1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa

67 460 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 2,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ đề và mục tiêu nghiên cứu Chủ đề chính trong luận văn là nghiên cứu về biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của 2 loài cá đáy ở vùng biển Thanh Hóa, đó là cá mối thường Sauri

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGÔ VĂN MINH

ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG NGUỒN LỢI VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC

CỦA LOÀI CÁ MỐI THƯỜNG (Saurida tumbil) VÀ CÁ BÁNH ĐƯỜNG (Evynnis cardinalis) Ở VÙNG BIỂN THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SỸ

KHÁNH HÒA, 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGÔ VĂN MINH

ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG NGUỒN LỢI VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC

CỦA LOÀI CÁ MỐI THƯỜNG (Saurida tumbil) VÀ CÁ BÁNH ĐƯỜNG

(Evynnis cardinalis) Ở VÙNG BIỂN THANH HÓA

PGS.TS LẠI VĂN HÙNG

Khoa sau đại học

Trang 3

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cũng xin cam đoan mọi trích dẫn trong luận văn cũng như mọi số liệu được dùng được trích dẫn là hoàn toàn rõ nguồn gốc

Khánh Hoà, ngày 02 tháng 12 năm 2016

Tác giả luận văn

Ngô Văn Minh

Trang 4

iv

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS Vũ Việt Hà và PGS TS Nguyễn Đình Mão là người hướng dẫn trực tiếp và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này;

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, Phòng Nghiên cứu Nguồn lợi hải sản, chủ nhiệm dự án I.9 đã cho phép tôi sử dụng nguồn số liệu của dự án và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn này;

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Phòng nghiên cứu Nguồn lợi Hải sản - Viện Nghiên cứu Hải sản đã giúp đỡ tôi thu thập, phân tích số liệu và cung cấp các tài liệu cũng như số liệu trước đây để phục vụ quá trình nghiên cứu;

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Thanh Hóa và các đồng nghiệp trong đơn vị đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này; Tôi cũng xin dành những lời chân thành nhất để cảm ơn gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nha Trang, ngày 02 tháng 12 năm 2016

Tác giả luận văn

Ngô Văn Minh

Trang 5

v

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Nghiên cứu về cá bánh đường và cá mối thường trên thế giới 3

1.1.1 Cá bánh đường 3

1.1.2 Cá mối thường 7

1.2 Nghiên cứu về cá bánh đường và cá mối thường ở vùng biển Việt Nam 8

1.2.1 Cá bánh đường 8

1.2.2 Cá mối thường 13

1.3 Nghiên cứu về cá bánh đường và cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa 14

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Tài liệu nghiên cứu 17

2.1.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17

2.1.2 Nguồn số liệu 18

2.1.3 Ngư cụ và tàu thu mẫu 19

2.2 Phương pháp nghiên cứu 20

2.2.1 Phương pháp thu mẫu 20

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 20

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

3.1 Một số đặc điểm sinh học cơ bản 25

3.1.1 Cá bánh đường 25

a/ Phân bố tần suất chiều dài 25

b/ Chiều dài trung bình 26

Trang 6

vi

c/ Tương quan chiều dài và khối lượng 27

d/ Chiều dài cá sinh sản Lm 50 27

3.1.2 Cá mối thường 28

a/ Phân bố tần suất chiều dài 28

b/ Chiều dài trung bình 29

c/ Tương quan chiều dài và khối lượng 30

d/ Chiều dài cá sinh sản Lm 50 30

3.2 Đặc điểm nguồn lợi 31

3.2.1 Tỷ lệ sản lượng 31

3.2.2 Năng suất khai thác 33

3.2.3 Phân bố nguồn lợi 35

3.3 Trữ lượng và khả năng khai thác 37

3.3.1 Trữ lượng nguồn lợi 37

3.3.2 Khả năng khai thác 40

3.4 Biến động nguồn lợi 41

3.5 Đề xuất một số giải pháp quản lý nguồn lợi 43

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 45

4.1 Kết luận 45

4.2 Khuyến nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

PHỤ LỤC 1

Trang 7

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê các trạm nghiên cứu bằng lưới kéo đáy trong giai đoạn 2001-2005

và giai đoạn 2012-2013 ở vùng biển Thanh Hóa 19Bảng 2.2 Hệ số chết tổng số của cá bánh đường và cá mối thường trong từng giai đoạn 24Bảng 3.1 Chiều dài trung bình của cá bánh đường ở vùng biển Thanh Hóa trong các

năm nghiên cứu 27Bảng 3.2 Chiều dài trung bình của cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa trong các

năm nghiên cứu 30Bảng 3.3 Năng suất khai thác trung bình của cá bánh đường và cá mối thường ở vùng

biển Thanh Hóa theo thời gian 34Bảng 3.4 Trữ lượng tức thời (tấn) cá bánh đường và cá mối thường qua các năm điều

tra theo từng mùa gió 40Bảng 3.5 Khả năng khai thác (tấn) của cá bánh đường và cá mối thường ở vùng biển

Thanh Hóa theo thời gian 41Bảng 3.6 Tổng số lượng tàu thuyền, số lượng tàu lưới kéo và tổng công suất tương

ứng tham gia khai thác thủy sản tỉnh Thanh Hóa 43

Trang 8

cấu trúc nguồn lợi hải sản tầng đáy theo thời gian ở vùng biển Thanh Hóa 32Hình 3.6 Biến động năng suất khai thác của cá bánh đường và cá mối thường theo

vùng biển và theo thời gian 35Hình 3.7 Phân bố năng suất khai thác cá bánh đường qua các chuyến điều tra 36Hình 3.8 Phân bố năng suất khai thác cá mối thường theo các chuyến điều tra 37Hình 3.9 Biến động trữ lượng của cá bánh đường theo vùng biển và theo thời gian ở

vùng biển Thanh Hóa 38Hình 3.10 Biến động trữ lượng của cá mối thường theo vùng biển và theo thời gian ở

vùng biển Thanh Hóa 39

Trang 9

ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

1 Chủ đề và mục tiêu nghiên cứu

Chủ đề chính trong luận văn là nghiên cứu về biến động nguồn lợi và khả năng

khai thác của 2 loài cá đáy ở vùng biển Thanh Hóa, đó là cá mối thường (Saurida tumbil) và cá bánh đường (Evynnis cardinalis)

Mục tiêu nghiên cứu bao gồm:

- Đánh giá được biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối

thường (Saurida tumbil) và cá bánh đường (Evynnis cardinalis) ở vùng biển Thanh

Hóa từ năm 2001 tới 2013

- Góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý nghề cá của địa phương Nội dung nghiên cứu bao gồm:

- Nghiên cứu các đặc điểm sinh học cơ bản của cá bánh đường và cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa;

- Nghiên cứu biến động về nguồn lợi của cá bánh đường và cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa trong 2 giai đoạn, từ 2001-2005 và từ 2012-2013;

- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp để khai thác và bảo vệ hợp lý nguồn lợi cá bánh đường và cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa

2 Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn

- Phương pháp thu thập số liệu: Nguồn số liệu được thu thập từ các đề tài,

dự án điều tra bằng lưới kéo đáy từ năm 2001 tới nay; chỉ sử dụng số liệu của các trạm đánh bắt có tọa độ nằm trong vùng biển Thanh Hóa để phân tích và đánh giá

- Phương pháp phân tích số liệu: Sử dụng các phần mềm về thống kê mô tả

để phân tích các chỉ tiêu sinh học cũng như đánh giá biến động nguồn lợi theo các phương pháp phổ biến của các tác giả trên thế giới được áp dụng tại Việt Nam Các công thức trong luận văn được áp dụng theo các công thức của các tác giả trên thế giới

và ở Việt Nam đã được công nhận rộng rãi

Áp dụng một số phần mềm như Map info, Statictica, FiSat để phân tích cũng như thể hiện số liệu được sinh động và chính xác nhất

Trang 10

x

3 Kết quả chính

Đã xác định được một số đặc điểm sinh học cơ bản của cá bánh đường và cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa, bao gồm: kích thước bắt gặp, chiều dài trung bình, tương quan chiều dài và khối lượng, chiều dài cá thành thục tham gia sinh sản lần đầu

Đã đánh giá được hiện trạng nguồn lợi của loài cá bánh đường và cá mối thường

ở vùng biển Thanh Hóa thông qua các chỉ số nguồn lợi, gồm: tỷ lệ sản lượng, năng suất khai thác, phân bố nguồn lợi, trữ lượng và khả năng khai thác

Phân tích, đánh giá và chỉ rõ nguồn lợi cá bánh đường và cá mối thường ở vùng biển này đang chịu áp lực khai thác quá mức, có chiều hướng suy giảm rõ rệt thông qua phân tích tổng hợp biến động các chỉ số sinh học quần thể và chỉ số nguồn lợi Kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá và chỉ ra được vùng lộng là vùng có biến động nguồn lợi mạnh hơn so với vùng bờ, vùng khơi và trùng với ngư trường hoạt động mạnh của nghề lưới kéo đáy Đồng thời, kết quả cũng đã chỉ rõ biến động nguồn lợi các loài cá này có liên quan đến biến động số lượng tàu thuyền, cường lực khai thác của tỉnh Thanh Hóa trong những năm qua

