục đích đó độc lập hoặc loại trừ nhau1

- Xung đột xã hội được hiểu là tình huống hoặc quá trình xã hội mà trong đó tồn tại các mâu thuẫn về lợi ích giữa các cá nhân trong mỗi nhóm xã hội, giữa các nhóm xã hội và xã hội nói chung, thể hiện bằng sự đối lập, sự bất đồng, sự tranh chấp do khác nhau về nhận thức, thái độ, cảm xúc, nhu cầu, giá trị, mối quan tâm về nguồn lực tài nguyên - xã hội và đôi lúc được thể hiện bằng cả hành vi đụng độ, thù địch2

Từ các quan niệm dẫn ra ở trên cho thấy quan điểm tiếp cận chung về xung đột xã hội là định nghĩa nó thông qua mâu thuẫn với tư cách một khái niệm chung và trước hết là thông qua mâu thuẫn xã hội Song cần phải chú ý rằng mâu thuẫn xã hội và xung đột xã hội không phải là hai khái niệm đồng nghĩa Sự mâu thuẫn, sự đối lập là điều kiện cần nhưng chưa phải là đủ của xung đột Mâu thuẫn xã hội chỉ chuyển thành xung đột xã hội khi những lực lượng đại diện cho chúng bắt đầu tác động đến nhau

Tóm lại, có thể hiểu xung đột xã hội là sự biểu hiện đối đầu công khai

của những mâu thuẫn xã hội khách quan hoặc chủ quan phản ánh sự đối lập

1 Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2010) Xung đột xã hội - một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam , Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010, tr 31 - 32

2 Phan Tân: Xung đột xã hội và đất đai ở nông thôn thời kỳ đổi mới ( trường hợp tỉnh Hà Tây cũ), Nxb Công

an nhân dân, Hà Nội, 2009, tr 21

Trang 23

giữa các chủ thể và những người tham gia vào tương tác xã hội mà nguyên nhân là sự bất đồng về nhu cầu, lợi ích và giá trị

Từ những luận giải trên và yêu cầu quản lý phát triển xã hội trong tình hình thực tế nước ta hiện nay, đề tài lựa chọn quan điểm nghiên cứu như sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận về phản ứng xã hội

- Nhận diện ( qua phân loại) các hình thức phản ứng xã hội

- Từ thực trạng phản ứng - xung đột xã hội đề xuất hệ tiêu chí đánh giá phản ứng - xung đột xã hội, kiến nghị một số vấn đề về quản trị phản ứng

- xung đột xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay

1.2 P HÂN LOẠI CÁC HÌNH THỨC PHẢN ỨNG XÃ HỘI Phản ứng xã hội là một dạng phản ứng của con người trước tác động trái chiều ảnh hưởng đến lợi ích, nhu cầu xã hội về nguồn lực; trước sự đe dọa

có thể thay đổi nhận thức giá trị, niềm tin xã hội đang tuân thủ

Cơ sở để phân loại các hình thức phản ứng xã hội xuất phát từ những quan niệm cơ bản sau:

- Phản ứng xã hội là hiện tượng xã hội khách quan, giải quyết quan

hệ xã hội trung tâm là lợi ích, hợp thành bản chất của mọi xã hội, chứ không phải là một hiện tượng " lệch chuẩn xã hội" hay "hiện tượng bệnh lý"

- Phản ứng xã hội là biểu hiện mối quan hệ giữa các chủ thể khi giải quyết quan hệ lợi ích mâu thuẫn nhau

- Khi phản ứng xã hội trở thành tiêu điểm, gây căng thẳng cho xã hội thì nó sẽ trở thành vấn đề xã hội và được các cơ quan công quyền, người dân quan tâm

- Hành động xã hội là một bộ phận cấu thành hoạt động mang tính xã hội của các cá nhân, nhóm Trong phản ứng xã hội, hành động xã hội là để giải quyết các mâu thuẫn xã hội, các vấn đề nảy sinh của cá nhân, nhóm xã hội

- Nếu mâu thuẫn xã hội là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập của xã hội thì phản ứng xã hội là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập của xã

Trang 24

hội; và ở mặt nào đó, phản ứng xã hội là một phương thức giải quyết mâu thuẫn xã hội

Về cơ bản, có 2 cách phân loại các hình thức phản ứng xã hội:

1.2.1 Phân loại phản ứng xã hội theo hình thức biểu hiện:

Phản ứng xã hội được biểu hiện ở hai cấp độ: Cấp độ thấp và cấp độ cao

- Ở cấp độ thấp người ta thường sử dụng cách thức trao đổi, thương

lượng, thảo luận, thỏa thuận để tránh những phản ứng không đáng có hoặc phản ứng ở dạng bất cần hoặc sợ hãi

Ở cấp độ thấp, phản ứng xã hội chúng ta có thể thường thấy đó là sự e ngại của người dân trước một hiện tượng xã hội như: thực phẩm nhiễm bệnh thì họ sẽ phản ứng bằng cách ngờ vực, sợ hãi và tẩy chay Trước người có hành vi xấu thì họ không quan hệ, bất hợp tác hoặc bất cần Có những loại phản ứng phụ thuộc vào hoàn cảnh nhất định như, một người uống rượu vào buổi tối trước khi đi ngủ được cộng đồng cho là bình thường, nhưng anh ta uống đều các buổi sáng, buổi trưa thì cộng đồng có thể cho là anh ta " nghiện rượu", " nát rượu" Cao hơn một chút, đứng trước một chính sách được ban ra không phù hợp thì nhiều người phản ứng bằng cách " lách luật", lợi dụng sự

sơ hở nào đó để không chịu ảnh hưởng

- Ở cấp độ cao phản ứng xã hội thể hiện ở các dạng thức như sau:

khiếu nại, tố cáo, đình công, biểu tình, phản đối, ngăn cản, phá hoại, lật đổ

Phản ứng ở cấp độ cao, có thể xem xét theo mối liên hệ đan cài nhau: biểu tình - phản biện - phản đối - xung đột

