1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CÔNG NGHỆ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

15 521 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 246,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CNQLMTChương I: Lịch sử phát triển của GPS, các chức năng, nguyên lý hoạt động và cấutrúc hệ thống GSP, ứng dụng của GPS trong quản lý môi trường. Trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến độ chính xác của GPS ở ngoàithực địa, cách hạn chế ảnh hưởng các nhân tố ảnh hưởng đó. Trình bày cách nhập tọa độ các điểm điều tra ngoài thực địa vào bản đồtrong ArcMapCâu 1: Lịch sử phát triển của GPS: Là một hệ thống các vệ tinh có khả năng xác định vị trí trên toàn cầu với độ chính xác khá cao, được phát triển bởi bộ quốc phòng Hoa Kỳ đầu 1970.Đầu tiên, GPS được xây dựng để phục vụ cho các mục đích quân sự, sau này cho phép sử dụng cả trong lĩnh vực dân sự.Hiện nay, hệ thống này được truy nhập bởi cả hai lĩnh vực quân sự dân sự. GPS: Mạng lưới 24 vệ tinh hoạt động. Mạng lưới này chính thức hoàn thành vào 8121993.Để đảm bảo vùng phủ sóng liên tục trên toàn thế giới, các vệ tinh GPS được sắp xếp sao cho 4 vệ tinh nằm cùng nhau trên 1 trong 6 mặt phẳng quỹ đạo.Với cách sắp xếp này sẽ có 4 10 vệ tinh được nhìn thấy tại bất kỳ điểm nào trên Trái đất. Thực tế chỉ cần 4 vệ tinh là có thể cung cấp đầy đủ các thông tin về vị trí Các quỹ đạo vệ tinh GPS là những đường vòng, có dạng elip với độ lệch tâm cực đại là 0.01, nghiêng khoảng 550 so với đường xích đạo.Độ cao của các vệ tinh so với bề mặt Trái đất là khoảng 20.200 km, chu kỳ quỹ đạo các vệ tinh GPS khoảng 12 giờ (11 giờ 58 phút)Cấu trúc:a,Phần không gian Gồm 24 vệ tinh nhân tạo (satellite vehicle, 1995). Quỹ đạo chuyển động của vệ tinh nhân tạo xung quanh Trái đất là quỹ đạo tròn;24 vệ tinh nhân tạo chuyển động trong 6 mặt phẳng quỹ đạo. Mặt phẳng quỹ đạo vệ tinh GPS nghiêng so với mặt phẳng xích đạo một góc 55 độ.Quĩ đạo của vệ tinh gần hình tròn, ở độ cao 20,200 km, chu kỳ 718 phút, thời hạn sử dụng 7.5 năm. Từ khi phóng vệ tinh GPS đầu tiên được phóng vào năm 1978, đến nay đã có bốn thế hệ vệ tinh khác nhau:• Block I;• Block II;• Block IIA;Thế hệ gần đây nhất là Block IIR; Thế hệ cuối của vệ tinh Block IIR được gọi là Block IIRM.Những vệ tinh thế hệ sau được trang bị thiết bị hiện đại hơn, có độ tin cậy cao hơn, thời gian hoạt động lâu hơn.b. Phần điều khiển Duy trì hoạt động của toàn bộ hệ thống GPS cũng như hiệu chỉnh tín hiệu thông tin của vệ tinh hệ thống. Phần điều khiển có 5 trạm quan sát có nhiệm vụ:• Giám sát điều khiển hệ thống vệ tinh liên tục;• Quy định thời gian hệ thống GPS;• Dự đoán dữ liệu lịch thiên văn hoạt động của đồng hồtrên vệ tinh;• Cập nhật định kỳ thông tin dẫn đường cho từng vệ tinh cụ thể. Có một trạm điều khiển chính (Master Control Station)ở Colorado của Mỹ;05 trạm giám sát (monitor stations);04 trạm ăng ten mặt đất dùng để cung cấp dữ liệu cho các vệ tinh GPS.c. Phần người sử dụng Gồm các máy thu tín hiệu vệ tinh phần mềm xử lý tính toán số liệu, máy tính thu tín hiệu GPS; Có thể đặt cố định trên mặt đấtgắn trên các phương tiện chuyển động (ô tô, máy bay, tàu biển, tên lửa); Tuỳ theo mục đích của các ứng dụng mà các máy thu GPS có thiết kế cấu tạo khác nhau cùng với phần mềm xử lý quy trình thao tác thu thập số liệu ở thực địaChức năng: Định vị:+Là tính năng cơ bản nhất của một thiết bị có tích hợp GPS.+ Người sử dụng có thể dễ dàng xác định được ngay vị trí của mình dù đang ở bất kỳ đâu thông qua GPS.E.g. một số ứng dụng còn cho phép người dùng chia sẻ vị trí của mình thông qua tin nhắn SMS. Khi tin nhắn được gửi đi, thiết bị sẽ gửi kèm theo đó một tọa độ của bạn để người nhận có thể xác định được bạn đang ở đâu, rất tiện lợi Dẫn đường +Là một tính năng mà hầu hết những người sử dụng đều muốn có khi cầm trong tay một thiết bị có GPS.+ Dựa trên vị trí tọa độ của thiết bị cộng thêm dữ liệu của ứng dụng bản đồ, thiết bị GPS sẽ vạch cho người sử dụng một lộ trình từ điểm đầu đến điểm cuối sao chongắn nhất thuận tiện nhất.+Một số ứng dụng còn có tính năng dẫn đường bằng giọng nói, giúp người sử dụng có thể dễ dàng di chuyển mà không cần phải nhìn liên tục vào màn hình thiết bị.+ Không phải ứng dụng nào cũng có thể đáp ứng hoàn hảo cho nhu cầu dẫn đường. Một số dòng thiết bị, ứng dụng Google Maps tuy có thể dẫn đường với độ chính xác k