Đã nghiên cứu được sự biến động nguồn lợi của cá bánh đường và mối thường ở vùng biển Thanh Hóa, từ đó đã đề xuất được một số giải pháp khai thác và bảo vệ hợp

lý nguồn lợi của 2 loài cá này

4 Kết luận và khuyến nghị

Cá bánh đường và cá mối thường là 2 loài cá kinh tế quan trọng chiếm tỷ lệ sản lượng cao trong cấu trúc nguồn lợi hải sản tầng đáy Vai trò của 2 loài cá này giảm dần cùng với xu hướng giảm về tỷ lệ sản lượng và năng suất theo chuỗi thời gian Chiều dài cá bắt gặp tương đối nhỏ, đàn cá con non chiếm tỷ lệ đáng kể trong sản lượng khai thác Trữ lượng nguồn lợi và khả năng khai thác của cá bánh đường ở vùng biển Thanh Hóa tương đối phong phú và có xu thế giảm mạnh theo thời gian đặc biệt trong những năm gần đây Nguồn lợi cá mối thường kém phong phú hơn so với nguồn lợi cá bánh đường Trữ lượng nguồn lợi và khả năng khai thác của cá mối thường ít biến động Vùng có biến động mạnh về nguồn lợi liên quan trực tiếp và trùng khớp với ngư trường hoạt động mạnh của nghề lưới kéo ở vùng biển Thanh Hóa Quần thể cá bánh đường và cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa chịu áp lực khai thác quá mức

Trang 11

xi

và có xu hướng quy giảm về nguồn lợi rõ rệt Việc áp dụng các giải pháp bảo vệ nguồn lợi nói chung, nguồn lợi hải sản tầng đáy và nguồn lợi cá bánh đường, cá mối thường nói riêng là cần thiết để phát triển nghề cá của tỉnh bền vững

5 Từ khóa

Cá mối thường, cá bánh đường, kích thước khai thác, năng suất, trữ lượng, khả năng khai thác.

Trang 12

1

MỞ ĐẦU

Vùng biển Thanh Hóa là một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học cao, nguồn lợi hải sản phong phú với rất nhiều loài hải đặc sản có giá trị kinh tế, tiềm năng phát triển nghề cá lớn (1) Trong những năm qua, với chủ trương phát triển khai thác hải sản xa bờ của Đảng và Nhà nước, hoạt động nghề cá ở Thanh Hóa đã và đang phát triển mạnh Số lượng phương tiện khai thác hải sản tăng, các cơ sở hậu cần nghề cá được đầu tư xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thực tiễn sản xuất Các cảng cá Lạch Hới, Lạch Bạng, Ngư Lộc đã trở thành những trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển nghề cá của tỉnh Nghề cá phát triển mạnh đồng nghĩa với cường lực khai thác gia tăng đã và đang tạo áp lực rất lớn đến khả năng phục hồi và tái táo nguồn lợi thủy sản Thực tế cho thấy, nguồn lợi hải sản ở vùng biển ven bờ, đặc biệt là vùng biển ven bờ Thanh Hóa đã và đang bị khai thác quá mức Ngư dân sử dụng các phương tiện khai thác có mức độ xâm hại nguồn lợi cao như sử dụng kích thước mắt lưới nhỏ, sử dụng hóa chất, xung điện trong khai thác Mặt khác, ngư trường khai thác chủ yếu tập trung ở khu vực ven bờ, bao gồm cả những nơi sinh cư, khu vực sinh sản, khu vực phát triển tự nhiên của ấu thể các loài thủy hải sản làm phá

vỡ cân bằng sinh thái, thu hẹp không gian sống của các loài sinh vật và làm giảm khả năng phục hồi nguồn lợi

Quản lý nghề cá ở vùng biển ven bờ nước ta nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng đang đối mặt với hàng loạt thách thức do thiếu thông tin khoa học về hiện trạng nguồn lợi cũng như hoạt động nghề cá của địa phương Trước áp lực khai thác ngày càng tăng, đặc biệt là ở vùng nước ven bờ thì thông tin về biến động nguồn lợi theo chuỗi thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở khoa học nền tảng cho công tác quản lý nghề cá và duy trì trữ lượng nguồn lợi bền vững

Cá bánh đường và cá mối thường là 2 loài cá chiếm tỷ lệ sản lượng cao trong sản lượng khai thác bằng lưới kéo đáy ở vùng biển Thanh Hóa Các kết quả điều tra nguồn lợi cho thấy cá bánh đường chiếm từ 34% trong tổng sản lượng những năm 1975-1976 (2) tới khoảng 18% ở giai đoạn 2000-2002 (3) Trong khi cá mối thường chiếm khoảng 1,2-5,5% tổng sản lượng ở những năm 2005-2007 (4) Vì vậy việc đánh giá được biến động nguồn lợi 2 loài cá này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá

Trang 13

2

nguồn lợi hải sản tầng đáy ở vùng biển Thanh Hóa Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của

công tác quản lý nghề cá tại địa phương, việc lựa chọn đề tài“Đánh giá biến động

nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (Saurida tumbil) và cá bánh đường (Evynnis cardinalis) ở vùng biển Thanh Hóa” là cần thiết và có tính

thực tiễn cao; góp phần đánh giá đúng biến động nguồn lợi của 2 loài cá này ở vùng biển Thanh Hóa từ đó phục vụ cho công tác quản lý nghề cá tại địa phương

Trang 14

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Nghiên cứu về cá bánh đường và cá mối thường trên thế giới

Cá có vài trò rất lớn trong đời sống của con người, trước hết chúng là nguồn thực phẩm vô cùng quan trọng, nhất là đối với các nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á, chúng là một những nguồn xuất khẩu đem lại nhiều lợi nhuận trong kinh tế xã hội, vì thế con người đã và đang tác động trực tiểp rất mạnh đến cá qua khai thác Mặc

dù nguồn lợi cá có khả năng tái tạo những không phải là vô hạn Do khai thác quá mức

và không có biện pháp quản lý hợp lý kịp thời, sản lượng của nhiều loài kinh tế đã bị giảm sút Theo các nhà thống kê nghề cá của FAO, nghề cá biển trên thế giới đã đạt tới sản lượng cao nhất là 100,3 triệu tấn vào năm 1989, nhưng đến năm 1999 xuống còn 84,1 triệu tấn Sản lượng khai thác đối với cá biển chắc chắn đã đạt tới giới hạn Điều này thể hiện qua sản lượng khai thác gần như không đổi trong khi cường lực khai thác tăng lên và mật độ cá lại giảm xuống Anthony (1993) và Hutchings & Myers, (1994)

đã nghiên cứu điều tra và kết luận rằng do khai thác quá mức đã làm suy giảm nghề cá đáy ở Đại Tây Dương Đối với nghề cá của các nước Đông nam Á là nghề cá qui mô nhỏ, đa loài và đa phương tiện Với số lượng lớn tàu cỡ nhỏ và thuyền thủ công, tập trung khai thác ở các vùng nước gần bờ, nghề cá quy mô nhỏ đã làm cho nguồn lợi cá

ở vùng ven bờ nhiều nước lâm vào tính trạng khai thác quá mức (5)

Trước tình hình đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm đánh giá về trữ lượng, đặc tính sinh học, mùa vụ sinh sản…của các loài cá kinh tế từ đó tìm ra các phương thức khai thác hợp lý, hiệu quả đồng thời góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản nói chung và các loài cá kinh tế nói riêng Sau đây là các công trình nghiên cứu trên thế giới về các loài cá kinh tế của đề tài:

Trang 15

4

Đặc điểm hình thái và phân bố của cá bánh đường đã được mô tả và làm cơ sở xây dựng khóa tra phân loại các loài khác nhau trong họ cá Tráp (Sparidae) Các chỉ số đếm cũng được mô tả ở đây cụ thể là D XII-10÷11 và A III- 2÷9 (6)

Nakabo tiến hành nghiên cứu, tập hợp và xây dựng khóa tra định loài cho các loài cá ở vùng biển Nhật Bản trong đó có loài cá bánh đường Một số chỉ tiêu đo và đếm cũng được mô tả chi tiết và nêu ra ở đây: D XII-10; A III-9; P 15; LL 58-64; TRac 4,5-6,5; GR 7-8 + 12-13 ≈ 19-21 (7)

Cá bánh đường phân bố tập trung ở phía tây Thái Bình Dương bao gồm vùng biển phía Đông, phía Nam Trung Hoa và vùng biển phía Bắc của Philippins (8) Bản

đồ phân bố địa lý của loài được thể hiện rõ hơn ở hình 1 Loài cá này thuộc nhóm cá rạn, thường sống ở vùng nước có độ sâu từ 0-100m và thức ăn chủ yếu là động vật đáy

- Nghiên cứu về tuổi và sinh trưởng

Cá bánh đường có chiều dài lớn nhất bắt gặp khoảng 40cm, tuy nhiên trong sản lượng đánh bắt thường gặp các cá thể có chiều dài khoảng 20cm (8) Khối lượng cá bánh đường có thể đạt được 900g và tương ứng với số tuổi tối đa là 12 tuổi (6)