Biểu tình và phản biện là hai cấp độ phản ứng xã hội đối với chính

sách Biểu tình là phản ứng trực tiếp của người dân, phản biện là phản ứng của bộ phận điều tra chuyên nghiệp về các "cơn đau" của xã hội đối với các tác động khác nhau của chính sách trên báo chí hoặc dưới hình thức tuyên truyền nào đó về một vấn đề xã hội Hoạt động phản biện được thực hiện để

có được cái nhìn nhiều chiều, cái nhìn đối trọng với mong muốn vấn đề xã hội

sẽ tốt hơn lên, khoa học, công khai, minh bạch hơn Nếu không có phản biện

Trang 25

có nghĩa là con người mặc nhiên hành động mà không cần đếm xỉa đến sự xác nhận của xã hội về tính phù hợp, tính đúng đắn của hành động đó

Phản đối và phản biện xã hội là hai cách thể hiện những trạng thái

chính trị khác nhau của xã hội đối với nhà nước Phản biện là hoạt động thân thiện, là hoạt động có trách nhiệm, là sự kết hợp giữa trí tuệ xã hội với trí tuệ của hệ thống chính trị để tạo ra tính chính xác, tính đúng đắn của các quyết định chính trị Còn phản đối là các phản ứng cực đoan ở những cấp độ khác nhau, cùng phát triển với sự sai lầm của các quyết định chính trị

Phản đối là loại phản ứng xã hội bao gồm: biểu tình, xung đột và nếu đạt đến mức cao nhất là cách mạng xã hội, thay đổi chế độ

Biểu tình và xung đột ở mức độ thấp có chức năng điều chỉnh xã hội

nhưng khi sự uất ức tồn tại dồn nén bên trong lòng xã hội đạt đến cao trào, đi quá giới hạn chịu đựng của nó thì dễ xảy ra cách mạng xã hội, lúc này, chính các tác nhân, các nhà chính trị khai thác và tổ chức sẽ trở thành các cuộc cách mạng chính trị

Với mục đích ổn định xã hội và quản lý xã hội, trong các nghiên cứu

xã hội học thì chú trọng cấp độ cao của phản ứng xã hội Các dạng thức của phản ứng xã hội ở cấp độ cao được quy định thành các xung đột xã hội Đây cũng là lý do vì sao trong xã hội học người ta chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của xung đột xã hội chứ ít chú ý nghiên cứu phản ứng xã hội dưới góc độ xã hội học

1.2.2 Phân loại phản ứng xã hội theo lĩnh vực (nội dung):

Có thể kể 3 cách phân loại sau đây:

1.2.2.1 Phân loại phản ứng xã hội dựa vào cách tiếp cận hệ thống:

Xã hội tồn tại với tư cách là một hệ thống, song điểu đó không có nghĩa hệ thống đó có tính cố định, bất biến mà luôn có sự thay đổi thành phần hay toàn bộ hệ thống Vì thế có thể phân loại phản ứng xã hội thành:

- Phản ứng xã hội về cấu trúc

- Phản ứng xã hội về chức năng

Trang 26

- Phản ứng xã hội bên trong hệ thống

- Phản ứng xã hội bên ngoài hệ thống

1.2.2.2 Phân loại phản ứng xã hội dựa vào lĩnh vực thể hiện phản ứng:

Xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Vì thế có thể phân loại phản ứng xã hội thành:

- Phản ứng xã hội về vấn đề kinh tế

- Phản ứng xã hội về vấn đề chính trị

- Phản ứng xã hội về vấn đề văn hóa

- Phản ứng xã hội về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng

- Phản ứng xã hội về vấn đề môi trường

1.2.2.3 Phân loại phản ứng xã hội dựa vào các tiêu chí khác:

- Theo số lượng và thành viên tham gia

- Theo mức độ phản ứng

- Theo động cơ phản ứng

- Theo độ dài thời gian diễn ra phản ứng

- Theo nguồn phản ứng (vật chất, tinh thần)

- Theo chủ đề

- Theo mức độ đối kháng

Trong đề tài, việc nghiên cứu để nhận diện phản ứng xã hội ở cấp độ ( hình thức)phản ứng - xung đột xã hội và theo lĩnh vực thể hiện (lợi ích, tôn giáo tín ngưỡng, tộc người, văn hoá)

1.3 CHỨC NĂNG CỦA PHẢN ỨNG XÃ HỘI Phải thừa nhận rằng, trong bất cứ tổ chức nào đều có một vài sự mâu thuẫn - xung đột, bởi đấu tranh vốn dĩ là vì sự sống còn của tổ chức Mọi tổ chức đều tồn tại trong một môi trường mà đòi hỏi cá nhân, nhóm phải cạnh tranh vì nguồn lực có hạn Thậm chí, trong những nhóm thân cận, vốn có truyền thống hợp tác phát triển, đến một lúc nào đó nguồn lực cũng hạn chế, khan hiếm thì phản ứng - xung đột có thể xảy ra ở một mức độ nào đó, bất chấp việc các thành viên cố gắng hợp tác để phân phối nguồn lực như thế nào

Trang 27

Hơn nữa, không phải tất cả phản ứng - xung đột đều là xấu bởi vì một vài tình huống phản ứng - xung đột còn tạo ra những kết quả tích cực mà một bên chủ thể đã theo đuổi

Phản ứng - xung đột xã hội là khách quan, là điều kiện tất yếu của sự phát triển xã hội Chính vì thế phản ứng - xung đột xã hội có hai chức năng cơ bản là tích cực và tiêu cực Thực tế cho thấy tác động tích cực hay tiêu cực của phản ứng - xung đột xã hội phần nhiều xuất phát từ chế độ xã hội và hiệu quả quản lý phản ứng - xung đột

1.3.1 Chức năng tích cực của phản ứng xã hội:

Trong một xã hội dân chủ, công bằng, công khai với cấu trúc cởi mở phản ứng xã hội có một số chức năng tích cực sau1:

- Phản ứng xã hội làm bộc lộ và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quan hệ con người và nhờ đó góp phần phát triển xã hội

- Trong xã hội cởi mở, phản ứng xã hội thực hiện các chức năng làm

ổn định và liên kết các quan hệ trong nội bộ tập đoàn và giữa các tập đoàn, làm giảm sự căng thẳng xã hội

- Phản ứng xã hội làm tăng cường lực của các mối giao kết và quan

hệ, kích thích các quá trình xã hội, đem lại cho xã hội tính năng động, khuyến khích sáng tạo và đổi mới, góp phần cho tiến bộ xã hội

