Khảo sát việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp .... - Phương pháp phân tích, so sánh, tổng
Trang 1CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THEO HƯỚNG TÍCH HỢP
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Người hướng dẫn khoa học ThS Nguyễn Thị Hương
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận, em xin tri ân các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, cách riêng là Quý thầy (cô) giáo trong khoa Giáo dục mầm non, đã hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện khóa luận này
Đặc biệt, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - ThS Nguyễn Thị Hương
đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài Những bước chân đầu tiên còn nhiều bỡ ngỡ nhưng
cô luôn quan tâm và dành nhiều tâm huyết giúp đỡ em
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy (cô) giáo, bạn bè và tất cả mọi người đã cùng cộng tác và giúp em hoàn thành khóa luận
Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian có hạn và bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những thiếu xót
em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý thầy (cô) để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu căn cứ kết quả có trong khóa luận là trung thực Đề tài của tôi chƣa đƣợc công
bố trong bất kì công trình khoa học nào khác
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Phạm Thị Hồng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc đề tài 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ “NƯỚC VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN” CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THEO HƯỚNG TÍCH HỢP 6
1.1 Khái niệm 6
1.1.1 Chương trình giáo dục 6
1.1.2 Chương trình giáo dục mầm non 7
1.1.3 Phát triển chương trình Giáo dục 7
1.1.4 Chủ đề 8
1.1.5 Phát triển chủ đề 9
1.2 Sự phát triển chương trình Giáo dục mầm non 9
1.3 Vai trò của việc phát triển chương trình nhà trường 11
1.4 Cách thức phát triển chương trình 11
1.5 Cơ sở khoa học của việc phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp 11
1.5.1 Cơ sở triết học 11
Trang 61.5.2 Cơ sở tâm lí 12
1.5.3 Cơ sở lí luận dạy học hiện đại 14
1.6 Các cách tiếp cận phát triển chủ đề 14
1.6.1 Tiếp cận nội dung 14
1.6.2 Tiếp cận mục tiêu 15
1.6.3 Tiếp cận hệ thống 15
1.7 Định hướng phát triển chủ đề 16
1.8 Một số vấn đề về tích hợp 16
1.8.1 Khái niệm 16
1.8.2 Giáo dục tích hợp 18
1.8.3 Dạy học tích hợp 20
1.8.4 Đặc trưng của dạy học theo hướng tích hợp 21
1.8.5 Vai trò của dạy học tích hợp trong dạy học mầm non 22
1.9 Đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn 23
1.9.1 Đặc điểm sinh lí 23
1.9.2 Đặc điểm tâm lí 24
1.9.3 Đặc điểm nhận thức 26
Kết luận chương 1 27
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ “NƯỚC VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN” CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THEO HƯỚNG TÍCH HỢP 29
2.1 Khảo sát việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp 29
2.1.1 Mục đích khảo sát thực trạng 29
2.1.2 Đối tượng khảo sát thực trạng 29
2.1.3 Nội dung khảo sát thực trạng 29
Trang 72.1.4 Phương pháp khảo sát thực trạng 31 2.1.5 Kết quả khảo sát thực trạng việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp 31
Kết luận chương 2 39 Chương 3 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ “NƯỚC VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN” CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THEO HƯỚNG TÍCH HỢP 40 3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp 40
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển cả về nội dung và cách thức tiến hành phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp 40 3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích, phù hợp với bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi 41 3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp của nội dung trọng tâm và nội dung tích hợp trong chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” của trẻ mẫu giáo lớn 42 3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn khi phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn 43 3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hấp dẫn để trẻ phát huy tính tích cực, tự
do, tự nguyện tham gia vào các hoạt động được phát triển trong chủ đề 44
3.2 Biện pháp phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp 44
3.2.1 Phát triển chủ đề nhánh 44 3.2.2 Phát triển nội dung/hình thức tổ chức hoạt động 59
Trang 83.2.3 Mỗi giáo viên tự nâng cao nhận thức, năng lực về phát triển chủ đề
“Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng
tích hợp 61
Kết luận chương 3 62
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thế kỉ XXI mở ra cho nước ta nhiều cơ hội phát triển mới, những thành công trong các lĩnh vực khác nhau, sánh vai với sự phát triển chung trên toàn thế giới Hòa chung với nhịp điệu chuyển mình ấy, Giáo dục Việt Nam cũng
có những đổi mới và những bước tiến quan trọng cả về nội dung và các phương pháp, đã và đang tạo ra những giá trị bền vững cho sự nghiệp “trồng người” Và sự chuyển biến ấy ở mỗi bậc học khác nhau lại có những nét riêng biệt Đầu tiên và quan trọng hơn hết là những chương trình phát triển trong Giáo dục mầm non được thể hiện rõ nét qua việc phát triển chủ đề
Ở trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 5- 6 tuổi, đây là giai đoạn mà sự phát triển của các chức năng dần đi vào hoàn thiện, trẻ được khám phá làm quen tiếp xúc nhiều với thế giới xung quanh qua gia đình và nhà trường, qua những hiểu biết mà trẻ được tự mình trải nghiệm Đây cũng là giai đoạn quan trọng tạo tiền đề cho trẻ bước vào lớp một Vì vậy, ngay trong chính bản thân trẻ cũng luôn có nhu cầu học tập được đổi mới và nâng cao Trẻ thích được khám phá, mở rộng theo nhiều hướng đi khác nhau, kết hợp và đan xen nhiều biện pháp “học mà chơi, chơi mà học” nhờ đó trẻ cảm thấy thích thú với các hoạt động, say mê học tập làm giảm đi các hoạt động nhàm chán theo lối cũ
Bởi vậy, việc phát triển chương trình nói chung và việc phát triển chủ đề theo hướng tích hợp nói riêng cho trẻ mẫu giáo lớn là cần thiết và tất yếu Nó không chỉ dừng lại ở một khía cạnh hay ở một lĩnh vực của trẻ mà cần có sự kết hợp, “đan xen, xâm nhập của các lĩnh vực phát triển tác động đồng bộ đến các mặt phát triển của trẻ thành một chỉnh thể toàn vẹn” [1;5], lấy trẻ làm trung tâm, góp phần giúp hiệu quả giáo dục được nhân lên Qua đó sẽ giúp cho giáo viên dễ dàng đưa ra các biện pháp, các cách tổ chức hoạt động phù
Trang 10hợp với nhu cầu, khả năng của trẻ và điều kiện thực tế ở trường, dễ dàng bổ sung những điểm còn yếu và bồi dưỡng các mặt phát triển của trẻ, không quá
gò bó với bất kì một nội dung chương trình nào
Trong đề án “Phát triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2006- 2015” thủ tướng chính phủ đã đưa ra quyết định: “Từng bước thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục mầm non theo nguyên tắc bảo đảm đồng bộ, phù hợp, tiên tiến, gắn với đổi mới giáo dục phổ thông, chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp1, góp phần tích cực, thiết thực nâng cao chất lượng giáo dục” Cũng trong