Chen và Qui (2003) (9) tiến hành nghiên cứu về sinh trưởng của cá bánh đường ở vùng biển vịnh Bắc Bộ trên cơ sở số liệu thu thập về tần suất chiều dài và sinh học Kết quả ước tính các tham số trong phương trình sinh trưởng Von Bertalanffy cụ thể như sau: L∞=273mm; k = 0,45; to = -0,34

Đặc điểm về sinh trưởng của loài cá này ở vùng biển phía Nam Fujian và vùng biển Đài Loan được quan tâm nghiên cứu, trong đó các kết quả đã chỉ ra rằng: cấu trúc chủng quần của loài cá này có nhiều biến đổi, các cá thể sinh trưởng rất nhanh ở giai đoạn con non và quần thể cá bị đánh bắt ngày càng có xu hướng trẻ hơn Ngoài ra, các tham số trong phương trình sinh trưởng của Von Bertalanffy cũng được xác định ở đây: L∞ = 244,56mm; k = 0,2313; to = -1,1817 (10)

Một số đặc điểm sinh học chủng quần của cá bánh đường ở vùng biển Đài Loan được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở nguồn số liệu thu thập trong 12 tháng thuộc giai đoạn 2003-2004 Cấu trúc về chủng quần, các tham số sinh trưởng, mức tử vong của loài cá này được xác định và so sánh với kết quả nghiên cứu trước để thấy rõ sự biến

Trang 16

5

động về nguồn lợi Kết quả trong nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, chiều dài trung bình của đàn cá đánh bắt vào năm 2004 nhỏ hơn nhiều so với chiều dài trung bình của đàn

cá trong những năm 1976, 1994 và 2000 (11)

Cá bánh đường đánh bắt bằng lưới kéo đáy đơn và lưới rê ở vùng biển vịnh Bắc

Bộ giai đoạn từ tháng 7/2006 đến tháng 12/2007 được quan tâm nghiên cứu Tổng số mẫu thu thập và đo chiều dài là 1.155 cá thể Kết quả đã xác định được chiều dài kinh tế (SL) của loài cá này dao động trong khoảng 49 - 249mm Tuổi của cá được nghiên cứu dựa trên các vòng năm trên lắt cắt từ nhĩ thạch Vòng năm sinh trưởng được xác định bằng sự kết hợp của một vùng mờ đục ở phía trong và vùng mờ ở phía ngoài Dựa trên số liệu chiều dài và tuổi tương ứng, bằng phương pháp bình phương tối thiểu đã ước tính được các tham số trong phương trình sinh trưởng Von Bertalanffy cụ thể như sau: L∞ = 292,8mm; k = 0,167; to = -1,116 Ngoài ra, các tác giả cũng đã chỉ ra rằng, không có sự sai khác có ý nghĩa về sinh trưởng giữa giới đực và giới cái ở loài cá này (12) Trong giai đoạn sau, số liệu tiếp tục được bổ sung kéo dài đến tháng 3/2008, từ đó các tác giả đã chỉ

ra khoảng chiều dài ưu thế dao động trong khoảng 70 - 140 mm và chiếm 82,2% tổng số

cá thể phân tích (13)

- Nghiên cứu các hệ số chết (Z, F, M)

Dựa trên số liệu về tần suất chiều dài, các tham số sinh trưởng và nhiệt độ nước biển trung bình tầng mặt trong năm đã xác định được các hệ số chết của cá bánh đường, trong đó hệ số chết tổng số Z = 2,825; hệ số chết tự nhiên M = 1,045 và hệ số chết do khai thác F = 1,78 (14)

Hou et al năm 2008 khi nghiên cứu về cá bánh đường ở vịnh Bắc Bộ, tác giả cũng

đã xác định mức chết cho loài cá này ở giai đoạn 2006-2008, cụ thể hệ số chết tổng số Z = 1,0414; hệ số chết tự nhiên M = 0,2828 và hệ số chết do khai thác F = 0,7526 (13)

Nguồn lợi cá bánh đườngở vùng biển vịnh Bắc Bộ bị khai thác và sử dụng quá mức cho phép Tuổi và chiều dài cá trong sản lượng đánh bắt rất thấp, bên cạnh đó nguồn lợi có nhiều thay đổi khá rõ rệt Do vậy, trong nghiên cứu này các tác giả đã đưa ra kiến nghị là nên đánh bắt cá bánh đường ở độ tuổi lớn hơn 1 và chiều dài cơ thể trên 120mm (14)

Trang 17

6

Chen và Qiu năm 2005 (15) đã chỉ ra rằng, phân bố của cá bánh đường ở vịnh Bắc Bộ khác nhau theo mùa và theo dải độ sâu khá rõ Mật độ cá bánh đường vào mùa đông và mùa xuân là cao hơn so với mật độ vào mùa hè và mùa thu Thời điểm có mật

độ cao nhất là vào khoảng từ tháng 3 đến tháng 5 hàng năm Vùng biển ở dải độ sâu từ 30-60m có năng đánh bắt cao và vùng có độ sâu từ 30-40 cho năng suất đánh bắt cao nhất Năng suất đánh bắt trung bình ở vùng biển vịnh Bắc Bộ là khoảng 10,27kg/giờ, tương ứng với 700 cá thể/giờ

Năng suất đánh bắt trung bình của cá bánh đường ở vùng biển vịnh Bắc Bộ được ước tính khoảng 35,8 kg/giờ (năm 2000) và thấp nhất là 2,73 kg/giờ (năm 1992) (9) Giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 5 do đặc điểm di cư của loài cá này mà vùng biển phía Bắc vịnh có năng suất cao nhất Một vài năm gần đây hiện trạng nguồn lợi của đối tượng này đã được cải thiện, tuy nhiên sản lượng đánh bắt chủ yếu là các cá thể cá nhỏ chưa thành thục sinh dục (14)

Feng và cộng sự (2009) (16) đã tiến hành nghiên cứu và đánh giá hiện trạng nguồn lợi cá bánh đườngở vùng biển phía đông vịnh Bắc Bộ Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nguồn lợi cá bánh đường ở vùng biển này đang trong tình trạng khai thác quá mức cho phép Hệ số chết do khai thác giữa giới đực và giới cái của loài cá này ở vịnh Bắc Bộ là khác nhau không có ý nghĩa Do vậy, một số biện pháp quản lý, bảo vệ

và phục hồi nguồn lợi cá này đã được nghiên cứu và ban hành Trong đó, quy định rõ

về chiều dài đánh bắt nhỏ nhất cho phép là 105mm, ban hành lệnh cấm khai thác có thời hạn và khoanh vùng bảo vệ các bãi sinh sản của loài cá này Mục đích của các biện pháp này là nhằm làm tăng lượng bổ sung cho quần đàn và điều chỉnh mức khai thác luôn thấp hơn so với lượng bổ sung

Nhìn chung, các nghiên cứu về đối tượng này trên thế giới được quan tâm khá sớm Nội dung nghiên cứu khá phong phú, tuy nhiên vùng nghiên cứu chủ yếu là ở ven

bờ đảo Hải Nam thuộc vùng biển phía Đông vịnh Bắc Bộ (nửa bên kia đường biên giới) hoặc vùng biển Đài Loan Một số tham số quan trọng trong đánh giá nguồn lợi như Lm50, tương quan chiều dài - khối lượng, biến động năng suất theo thời gian, biến động chiều dài trung bình không được đề cập đến trong các nghiên cứu này

Trang 18

7

1.1.2 Cá mối thường

Ở Thái Lan, Boonwanich (1991) đã công bố một số kết quả về sự biến động chủng quần cá mối thường ở vùng biển phía Nam Vịnh Thái Lan Còn ở Philippine,

Tiews, Mines et al (1972) đã nghiên cứu về một số đặc sinh học của cá mối thường

bao gồm sự phân bố, tuổi và sinh trưởng, sinh sản, dinh dưỡng cho vùng biển này Ở Trung Quốc, Xu và Zhang (1999) Nghiên cứu tập tính ăn và thức ăn ưa thích nhất của một số loài cá kinh tế từ thềm lục địa đến vùng biển Đông Bắc ở đảo Nansha, trong đó có đề cập đến cá Mối thường Xu và Zhang (1989) đã có dẫn liệu về tuổi và sinh trưởng dựa vào phương pháp đọc tuổi trên vảy của cá Mối thường từ đó tác giả đã xác định được mùa vụ sinh sản cho cá Mối thường ở vùng biển này Trong khi đó 2 nhà nghiên cứu Jiang và Bai (1986) đã nghiên cứu rất sâu về so sánh một số đặc điểm sinh học sinh sản như trứng, giai đoạn phát triển phôi, giai đoạn phát triển ấu trùng và đặc điểm hình thái của cá Mối hoa và cá Mối thường ở vùng biển phía Bắc Đài Loan và biển phía Đông của Trung Quốc Shindo (1972) nghiên cứu về quần đàn của cá Mối thường và điều tra về sự phân bố, sự di cư của loài này, sinh trưởng và bãi đẻ, dinh dưỡng và đánh giá quần đàn của cá Mối thường cho vùng biển phía Đông Trung Quốc

