Lũ lụt miền Trung nói chung và lưu vực sông Lam nói riêng là một trong những tai biến thiên nhiên, kết quả của quá trình tập trung nước với khối lượng lớn và tràn vào các vùng địa hì
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU 3
1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của lưu vực sông Lam 3
1.1.1 Vị trí địa lý lưu vực sông Lam 3
1.1.2 Đặc điểm địa hình 3
1.1.3 Đặc điểm thảm phủ thực vật 4
1.1.4 Đặc điểm địa chất - thổ nhưỡng 4
1.1.5 Hệ thống sông ngòi 5
1.1.6 Đặc điểm khí hậu trên lưu vực sông 7
1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội trên lưu vực sông Lam 13
1.2.1 Tình hình dân cư 13
1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trên lưu vực sông Lam 13
1.2.3 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 14
1.3 Nhận xét 14
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM LŨ VÀ NGẬP LỤT LƯU VỰC SÔNG LAM 15
2.1 Nguyên nhân hình thành lũ trên lưu vực sông Lam 15
2.2 Diễn biến lũ theo không gian 17
2.2.1 Mực nước lũ 17
2.2.2 Lưu lượng lũ 18
2.3 Diễn biến lũ theo thời gian 23
2.4 Tổ hợp lũ trên lưu vực sông Lam 24
2.5 Đặc điểm ngập lụt lưu vực sông Lam 41
2.5.1 Diện tích ngập lụt 41
2.5.2 Mức độ ngập lụt trên lưu vực sông Lam 42
2.6 Nhận xét 42
Chương 3: XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGẬP LỤT HẠ LƯU SÔNG LAM 43
3.1 Lựa chọn mô hình xây dựng bản đồ ngập lụt cho hạ lưu sông Lam 43
Trang 43.1.1 Cơ sở lý thuyết của mô hình NAM-MIKE11 43
3.1.2 Cơ sở lý thuyết của mô hình HEC-RAS 45
3.1.3 Mô hình HEC-GeoRAS 47
3.2 Tính toán lượng nhập khu giữa 48
3.2.1 Yêu cầu số liệu 48
3.2.2 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng mô phỏng 48
3.2.3 Hiệu chỉnh và kiểm nghiêm mô hình 49
3.3 Tính toán dòng chảy lũ 60
3.4 Tính toán lũ thiết kế 71
3.5 Mô phỏng lũ năm 1978 71
3.6 Xây dựng bản đồ ngập lụt hạ lưu sông Lam 76
3.6.1 Xây dựng miền tính phần hạ lưu lưu vực sông Lam 77
3.6.2 Kết quả xây dựng bản đồ ngập lụt hạ lưu lưu vực sông Lam 79
3.7 Nhận xét 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ mạng lưới trạm KTTV trên lưu vực sông Lam 7
Hình 2.1: Tổng lượng mưa trung bình nhiều năm 16
Hình 2.2: Lượng mưa trung bình năm và mùa lũ trên lưu vực sông Lam 16
Hình 2.3: Quá trình mưa, lũ từ ngày 16-29/IX/1978 tại các trạm trên lưu vực sông Lam 26
Hình 2.4: Quá trình mưa, lũ từ ngày 07-22/X/1988 tại các trạm trên lưu vực sông Lam 28
Hình 2.5: Đường quá trình mưa, lũ từ ngày 10-30/IX/2002 tại các trạm chính trên lưu vực sông Lam 30
Hình 2.6: Quá trình mưa, lũ từ ngày 01-31/VIII/2007 tại các trạm trên lưu vực sông Lam 32
Hình 2.7: Quá trình mưa, lũ từ ngày 01-31/VIII/2007 tại các trạm trên lưu vực sông Lam 33
Hình 2.8: Quá trình mưa, lũ từ ngày 28/IX - 28/X/2007 tại các trạm chính trên lưu vực sông Lam 40
Hình 3.1: Sơ đồ mô phỏng của mô hình NAM 44
Hình 3.2 Lược đồ sai phân mô hình HEC-RAS 46
Hình 3.3: Chức năng tự động hiệu chỉnh thông số MIKE NAM 51
Hình 3.4: Đường quá trình thực đo và ính toán tại trạm Dừa, trận lũ 2002 52
Hình 3.5: Đường quá trình thực đo và tính toán tại trạm Yên Thượng, trận lũ 2002 52
Hình 3.6: Đường quá trình thực đo và tính toán tại trạm Nghĩa Khánh, trận lũ 2002 52
Hình 3.7: Đường quá trình thực đo và tính toán tại trạm Hòa Duyệt, trận lũ 2002 52
Hình 3.8: Đường quá trình thực đo và tính toán tại trạm Sơn Diệm, trận lũ 53
2002 53
Hình 3.9: Đường quá trình thực đo và tính toán tại trạm Dừa, trận lũ 2007 53
Trang 6Hình 3.10: Đường quá trình thực đo và ính toán tại trạm Yên Thượng, trận lũ 2007 53
Hình 3.14: Đường quá trình thực đo và tính toán tại trạm Dừa, trận lũ 2010 55
Hình 3.29 Sơ đồ tính toán thủy lực mạng lưới sông 62
Hình 3.30 Sơ đồ tính toán mặt cắt sông 63
Hình 3.31 Thông số nhám của mô hình HEC-RAS 64
Hình 3.53 Đường tần suất Qmax các năm tại trạm Nam Đàn 72
Hình 3.54 Đường tần suất Qmax các năm tại trạm Chợ Tràng 73
Hình 3.55: Menu chạy mô hình HEC-RAS 73
Hình 3.56: Đường quá trình lũ 1978 tại Đô Lương mô phỏng bằng mô hình HEC-RAS 74
Hình 3.57: Đường quá trình lũ 1978 tại Yên Thượng mô phỏng bằng mô hình HEC-RAS 74
Hình 3.58: Đường quá trình lũ 1978 tại Nam Đàn mô phỏng bằng mô hình HEC-RAS 75
Hình 3.59: Đường quá trình lũ 1978 tại Linh Cảm mô phỏng bằng mô hình HEC-RAS 75
Hình 3.60: Đường quá trình lũ 1978 tại Chợ Tràng mô phỏng bằng mô hình HEC-RAS 76
Hình 3.61: Quy trình xây dựng bản đồ ngập lụt bằng mô hình HEC-GeoRAS 76
Hình 3.62 Trích xuất kết quả của mô hình thủy lực HEC-RAS 77
Hình 3.63: Trích xuất giá trị mực nước lớn nhất ứng với trận lũ tháng năm 1978 78
Hình 3.64: Thiết lập kết quả mô phỏng thủy lực và địa hình hạ du sông Lam 79
Hình 3.65 Bản đồ ngập lụt hạ lưu sông Lam năm 1978 79
Hình 3.66 Bản đồ ngập lụt hạ lưu sông Lam tần suất 1% 80
Hình 3.67 Bản đồ ngập lụt hạ lưu sông Lam tần suất 0.5% 80
Hình 3.68 Kết quả tính mức độ ngập và diện ngập 81
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1-1 Đặc trưng hình thái lưu vực sông Lam 6
Bảng 1-2 Nhiệt độ không khí trung bình tháng, năm tại một số vị trí trên lưu vực sông Lam 9
Bảng 1-3 Độ ẩm không khí tương đối tháng, năm tại một số vị trí trên lưu vực sông Lam 9
Bảng 1-4 Lượng bốc hơi tháng, năm tại một số vị trí trên lưu vực sông Lam 10
Bảng 1-5 Đặc trưng lượng mưa tháng, năm tại một số vị trí trên lưu vực sông Lam 11 Bảng 1-6 Cơ cấu kinh tế của các tỉnh trên lưu vực sông Lam 13
Bảng 2-1: Mực nước lũ thực đo tại một số vị trí 18
Bảng 2.2: Khả năng xuất hiện lũ vào các tháng trong năm trên lưu vực sông Lam 23
Bảng 2.3 Đặc trưng trận lũ từ 15-29/IX/1978 26
Bảng 2.4: Đặc trưng trận lũ từ 11-20/X/1988 27
Bảng 2.5: Đặc trưng trận lũ từ 18-22/IX/2002 29
Bảng 2.6: Đặc trưng lũ từ 04 - 09/VIII/2007 31
Bảng 2.7: Đặc trưng trận lũ từ 01-06/X/2007 33
Bảng 2.8: Lượng mưa (mm) trận lũ các năm 2007, 2010 34
Bảng 2.9: Đặc trưng trận lũ từ 30/IX- 05/X/2010 36
Bảng 2.10: Đặc trưng trận lũ từ 13- 19/X/2010 37
Bảng 2.11 Tổ hợp lượng nước lũ lớn theo lũ điển hình 40
Bảng 2.12 Tỷ lệ gặp gỡ các trận lũ trên các nhánh sông 41
Bảng 3.1 : Đánh giá kết quả dự báo 49
Bảng 3.2 Các thông số cần hiệu chỉnh và giới hạn của chúng 51
Bảng 3.3: Chỉ tiêu đánh giá chất lượng hiệu chỉnh mô hình 53
Trang 8Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Trần Duy Kiều
đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn chỉ bảo và cung cấp các thông tin cần thiết cho luận văn này
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn trung ương, cùng đồng nghiệp của phòng Dự báo thủy văn Bắc Bộ; phòng Dự báo thủy văn Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ và gia đình lời cảm ơn chân thành
đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để tác giả hoàn thành tốt luận văn này
Do thời gian, kinh nghiệm nghiên cứu còn ít nên luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong tiếp tục nhận được những ý kiến đóng góp, chỉ bảo của Thầy, Cô giáo và các đồng nghiệp để quá trình học tập, nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Hà nội, tháng 12 năm 2014
Học viên
Phạm Trường Giang
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề Những năm gần đây ở miền Trung, thiên tai lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn
với mức độ trầm trọng hơn, đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người của cải và môi trường sinh thái Những kết quả nghiên cứu về lũ lụt trên thế giới đã có những nhận định: Thiên tai lũ lụt ngày càng gia tăng là do biến động về khí hậu toàn cầu
và tác động của con người đã làm cho môi trường tự nhiên bị phá hủy Việc giảm nhẹ thiệt hại do lũ lụt đang là một vấn đề hết sức cấp bách được nhiều tổ chức và các nhà khoa học trên thế giới tập trung nghiên cứu
Lũ lụt miền Trung nói chung và lưu vực sông Lam nói riêng là một trong những tai biến thiên nhiên, kết quả của quá trình tập trung nước với khối lượng lớn
và tràn vào các vùng địa hình thấp, gây ngập lụt trên diện rộng, không chỉ gây tổn hại nặng nề về người và của ở thời điểm đó mà còn tác động tiêu cực lâu dài đến môi trường sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và các hoạt động kinh tế xã hội Nghiên cứu các giải pháp phòng lũ lụt được nhiều quốc gia quan tâm và hướng tiếp cận là sự kết hợp giữa giải pháp phi công trình và công trình Giải pháp công trình thường được sử dụng là xây dựng các hồ chứa, đê điều, cải tạo lòng sông… Các giải pháp phi công trình là trồng rừng, bảo vệ rừng; xây dựng và vận hành các phương án phòng tránh lũ và di dân lúc cần thiết khi có thông tin dự báo và cảnh báo chính xác
Để đưa ra được giải pháp hiệu quả trong phòng, chống lũ thì rất cần thiết phải có nghiên cứu chi tiết và chuyên sâu về lũ
Xuất phát từ những lý do trên tôi đã chọn “Nghiên cứu đặc trưng lũ phục vụ cảnh báo ngập lụt hạ lưu lưu vực sông Lam“ làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ
của mình
2 Mục đích của luận văn
+ Nghiên cứu đặc trưng lũ trên lưu vực sông Lam + Xây dựng bản đồ ngập lụt phục vụ cảnh báo ngập lụt hạ lưu lưu vực sông Lam
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng: Dòng chảy lũ trên lưu vực sông Lam + Phạm vi nghiên cứu: Trong mùa lũ trên lưu vực sông Lam
4 Phương pháp nghiên cứu
+ Thu thập, phân tích tổng hợp tài liệu + Phương pháp thống kê
+ Phương pháp kế thừa, ý kiến chuyên gia + Mô hình toán thủy văn thủy lực
5 Bố cục của luận văn Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU Chương 2: ĐẶC ĐIỂM LŨ VÀ NGẬP LỤT LƯU VỰC SÔNG LAM Chương 3: CẢNH BÁO NGẬP LỤT HẠ LƯU LƯU VỰC SÔNG LAM
Trang 11Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU 1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của lưu vực sông Lam
1.1.1 Vị trí địa lý lưu vực sông Lam
Lưu vực sông Lam nằm ở vị trí từ 18o15'05" - 20o10'30" vĩ độ Bắc và
103o14'10" - 105o15'20" kinh độ Đông Phía Bắc giáp lưu vực sông Chu, sông Bạng Phía Tây giáp lưu vực sông MêKông Phía Tây Nam giáp lưu vực sông Gianh Phía Đông giáp lưu vực sông Cảm, biển Đông Diện tích toàn bộ lưu vực là 27.200 km2, phần nằm trên lãnh thổ Việt Nam chiếm 65,2% diện tích toàn bộ lưu vực, phần diện tích còn lại 9.470 km2 thuộc đất Xiêng Khoảng của Lào chiếm 34,8% diện tích lưu vực Diện tích phần đá vôi là 273 km2 chiếm 1% diện tích lưu vực; vùng núi cao 19.486 km2 chiếm 71,6% diện tích lưu vực, vùng bán sơn địa, đồi núi thấp và trung du khoảng 5.604 km2, vùng đồng bằng là 2.110 km2 Dòng chính sông Cả có chiều dài là 531 km; đoạn sông chảy qua lãnh thổ Lào là 170 km, còn lại
361 km sông chảy qua hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh rồi đổ ra biển Đông tại Cửa Hội Sông Cả hợp với sông La tại Trường Xá và chảy ra biển Đông – gọi là sông
ở thượng nguồn sông Hiếu [2]
- Vùng trung du: Bao gồm các huyện như Anh Sơn, Tân Kỳ, một phần đất đai của Hương Sơn, Hương Khê, Thanh Chương Diện tích vùng trung du thường hẹp nằm
ở hạ lưu các sông nhánh lớn cấp I Đây là vùng đồi trọc với độ cao từ 300-400m xen
Trang 12kẽ là đồng bằng ven sông của các thung lũng hẹp có độ cao trung bình từ 15- 25m Vùng trung du chịu ảnh hưởng của lũ khá lớn, nhất là những trận lũ lớn, đất thường
bị xói mòn, rửa trôi mạnh, lớp đất sỏi cát thường bị nước lũ mang về, bồi lấp diện tích canh tác vùng bãi sông gây trở ngại cho sản xuất
- Vùng đồng bằng hạ du sông Lam: Có độ cao trung bình từ 6 - 8m ở vùng tiếp giáp với vùng đồi núi thấp, hoặc từ 0,5 - 2,0m ở vùng ven biển Vùng đồng bằng thường
bị chia cắt bởi hệ thống sông suối hoặc các kênh đào chuyển nước hoặc giao thông
1.1.3 Đặc điểm thảm phủ thực vật
Lưu vực sông Lam có rừng tập trung chủ yếu thuộc 6 huyện miền núi Nghệ
An và hai huyện Hương Sơn, Hương Khê thuộc Hà Tĩnh
Trên địa phận Việt Nam, diện tích rừng bị giảm nhanh do tốc độ phát triển dân số cao ở miền núi, cùng với tập quán du canh du cư của đồng bào các dân tộc Năm 1943 có khoảng 1,2 triệu ha rừng, đến nay diện tích đất có rừng chiếm khoảng 35,5% diện tích tự nhiên, so với diện tích đất của các huyện miền núi và Hương Khê, Hương Sơn thì diện tích đất có rừng chiếm đến 43% Diện tích rừng giàu và rừng trung bình toàn lưu vực phần Việt Nam chỉ còn chiếm khoảng 12 ÷ 14%
1.1.4 Đặc điểm địa chất - thổ nhưỡng
a Đặc điểm địa chất
Theo tài liệu của Cục địa chất Việt Nam, bản đồ địa chất và khoáng sản Việt Nam tỷ lệ 1/200.000 địa chất và khoáng sản tờ Vinh (GEOLOGY AND MINERAL RESOURCES OF VINH SHEET), trong vùng nghiên cứu xuất lộ gần như đầy đủ địa tầng địa chất có tuổi từ cổ đến trẻ
Toàn bộ lưu vực sông Lam thuộc hai đới kiến tạo chính là đới kiến tạo sông Lam và đới oằn võng Sầm Nưa, ngoài ra còn có đới nâng Phu Hoạt Trong đó:
- Phía Bắc vùng nghiên cứu thuộc đới nâng Phu Hoạt
- Từ Nghĩa Đàn trở xuống gần dòng chính sông Cả thuộc đới oằn võng Sầm Nưa
- Phần còn lại là thuộc đới kiến tạo sông Cả
Trang 13Về địa chất thủy văn, nước dưới đất trong vùng nghiên cứu có nhiều hạn chế, không phong phú Vấn đề này được giải thích trên cơ sở cấu tạo địa chất, đặc điểm địa mạo, điều kiện khí tượng thủy văn Trên toàn vùng nghiên cứu nhận thấy: các đất đá có khả năng chứa nước chiếm một khối lượng không lớn so với các loại đất