đề án này, quan điểm đổi mới về nội dung và phương pháp giáo dục: “Xây dựng và triển khai chương trình giáo dục mầm non mới theo hướng tích hợp các nội dung chăm sóc, giáo dục theo chủ điểm, tổ chức các hoạt động cho trẻ” [2] cũng đã được chính phủ hoàn toàn nhất trí
Trong chương trình giáo dục cho trẻ mẫu giáo lớn ta không thể không nhắc đến chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” _ một chủ đề gần gũi và hấp dẫn đối với trẻ, cung cấp cho trẻ những kiến thức bổ ích về thế giới xung quanh Thông qua chủ đề này, trẻ có cơ hội trải nghiệm thực tế nhiều hơn và
có thể tự mình khám phá những sự vật, hiện tượng diễn ra xung quanh trẻ Chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cũng đã dành được rất nhiều
sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và được tiến hành giảng dạy hiệu quả tại các trường mầm non Tuy nhiên, qua quá trình khảo sát tại các trường mầm non khi cho trẻ khám phá chủ đề “Nước và các hiện tượng
tự nhiên”, đa số giáo viên còn dập khuôn theo cách soạn cũ, ngại đầu tư, đổi mới các hoạt động khiến cho các hoạt động trở nên nhàm chán, bất cập…Một
số giáo viên còn thấy khó khăn khi phát triển chủ đề này
Là một giáo viên mầm non trong tương lai, là người sẽ trực tiếp chăm sóc và giáo dục trẻ, tôi rất quan tâm đến việc phát triển chương trình Giáo dục cho trẻ mầm non, đặc biệt là phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự
Trang 11nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn nhằm có những biện pháp giúp giáo viên có thể
tổ chức các hoạt động cho trẻ học tập và vui chơi có hiệu quả
Với những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Phát triển chủ đề nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất các biện pháp phát triển chủ đề
“Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp
3.2 Khách thể nghiên cứu
Chương trình Giáo dục mầm non
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc phát triển chủ đề “Nước và các hiện
tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp
- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của việc phát triển chủ đề “Nước và các hiện
tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp
- Đề xuất biện pháp phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên”
cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp
5 Phạm vi nghiên cứu
- Các tài liệu liên quan đến phát triển chương trình giáo dục
- Chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” trong chương trình Giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo lớn
- Việc khảo sát thực trạng được tiến hành tại các lớp mẫu giáo lớn trường mầm non Ngô Quyền, trường mầm non Đống Đa, trường mầm non Hội Hợp thuộc tỉnh Vĩnh Yên
Trang 126 Giả thuyết khoa học
Việc phát triển chương trình tại các trường mầm non đã được chú trọng nhưng hiệu quả còn chưa cao đặc biệt chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” còn tập trung vào lí thuyết nhiều Vì vậy, nếu đề xuất được biện pháp phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn sẽ hỗ trợ cho giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động dễ dàng và hiệu quả hơn
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu tài liệu về chương trình giáo dục mầm non, về phát triển chương trình giáo dục/ Phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Khảo sát việc dạy học chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp, quan sát các tiết dạy trong chủ đề, phỏng vấn và trao đổi với GV sau tiết dạy
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
Trong quá trình khảo sát tại các trường mầm non, người nghiên cứu đã gửi các phiếu hỏi cho GV Sau khi thu lại các phiếu, tôi tiến hành thống kê các câu trả lời của GV và tính toán, xử lí số liệu vào bảng
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Thông qua các phiếu hỏi, các phiếu điều tra và các tài liệu liên quan đến phát triển chương trình, tôi đã tiến hành phân tích để đánh giá thực trạng dạy học và phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp Qua đó rút ra những mặt tích cực và các mặt hạn chế
để từ đó xác định hướng phát triển chủ đề này
Trang 13đề này
8 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc phát triển chủ đề “Nước và các hiện
tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc phát triển chủ đề “Nước và các hiện
tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp
Chương 3: Đề xuất biện pháp phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng
tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp
Trang 14NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ “NƯỚC VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN” CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THEO
HƯỚNG TÍCH HỢP 1.1 Khái niệm
1.1.1 Chương trình giáo dục
Thuật ngữ Curriculum trong tiếng Anh đã được nhiều dịch giả, nhà khoa học, nhà giáo dục học chuyển sang tiếng Việt là chương trình giáo dục, chương trình dạy học, chương trình học,…hay đơn thuần chỉ là chương trình Khi nhắc đến khái niệm chương trình giáo dục đã có rất nhiều quan điểm khác nhau Theo thời gian và các cách tiếp cận khác nhau mà khái niệm được hiểu ngày một mở rộng và phù hợp Khái niệm được nhấn mạnh và mở rộng hơn với những giá trị mà người học có thể đạt được “Chương trình học của nhà trường là nội dung dạy học và các hoạt động chính thức và không chính thức; quá trình triển khai nội dung hoạt động, thông qua đó người học thu nhận được kiến thức và sự hiểu biết, phát triển kĩ năng, thái độ, tình cảm và các giá trị đạo đức dưới sự tổ chức của nhà trường.”(Ronal C Doll,1996) Hoặc khi đứng dưới góc độ là người quản lí, người thiết kế các hoạt động thì các các quan điểm lại hướng đến mục tiêu, nội dung và cách tổ chức Như TimWentling (1993) cho rằng: “Chương trình là bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo Hoạt động đó có thể chỉ là một khóa học trong thời gian vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biết nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể kì vọng ở người học sau khi kết thúc khóa học, nó phác họa quy trình thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho
ta biết các phương thức đào tạo và cách thức kiểm tra _ đánh giá kết quả học tập, và toàn bộ các vấn đề của bản thiết kế này được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ.”
Trang 15Có rất nhiều quan điểm nói về chương trình giáo dục Ở mỗi góc độ ta lại tìm được những cách hiểu khác nhau về chương trình giáo dục Nhưng điều chúng ta quan tâm không phải là tìm xem định nghĩa nào là đúng nhất
mà ở mỗi quan điểm là cách nhìn nhận đánh giá về chương trình giáo dục của các tác giả
Theo Trần Hữu Hoan: “Chương trình giáo dục là bản thiết kế tổng thể được trình bày một cách có hệ thống cho một hoạt động giáo dục, đào tạo của một khóa học trong một khoảng thời gian xác định, và thể hiện ở 4 yếu tố sau: 1) Mục tiêu đào tạo thể hiện rõ kết quả đào tạo; 2) Nội dung cần đào tạo và thời lượng của chương trình, môn học; 3) Quy trình và các phương pháp triển khai thực hiện nội dung đào tạo đã được quy định trong chương trình để đạt được mục tiêu đào tạo; 4) Phương thức kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo, ngoài ra còn cần có hướng dẫn thực hiện chương trình.”[14;8]