Ở Ấn Độ, công trình Gulati, Devaraj và George (1994) đề cập tới một số đẫn liệu về đặc điểm sinh học như sinh trưởng, mức chết, lượng bổ sung và ước tính trữ lượng của

cá Mối thường cho vùng biển thêm lục địa Tây Bắc Nanda và Ramamoorthi (1980) nghiên cứu rất sâu về độ thành thục và sức đẻ trứng, cá con của của cá mối thường cho vùng biển Porto Novo Công trình của Rao (1983) đề cập tới tương quan khối lượng và chiều dài và biển đổi thức ăn của mối thường Dileep và cộng sự (1977) Nghiên cứu sự phát triển ấu trùng và sự xuất hiện cá con của của Mối thường, sự phân

bố và mối tương quan trữ lượng cá con cho bờ biển Tây Bắc ân Độ Ở Campuchia Năm 1986, Cher-Nhi-Kov E.I và Kar-Pen-Ko V.I thuộc bộ nghề cá Liên Xô, Viện Nghiên cứu nghề cá và Hải Đương Thái Bình Dương đã dùng tàu Shantar nghiên cứu thăm dò đánh giá trữ lượng, đặc điểm sinh học tôm cá như thành phần chiều dài, độ chín muồi tuyến sinh dục và độ no dạ dày cho vùng biển đặc quyền kinh tế của nước Campuchia trong đó có nêu lên họ cá mối (5)

Trang 19

8

Một kết quả phân tích khác tại ĐH Sri Jayawardenepura, Sri Lanka về thành phần acid béo trong một số loài cá ven biển Sri Lanka trong đó có cá mối ghi nhận các tỷ lệ acid béo trong cá mối như sau:

Acid béo no : 39 %

Acid béo chưa no đơn : 17 %

Acid béo chưa no đa (poly) : 37,3 %

Thành phần các acid béo được chia ra như sau (mg/trong 100g cá)

Palmitic acid : 2,9

Oleic acid : 3,5

EPA : 76,8

DHA : 257

1.2 Nghiên cứu về cá bánh đường và cá mối thường ở vùng biển Việt Nam

Trong những năm gần đây, trong nước đã có nhiều kết quả nghiên cứu công bố

về đặc điểm sinh học của các loài cá kinh tế vịnh Bắc Bộ như công trình của Lê Trọng Phấn, Trần Đôn, Hồ Sĩ Bình (1999) về đặc điểm sinh học một của một số loài cá đáy

và gần đáy ở vịnh Bắc Bộ trong đó tập trung nghiên cứu như: cá nục sồ, cá chỉ vàng,

cá phèn một sọc, cá phèn hai sọc, cá phèn khoai, cá lượng dài vây đuôi, cá lượng Nhật,

cá trác ngắn, cá bánh đường, cá hồng, cá mối, họ cá khế, họ cá căng, họ cá đù, họ cá

hè, họ cá bò, họ cá chim trắng Gần đây nhất có công trình nghiên cứu về mùa vụ sinh sản của cá bánh đường, cá nục sồ và cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa của

Lê Đức Giang (2013)

1.2.1 Cá bánh đường

Ở nước ta, các nghiên cứu về cá bánh đường công bố tập trung vào hình thái phân loại, phân bố, thành phần chiều dài, sinh trưởng, sinh sản và đặc điểm về nguồn lợi Một số kết quả nghiên cứu có thể kể đến cụ thể như sau:

- Các nghiên cứu về hình thái phân loại và phân bố

Nguyễn Nhật Thi và nnk (1995) lần đầu tiên nghiên cứu đặc điểm hình thái cá bánh đường ở vùng biển vịnh Bắc Bộ Các chỉ tiêu đo và chỉ tiêu đếm được mô tả rất chi tiết Một số chỉ tiêu đếm chủ yếu bao gồm: D VII-10; A III-9; P 15; V 15; số vảy

Trang 20

9

đường bên 7/60-62/15 Hình thái bên ngoài của cá bánh đườngđược mô tả khá rõ trong đó đặc điểm nhận dạng chính và làm cơ sở phân loại cho loài cá này trong họ Sparidae

là gai thứ 3 và 4 của vây lưng kéo dài thành đôi (2), (17)

Phạm Thược và nnk (1977) khi tiến hành nghiên cứu về cá đáy ở vịnh Bắc Bộ đã công bố một số kết quả nghiên cứu về cá bánh đường Đặc điểm hình thái phân loại của loài cá này được xác định cụ thể là: D XII-10; A III-9; P 5; V I-5; C 17 Trong kết quả đã công bố, tác giả cũng chỉ ra vùng phân bố địa lý của loài chủ yếu ở vùng biển Nhật Bản, Triều Tiên, Indonesia, Đông Hải và Nam Hải (2)

Dựa trên các kết quả nghiên cứu trước, Nguyễn Hữu Phụng và nnk (1965) đã tập

hợp và công bố “Danh mục cá biển Việt Nam” trong đó có cá Miễn sành hai gai Đây là

loài cá thường gặp, phân bố ở vùng biển của Indonesia, Triều Tiên, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam Ở nước ta, đối tượng này phân bố tập trung ở vùng biển vịnh Bắc Bộ (18)

- Các nghiên cứu về phân bố chiều dài

Chiều dài bắt gặp của cá bánh đường ở vịnh Bắc Bộ không được xác định trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Nhật Thi và nnk (1995) nhưng các tác giả đã xác định chiều dài kinh tế của loài cá này dao động trong khoảng 135-150mm (17)

Phân bố tần suất chiều dài của cá bánh đường chung cho từng năm được Phạm Thược và nnk chỉ ra khá chi tiết (2) Năm 1974, khoảng chiều dài bắt gặp của loài cá này là 70-210mm trong đó các nhóm ưu thế chính là 80-120mm và 140-165mm Năm

1975, khoảng chiều dài bắt gặp hẹp hơn so với năm 1974, cụ thể là 100-180mm, trong đó các nhóm ưu thế chỉ tập trung vào một khoảng nhất định từ 110-150mm Dựa trên phân bố tần suất chiều dài thấy rõ từ tháng 5 đến tháng 7 xuất hiện 2 đàn cá có kích thước khác nhau nhưng ở các tháng khác chủ yếu chỉ thấy 1 đàn có khoảng chiều dài bắt gặp rộng hơn Nhìn chung, cá bánh đường đánh bắt ở vịnh Bắc Bộ tập trung ở chiều dài 110-150mm là chủ yếu, các nhóm chiều dài lớn hơn 150mm có số lượng rất

ít chiếm tỷ lệ không đáng kể từ 0,16-0,32% Chiều dài bắt gặp của cá bánh đường ở vịnh Bắc Bộ dao động trong khoảng 50-260mm, trong đó chiều dài ưu thế tập trung chính từ 50-80mm và 140-170mm (3)

Trang 21

10

Cá bánh đường ở vịnh Bắc Bộ phân bố khá ngẫu nhiên và không theo quy luật nào Vào mùa gió Tây Nam 2004, cá lớn thường có xu hướng phân bố ở dải các dải độ sâu lớn hơn Chiều dài trung bình khai thác dao động trong khoảng 10,4-11,5cm và không có sự khác biệt theo chuỗi thời gian nghiên cứu (19)

- Nghiên cứu về sinh trưởng

Sinh trưởng của cá bánh đườngở vùng biển ven bờ vịnh Bắc Bộ đã được ước tính dựa trên số liệu sinh học và tần suất chiều dài thu thập từ các chuyến điều tra ngoài thực địa Các tham số trong phương trình sinh trưởng Von Bertalanffy của loài cá này được ước tính từ số liệu về phân bố tần suất chiều dài chạy trên phần mềm FiSAT II, kết quả cụ thể như sau: L∞ = 27,81cm; k = 0,375; to = 0,095 Các tham số trong phương trình tương quan chiều dài - khối lượng của cá bánh đường cũng được xác định, cụ thể a = 0,0073 và b = 3,2811 (3)

- Nghiên cứu về sinh sản

Dựa trên tỷ lệ thành thục của tuyến sinh dục theo từng tháng thu mẫu, các tác giả

đã nhận định mùa đẻ rộ của cá bánh đường là vào mùa đông (tháng 12, tháng 1 và tháng 2) Mùa xuân, có bắt gặp các cá thể thành thục sinh dục (giai đoạn IV) nhưng với tỷ lệ không nhiều, một số cá thể sinh sản vào cả đầu mùa xuân (2)

Năm 2013, đề tài “Xác định mùa vụ sinh sản của một số loài cá kinh tế ở vùng biển Thanh Hóa làm cơ sở khoa học cho công tác bảo vệ nguồn lợi” đã chỉ ra mùa vụ sinh sản của cá bánh đường và cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa Theo đó, cá bánh đường sinh sản từ tháng 12 năm trước tới khoảng tháng 2, tháng 3 sang năm và

rộ nhất là vào tháng 1 hằng năm; hệ số GSI cao nhất ở tháng 1 là 3,15% ở cá cái (20)

- Ước tính các hệ số chết

Dựa trên phân bố tần suất chiều dài thu thập ở vịnh Bắc Bộ và các tham số sinh trưởng trong phương trình sinh trưởng Von Bertalanffy, Chu Tiến Vĩnh (2001) đã xác định mức tử vong của cá Miễn sành ở vùng biển này Các kết quả chính đã công bố cụ thể như sau: hệ số chết tổng số Z = 2,24; hệ số chết tự nhiên M = 1,49 và hệ số chết do khai thác F = 0,75 Đây là kết quả duy nhất, nghiên cứu và công bố về loài cá này ở vịnh Bắc Bộ (3)

