Lý do chọn đề tài: Báo cáo tài chính BCTC của đơn vị hành chính sự nghiệp HCSN cung cấp thông tin hữu ích cho mục đích ra quyết định và giải trình, đảm bảo được tính công khai minh bạch
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Báo cáo tài chính (BCTC) của đơn vị hành chính sự nghiệp (HCSN) cung cấp thông tin hữu ích cho mục đích ra quyết định và giải trình, đảm bảo được tính công khai minh bạch và thống nhất nhằm cung cấp thông tin kinh tế, tài chính cho việc đánh giá tình hình và thực trạng, là căn cứ quan trọng giúp cho các cơ quan hữu quan, lãnh đạo đơn vị kiểm tra, giám sát điều hành hoạt động của đơn vị Bởi vì báo cáo tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp là phương pháp tổng hợp số liệu về tình hình tài sản, tiếp nhận và sử dụng kinh phí ngân sách, tình hình thu, chi và kết quả hoạt động trong kỳ kế toán Dù rằng trong thực tiễn công tác kế toán, đã ban hành thông tư 185/2010/TT-BTC ngày 15/10/2010 sửa đổi bổ sung quyết định 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006, nhưng vẫn còn nhiều bất cập trong báo cáo tài
chính cần được hoàn thiện Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài: “ Báo cáo tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp tại TP Biên Hòa – Thực trạng
và giải pháp” làm luận văn tốt nghiệp hoàn thành khóa học thạc sĩ Trên cơ sở này
tác giả đã mạnh dạn đề xuất những giải pháp hoàn thiện để những thông tin về kinh
tế tài chính có tính chính xác cao hơn khi cung cấp cho các cơ quan hữu quan, lãnh đạo đơn vị kiểm tra, giám sát điều hành hoạt động góp phần quản lý hữu hiệu tài
Mục tiêu cụ thể:
- Tổng quan các nghiên cứu trước đây về BCTC đơn vị HCSN
Trang 2- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về nguyên tắc phương pháp ghi nhận, trình bày BCTC đơn vị HCSN
- Khảo sát và đánh giá thực trạng phương pháp ghi nhận, trình bày BCTC đơn vị HCSN một số đơn vị HCSN tại TP Biên Hòa
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện BCTC đơn vị HCSN tại TP Biên Hòa
3 Câu hỏi nghiên cứu:
Câu hỏi 1: Các kết quả nghiên cứu trước đây về BCTC đơn vị HCSN tại Việt Nam như thế nào?
Câu hỏi 2: Hiện nay BCTC đơn vị HCSN có những thành công và còn tồn tại những hạn chế nào? Những nguyên nhân gây ra hạn chế trong BCTC đơn vị HCSN hiện nay?
Câu hỏi 3: Để hoàn thiện BCTC đơn vị HCSN hiện nay cần đưa ra giải pháp như thế nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Báo cáo tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp
Phạm vi nghiên cứu: Một số báo cáo tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp tại
TP Biên Hòa trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2015
5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua các phương pháp cụ thể như phương pháp thu thập dữ liệu nhằm tìm hiểu thông tin các quy định về luật ngân sách nhà nước, về chế độ kế toán hành chính sự nghiệp, luật
kế toán, BCTC các đơn vị HCSN… kết hợp với phương pháp khảo sát trực tiếp tại một số đơn vị, sau đó dùng phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh để đưa ra kết quả nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện BCTC đơn vị HCSN
6 Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu:
Thông qua việc khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng báo cáo tài chính đơn
vị hành chính sự nghiệp tại TP Biên Hòa trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm
2015 chỉ ra những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế của nó Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu những nghiên cứu trước đây đề tài nghiên cứu phát triển hoàn thiện
Trang 3tiếp về phương pháp ghi nhận và trình bày báo cáo tài chính đơn vị HCSN Qua đó
đề xuất một số giải pháp thực tế nhằm củng cố và nâng cao hiệu quả quản lý tài
chính ngân sách nhà nước
7 Kết cấu gồm 3 chương:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm 3
chương chính như sau:
Chương 1: Tổng quan báo cáo tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp
Chương 2: Thực trạng báo cáo tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp tại
TP Biên Hòa
Chương 3: Một số giải pháp về báo cáo tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp tại TP Biên Hòa
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về BCTC đơn vị HCSN
1.1.1 Các nghiên cứu trong nước
Nguyễn Thị Thu Hiền (2015), đề tài: “ Hoàn thiện Báo cáo tài chính khu vực công Việt Nam” đánh giá về nhược điểm BCTC của đơn vị HCSN như sau: “ Trong tất cả các BCTC của đơn vị HCSN hiện nay chưa có báo cáo phản ánh dòng tiền của đơn vị mà lại có nhiều báo cáo về quyết toán kinh phí, ngân sách đã sử dụng, đối chiếu kinh phí dự toán với kho bạc Căn cứ vào những thông tin trên báo cáo này, người đọc dễ thấy báo cáo tài chính hiện nay tại các đơn vị hành chính sự nghiệp hầu như chỉ cung cấp thông tin phục vụ cho việc quản lý ngân sách, chưa thể hiện các thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh và dòng tiền của đơn vị một cách rõ ràng”
Đậu Thị Kim Thoa (2012), đề tài: “ Hoàn thiện Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam theo định hướng tiếp cận chuẩn mực kế toán công quốc tế” cho rằng: “ Chính sách kế toán là các nguyên tắc,