đá thấm nước kém và chứa nước kém Mặt khác do địa hình bị phân cắt mạnh, sườn núi dốc, độ dốc lòng sông, suối lớn làm cho nước không có điều kiện tích tụ lại mà thoát nhanh ra các hệ thống sông suối lớn
b Đặc điểm thổ nhưỡng
Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn các loại đất chính và phân bố
ở trên lưu vực sông Lam là:
+ Đất phù sa và đất cát ven biển + Đất bùn lầy
+ Đất mặn + Đất Feralitic mùn vàng nhạt trên núi Vùng đồng bằng sông Lam có các loại đất chủ yếu là đất phù sa và đất cát ven biển, đất bùn lầy, đất mặn và đất Feralitic điển hình nhiệt đới ẩm vùng đồi
Đất đai vùng trung du khá đa dạng: Các loại đất chua, đất glây hoặc glây mạnh úng nước
Do phải chịu ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố địa lý, địa hình, khí hậu, lớp phủ bề mặt … nên đất đai ở vùng đồng bằng và trung du sông Lam được xếp vào loại kém màu mỡ
1.1.5 Hệ thống sông ngòi
- Mạng lưới sông suối
Đường phân thủy phía Bắc và Đông Bắc của lưu vực chảy qua vùng đồi núi thấp của Nghệ An với độ cao trung bình từ 400 ÷ 600m, vùng núi cao của huyện Quế Phong với độ cao trên 1000m và vùng núi cao của tỉnh Xiêng Khoảng (CHDCND Lào) có những đỉnh núi như Phu Hoạt cao trên 2000m Phía Tây lưu vực là dãy Trường Sơn với những đỉnh núi cao trên 2000m (như Phu Xai Leng cao 2.711m) Càng về phía Nam, Tây Nam đường phân thủy của lưu vực đi qua những
Trang 14đồi núi thấp có độ cao đỉnh từ 1300 ÷ 1800m Đến địa phận tỉnh Hà Tĩnh, độ dốc bình quân của toàn lưu vực là 1,8‰, mật độ lưới sông đạt 0,87 km/km2 (Bảng 1.1)
- Đặc điểm hệ thống sông Lam
Cùng với dòng chính sông Lam có hai nhánh sông lớn nhất là sông Hiếu và sông La
Bảng 1-1 Đặc trưng hình thái lưu vực sông Lam
(km)
Độ cao bq(m)
Độ dốc bqlv (%o)
Bbq (m)
Mật số lưới sông
Hệ số không đối xứng
Hệ số hình dạng lưu vực
Nguồn: [“Trung tâm Dự báo KTTV TW”]
+ Bốn lưu vực sông nhánh lớn cấp I của sông Lam là Nậm Mô, Sông Hiếu, sông La
và sông Giăng có tổng diện tích chiếm trên 50% diện tích toàn bộ lưu vực sông Lam
và đóng góp một lượng nước đáng kể và nguồn nước sông Lam
Phần lớn lưu vực sông thuộc dạng đồi núi bị chia cắt mạnh Sông suối có độ dốc lớn, vùng trung du nối chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng hẹp cho nên khi có mưa lớn, lũ tập trung nhanh, ít bị điều tiết dẫn tới nước lũ tập trung về đồng bằng rất nhanh gặp mưa lớn ở hạ du và triều cường thường gây lũ lụt trên diện rộng
Trang 15Hình 1.1 Bản đồ mạng lưới trạm KTTV trên lưu vực sông Lam
1.1.6 Đặc điểm khí hậu trên lưu vực sông
Lưu vực sông Lam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm chịu ảnh hưởng của các hoàn lưu khí quyển sau:
- Khối không khí cực đới lục địa Châu Á biến tính mạnh khi di chuyển từ Bắc về phía Nam bán cầu Hoạt động của khối không khí này từ tháng XI tới tháng III năm sau, gây nên thời tiết lạnh, khô vào các tháng mùa đông và mưa phùn
- Khối không khí xích đạo Thái Bình Dương với hướng gió Đông Nam hoạt động mạnh từ tháng V tới tháng X và mạnh nhất vào tháng IX, X Đặc điểm của khối không khí này là nóng ẩm mưa nhiều, gây nên nhiều nhiễu động thời tiết như bão, áp thấp nhiệt đới Những nhiễu động thời tiết có thể đơn thuần là một hình thế thời tiết gây mưa hoặc tổ hợp nhiều hình thế thời tiết như bão và áp thấp, áp thấp nhiệt đới kết hợp với không khí lạnh gây mưa lớn trên diện rộng tạo nên lũ lụt nghiêm trọng trên lưu vực sông Lam
- Khối không khí nhiệt đới Ấn Độ Dương với hướng gió Tây Nam hoạt động mạnh vào các tháng V, VI, VII, VIII và mạnh nhất vào tháng VII Khối không khí này
Trang 16nóng và khô, ít mưa thường gọi là gió Tây Nam Ảnh hưởng của gió Tây Nam đã làm nhiệt độ không khí, nhiệt độ đất tăng rất nhanh Nhiệt độ không khí đạt tới 40 -
420C, nhiệt độ đất đạt tới 50 - 600C [10]
Nhân tố khí hậu kết hợp với yếu tố địa hình đã tạo nên sự phân hoá khí hậu giữa các vùng khá sâu sắc Phần phía Bắc và Đông Bắc của lưu vực mang đặc điểm của vùng khí hậu chuyển tiếp từ Bắc Bộ và Trung Bộ Với mùa mưa đến sớm hơn ở phía Nam, lượng mưa tháng lớn nhất xảy ra vào tháng VIII, ba tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng VII, VIII, IX Mùa lạnh nhiệt độ xuống thấp nhất là vào tháng I, về phía Nam của lưu vực ảnh hưởng của các hoàn lưu phương Bắc yếu hơn, nhiệt độ tăng dần, mùa mưa đến chậm hơn và kết thúc sớm, lượng mưa tháng lớn nhất xảy ra vào tháng IX, ba tháng có lượng mưa lớn nhất là VIII, IX, X Những vùng được bao bọc bởi các dãy núi, ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam ít hơn dần, lượng mưa năm khá nhỏ như vùng Cửa Rào, Khe Bố, có năm lượng mưa chỉ đạt
từ 500 - 700mm
Những vùng có điều kiện địa hình thuận lợi cho việc đón gió (dạng phễu) đã tạo nên những tâm mưa lớn trên lưu vực như vùng sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, sông Giăng với lượng mưa năm trung bình đạt 2.000 - 2.400mm
a Nhiệt độ
Mùa lạnh từ tháng XII tới tháng II và lạnh nhất là tháng I Thời kỳ này lưu vực ảnh hưởng chủ yếu của khối không khí cực đới lục địa Châu Á Tuỳ theo sự ảnh hưởng của khối không khí này tới các vùng trên lưu vực mà cho chế độ nhiệt về mùa đông khác nhau Vùng đồng bằng nhiệt độ trung bình cao hơn ở miền núi (Bảng 1.3) Nhiệt độ trung bình tháng I tại đồng bằng cao hơn ở vùng núi thượng nguồn sông Hiếu Nhưng ở vùng thung lũng Cửa Rào nhiệt độ tháng I, II lại cao hơn ở đồng bằng Nguyên nhân chính là do vùng này được bao bọc bởi các dãy núi cao làm hạn chế sự xâm nhập của gió mùa Đông Bắc, mùa đông trở nên ấm hơn Nhiệt độ tối thấp đạt 4oC ở Vinh (tháng I/1914), -0,5oC ở Quỳ Châu (I/1974), 1,7oC ở Cửa Rào tháng I/1974
Trang 17Mùa lũ từ tháng V tới tháng VIII với nhiệt độ trung bình tháng đạt từ 27 -
290C Tháng nóng nhất là tháng VII do hoạt động mạnh của gió Tây Nam (Bảng 1.2) Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối đạt 42,1oC tháng VI/1912 tại Vinh, 42,7oC tháng V/1966 tại Cửa Rào, 42,1oC tháng V/1931 tại Tây Hiếu
Bảng 1-2 Nhiệt độ không khí trung bình tháng, năm tại một số vị trí trên
lưu vực sông Lam [10]
Đơn vị: o C
Quỳ Châu 16,6 17,9 20,9 24,4 27,0 27,8 27,9 27,1 26,0 23,8 20,6 17,6 23,1 Tây Hiếu 16,2 17,4 20,3 24,0 27,2 28,1 28,4 27,3 26,0 23,6 20,5 17,5 23,0 Cửa Rào 17,5 18,9 21,8 25,2 27,4 28,0 28,1 27,3 26,2 24,1 20,9 18,2 23,6 Con Cuông 17,0 18,1 20,9 24,7 27,5 28,3 28,7 27,0 26,3 24,0 21,0 18,1 23,5
Đô Lương 17,2 18,2 20,6 24,2 27,3 28,7 29,1 27,9 26,4 24,3 21,3 18,6 23,7 Vinh 17,0 17,9 20,3 24,1 27,7 29,2 29,6 28,7 26,8 24,4 21,6 18,9 23,9 Quỳnh Lưu 17,0 17,6 20,1 23,7 27,5 28,9 29,4 28,3 26,8 24,4 21,4 18,5 23,6 Hương Khê 17,0 18,1 20,3 24,6 27,5 28,5 29,0 27,7 25,9 23,7 20,7 18,2 23,5