Trang 22

11

- Tỷ lệ thành phần sản lượng

Cá bánh đường là một trong những đối tượng cá kinh tế và có vai trò quan trọng đối với nguồn lợi hải sản ở vịnh Bắc Bộ Tỷ lệ sản lượng của loài cá này trong nghề lưới kéo đáy rất cao, đứng đầu trong thành phần sản lượng và chiếm 33,95% trong tổng sản lượng đánh bắt Nếu xét trong khoảng thời gian 1974-1975 thì thời gian này được coi là những năm được mùa cá bánh đường (2)

Nguồn lợi cá đáy ở vùng biển xa bờ vịnh Bắc Bộ được tiếp tục quan tâm nghiên cứu ở giai đoạn 1998-2000, trong đó một số đặc điểm về nguồn lợi cá bánh đườngđược công bố Tỷ lệ sản lượng của loài cá này tính chung cho cả năm khoảng 29,07% Xét riêng theo mùa, tỷ lệ sản lượng rất cao vào mùa gió Đông Bắc (37,6%) nhưng lại thấp ở mùa gió Tây Nam (1%) Cá bánh đường được xem là đối tượng đứng đầu trong 9 loài

ưu thế và có sản lượng đánh bắt bằng nghề kéo đáy là khá ổn định (21)

Chu Tiến Vĩnh và ctv (2001) khi nghiên cứu nguồn lợi cá đáy ở vùng biển ven

bờ Thanh Hóa đã chỉ ra cá bánh đường là một đối tượng có vai trò quan trọng trong sản lượng nghề lưới kéo đáy Tuy nhiên, tỷ lệ sản lượng của loài này khoảng 18,5% và thấp hơn so với các nghiên cứu trước Thành phần tỷ lệ sản lượng của cá bánh đường ở vùng biển ven bờ vịnh Bắc Bộ tính chung cho cả năm là khá cao, chiếm khoảng 27,4% tổng sản lượng đánh bắt Xét theo mùa gió, tỷ lệ sản lượng của loài cá này đánh bắt vào mùa gió Đông Bắc (38,2%) cao hơn nhiều so với mùa gió Tây Nam (11,5%) (1)

Biến động về tỷ lệ thành phần sản lượng cá bánh đường ở vùng biển phía Tây vịnh Bắc Bộ đã được Vũ Việt Hà tập trung nghiên cứu Kết quả, tác giả đã chỉ rõ, tỷ lệ sản lượng của loài cá này trong tổng sản lượng dao động trong khoảng 9,8 - 34,4% ở mùa gió Tây Nam và tương ứng là 9,6% vào mùa gió Đông Bắc (22)

7, cụ thể khoảng 250kg/giờ (năm 1974) và 134kg/giờ (2)

Trang 23

12

Năng suất đánh bắt cá bánh đường ở vùng biển ven bờ Thanh Hóa được xác định trên cơ sở kết quả điều tra nguồn lợi bằng lưới kéo đơn Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, năng suất đánh bắt loài cá này biến động lớn, khoảng 1,96 - 882,0 kg/giờ (1) Trên cơ sở số liệu về sản lượng của cá bánh đường thu thập vào mùa gió Tây Nam giai đoạn 2001-2005, một số đặc điểm về nguồn lợi cho loài cá này được đánh giá và công bố Nhìn chung, năng suất đánh bắt của cá bánh đường biến động rất mạnh và phân bố không theo quy luật chuẩn Năng suất đánh bắt có xu hướng giảm mạnh theo chuỗi thời gian, đặc biệt ở vùng nước xa bờ (có độ sâu 50-100m) giảm từ 15,5 kg/giờ (năm 2001) xuống còn 1,7 kg/giờ (năm 2005) Kết quả phân tích thống kê cho thấy, năng suất đánh bắt trung bình chung của cá bánh đường khác nhau có ý nghĩa (p<0,05) (19)

Vũ Việt Hà (2008) đã chỉ ra sự biến động về năng suất đánh bắt cá bánh đường ở vùng biển phía Tây vịnh Bắc Bộ Trong đó, năng suất đánh bắt cao nhất ở dải độ sâu 30-50m và thấp nhất ở dải độ sâu 50-100m Năng suất đánh bắt ở mùa gió Tây Nam năm 2001 cao ở tất cả các dải độ sâu Năng suất đánh bắt cao nhất đạt 59 kg/giờ ở dải

độ sâu 30-50m và thấp nhất ở dải độ sâu dưới 20m trong chuyến điều tra ở mùa gió Đông Bắc năm 2001 (22)

- Vùng phân bố tập trung

Vùng phân bố tập trung của cá bánh đường vào tháng 6 năm 1998 được xác định

là ở ngư trường Đông Nam Hòn Mê của vùng biển ven bờ Thanh Hóa (1) Phân bố không gian của loài cá này có sự khác nhau theo mùa gió khá rõ Ở mùa gió Đông Bắc, loài cá này tập trung ở vùng phía Bắc vịnh Bắc Bộ nhưng vào mùa gió Tây Nam vùng phân bố tập trung cả ở phía Bắc và phía Nam vịnh (2)

Đặc trưng phân bố và biến động nguồn lợi của một số loài cá đáy ở vùng biển phía Tây vịnh Bắc Bộ trong đó có cá bánh đường được Vũ Việt Hà quan tâm nghiên cứu Các số liệu sử dụng phân tích chủ yếu được trích rút từ cơ sở dữ liệu của dự án

“Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam” trong giai đoạn 2001-2005 Tác giả đã nhận định rằng, loài cá bánh đường phân bố rải rác khắp vịnh Bắc Bộ, tuy nhiên khu vực có năng suất cao tập trung ở vùng nước nông ven bờ phía Bắc của vịnh và loài cá này thường ít xuất hiện ở vùng cửa vịnh Bắc Bộ (22)

Trang 24

13

- Trữ lượng nguồn lợi

Chu Tiến Vĩnh và cộng sự (2001) đã ước tính sơ bộ và công bố trữ lượng của cá bánh đường ở vùng biển ven bờ Thanh Hóa khoảng 3.515 tấn, tương ứng với khả năng khai thác cho phép là 2.619 tấn (1)

Trữ lượng của loài cá này trên toàn vùng ven biển phía Tây vịnh Bắc Bộ được ước tính bằng phương pháp diện tích dựa trên dữ liệu thu thập bằng lưới kéo đáy đơn Kết quả đã xác định được trữ lượng của loài đạt khoảng 17.914 tấn và khả năng khai thác cho phép là 7.165 tấn (3)

Nguyễn Bá Thông (2006) khi nghiên cứu nguồn lợi cá bánh đường ở vịnh Bắc

Bộ đã nhận định rằng trữ lượng nguồn lợi của loài cá này có xu hướng giảm nghiêm trọng Ở mùa gió Tây Nam, trữ lượng biến động trong khoảng từ 12.150 tấn đến 33.952 tấn Xét trong khoảng thời gian, trữ lượng cá bánh đường ở vịnh Bắc Bộ ở năm

2005 đã bị suy giảm 58% trữ lượng so với trữ lượng ở năm 2001 (19)

Trên cơ sở tổng hợp các kết quả nghiên cứu về cá bánh đường ở vùng biển vịnh Bắc Bộ đã thể hiện rõ một số hạn chế, tồn tại và còn nhiều bất cập Công trình nghiên cứu của Phạm Thược và cộng sự (1977) là khá đầy đủ về nội dung và bao phủ đầy đủ các tháng trong năm, tuy nhiên các kết quả này quá xa với hiện tại, không đảm bảo về tính cập nhật của dữ liệu Các kết quả nghiên cứu ở công trình khác chủ yếu dựa trên nguồn số liệu từ các chuyến khảo sát đại diện cho mùa gió, thời gian nghiên cứu ít lặp lại hoặc không có, vùng biển nghiên cứu và hệ thống trạm vị không đồng nhất do vậy gây khó khăn trong quá trình phân tích, đánh giá xu hướng biến động Ngoài ra, nghiên cứu chuyên sâu về tuổi, thành phần tuổi của loài cá này ít được quan tâm Kết quả ước tính các tham số chủng quần, các hệ số chết còn rất hạn chế và chủ yếu dựa vào vào tần suất chiều dài, với số lượng mẫu thu thập không lớn và từ nguồn số liệu thu thập từ điều tra nguồn lợi độc lập nghề cá Bên cạnh đó, một số còn nhiều hạn chế khác cần được đánh giá và xem xét kỹ lưỡng

1.2.2 Cá mối thường

Ở Việt Nam, đặc điểm sinh học sinh sản của cá mối thường ở vùng biển vịnh Bắc

Bộ được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Một số công trình đề cập đến độ chín muối tuyến sinh dục, mùa sinh sản, sức sinh sản, tỷ lệ đực cái của loài này, điển hình là công

Trang 25

14

trình của Vũ Xuân Hoàn (1962), Bùi Đình Chung (1962), Nguyễn Xuân Lộc (1963), Đoàn Văn Dư (1977) và Phạm Thược (1977)