cơ sở, quy định, quy luật và phương pháp kế toán cụ thể để các đơn vị áp dụng trong việc lập, trình bày BCTC, nó là chìa khóa quan trọng để tổ chức công tác kế toán Tuy nhiên, đối với kế toán HCSN, Việt Nam chưa quy định rõ ràng, thống nhất, các chính sách kế toán nằm rải rác ở các văn bản khác nhau và nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu, ban hành như nguyên tắc hoạt động liên tục, nguyên tắc phù hợp, thận trọng…vẫn chưa được quy định áp dụng trong kế toán HCSN Một đơn vị HCSN vừa áp dụng cơ sở kế toán tiền mặt, dồn tích có điều chỉnh cho hoạt động sự nghiệp và vừa phải kết hợp với kế toán dồn tích cho hoạt động SXKD gây lộn xộn
và dễ bị nhầm lẫn khi ghi nhận nghiệp vụ liên quan đến 2 hoạt động này”
Lê Thị Cẩm Hồng (2012), với đề tài: “ Xây dựng và hoàn thiện hệ thống Báo cáo tài chính áp dụng cho đơn vị Hành chính sự nghiệp ở Việt Nam theo định hướng tiếp cận chuẩn mực kế toán công quốc tế” nhận diện những hạn chế của BCTC hiện hành: “ Mặc dù hệ thống báo cáo tài chính của đơn vị HCSN ở Việt
Trang 5Nam hiện nay đã đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước và phần nào phù hợp với Luật NSNN và các chính sách quản lý tài chính đối với đơn vị HCSN, nhưng thực
tế cho thấy rằng việc lập các BCTC của đơn vị HCSN hiện mới chỉ là một bộ phận cấu thành để giúp tổng hợp các báo cáo quyết toán ngân sách nhằm phục vụ cho việc điều hành ngân sách của Quốc hội mà chưa thực sự là các BCTC của một đơn
vị kinh tế phục vụ cho việc hợp nhất BCTC của Chính phủ, chưa thực sự là BCTC
để công khai minh bạch, nhằm đánh giá năng lực tài chính và kết quả hoạt động của quốc gia trong từng năm tài chính, do đó các đối tượng sử dụng thông tin bên trong
và ngoài nước khó có được thông tin thích hợp cũng như cơ sở để so sánh với các nước khác trong khu vực”
Với một số các nghiên cứu trong nước, tác giả nhận thấy BCTC đơn vị HCSN hiện nay đã phù hợp với thực tiễn nền kinh tế tại Việt Nam, đó là mặt đạt được Ngoài ra, vẫn còn những hạn chế như: những quy định chưa thống nhất, nhiều biểu mẫu chưa phù hợp làm cho BCTC hiện nay chưa thực sự là công cụ quản lý tài chính hữu hiệu cho việc quản lý Ngân sách nhà nước (NSNN)
1.1.2 Các nghiên cứu nước ngoài
Janet Mack (2006), Luận án tiến sĩ của đại học Philosophy Australian University thực hiện việc nghiên cứu tại Úc với mục đích xác định mục đích báo cáo tài chính cho mục đích chung của khu vực công Úc và sự hòa hợp giữa mục đích với nội dung của báo cáo tài chính Luận án làm rõ mục đích của BCTC không chỉ là cung cấp thông tin cho người sử dụng ra quyết định mà còn sử dụng đánh giá trách nhiệm giải trình của đơn vị báo cáo Do đó, việc cung cấp thông tin hữu ích của BCTC cho mục đích chung cần phải lập các bảng báo cáo như: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Bảng thuyết minh BCTC, Báo cáo kiểm toán BCTC
Yasuhiro Yamada (2007), tác giả dựa trên cơ sở so sánh với mục tiêu báo cáo tài chính khu vực công của Nhật và Mỹ để phân tích và xác định rõ hơn mục tiêu báo cáo tài chính khu vực công của Nhật Tác giả cho rằng điểm giống nhau giữa BCTC khu vực công của Mỹ và Nhật là đặt mục tiêu trách nhiệm giải trình và cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định Mặt khác, tác giả nhận định sự khác
Trang 6biệt giữa BCTC khu vực công của Mỹ và Nhật là đối tượng sử dụng thông tin BCTC Đối tượng sử dụng thông tin BCTC khu vực công của Nhật chủ yếu là các
cơ quan hữu quan.Vì người dân xem việc nộp thuế là nghĩa vụ phải thực hiện dù họ
có sử dụng dịch vụ công hay không nên không chú trọng đến trách nhiệm giải trình của các cơ quan chính phủ Còn đối tượng sử dụng thông tin BCTC khu vực công của Mỹ là công chúng Vì người dân Mỹ có nhu cầu sử dụng dịch vụ công rất cao,
do đó họ muốn sử dụng thông tin BCTC khu vực công để đánh giá trách nhiệm giải trình của các cơ quan chính phủ
Dựa trên các nghiên cứu nước ngoài, theo tác giả các nước trên thế giới rất đề cao việc đánh giá trách nhiệm giải trình vì nhu cầu sử dụng các dịch vụ công càng cao thì việc đánh giá trách nhiệm giải trình càng phải được chú trọng Đây cũng là điều mà BCTC khu vực công nói chung và đơn vị HCSN hiện nay của Việt Nam nói riêng chưa đáp ứng được
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu
1.1.3.1 Khoảng trống nghiên cứu
Như đã đề cập ở phần mục tiêu nghiên cứu, đề tài này sẽ nghiên cứu và làm rõ hơn mục đích cung cấp thông tin của BCTC tại các đơn vị HCSN nói chung và các đơn vị HCSN tại TP.Biên Hòa từ năm 2012 đến năm 2015 nói riêng Hiện nayBCTC đơn vị HCSN tại TP Biên Hòa phục vụ và cung cấp thông tin cho các đối tượng có quyền yêu cầu đơn vị phải cung cấp thông tin như cơ quan lập pháp, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thực hiện chức năng giám sát để phục vụ cho các mục đích riêng biệt, khác nhau của từng đối tượng sử dụng thông tin Chưa cho mục đích chung công bố thông tin rộng rãi cho tất cả các đối tượng sử dụng, đặc biệt là những đối tượng không có khả năng yêu cầu các đơn vị cung cấp thông tin như công chúng