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CNQLMT Chương I:

- Lịch sử phát triển của GPS, các chức năng, nguyên lý hoạt động và cấu

trúc hệ thống GSP, ứng dụng của GPS trong quản lý môi trường.

- Trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến độ chính xác của GPS ở ngoài

thực địa, cách hạn chế ảnh hưởng các nhân tố ảnh hưởng đó.

- Trình bày cách nhập tọa độ các điểm điều tra ngoài thực địa vào bản đồ

trong ArcMap

Câu 1:

* Lịch sử phát triển của GPS:

- Là một hệ thống các vệ tinh có khả năng xác định vị trí trên toàn cầu với độ chính xác khá cao, được phát triển bởi bộ quốc phòng Hoa Kỳ đầu 1970

-Đầu tiên, GPS được xây dựng để phục vụ cho các mục đích quân sự, sau này cho phép sử dụng cả trong lĩnh vực dân sự

-Hiện nay, hệ thống này được truy nhập bởi cả hai lĩnh vực quân sự & dân sự

- GPS: Mạng lưới 24 vệ tinh hoạt động Mạng lưới này chính thức hoàn thành vào 8/12/1993

-Để đảm bảo vùng phủ sóng liên tục trên toàn thế giới, các vệ tinh GPS được sắp xếp sao cho 4 vệ tinh nằm cùng nhau trên 1 trong 6 mặt phẳng quỹ đạo

-Với cách sắp xếp này sẽ có 4 - 10 vệ tinh được nhìn thấy tại bất kỳ điểm nào trên Trái đất

- Thực tế chỉ cần 4 vệ tinh là có thể cung cấp đầy đủ các thông tin về vị trí

- Các quỹ đạo vệ tinh GPS là những đường vòng, có dạng elip với độ lệch tâm cực đại là 0.01, nghiêng khoảng 550 so với đường xích đạo

-Độ cao của các vệ tinh so với bề mặt Trái đất là khoảng 20.200 km, chu kỳ quỹ đạo các vệ tinh GPS khoảng 12 giờ (11 giờ 58 phút)

*Cấu trúc:

a,Phần không gian

- Gồm 24 vệ tinh nhân tạo (satellite vehicle, 1995) Quỹ đạo chuyển động của vệ tinh nhân tạo xung quanh Trái đất là quỹ đạo tròn;

Trang 2

-24 vệ tinh nhân tạo chuyển động trong 6 mặt phẳng quỹ đạo Mặt phẳng quỹ đạo vệ tinh GPS nghiêng so với mặt phẳng xích đạo một góc 55 độ

-Quĩ đạo của vệ tinh gần hình tròn, ở độ cao 20,200 km, chu kỳ 718 phút, thời hạn sử dụng 7.5 năm

- Từ khi phóng vệ tinh GPS đầu tiên được phóng vào năm 1978, đến nay đã có bốn thế hệ vệ tinh khác nhau:

• Block I;

• Block II;

• Block IIA;

-Thế hệ gần đây nhất là Block IIR;

- Thế hệ cuối của vệ tinh Block IIR được gọi là Block IIR-M

-Những vệ tinh thế hệ sau được trang bị thiết bị hiện đại hơn, có độ tin cậy cao hơn, thời gian hoạt động lâu hơn

b Phần điều khiển

- Duy trì hoạt động của toàn bộ hệ thống GPS cũng như hiệu chỉnh tín hiệu thông tin của vệ tinh hệ thống

- Phần điều khiển có 5 trạm quan sát có nhiệm vụ:

• Giám sát & điều khiển hệ thống vệ tinh liên tục;

• Quy định thời gian hệ thống GPS;

• Dự đoán dữ liệu lịch thiên văn & hoạt động của đồng hồ

trên vệ tinh;

• Cập nhật định kỳ thông tin dẫn đường cho từng vệ tinh cụ thể

- Có một trạm điều khiển chính (Master Control Station)

ở Colorado của Mỹ;

-05 trạm giám sát (monitor stations);

-04 trạm ăng ten mặt đất dùng để cung cấp dữ liệu cho các vệ tinh GPS

c Phần người sử dụng

- Gồm các máy thu tín hiệu vệ tinh & phần mềm xử lý tính toán số liệu, máy tính thu tín hiệu GPS;

- Có thể đặt cố định trên mặt đất/gắn trên các phương tiện chuyển động (ô tô, máy bay, tàu biển, tên lửa);

Trang 3

- Tuỳ theo mục đích của các ứng dụng mà các máy thu GPS có thiết kế cấu tạo khác nhau cùng với phần mềm xử lý & quy trình thao tác thu thập số liệu ở thực địa

*Chức năng:

- Định vị:

+Là tính năng cơ bản nhất của một thiết bị có tích hợp GPS

+ Người sử dụng có thể dễ dàng xác định được ngay vị trí của mình dù đang ở bất kỳ đâu thông qua GPS E.g một số ứng dụng còn cho phép người dùng chia sẻ vị trí của mình thông qua tin nhắn SMS Khi tin nhắn được gửi đi, thiết bị sẽ gửi kèm theo đó một tọa độ của bạn để người nhận có thể xác định được bạn đang ở đâu, rất tiện lợi

- Dẫn đường

+Là một tính năng mà hầu hết những người sử dụng đều muốn có khi cầm trong tay một thiết bị có GPS + Dựa trên vị trí tọa độ của thiết bị cộng thêm dữ liệu của ứng dụng bản đồ, thiết bị GPS sẽ vạch cho người sử dụng một lộ trình từ điểm đầu đến điểm cuối sao cho

ngắn nhất & thuận tiện nhất

+Một số ứng dụng còn có tính năng dẫn đường bằng giọng nói, giúp người sử dụng có thể dễ dàng di chuyển mà không cần phải nhìn liên tục vào màn hình thiết bị

+ Không phải ứng dụng nào cũng có thể đáp ứng hoàn hảo cho nhu cầu dẫn đường

Một số dòng thiết bị, ứng dụng Google Maps tuy có thể dẫn đường với độ chính xác khá cao, Nhưng nó lại không được trang bị bản đồ ngoại tuyến, bắt buộc người sử dụng phải kết nối internet mới có thể sử dụng được

+ Đối với những hãng vận tải thì GPS là một ứng dụng không thể thiếu trong việc điều hành & quản lý phương tiện:

>>Giám sát lộ trình đường đi của phương tiện theo thời gian thực: vận tốc, hướng di chuyển và trạng thái tắt/mở máy, quá tốc độ của xe

>>Lưu trữ lộ trình từng xe và hiển thị lại lộ trình của từng xe trên cùng một màn hình

>>Cảnh báo mỗi khi xe vượt quá tốc độ cho phép/thay thế vai trò của một máy chống trộm hết sức hiệu quả

- Tìm người, thiết bị:

+Hầu hết các nhà sản xuất smartphone hiện nay đều cố gắng trang bị cho thiết bị những ứng dụng giúp người dùng có thể xác định được vị trí của chúng phòng khi

thất lạc

Trang 4

+ Khi bật tính năng này, người dùng có thể theo dõi được vị trí của thiết bị dù ở bất kỳ đâu, miễn sao chúng vẫn có thể kết nối Internet thông qua 3G/Wi-Fi

+ Tìm lại điện thoại bị thất lạc hơn là tìm lại điện thoại bị mất cắp, bởi chúng cũng có thể bị vô hiệu hóa chỉ với vài thao tác

+ Đối với các bậc cha mẹ thì tính năng này còn đặc biệt hữu ích trong việc tìm, quản lý con cái, người thân

- Geotagging:

+Tính năng Geotagging có thể giúp bạn phân loại ảnh chúng một cách dễ dàng, chính xác những bức ảnh

đó chụp ở đâu

+Nguyên lý hoạt động của tính năng này có thể được hiểu đơn giản rằng khi người dùng chụp ảnh, thiết

bị sẽ kết nối với một vệ tinh GPS để xác định tọa độ của người sử dụng rồi gán tọa độ này cho bức ảnh vừa chụp

*ứng dụng của GPS trong quản lý môi trường:

- GPS/GIS được ứng dụng phổ biến trong việc quản lý và xử lý các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường:

+Quan trắc và quản lý chất thải rắn nhằm phân tích dựa trên vị trí các nguồn thải, chế độ thủy văn, địa hình đất gió, đường xá,… để quy hoạch tuyến vận chuyển, nơi tập trung, nơi xử lý chất thải,

- GPS/GIS trong việc quản lý & qui hoạch các vấn đề liên quan quản lý và xử lý CTR đô thị: Xây dựng

cơ sở dữ liệu GIS về hệ thống thu gom CTR & ứng dụng GIS thử nghiệm sắp xếp lại hệ thống thùng rác hiện tại

+Đây là căn cứ quan trọng để thành phố tiến hành điều chỉnh quy hoạch mạng lưới thu gom CTR hợp lý + Sử dụng thiết bị GPS thu thập dữ liệu và đánh giá hiệu quả hoạt động của trạm trung chuyển

*Nguyên lí hoạt động của GPS

-Các vệ tinh bay vòng quanh trái đất 2 lần/ngày, theo một quỹ đạo rất chính xác, phát tín hiệu xuống TĐ -Máy thu GPS nhận được thông tin này bằng phép tính lượng giác tính được chính xác vị trí của người dùng

-Về bản chất: Máy thu GPS so sánh thời gian tín hiệu được phát đi từ vệ tinh với thời gian nhận chúng Sai lệch thời gian cho biết máy thu GPS cách vệ tinh bao xa

-Rồi với nhiều khoảng cách đo được tới nhiều vệ tinh, máy thu có thể tính được vệ tinh của ng dùng, hiển thị lên bản đồ điện tử của máy

-Máy thu phải nhận tín hiệ của ít nhất 3 vệ tinh để tính ra vị trí vệ tinh 2 chiều (kinh, vĩ độ) để theo dõi được chuyển động

Trang 5

-Khi nhận được tín hiệu của ít nhất 4 vệ tinh thì máy thu có thể tính được vị trí 3 chiều (kinh, vĩ độ và độ cao)

-Khi vị trí nười dùng đã tính được thì máy thu GPS có thể tính các thông tin khác : tốc độ, hg chuyển động, khoảng hành trình, quãng đường, khoảng cách tới điểm đến,…

Câu 2: Trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến độ chính xác của GPS ở ngoài

thực địa, cách hạn chế ảnh hưởng các nhân tố ảnh hưởng đó.

*Yếu tố khách quan:

+Tầng khí quyển: Tín hiệu định vị GPS khi đi qua tầng đối lưu và tầng ion sẽ bị ảnh hưởng lớn làm chậm trễ trong việc thu và phát tín hiệu từ thiết bị định vị tới vệ tinh định vị GPS

+Điều kiện thời tiết, khí tượng: tín hiệu GPS và số lượng tín hiệu GPS có thể bắt được, sẽ bị chi phối bởi điều kiện thời tiết như: giáng thủy, tốc độ gió, tầng mây, nhiệt độ khí quyển,… Khi thời tiết: mưa, trời u

ám nhiều mây, bão, gió mạnh,… làm cho đường truyền tín hiệu bị chậm hơn so với điều kiện thời tiết trời quang đãng, gió nhẹ

+Địa hình, vật cản: như nhà cao tầng, cây cối, địa hình đồi núi hay đồng bằng, thung lung,…, ảnh hưởng đến số lượng vệ tinh thiết bị định vị bắt được tín hiệu

Các nhà khoa học đã chứng minh được số lượng vệ tinh được nhìn thấy là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới chất lượng tín hiệu định vị GPS Thiết bị định vị bắt được tín hiệu của càng nhiều vệ tinh trong

hệ thống định vị toàn cầu thì độ chính xác của vị trí càng cao Khi thiết bị đặt trong nhà cao tầng, tầng hầm, bị nhiễu loạn điện tử hay ở dưới tán lá dầy có thể chặn thu nhận tín hiệu, gây ra lỗi định vị không chính xác hoặc có thể không định vị được

+Vị trí của các vệ tinh định vị GPS thiết bị bắt được: những che khuất về hình học làm cho vị trí các vệ tinh định vị GPS thay đổi nên làm giảm độ chính xác của thiết bị định vị GPS Cách phân bổ vệ tinh lý tưởng nhất khi các vệ tinh ở vị trí tạo thành các góc rộng với nhau Ngược lại khi vệ tinh nằm cùng trên một đường thẳng hoặc thành cụm thành nhóm thì tín hiệu GPS thu được sẽ không có độ chính xác cao cụm thành nhóm

+Tín hiệu định vị GPS đi qua nhiều đường: Tín hiệu định vị GPS qua nhiều đường tức trước khi tới máy thu tín hiệu thì tín hiệu đã bị phản xạ từ nhà hay các đối tượng khác Chính vì thế mà chất lượng tín hiệu thiết bị định vị GPS sẽ bị giảm độ chính xác khá nhiều trước khi tới được máy thu tín hiệu định vị GPS Điều này gây ra do sự nhiễu sóng của các thiết bị có sóng điện từ, điện tử gây nhiễu như: đài radio, đầu thu kĩ thuật ố, các vệ tinh khác,…

+Lỗi kĩ thuật hoặc độ chính xác của các thiết bị: lỗi đồng hồ thu, lỗi quỹ đạo,… làm cho tín hiệu thu phát

và tính toán không chính xác

*Yếu tố chủ quan:

+Do chuyên môn và kinh nghiệm của người sử dụng: người nằm rõ chuyên môn sẽ biết các yếu tố ảnh hưởng đến độ chính xác của GPS, nắm rõ cách sử dụng và đảm bảo kết quả đo

Trang 6

+Tốc độ di chuyển, vận tốc : thiết bị cần khoảng thời gian để bắt tín hiệu vệ tinh, vì vậy khi sử dụng thiết

bị cần chú ý đến tốc độ di chuyển và tính ổn định, không thay đổi vận tốc đột ngột

Câu 3: Trình bày cách nhập tọa độ các điểm điều tra ngoài thực địa vào bản đồ trong ArcMap.

- Chuyển tất cả các điểm điều tra, diện tích lên bản đồ thông qua phần mềm

DNR Garmin.s

*Cách tiến hành:

- Cài đặt phần mềm DNR Garmin để chuyển đổi

- Kết nối thiết bị GPS với máy tính đã cài đặt phần mềm qua dây cáp thích hợp

- Khởi động GPS

- Khởi động phần mềm DNR Garmin:

1.Cài đặt hệ quy chiếu và đơn vị

-Vào File/Menu/Set Projection:

+ Trong POSC Codes/chọn ESRI

+Trong DATUMS/ PROJECTIONS chọn UTM/WGS 84/Zone 48N

+Click OK

2 Downloading GPS Waypoint Data

- Trên thanh MENU chọn Waypoint/Download

- Quá trình download hoàn thành ấn OK

-Sau đó được danh sách các điểm, gồm các thông tin về số thứ tự, ngày đo, vĩ độ, kinh độ

-Nếu không thấy xuất hiện danh sách các điểm thì chọn DATA TABLE BUTTON

3.Xuất dữ liệu GPS Waypoints

- Vào File/Save to/ Chọn file cần lưu

- Trong hộp thoại SAVE AS TYPE:

+chọn ARCVIEW SHAPEFILE (PROJECTED)(*.SHP) nếu muốn hiển thị lên ArcMap.Chú ý để dữ liệu

ở cả 3 dạng (point, Polygon, Line) thành các file riêng

+Chọn txt nếu muốn lưu trữ dữ liệu dạng Text

- Đặt tên file/OK

Trang 7

4.Biểu diễn lên bản đồ bằng phần mềm ArcMap

C1:

- Mở file dữ liệu (dạng SHP) vừa lưu trữ: Add/chọn file/OK

- Hình biểu diễn các điểm được hiển thị trên bản đồ

C2: Đối với file dữ liệu trên file excell

- Add file dữ liệu vào ArcMap: File/Add XY Data, xuất hiện hộp thoại

+X field: Y

+Y field: X

+Edit: chọn hệ tọa độ UTM/WGS84/Zone 48N

+OK

-Xuất file vừa tạo: click chuột phải/Export Data/Chọn vị trí lưu/OK

Chương II:

Câu 4: Khái niệm GIS và công nghệ GIS, thành phần của GIS

-KN: HTTTĐL là một hệ thống dựa trên máy tính, cung cấp bốn khả năng có thể làm việc với các dữ liệu địa lý như: thu thập dữ liệu; lưu trữ dữ liệu; xử lý và phân tích dữ liệu; và hiển thị dữ liệu

-Công nghệ GIS: là 1 quá trình từ khâu thu thập dữ liệu đầu vào, quản lí, xử lí số liệu và dữ liệu ra

+DL đầu vào: nhiều nguồn khác nhau như ảnh vệ tinh, ảnh chụp,…

+Quản lí DL: ổ đĩa cứng, ổ đĩa di động, USB, CD, DVD,…

+Xử lí DL: thao tác, xly DL đc thực hiện bởi máy tính để tạo ra thông tin

+Phân tích và mô hình: sô liệ tổng hợp và chuyển đổi, khả năng mã và phân tích về mặt định tính và định lượng thông tin đã thu thập

+DL ra: bản đồ, báo cáo, biểu đồ, đồ thị

-Các thành phần của GIS:

+Phần cứng (Hardware): là hệ thống máy tính mà trên đó GIS hoạt động, bao gồm từ máy tính để bàn đến máy chủ GIS cũng yêu cầu các thiết bị ngoại vi đặc biệt cho việc nhập và xuất dữ liệu: máy vẽ, máy quét,

+ Phần mềm (Software): cung cấp các tính năng và công cụ cần thiết để lưu trữ, phân tích và hiển thị thông tin địa lý

Trang 8

+ Dữ liệu (Data): bao gồm dữ liệu địa lý

 dữ liệu không gian:thể hiệ trực quan về hình dạng, kích thước vật lý và vị trí địa lý của các đối tượng trên bề mặt TĐ

 dữ liệu phi không gian: dữ liệu ở dạng văn bản, thể hiện hay mô tả thông tin thuộc tính của đối tượn

được lưu trữ trong hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu

+ Con người (People): là những chuyên gia kỹ thuật (người thiết kế và duy trì hệ thống) và người sử dụng GIS trong công việc

+ Phương pháp (Methods): là những kế hoạch ứng dụng được thiết kế tốt và có quy tắc dựa trên mô hình

và thực tiễn của mỗi tổ chức sử dụng GIS Nếu ko có phương pháp pt thì GIS hđ hoặc hđ ko có hiệu quả

Câu 5: Trình bày nhiệm vụ và ứng dụng GIS trong quản lý môi trường

*Nhiệm vụ:

- Nhập dữ liệu

Trước khi dữ liệu địa lý có thể được dùng cho GIS, dữ liệu này phải được chuyển sang dạng số thích hợp Quá trình chuyển dữ liệu từ bản đồ giấy sang các file dữ liệu dạng số được gọi là quá trình số hoá

Công nghệ GIS hiện đại có thể thực hiện tự động hoàn toàn quá trình này với công nghệ quét ảnh cho các đối tượng lớn; những đối tượng nhỏ hơn đòi hỏi một số quá trình số hoá thủ công (dùng bàn số hoá) Ngày nay, nhiều dạng dữ liệu địa lý thực sự có các định dạng tương thích GIS Những dữ liệu này có thể thu được từ các nhà cung cấp dữ liệu và được nhập trực tiếp vào GIS

-Thao tác dữ liệu

Có những trường hợp các dạng dữ liệu đòi hỏi được chuyển dạng và thao tác theo một số cách để có thể tương thích với một hệ thống nhất định Ví dụ, các thông tin địa lý có giá trị biểu diễn khác nhau tại các tỷ

lệ khác nhau (hệ thống đường phố được chi tiết hoá trong file về giao thông, kém chi tiết hơn trong file điều tra dân số và có mã bưu điện trong mức vùng) Trước khi các thông tin này được kết hợp với nhau, chúng phải được chuyển về cùng một tỷ lệ (mức chính xác hoặc mức chi tiết) Ðây có thể chỉ là sự chuyển dạng tạm thời cho mục đích hiển thị hoặc cố định cho yêu cầu phân tích Công nghệ GIS cung cấp nhiều công cụ cho các thao tác trên dữ liệu không gian và cho loại bỏ dữ liệu không cần thiết

Vector <=> Raster

Vector, Raster <=> KLM

Tab <=> Shapefile

-Quản lý dữ liệu

Ðối với những dự án GIS nhỏ, có thể lưu các thông tin địa lý dưới dạng các file đơn giản Tuy nhiên, khi kích cỡ dữ liệu trở nên lớn hơn và số lượng người dùng cũng nhiều lên, thì cách tốt nhất là sử dụng hệ

Trang 9

quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS) để giúp cho việc lưu giữ, tổ chức và quản lý thông tin Một DBMS chỉ đơn giản là một phần mền quản lý cơ sở dữ liệu

Có nhiều cấu trúc DBMS khác nhau, nhưng trong GIS cấu trúc quan hệ tỏ ra hữu hiệu nhất Trong cấu trúc quan hệ, dữ liệu được lưu trữ ở dạng các bảng Các trường thuộc tính chung trong các bảng khác nhau được dùng để liên kết các bảng này với nhau Do linh hoạt nên cấu trúc đơn giản này được sử dụng

và triển khai khá rộng rãi trong các ứng dụng cả trong và ngoài GIS

-Hỏi đáp và phân tích

Một khi đã có một hệ GIS lưu giữ các thông tin địa lý, có thể bắt đầu hỏi các câu hỏi đơn giản như:

+ Ai là chủ mảnh đất ở góc phố?

+ Hai vị trí cách nhau bao xa?

+ Vùng đất dành cho hoạt động công nghiệp ở đâu?

Và các câu hỏi phân tích như:

+ Tất cả các vị trí thích hợp cho xây dựng các toà nhà mới nằm ở đâu?

+ Kiểu đất ưu thế cho rừng sồi là gì?

+ Nếu xây dựng một đường quốc lộ mới ở đây, giao thông sẽ chịu ảnh hưởng như thế nào?

công cụ phân tích hiệu quả, trong đó có hai công cụ quan trọng đặc biệt:

-Phân tích liền kề

+ Tổng số khách hàng trong bán kính 10 km khu hàng?

+ Những lô đất trong khoảng 60 m từ mặt đường?

Ðể trả lời những câu hỏi này, GIS sử dụng phương pháp vùng đệm để xác định mối quan hệ liền kề giữa các đối tượng

-Phân tích chồng xếp

Chồng xếp là quá trình tích hợp các lớp thông tin khác nhau Các thao tác phân tích đòi hỏi một hoặc nhiều lớp dữ liệu phải được liên kết vật lý Sự chồng xếp này, hay liên kết không gian, có thể là sự kết hợp dữ liệu về đất, độ dốc, thảm thực vật hoặc sở hữu đất với định giá thuế

-Hiển thị

Với nhiều thao tác trên dữ liệu địa lý, kết quả cuối cùng được hiển thị tốt nhất dưới dạng bản đồ hoặc biểu

đồ Bản đồ khá hiệu quả trong lưu giữ và trao đổi thông tin địa lý GIS cung cấp nhiều công cụ mới và thú

vị để mở rộng tính nghệ thuật và khoa học của ngành bản đồ Bản đồ hiển thị có thể được kết hợp với

các bản báo cáo, hình ảnh ba chiều, ảnh chụp và những dữ liệu khác (đa phương tiện)

*Ứng dụng GIS trong QLMT:

Trang 10

-Kiểm kê rừng

+Kiểm kê trạng thái rừng

+Đánh giá biến động rừng

+Đánh giá về mùa vụ, chi phí, vận chuyển, điều kiện sống của động vật hoang dã

-Xây dựng bản đồ hiện trạng rừng (từ DL viễn thám)

-Mô hình cảnh báo cháy rừng

-Mô hình quản lý lưu vực

-Theo dõi diễn biến thài nguyên rừng

-Lưu vực:

+Quản lí lưu vực sông

• Cung cấp thông tin chi tiết các nguồn thải

• Cập nhật thông tin từ trạm quan trắc tự động

+QL rác thải sinh hoạt, công nghiệp

+QL chất lg nước mặt, nước ngầm

+QL chất lg MT ko khí: ứng dụng GIS và thuật toán nội suy để dự báo mức độ ô nhiễm ko khí

+Biến đổi khí hậu

Câu 6: Trình bày các nhân tố cấu thành một bản đồ môi trường (chém)

Chương III:

Câu 7: Khái niệm viễn thám, phân loại viễn thám, nguyên lý cơ bản của viễn

thám, phương pháp xử lý dữ liệu/thông tin viễn thám.

-KN: Viễn thám (Remote sensing - tiếng Anh) được hiểu là một khoa học và nghệ thuật để thu nhận thông tin về một đối tượng, một khu vực hoặc một hiện tượng thông qua việc phân tích tài liệu thu nhận được bằng các phương tiện Những phương tiện này không có sự tiếp xúc trực tiếp với đối tượng, khu vực hoặc với hiện tượng được nghiên cứu

-Cảm biến viễn thám: các thiết bị tạo ra ảnh về sự phân bố năng lượng phản xạ hay phát xạ của các vật thể

từ mặt đất theo những phần nhất định của quang phổ điện tử

-Cảm biến bị động: bị động thu nhận bức xạ do vật thể phản xạ hoặc phát xạ từ nguồn phát tự nhiên là Mặt trời;

Ngày đăng: 14/03/2017, 18:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w