Năm 1980, Lê Trọng Phấn đã thực hiện nghiên cứu một vài đặc điểm sinh học của

họ cá mối trong đó có loài cá mối thường và tập trung vào thành phần chiều dài, thành phần tuổi khai thác, tốc độ sinh trưởng, đặc điểm sinh sản, đặc điểm dinh dưỡng của loài

ở vùng biển Việt Nam Phạm Thược (2003) cũng tiến hành các nghiên cứu tương tự cho một số loài cá kinh tế ở vùng biển Bạc Liêu trong đó có đề cập đến loài cá mối thường Một số tác giả đã chú ý tới các tham số chủng quần để phục vụ cho việc đánh giá nguồn lợi như Nguyễn Xuân Huấn nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, biến động trữ lượng và dự báo khả năng khai thác của 5 loài cá kinh tế ở vùng biển Bình Thuận - Ninh Thuận trong đó có cá mối thường (23) Các nghiên cứu đã chú ý và nêu lên những đặc điểm hình thái, thành phần thức ăn, tập tính sống, đặc điểm phân bố của cá mối thường

Nguyễn Văn Lục (1994) đã nghiên cứu và đề cập tới các vấn đề phân bố và biến động số lượng cá trong mối quan hệ với một số đặc trưng môi trường như nhiệt độ, dòng chảy, độ mặn và sinh học như sinh trưởng, mức chết tự nhiên, mức chết khai thác, đặc trưng dinh dưỡng và cơ sở thức ăn cho một số loài cá kinh tế có sản lượng cao ở vùng biển Ninh Thuận - Cà Mau, trong đó có cá mối thường Tác giả đã nêu lên khá đầy đủ về độ sâu phân bố, môi trường sống, đặc điểm di cư theo mua gió của loài này Hoàng Phi (1980), Nguyễn Hữu Phụng (1980) đã công bố các kết quả nghiên cứu

về sự phát triển phôi và trứng cá, cá con của cá mối thường (5)

1.3 Nghiên cứu về cá bánh đường và cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa

Nghiên cứu đánh giá nguồn lợi hải sản ở vùng biển Thanh Hóa đã được quan tâm

từ những năm 1998-1999 với các chương trình điều tra nghiên cứu giữa Đoàn quy hoạch Thủy sản Thanh Hóa và Viên Nghiên cứu Hải sản Kết quả sơ bộ đã đánh giá được hiện trạng nguồn lợi và đa dạng sinh học ở vùng biển ven bờ Thanh Hóa (Chu Tiến Vĩnh và Đoàn Văn Dư, 1998-1999) Trữ lượng nguồn lợi ở vùng biển này biến động mạnh từ 9 ngàn tấn (năm 1998) đến 25 ngàn tấn (năm 1999) Cá bánh đường và

cá mối thường chiếm tỷ lệ đáng kể trong sản lượng đánh lưới thu mẫu Một số thông tin ban đầu về nguồn lợi cá bánh đường và cá mối thường cũng được mô tả trong

Trang 26

15

nghiên cứu này Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu tập trung chính ở vùng biển ven

bờ, đồng thời số trạm điều tra ít (11 -13 trạm/ô thu mẫu) và số đợt điều tra chưa nhiều (2 đợt) nên kết quả còn tồn tại các hạn chế

Chu Tiến Vĩnh và nnk (2001) khi nghiên cứu nguồn lợi cá đáy ở vùng biển ven

bờ Thanh Hóa đã chỉ ra cá bánh đường là một đối tượng có vai trò quan trọng trong sản lượng nghề lưới kéo đáy tại vùng biển này Năng suất đánh bắt được xác định dao động trong khoảng 1,96 - 882,0 kg/giờ kéo lưới Tỷ lệ sản lượng của loài cá này chiếm khoảng 18,5% trong cấu trúc nguồn lợi hải sản tầng đáy ở vùng biển ven bờ Thanh Hóa Trên cơ sở mật độ nguồn lợi, vùng phân bố tập trung của cá bánh đường tại thời điểm tháng 6/1998 được xác định là ngư trường ở vùng biển Đông Nam hòn Mê, Thanh Hóa Trữ lượng của cá bánh đường ở vùng biển ven bờ Thanh Hóa ước tính khoảng 3.515 tấn và khả năng khai thác cho phép là 2.619 tấn (1)

Trong thời gian đần đây, Lê Đức Giang (2013) khi nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc đề xuất một số giải pháp bảo vệ nguồn lợi hải sản ở vùng biển Thanh Hóa, một số thông tin về mùa vụ sinh sản của cá mối thường ở vùng biển này được công bố Tác giả

đã nhận định rằng, cá mối thường sinh sản kéo dài từ tháng 4 tới tháng 9 hằng năm và rộ nhất ở thời điểm tháng 8 Hệ số thành thục sinh dục GSI của loài cá này ở vào thời điểm đàn cá đẻ rộ (tháng 8) đạt giá trị 2,7% (20)

Năm 2014, dựa trên kết quả điều tra nguồn lợi bằng lưới kéo đáy đơn vào mùa gió Tây Nam (tháng 5-6) giai đoạn 2000-2005, Lê Đức Giang đã công bố một số thông tin về đa dạng sinh học và nguồn lợi vùng biển Thanh Hóa (vùng phía bắc Hòn Mê) Tổng số loài hải sản đã thống kê được ở vùng biển này là 267 loài thuộc 153 giống và

86 họ hải sản Trữ lượng nguồn lợi hải sản ở vùng biển Thanh Hóa sơ bộ ước tính dao động khoảng 22,3-31,6 ngàn tấn và trung bình khoảng 27,3 ngàn tấn (5)

Theo Quy hoạch tổng thể phát triển Thuỷ sản Thanh Hóa đến năm 2015 định

hướng đến năm 2020, nguồn lợi hải sản vùng biển Thanh Hoá có đặc điểm tương đối

giống như nguồn lợi hải sản của các tỉnh ven biển thuộc Vịnh Bắc bộ Những loài hải sản có giá trị kinh tế của Vịnh Bắc bộ đều xuất hiện tại vùng biển Thanh Hoá Nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao, điển hình gồm: cá chim, cá thu, cá nhụ, cá đé, tôm

he, tôm bộp, tôm sú, mực nang, mực ống, cua.v.v Kết quả điều tra cho thấy, vùng

Trang 27

16

biển Thanh Hoá đã bắt gặp 190 loài thuộc 118 giống và 71 họ hải sản Nhóm cá có 155 loài, 102 giống, 60 họ; nhóm mực có 12 loài, 4 họ; nhóm tôm có 15 loài, 4 họ; nhóm cua/ghẹ có 4 loài, 1 họ và nhóm sam có 1 loài, 1 họ Về thành phần cấu trúc trong sản lượng khai thác, nhóm cá chiếm khoảng 89,8%, mực 7,2%, tôm 1,1% và ghẹ 1,1% Tổng số có 23 giống chiếm trên 1% sản lượng, tương ứng chiếm 88,6% trong tổng sản lượng Giống có tỉ lệ sản lượng cao nhất là giống cá bánh đường khoảng 18,5%, tiếp

đó là cá úc 13,6%, cá liệt 8,8% Mực ống là nhóm cũng chiếm tỉ lệ khá cao đạt 6,3%

Theo số liệu điều tra của Đoàn quy hoạch thủy sản Thanh Hóa cho thấy sản lượng và tần suất xuất hiện của các loài trong nhóm đối tượng nghiên cứu vào các thời điểm và các loại nghề như sau:

Trong thành phần sản lượng lưới giã đơn trong vụ Nam, cá liệt chiếm tỉ lệ cao nhất (21,5 %), sau đó là cá bánh đường (16,2 %), cá lượng (15,3 %), cá mối (4,0 %),

mực (4,08%),v.v

Về ngư trường:

Ngư trường khai thác cá đáy: Tập trung các loài có giá trị kinh tế như: cá hồng, nhỡ, đù, dưa, phèn, mối, lượng, tráp… Các ngư trường chính gồm: ngư trường lộng :

Từ bắc hòn Nẹ đến lạch Hới, độ sâu từ 10-20m; từ Sầm Sơn đến bắc Hòn Mê, độ sâu

từ 12-25m Ngư trường khơi: các bãi cá số 14 và 15, độ sâu từ 30- 60m

Ngư trường khai thác cá nổi: Tập trung các loài có giá trị kinh tế như: cá chim, thu, nhụ, đé, mòi, lầm, nục, trích , bạc má, chỉ vàng… Có 03 ngư trường chính gồm:

Từ đông bắc lạch Hới đến đông nam Hòn Mê, độ sâu từ 30-60m, cách bờ từ 30-50 hải

lý Từ bắc Hòn Nẹ đến tây nam Hòn Mê, độ sâu từ 15-30m Từ giáp Ninh Bình đến giáp Nghệ An, độ sâu khai thác từ 8-12m

Trang 28

17

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Tài liệu nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là 2 loài gồm cá bánh đường và mối thường (

Hình 2.1):

(a)

(b)

Trang 29

18

Hình 2.1 Cá bánh đường (a) và cá mối thường (b)

Vị trí phân loại của cá bánh đường và cá mối thường như sau:

Danh pháp khoa học Evynnis cardinalis Lacepède,

1802

Saurida tumbil Block, 1795

Tên tiếng Anh Threadfin porgy Greater lizardfish

* Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là vùng biển Thanh Hóa giới hạn từ vĩ độ 19017’15’’N đến

19049’34’’N và phía động được giới hạn bởi đường phân định trên biển giữa Việt Nam

và Trung Quốc

2.1.2 Nguồn số liệu

Số liệu được tổng hợp thu thập từ các chuyến điều tra của dự án “Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam giai đoạn II (2001-2005)” và dự án “Điều tra tổng thể hiện trạng và biến động nguồn lợi hải sản biển Việt Nam (2012-2013)” do Viện

nghiên cứu Hải sản thực hiện

Từ nguồn số liệu điều tra của các đề tài dự án, các trạm điều tra thuộc vùng biển nghiên cứu được lọc, tách riêng và phục vụ cho tính toán Tổng số có 126 trạm điều tra

Trang 30

bao gồm dữ liệu về tương quan chiều dài và khối lượng, chiều dài thành thục lần đầu

Lm50 và mùa vụ sinh sản của cá mối thường, cá bánh đường ở vùng biển Thanh Hóa Bảng 2.1 Thống kê các trạm nghiên cứu bằng lưới kéo đáy trong giai đoạn 2001-2005

và giai đoạn 2012-2013 ở vùng biển Thanh Hóa

Ghi chú: (*) là dữ liệu bổ sung điều tra bằng lưới kéo tôm ở vùng biển ven bờ; “-“ không có số liệu

2.1.3 Ngư cụ và tàu thu mẫu

Ngư cự sử dụng trong các chương trình điều tra nguồn lợi hải sản tầng đáy là lưới kéo đáy đơn cá Tàu điều tra là tàu cá thuê của ngư dân Thực hiện đánh lưới ban ngày theo mạng trạm cố định được thiết kế sẵn

Dự án ALMRV (2001-2005): Lưới kéo thu mẫu nguồn lợi là lưới kéo đáy đơn cá có kích thước mắt lưới ở đụt 2a = 35mm, chiều dài giềng phao là 29m Tàu điều tra Đông Nam 05 có công suất máy chính là 500CV

Dự án I.9 (2012-2013): Lưới kéo thu mẫu nguồn lợi là lưới kéo đáy đơn cá có kích thước mắt lưới ở đụt 2a = 30mm và chiều dài giềng phao là 26,28m Tàu điều tra

là tàu thuê của ngư dân có công suất máy chính là 640CV

Trang 31

20

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu mẫu

Phương pháp điều tra nguồn lợi hải sản tầng đáy sử dụng lưới kéo đáy đơn cá thu mẫu theo mạng trạm cố định, thực hiện vào ban ngày được đồng nhất trong cả 2 giai đoạn 2001-2005 và 2012-2013 Phương pháp điều tra, thu mẫu nguồn lợi được mô tả

cụ thể như sau:

Thu mẫu sản lượng mẻ lưới

Tại mỗi trạm nghiên cứu tiến hành đánh một mẻ lưới, thời gian đánh lưới trung bình là 1 giờ Tốc độ dắt lưới 3,2-3,6 hải lý/giờ tùy thuộc vào tình hình thực địa nhưng tối thiểu phải trên 3,0 hải ly/giờ Thông tin về mẻ lưới được ghi chi tiết trên biểu kết quả đánh lưới gồm thông tin chung chuyến điều tra, thông tin ngư lươi cụ sử dụng, vị trí thả và thu lưới, tốc độ và thời gian kéo lưới Sản lượng mẻ lưới được phân loại đến loài, đếm số cá thể và cân khối lượng của loài Cá bánh đường và cá mối thường được tách riêng để xác định sản lượng cho những đối tượng này

Thu mẫu sinh học

Mẫu sinh học của caá bánh đường và mối thường được thu thập sau khi hoàn thành việc phân tích thành phần loài và thành phần sản lượng mẻ lưới Mẫu sinh học được thu thập, ghi nhãn thông tin mẻ lưới, cấp đông và đưa về phòng thí nghiệm phân tích Phân tích sinh học bao gồm: đo chiều dài cơ thể, cân khối lượng của từng cá thể, xác định giới tính, giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục và độ no dạ dày Chiều dài

sử dụng trong nghiên cứu là chiều dài đến chẽ vây đuôi (Fork Length - FL), đơn vị đo

là mm Cân khối lượng toàn thân sử dụng đơn vị là gram Xác định giới tính và độ chín muồi tuyến sinh dục bằng mắt thường theo thang 6 bậc của Nikolsky (24) Cá có

độ chín muồi tuyến sinh dục từ giai đoạn IV là cá thành thục và giai đoạn I - III là cá chưa thành thục

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu

a) Một số chỉ số sinh học cơ bản

- Tần suất chiều dài và chiều dài trung bình

Trang 32

21

Tần suất chiều dài của cá bánh đường và cá mối thường được vẽ trên biểu đồ hình cột thể hiện theo tháng thu mẫu Tần suất chiều dài 2 loài cá ở các năm được tích hợp theo biểu đồ dạng cột ngang trong phần mềm FISAT II

Chiều dài trung bình của quần thể cá bánh đường và cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa được tính theo công thức của Sparre và Vanema (1998) (25):

j m

j

F n

F n

1

Trong đó: X là chiều dài trung bình (mm), F j là số cá thể của nhóm chiều dài thứ

j, L j là chiều dài của nhóm thứ j (cm), n là tổng số cá thể của loài (cá thể), m là số

nhóm chiều dài

- Tương quan chiều dài và khối lượng

Tương quan chiều dài và khối lượng của cá được xác định bằng phương pháp hồi quy lặp phi tuyến tính (26):

W = a * FLb

Trong đó: W là khối lượng cá thể (gam); FL là chiều dài của cá thể (cm); b là hệ

số sinh trưởng; a là hệ số quan hệ

- Chiều dài thành thục lần đầu Lm 50

Chiều dài thành thục Lm50 được xác định bằng hồi quy lặp phi tuyến tính theo công thức của Udupa (27):

P = 1/(1 + e-r*(FL – Lm50)) Trong đó: P là tỷ lệ thành thục sinh dục theo nhóm chiều dài; FL là chiều dài đến chẽ vây đuôi (cm); Lm50 là chiều dài thành thục lần đầu (chiều dài ở đó 50% số lượng

cá thể lần đầu tham gia vào quần đàn sinh sản); r là hệ số của phương trình

b) Tỷ lệ thành phần sản lượng

Tỷ lệ % sản lượng được tính toán theo hướng dẫn của Simmonds & MacLennan (2005) sử dụng trong phân tích thành phần loài Trong quá trình thực hiện, tùy thuộc vào tình hình thực địa mà thời gian kéo lưới có thể nhiều hoặc ít hơn 1 giờ, do vậy tỷ lệ sản lượng được tính quy chuẩn theo 1 giờ kéo

Trang 33

22

lưới Giả sử có n trạm thu mẫu trong vùng biển nghiên cứu thì tỷ lệ sản lượng của loài i đóng góp vào tổng sản lượng của mẻ lưới k được tính theo công thức:

Trong đó: Ti là tỷ lệ sản lượng của cá bánh đường/cá mối thường ở trạm thứ

i (%); wi là sản lượng của cá bánh đường/cá mối thường ở trạm thứ i (kg); Ci là tổng sản lượng mẻ lưới thu mẫu ở trạm thứ i (kg); ti là thời gian kéo lưới tại trạm thứ i (giờ)

c) Năng suất khai thác và phân bố nguồn lợi

Năng suất khai thác (CPUE) là sản lượng khai thác trên 1 giờ kéo lưới (kg/h) được xác định theo Sparre & Venema (1998) Do các chương trình khác nhau sử dụng tàu điều tra là khác nhau nên năng suất khai thác được quy về tàu chuẩn trước khi tính toán Năng suất trung bình được ước tính cho từng chuyến điều tra Biến động năng suất khai thác trung bình theo chuỗi thời gian được mô

tả, phân tích và được xem là chỉ số biến động nguồn lợi của đối tượng này (25):

Trong đó: CPUEi là năng suất đánh bắt của trạm thứ i (kg/h); Ci là sản

lượng của trạm thứ i (kg); ti là thời gian kéo lưới của trạm thứ i (h);

năng suất đánh bắt trung bình (kg/h);n là tổng số trạm khảo sát

Phân bố năng suất đánh bắt theo không gian được biểu diễn trên bản đồ sử dụng phần mềm Map Infor 10.0 Để thuận tiện cho việc xác định biến động nguồn lợi theo không gian, các tháng chia năng suất khai thác được sử dụng thống nhất việc xây dựng bản đồ phân bố nguồn lợi

d) Mật độ, trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi

Mật độ nguồn lợi (CPUA) và trữ lượng nguồn lợi của cá bánh đường và cá mối thường được xác định theo phương pháp diện tích của Guland (1969) (28) Diện tích

Ngày đăng: 14/03/2017, 22:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Chu Tiến Vĩnh. Báo cáo chuyên đề Điều tra nguồn lợi hải sản ven bờ vịnh Bắc Bộ. Báo cáo thuộc dự án "Điều tra nguồn lợi hải sản và điều kiện môi trường các vùng trọng điểm phục vụ mục tiêu phát triển lâu bền ngành hải sản vùng ven bờ". Viện Nghiên cứu Hải sản. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra nguồn lợi hải sản và điều kiện môi trường các vùng trọng điểm phục vụ mục tiêu phát triển lâu bền ngành hải sản vùng ven bờ
4. Đào Mạnh Sơn và nnk. Báo cáo tổng kết dự án "Điều tra liên hợp Việt - Trung đánh giá nguồn lợi hải sản trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ, giai đoạn I, năm 2005- 2007". Viện Nghiên cứu Hải sản. 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra liên hợp Việt - Trung đánh giá nguồn lợi hải sản trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ, giai đoạn I, năm 2005-2007
19. Nguyễn Bá Thông. Hiện trạng nguồn lợi cá Miễn sành hai gai (Evynnis cardinalis) phân bố ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ dựa trên cơ sở số liệu điều tra khảo sát bằng tàu giã đơn trong giai đoạn 2001-2005. Tạp chí Thủy sản 2006. Số 1:37-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evynnis cardinalis
31. Phạm Huy Sơn và nnk. Báo cáo Tổng kết dự án Việt - Trung giai đoạn III "Đánh giá nguồn lợi hải sản trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ, giai đọn III, 2011- 2013". 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nguồn lợi hải sản trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ, giai đọn III, 2011-2013
36. Phạm Huy Sơn và nnk. Báo cáo tổng kết dự án "Điều tra liên hợp Việt - Trung đánh giá nguồn lợi hải sản trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ, giai đoạn II".Hải Phòng: Viện Nghiên cứu Hải sản. 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra liên hợp Việt - Trung đánh giá nguồn lợi hải sản trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ, giai đoạn II
1. Chu Tiến Vĩnh &amp; ctv. Điều kiện môi trường và nguồn lợi hải sản vùng biển ven bờ Thanh Hóa. Tuyển tập các công trình nghiên cứu nghề cá biển 2001. Tập II:175-98 Khác
2. Phạm Thược và cộng sự. Báo cáo tổng kết tình hình nguồn lợi và ước tính trữ lượng cá tầng đáy vịnh Bắc Bộ. Hải Phòng: Viện Nghiên cứu hải sản. 1977 Khác
5. Lê Đức Giang. Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc bảo vệ nguồn lợi cá biển vùng biền Thanh Hóa. Hải Phòng: Viện Nghiên cứu Hải sản. 2014 Khác
6. FAO. Eastern Indian Ocean (Fishing area 57) and Western Central Pacific (Fishing area 71). 1974. Vol IV Khác
7. Tetsuji Nakabo. Fishes of Japan with pictorial keys to the species: Tokai University Press. 2002 Khác
8. Eggleston D. Sparidae. In W. Fischer and P.J.P. Whitehead (eds.) FAO species identification sheets for fishery purposes. Eastern Indian Ocean (Fishing Area 57) and Western Central Pacific (Fishing Area 71), . FAO, Rome.1974 Khác
9. Chen Gou Bao and Qiu Yong Song. Study on growth, mortality and reasonable utilization of Decapterus maruadsi in northern continental shelf waters of South China Sea. Journal of Oceanography in Taiwan2003. 4 Khác
10. Ye. S.Z. Growth characteristics of golden-skin porgy, Parargyrops edita, in the south Fujian and Taiwan bank fishing ground. Journal of Fisheries of China2004.28:p 663-8 Khác
11. Du J. A et al. Changes in ecological parameters of Parargyrops edita population in southern Taiwan Strait , 2. Journal of Oceanography in Taiwan Strait2008. Vol 2 Khác
12. Hou. G et al. Age and Growth Characteristics of Crimson Sea Bream Paragyrops edita Tanaka in Beibu Gulf. Journal of Ocean University of China2008a. 7(4) Khác
13. Hou. G. et al. Growth, Mortality and Population Composition of Crimson Sea Bream, Paragyrops edita Tanaka in Beibu Gulf. Jounal of Guangdong Ocean University2008b. 28(3) Khác
14. Chen. A. C. Esitimation of growth and mortality parameters of Parargyrops edita Tanaka in Beibu Bay. Jounal of Fisheries of China2003. 27(3) Khác
15. Chen ZZaQ, Y. S. . Ecological distribution of Paragyrops edita Tanaka in the Beibu Gulf Marine Fisheries research2005. 26:16-21 Khác
16. Feng. B. et al. Management Recommendation for Paragyrops edita in Beibu Gulf based on Per-recruilment Analysis System. Journal Science and Comprehensive Studies in Agriculture2009. 25(1) Khác
17. Nguyễn Nhật Thi và nnk. Những đặc điểm phân loại chủ yếu của cá vịnh Bắc Bộ. 1965 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Cá bánh đường (a) và cá mối thường (b) - Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa
Hình 2.1. Cá bánh đường (a) và cá mối thường (b) (Trang 29)
Bảng 2.1. Thống kê các trạm nghiên cứu bằng lưới kéo đáy trong giai đoạn 2001-2005 - Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa
Bảng 2.1. Thống kê các trạm nghiên cứu bằng lưới kéo đáy trong giai đoạn 2001-2005 (Trang 30)
Hình 3.1. Phân bố tần suất chiều dài của cá bánh đường ở vùng biển Thanh Hóa ở một - Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa
Hình 3.1. Phân bố tần suất chiều dài của cá bánh đường ở vùng biển Thanh Hóa ở một (Trang 37)
Bảng 3.1. Chiều dài trung bình của cá bánh đường ở vùng biển Thanh Hóa trong các  năm nghiên cứu - Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa
Bảng 3.1. Chiều dài trung bình của cá bánh đường ở vùng biển Thanh Hóa trong các năm nghiên cứu (Trang 38)
Hình 3.2. Biều đồ tương quan tỷ lệ thành thục và chiều dài của cá bánh đường ở vùng  biển Thanh Hóa - Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa
Hình 3.2. Biều đồ tương quan tỷ lệ thành thục và chiều dài của cá bánh đường ở vùng biển Thanh Hóa (Trang 39)
Hình 3.3. Phân bố tần suất chiều dài của cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa dựa  trên dữ liệu điều tra nguồn lợi - Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa
Hình 3.3. Phân bố tần suất chiều dài của cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa dựa trên dữ liệu điều tra nguồn lợi (Trang 40)
Bảng 3.2. Chiều dài trung bình của cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa trong các  năm nghiên cứu - Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa
Bảng 3.2. Chiều dài trung bình của cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa trong các năm nghiên cứu (Trang 41)
Hình 3.4. Biều đồ tương quan tỷ lệ thành thục và chiều dài của cá mối thường ở biển Thanh Hóa - Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa
Hình 3.4. Biều đồ tương quan tỷ lệ thành thục và chiều dài của cá mối thường ở biển Thanh Hóa (Trang 42)
Hình 3.5. Tỷ lệ sản lượng (%) trung bình của cá bánh đường và cá mối thường trong  cấu trúc nguồn lợi hải sản tầng đáy theo thời gian ở vùng biển Thanh Hóa - Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa
Hình 3.5. Tỷ lệ sản lượng (%) trung bình của cá bánh đường và cá mối thường trong cấu trúc nguồn lợi hải sản tầng đáy theo thời gian ở vùng biển Thanh Hóa (Trang 43)
Bảng 3.3. Năng suất khai thác trung bình của cá bánh đường và cá mối thường ở vùng   biển Thanh Hóa theo thời gian - Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa
Bảng 3.3. Năng suất khai thác trung bình của cá bánh đường và cá mối thường ở vùng biển Thanh Hóa theo thời gian (Trang 45)
Hình  3.6 .  Biến  động  năng  suất  khai  thác  của  cá  bánh  đường  và  cá  mối  thường  theo  vùng biển và theo thời gian - Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa
nh 3.6 . Biến động năng suất khai thác của cá bánh đường và cá mối thường theo vùng biển và theo thời gian (Trang 46)
Hình 3.7. Phân bố năng suất khai thác cá bánh đường qua các chuyến điều tra - Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa
Hình 3.7. Phân bố năng suất khai thác cá bánh đường qua các chuyến điều tra (Trang 47)
Hình 3.8. Phân bố năng suất khai thác cá mối thường theo các chuyến điều tra - Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa
Hình 3.8. Phân bố năng suất khai thác cá mối thường theo các chuyến điều tra (Trang 48)
Hình 3.9. Biến động trữ lượng của cá bánh đường theo vùng biển và theo thời gian ở  vùng biển Thanh Hóa - Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa
Hình 3.9. Biến động trữ lượng của cá bánh đường theo vùng biển và theo thời gian ở vùng biển Thanh Hóa (Trang 49)
Hình 3.10. Biến động trữ lượng của cá mối thường theo vùng biển và theo thời gian ở  vùng biển Thanh Hóa - Đánh giá biến động nguồn lợi và khả năng khai thác của loài cá mối thường (saurida tumbil) và cá bánh đường (evynnis cardinalis) ở vùng biển thanh hóa
Hình 3.10. Biến động trữ lượng của cá mối thường theo vùng biển và theo thời gian ở vùng biển Thanh Hóa (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w