1.1.3.2 Vấn đề nghiên cứu
Luận văn đã tiếp nối các nghiên cứu trước đây về tính trung thực, chính xác và đáng tin cậy của BCTC đơn vị HCSN, đồng thời nghiên cứu về phương pháp ghi nhận, trình bày và công bố của BCTC đơn vị HCSN tại TP Biên Hòa để phát triển
Trang 7thêm một số nội dung theo mục tiêu nghiên cứu nhằm đưa ra thêm một số giải pháp góp phần hoàn thiện báo cáo tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp
1.2 Đặc điểm đơn vị HCSN và cơ chế quản lý tài chính
1.2.1 Vài nét về đơn vị HCSN
1.2.1.1 Khái niệm đơn vị HCSN
Đơn vị hành chính - sự nghiệp là đơn vị do Nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý nhà nước về một hoạt động nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí nhà nước cấp, cấp trên cấp hoặc bằng các nguồn khác nhằm thực hiện các chức năng nhiệm
vụ của Nhà nước giao trong từng giai đoạn nhất định
Để quản lý một cách có hiệu quả các khoản chi tiêu của đơn vị cũng như
để chủ động trong công việc chi tiêu, hàng năm các đơn vị HCSN phải lập dự toán cho từng khoản chi cho đơn vị mình và dựa vào dự toán đã được lập và xét duyệt ngân sách nhà nước cấp kinh phí cho đơn vị, vì vậy đơn vị HCSN còn được gọi là đơn vị dự toán
Hoạt động của các đơn vị HCSN rất phong phú, đa dạng và mang tính phục vụ Vì vậy hoạt động của các đơn vị HCSN thường không có thu hoặc
có thu nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu, các khoản chi cho các hoạt động chủ yếu được trang trải bằng nguồn kinh phí của nhà nước cấp Do chi tiêu chủ yếu bằng nguồn kinh phí nhà nước cấp nên đơn vị phải lập dự toán thu - chi và việc chi tiêu phải đúng dự toán được duyệt theo các tiêu chuẩn, định mức nhà nước qui định
Như vậy, đơn vị HCSN được hiểu là đơn vị dự toán hoạt động bằng nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, cấp trên cấp phát hoặc bằng nguồn kinh phí khác (hội phí, học phí, viện phí, kinh phí được tài trợ,…) để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước giao trong từng giai đoạn nhất định
Trang 8Đơn vị HCSN bao gồm các cơ quan hành chính nhà nước và các đơn vị
sự nghiệp nhà nước Cơ quan hành chính nhà nước là các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh quốc phòng… Bao gồm ba hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa phương: Cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp
Đơn vị sự nghiệp nhà nước là các đơn vị hoạt động cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội và các dịch vụ khác trong các lĩnh vực giáo dục,
y tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, nông - lâm - ngư nghiệp v.v Nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của người dân, duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân Các đơn vị sự nghiệp nhà nước hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, mà mang tính chất phục vụ cộng đồng là chính
Đơn vị HCSN là những đơn vị không trực tiếp sản xuất sản phẩm vật chất nhưng hết sức cần thiết cho xã hội, nhằm ổn định, duy trì bộ máy quản lý nhà nước các cấp, đảm bảo ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc phòng
Các khoản chi chứa đựng nhiều yếu tố xã hội liên quan đến nhiều chủ trương, chính sách của nhà nước trong nền kinh tế vừa là một yếu tố khách quan và thể hiện tính ưu việt của xã hội, nhằm nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần sức khỏe cho nhân dân.
1.2.1.2 Phân loại đơn vị HCSN
Dựa vào chức năng của đơn vị HCSN, đơn vị HCSN được chia làm 4 loại: a) Đơn vị hành chính nhà nước là các cơ quan quản lý nhà nước từ cấp Trung ương đến địa phương, thực hiện chức năng quản lý nhà nước nhằm ổn định, duy trì
bộ máy nhà nước các cấp, đảm bảo ổn định chính trị xã hội và an ninh quốc phòng b) Đơn vị sự nghiệp là những tổ chức được thành lập để thực hiện các hoạt động
sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình…, mà những hoạt động này nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình
Trang 9thường, liên tục của xã hội, mang tính chất phục vụ là chủ yếu, không vì mục tiêu lợi nhuận Những đơn vị sự nghiệp trong quá trình hoạt động sự nghiệp được phép thu phí để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động được gọi là đơn vị sự nghiệp có thu
c) Các tổ chức đoàn thể xã hội: là những tổ chức, hiệp hội phục vụ lợi ích cho cộng động như Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu Chiến binh, Hội Nông dân Việt Nam,….được ngân sách hỗ trợ một phần kinh phí để hoạt động
d) Các cơ quan an ninh quốc phòng: là những cơ quan nhà nước hoạt động trong lĩnh vực an ninh quốc phòng như các đơn vị bộ đội, công an…
1.2.1.3 Đặc điểm của đơn vị HCSN
a) Đơn vị hành chính sự nghiệp hoạt động theo dự toán được cấp có thẩm quyền giao và được ngân sách nhà nước cấp toàn bộ hoặc một phần dự toán được duyệt b) Đơn vị phải lập dự toán thu – chi theo các định mức, tiêu chuẩn do nhà nước quy định
c) Các đơn vị hành chính sự nghiệp trong cùng một ngành theo một hệ thống dọc được chia thành các cấp như sau:
- Đơn vị dự toán cấp I: là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách năm do các cấp chính quyền giao, phân bổ dự toán cho đơn vị cấp dưới; có trách nhiệm về việc tổ chức, thực hiện quản lý kinh phí của cấp mình và của các đơn vị trực thuộc
- Đơn vị dự toán cấp II: là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp I và là đơn vị nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp I và phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị dự toán cấp III; có trách nhiệm tổ chức, thực hiện quản lý kinh phí của cấp mình và của các đơn vị trực thuộc
- Đơn vị dự toán cấp III: là đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng kinh phí nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp II hoặc cấp I (nếu không có cấp II) có trách nhiệm tổ chức, thực hiện quản lý kinh phí của cấp mình và đơn vị dự toán cấp dưới (nếu có)
Trang 101.2.2 Vai trò của đơn vị HCSN trong nền kinh tế xã hội
1.2.2.1 Vai trò của đơn vị hành chính
Cơ quan hành chính là cơ quan công quyền thực hiện chức năng quản lý nhà
nước Hiến pháp của nước ta năm 1992 xác định chính phủ là cơ quan chấp hành,
cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước
Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và nhà nước cấp trên trong việc chấp hành hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm để thực hiện chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn, chỉ đạo điều hành hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương, đảm bảo tính thống nhất trong quản lý của bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương
Uỷ ban nhân dân được tổ chức theo ba cấp hành chính: tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện); xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)
Bên cạnh các cơ quan công quyền thuộc hệ thống quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương, còn có hệ thống các cơ quan, đơn vị như tòa án, viện kiểm sát, công an, quân đội, các sở ban ngành… thực hiện nhiệm vụ giám sát, tố tụng, điều hành và bảo đảm ổn định chính trị, quản lý kinh tế, bảo đảm trực tự an toàn xã hội và an ninh quốc phòng
Hoạt động của các đơn vị hành chính thuộc hệ thống chính quyền các cấp là hiện thân của thể chế một quốc gia, đóng vai trò giữ vững kỷ cương chính trị, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho phát triển kinh tế xã hội Nếu quốc gia có thể chế tốt, trong sạch và vững mạnh thì quốc gia đó sẽ là môi trường tốt của người dân trong việc hưởng thụ các dịch vụ hành chính, là môi trường tốt cho các tổ chức kinh
tế, cá nhân kinh doanh thực hiện hoạt động của mình
Do vậy, cải cách hành chính, giảm thiểu thủ tục rườm rà, bộ máy trong sạch, năng lực và vững mạnh là những mục tiêu mà các cơ quan hành chính nhà nước cần
Trang 11phải đạt tới để trở thành những lực lượng tiến bộ, xứng đáng vai trò quản lý nhà nước, thúc đẩy cải cách kinh tế, ổn định chính trị và an ninh quốc phòng
1.2.2.2 Vai trò của đơn vị sự nghiệp
Các đơn vị sự nghiệp hoạt động trên nhiều lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa
thông tin, thể dục thể thao, phát thanh truyền hình, sự nghiệp nông, lâm, ngư, thủy lợi và các sự nghiệp kinh tế khác… để cung cấp các dịch vụ công cho xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần, sức khỏe cho nhân dân, và là nhân tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế trong tương lai
Chiều cao, cân nặng trung bình ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong, tỷ lệ suy dinh dưỡng, tuổi thọ trung bình của người dân, tỷ lệ trẻ đi học, số lượng đại học trên vạn dân… qua thời gian thể hiện chất lượng cuộc sống, trình độ phát triển của mỗi quốc gia và các hoạt động trong các đơn vị sự nghiệp là nơi để nuôi sống, phục
vụ và cung ứng dịch vụ cho dân chúng nhằm duy trì hoặc hạn chế và phát triển các chỉ số này Trình độ dân trí, chất lượng cuộc sống, văn hóa tinh thần, môi trường và thể chế là những mục tiêu mả các đơn vị hành chính sự nghiệp phải hướng tới để đạt đến một quốc gia phát triển toàn diện, cân đối và bền vững
Vai trò của nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ công cho xã hội được cụ thể hóa ở các đơn vị sự nghiệp công lập ở các ngành Nguồn lực ngân sách để phục
vụ cho cộng đồng chủ yếu lấy từ lĩnh vực sản xuất vật chất thông qua nguồn thuế hàng năm, phí, lợi tức từ đầu tư doanh nghiệp nhà nước… Ở các nước đang phát triển, dường như nguồn lực xã hội thường tập trung cho đầu tư phát triển kinh tế, chưa chú trọng và cũng không đủ sức để đầu tư cho giáo dục, y tế, phát triển hệ thống an sinh xã hội Và như thế nguồn lực cần huy động thêm từ dân chúng, từ đầu
tư tư nhân thông qua các nguồn thu từ phí dịch vụ, các cơ sở ngoài công lập Tuy nhiên, vai trò của nhà nước là chủ lực trong việc phát triển các hoạt động sự nghiệp trtong các đơn vị công lập nhằm giải quyết các nhu cầu, dịch vụ cơ bản của người dân, đặc biệt là tầng lớp dân cư có thu nhập thấp Hay nói khác đi, nhà nước có trách nhiệm phải cân đối giữa sự phát triển kinh tế của quốc gia và vấn đề chăm lo đời sống và hệ thống an sinh xã hội cho người dân Từ đó, các chỉ số về phát triển
xã hội sẽ ngang tầm với các chỉ số phát triển kinh tế đảm bảo sự hài hòa trong phát