- Khi ở trạng thái xung đột mỗi cá nhân ý thức rõ hơn về lợi ích của mình cũng như lợi ích đối lập với họ; nhận biết đầy đủ hơn sự tồn tại những vấn đề khách quan và các mâu thuẫn của sự phát triển xã hội

- Phản ứng xã hội góp phần tiếp nhận những thông tin về môi trường

xã hội xung quanh, về mối quan hệ qua lại giữa các tiềm năng lớn mạnh của cạnh tranh thông tin

- Phản ứng xã hội - nhất là phản ứng xã hội ở cấp độ cao - xung đột: xung đột nội bộ (trong tổ chức, xã hội) sẽ góp phần hình thành và duy trì thế cân bằng lực lượng; giám sát xã hội việc tuân thủ các quy phạm, quy tắc, giá

1 Xem Vũ Quang Hà: Xã hội học đại cương, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2002, tr 121 - 122

Trang 28

trị chung; góp phần đổi mới các quy phạm, quy tắc, giá trị chung, tạo ra sự thích ứng xã hội; tạo nên sự hài hòa, đồng thuận; bộc lộ những cá nhân (thủ lĩnh) trong các nhóm phi chính thức

Chức năng tích cực (có nhà nghiên cứu gọi là tính chức năng) của

phản ứng xã hội thể hiện qua mục đích thiết lập sự thống nhất hoặc tái lập thống nhất nội bộ nhóm ( kỷ cương, trật tự) vốn đã bị đe dọa bởi những mâu thuẫn xuất hiện, tồn tại giữa các thành viên Bên cạnh thiết lập sự thống nhất

và tái thống nhất của nhóm, phản ứng xã hội điều chỉnh lại những quan hệ quyền lực và chuẩn mực đã được thỏa thuận giữa các cá nhân trong nhóm hoặc giữa các nhóm, đồng thời tăng cường tính đoàn kết nhóm trên cơ sở các khuôn mẫu( chuẩn mực) đã được điều chỉnh hoặc khuôn mẫu mới vừa được tạo ra Phản ứng xã hội là cơ chế cho sự điều chỉnh những khuôn mẫu thích

hợp với điều kiện mới - các chính sách xã hội thay đổi kịp thời, hợp lý hơn

Các phản ứng - xung đột nhỏ, nhanh kết thúc còn liệu pháp tâm lý giúp người

ta giải tỏa, xua đi lực nén, và như vậy, tránh được việc tạo nên tình trạng căng thẳng cao hơn, cho ta một lời cảnh báo: đừng để những sự việc nhỏ tích tụ, thành sự việc lớn làm cho việc khắc phục mất nhiều công sức và hậu quả tiêu cực của phản ứng - xung đột khó dứt trong một thời gian ngắn

1.3.2 Chức năng tiêu cực của phản ứng xã hội:

Phản ứng xã hội, nhất là xung đột xã hội dễ dẫn đến tình trạng lộn xộn

và mất ổn định xã hội khi:

- Tranh chấp được tiến hành bằng phương pháp bạo lực

- Hậu quả xung đột gây ra tổn thất lớn về vật chất, tinh thần

- Xuất hiện mối đe dọa đến đời sống và sức khỏe con người

- Có sự khích động, can thiệp của các thế lực thù địch

Việc nhìn nhận mặt tiêu cực của phản ứng xã hội( có nhà nghiên cứu

gọi là tính phản chức năng) cần khách quan, khoa học, tránh tình trạng cứ

xem phản ứng - xung đột là tiêu cực, là xấu dẫn đến khi giải quyết phản ứng - xung đột bằng phương pháp đàn áp, cứng rắn, cực đoan để " ổn định xã hội",

Trang 29

điều chỉnh khuôn mẫu, chuẩn mực, bóp chết " cảnh báo tích cực" sẽ là nguy hiểm khó lường

Tác động của phản ứng xã hội trong quản lý xã hội nói chung, quản lý phát triển xã hội nói riêng cũng được thể hiện do 2 chức năng nói trên của phản ứng xã hội

Trang 30

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHẢN ỨNG - XUNG ĐỘT XÃ HỘI TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 NHẬN DIỆN CÁC HÌNH THỨC PHẢN ỨNG - XUNG ĐỘT XÃ HỘI

2.1.1 Phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột lợi ích:

Trong xã hội loài người, lợi ích là cái mà mỗi cá thể đều hướng tới trong tất cả các quan hệ Lợi ích thúc đẩy các hoạt động khác, và mỗi cá thể đều thể hiện tính lợi ích của mình thông qua mục đích và ý chí hành động

Albion Woodbury Small, nhà xã hội học Hoa Kỳ, đã đưa ra lý luận về quá trình xã hội, lấy “lợi ích” làm khái niệm cơ bản Theo đó lợi ích vừa là nhu cầu, vừa là ước muốn của con người Toàn bộ đời sống của cá nhân, đời sống xã hội là quá trình phát triển, thích ứng và thoả mãn các lợi ích

Nguồn gốc của xung đột, suy cho cùng là vì lợi ích (lợi ích chính trị, kinh tế…) Xung đột lợi ích là trường hợp hai hay nhiều nhóm lợi ích trái ngược cạnh tranh để tồn tại1

Trong đề tài, phạm vi nghiên cứu tập trung vào các phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột lợi ích kinh tế

Mọi chủ thể trong các quan hệ kinh tế, xã hội đều mang những tư lợi nhất định, có thể là lợi ích vật chất hoặc một dạng lợi ích khác như thăng tiến trong công việc, khả năng có mối hàng, khả năng có một vị trí lãnh đạo… Theo đuổi tư lợi là một điều hoàn toàn bình thường, nếu không có sự đối lập với yếu tố thứ hai, đó là trách nhiệm được uỷ thác Khi đó sẽ xuất hiện xung đột lợi ích Đây là một sự mẫu thuẫn mang tính đối kháng, một trong hai yếu

tố sẽ phải điều chỉnh để yếu tố còn lại tồn tại, phát triển hoặc cả hai phải dung hoà, biến đổi sang một trạng thái khác để cùng tồn tại Sự điều chỉnh của hai

1 Xem thêm Trần Văn Long: “Bàn về xung đột lợi ích”, trên trang http://www.giri.ac.vn

Trang 31

yếu tố trong quan hệ xung đột lợi ích sẽ ảnh hưởng tới việc thực thi trách nhiệm được uỷ thác Việc điều chỉnh này mang tính bắt buộc và hệ quả là trách nhiệm uỷ thác được thực thi theo hướng tiêu cực hay đúng đắn, khách quan

Môi trường phát sinh các xung đột lợi ích rất đa dạng, không chỉ nảy sinh giữa các cá nhân, cơ quan, doanh nghiệp… với các quan hệ bên ngoài mà còn mang tính nội tại, trong bản thân mỗi cá nhân, tổ chức

Trong thực tế, khi có xung đột lợi ích thì những người hoặc nhóm những người thiệt thòi về lợi ích có thể có phản ứng như bất mãn, âm thầm chịu đựng, mất dần niềm tin, phản ứng một cách tự phát và phản ứng bằng các hình thức ở cấp độ cao - xung đột, ví dụ như các hình thức phản ứng (mà đề tài tập trung nghiên cứu) sau đây:

Thứ nhất, khiếu nại và khiếu kiện của dân xuất phát từ xung đột lợi

ích về đất đai

Thứ hai, đình công, bãi công của công nhân trong các doanh nghiệp,

các khu công nghiệp đòi cải thiện điều kiện làm việc, tăng lương, công bằng

và các lợi ích hợp pháp với các doanh nghiệp, chủ đầu tư sản xuất

Thứ ba, phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột lợi ích về vấn đề môi

tiền bạc (nếu mua bán, chuyển nhượng) giá trị đất đai thay đổi, nó trở thành đối tượng, mục tiêu của cạnh tranh, xung đột Các xung đột liên quan đến đất

đai có nguyên do: từ diện tích đất để hoang hoá trong chiến tranh, đất hưu canh, đất xáo trộn chuyển đổi trong quá trình gia nhập vào hợp tác xã, tập

đoàn sản xuất; do tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ như hiện nay

Trang 32

thì nguồn vốn từ đất cho xây dựng cơ sở hạ tầng đã phải sử dụng một diện tích rất lớn đất sản xuất nông nghiệp, vì vậy cùng với mục đích đòi đền bù, đòi hỗ trợ kinh tế qua thu hồi đất là các mục đích đòi công bằng trong phân chia quyền lợi cho tập thể, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp; một phần còn do chính sách của Nhà nước và việc thực hiện chính sách của Nhà nước trong nông nghiệp và nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Theo báo cáo của cơ quan quản lý, tổng số vụ khiếu nại, tố cáo, tranh chấp, xung đột ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xảy ra từ năm 1988-2005 là 198.632 vụ1 Số vụ xung đột liên quan đến đất đai chiếm 62,7%, các xung đột

có tính chất dân tộc, tôn giáo chiếm 0,9% và 2,3%; xung đột vì vi phạm chính sách, tham nhũng 6,1%; ngoài ra là các xung đột khác liên quan đến các bản

án dân sự, hình sự, các xung đột vì tư thù cá nhân, xung đột giá trị văn hoá, lối sống

Trong năm 2010, cả nước phát sinh 112.063 vụ khiếu nại, tố cáo, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó 70% vụ việc xảy ra trong lĩnh vực đất đai, gần 5% vụ việc liên quan nhà ở, đòi nhà cho thuê mượn, nhà thuộc diện cải tạo, còn nữa là các vụ việc liên quan đến hoạt động tư pháp, khiếu nại, tố cáo khác2

Kết quả khảo sát tại các thành phố Lạng Sơn, Nam Định, Huế và Thủ Dầu Một của Viện Konrad Adenauer và Hiệp hội Các đô thị Việt Nam cho thấy hai điểm mấu chốt trong xung đột giữa chính quyền và người dân về vấn

đề giải phóng mặt bằng là: khác biệt trong quan điểm về giá trị trên thị trường của tài sản đang được bàn đến và các vấn đề về tái định cư Người dân có quyền được đền bù nhà/tài sản có giá trị tương đương hoặc cao hơn nhưng hiếm khi có những tài sản như vậy tại thời điểm giải phóng mặt bằng

1 Phan Tân, Xung đột xã hội về đất đai ở nông thôn thời kỳ đổi mới (trường hợp tỉnh Hà tây cũ), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009, tr 110

2 Báo cáo của Chính phủ về công tác dân nguyện và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm 2010,

tại Phiên họp thứ 35 UBTVQH khóa XII

Trang 33

Những khó khăn, vướng mắc liên quan đến các vấn đề trên biểu hiện ở việc xác định diện tích, vị trí và phân loại đất (đất ở/đất vườn/đất nông nghiệp; đất hợp pháp và không hợp pháp; đất trong và ngoài đô thị ); việc xác định giá trị tài sản trên đất và di chuyển mồ mả; xác định giá đền bù; bố trí chỗ ở mới Trong đó, giá đất đền bù thấp (so với giá thị trường) được đề cập đến nhiều nhất1 Những tỉnh, thành phố có khiếu nại về đất đai chiếm số lượng rất lớn như: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Tây, Thái Bình, Cần Thơ, Hải Dương, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng

Tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp của công dân trong lĩnh vực đất đai diễn ra gay gắt, phức tạp ở hầu hết các địa phương trong cả nước, nhiều nơi đã trở thành điểm nóngg Số lượng đơn thư vượt cấp gửi đến các cơ quan ở Trung ương nhiều, nội dung thể hiện tính bức xúc gay gắt, không chấp nhận với cách giải quyết của chính quyền địa phương Số lượng công dân đến khiếu nại trực tiếp tại phòng tiếp công dân của các địa phương, các cơ quan ở Trung ương hàng năm cao Nhiều vụ việc công dân tụ tập thành đoàn, đi xe, căng cờ, biểu ngữ kéo đến các cơ quan chính quyền, Đảng,… nhằm gây áp lực đòi được giải quyết quyền lợi theo yêu cầu Số lượng công dân tập trung đông chủ yếu ở các kỳ họp Hội đồng nhân dân, Quốc hội, Đại hội Đảng, có nơi huy động thương binh, phụ nữ, người già, trẻ em bao vây trụ sở chính quyền xã, huyện, tỉnh, doanh nghiệp gây mất trật tự, an toàn xã hội

Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường:

- Hàng năm, Bộ nhận được gần 10.000 lượt đơn tranh chấp, khiếu nại,

tố cáo thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường của công dân 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó đơn thuộc lĩnh vực đất đai chiếm 98,6% tổng số đơn Các địa phương có nhiều đơn gửi đến Bộ Tài nguyên và Môi

1 Xem trang giai.htm

Trang 34

http://vneconomy.vn/20100108024042234P0C17/giai-phong-mat-bang-se-khong-con-nan-trường là thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Cần Thơ, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Đồng Tháp, Bến Tre, Bình Thuận, Đồng Nai, Kiên Giang và Tây Ninh (bình quân mỗi địa phương có gần 500 lượt đơn thư/năm)

- Tổng số đơn Bộ nhận được từ 63 tỉnh, thành phố trong 5 2008) là 47.652 lượt (bình quân gần 8.000 lượt/năm và riêng năm 2008 là 7.005)

Các vụ việc thuộc thẩm quyền của Bộ tập trung nhiều vào các năm

2003 và 2004 với tổng số 682 vụ (chiếm 69,2%)

- 6 tháng đầu năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nhận được 3.470 lượt đơn thư khiếu nại về đất đai, trong đó có 1.723 đơn thư có liên quan đến những vấn đề như: Tranh chấp đất giữa cá nhân và cá nhân (280 đơn, chiếm 16,25%); Khiếu nại về giá bồi thường khi thu hồi đất (508 đơn, chiếm 29,48%); Khiếu nại cấp, thu hồi Giấy chứng nhận (214 đơn, chiếm 12,42%)

Nhìn chung, trong năm 2008 và 6 tháng đầu năm 2009, số lượng đơn thư Bộ nhận được giảm khá nhiều so với cùng kỳ, tuy nhiên:

* Tình trạng đơn thư tập thể, khiếu nại đông người, khiếu kiện vượt cấp vẫn còn nhiều, gây khó khăn phức tạp cho việc giải quyết và mất nhiều thời gian cho công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo

Trong 84 đơn khiếu nại tập thể các tỉnh, thành phố phía Nam có nhiều

vụ việc nhất (chiếm 85,6%) Một số địa phương phía Nam có đơn thư tập thể là: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Cần Thơ, Long An, Đồng Nai, Cà Mau, An Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Bà Rịa - Vũng Tàu và Kiên Giang

Một số vụ việc khiếu nại điển hình là: Các hộ dân đồng bào dân tộc thiểu số Khmer ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên (tỉnh An Giang) đòi lại đất trước đây của các hộ do chiến tranh biên giới nên phải di dời nay người khác

sử dụng; các hộ dân ở thành phố Hồ Chí Minh khiếu nại việc thu hồi đất và sử dụng đất tại dự án khu đô thị mới Thủ Thiêm; khiếu nại của các hộ dân ở thành phố Cần Thơ liên quan đến quy hoạch tại khu vực Cồn Cái Khế; Các số

Trang 35

hộ dân đòi lại đất hiện do Công ty Cao su Tân Biên, Nhà máy đường Nước Trong (tỉnh Tây Ninh) đang sử dụng; Các hộ dân tại xã An Tây, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương khiếu nại việc thu hồi đất trồng cao su; Công dân ở phường Phước Thới, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ khiếu nại việc thu hồi đất để xây dựng trung tâm điện lực Ô Môn; Các hộ dân khiếu nại việc thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp Tân Phú Trung, thành phố Hồ Chí Minh; Khiếu nại của các hộ dân Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến việc thu hồi đất để thực hiện dự án Khu công nghệ cao; khiếu nại của 684 hộ dân liên quan đến việc thu hồi đất để thực hiện dự án mở rộng Quốc lộ 1A, dự án đuờng cao tốc Trung Lương, dự án khu công nghiệp Tân Hương và dự án đường dây 500 KV Nhà Bè - Ô Môn (tỉnh Tiền Giang)

* Nội dung và mức độ của những phản ứng dưới hình thức khiếu nại,

tố cáo

Tập trung vào việc bồi thường giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư, đòi lại đất cũ và tranh chấp quyền sử dụng đất, giá đất Nhiều vụ việc khiếu nại, khiếu kiện thành các đoàn đông người, có sự liên kết với người ở các địa phương khác, đưa đơn thư vượt cấp, tụ tập trước cửa các cơ quan trung ương, nhà riêng của các đồng chí lãnh đạo tỉnh, Trung ương gây sức ép đòi được giải quyết quyền lợi Thậm chí còn có tình trạng chống đối, không thực hiện các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đập phá phương tiện và chống người thi hành công vụ v.v Có trường hợp khiếu kiện đã được các cấp, ngành ở địa phương, Trung ương giải quyết phù hợp với quy định của pháp luật, có lý, có tình nhưng công dân vẫn cố tình khiếu kiện kéo dài tới vài

ba năm

* Một số vụ việc khiếu nại, tố cáo còn có nội dung tố cáo cán bộ thực hiện sai quy định của Nhà nước về đất đai như: lợi dụng chức vụ, quyền hạn

để trục lợi trong việc thu hồi đất, giao đất, đấu giá quyền sử dụng đất để đầu

tư xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh doanh nhà ở; lợi dụng thu hồi đất của nông dân để chia cho cán bộ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao chiếm ruộng đất,

Trang 36

lập trang trại; khai tăng diện tích, sai vị trí đất để tham ô Tố cáo chính quyền địa phương (chủ yếu là cấp xã) giao đất trái thẩm quyền, giao đất không đúng diện tích được phê duyệt theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giao sai vị trí, diện tích, không đúng quy hoạch, thu tiền đất vượt nhiều lần so với quy định của Nhà nước, sử dụng tiền thu từ đất không đúng chế độ tài chính Tố cáo chính quyền địa phương quản lý, sử dụng quỹ đất công ích (5%) sai mục đích, sai quy định của pháp luật, cho thuê, đấu thầu lâu năm thu tiền chi tiêu riêng, để diện tích đất công ích vượt quá 5% Có nhiều đơn tố cáo cán bộ nhũng nhiễu, đòi hối lộ trong việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

* Một số vụ khiếu nại, khiếu kiện về đất đai bị một số phần tử xấu kích động làm cho tình hình phức tạp thêm

Dưới đây là một số vụ việc và việc giải quyết các vụ việc phản ứng liên quan đến vấn đề đất đai:

1 An Cư là xã ĐBKK thuộc huyện biên giới Tịnh Biên, tỉnh An Giang, có 2.324

hộ/12.218 khẩu, trong đó 85% là người Khmer Mấy năm vừa qua, một số người do không đủ năng lực giữ đất sản xuất, lại bị kẻ xấu kích động nên đã có đơn khiếu kiện vượt cấp đòi lại đất đã bán trao tay, cầm cố, cho mướn, cho thuê, tạo “điểm nóng” an ninh nông thôn ở vùng biên giới

Nhận thấy khiếu kiện đất đai là vấn đề phức tạp, Đảng bộ, chính quyền An Cư đã đề ra phương châm: Giải quyết đồng bộ, kết hợp tuyên truyền vận động ổn định tình hình với thực hiện tốt chính sách dân tộc Xã tiến hành ba bước: Bước một: điều tra, khảo sát thực trạng đất đai của số có đơn khiếu kiện, làm cơ sở phân loại đúng- sai; Bước hai: điều chỉnh, bố trí hợp lý đất đai với từng hộ, đảm bảo không để các hộ nông dân không có đất sản xuất; Bước ba: vận động cán bộ, đảng viên, những quần chúng tốt trả lại đất đã cầm

cố, mướn, thuê, đồng thời hỗ trợ một phần kinh phí để các hộ nghèo có điều kiện chuộc lại đất đai đã trao quyền sử dụng Đây là bước rất quan trọng, cần có sự tham gia tích cực

của quần chúng tiêu biểu Xã An Cư có 136 sư sãi, 49 à cha là những người tiêu biểu, có

vai trò quyết định các công việc trong cộng đồng Căn cứ nội dung chính sách dân tộc của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đất đai, An Cư đã bồi dưỡng, hướng dẫn phương pháp để các sư sãi, à cha tuyên truyền vận động mọi người trong các phum, sóc hiểu tác hại của việc mua, bán, cầm cố, sang tên, đổi chủ đất nông nghiệp; nói rõ việc khiếu kiện vượt cấp là biểu hiện tiêu cực, lợi dụng khiếu kiện để vụ lợi là vi phạm pháp luật, tạo kẽ

hở cho kẻ địch chia rẽ đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng Công tác tuyên truyền đã làm chuyển biến nhận thức của quần chúng nhân dân, đồng bào Khmer đồng tình với các giải pháp của chính quyền xã, tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phấn khởi tham gia cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở

Trang 37

khu dân cư” (http://cema.gov.vn)

2 Dọc theo tuyến đường từ bản Pá Pháy đến ngã ba cầu Nậm Thanh thuộc địa bàn xã

Thanh Yên, huyện Điện Biên (tỉnh Điện Biên), hiện có 43 hộ dân tự ý san ủi mặt bằng chuyển đổi trái phép gần 200 ha đất sản xuất nông nghiệp sang làm nhà ở, tạo thành

"điểm nóng" về tranh chấp đất đai kéo dài Nhưng đến thời điểm này, nơi đây vẫn không được tỉnh quan tâm giải quyết dứt điểm, trong khi nhiều hộ dân ở đây là đồng bào dân tộc lại đang thiếu đất sản xuất

Khảo sát hai bên tuyến đường dài gần 1 km nêu trên cho thấy: trong tổng số 42 hộ dân chuyển đổi sai mục đích sử dụng đất, lấn chiếm đất công, có 38 hộ đã làm nhà cấp 4, một

số hộ ít nhân khẩu, nhưng vẫn dựng lên 2 căn nhà khá rộng, chưa kể các công trình phụ trợ khác Ông Hoàng Công Bình, Bí thư Đảng uỷ xã Thanh Yên cho biết: an ninh trật tự tại khu vực này khá phức tạp, trộm cắp diễn ra liên tiếp trong gần 10 tháng của năm

2006, một số trường hợp đã bị công an xã, công an huyện Điện Biên bắt vì tội tổ chức đánh bạc, buôn bán trái phép chất ma tuý, nhưng hiện tại vẫn còn nhiều đối tượng khác đang lén lút hoạt động Bên cạnh đó, một số hộ dân từ các xã Thanh Xương, Sam Mứn, Noong Hẹt, Noong Luống, Thanh An, từ nhiều năm nay nhận khoán đất sản xuất của Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) cây công nghiệp Điện Biên tại địa bàn Thanh Yên quản lý, còn "phớt lờ" không đăng ký tạm trú, tạm vắng làm cho an ninh trật tự trong xã càng thêm phức tạp hơn, nhất là vào những tháng cuối năm 2006 (http://vov.vn)

3 Xung quanh việc thực hiện qui hoạch sử dụng đất đai mà Quốc hội đưa ra bàn bạc

thảo luận, cử tri Hưng Yên đã đưa ra nhiều ý kiến trên cơ sở phản ánh những vấn đề bức xúc tại địa phương

Cử tri Hoàng Văn Suối, cựu chiến binh xã Hồng Nam (thị xã Hưng Yên) khẳng định: Việc chuyển đổi, qui hoạch sử dụng đất đai hiện đang xảy ra quá nhiều vi phạm Luật đất đai đưa ra qui định đúng đắn nhưng cán bộ cơ sở không những buông lỏng quản lý mà còn cố ý làm sai, lợi dụng đất công để vơ vét tham nhũng Điển hình là ở xã Hồng Nam, một trong những điểm nóng ở Hưng Yên về sai phạm trong sử dụng đất Tại đây từ năm