b Độ ẩm
Độ ẩm trung bình đạt thấp nhất vào tháng VII, cao nhất vào tháng II, III (Bảng 1.3)
Bảng 1-3 Độ ẩm không khí tương đối tháng, năm tại một số vị trí trên
lưu vực sông Lam
Đơn vị: %
Quỳ Châu 87,0 87,0 87,0 85,0 83,0 85,0 85,0 88,0 88,0 88,0 88,0 87,0 86,0 Tây Hiếu 87,0 89,0 82,0 86,0 81,0 82,0 80,0 85,0 88,0 87,0 87,0 86,0 86,0 Cửa Rào 81,0 80,0 79,0 78,0 78,0 80,0 79,0 80,0 85,0 85,0 85,0 82,0 81,0 Con Cuông 89,0 89,0 89,0 85,0 81,0 81,0 78,0 84,0 87,0 88,0 88,0 87,0 86,0
Đô Lương 88,0 89,0 90,0 88,0 83,0 80,0 78,0 84,0 88,0 87,0 86,0 85,0 88,0 Vinh 89,0 91,0 99,0 88,0 82,0 76,0 74,0 80,0 87,0 86,0 89,0 89,0 85,0 Quỳnh Lưu 86,0 88,0 90,0 84,0 84,0 81,0 78,0 84,0 87,0 88,0 88,0 87,0 86,0 Hương Khê 91,0 91,0 90,0 86,0 80,0 78,0 74,0 81,0 87,0 88,0 88,0 89,0 85,0
Trang 18c Bốc hơi
Lượng bốc hơi năm đo bằng ống Piche toàn vùng dao động từ 700 – 1000 mm Vùng ven biển do tốc độ gió trung bình lớn hơn nên bốc hơi đạt cao hơn ở vùng núi (Bảng 1.4) Lượng bốc hơi đạt cao nhất vào tháng VII và nhỏ nhất vào tháng II
Bảng 1-4 Lượng bốc hơi háng, năm tại một số vị trí trên lưu vực sông Lam
Đơn vị: %
Quỳ Châu 43,0 40,9 52,7 72,5 85,6 78,8 79,0 57,3 50,4 49,7 46,7 47,3 704 Tây Hiếu 47,7 37,1 47,8 71,7 109,0 108,0 116,0 78,0 57,0 59,2 52,5 52,4 835 Cửa Rào 59,0 62,4 81,3 93,2 105,0 89,2 96,9 71,6 55,9 51,6 45,7 55,2 857 Con Cuông 43,8 39,9 52,7 74,4 103,3 102,1 116,8 82,1 55,2 50,5 44,5 47,6 813
Đô Lương 40,0 33,3 40,2 53,0 83,8 109,0 129,0 83,9 55,0 54,6 50,0 51,1 789 Vinh 39,4 28,9 35,5 54,1 110,0 155,0 180,0 121,0 65,6 59,9 54,7 50,5 954 Quỳnh Lưu 56,1 42,9 44,2 53,4 102,0 127,0 159,0 103,0 69,8 76,2 77,0 72,3 983 Hương Khê 40,4 34,3 42,3 68,5 126,0 143,0 188,0 122,0 66,7 59,3 52,3 47,0 1.007
- Vùng đồng bằng ven biển lượng mưa năm đạt 1.800 1.900mm
Tâm mưa lớn nhất nằm ở thượng nguồn sông Hiếu, thượng nguồn sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu
Trang 19Mùa mưa thay đổi theo từng vị trí của lưu vực Thượng nguồn sông Cả, sông Hiếu mùa mưa từ tháng V và kết thúc vào tháng X Lượng mưa tháng lớn nhất vào tháng VIII, ba tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng VII, VIII, IX Càng về phía Nam mùa mưa muộn dần, bắt đầu từ tháng VI và kết thúc vào tháng X, XI Tháng
có lượng mưa lớn nhất là tháng VIII, IX, X, như vùng sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu Cường độ mưa lớn nhất xảy ra khi có bão đổ bộ vào Lượng mưa 1 ngày lớn nhất có thể đạt 788mm (ngày 27/9/1978) và 3 ngày lớn nhất 958mm ở Đô Lương Lượng mưa 1 giờ cao nhất đạt 142mm trong trận mưa ngày 8/10/1965 tại Vinh
Tháng VIII, IX, X dải hội tụ nhiệt đới dịch chuyển dần về phía Nam kết hợp với các loại hình thế thời tiết gây mưa lớn như áp thấp nhiệt đới, bão đã tạo ra những trận mưa lớn kéo dài từ 3 - 10 ngày gây lũ lớn trên các triền sông
Lượng mưa hai tháng IX, X đạt tới 40% lượng mưa năm Lượng mưa tháng
IX, X phân bố không đều trên lưu vực Vùng đồng bằng chịu ảnh hưởng của mưa
do bão gây ra, lượng mưa hai tháng đạt 1.000 - 1.100mm Càng về phía thượng lưu dòng chính lượng mưa hai tháng giảm dần do ảnh hưởng ít của bão chỉ đạt 500 - 800mm
Bảng 1-5 Đặc trưng lượng mưa tháng, năm tại một số vị trí trên lưu vực sông Lam
Trang 20Đô Lương 26,2 27,8 36,2 69,0 143,6 139,0 112,0 227,5 403,9 399,5 119,4 42,7 1.747 (%) 1,5 1,6 2,1 4,0 8,2 8,0 6,4 13,0 23,1 22,9 6,8 2,4 100 Nam Đàn 65,0 51,3 55,3 83,9 219,4 146,0 135,7 271,3 514,3 550,0 212,4 100,0 2.405 (%) 2,7 2,1 2,3 3,5 9,1 6,1 5,6 11,3 21,4 22,9 8,8 4,2 100 Hoà Duyệt 36,8 29,4 41,5 68,0 148,3 128,0 123,6 212,9 419,9 454,7 148,3 50,4 1.862 (%) 2,0 1,6 2,2 3,7 8,0 6,9 6,6 11,4 22,6 24,4 8,0 2,7 100 Sơn Diệm 41,0 33,2 41,2 61,5 125,1 122,0 97,0 216,1 464,3 552,3 179,2 69,6 2.003 (%) 2,0 1,7 2,1 3,1 6,2 6,1 4,8 10,8 23,2 27,6 8,9 3,5 100 Linh Cảm 53,7 41,5 48,9 67,5 136,0 114,7 117,1 200,9 495,6 540,8 179,3 68,2 2.064 (%) 2,6 2,0 2,4 3,3 6,6 5,6 5,7 9,7 24,0 26,2 8,7 3,3 100 Chợ Tràng 77,9 60,8 53,1 66,4 145,2 120,6 115,2 222,5 541,7 578,1 240,4 82,1 2.304 (%) 3,4 2,6 2,3 2,9 6,3 5,2 5,0 9,7 23,5 25,1 10,4 3,6 100 Vinh 31,9 25,4 36,6 62,7 134,9 126,4 102,4 184,3 540,3 553,5 188,3 63,5 2.050 (%) 1,6 1,2 1,8 3,1 6,6 6,2 5,0 9,0 26,4 27,0 9,2 3,1 100 Nghi Xuân 26,2 27,8 36,2 69,0 143,6 139,0 112,0 227,5 403,9 399,5 119,4 42,7 1.747 (%) 1,5 1,6 2,1 4,0 8,2 8,0 6,4 13,0 23,1 22,9 6,8 2,4 100 Đại Lộc 40,0 27,6 48,1 102,9 199,0 148,6 120,8 231,9 408,6 412,2 130,1 38,9 1.909 (%) 2,1 1,4 2,5 5,4 10,4 7,8 6,3 12,1 21,4 21,6 6,8 2,0 100
Nguồn: [“Trung tâm KTTV TW”]
Nhìn chung lượng mưa giảm dần từ hạ du lên thượng nguồn Vùng mưa lớn thường tập trung ở trung lưu sông Cả
Trang 211.2 Đặc điểm kinh tế xã hội trên lưu vực sông Lam
1.2.1 Tình hình dân cư
Tổng số dân trên lưu vực là 3.800.000 người, chiếm 84,59% dân số của cả hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Tốc độ tăng dân số bình quân là 1,98%/năm, cơ cấu dân số là 20% dân đô thị và 80% ở vùng nông thôn Số dân trong độ tuổi lao động chiếm 45% dân số, được phân chia theo các ngành nghề như sau: Nông nghiệp 69%, công nghiệp 12%, giáo dục đào tạo 3,5%, xây dựg 3,26%, lâm nghiệp quốc doanh 1,16%, giao thông 1,0% còn lại là các ngành nghề khác Nguồn nhân lực dồi dào với giá nhân công thấp là một lợi thế để thu hút đầu tư và tham gia vào lực lượng lao động xuất khẩu của cả nước
1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trên lưu vực sông Lam
- Tốc độ tăng trưởng bình quân, khá đồng đều giữa các vùng trên lưu vực sông
- Nông lâm ngư nghiệp phía Nam lưu vực sông có tốc độ tăng trưởng cao hơn ở phía Bắc từ 1,27-1,38 lần
- Công nghiệp thì ngược lại, tốc độ tăng trưởng của Nghệ An cao hơn so với Hà Tĩnh 1,2 lần
- Dịch vụ tăng cao từ 1,05-1,07 lần (Bảng 1.6)
Bảng 1-6 Cơ cấu kinh tế của các tỉnh trên lưu vực sông Lam
Nguồn: [“Viện KTTV”]
- So với thời kỳ trước năm 2010, những năm gần đây: Mức độ tăng trưởng cao hơn
từ 1,17-1,29 lần; trong đó tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp và dịch vụ
- Việc tăng trưởng mạnh mẽ về công nghiệp và dịch vụ là những nhân tố tác động đến diễn biến lũ trên lưu vực sông
Tỉnh
Tốc độ Tăng trưởng
Công
Nông nghiệp
Tốc độ Tăng trưởng
Công
Nông nghiệp
Nghệ An 8,5÷9,5 30÷31 44÷45 24÷26 10,5 45÷46 36÷38 17÷18
Trang 221.2.3 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020
Kinh tế Nghệ An, Hà Tĩnh cũng nằm trong khung phát triển kinh tế của cả nước
Tỉnh Nghệ An dự kiến thu nhập bình quân đầu người đến năm 2020 là 2000 USD Hà Tĩnh là 1.525 USD Về định hướng Nghệ An sẽ trở thành trung tâm kinh tế - văn hoá của vùng Bắc Trung Bộ Việc tăng trưởng kinh tế này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Xã hội, tự nhiên, cơ sở hạ tầng và chính sách phát triển kinh tế của từng tỉnh Nhưng rõ ràng để phát triển kinh tế bền vững thì rất cần thiết phải có nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp phòng chống giảm nhẹ thiên tai do lũ cho lưu vực sông Lam
- Với điều kiện địa lý, khí hậu riêng biệt đồng thời chịu ảnh hưởng của Bão
và các hình thế thời tiết gây mưa - lũ lớn thì cần thiết có nghiên cứu sâu về đặc điểm
lũ trên lưu vực sông, từ đó là cơ sở để cảnh báo ngập lụt cho hạ lưu sông Lam
Trang 23Chương 2: ĐẶC ĐIỂM LŨ VÀ NGẬP LỤT LƯU VỰC SÔNG LAM
2.1 Nguyên nhân hình thành lũ trên lưu vực sông Lam
Dạng hình thế thời tiết gây mưa lớn ở hạ du sông Lam có thể tóm tắt một số dạng như sau:
- Mưa lớn do không khí lạnh phía Bắc tràn xuống kết hợp với rãnh thấp phía Tây Loại mưa này xảy ra vào đầu mùa hè
- Bão liên tiếp đổ bộ vào trong thời gian ngắn
- Bão tan thành áp thấp nhiệt đới gây mưa lớn trên diện rộng
- Không khí lạnh kết hợp với dải hội tụ nhiệt đới
- Áp thấp nhiệt đới di chuyển lên phía Bắc Tây Bắc gặp không khí lạnh tăng cường gây mưa lớn trên diện rộng, loại hình thế này thường gây lũ lớn
Những hình thế thời tiết hoặc xuất hiện độc lập hoặc tổ hợp nhiều hình thế thời tiết gây mưa đã xuất hiện trên lưu vực gây lũ lớn hoặc đặc biệt lớn ở hạ du sông Lam Hậu quả của nó là những trận lũ lụt nghiêm trọng vào tháng IX/1978, X/1988, IX/2002; X/2010
Khi bão, áp thấp nhiệt đới đổ bộ trực tiếp vào lưu vực sông thì ở Nghệ An,
Hà Tĩnh có mưa rất lớn kéo dài 1 - 3 ngày Lượng mưa trận đạt 50 - 60% lượng mưa năm
- Lượng mưa phụ thuộc hướng di chuyển của Bão Nếu bão di chuyển vào từ phía Nam của Nghệ An thì mưa lớn xảy ra ở sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu như cơn bão số 2
đổ bộ vào Đà Nẵng di chuyển lên phía Bắc gây ra mưa lớn 25/V/1989 tại sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu gây lũ đặc biệt lớn
Trang 24Hình 2.1: Tổng lượng mưa trung bình nhiều năm
Qua (hình 2.1), ta thấy lượng mưa phân bố không đều theo không gian, phân
bố lớn dần từ Nam ra Bắc và từ Đông sang Tây
+ Phân phối mưa năm theo mùa:
Hình 2.2: Lượng mưa trung bình năm và mùa lũ trên lưu vực sông Lam
+ Phân phối mưa năm theo tháng:
Vùng trung, hạ du sông Lam mùa mưa dịch chuyển dần bắt đầu từ tháng VI và kết thúc vào tháng X, XI Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng VIII, IX, X Càng dần
Trang 25về phía nam của lưu vực mùa mưa bắt đầu từ tháng VIII và kết thúc tháng X như vùng sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu
Mùa mưa có xu hướng chậm dần từ Bắc vào Nam từ thượng nguồn về hạ du Trong mùa mưa thường xuất hiện 2 đỉnh cực trị Tháng V, VI do hoạt động mạnh gió mùa Tây Nam và gió Tín Phong Bắc bán cầu Sự hội tụ giữa hai luồng gió này gây nên mưa tiểu mãn vào tháng V, VI gây lũ tiểu mãn trong mùa mưa Tổng lượng mưa hai tháng này có vùng chiếm tới 20% lượng mưa năm ở các trạm thượng nguồn sông Cả, Ngàn Phố, Ngàn Sâu Trận lũ tiểu mãn lớn như tháng V/1943, tháng V/1989 Đặc biệt là trận mưa tháng V/1989 gây lũ lịch sử trên sông Ngàn Phố Lượng mưa 1 ngày max đạt 483mm ngày 26/V/1989 tại Kim Cương, 296mm ngày 26/V/1989 tại Hoà Duyệt
Sang tháng VIII, IX, X dải hội tụ nhiệt đới dịch chuyển dần về phía Nam kết hợp với các loại hình thế thời tiết gây mưa lớn như áp thấp nhiệt đới, bão đã tạo ra những trận mưa lớn kéo dài từ 3 10 ngày gây lũ lớn trên các triền sông
Lượng mưa hai tháng IX, X đạt tới 40% lượng mưa năm Lượng mưa tháng IX, X phân bố không đều trên lưu vực Biến động lượng mưa theo thời gian khá mạnh mẽ
2.2 Diễn biến lũ theo không gian
2.2.1 Mực nước lũ
Thượng nguồn sông Lam tại Cửa Rào mực nước lũ lớn nhất vào VIII/1973 với Hmax = 76,3m Từ Dừa trở về hạ du mực nước lũ lớn nhất xuất hiện trận lũ tháng IX/1978 với Hmax = 19,71m tại Đô Lương Tại Nam Đàn mực nước lũ lớn nhất thực
đo là 9,64m, Bến Thủy 5,68m vào IX/1978
Trên sông Hiếu mực nước lũ lớn nhất đạt Hmax = 80,05m vào ngày 14/X/1988 tại Quỳ Châu
Trên sông Ngàn Phố tại Sơn Diệm mực nước lớn nhất là 15,82 m vào ngày 20/IX/2002 Trên sông Ngàn Sâu tại Hòa Duyệt, mực nước lớn nhất là vào năm
1960 với Hmax = 12,74m ngày 5/X, tiếp đến là trận lũ năm 2002 với Hmax = 11,78m ngày 20/IX Mực nước lớn nhất tại Linh Cảm trên sông La xuất hiện vào năm 1978 với Hmax = 7,83m ngày 29/IX tiếp đến là trận lũ năm 2002, Hmax = 7,7m ngày 21/ IX
Trang 26Bảng 2-1: Mực nước lũ thực đo tại một số vị trí
Đơn vị : m
Nguồn: [“Trung tâm Dự báo KTTV TW”]
Thống kê theo trận lũ lớn nhất đã xảy ra (Bảng 2.1) cho thấy:
- Mực nước lũ lớn nhất vùng trung lưu trên sông Cả xảy ra từ trận lũ tháng IX/1978 nhưng vùng thượng nguồn sông Cả là lũ tháng VIII/1973
- Mực nước lũ lớn nhất trên sông Ngàn Phố tại Sơn Diệm là trận lũ tháng IX/2002 trong khi đó trên sông Ngàn Sâu tại Hòa Duyệt là trận lũ tháng X/1960
Trang 27Trên sông Hiếu tại Quỳ Châu, số liệu quan trắc lưu lượng lũ trung bình đạt
1470 m3/s Lưu lượng lũ lớn nhất tại Quỳ Châu xảy ra vào 14/X/1988 với Qmax = 2870m3/s, tiếp theo các trận lũ năm 1980 Qmax = 2730 m3/s ngày 7/IX/1980, lũ năm
1966 Qmax = 2530 m3/s, lũ năm 1991 với Qmax = 2430 m3/s ngày 18/VIII, lũ năm
1962 với Qmax = 2410 m3/s ngày 28/IX
Lưu lượng lũ lớn nhất tại Dừa 10200 m3/s ngày 28/IX/1978, tiếp theo là trận
lũ năm 1988 với Qmax = 8840 m3/s ngày 18/X/1988, trận lũ 1963 Qmax = 8630 m3/s ngày 26/7/1963, trận lũ 1973 Qmax = 7300 m3/s ngày 27/VIII/1973
Như vậy, ở thượng nguồn sông Cả lũ năm 1973 có lưu lượng lũ lớn nhất nhưng tại Dừa có sự nhập lưu của sông Hiếu, lũ năm 1973 còn có đỉnh lũ thấp hơn đỉnh lũ vào các năm 1978, 1988, 1963
Trên sông Giăng, dòng chảy lũ trung bình nhiều năm tại Thác Muối là 1190
m3/s Lũ lớn nhất tại Thác Muối là vào năm 1974 với Qmax = 5150 m3/s
Tại Yên Thượng có sự gia nhập của lượng nước khu giữa đặc biệt là lượng nước lũ của lưu vực sông Giăng Lưu lượng lũ lớn nhất trung bình đạt 4110 m3/s Lưu lượng lũ lớn nhất hoàn nguyên tại Yên Thượng là 13180 m3/s ngày 28/IX/1978, tiếp theo là các trận lũ tháng X/1988 với Qmax = 10280 m3/s ngày 19/X/1988, trận lũ năm 1996 với Qmax = 6210 m3/s ngày 25/IX/1996
Biến động dòng chảy lũ trên dòng chính sông Lam khá lớn, tại Cửa Rào năm
1973 Qmax = 5690 m3/s, năm lũ nhỏ nhất Qmax= 634 m3/s ngày 4/VII/1998, năm
1976 không có bão đổ bộ ảnh hưởng, Qmax = 1190 m3/s ngày 14/VIII/1976 Tại Dừa, năm có lưu lượng lũ nhỏ nhất đạt 862 m3/s ngày 4/VII/1998 lũ trên các sông nhánh lớn
Trên sông Ngàn Phố tại Sơn Diệm lưu lượng lũ lớn nhất trung bình nhiều năm đạt 1730 m3/s Lũ đạt trị số lớn nhất là vào tháng IX/2002 với Qmax = 5200
m3/s Sau đó là các trận lũ tháng V/1989 với Qmax = 4400 m3/s ngày 26/V Năm
1960 có Qmax = 3820 m3/s, vào tháng X/1988 Qmax = 3820 m3/s và tháng IX/1978 với Qmax = 3630 m3/s
Trang 28Trên sông Ngàn Sâu tại Hòa Duyệt, lũ lớn nhất trung bình nhiều năm là 1890
m3/s Lũ lớn nhất là trận lũ năm 1960 với Qmax = 3880 m3/s, tiếp theo là các trận lũ
1979, 1983, 1978 và 2002 Lũ năm 2002 trên sông Ngàn Sâu tại Hòa Duyệt xét về
độ lớn Qmax chỉ ở vị trí thứ 5 sau các trận lũ 1960, 1979, 1983, 1978 trong khi đó trên sông Ngàn Phố tại Sơn Diệm, lũ lớn nhất xảy ra vào tháng 9/2002
Năm 1973 là năm xảy ra lũ lớn nhất ở thượng nguồn sông Cả, mực nước lớn nhất đạt tới 57,34m tương ứng với lưu lượng là 5690 m3/s ngày 27/VIII/1973 và tổng lượng lũ 7 ngày max 1590.106m3 chiếm 65,7 % tổng lượng lũ 7 ngày tại Dừa
và 62,5% lượng lũ 7 ngày tại Yên Thượng Trong khi đó bên sông Hiếu tại Nghĩa Khánh, trận lũ tương ứng chỉ chiếm 27,2% lượng lũ 7 ngày tại Dừa và 24,7% tổng lượng lũ 7 ngày tại Yên Thượng Thành phần lượng lũ khu giữa từ Cửa Rào, Nghĩa Khánh tới Dừa chiếm tỷ lệ 10,9% lượng lũ 7 ngày tại Dừa 9,5% lượng lũ 7 ngày tại Yên Thượng
Tháng IX/1978 lũ lớn nhất tại Cửa Rào chỉ ở mức trung bình Mực nước lũ của năm này còn thấp hơn mực nước lũ của các năm 1962, 1963, 1971, 1972, 1980,
1988 Lưu lượng lớn nhất tại Cửa Rào là 2560m3/s tương ứng với mực nước 51,09m ngày 28/IX/1978 Tổng lượng lũ 7 ngày lớn nhất là 734.106m3 chiếm 24% tổng lượng lũ 7 ngày tương ứng tại Dừa và 14,6% tổng lượng lũ 7 ngày lớn nhất tại Yên Thượng Bên sông Hiếu tại Nghĩa Khánh trận lũ này có tổng lượng lũ 7 ngày khá lớn đạt 800.106m3 chiếm 26,1% tổng lượng lũ tại Dừa, 15,9% tổng lượng lũ 7 ngày tại Yên Thượng Thành phần lượng lũ ở khu giữa từ Cửa Rào, Nghĩa Khánh tới Dừa chiếm tỷ lệ 49,9% lượng lũ 7 ngày tại Dừa và 30,5% lượng lũ 7 ngày lớn nhất ở Yên Thượng
Tại Cửa Rào X/1988 lưu lượng lũ lớn nhất là 3890 m3/s và tổng lượng lũ 7 ngày lớn nhất đạt tới 1403.106m3 Trận lũ này tại Cửa Rào thuộc loại lớn nhưng còn thấp hơn mực nước lũ tháng VII/1963, tháng VIII/1973, tháng IX/1980 Thành phần lượng lũ 7 ngày tại Cửa Rào chiếm 37,7% lượng lũ 7 ngày tại Dừa và chiếm 28,6% lượng lũ 7 ngày tại Yên Thượng Tại Nghĩa Khánh bên sông Hiếu trận lũ tháng
Trang 29X/1988 có tổng lượng lũ 7 ngày là 1527.106m3 chiếm 41,1 % tổng lượng lũ 7 ngày tại Dừa và chiếm 31,1% tổng lượng lũ 7 ngày tại Yên Thượng
Về lưu lượng lũ lớn nhất tại Nghĩa Khánh trên sông Hiếu được xếp theo thứ tự như sau: lớn nhất là lũ 1962, rồi đến lũ tháng IX/1978, tháng X/1988 Về tổng lượng lũ 7 ngày lớn nhất là trận lũ tháng 10/1988 sau đó là trận lũ tháng IX/1962, tháng IX/1978
Từ Dừa tới Yên Thượng thường có lượng mưa lớn, dòng chảy được tăng lên
do sự nhập lưu của các sông suối nhất là sông Giăng Thành phần lượng lũ 7 ngày tương ứng với lượng lũ 7 ngày lớn nhất ở Yên Thượng chiếm tỷ lệ trung bình là 23,4% lượng lũ 7 ngày lớn nhất ở Yên Thượng Tỷ lệ tham gia về lượng lũ này xấp
xỉ tỷ lệ lượng lũ 7 ngày của sông Hiếu tại Nghĩa Khánh mặc dù diện tích của nó nhỏ hơn nhiều Khu vực này nằm trong vùng mưa lớn và chịu ảnh hưởng mạnh của bão, lượng mưa một ngày có cường độ rất lớn đạt tới 782 mm tại Đô Lương, 684 mm tại Dừa trong trận mưa bão tháng IX/1978 Lượng mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn xảy ra trên diện rộng đã tạo nên những con lũ lớn ở khu giữa tập trung rất nhanh về dòng chính đã làm cho mực nước lũ lên rất nhanh Thời gian truyền lũ từ Dừa tới Đô Lương, từ Đô Lương tới Yên Thượng rút ngắn lại so với thời gian truyền lũ trung bình gây khó khăn cho việc chống lũ
Tại Thác Muối trên sông Giăng, lưu lượng lớn nhất thực đo trong trận lũ tháng IX/1978 là 5150 m3/s và tổng lượng lũ 7 ngày lớn nhất trong trận lũ tháng IX/1978 lên tới 802.106m3 chiếm tới 20% tổng lượng lũ 7 ngày lớn nhất tại Yên Thượng trong trận lũ này Tại Thác Muối thành phần lượng lũ 7 ngày tương ứng với
7 ngày lớn nhất của Yên Thượng chiếm tỷ lệ trung bình là 9,1% tổng lượng lũ 7 ngày tại Yên Thượng
Qua Yên Thượng nước lũ chảy về vùng đồng bằng hạ du sông Cả Những năm lũ lớn như trận lũ tháng IX/1978, tháng X/1988 đã gây ra tình trạng ngập úng lớn, do khả năng thoát lũ lòng sông có hạn, do sự gặp gỡ lũ lớn bên sông La và do ảnh hưởng của triều cường
Ở hạ du sông Cả, nước lũ không chỉ phụ thuộc vào lũ dòng chính sông Cả
mà còn phụ thuộc vào nước lũ sông La
Trang 30Sông La là hợp lưu giữa hai sông nhánh Ngàn Phố và Ngàn Sâu Xét về thứ tự xuất hiện lưu lượng nước lũ lớn nhất, tại Sơn Diệm trên sông Ngàn Phố mực nước
lũ lớn nhất xảy ra vào các năm 2002, 1989, 1960, 1988, 1978, 1983 Trên sông Ngàn Sâu tại Hòa Duyệt xảy ra vào các năm 1960, 1979, 1983, 1978, 2002
Trên cơ sở tài liệu thực đo về dòng chảy của các trận lũ điển hình tại 11 vị trí (Mường Xén, Dừa, Đô Lương, Yên Thượng, Nam Đàn, Sơn Diệm, Hòa Duyệt, Linh Cảm, Chợ Tràng) giai đoạn 1960 – 2013 ta thấy các trận lũ xảy ra gây ngập lụt nghiêm trọng trên các lưu vực sông Cả, Hiếu, La, Lam có thời kì lụt và cường độ là khác nhau Sự phân bố và diễn biến xảy ra là không đồng nhất về số lượng cũng như năm xuất hiện, ví dụ như:
- Trên sông Cả tại Dừa, Yên Thượng, Nam Đàn, lũ năm 1978 là lũ lớn nhất trong khi đó tại Mường Xén lũ năm 1978 chỉ là lũ lớn thứ 3 sau trận lũ năm 2005 và
1973, trên sông Hiếu lũ năm 1978 không phải là lũ lớn nhất
- Trên sông La, tại Linh Cảm lũ năm 1978 là lũ lịch sử, tại Sơn Diệm trên sông Ngàn Phố, lũ năm 1978 chỉ là lũ lớn thứ 2 sau lũ lịch sử năm 2002, tại Hòa Duyệt trên sông Ngàn Sâu, lũ năm 1978 không thuộc một trong 5 trận lũ lớn nhất
- Trên sông Cả, tại Dừa những năm lũ lớn nhất: 1963, 1973, 1978, 1980 và
1988, những trận lũ lớn đều là lũ kép, trong đó lũ năm 1978 là lũ lớn nhất với lưu lượng đỉnh lũ đạt 10.200 m3/s Đỉnh sau cao hơn đỉnh trước nhiều lần, độ dốc rất lớn Tại Yên Thượng những năm lũ lớn nhất: 1973, 1978, 1980 1988 và 1996, đôi khi cũng xuất hiện lũ kép
- Lũ lớn nhất xảy ra trên các sông như sau: Thượng nguồn sông Cả (phần lớn diện tích ở bên Lào) xảy ra năm 2011; sông Cả năm 1978; sông Hiếu, thượng nguồn năm 2007, hạ nguồn năm 1962; sông Ngàn Phố năm 2002 và sông Ngàn Sâu năm
2010 Lũ lịch sử trên các sông xảy ra lệch pha nhau