Trang 12triển và tăng trưởng của một quốc gia Điều này đặt ra cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập như thế nào để đáp ứng được yêu cầu trên
1.2.3 Cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị HCSN ở Việt Nam
1.2.3.1 Nguyên tắc quản lý tài chính
a) Quản lý nguồn kinh phí thường xuyên do ngân sách cấp cho các đơn vị dự toán
theo hệ thống định mức chi tiêu Định mức chi tiêu hiện nay gồm hai loại: định mức chi tổng hợp và định mức chi cho từng mục chi theo mục lục ngân sách
b) Quản lý và cấp phát nguồn kinh phí hoạt động cho các đơn vị phải theo dự toán năm đã được duyệt có nghĩa là các đơn vị thực hiện chi tiêu phải lấy dự toán làm cơ
sở Dự toán thông báo cho mục đích chi nào phải thực hiện chi cho mục đích đó Trong trường hợp cần điều chỉnh dự toán thì phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép nhưng không được làm thay đổi tổng mức dự toán do cấp thẩm quyền phê duyệt Trong trường hợp có biến động khách quan trong quá trình chấp hành dự toán làm thay đổi dự toán sẽ được ngân sách nhà nước bổ sung theo thủ tục quy định của luật ngân sách nhà nước để đảm bảo cho các đơn vị hành chính sự nghiệp hoàn thanh tốt các nhiệm vụ được giao
c) Quản lý kinh phí hoạt động của từng đơn vị do đơn vị tự đảm nhiệm và người chịu trách nhiệm đầu tiên là thủ trưởng đơn vị
1.2.3.2 Phương pháp quản lý tài chính
a) Phương pháp thu đủ, chi đủ: phương pháp này áp dụng cho đơn vị hành chính
sự nghiệp có nguồn thu không đáng kể Do vậy, mọi khoản chi tiêu của đơn vị được ngân sách cấp toàn bộ và mọi nguồn thu phát sinh phải nộp vào ngân sách theo quy định Phương pháp này hiện không sử dụng vì không phát huy quyền tự chủ tài chính và tạo tâm lý ỷ lại, trông chờ vào ngân sách dẫn đến hoạt động chuyên môn của đơn vị nghèo nàn, không đáp ứng với nhu cầu xã hội
b) Phương pháp thu chi chênh lệch: phương pháp áp dụng cho đơn vị hành chính
sự nghiệp có nguồn thu phát sinh thường xuyên, lớn và ổn định Các đơn vị này được quyền giữ lại các khoản thu của đơn vị để chi tiêu theo dự toán, ngân sách nhà nước chỉ đảm bảo một phần chênh lệch thiếu Phương pháp này phù hợp với yêu cầu đổi mới quản lý tài chính ở khu vực công, phát huy được tính tích cực chủ động
Trang 13của các đơn vị trong việc khai thác nguồn thu, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của đơn vị
c) Phương pháp quản lý theo định mức: phương pháp này không tùy thuộc vào đặc thù của đơn vị hành chính sự nghiệp mà xuất phát từ mục đích quản lý chi ngân sách ở các đơn vị dự toán Khi lập dự toán, từng mục chi hoặc nhóm mục chi phải
có định mức (ví dụ như: cước điện thoại, công tác phí…) hay sử dụng định mức tổng hợp để xây dựng dự toán (ví dụ như: định mức chi cho mỗi giường bệnh, định mức chi trên một học sinh…)
d) Phương pháp khoán trọn gói: đây là phương pháp được đưa vào áp dụng từ năm
2001 đến nay để áp dụng cho đơn vị hành chính sự nghiệp trên cơ sở đề cao quyền
sử dụng kinh phí của đơn vị thụ hưởng kinh phí ngân sách để nâng cao hiệu quả chi thường xuyên, phù hợp với việc đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với khu vực công giai đoạn 2001-2010
Phương pháp này được cụ thể hóa qua cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản
lý hành chính đối với cơ quan hành chính nhà nước và cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu
1.2.3.3 Cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị HCSN ở Việt Nam
Đơn vị hành chính sự nghiệp là những đơn vị thuộc các lĩnh vực hành chính,
lĩnh vực sự nghiệp thụ hưởng ngân sách hàng năm theo Luật Ngân sách nhằm hoàn thành nhiệm vụ quản lý nhà nước và cung ứng các dịch vụ công cho xã hội
Luật Ngân sách ban hành năm 1996, sau đó Luật này được thay thế bởi Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 (Quốc hội thông qua vào tháng 12/2002 và có hiệu lực vào tháng 01/2004)
Cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị hành chính sự nghiệp tuân theo thông
tư 59/2003/TT-BTC ngày 23/06/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Ngân sách nhà nước Theo Luật Ngân sách hiện nay, việc tăng tính chủ động tài chính cho các đơn vị thụ hưởng Ngân sách đã nới rộng, cụ thể số lượng các khoản chi thường xuyên ở các đơn vị dự toán trước đây được kiểm soát chặt chẽ từng mục chi, nay đã giảm còn bốn nhóm mục, trong đó có 3 nhóm mục chi thường xuyên là
Trang 14“chi thanh toán cá nhân”, “chi nghiệp vụ chuyên môn” và “chi khác”, nhóm mục chi còn lại là “mua sắm, sửa chữa lớn TSCĐ” Tuy nhiên, quyền tự chủ chi ngân sách của các đơn vị dự toán ở Luật Ngân sách hẹp hơn so với hai cơ chế quản lý tài chính mới áp dụng đối với đơn vị hành chính và đơn vị sự nghiệp có thu với văn bản pháp
lý thực hiện là Quyết định 192/2001/QĐ-TTg ban hành ngày 17/12/2001 và Nghị định 10/2002/NĐ-CP ban hành 16/01/2002
Cơ chế quản lý tài chính áp dụng chung cho cả các đơn vị hành chính và đơn
vị sự nghiệp trong thời gian qua đã bộc lộ nhiều hạn chế và không phù hợp với thực tiễn