Là một người đang tìm hiểu và nghiên cứu về chương trình giáo dục, tôi nhận thấy rằng ở mỗi một quan điểm lại có cái hay của nó Tôi đồng ý với quan điểm của Trần Đức Hoan Quan điểm này khá rõ ràng và chặt chẽ Tuy
nhiên để hiểu cách ngắn gọn hơn tôi xin đưa ra quan điểm: “Chương trình
giáo dục là việc tổ chức một cách trình tự các hoạt động học tập, với mục tiêu xác định, định hướng kết quả học tập.” Đây là cơ sở để các cán bộ quản lí
cũng như GV xây dựng và phát triển chủ đề một cách có hiệu quả
1.1.2 Chương trình giáo dục mầm non
“Chương trình Giáo dục mầm non thể hiện mục tiêu giáo dục mầm non;
cụ thể hóa các yêu cầu về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng độ tuổi; quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; hướng dẫn cách thức đánh giá sự phát triển của trẻ em ở tuổi mầm non.”[4; Điều 24]
1.1.3 Phát triển chương trình Giáo dục
Theo tác giả Hách Đức Vĩnh trong phương pháp luận phát triển chương trình NXB khoa học giáo dục Kinh Bắc, thuật ngữ phát triển chương trình
Trang 16_Curriculum development chỉ hoạt động lựa chọn, tổ chức, điều chỉnh nhằm làm cho học sinh thu được kinh nghiệm mang tính giáo dục, thúc đẩy sự phát triển thể chất và tinh thần của học sinh và khiến cho các kinh nghiệm đó được quy phạm hoá [6]
Qua quá trình nghiên cứu, viện nghiên khoa học Giáo dục Việt Nam cũng thông qua định nghĩa : “Phát triển chương trình nhà trường là quá trình
cụ thể hóa làm chương trình chung quốc gia phù hợp với thực tiễn của địa phương trên cơ sở đảm bảo yêu cầu chung của chương trình quốc gia; Lựa chọn xây dựng nội dung và xác định cách thức thực hiện, phản ánh đặc trưng
và phù hợp với thực tiễn nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của người học, thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục”[5]
Tóm lại, phát triển chương trình là những việc làm thực tiễn nhằm thay
đổi kế hoạch giáo dục hướng đến cải thiện chất lượng giáo dục Những việc
làm thực tiễn này được chính GV chủ động và thực hiện dựa trên nhu cầu của trẻ mẫu giáo lớn, “lấy trẻ làm trung tâm” và điều kiện thực tế tại cơ sở, tại địa phương Những chương trình phù hợp, sáng tạo, không gò bó, mới mẻ, đa dạng và phong phú giúp cho trẻ mầm non không nhàm chán nhưng được phát triển cách toàn diện hơn cả về kiến thức cũng như các kĩ năng cần thiết trong cuộc sống
1.1.4 Chủ đề
Chủ đề (Themel topic) là nội dung hoặc phần kiến thức mà trẻ có thể tìm
hiểu, khám phá theo nhiều cách khác nhau dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên, diễn ra trong một khoảng thời gian thích hợp, thường là 1- 2 tuần.[13;27]
Một chủ đề lớn có thể bao gồm một số chủ đề nhánh Phạm vi kiến thức
và hoạt động của chủ đề được mở ra rất linh hoạt, không bị khép kín (Từ kiến thức cốt lõi sẽ mở rộng ra cho phép trẻ tìm hiểu và lĩnh hội tùy theo trình độ phát triển của độ tuổi và của cá thể trẻ Kiến thức trong một chủ đề thường
Trang 17mang tính tích hợp, hay nói cách khác, để có được sự hiểu biết đầy đủ về một chủ đề nào đó người dạy và người học phải vận dụng tri thức từ các ngành khoa học
1.1.5 Phát triển chủ đề
Phát triển chủ đề là việc thiết kế, tổ chức các hoạt động giáo dục sao cho
phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của trẻ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
1.2 Sự phát triển chương trình Giáo dục mầm non
Trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước và xu thế chung của nền Giáo dục trên toàn thế giới, Giáo dục mầm non cũng có từng bước phát triển và đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức
Từ khi hình thành và phát triển, ngành Giáo dục mầm non đã thực hiện 4 loại chương trình:
1) Chương trình cải tiến (1980) Nội dung chương trình được cấu trúc theo 2 phương thức là giáo dục và giáo dưỡng Tuy nhiên chương trình được thực hiện cách cứng nhắc, mang tính áp đặt, và đồ dùng phương tiện còn hạn chế…
2) Chương trình cải cách ra đời năm 1986, ra đời sau 6 năm nên chương trình cải cách đã khắc phục được những nhược điểm của chương trình cải tiến Các tiết học trở nên “mềm hóa” hơn và các hoạt động học, lao động, lễ hội phong phú hơn Tuy nhiên, sự hướng dẫn gợi ý chi tiết đã khiến cho cách
tổ chức các hoạt động được áp dụng đồng loạt trong cả nước mà chưa tính đến điều kiện thực tiễn của từng địa phương Giáo viên còn thiếu sự chủ động, sáng tạo, ngại phát triển chương trình Các tiết học còn bị phụ thuộc vào tài liệu hướng dẫn khiến cho trẻ lĩnh hội kiến thức bằng ghi nhớ mà chưa có sự trải nghiệm, khám phá
3) Chương trình đổi mới hình thức Giáo dục mầm non (1998)
Trang 18Đây là chương trình được coi là bước đệm cho sự phát triển chương trình hiện hành Chương trình đổi mới ra đời với sự tích hợp các chủ điểm và tập trung phát triển 5 lĩnh vực cho trẻ (Phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển thẩm mĩ, phát triển tình cảm xã hội) Các hoạt động, kế hoạch chăm sóc trẻ cũng được thực hiện cách khoa học hơn Chế độ sinh hoạt của trẻ không cứng nhắc, có thể thay đổi theo mùa và từng vùng miền Môi trường giáo dục trong nhà trường và trong lớp học được mở rộng
và đổi mới giúp trẻ hứng thú hơn khi đến trường Tuy nhiên nhận thức của giáo viên về tích hợp còn chưa rõ nên giáo viên còn ôm đồm quá nhiều kiến thức trong tiết học và thậm chí còn không làm nổi bật nội dung trọng tâm của bài học, khiến trẻ căng thẳng và nhàm chán Một bộ phận giáo viên còn trì chệ, ngại đổi mới…
4) Chương trình giáo dục mầm non mới Chương trình giáo dục mầm non mới được Bộ giáo dục ban hành tháng
7 năm 2009
Chương trình có độ mở, cho phép giáo viên chủ động, linh hoạt trong việc lựa chọn nội dung phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ và điều kiện thực tiễn của địa phương
Nội dung được triển khai phù hợp với từng trường, từng vùng miền Khi thực hiện chương trình này, trẻ có cơ hội tham gia các hoạt động trải nghiệm đa dạng hơn Trẻ hứng thú khám phá, tích cực, chủ động, sáng tạo Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận những hạn chế của chương trình mới này là sự phát triển các chủ đề vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của trẻ
Vì giáo viên chưa chủ động nên một bộ phận không nhỏ giáo viên còn dập khuôn kế hoạch từ năm này đến năm khác Giáo viên còn phụ thuộc vào chương trình kế hoạch của nhà trường mà chưa thực hiện “Lấy trẻ làm trung tâm”, chưa mạnh dạn phát triển chương trình theo nhu cầu của trẻ
Trang 191.3 Vai trò của việc phát triển chương trình nhà trường
Phát triển chương trình giáo dục nhà trường có vai trò to lớn trong sự phát triển giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng Phát triển chương trình giáo dục nhà trường nhằm khắc phục những hạn chế của chương trình giáo dục hiện hành, giúp cho chương trình hiện hành phù hợp với điều kiện thực tiễn Đồng thời, phát triển chương trình giúp cho giáo viên dễ dàng
tổ chức các hoạt động theo các chủ đề gần gũi với trẻ Qua đó, trẻ được phát triển khả năng của bản thân, trẻ học và hứng thú khám phá những gì trẻ đang muốn biết