Cũng tương tự như thời kì lụt, biên độ lũ trên sông Lam biến đổi khá lớn (khoảng 9 m), tuy nhiên có những trận lũ lớn, có thể lên đến trên 11m như trận lũ tháng IX/2002 tại Chu Lễ trên sông Ngàn Sâu, đặc biệt có trận lũ biên độ lũ rất cao lên đến 13,56 m như trận lũ tháng VIII/2007 tại Chu Lễ Cường suất lũ lên lớn, có khi đến trên 2 m/giờ ở nhiều nơi cùng trong trận lũ trên cùng một sông Chẳng hạn
Trang 31như trận lũ tháng VIII/2007 trên sông Ngàn Sâu, tại trạm Chu Lễ và Hòa Duyệt có cường suất lũ lên lớn nhất đều trên 2 m/giờ
2.3 Diễn biến lũ theo thời gian
Lũ sông Lam có thể chia làm hai thời kỳ lũ chính là lũ tiểu mãn và lũ chính
vụ Lũ tiểu mãn vào khoảng tháng V, VI do hoạt động mạnh của tín phong bắc bán cầu và gió mùa Tây Nam Lũ chính vụ vào khoảng tháng IX, X, XI do hoạt động của các hình thế thời tiết gây mưa lớn
Thời gian bắt đầu, kết thúc mùa lũ và thời gian xuất hiện lũ lớn trên dòng chính sông Lam và các dòng nhánh là khác nhau
Trên dòng chính sông Lam mùa lũ bắt đầu từ tháng VII, vào tháng VI có thể có lũ tiểu mãn, ở thượng nguồn kết thúc vào tháng XI, ở trung lưu kết thúc vào tháng XI
Lũ lớn nhất thường xuất hiện vào tháng VIII ở thượng nguồn, tháng IX ở trung lưu
Bảng 2.2: Khả năng xuất hiện lũ vào các tháng trong năm trên lưu vực sông Lam
1 Cửa Rào Lam 6,0 17,6 52,9 23,5
3 Thác Muối Giăng 6,25 12,5 43,8 18,8 18,8
4 Nghĩa Khánh Hiếu 3,57 17,9 35,7 32,1 10,7
Trang 32Qua phân tích những trận lũ xảy ra trong gần 40 năm lại đây cho ta thấy, có
19 năm mực nước lũ lớn nhất tại Nam Đàn trùng với mực nước lũ lớn nhất tại Linh Cảm trên sông Lam (đạt tần suất xấp xỉ 50%) Thời gian lũ kéo dài có liên quan đến hình thế thời tiết gây mưa, phân bố mưa theo thời gian, khả năng thoát lũ do cơ sở
hạ tầng, triều cường và cả tác động lũ lớn trên sông Lam Lũ lớn nhất thường xuất hiện vào tháng IX trên sông Ngàn Phố, tháng X trên sông Ngàn Sâu Do mức độ tập trung lũ và khả năng xảy ra lũ lớn nhất ở các vùng không đồng thời đã phần nào giảm bớt được nguy cơ gây lũ lớn ở hạ du Tuy nhiên, cũng có những năm, do mưa bão lớn trên diện rộng, lũ đặc biệt lớn xảy ra đồng đều trên toàn bộ hệ thống sông như năm 1978.Mực nước lũ tại Linh Cảm trên sông Lam không chỉ phụ thuộc vào nước lũ các sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu đổ về mà còn chịu ảnh hưởng nước vật của
lũ sông Cả Trong trường hợp lũ dòng chính sông Cả xuất hiện đồng bộ với lũ các sông bên hệ thống sông Lam thì mực nước lũ ở Linh Cảm rất cao như các năm
1978, 1960, 1988, 1983, 2010
Theo thống kê các trận lũ từ mức BĐ2 trở lên trong vòng 40 năm trở lại đây cho ta thấy, thời gian duy trì lũ ở mức cao (trên BĐ3) trung bình ở thượng lưu ngắn, chỉ khoảng 6 - 12 giờ; ở hạ lưu: 1 - 2 ngày (tại Nam Đàn) và 1 ngày (tại Linh Cảm) Tuy nhiên, trong những trận lũ đặc biệt lớn thì thời gian duy trì lũ trên BĐ3 cũng khá dài, như trận lũ lịch sử năm 1978 tại Nam Đàn và Linh Cảm kéo dài tới 5 ngày; trận lũ năm 1988 kéo dài tới 8 ngày tại Nam Đàn và 4 ngày tại Linh Cảm… Đặc tính chung, lũ lớn nhất trong năm ở vùng hạ du thường xuất hiện muộn hơn so với đỉnh lũ năm ở thượng nguồn khoảng một tháng Càng về hạ du lòng sông được mở rộng, nước lũ bị điều tiết mạnh, do ảnh hưởng của thuỷ triều nên thời gian duy trì đỉnh lũ kéo dài, thời gian nước rút chậm, thời gian duy trì mực nước lũ ở mực nước cao lâu hơn ảnh hưởng tới việc bảo vệ đê và sản xuất nông nghiệp
2.4 Tổ hợp lũ trên lưu vực sông Lam
a Trận mưa lũ lớn tháng IX năm 1978
Đây là trận lũ kép lịch sử với hai đỉnh ở hạ du lưu vực sông Lam
Trang 33Đợt lũ thứ nhất: Từ ngày 17 – 18/IX, lũ trên các sông bắt đầu lên và đạt đỉnh vào
các ngày từ 21 - 23/IX Cường suất trung bình từ 3 - 6cm/h, riêng sông Ngàn Phố lên nhanh hơn với cường suất trung bình từ 19 - 25cm/h Biên độ lũ lên trên sông Ngàn Phố là 7,28m, các sông khác từ 4,0 - 6,0m Trên sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố xuất hiện đỉnh vào ngày 21, hạ lưu sông La xuất hiện ngày 23 Đỉnh lũ tại Nam Đàn: 7,98m, cao hơn báo động 3 (BĐ3) là 0,08m; sông La tại Linh Cảm: 5,95m, trên BĐ2: 0,45m Mặc dù lũ trên sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố đã xuống từ trưa ngày
21, thời gian chảy truyền từ Hòa Duyệt và Sơn Diệm về Linh Cảm trung bình là 9 - 12h nhưng đến tận ngày 23, mực nước tại Linh Cảm mới đạt đỉnh, như vậy có sự dồn ứ nước từ Nam Đàn sang Linh Cảm
Đợt thứ 2: Lũ trên sông Cả - La chưa kịp rút trong trận lũ đợt đầu lại được bổ sung
thêm đợt lũ thứ 2 Cường suất lũ lên trung bình của đợt lũ thứ 2 tại Nam Đàn: 4,8cm/h, tại Linh Cảm: 5,1cm/h; cường suất lũ lên lớn nhất tại Nam Đàn: 20cm/h, tại Linh Cảm: 22cm/h Đỉnh lũ đợt sau lớn hơn đợt trước Đỉnh lũ tại Nam Đàn: 10,38m (hoàn nguyên), trên BĐ3: 2,48m; tại Sơn Diệm: 14,06m, trên BĐ3: 1,06m; tại Hòa Duyệt: 11,40m, trên BĐ3: 0,90m; tại Linh Cảm: 7,75m, trên BĐ3: 1,25m (Bảng 2.5, hình 2.3) Lưu lượng lũ lớn nhất thực đo tại Yên Thượng 9.000m3/s, tại Sơn Diệm: 3.630m3/s, tại Hoà Duyệt: 2.880m3/s Mực nước tại Bến Thuỷ thực đo 5,08m, hoàn nguyên 6,16m, tại Cửa Hội là 2,14m
Trên lưu vực sông Lam, tại Sơn Diệm (Ngàn Phố) và Hòa Duyệt (Ngàn Sâu), trận lũ năm 1978 không phải là trận lũ lớn, mực nước đỉnh lũ tại Hòa Duyệt là 11,40m, tương ứng với tần suất 16,67%, thấp hơn đỉnh lũ năm 2002, 2007, 2010; tại Sơn Diệm: 14,05m, tương ứng với tần suất: 13,89%, thấp hơn đỉnh lũ năm 2002, 1988; nhưng mực nước tại Linh Cảm thì lại lớn nhất trong chuỗi năm đo đạc (Hmax
= 7,75m, ứng với tần suất: 2,78%), và mực nước tại Nam Đàn cũng lớn nhất trong chuỗi năm đo đạc (Hmax= 10,38m, tương ứng với tần suất 2,78%), điều này chứng
tỏ có sự dồn ứ nước từ hạ lưu lên
Trang 34Bảng 2.3 Đặc trưng trận lũ từ 15-29/IX/1978
So sánh cấp
BĐ Sông Trạm G.N.T Hc G.N.T Hđ (cm) (giờ) (cm/h) (m)
Cả Nam Đàn 07h/17 380 07h/23 798 418 144 3 >III(0,08) 17h/26 682 04h/29 1038 282 59 5 >III(2,48) Ngàn Phố Sơn Diệm 19h/16 483 01h/18 1225 742 30 25 <III(0,75) 09h/20 779 08h/21 1211 432 22 19 >II(0,61) 07h/26 614 07h/27 1406 792 24 33 >III(1,06) Ngàn Sâu Hòa Duyệt 07h/17 480 14h/21 1086 606 103 6 >III(0,36) 11h/26 704 17h/28 1140 436 54 8 >III(0,90) Lam Linh Cảm 14h/17 191 07h/23 595 404 137 3 >II(0,45) 13h/26 469 01h/29 775 306 60 5 >III(1,25)
Hình 2.3: Quá trình mưa, lũ từ ngày 16-29/IX/1978 tại các trạm trên lưu vực sông Lam
b Trận mưa, lũ lớn tháng X năm 1988
Trên hệ thống sông Lam đã xuất hiện lũ kép hai đỉnh với đỉnh sau lớn hơn
Trang 35lên lớn nhất tại Sơn Diệm: 100cm/h Đến ngày 15 - 16/X, mực nước hạ lưu sông Lam lần lượt xuất hiện đỉnh Đỉnh lũ tại Linh Cảm là 5,97m, dưới BĐ3: 0,53m Tuy nhiên, đến ngày 16-18, do xuất hiện mưa lớn dẫn đến lũ hạ lưu tiếp tục lên
và đến ngày 18-19 mới đạt đỉnh Đỉnh lũ tại Nam Đàn: 9,41m (14h/19), trên BĐ3: 1,51m, thấp hơn đỉnh lũ năm 1978 là 0,97m; tại Sơn Diệm: 14,61m (04h/17), trên BĐ3: 1,61m; tại Hòa Duyệt: 11,04m (11h/17), trên BĐ3: 0,54m; tại Linh Cảm: 7,30m (18h/18), trên BĐ3: 0,80m, thấp hơn đỉnh lũ năm 1978 là 0,45m (Bảng 2.4, hình 2.4)
La Linh Cảm 01h/12 95 19h/15 597 502 90 6 <III (0,53) 13h/16 591 18h/18 730 139 50 3 >III (0,80)
Đợt lũ này do ảnh hưởng liên tiếp của nhiều hình thế thời tiết gây mưa lớn trên diện rộng và kéo dài trong nhiều ngày, mưa với cường độ lớn nên lũ lên rất nhanh, ác liệt và hiếm thấy Lũ trên sông Ngàn Phố năm 1988 lớn hơn năm 1978 một ít, tại Sơn Diệm (Ngàn Phố), mực nước đỉnh lũ là 14,60m, tương ứng với tần suất 8,33%, cao hơn đỉnh lũ năm 1978 nhưng đỉnh lũ tại Hòa Duyệt (Ngàn Sâu) ở
Trang 36mức: 11,04m, tương ứng với tần suất: 22%, thấp hơn đỉnh lũ năm 1978, lũ lớn không đồng thời trên hai nhánh Ngàn Phố và Ngàn Sâu nên đỉnh lũ tại Linh Cảm thấp hơn đỉnh lũ năm 1978; đỉnh lũ tại Nam Đàn cũng thấp hơn năm 1978 và duy trì trên mức báo động 3 khoảng 8 ngày, tại Linh Cảm khoảng 4 ngày; như vậy tống lượng lũ là rất lớn Lũ sông La lớn khiến việc thoát lũ ở sông Cả kém, mặt khác trong thời gian lũ lớn ở hạ lưu sông Lam lại trùng với thủy triều ở Cửa Hội đang trong chu kỳ nước cao (2,40m), tổ hợp bất lợi giữa lũ cao ở sông Cả và sông La xảy
ra đồng thời kết hợp với triều cao ở vùng cửa sông khiến việc thoát lũ rất khó khăn, gây ngập úng lớn trên diện rộng và kéo dài trong nhiều ngày
Hình 2.4: Quá trình mưa, lũ từ ngày 07-22/X/1988 tại các trạm trên
lưu vực sông Lam
c Trận mưa, lũ lớn tháng IX năm 2002
Do mưa to với cường độ lớn làm mực nước trên hệ thống sông Lam lên rất nhanh Trên sông Ngàn Phố, đỉnh lũ tại Sơn Diệm là 15,82m (lúc 20h/20/IX), cao hơn mực nước lũ năm 1989 là 0,47m và cao hơn BĐ3 là 2,82m Biên độ lũ lên là 11,03m; cường suất lũ lên trung bình 16,5cm/h, lớn nhất 159cm/h, tương đương với
Trang 37cường suất lũ lên của trận lũ tháng V/1989 (163cm/giờ) Cường suất lũ lớn nhất tại Sơn Diệm trong trận lũ này cũng lớn hơn cường suất lớn nhất tại các trạm lân cận từ
1,03-2,86 lần
Trên sông Ngàn Sâu, mực nước đỉnh lũ tại Chu Lễ: 14,54m (24h/21), cao hơn BĐ3: 1,04m; biên độ lũ lên: 11,43m; cường suất lũ lên trung bình 11,9cm/h, lớn nhất đạt 156cm/h Mực nước đỉnh lũ tại Hoà Duyệt là 11,77m (1h/22/IX), cao hơn BĐ3 là 1,27m; biên độ lũ lên 9,96m; cường suất lũ lên trung bình 11,1cm/h, lớn nhất 60cm/h Lưu lượng lũ lớn nhất là 2.740m3/s (2h/21/IX)
Mực nước tại Linh Cảm đạt 7,71m (7h/21/IX), trên BĐ3 là 1,21m; biên độ lũ lên là: 7,56m; cường suất lũ lên trung bình 10,5cm/h, lớn nhất 56cm/h Mực nước đỉnh lũ tại Linh Cảm đợt này đạt thứ 3 trong liệt tài liệu quan trắc, thấp hơn đỉnh lũ năm 1978 là 0,04m (Bảng 2.5, hình 2.5)
- Nam Đàn 01h/18 330 04h/22 782 452 99 5 11 <BĐIII (0,08) Ngàn Phố Sơn Diệm 01h/18 479 20h/20 1582 1103 67 16 160 >BĐIII (2,82) Ngàn Sâu Chu Lễ 01h/18 311 24h/21 1454 1143 96 12 156 >BĐIII (1.04) Ngàn Sâu Hòa Duyệt 07h/18 181 01h/22 1177 996 90 11 60 >BĐIII (1,27) Lam Linh Cảm 07h/18 15 07h/21 771 756 72 11 56 >BĐIII (1,21)
Trong 42 giờ lũ lên, lưu lượng tại Sơn Diệm tăng từ 43m3/s lên đến 5.200m3/s, gấp 121 lần Mực nước lớn nhất vượt mức đỉnh lũ trung bình nhiều năm
là 390cm, vượt BĐ3 là 2,82m Lưu lượng lớn nhất Qmax = 5.200m3/s lớn gấp 3,3 lần
Qmax trung bình nhiều năm (1.569m3/s) nhưng vẫn thấp hơn lưu lượng đỉnh lũ V/1989 với Qmax là 6.470m3/s và đạt thứ hai trong liệt số liệu quan trắc Biên độ lũ
Trang 38đạt 11,03m, cao hơn so với năm 1989 (10,92m) là 11cm và là biên độ mực nước lớn thứ nhất trong 36 năm gần đây Hạ lưu sông Cả tại Nam Đàn: Mực nước đỉnh lũ tại Nam Đàn: 7,82m (04h/22), thấp hơn BĐ3: 0,08m; biên độ lũ lên: 4,52m; cường suất
lũ lên lớn nhất là: 11cm/h
Hình 2.5: Đường quá trình mưa, lũ từ ngày 10-30/IX/2002 tại các trạm chính trên
lưu vực sông Lam
Mưa với cường suất lớn, tập trung trong phạm vi hẹp đã gây ra lũ quét tàn phá khốc liệt trên diện rộng các huyện miền núi của tỉnh Hà Tĩnh như Hương Sơn, Hương Khê, Vụ Quang Trận lũ lịch sử kinh hoàng trong khoảng 70 năm ở Hương Sơn, Hương Khê này có sức tàn phá lớn, để lại thiệt hại khủng khiếp về người và của
d Trận mưa, lũ lớn tháng VIII năm 2007
Trận lũ thứ nhất: Từ ngày 05 - 08/VIII, trên các sông ở Hà Tĩnh đã xuất hiện
một đợt lũ vừa và lớn với biên độ lũ lên trên các sông từ 5 - 13m Đặc biệt, trên sông Ngàn Sâu lũ lên nhanh với cường suất và biên độ lũ lớn; cường suất lũ lên lớn nhất tại Chu Lễ: 52cm/h, tại Hòa Duyệt: 74cm/h Biên độ lũ lên tại Chu Lễ là
Trang 3913,57m, tại Hòa Duyệt: 10,64m và là biên độ lớn nhất trong chuỗi số liệu quan trắc
36 năm gần đây Đỉnh lũ sông Ngàn Sâu lũ thuộc loại đặc biệt lớn, lũ lịch sử Đỉnh
lũ trên sông Ngàn Sâu tại Chu Lễ là 16,13m (06h/07/VIII), trên BĐ3: 2,63m, cao hơn lũ lịch sử năm 1996: 0,71m; tại Hòa Duyệt: 12,15m (21h/8/VIII), trên BĐ3: 1,65m, lưu lượng lớn nhất đạt 3.520m3/s, đứng thứ hai trong chuỗi số liệu quan trắc
từ năm 1975 đến nay Đỉnh lũ trên sông Ngàn Phố tại Sơn Diệm là 10,38m, trên mức BĐ1: 0,38m; sông La tại Linh Cảm: 5,47m (4h/9/VIII), xấp xỉ mức BĐ2 (Bảng 2.6, hình 2.6) Do lũ lớn chỉ xảy ra trên nhánh sông Ngàn Sâu, sông Ngàn Phố chỉ xuất hiện lũ nhỏ, tổng lượng lũ về hạ lưu không lớn lắm nên đỉnh lũ tại Linh Cảm ở mức thấp chỉ xấp xỉ mức BĐ2
- Hòa Duyệt 19h/04 151 21h/08 1215 1064 98 11 74 >BĐIII(2,15) Ngàn Phố Sơn Diệm 01h/04 471 07h/08 1038 567 102 6 96 >BĐI(0,38)
La Linh Cảm 02h/06 7 04h/09 547 540 74 7 40 ~BĐII
Trang 40Hình 2.6: Quá trình mưa, lũ từ ngày 01-31/VIII/2007 tại các trạm trên
lưu vực sông Lam
e Trận mưa, lũ lớn tháng X/2007:
Từ ngày 03 - 06/X/2007, trên hệ thống sông cả đã xuất hiện 1 đợt lũ lớn với biên độ lũ lên từ 4,0 - 9,0m; như tại Yên Thượng: 7,40m, Nam Đàn: 5,94m, Chu Lễ: 9,53m, Sơn Diệm: 7,93m Cường suất lũ lên trung bình ở hạ lưu sông La từ 11-18cm/h, tại thượng lưu từ 40 – 100cm Những nơi có cường suất lũ lên lớn như tại Chu Lễ là 101cm/h, tại Hòa Duyệt: 40cm/h, tại Sơn Diệm: 74cm/h Đỉnh lũ ở hạ lưu sông Cả và sông Ngàn Phố lên trên mức BĐ3, sông Ngàn Sâu còn dưới mức BĐ3
Do lũ lớn không đồng thời xảy ra trên hai nhánh Ngàn Sâu và Ngàn Phố nên đỉnh lũ
ở hạ lưu sông La không lớn, tại Linh Cảm chỉ lên mức 4,58m, trên BĐ1: 0,08m (Bảng 2.7, hình 2.7)