Việc tách bạch hai cơ chế quản lý tài chính riêng biệt cho hai đơn vị thuộc khu vực công: đơn vị hành chính và đơn vị sự nghiệp là một hướng đi tốt, đúng đắn trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam vì:
- Khắc phục những tồn tại của cơ chế quản lý tài chính chung trước đây: quản lý gần như nhau giữa đơn vị hành chính và đơn vị sự nghiệp mặc dù chức năng và đặc thù hoạt động của hai đơn vị này khác nhau
- Cởi bỏ những ràng buộc và sự can thiệp quản lý quá sâu của cơ quan tài chính vào nội bộ của các đơn vị
- Giảm bớt cơ chế “xin, cho” Ngân sách nhà nước từng bước không còn bao cấp các đơn vị hoạt động sự nghiệp như đơn vị hành chính
a) Mục đích của cơ chế khoán chi đối với cơ quan hành chính nhà nước:
- Phân định rõ cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập
- Thực hiện cải cách về thủ tục hành chính để nâng cao chất lượng phục vụ hành chính cho người dân
- Tinh giản bộ máy biên chế cồng kềnh, trùng lấp về quyền hạn và trách nhiệm Tiết kiệm chi hành chính
- Đẩy mạnh ứng dụng tin học trong dịch vụ hành chính công, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức cho phù hợp với nhu cầu thực tiễn b) Mục đích của cơ chế giao quyền tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp:
- Phân định rõ cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập
Trang 15- Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu theo hướng giảm cơ chế “xin, cho”, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị
- Đa dạng hóa hoạt động sự nghiệp nhằm thu hút các nguồn lực tài chính, nâng cao chất lượng hoạt động của các đơn vị sự nghiệp
- Từng bước thực hiện chế độ hợp đồng lao động, tăng nguồn thu hợp pháp cho đơn vị
- Từ đó, cơ chế sẽ tạo nguồn để thực hiện cải cách tiền lương ở đơn vị này thông qua sự đóng góp nhiều nguồn lực từ xã hội chứ không chỉ từ nguồn ngân sách
1.3 Báo cáo tài chính
1.3.1 Những quy định chung về BCTC
1.3.1.1 Yêu cầu lập BCTC
Báo cáo tài chính một phương pháp tổng hợp số liệu về tình hình tài sản, tiếp
nhận và sử dụng kinh phí ngân sách, tình hình thu, chi và kết quả hoạt động của đơn
vị hành chính sự nghiệp trong kỳ kế toán Báo cáo tài chính nhằm cung cấp thông tin kinh tế, tài chính cho việc đánh giá tình hình và thực trạng của đơn vị, là căn cứ quan trọng giúp các cơ quan hữu quan, lãnh đạo đơn vị kiểm tra, giám sát điều hành hoạt động của đơn vị
Do ý nghĩa quan trọng của báo cáo tài chính, khi lập báo cáo tài chính cần đảm bảo các yêu cầu sau:
a) Báo cáo tài chính phải lập đúng theo biểu mẫu quy định, phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu đã quy định, phải lập đúng kỳ hạn, nộp đúng thời hạn và đầy đủ báo cáo tới từng nơi nhận báo cáo
b) Hệ thống chỉ tiêu báo cáo tài chính phải phù hợp và thống nhất với chỉ tiêu dự toán năm tài chính và mục lục ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo so sánh được giữa số thực hiện với số dự toán giữa các kỳ kế toán với nhau
c) Phương pháp tổng hợp số liệu và lập các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính phải thống nhất ở các đơn vị hành chính sự nghiệp nhằm tạo điều kiện cho việc tổng hợp, phân tích, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước của cấp trên và các cơ quan quản lý nhà nước
Trang 16d) Số liệu trên báo cáo tài chính phải chính xác, trung thực, khách quan và phải được tổng hợp từ các số liệu của sổ kế toán sau khi khóa sổ kế toán
e) Báo cáo tài chính phải được người lập, kế toán trưởng và thủ trưởng đơn vị ký, đóng dấu trước khi nộp hoặc công khai
1.3.1.2 Trách nhiệm của các đơn vị trong việc lập, nộp BCTC
a) Trách nhiệm của đơn vị kế toán:
- Các đơn vị kế toán cấp dưới (đơn vị kế toán cấp II, III) phải lập, nộp báo cáo tài chính quý, năm và báo cáo quyết toán cho đơn vị kế toán cấp trên, cơ quan tài chính
và cơ quan thống kê đồng cấp, kho bạc nhà nước nơi đơn vị giao dịch để phối hợp kiểm tra, đối chiếu, điều chỉnh số liệu kế toán liên quan đến thu, chi ngân sách nhà nước và hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của đơn vị
- Các đơn vị kế toán cấp trên (đơn vị kế toán cấp I, II) có trách nhiệm kiểm tra, xét duyệt báo cáo quyết toán cho đơn vị kế toán cấp dưới và lập báo cáo tài chính tổng hợp từ các báo cáo tài chính năm của các đơn vị kế toán cấp dưới và các đơn vị
kế toán trực thuộc (đơn vị kế toán cấp dưới đơn vị kế toán cấp III)
b) Trách nhiệm của cơ quan tài chính, kho bạc nhà nước, thuế:
Các cơ quan tài chính, kho bạc nhà nước, thuế và các đơn vị khác có liên quan
có trách nhiệm trong việc phối hợp kiểm tra, đối chiếu, điều chỉnh, cung cấp và khai thác số liệu về kinh phí và sử dụng kinh phí, quản lý và sử dụng tài sản và các hoạt động khác có liên quan đến tình hình thu, chi ngân sách nhà nước và các hoạt động chuyên môn của đơn vị hành chính sự nghiệp
1.3.1.3 Kỳ hạn lập BCTC
a) Báo cáo tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí
ngân sách nhà nước được lập vào cuối kỳ kế toán quý, năm
b) Báo cáo tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước được lập vào cuối kỳ kế toán năm
c) các đơn vị kế toán bị chia, tách, sát nhập, chấm dứt hoạt động phải lập báo cáo tài chính tại thời điểm quyết định chia, tách, sát nhập, chấm dứt hoạt động