1.5 Cơ sở khoa học của việc phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng
tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp
1.5.1 Cơ sở triết học
Cơ sở triết học được cho là kiến thức trọng tâm cho việc thiết kế xây dựng chương trình giáo dục hay phát triển chủ đề vì cơ sở triết học phản ánh ý tưởng, trường phái riêng của các nhà thiết kế chương trình giáo dục, và ảnh hưởng trực tiếp đến mục đích, mục tiêu cụ thể và nội dung cũng như cách thức tổ chức các hoạt động của chương trình giáo dục Nghiên cứu cơ sở lý luận triết học không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn mục đích chung của nhà trường và chương trình giáo dục hay chủ đề mà trường đang triển khai, mà nó còn giúp chúng ta nhận ra được mối quan hệ giữa các cá nhân và thế giới xung quanh
Trong việc phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn, cơ sở lí luận cung cấp cho nhà giáo dục đặc biệt là các nhà thiết
Trang 20kế chương trình giáo dục hệ thống các nguyên lí cũng như tư tưởng trong quá trình giáo dục, đồng thời giúp họ xác định rõ giá trị nội dung của chủ đề, trẻ tiếp nhận nội dung này như thế nào? Và phương pháp dạy học ra sao? nhằm triển khai nội dung chủ đề một cách hiệu quả nhất
Cơ sở triết học còn cung cấp cho họ hệ thống các chính sách, nhiệm vụ cần thực hiện như xác định mục đích giáo dục, nội dung chương trình giáo dục, phương pháp triển khai nội dung chương trình, cũng như quá trình dạy học Cơ sở triết học còn là cơ sở nền tảng cho chúng ta thực hiện các nhiệm
vụ cụ thể trong hoạt động của nhà trường, trong việc đưa ra các quyết định cụ thể, ví dụ như: Sự chuẩn bị của giáo viên, sự chuẩn bị của trẻ, cách thức tiến hành nội dung dạy học v.v… Thomas Hopkins đã khẳng định ý nghĩa quan trọng của cơ sở triết học trong việc xác định và đưa ra những quyết định trong quá trình xây dựng chương trình/ phát triển chủ đề: “Cơ sở triết học đã đi sâu vào từng quyết định quan trọng trong việc xây dựng chương trình giáo dục và giảng dạy trong nhà trường và sẽ mãi mãi là cơ sở vững chắc cho các quyết định được đưa ra trong khi xây dựng chương trình giáo dục, v.v… hầu như tất
cả các thành tố của chương trình đều dựa trên cơ sở triết học”
Như vậy, cơ sở triết học cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển chương trình Giáo dục đối với việc cải thiện chất lượng giáo dục, cập nhật với nhu cầu xã hội Phát triển chương trình Giáo dục là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của xã hội, của đất nước trong thời buổi công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thích nghi với xu hướng phát triển chung trên toàn thế giới
1.5.2 Cơ sở tâm lí
Yếu tố tâm lí học có ý nghĩa và vai trò to lớn trong cuộc sống của mỗi con người nói chung đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục Cơ sở tâm lí học là cơ
sở quan trọng cho người thiết kế phát triển chủ đề
Tâm lí học hoạt động - một trường phái tâm lí học hiện đại, xác định vai trò to lớn của hoạt động trong việc hình thành và phát triển tâm lí, ý thức, phát
Trang 21triển tư duy, kĩ năng, kĩ xảo…của cá nhân Hoạt động từ chỗ được hiểu là môi trường biểu hiện tâm lí người đã trở thành nguồn gốc, phương thức, phương tiện phát triển tâm lí người Căn cứ vào đó, việc phát triển chủ đề đặc biệt là chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” phải đảm bảo cho trẻ được hoạt động thường xuyên, có cơ hội thể hiện tính chủ động, năng động, tích cực và sáng tạo
Như vậy, phát triển chủ đề cần phải đảm bảo phần thực hành phù hợp với nhu cầu người học tránh lí thuyết, kiến thức quá nặng đối với trẻ Theo quan điểm của tâm lí học hiện đại, việc tiếp thu, lĩnh hội kiến thức cần phải dựa trên nền của những cái đã có Các hoạt động tổ chức tích hợp đa dạng và phong phú, tránh tình trạng nhồi nhét khiến trẻ nhàm chán và mệt mỏi
Cùng với đó các hoạt động tổ chức với thời gian phù hợp với sự hứng thú của trẻ Trẻ được rèn luyện kĩ năng, ôn luyện thường xuyên và tổ chức theo hình thức “Học mà chơi, chơi mà học”
Trong việc phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ 5-6 tuổi, người nghiên cứu cần dựa vào đặc điểm tâm lí của trẻ, những thắc mắc theo lứa tuổi của trẻ Tuy nhiên cũng tránh lạm dụng việc phát triển để nhồi nhét vào trẻ những kiến thức cao siêu, dung lượng lớn khiến trẻ căng thẳng và chất lượng giáo dục không cao
Dựa trên cơ sở tâm lý học hiện đại, việc xây dựng chương trình học theo quan điểm lấy người học làm trung tâm cần phải đảm bảo một số yêu cầu sau:
- Đảm bảo khối lượng kiến thức, phù hợp với yêu cầu người học và xã hội, nội dung học phải được sắp xếp theo hệ thống, đảm bảo tính lôgic
- Việc rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo phải dựa trên nguyên tắc thực hành hợp
lý và đảm bảo tính hoạt động của người học
- Phát huy được tính tích cực, chủ động của người học, duy trì được động lực học tập của người học
Trang 22Trẻ mầm non luôn có những đặc điểm khác biệt so với các giai đoạn trung học phổ thông Các đặc điểm tâm lí được bắt đầu hình thành nhưng cũng được phát triển cách nhanh chóng và mạnh mẽ Cơ sở tâm lí học đã một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của việc phát triển chương trình Giáo dục Nó không chỉ phù hợp với nhu cầu của xã hội nữa nhưng đáp ứng ngay trong chính bản thân trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển tiềm năng một cách tối đa và tác động tích cực tới sự phát triển sau này của trẻ
1.5.3 Cơ sở lí luận dạy học hiện đại
Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo là một nội dung quan trọng thuộc phạm trù lý luận về nội dung dạy học Dựa trên quan điểm của lí luận dạy học hiện đại, việc phát triển chủ đề đảm bảo các yêu cầu sau:
- Đảm bảo chuẩn kiến thức bậc học, chuẩn kiến thức kĩ năng , và chuẩn kiến thức môn học
- Đảm bảo tính cập nhật, hiện đại về nội dung chương trình
- Đảm bảo các nguyên tắc, quy luật của quá trình dạy học
Đây là cơ sở quan trọng giúp cho GV, người thiết kế xây dựng chương trình mạnh dạn phát triển chương trình, phát triển chủ đề Sở dĩ vậy vì cơ sở lí luận dạy học hiện đại đã cho thấy việc phát triển chương trình Giáo dục không đi một cách chung chung hay xa vời mà phát triển chương trình Giáo dục lấy sự phát triển của trẻ và các điều kiện thực tế làm nền tảng đồng thời
áp dụng những phương pháp tiên tiến trên thế giới giúp cho chất lượng giáo dục mang bản sắc của văn hóa truyền thống, văn hóa dân tộc nhưng luôn cập nhật và mới mẻ
1.6 Các cách tiếp cận phát triển chủ đề
1.6.1 Tiếp cận nội dung
Với quan niệm giáo dục là quá trình truyền thụ nội dung - kiến thức, phát triển chủ đề giáo dục chú trọng hình thành hệ thống nội dung đào tạo và việc trang bị cho người học hệ thống tri thức, kỹ năng cơ bản Cách tiếp cận này
Trang 23tạo điều kiện hình thành ở ngưòi học hệ thống các tri thức khoa học đầy đủ song dễ gây hiện tượng dạy học thụ động, quá tải, năng về ghi nhớ , nhồi nhét nội dung trong một thời gian đào tạo hạn chế, không phù hợp với sự phát triển nhanh chóng về khoa học và công nghệ hiện nay
Vậy tiếp cận nội dung trong phát triển chương trình của chủ đề nghĩa là làm cho nội dung dạy học không mất đi những kiến thức căn bản đòi hỏi ở mỗi giai đoạn, phù hợp với quá trình phát triển của trẻ 5 tuổi nhưng được đổi mới về cách thức truyền tải, làm phong phú mới mẻ, hấp dẫn ở các hoạt động, trẻ được tự trải nghiệm, tự khám phá nhiều hơn chứ không thụ động tiếp thu kiến thức Nội dung trong phát triển chương trình của chủ đề đảm bảo quy luật phát triển từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp
1.6.2 Tiếp cận mục tiêu
Phát triển chủ đề giáo dục được thiết kế dựa trên mục tiêu đào tạo cho trẻ mẫu giáo nói chung Chủ đề được xây dựng và phát triển thể hiện mục tiêu, mạng nội dung và hoạt động cũng như đánh giá quá trình hoạt động của trẻ
Ưu điểm cơ bản của cách tiếp cận này là tạo sự tường minh và quy trình chặt chẽ, quy chuẩn của cả quá trình đào tạo, dễ kiểm tra, đánh giá nhưng cũng có nhược điểm là tạo ra sự cứng nhắc, khuôn mẫu, đồng nhất trong quá trình đào tạo chưa quan tâm đến tính đa dạng và nhiều khác biệt của các nhân tố trong quá trình đào tạo như người học, môi trưòng văn hoá-xã hội v.v
Như vậy, tiếp cận mục tiêu trong phát triển chương trình của chủ đề có nghĩa là chủ đề được phát triển đảm bảo các yêu cầu mà trẻ MGL cần đạt được, các mục tiêu được thể hiện cách cụ thể và rõ ràng nhưng không máy móc dập khuôn mà phải phù hợp với điều kiện thực tế của trẻ, của GV và của địa phương
1.6.3 Tiếp cận hệ thống
Phát triển chủ đề là một bản thiết kế tổng thể gồm các khâu lựa chọn chủ
đề, xác định mục tiêu, nội dung và cách thức tổ chức hoạt động Các khâu này
Trang 24tuân theo một hệ thống có sự gắn kết logic chặt chẽ và tác động qua lại với nhau Tiếp cận hệ thống giúp cho giáo viên xác định rõ ràng cách thức cũng như tiến trình thực hiện các hoạt động
Như vậy, chương trình phát triển của chủ đề cần được thiết kế một cách khoa học, có hệ thống rõ ràng, mạch lạc, có sự liên kết logic và sự nâng cao dần về kiến thức nhằm giúp cho GV dễ dàng nắm bắt được nội dung và triển khai thực hiện đạt kết quả cao nhất
1.7 Định hướng phát triển chủ đề
- Phát triển chủ đề cần xuất phát từ thực tế chăm sóc và giáo dục trẻ Cần phân tích các đặc điểm tâm sinh lí cũng như khả năng nhận thức của trẻ về chủ đề Thường xuyên gần gũi, giao tiếp với trẻ đề biết nhu cầu và mong muốn của trẻ
- Xây dựng nội dung chủ đề dựa trên mục tiêu chung và chuẩn kiến thức dành cho trẻ mẫu giáo Các nội dung phát triển không chỉ bao hàm mục tiêu
mà còn phản ánh cả các khía cạnh nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức học tập, kiểm tra đánh giá v.v
- Phát triển các chủ đề mở, tạo điều kiện thường xuyên cập nhật tri thức,
kỹ năng mới và khuyến khích sự sáng tạo của giáo viên.Thực hiện đánh giá thường xuyên và kiểm định đánh giá theo các chuyên đề
- Chú trọng yêu cầu phát triển năng lực giảng dạy, giảm bớt các tri thức hàn lâm, tăng cường năng lực hành động và thích ứng nhanh với những đổi mới trong Giáo dục mầm non
1.8 Một số vấn đề về tích hợp
1.8.1 Khái niệm
Tích hợp là xu thế dạy học hiện đại đã và đang được quan tâm, nghiên cứu và áp dụng vào nhiều nhà trường trong nước và trên thế giới Quan điểm dạy học tích hợp là một định hướng trong đổi mới căn bản và toàn diện giáo
Trang 25dục, là một bước chuyển từ cách tiếp cận nội dung giáo dục sang tiếp cận năng lực nhằm đào tạo con người có tri thức mới, năng động, sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống
Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể” Có nghĩa là sự phối hợp
các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy
Theo Đào Thị Hồng “Tích hợp (Intergrate) có nghĩa là kết hợp những bộ phận với nhau trong một tổng thể Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng thích hợp với nhau”[10] Theo cách hiểu này, tích hợp là việc gắn kết các bộ phận trong một đối tượng lại với nhau nhưng việc gắn kết các bộ phận đó ở mức nào thì định nghĩa lại chưa chỉ ra được Và liệu giữa các bộ phận của đối tượng khác nhau có thể gắn kết với nhau được hay không?
Trong từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), tích hợp là lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ [8;981] Như vậy, tích hợp không chỉ dừng lại ở việc gắn kết các phần trong một tổng thể mà còn tạo nên một chỉnh thể toàn vẹn Tuy nhiên, quan điển này còn chung chung, chưa chỉ ra được mối quan hệ của các thành phần
sẽ lắp ráp và kết nối
Theo quan niệm về giáo dục tích hợp, Phạm Mai Chi cho rằng: “Tích hợp không chỉ là đặt cạnh nhau, liên kết với nhau, mà là sự xâm nhập, đan xen các đối tượng hay các bộ phận của một đối tượng vào nhau, tạo thành một chỉnh thể” [13; 13] Trong đó không những các giá trị của từng bộ phận được bảo tồn và phát triển, mà đặc biệt là ý nghĩa thực tiễn của toàn bộ cái chỉnh thể đó được nhân lên Quan điểm này chỉ ra, tích hợp không chỉ là một phép cộng đơn thuần là đặt cạnh nhau nhưng là sự “đan xen, xâm nhập” của các đối tượng hay các bộ phận để tạo nên một chỉnh thể toàn vẹn Sự đan xen, kết hợp
Trang 26ấy không làm giảm đi giá trị của các bộ phận mà góp phần làm cho giá trị của toàn bộ chỉnh thể được nhân lên
Như vậy, ta có thể rút ra được, tích hợp là sự kết hợp, liên kết giữa các
thành phần, bộ phận để tạo nên một chỉnh thể toàn vẹn thống nhất góp phần làm cho giá trị của tổng thể được nhân lên
Tích hợp trong chương trình giáo dục mầm non là thiết kế các nội dung và
tổ chức các hoạt động thành một thể thống nhất, có ý nghĩa cho trẻ tham gia để trẻ phối hợp áp dụng và phát triển các kinh nghiệm từ các lĩnh vực khác nhau, thông qua việc trẻ tham gia tích cực và trực tiếp một cách tự nhiên
1.8.2 Giáo dục tích hợp
“Giáo dục tích hợp là một quan điểm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở người học những năng lực rõ ràng có dự tính trước những điều cần thiết cho người học nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động” [9] Quan điểm này chỉ rõ tầm quan trọng của việc giáo dục tích hợp cho học sinh nhằm giúp các em phát triển năng lực của bản thân và dự tính trước những điều cần thiết cho các em Đồng thời giúp các em có thể giải quyết những tình huống khác nhau trong cuộc sống
Theo Cao Thị Thặng “Giáo dục tích hợp có thể hiểu là sự lồng ghép, kết hợp,tổ hợp các nội dung với nhau” [17].Theo quan điểm này thì giáo dục tích hợp chỉ dừng lại ở việc lồng ghép các nội dung của môn học mà chưa chỉ ra cách thức của việc lồng ghép
Quan điểm của Hồ Lam Hồng thì cho rằng giáo dục tích hợp có thể hiểu là sự đan xen, kết hợp các nội dung và hoạt động giáo dục phù hợp tạo nện một chỉnh thể tác động tích cực đến sự phát triển toàn diện các lĩnh vực (thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm xã hội và giao tiếp…) ở đứa trẻ Chỉnh thể tác động giáo dục “toàn vẹn”, “thống nhất” trên cơ sở các bộ phận/
Trang 27các thành tố sắp xếp theo một hệ thống/ trật tự hợp lí nhất định, theo logic thứ bậc của các mối quan hệ giữa chúng được được xác định Tác giả đã chỉ
ra mặt tích cực của giáo dục tích hợp là tác động toàn diện đến trẻ ở nhiều lĩnh vực Việc này tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tiến hành các quá trình giáo dục Tuy nhiên, việc áp dụng cách đa dạng và phong phú các lĩnh vực trong một môn học cũng đang được áp dụng nhưng còn hạn chế
Trên cơ sở đó, người nghiên cứu cho rằng: “Giáo dục tích hợp là sự
lồng ghép, đan xen, kết hợp các nội dung của các lĩnh vực khác nhau trong cùng một môn học hoặc một hoạt động nhằm hướng tới sự phát triển toàn diện của người học.” Giáo dục tích hợp chỉ rõ được mục đích của công tác
giảng dạy và làm cho nội dung kiến thức không bị chồng chéo và người học cảm thấy hứng thú
Giáo dục tích hợp ở mầm non dựa trên quan điểm sư phạm tích hợp là nhìn nhận thế giới tự nhiên, con người và xã hội như một thể thống nhất Quan điểm này đối lập với cách nhìn chia cắt rạch ròi của các sự vật hiện tượng trong chỉnh thể của đứa trẻ
Có nhiều cách tiếp cận tích hợp trong giáo dục tích hợp ở mầm non: Tích hợp về mục đích, nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục trẻ Một trong những cách tiếp cận nhiều nhất và hiệu quả nhất là tích hợp theo chủ đề Trong giáo dục mầm non, tiếp cận tích hợp theo chủ đề là cách thức cung cấp sự định hướng mở, linh hoạt, cho phép giáo viên tổ chức các hoạt động xoay quanh chủ đề bằng cách phối hợp một cách tự nhiên những hoạt động cho trẻ trải nghiệm như quan sát, tìm hiểu môi trường tự nhiên và xã hội, thể dục vận động, trò chơi âm nhạc, hát, kể chuyện, đọc thơ, làm quen với toán và các hoạt động và các hoạt động sáng tạo như vẽ, nặn, tô màu, gấp giấy, cắt dán, xây dựng, lắp ghép…Qua đó phát triển đồng thời các mặt ngôn ngữ, thể lực, nhận thức, tình cảm xã hội ở trẻ Cách tiếp cận này cho phép
Trang 28giáo viên có thể điều chỉnh một cách linh hoạt hơn để có thể đưa các tình huống xảy ra tình cờ, ngẫu nhiên vào kế hoạch giảng dạy học, đáp ứng sự hứng thú của trẻ và làm cho bầu không khí lớp học sinh động
Đặc điểm cách tiếp cận chủ đề là dựa vào trẻ làm trung tâm, khai thác tiềm năng vốn có của trẻ Cách tiếp cận này chỉ đưa ra một khung có có tính chất gợi ý, mở, để từ đó giáo viên tiếp tục làm cho nó phù hợp với các nhu cầu và hứng thú của trẻ ở lớp và làm cho vốn kinh nghiệm của trẻ phong phú dần lên
Vì vậy, khi triển khai chương trình giáo dục mầm non cần phải chú ý đến các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo trong giáo dục tích hợp là lấy trẻ làm trung tâm của quá trình giáo dục, phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ trong các hoạt động ở trường mầm non Tích hợp các chủ đề gần gũi, thân thuộc xuất phát từ sự hứng thú và nhu cầu của trẻ
có thể đối mặt” [11] Như vậy, ta có thể thấy được tác giả đã đưa ra kết luận cho việc dạy học tích hợp nhằm hình thành cho trẻ những năng lực giải quyết các tình huống diễn ra trong thực tiễn Điều này cũng đồng nghĩa với việc phát triển toàn diện cho trẻ vì chỉ có phát triển toàn diện ở các lĩnh vực trẻ mới có thể giải quyết được các tình huống đa dạng trong cuộc sống
Trang 29“Dạy học tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc tài liệu, khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học.”[11]
Dạy học tích hợp thực chất là kết hợp dạy học lí thuyết và thực hành
trong cùng một không gian và thời gian nhằm giúp trẻ thông minh, vận dụng một cách sáng tạo kiến thức, kĩ năng mà trẻ được tìm hiểu nhằm giải quyết các tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại
1.8.4 Đặc trưng của dạy học theo hướng tích hợp
- Dạy học lấy người học làm trung tâm: Đây là phương pháp đáp ứng yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục, nhất là đối với giáo dục mầm non, các hoat động chăm sóc, giáo dục trẻ đều hướng đến việc “lấy trẻ làm trung tâm” Trẻ là chủ thể trong các hoạt động Trẻ được chủ động tham gia vào các hoạt động và tích cực tự mình trải nghiệm Với vốn kinh nghiệm sẵn có, đòi hỏi trẻ phải tham gia vào các tình huống trong thực tiễn Dạy học tích hợp biểu hiện cách tiếp cận lấy người học là trung tâm, đây là xu hướng chung có nhiều ưu thế so với dạy học truyền thống
- Dạy học tích hợp có thể hiểu là một hình thức dạy học kết hợp giữa dạy lý thuyết và dạy thực hành Quá trình dạy học mang tính mục đích rõ rệt qua đó ở người học hình thành một năng lực nào đó nhằm đáp ứng được mục tiêu của mô đun Trong chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” của trẻ mẫu giáo lớn, hầu hết các hoạt động trẻ có thể tự trải nghiệm và phát huy tính sáng tạo của mình Các hoạt động không khô cứng mà luôn cho trẻ “học
mà chơi, chơi mà học”, các tiết học được biến thành các hoạt động cho trẻ tham gia vì chỉ có thông qua hoạt động trẻ mới tiếp thu kiến thức cách hiệu quả nhất
- Trong dạy học tích hợp, trẻ được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, trẻ phải trực tiếp quan sát, thảo luận và đưa ra ý kiến của mình,
Trang 30so sánh với ý kiến của bạn khác… Trẻ phải tiếp nhận đối tượng qua các phương tiện nghe, nhìn, trực quan sinh động và phân tích đối tượng nhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu của sự vật, hiện tượng Từ đó, trẻ vừa nắm được kiến thức vừa cảm thấy thích thú Như vậy,
GV không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn, tổ chức các thao tác thực hành
Hoạt động nào cũng cần có kiểm soát, trong dạy học cũng vậy, trẻ cần có
sự kiểm soát, củng cố những nhận thức đúng, uốn nắn những nhận thức chưa đúng Việc kiểm soát sự thực hiện qua thông tin, tự đánh giá, điều chỉnh Việc đánh giá và xác định các năng lực phải theo các quan điểm là người học phải thực hành được các công việc giống như người công nhân thực hiện trong thực tế
1.8.5 Vai trò của dạy học tích hợp trong dạy học mầm non
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết: "Dạy học tích
hợp sẽ mang lại nhiều lợi ích như giúp học sinh áp dụng được nhiều kỹ năng, nền tảng kiến thức tích hợp giúp việc tìm kiếm thông tin nhanh hơn, khuyến khích việc học sâu và rộng, thúc đẩy thái độ học tập tích cực đối với học sinh Thay đổi cách dạy này không gây ra sự xáo trộn về số lượng và cơ cấu giáo viên, không nhất thiết phải đào tạo lại mà chỉ cần bồi dưỡng một số chuyên
đề dạy học tích hợp Không đòi hỏi phải tăng cường quá nhiều về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học"
Quan điểm tích hợp và phương pháp dạy học theo hướng tích hợp đã được giáo viên tiếp nhận nhưng ở mức độ thấp Phần lớn giáo viên lựa chọn mức độ tích hợp “liên môn hoặc tích hợp “nội môn” Tuy nhiên mặt tích cực của cách dạy theo hướng tích hợp là các bài dạy theo hướng tích hợp sẽ làm cho nhà trường gắn liền với thực tiễn cuộc sống, với sự phát triển của cộng đồng Những nội dung dạy trẻ theo các chủ đề “Gia đình”, “Trường mầm
Trang 31non”, “Quê hương đất nước”, “Nước và các hiện tượng tự nhiên”…làm cho trẻ có nhu cầu học tập để giải đáp được những thắc mắc, phục vụ cho cuộc sống của mình và cộng đồng Học theo hướng tích hợp sẽ giúp cho các trẻ quan tâm hơn đến con người và xã hội ở xung quanh mình, việc học gắn liền với cuộc sống đời thường là yếu tố để trẻ học tập Những thắc mắc nảy sinh từ thực tế làm nảy sinh nhu cầu giải quyết vấn đề của trẻ Chẳng hạn “Vì sao có sấm chớp?”, “vì sao sau cơn mưa lại có cầu vồng?”, “vì sao….?.”
Thực tế ở một số trường mầm non, các bài soạn để dạy học theo hướng tích hợp đã giúp cho giáo viên tổ chức các hoạt động cho trẻ Tiết dạy linh hoạt, trẻ học tích cực và hứng thú, được chủ động tìm tòi, khám phá và rèn luyện kĩ năng Muốn tiến hành có hiệu quả, cần phải chú trọng đến việc bồi dưỡng giáo viên Giáo viên phải hiểu được thế nào là tích hợp, phải nghiên cứu chương trình, tài liệu xem nó dựa trên môn khoa học xác định nào, có thể
mở rộng quan hệ tương tác với các khoa học khác như thế nào, mức độ tích hợp thể hiện ra sao?
Từ thực tiễn Giáo dục mầm non ở nhiều nước và Việt Nam cho thấy, dạy học theo hướng tích hợp là xu thế mà nhiều nước trên thế giới đã áp dụng, đặc biệt là các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Đa số giáo viên đã quen với cách dạy tích hợp nên các tiết dạy sáng tạo, hấp dẫn hơn, cách xử lí tình huống cũng linh hoạt và mềm dẻo hơn Dạy học theo hướng tích hợp phát huy được tính tích cực của trẻ, góp phần đổi mới nội dung và phương pháp dạy học ở trường mầm non
1.9 Đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn
1.9.1 Đặc điểm sinh lí
Hệ tuần hoàn: Tim của trẻ có tốc độ phát triển khá nhanh Ở độ tuổi này, tim của trẻ có trọng lượng nặng gấp 5 lần so với các lứa tuổi khác nhưng vẫn còn khá nhanh so với người lớn
Trang 32Thành phần máu của trẻ 5 - 6 tuổi cũng tăng lên và biến đổi về chất, huyết sắc tố 80- 90%, hồng cầu 4,5 - 5 triệu đơn vị, bạch cầu 7- 10 nghìn, tiểu cầu 200- 300 nghìn
Hệ thần kinh: Sự hoạt động của trẻ 5- 6 tuổi là thời kì phát triển nhanh,
rõ nhất trong cả đời người Kết cấu thần kinh của não có xu thế sớm trưởng thành, song ở lứa tuổi này, do khả năng hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh chưa ổn định nên nếu trẻ làm gì đơn thuần sẽ bị mệt mỏi
Hệ hô hấp: Hệ hô hấp của trẻ đã phát triển, tuy nhiên chưa đầy đủ như ở người lớn Vì vậy, trẻ phải hít thở nhiều hơn để nhận đủ lượng oxy cần thiết Càng nhỏ, nhịp thở càng nhanh và nông (khoảng 20 - 25 lần trên 1 phút)
Như vậy, ở thời kì này, các cơ quan và hệ cơ quan của trẻ phát triển
mạnh nên người lớn cần cung cấp đủ các chất dinh dưỡng, rèn luyện cơ thể trẻ giúp các cơ quan và hệ cơ quan phát triển phát triển Đây chính là điều kiện giúp trẻ phát huy khả năng tìm tòi, sáng tạo, các kĩ năng trải nghiệm … một cách hiệu quả nhất chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cũng như các chủ đề khác
1.9.2 Đặc điểm tâm lí
Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi mầm non Ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lí đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây, đặc biệt là trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ tiếp tục được phát triển mạnh.Với sự giáo dục của người lớn, các chức năng tâm lí đó sẽ được hoàn thiện về mọi phương diện của hoạt động tâm lí, để hoàn thành cơ
sở ban đầu cho sự phát triển nhân cách con người.[12;304]
* Trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ theo các hướng:
- Nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ: Trẻ biết đọc diễn cảm, biết dùng điệu bộ bổ sung cho ngôn ngữ nói
- Vốn từ và cơ cấu ngữ pháp phát triển
- Các tính chất ngôn ngữ thường gặp ở trẻ 5 - 6 tuổi là:
Trang 33+ Ngôn ngữ giải thích, trẻ có nhu cầu nhận sự giải thích và cũng thích giải thích cho các bạn
+ Ngôn ngữ tình huống (hoàn cảnh) do giao tiếp với người xung quanh bằng những thông tin mà trẻ trực tiếp tri giác được trong khung cảnh
+ Tính mạch lạc rõ ràng: do vốn từ của trẻ chiếm 50% là danh từ, nên câu nói của trẻ thường ngắn gọn, rõ ràng
+ Tính địa phương trong ngôn ngữ nền văn hoá của địa phương, cộng đồng thể hiện rõ trong ngôn ngữ của trẻ (nói ngọng, nói mất dấu )
+ Tính cá nhân đã bộc lộ rõ qua các sắc thái khác nhau của trẻ, đặc biệt ở chức năng ngôn ngữ biểu cảm
Việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp và các tính chất của ngôn ngữ ở trẻ phụ thuộc phần lớn vào việc hướng dẫn và sự gương mẫu về lời nói của người lớn
* Sự xác định ý thức bản ngã:
Tiền đề của ý thức bản ngã là việc tự tách mình ra khỏi người khác đã được hình thành từ cuối tuổi ấu nhi Tuy nhiên phải trải qua một quá trình phát triển thì ý thức bản ngã của trẻ mới được xác định rõ ràng Đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ mới hiểu được mình như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình có hành động này hay hành động khác ý thức bản ngã được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về thành công và thất bại của mình, về những ưu điểm và khuyết điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực nữa
Để đánh giá bản thân một cách đúng đắn, đầu tiên đứa trẻ phải học cách đánh giá người khác và nghe những người xung quanh đánh giá mình như thế nào.Thoạt đầu sự đánh giá của trẻ về người khác còn phụ thuộc nhiều vào thái độ của nó đối với người này Chẳng hạn mọi đứa trẻ đều đánh giá mẹ mình bao giờ cũng tốt
Trang 34Cuối tuổi mẫu giáo lớn, trẻ nắm được kỹ năng so sánh mình với người khác, điều này là cơ sở để tự đánh giá một cách đúng đắn hơn và cũng là cơ
sở để noi gương những người tốt, việc tốt
Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự tự ý thức còn được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ Trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái mà còn biết nếu mình là trai hay gái thì hành vi này phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình
Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh hành vi của mình dần dần phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc xã hội, từ đó hành vi của trẻ mang tính xã hội
Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng còn cho phép trẻ thực hiện các hành động có chủ tâm hơn Nhờ đó các quá trình tâm lý mang tính chủ định
rõ rệt
Thời điểm lúc trẻ tròn 6 tuổi là một bước ngoặt quan trọng của trẻ em Ở
độ tuổi mẫu giáo lớn là thời kỳ trẻ đang tiến vào bước ngoặt đó với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo Hoạt động vui chơi vốn giữ vị trí chủ đạo trong trong suốt thời kỳ mẫu giáo, nhưng vào cuối tuổi này không còn giữ nguyên dạng hoàn chỉnh của nó, những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh
1.9.3 Đặc điểm nhận thức
Các đặc điểmvề nhận thức về cơ bản là sự nối tiếp sự phát triển ở lứa tuổi từ 4 - 5 tuổi nhưng chất lượng mới hơn Thể hiện ở: Mức độ phong phú của các kiểu loại, mức độ chủ định các quá trình tâm lý rõ ràng hơn, có ý thức hơn, tính mục đích hình thành và phát triển ở mức độ cao hơn, độ nhạy cảm của các giác quan được tinh nhạy hơn, khả năng kiềm chế các phản ứng tâm
lý được phát triển
Ở đây chúng ta chỉ đề cập tới quá trình tâm lý phát triển mạnh mẽ và đặc trưng nhất, đó là tư duy.Sự phát triển tư duy ở độ tuổi này mạnh mẽ về kiểu
Trang 35loại, các thao tác và thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng, thông tin giữa mới và cũ, gần và xa
Đặc tính chung của sự phát triển tư duy: Trẻ đã biết phân tích tổng hợp không chỉ dừng lại ở đồ vật, hình ảnh mà ngay cả từ ngữ.Tư duy của trẻ dần dần mất đi tính duy kỷ, tiến dần đến khách quan, hiện thực hơn Dần dần trẻ phân biệt được thực và hư Đã có tư duy trừu tượng với các con số, không gian, thời gian, quan hệ xã hội Ý thức rõ về những ý nghĩ, tình cảm của mình, trách nhiệm đối với hành vi Các phẩm chất của tư duy đã bộc lộ đủ về cấu tạo và chức năng hoạt động của nó như tính mục đích, độc lập sáng tạo, tính linh hoạt, độ mềm dẻo
Ở trẻ 5 - 6 tuổi phát triển cả 3 loại tư duy, tư duy hành động trực quan vẫn chiếm ưu thế Tuy nhiên do nhiệm vụ hoạt động mà cả loại tư duy hình ảnh trực quan, tư duy trừu tượng được phát triển ở trẻ Loại tư duy này giúp trẻ đến gần với hiện thực khách quan Trẻ có khả năng chú ý có chủ định từ
37 - 51 phút, đối tượng chú ý hấp dẫn, nhiều thay đổi, kích thích được sự tò
mò, ham hiểu biết của trẻ Trẻ có thể phân phối được chú ý vào 2, 3 đối tượng cùng một lúc, tuy nhiên thời gian phân phối chú ý chưa bền vững, dễ dao động Di chuyển chú ý của trẻ nhanh, nếu sự hướng dẫn di chuyển tốt Sự phân tán chú ý ở trẻ còn mạnh, nhiều khi trẻ không tự chủ được do xung lực bản năng chi phối Do vậy cần thay đổi đồ chơi, trò chơi hấp dẫn hơn
* Kết luận chương 1
Đã có rất nhiều những quan điểm khác nhau về chương trình Giáo dục
và phát triển chương trình Giáo dục Nhưng theo tôi, phát triển chương trình
là những việc làm thực tiễn nhằm thay đổi kế hoạch giáo dục hướng đến cải thiện chất lượng giáo dục
Chương trình Giáo dục mầm non đã trải qua rất nhiều lần được cải tiến
và ngày càng phù hợp với nhu cầu và khả năng nhận thức của trẻ Tuy nhiên,
Trang 36cuộc sống không ngừng thay đổi và chương trình Giáo dục không thể giậm chân tại chỗ Vì vậy, việc phát triển chương trình không những đáp ứng nhu cầu cần thiết này mà còn giúp cán bộ quản lí, GV dễ dàng xây dựng kế hoạch,
tổ chức các hoạt động cho trẻ mà không phải dập khuôn theo một khuôn mẫu
Trong chương 1, người nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu cơ sở lí luận của việc phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp Phát triển chủ đề là một cách thức trong phát triển chương trình Giáo dục mầm non Các chủ đề được phát triển phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tiễn của từng địa phương khai thác tối đa tiềm năng ở trẻ Trẻ được làm trung tâm cho việc phát triển này Và người nghiên cứu xác định lại đặc điểm của dạy học tích hợp và vai trò to lớn, quan trọng của quan điểm dạy học này trong phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng
tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp
Cũng trong chương này, người nghiên cứu đã tìm hiểu đặc điểm trẻ mẫu giáo lớn Đây là những căn cứ làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp
Trang 37Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ “NƯỚC VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN” CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THEO
HƯỚNG TÍCH HỢP
2.1 Khảo sát việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong chủ đề
“Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng
tích hợp
2.1.1 Mục đích khảo sát thực trạng
Tìm hiểu thực tiễn việc tổ chức các hoạt động giáo dục trong chủ đề
“Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn và việc phát triển
chủ đề này theo hướng tích hợp để làm căn cứ cho những đề xuất của đề tài,
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
2.1.2 Đối tượng khảo sát thực trạng
Người nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin qua điều tra GV và trẻ ở một số trường mầm non thuộc Tỉnh Vĩnh Yên
- Trường mầm non Hội Hợp
- Trường mầm non Đống Đa
- Trường mầm non Ngô Quyền
2.1.3 Nội dung khảo sát thực trạng
Những thông tin điều tra có liên quan đến nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Thực trạng việc tổ chức các hoạt động giáo dục trong chủ đề “Nước
và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn
- Thực trạng việc phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên”
cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp
Trang 38Bảng 2.1 Tổng hợp nội dung điều tra thực trạng
mẫu giáo lớn
- Phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học chủ đề
“Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn
Việc phát triển chủ đề “Nước
và các hiện tượng tự nhiên”
cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp
- Nhận thức của GV về phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp
Trang 392.1.4 Phương pháp khảo sát thực trạng
Nghiên cứu tài liệu: Trong khi khảo sát thực trạng, người nghiên cứu đã
thu thập, phân tích, tổng hợp thông tin từ tài liệu hướng dẫn tổ chức các hoạt động giáo dục trong trường mầm non theo chủ đề (trẻ 5- 6 tuổi), chỉ thị, công văn của Bộ GD& ĐT, giáo án của một số GV chủ nhiệm lớp mẫu giáo lớn
Điều tra: Người nghiên cứu thiết kế 30 phiếu điều tra, mỗi phiếu 6 câu
hỏi và gửi cho GV ở các trường
- Trường mầm non Hội Hợp : 10 phiếu
- Trường mầm non Đống Đa : 10 phiếu
- Trường mầm non Ngô Quyền : 10 phiếu
(Nội dung phiếu xem ở phụ lục 1) Quan sát, dự giờ: Để tìm hiểu thực trạng dạy học chủ đề “Nước và các
hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn, người nghiên cứu đã quan sát và
dự giờ một số tiết dạy và hoạt động về chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” của giáo viên trường mầm non Đống Đa
Phỏng vấn: Sau tiết dự giờ và ngoài giờ lên lớp, người nghiên cứu đã
tiến hành trao đổi với giáo viên để thu thập thông tin về chủ đề và phát triển chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng
tích hợp (Nội dung câu hỏi xem ở phụ lục 2)
2.1.5 Kết quả khảo sát thực trạng việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng tích hợp
* Thực trạng việc hướng dẫn tổ chức các hoạt động giáo dục trong chủ
đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” cho MGL
- Mục tiêu chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ 5- 6 tuổi trong chương trình Giáo dục mầm non hiện hành
Trang 40Phát triển thể chất
- Biết sử dụng các trang phục phù hợp với thời tiết để bảo vệ sức khỏe
- Có một số thói quen, hành vi vệ sinh trong ăn uống và phòng bệnh
- Thực hiện các vận động một cách tự tin và khéo léo
- Biết phòng tránh những nơi dễ gây nguy hiểm đến tính mạng
- Nhận biết một số hiện tượng thời tiết thay đổi theo mùa, thứ tự mùa và
sự thay đổi trong sinh hoạt của con người, cây cối, con vật theo mùa Biết phân loại quần áo, trang phục theo mùa
- Biết được ích lợi của nước, sự cần thiết của ánh sáng, không khí với cuộc sống con người, cây cối và con vật
- Nhận biết được một số nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước và cách giữ gìn, bảo vệ các nguồn nước sạch
- Biết so sánh lượng nước đựng trong 2 vật bằng các cách khác nhau
- Phân biệt được ngày và đêm
- Nhận biết hôm qua, hôm nay, ngày mai