2005 đã xảy ra tình trạng lập danh sách khống để biến hơn 20 nghìn m2 đất giãn dân thành "giãn quan", để kiếm lời nhiều tỉ đồng, dẫn đến gần 20 cán bộ chủ chốt bị cảnh cáo, buộc thôi việc và cách chức Song đến nay, những vi phạm ở Hồng Nam vẫn chưa được giải quyết dứt điểm đang gây bức xúc trong dân Tuy vậy, đoàn cán bộ của Bộ tài nguyên môi trường dù đã về kiểm tra nhưng tình hình vẫn chưa có tiến triển Theo ông Suối, mọi vi phạm trong quản lý đất đai ở các địa phương, các cấp các ngành đều biết nhưng vẫn làm ngơ, việc kiểm tra thực tế chỉ mang tính hình thức nên giải quyết chưa thấu đáo, làm mất lòng tin trong nhân dân và càng phát sinh thêm tiêu cực, tham nhũng trong cán bộ Nhất trí với những điều trong Luật đất đai mà các đại biểu Quốc hội đưa ra thảo luận, ông Suối cho rằng việc qui hoạch, phân vùng trong quản lý sử dụng đất phải

có định hướng rõ ràng, các địa phương khi triển khai thực hiện phải đưa ra bàn bạc dân chủ công khai trước dân Điều quan trọng hơn là phải chấn chỉnh, củng cố đội ngũ cán

bộ quản lý từ cấp cơ sở đến tỉnh, huyện; xử lý triệt để những sai phạm và biểu hiện tham nhũng, tiêu cực của một bộ phận cán bộ

Cử tri Nguyễn Văn Hà, nông dân xã Dị Sử (huyện Mĩ Hào) cho rằng: các nhà làm luật đất đai chưa thực sự đi sát thực tế Thực trạng quản lý đất đai hiện nay đang quá bị buông lỏng, nhiều cán bộ xã đã tự do bán đất mà không qua cấp nào thẩm định Đây là một tệ nạn đang phá nát bộ máy chính quyền cơ sở Bức xúc hơn là tại các khu công

Trang 38

nghiệp ở Hưng Yên hiện tại có tới hàng chục dự án "ma", nhiều doanh nghiệp sau khi được bàn giao đất quá thời hạn đã 2 - 3 năm nhưng vẫn để cỏ mọc hoang Trong khi đó, nông dân vừa mất đất sản xuất lại vừa không có việc làm Theo ông Hà, Quốc hội lần này nên bàn bạc và đưa ra những biện pháp mạnh hơn nữa để Luật đất đai được thực hiện nghiêm minh và thực sự đi vào cuộc sống (http://www.monre.gov.vn)

4 Theo báo cáo của các tỉnh, TP, tình hình khiếu nại, tố cáo (KN,TC) đông người đang

xảy ra ở tất cả các địa phương có tính chất gay gắt, phức tạp hơn trước Phần lớn các vụ khiếu kiện đông người phát sinh nhiều ở những địa phương có tốc độ tăng trưởng nhanh, nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, khu, cụm công nghiệp, đô thị như: Hà Nội,

TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Lâm Đồng, Bình Phước, Bến Tre, Vĩnh Long, Cà Mau

Tại Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại Hà Nội, trong 5 năm (2005 - 2009) đã tiếp 1.904 lượt đoàn đông người đến từ 58 tỉnh, TP Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước ở TP Hồ Chí Minh, trong 04 năm (2006 - 2009) tiếp 583 lượt đoàn đông người đến từ 24 tỉnh, TP (chủ yếu là các tỉnh phía Nam và một

số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên)

Đa số các đoàn đông người đến Trụ sở có từ 5 - 30 người tham gia, nhiều đoàn có hàng trăm người như: vụ công dân xã Lai Vu (huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương) khiếu kiện

về thu hồi, đền bù đất xây dựng Cụm công nghiệp tàu thủy của tập đoàn Vinashin; vụ khiếu kiện của các hộ dân ở quận Thanh Xuân (Hà Nội) về việc thu hồi, đền bù để xây dựng đường Vành đai 3, nút giao thông Thanh Xuân

Đặc biệt, gần đây là vụ hàng trăm công dân ở 03 xã của huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên liên tục đến Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc đền bù, hỗ trợ trong quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng Khu đô thị - thương mại Văn Giang

Các đoàn đông người chủ yếu khiếu nại các vấn đề về việc thực hiện chính sách đền bù,

hỗ trợ, công tác tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, giải phóng mặt bằng (hơn 50% số

vụ việc); còn lại là việc giải quyết tranh chấp đất đai, thực hiện chính sách đất đai trước đây, chính sách xã hội

Nội dung tố cáo liên quan đến việc cán bộ mất dân chủ, lợi dụng chức quyền để tham nhũng trong quản lý, sử dụng đất đai, tài chính ngân sách Nhà nước; trù dập người khiếu kiện, bao che cho cán bộ dưới quyền; cố ý làm sai lệch hồ sơ, áp dụng pháp luật không đúng dẫn đến xét xử oan sai, gây thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân (http://www.dangcongsan.vn)

2.1.1.2 Đình công, bãi công của công nhân trong các doanh nghiệp, khu công nghiệp đòi cải thiện điều kiện làm việc, tăng lương, công bằng và các lợi ích hợp pháp với các doanh nghiệp, chủ đầu tư sản xuất:

Trong những năm gần đây các vụ đình công tự phát của công nhân, đặc biệt là công nhân ở các khu công nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều Có nhiều nguyên do của việc đình công như:

Trang 39

Ở nhiều doanh nghiệp, đời sống của người lao động vẫn còn rất khó khăn Thông thường, một gian nhà trọ khoảng 20 m2 có 7 - 10 công nhân thuê, với giá thuê từ 50.000 - 70.000 đ/người, chưa kể chi phí điện, nước Như vậy, bình quân mỗi người lao động chỉ có khoảng 2 m2 để ăn, ngủ, sinh hoạt

Có tới 65,8% số công nhân có nhu cầu thuê nhà ở tại doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp chỉ mới đáp ứng được khoảng 3% nhu cầu, số công nhân còn lại phải ở trọ xung quanh khu công nghiệp, điều kiện sống hết sức tạm bợ Chưa địa phương nào định hướng rõ và ban hành được cơ chế, chính sách đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân Điều kiện sống tạm bợ, mất vệ sinh; thiếu không khí, ánh sáng, điện, nước và không đảm bảo an ninh… ở tại các nhà trọ

tự phát trong dân, đã ảnh hưởng lớn đến chất lượng làm việc lâu dài của người lao động

Lương công nhân ở nhiều doanh nghiệp còn thấp, chậm được điều chỉnh trong khi giá cả, lạm phát ngày một tăng Có một thực tế, tưởng chừng như mâu thuẫn là, người công nhân không hồ hởi mấy, thậm chí còn lo trước việc nhà nước chuẩn bị ban hành và ban hành nghị định về lương, tăng lương

cơ bản khối doanh nghiệp! Việc đóng bảo hiểm cho người lao động ở một số doanh nghiệp chưa được thực hiện nghiêm theo quy định

Thực tế cho thấy, lợi ích của người lao động bị bớt xén rất nhiều Chẳng hạn, nhiều doanh nghiệp sau khi bị buộc phải tăng lương theo Nghị định 03 của Chính phủ, đã tìm cách giảm các chế độ phải thực hiện cho người lao động như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, với lý do phải tăng lương nên tốn nhiều tiền

Về vấn đề này, ông Đặng Ngọc Chiến, Phó chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, khẳng định: “Để đối phó với chuyện tăng lương, một số doanh nghiệp thường cắt xén các khoản phụ cấp và chi phí khác Như thế là không đúng, vì theo quy định của Chính phủ, thì các phụ cấp và chi phí khác của người lao động phải được giữ nguyên Các khoản phụ cấp và chi phí này

là thoả thuận giữa chủ sử dụng lao động với đại diện người lao động

Trang 40

Thiếu thốn về vật chất, tinh thần, cộng với các mâu thuẫn phát sinh trong quan hệ lao động (lương thấp, điều kiện làm việc kém, chủ doanh nghiệp đối xử không tốt…) nên theo một kết quả khảo sát, có tới hơn 50% số công nhân không muốn gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, không muốn tham gia học tập nâng cao trình độ văn hoá, tay nghề Theo chúng tôi, để giải quyết tận gốc những bức xúc của người lao động, trước hết, cần có quy hoạch tổng thể về đầu tư trên cả nước để tạo việc làm cho người lao động theo phương thức “ly nông không ly hương”, tránh tình trạng người lao động nhập cư đổ dồn về một số tỉnh, thành Các địa phương, khi kêu gọi đầu tư, cần có chủ trương phát triển khu công nghiệp gắn với phát triển nhà ở, cơ sở y tế, giáo dục, văn hoá đủ phục vụ đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động Mặt khác, các địa phương không nên lấy việc hạ giá nhân công xuống mức thấp làm một lợi thế để thu hút đầu tư, mà cần phải có nhiều chính sách khác tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, trong đó có việc nâng cao trình độ văn hoá và tay nghề cho người lao động"1

Ngoài ra, một lý do khác cũng khiến công nhân đình công là chủ doanh nghiệp (người nước ngoài) có những lời nói, hành vi xúc phạm, xỉ nhục công nhân

Đình công tập thể, đông người của công nhân trong những năm gần đây có xu hướng tăng:

1 Ngày 2 - 3 - 2010, khoảng 10.000 công nhân công ty Pouchen Việt Nam (trụ

sở đóng tại xã Hóa An, TP.Biên Hòa, Đồng Nai) đã đình công Đây là công ty chuyên sản xuất giày da, 100% vốn nước ngoài

Nhiều công nhân cho hay công ty đã ép công nhân làm việc quá giờ, chậm tăng lương, không trả tiền thâm niên và chế độ dinh dưỡng trong khẩu phần ăn chưa hợp lý… Yêu sách mà công nhân đưa ra là yêu cầu ban giám đốc công ty tăng lương cho công nhân, đồng thời cải thiện khẩu phần ăn cho công nhân Nhiều công nhân cho biết: suất ăn của công ty hiện nay chỉ khoảng 4.000 đồng/suất, không đủ chất tái tạo sức lao động (http://tuoitre.vn)

2 Ngày 25 - 2 - 2011, gần 800 công nhân Công ty TNHH Han And Young Việt

1 http://vov.vn/Home/Vi-sao-cong-nhan-dinh-cong/20063/27707.vov

Ngày đăng: 15/03/2017, 07:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Tân: Xung đột xã hội về đất đai ở nông thôn thời kỳ đổi mới (trường hợp tỉnh Hà Tây cũ), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung đột xã hội về đất đai ở nông thôn thời kỳ đổi mới (trường hợp tỉnh Hà Tây cũ)
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
2. Một số văn kiện về chính sách dân tộc – miền núi của Đảng và Nhà nước, Nxb Sự Thật, H, 1965 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện về chính sách dân tộc – miền núi của Đảng và Nhà nước
Nhà XB: Nxb Sự Thật
3. Lưu Văn Sùng: Một số điểm nóng chính trị xã hội điển hình tại các vùng đa dân tộc ở miền núi trong những năm gần đây- hiện trạng, vấn đề các bài học kinh nghiệm trong xử lý tình huống, Nxb CTQG, H, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số điểm nóng chính trị xã hội điển hình tại các vùng đa dân tộc ở miền núi trong những năm gần đây- hiện trạng, vấn đề các bài học kinh nghiệm trong xử lý tình huống
Nhà XB: Nxb CTQG
4. Hồ Trọng Hoài (2006): Đói nghèo và xung đột xã hội, Tạp chí Cộng sản, số 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đói nghèo và xung đột xã hội
Tác giả: Hồ Trọng Hoài
Năm: 2006
7. Vũ Văn Kiểu: Vấn đề dân tộc dân tộc, tôn giáo trong chiến lược quốc phòng – an ninh bảo vệ Tổ quốc (Tạp chí Dân tộc oline:http://cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=10783) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân tộc dân tộc, tôn giáo trong chiến lược quốc phòng – an ninh bảo vệ Tổ quốc" (Tạp chí Dân tộc oline: "http://cema.gov.vn
8. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: “Mường Nhé: cảnh giác với những luận điệu lừa bịp” trên trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mường Nhé: cảnh giác với "những luận điệu lừa bịp
5. Trần Minh Tơn (2008): Để tôn giáo đồng hành và phục vụ lợi ích quốc gia dân tộc, Tạp chí Cộng sản số 10 (154) Khác
6. Nghị quyết số 21 Bộ Chính trị: Về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w