1.3.1.4 Thời hạn nộp BCTC
a) Thời hạn nộp báo cáo tài chính quý:
Trang 17- Đơn vị kế toán trực thuộc nộp báo cáo tài chính quý cho đơn vị kế toán cấp III, thời hạn nộp do đơn vị kế toán cấp trên cấp III quy định
- Đơn vị kế toán cấp III nộp báo cáo tài chính cho đơn vị kế toán cấp II và cơ quan tài chính, kho bạc đồng cấp chậm nhất 10 ngày ssau khi kết thúc quý
- Đơn vị kế toán cấp II nộp báo cáo tài chính cho đơn vị kế toán cấp I và cơ quan tài chính, kho bạc đồng cấp chậm nhất 20 ngày sau khi kết thúc quý
- Đơn vị kế toán cấp I nộp báo cáo tài chính cho cơ quan tài chính, kho bạc đồng cấp chậm nhất 25 ngày sau khi kết thúc quý
b) Thời hạn nộp báo cáo tài chính năm:
- Đối với đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước:
+ Đơn vị kế toán cấp I của ngân sách trung ương nộp cho cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính và cơ quan thống kê đồng cấp chậm nhất vào cuối ngày 01 tháng 10 năm sau Thời hạn nộp của đơn vị kế toán cấp II, III do đơn vị kế toán cấp I quy định
+ Đơn vị kế toán cấp I của ngân sách địa phương, thời hạn nộp do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định cụ thể
- Đối với đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước: Thời hạn nộp báo cáo tài chính năm cho cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính, thống kê đồng cấp chậm nhất 45 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm
Trang 18
NƠI NHẬN
Tài chính (*)
Kho bạc
Cấp trên
3 F02-1H Báo cáo chi tiết kinh phí
hoạt động
Quý, năm
4 F02-2H Báo cáo chi tiết kinh phí
dự án
Quý, năm
Quý, năm
F02-3bH
Bảng đối chiếu tình hình tạm ứng và thanh toán tạm ứng kinh phí ngân sách tại KBNN
Quý, năm
Trang 197 B03-H Báo cáo thu-chi hoạt
động sự nghiệp và hoạt động sản xuất, kinh doanh
Quý, năm
- (*) Chỉ nộp báo cáo tài chính năm
- Những đơn vị vừa là đơn vị dự toán cấp I, vừa là đơn vị dự toán cấp II nhận
dự toán kinh phí trực tiếp từ Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch UBND do cơ quan Tài chính trực tiếp duyệt quyết toán thì báo cáo đó gửi cho cơ quan Tài chính
(Nguồn: Quyết định 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006 của Bộ trưởng BTC)
Trang 201.3.2.2 Danh mục BCTC áp dụng cho các đơn vị kế toán cấp I và cấp II
Theo quyết định 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006 của Bộ trưởng BTC các đơn vị kế toán cấp I và cấp II áp dụng 03 biểu sau:
STT Ký hiệu TÊN BÁO CÁO
TỔNG HỢP
KỲ HẠN LẬP
NƠI NHẬN BÁO CÁO
Tài chính
Kho bạc
Cấp trên
Ghi chú:
Đơn vị dự toán cấp II chỉ gửi báo cáo tài chính cho đơn vị dự toán cấp I
Đơn vị dự toán cấp I gửi cơ quan Tài chính, Thống kê, Kho bạc
(Nguồn: Quyết định 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006 của Bộ trưởng BTC)
Trang 21Kiểm kê tài sản, vật tư, tiền vốn ở đơn vị hành chính sự nghiệp là một trong
những nội dung quan trọng trong công tác quản lý Mục đích của công tác kiểm kê nhằm:
- Đưa công tác quản lý tài sản vào nề nếp, đồng thời phát hiện, ngăn ngừa những hành vi lãng phí, tham ô, vi phạm chính sách, chế độ kỷ luật tài chính
- Đảm bảo cho công tác kế toán được chính xác, đầy đủ
- Đảm bảo cho việc lập báo cáo tài chính của đơn vị có căn cứ chính xác, trung thực
Để thực hiện tốt các mục đích của công tác kiểm kê, đơn vị cần thực hiện tốt các nội dung sau:
a) Thời điểm kiểm kê
Công tác kiểm kê nhất thiết phải tiến hành đúng thời hạn quy định nhằm góp phần cho công tác quản lý và hạch toán có căn cứ kịp thời
Thời hạn kiểm kê được quy định như sau:
- Tiền mặt tồn quỹ phải kiểm kê vào cuối mỗi ngày
- Vật liệu, sản phẩm, hàng hóa kiểm kho vào cuối mỗi tháng
- Tiền gửi kho bạc đơn vị phải đối chiếu số liệu với kho bạc nhà nước cuối mỗi tháng, có kho bạc xác nhận
- Tài sản cố định mỗi năm kiểm kê ít nhất một lần trước khi khóa sổ cuối năm Ngoài ra, khi thay đổi người chịu trách nhiệm quản lý cũng phải tiến hành kiểm kê và thời điểm kiểm kê là ngày bàn giao công việc
b) Chuẩn bị và tiến hành kiểm kê
Để công việc kiểm kê tiến hành nhanh chóng, chính xác, cần phải có bước chuẩn bị Công tác chuẩn bị kiểm kê gồm:
- Phải thực hiện xong việc ghi chép vào các sổ sách ở bộ phận kế toán và ở kho
- Phải tập trung đầy đủ các loại sổ sách, giấy tờ có liên quan như tài liệu kỹ thuật, hợp đồng thuê mướn,…
Sau khi chuẩn bị đầy đủ các nội dung trên, công tác kiểm kê được tiến hành như sau:
Trang 22+ Tùy theo từng loại tài sản, khi kiểm kê sử dụng các phương tiện cân, đong,
đo, đếm,…với những dụng cụ đo lường hợp pháp trước mặt người chịu trách nhiệm quản lý tài sản
+ Khi kiểm kê phải xét và đánh giá tình trạng phẩm chất của từng tài sản, cho kết luận về mức độ còn sử dụng được
+ Các tài sản kiểm kê phải ghi theo giá ban đầu, ghi đúng tên, công dụng và số hiệu tài sản
+ Công việc kiểm kê được tiến hành ngay tại địa điểm để tài sản
+ Trong thời gian kiểm kê cần tránh việc nhập xuất vật tư Nếu không thể ngưng công việc nhập xuất, thì ghi vào biểu thống kê riêng, sau đó sẽ điều chỉnh số liệu sau
+ Khi công việc kiểm kê kết thúc, phải lập biên bản kiểm kê, trong đó phải có
ý kiến nhận xét và kiến nghị về công tác quản lý, sử dụng, bảo quản tài sản và kiến nghị xử lý các trường hợp vi phạm
c) Xử lý kết quả kiểm kê
Sau khi công việc kiểm kê kết thúc, nếu có phát hiện thừa, thiếu tài sản so với
sổ sách thì phải tìm nguyên nhân và xử lý theo chế độ quy định:
- Nếu thừa, thiếu do nhầm lẫn khi ghi chép sổ sách, thì điều chỉnh trên sổ sách
- Nếu thừa, thiếu do người trực tiếp sử dụng tài sản, người quản lý tài sản thì xử
lý theo chế độ trách nhiệm vật chất
- Nếu thừa, thiếu trong định mức cho phép thì hạch toán trên sổ sách theo chế độ
kế toán
1.3.3.2 Khóa sổ kế toán
a) Khóa sổ cuối tháng, cuối quý
Thông thường vào ngày cuối tháng, cuối quý, kế toán tiến hành cộng sổ kế toán chi tiết và sổ tổng hợp Cộng sổ xong, cần phải tiến hành đối chiếu số liệu giữa các sổ kế toán có liên quan Việc đối chiếu số liệu được thực hiện như sau:
- Đối với thủ quỹ: tiến hành đối chiếu số tiền tồn quỹ với sổ quỹ và lập báo cáo tồn quỹ
Trang 23- Đối với kế toán tài sản, vật tư: đối chiếu giữa sổ kế toán chi tiết vật tư với thẻ kho và biên bản kiểm kê
- Đối với kế toán quan hệ với kho bạc: đối chiếu giữa tài khoản “ Dự toán chi hoạt động” và tài khoản “Tiền gửi kho bạc” với kho bạc nhà nước, sau đó lập bảng
b) Khóa sổ kế toán cuối năm
Việc khóa sổ kế toán cuối năm cũng tiến hành tương tự như khóa sổ kế toán cuối tháng, quý
1.3.3.3 Danh mục Hệ thống chứng từ kế toán
Hệ thống chứng từ kế toán được ban hành kèm theoQuyết định
19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006 của Bộ trưởng BTC gồm có 02 phần: chứng từ
kế toán ban hành kèm theo Quyết định này và chứng từ ban hành kèm theo các văn bản pháp luật khác cụ thể cho từng chỉ tiêu
HIỆU
LOẠI CHỨNG
TỪ KẾ TOÁN
BB HD
A Chứng từ kế toán ban hành theo Quyết định này
Trang 242 Bảng chấm công làm thêm giờ C01b-HD x
5 Bảng thanh toán thu nhập tăng thêm C02b-HD x
6 Bảng thanh toán học bổng (Sinh hoạt phí) C03-HD x
10 Bảng thanh toán tiền làm thêm giờ C07-HD x
11 Hợp đồng giao khoán công việc, sản phẩm C08-HD x
13 Biên bản thanh lý hợp đồng giao khoán C10-HD x
14 Bảng kê trích nộp các khoản theo lương C11-HD x
3 Giấy báo hỏng, mất công cụ, dụng cụ C22-HD x
4 Biên bản kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng
Trang 25III Chỉ tiêu tiền tệ
5 Biên bản kiểm kê quỹ (Dùng cho đồng Việt Nam) C34-HD x
6 Biên bản kiểm kê quỹ (Dùng cho ngoại tệ, vàng
bạc, kim khí quý, đá quý)
C35-HD x
9 Bảng kê chi tiền cho người tham dự hội thảo, tập
5 Biên bản giao nhận TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành C54-HD x
7 Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ C55b-HD x
B Chứng từ kế toán ban hành theo các văn bản
Trang 26pháp luật khác
2 Giấy xác nhận hàng viện trợ không hoàn lại
3 Giấy xác nhận tiền viện trợ không hoàn lại
5 Đề nghị ghi thu – ghi chi ngân sách tiền, hàng viện
trợ
3LL
GTKT-x
3LL
10 Hóa đơn bán lẻ (Sử dụng cho máy tính tiến) x
11 Bảng kê thu mua hàng hóa mua vào không có hóa
Trang 2715 Giấy rút dự toán ngân sách kiêm chuyển khoản,
chuyển tiền thư – điện cấp séc bảo chi
18 Giấy nộp trả kinh phí bằng chuyển khoản
22 Giấy rút vốn đầu tư kiêm lĩnh tiền mặt
23 Giấy rút vốn đầu tư kiêm chuyển khoản, chuyển
tiền thu – điện cấp séc bảo chi
24 Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng vốn đầu tư
25 Giấy nộp trả vốn đầu tư bằng tiền mặt
26 Giấy nộp trả vốn đầu tư bằng chuyển khoản
Trang 281.3.3.4 Danh mục Hệ thống tài khoản kế toán
Hệ thống tài khoản kế toán ban hành kèm theo Quyết định 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006 của Bộ trưởng BTC gồm 06 loại tên tài khoản:
STT
SỐ HIỆU
TK
ÁP DỤNG
GHI CHÚ
TK tại từng
Trang 291211 Đầu tư chứng khoán ngắn hạn phát sinh
5 152 Nguyên liệu, vật liệu Mọi đơn vị Chi tiết
theo yêu cầu quản lý
Trang 309 213 TSCĐ vô hình Mọi đơn vị
13 311 Các khoản phải thu Mọi đơn vị Chi tiết
theo yêu cầu quản lý
được khấu trừ thuế GTGT
hàng hóa, dịch vụ
Trang 31
31132 Thuế GTGT được khấu trừ của
dự án tín dụng
Chi tiết từng đối tượng
3131 Cho vay trong hạn
16 331 Các khoản phải trả Mọi đơn vị Chi tiết
từng đối tượng
Trang 323321 Bảo hiểm xã hội
Trang 33Chi tiết theo từng nguồn
Trang 3427 413 Chênh lệch tỷ giá hối đoái Đơn vị có
4211 Chênh lệch thu, chi hoạt động
Trang 35
4413 Nguồn kinh phí viện trợ án
31 461 Nguồn kinh phí hoạt động Mọi đơn vị Chi tiết
dùng nguồn
KP
xuyên
xuyên
Trang 3633 465 Nguồn kinh phí theo đơn đặt
hàng của Nhà nước
Đơn vị có đơn đặt hàng của Nhà nước
Trang 37LOẠI 6: CÁC KHOẢN CHI
38 631 Chi hoạt động sản xuất, kinh
doanh
Đơn vị có hoạt động SXKD
Chi tiết theo động SXKD
39 635 Chi theo đơn đặt hàng của Nhà
nước
Đơn vị có đơn đặt hàng của Nhà nước
Trang 38
dự án
Chi tiết theo dự
2 002 Tài sản nhận giữ hộ, nhận gia
7 009 Dự toán chi chương trình, dự
án
(Nguồn: Quyết định 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006 của Bộ trưởng BTC)
Trang 39
8 Sổ quỹ tiền mặt (Sổ chi tiết tiền mặt) S11-H
10 Sổ theo dõi tiền mặt, tiền gửi bằng ngoại tệ S13-H Đơn vị có ngoại
tệ Đơn vị có kho vật liệu, dụng
cụ, sản phẩm, hàng hóa
12 Sổ chi tiết nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng