Đối với nhà quản lý Với những hàm ý mà lý thuyết thị trường hiệu quả đã chỉ ra, để đảm bảo thị trường là hiệu quả, với mục đích tạo ra sự công bằng cho nhà đầu tư, từ đó tạo ra sự phát t
Trang 1BÀI TẬP NHÓM 5 MÔN TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ
TÀI CHÍNH CÔNG
GVHD: PGS TS BÙI THỊ MAI HOÀI SINH VIÊN THỰC HIỆN:
1 Ngô Thị Thùy Linh
2 Lý Thị Huỳnh An
3 Ngô Thị Ngọc Liễu
4 Phạm Xuân Như
5 Nguyễn Minh Phú
6 Lê Mỹ Xuân Phượng
7 Lê Thị Thu Thảo
8 Nguyễn Mai Thi
Trang 2MỤC LỤC
Câu 1: So sánh giữa tài chính công và tài chính nhà nước? 1
Câu 2: Tại sao quản lý tài chính công phải tôn trọng nguyên tắc minh bạch và có sự tham gia quản lý của công chúng? 1
Câu 3: Sự tham gia của công chúng vào trong hoạt động quản lý tài chính công được thể hiện ở những khía cạnh nào? 1
Câu 4: Phân biệt thuế với phí và lệ phí? 3
Câu 5: Mối quan hệ giữa thu thuế và thu vay nợ trong thu NSNN? 4
Câu 6: Phân biệt “Thuế trực thu” và “ Thuế gián thu”? 4
Câu 7: Ý nghĩa của sự phối hợp giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên trong chi NSNN? Cho VD minh họa 5
Câu 8: Ảnh hưởng của tài chính công đến tài chính doanh nghiệp? 5
Câu 9: Thông tin bất cân xứng, hậu quả? Giải pháp khắc phục? 7
Trang 31 Nội dung củaGiả thuyết thị trường hiệu quả
Giảthuyếtthịtrườnghiệuquả (hay lýthuyếtthịtrườnghiệuquả) (en: efficient market hypothesis) là
mộtgiảthuyếtcủalýthuyết tàichính khẳngđịnhrằng cácthịtrườngtàichínhlàhiệuquả (efficient),
rằnggiácủachứngkhoán (securities) trênthịtrườngtàichính, đặcbiệtlà thịtrườngchứngkhoán ,
phảnánhđầyđủmọithông tin đãbiết Do đókhôngthểkiếmđược lợinhuận bằngcáchcăncứvàocácthông tin
nhữnghìnhtháibiếnđộngcủa giácả trongquákhứ.Cóthểnóimộtcáchngắngọnlàcácnhàđầutư khôngthểkhônhơ
nthịtrường.Khái niệm hiệu quả ở đây được dùng với hàm ý hấp thụ thông tin nhanh chóng chứ không
phải các nguồn lực tạo ra sản lượng tối đa như trong các lĩnh vực kinh tế học khác Thông tin cũng được
hiểu là những tin tức có thể ảnh hưởng đến giá cả và không dự đoán trước được
Cóbaphiênbảncủa "lýthuyếtthịtrườnghiệuquả": dạngyếu (weak form), dạngbán-mạnh (semi-strong
form) vàdạngmạnh (strong form) Phiênbản weak form củalýthuyếtnàychorằng:
giáchứngkhoánphảnánhđầyđủthông tin đãcôngbốtrongquákhứ (nghĩalàdựavàothông tin
trongquákhứthìnhàđầucơkhôngthắngđượcthịtrường) Phiênbảndạng semi-strong form
củalýthuyếtchorằng: giáchứngkhoán (chứngkhoán ở đâyđượchiểutheonghĩarộng, khôngchỉlàcổphiếu)
đãchịutácđộngđầyđủcủathông tin côngbốtrongquákhứcũngnhưthông tin vừacôngbốxong
Nhàđầucơkhôngthểdựavàothông tin trongquákhứcũngnhưthông tin
vừađượccôngbốđểcóthểmuarẻbánđắtchứngkhoán, vìngaykhithông tin đượccôngbố,
giáchứngkhoánđãthayđổiphảnánhđầyđủthông tin vừacôngbố.
Dạng strong form củalýthuyếtnàykhẳngđịnhmạnhmẽhơnnữavềtínhhiệuquảcủathịtrườngtàichính,
rằnggiácủachứngkhoánđãphảnánhtấtcảthông tin côngbốtrongquákhứ, hiệntại, cũngnhưcácthông tin nộibộ
(insider) Cơsởđứngsaulýthuyếtnàylà: nếucóthông tin nộibộ, nhữngngườibiếtthông tin
nộibộsẽmuabánngaychứngkhoánđể thu lợinhuận, vànhưvậygiáchứngkhoánsẽthayđổi,
đếnkhinàongườitrongcuộckhôngcònkiếmlờiđượcnữa.
Cácnghiêncứuthựcnghiệm (empirical studies) đãchứng minh dạngyếuvàdạngbán-mạnh (semi-strong
form) củalýthuyếtcóthểđúng.Cónhiềunghiêncứuchốnglạilýthuyếtdạng strong form, rằngdạng strong-form
khôngđúng, rằngthịtrườngkhôngthểhiệuquảđếnmức strong-form.Nhiềunghiêncứuchỉranhiềubấthiệuquả
(inefficiencies) củathịtrườngmànhàđầucơcóthểthuđượclợinhuận Vídụ, chứng minh
chothấynhàđầucơcóthểthắngthịtrườngnếumuacáccổphiếucó P/E thấp.
LýthuyếtthịtrườnghiệuquảđượcpháttriểnbởiGiáosư Eugene Fama tại University of Chicago Booth
School of Business trongluậnvăntiếnsĩcủamìnhvàođầunhữngnăm 1960s.
Lýthuyếtnàyđượcchấpnhậnrộngrãichođếnnhữngnăm 1990s thìbịđặtcâuhỏi,
khikinhtếhọctàichínhhànhvinổilênđượcchấpnhậnrộngrãi.
ỨNG DỤNG CỦA LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ
Ứng dụng lý thuyết thị trường hiệu quả vào thị trường tài chính
1 Đối với nhà đầu tư
Lý thuyết thị trường hiệu quả ra đời đã có nhiều ứng dụng nhất định Nó là cơ sở của những nhà
đầu tư trên thế giới xây dựng và quản lý danh mục đầu tư
Trang 4Các nhà phân tích kỹ thuật dựa vào việc theo dõi quá trình thay đổi giá chứng khoán trong quá
khứ cũng như hiện tại để tìm ra sự vận động mang tính chu kỳ, từ đó giả thuyết rằng nó sẽ xảy ra
trong tương lai Vấn đề là mọi thông tin trong quá khứ và khối lượng giao dịch đều đã được công
chúng biết đến Vì vậy, mọi cố gắng để tìm kiếm thông tin từ việc phân tích giá quá khứ đã được
cộng vào trong giá của cổ phiếu Các nhà đầu tư cạnh tranh để khai thác những tin tức này sẽ đưa
giá trở lại mức cân bằng của thị trường hoặc tại mức này, nhà đầu tư chỉ có thể kiếm được lợi
nhuận đủ để bù đắp cho những rủi ro có thể gặp phải
a Phân tích cơ bản
Phương pháp phân tích cơ bản là phương pháp định giá cho cổ phiếu trên cơ sở nghiên cứu và
phân tích các triển vọng của công ty như triển vọng về kinh doanh, tài chính, từ đó đưa ra các
ước đoán về thu nhập, trà cổ tức, dự đoán biến động lãi suất thị trường, đánh giá rủi ro có thể gặp
phải Mục đích cuối cùng của phân tích cơ bản là xác định giá trị nội tại của mỗi cổ phiếu, sau
đó so sánh chúng với thị giá của chứng khoán đó
Nếu giá trị thực của chúng vượt quá thị giá của cổ phiếu thì nhà phân tích sẽ khuyên bạn nên
mua loại cổ phiếu đó và ngược lại
Tuy vậy, lý thuyết thị trường hiệu quả lại khẳng định phân tích cơ bản là khộng có giá trị Nếu
các nhà phân tích dựa trên những thông tin mà công chúng đầu tư có thể biết được, thì mọi cố
gắng phân tích của họ sẽ bị những nhà đầu tư khác làm mất tính cạnh tranh Trên thị trường có
rất nhiều nhà đầuu tư và giả định là tất cả các nhà đầu tư đều có chung các thông tin có thể tìm
kiếm được trên thị trường Nếu thị trường là hiệu quả, mọi thông tin này đều đã được phản ánh
trong giá Chỉ có các nhà đầu tư xuất sắc nhất mới có thể thành công trong cuộc cạnh tranh này
b Ứng dụng vào quản lý danh mục đầu tư
Cạnh tranh trên thị trường là vô cùng khốc liệt Các phương pháp phân tích sử dụng rộng rãi
trong các nhà đầuu tư làm cho những thông tin nhận được nhanh chóng phản ánh vào giá của
chứng khoán Chỉ trong trường hợp đặc biệt, tốn kém về thời gian và các phương tiên kỹ thuật
đắt tiền, mới tìm ra được luồng thông tin khác biệt nhằm sử dụng để tạo ra lợi nhuận
Những kỹ thuật phân tích tốn kém chỉ phù hợp với các nhà quản lý của những danh mục đầu tư
lớn Vậy câu hỏi đặt ra là các nhà đầuu tư nhỏ sẽ lựa chọn giải pháp nào? Liệu các nhà đầu tư lớn
có thể thu được kết quả như mong muốn sau khi đã chi phí rất lớn cho công việc này?
Học thuyết về thị trường hiệu quả cho rằng giá cả của cổ phiếu luôn chính xác với những thông
tin có thể kiếm được Vì vậy mọi sự cố gắng trong việc bán và mua chứng khoán thường xuyên
chỉ làm tăng giá trị của chứng khoán đó
Do vậy học thuyết về thị trường hiệu quả cho rằng quản lý danh mục đầuu tư chủ động chỉ là sự
lãng phí về mặt thời gian và tiền bạc Học thuyết này ủng hộ chiến lược đầu tư mang tính chất
thụ động Mục tiêu duy nhất của chiến lược thụ động là tạo lập một danh mục đầu tư được đa
Trang 5dạng hoaq Điều này hoàn toán trái ngược với chiến lược quàn lý chủ động là luôn tím kiếm
những chứng khoán được định giá thấp hơn hay cao hơn giá trị thực để từ đó thực hiện mua vào
hay bán ra loại chứng khoán đó
Một trong những chiến lược rất phổ biến của chính sách quản lý danh mục đầu tư thụ động là tạo
ra danh mục đầu tư lặp lại theo một chỉ số nào đó Đây chính là một danh mục được thiết kế
đúng như phiên bản của chỉ số xây dựng dựa trên việc mua các loại chứng khoán có trong chỉ số
đó
2 Đối với nhà quản lý
Với những hàm ý mà lý thuyết thị trường hiệu quả đã chỉ ra, để đảm bảo thị trường là hiệu quả,
với mục đích tạo ra sự công bằng cho nhà đầu tư, từ đó tạo ra sự phát triển cho thị trường các nhà
quản lý cần:
Tạo ra cơ chế tích tụ phân phối có hiệu quả Để có cơ chế tích tụ phân phối có hiệu quả
Thứ nhất, cơ chế xác lập giá cần liên tục theo đúng bước đi ngẫu nhiên của thông tin Muốn vậy,
cần phải khớp kênh liên tục để sự biến đổi về giá theo kịp sự biến đổi về thông tin trên thị
trường Đồng thời sự thay đổi, cập nhật về thông tin phản ánh liên tục vào giá Mặt khác cần phải
tạo ra một thể chế, một khung pháp lý bắt buộc tất cả các công ty niêm yết phải công khai hóa
minh bạch thông tin Đây là một trong những điều kiện để đạt được sự hoàn hảo của thị trường
Thứ hai, về cơ chế thâu tóm, sát nhập: cần phải hiểu sự thâu tóm, sáp nhập không phải là bất hợp
pháp mà đó là sự tích tu tập trung vốn Những công ty làm ăn tốt, quy mô lớn thâu tóm các công
ty nhỏ, làm ăn không tốt Chỉ có như vậy mới đạt được sự phân phối và sử dụng vốn có hiệu quả
nhất
Cung cấp thông tin miễn phí và đầy đủ tới nhà đầu tư Đây là điều kiện để tất cả nhà đầuu tư
đều có thể có mọi thông tin sẵn sàng Về yếu tố này, bên cạnh trách nhiệm nhà quản ly1thi5
trường còn cần có sự tham gia của các trung gian tài chính, các tổ chức kiểm toán
Đồng thời với việc cung cấp thông tin miễn phí và đầy đủ tới các nhà đầu tư, cần đào tạo nâng
cao trình độ của các nhà đầu tư để khả năng phân tích thông tin nhân được của các nhà đầu tư là
như nhau, ít ra là cũng xấp xỉ nhau
Tạo ra thị trường hoàn hảo về mặt cạnh tranh: nâng cao số lượng nhà đầu tư bằng cách xóa
bỏ rào cản gia nhập thị trường có cơ chế ưu đãi về thuế thu nhập, tăng cường phổ biến, quảng bá
về thị trường, giảm tối thiểu sự can thiệp của nhà nước Và nhà nước chỉ nên đóng vai trò là
người điều hành giúp cho thị trường vận hành trơn tru ổn định Cần đặc biệt giảm thiểu sự can
thiệp về giá Nâng cao số lượng các trung gian tài chính Điều này giúp tạo sự cạnh tranh về phí
tạo ra nhiều nguồn về thông tin
3 Đối với các trung gian tài chính
Trang 6Các tổ chức trung gian như ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, các
quỹ đầu tư… sau khi biết được mức độ hiệu quả của thị trường sẽ có những quyết định phù hợp
nhằm tăng hiệu quả cho chính mình qua đó tăng hiệu quả cho thị trường
Nếu thị trường đạt mức hiệu quả cần thiết thì chính các nhà trung gian này cũng được hưởng lợi
rất nhiều từ việc thực hiện các nghiệp vụ của mình khi số tài khoản đầu tư đáng kể, giao dịch
nhiều, tính thanh khoản cao Do đó, việc chăm sóc khách hàng cũng như các biện pháp làm tăng
tính hiệu quả cho thị trường là việc làm cần thiết và liên tục
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI - CƠ SỞ LÝ LUẬN
Tài chính hành vi ra đời như một đối cực với các quy luật kinh tế thông thường trước đó Tài
chính hành vi là một lĩnh vực hẹp của tài chính với đích đến là tìm hiểu và giải thích hệ thống tài
chính chịu sự tác động của các quyết định mang tính tâm lý Tài chính hành vi sử dụng những
kiến thức cơ bản của tâm lý học nhận thức, khoa học xã hội cũng như nhân chủng học để lý giải
hành vi của những nhà đầu tư bất hợp lý tại sao không tuân theo các mô hình tài chính cơ bản
Các mô hình tài chính truyền thống cho rằng nhà đầu tư đều hành động hợp lý và cân nhắc tất cả
các thông tin có sẵn trên thị trường khi ra quyết định vì vậy thị trường có hiệu quả và giá chứng
khoán phản ánh chính xác gái trị nội tại của tài sản Các nhà đầu tư luôn hành động kịp thời
trước các thông tin mới và cập nhật giá cả một cách chính xác Khi có chênh lệch giá xuất hiện,
các nhà đầu tư hợp lý sẽ hành động và đưa thị trường trở về cân bằng ở đúng giá thực Do đó, giá
cả luôn phản ánh tất cả các thông tin sẵn có và không thể tồn tại chiến lược đầu tư nào có thể
kiếm được khoản lợi nhuận vượt trội
Ba học thuyết định lượng nền tảng giúp xác định được hiệu quả đầu tư là Lý thuyết danh mục
đầu tư hiện đại (Morden Porfolio Theory- Markowitz, 1952), Mô hình định giá tài sản vốn-
CAPM (Capital Asset Pricing Model- Sharpe, 1964) và Lý thuyết chênh lệch giá (Arbitrage
Pricing Theory- Ross, 1972) Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu cho thấy sự vận dụng không chính
xác của các học thuyết này thông qua dữ liệu đầu tư có sẵn trên thị trường
Các mô hình tài chính hành vi xuất hiện nhằm giải quyết những vấn đề khó khăn mà các mô hình
truyền thống không thể giải quyết được Về bản chất, tài chính hành vi lập luận rằng sự chọn lựa
đầu tư không phải luôn luôn hợp lý bởi luôn có một giới hạn chênh lệch cho phép nhà đầu tư thu
lợi đồng thời tác động lên giá cả - hay tỷ giá Tài chính hành vi dựa trên các bằng chứng thực tế
về tâm lý học nhận thức và các thành kiến phát sinh do con người chịu tác động của niềm tin, sự
ưa thích và cách thức mà họ đã ra quyết định trước đó mang lại
Hạn chế về chênh lệch giá và tâm lý học là hai nền tảng cơ bản cấu thành nên Tài chính hành vi
Các nhà lý thuyết tài chính truyền thống cho rằng bất kỳ một loại tài sản tài chính nào được định
giá sai bởi các nhà đầu tư không hợp lý sẽ tạo cơ họi cho các nhà đầu tư hợp lý tận dụng một
cách nhanh chóng và do đó kinh doanh chênh lệch sẽ mất đi Trong khi đó, những nhà tài chính
hành vi lại cho rằng chiến lược để sửa chữa những sai sót của thị trường - định giá sai có thể gây
Trang 7ra cả chi phí và rủi ro, do đó các nhà đầu tư sẽ không tha thiết để cố đưa thị trường về hợp lý và
làm cho việc định giá sai tiếp diễn
Lý thuyết tài chính hành vi nhìn chung không phải là một trường phái tài chính chính thống Lý
thuyết này còn ở dạng sơ khai, còn tồn tại nhiều vấn đề gây tranh cãi bởi chưa có những cơ sở và
nguyên lý vững chắc như lý thuyết chính thống hiện đại như rủi ro - tỷ suất sinh lợi, thị trường
hiệu quả, kinh doanh chệnh lệch giá và là một sự bổ sung hơn là tách biệt khỏi lý thuyết tài chính
chính thống Ứng dụng của tài chính hành vi không chỉ dừng lại trong việc giải thích các hành vi
không hợp lý của nhà đầu tư, mà đi xa hơn, nó có thể điều chỉnh các mô hình định giá (bao gồm
định giá chứng khoán, sản phẩm phái sinh…) cho đến ứng dụng trong lý thuyết quản trị Công ty
hay cấu trúc vốn trong tài chính doanh nghiệp, lẫn giải thích tính tương tác giữa các thị trường
khác nhau
2 Nội dung lý thuyết tài chính hành vi
Tài chính học hành vi là lĩnh vực tài chính sử dụng các lý thuyết cơ bản dựa trên tâm lý con
người để giải thích những bất thường trên thị trường tài chính Trong đó, lý thuyết tài chính hành
vi chỉ ra rằng cơ chế điều chỉnh thị trường về trạng thái cân bằng không phải lúc nào cũng có thể
xảy ra Có nghĩa là sẽ có trường hợp những nhà đầu tư “hợp lý” sẽ không thể chiến thắng những
nhà đầu tư “bất hợp lý” Lúc này thị trường sẽ không hiệu quả, hay tài sản tài chính được định
giá quá cao hoặc quá thấp
2.1 Ba điều kiện tồn tại lý thuyết tài chính hành vi:
Hành vi không hợp lý:
Nhà đầu tư sẽ có hành vi không hợp lý khi họ không phân tích và xử lý đúng những thông tin mà
họ có và thị trường cung cấp, từ đó dẫn đến những kỳ vọng “lệch lạc” về tương lai Ngoài ra,
trong một số trường hợp, dựa trên kinh nghiệm hay nhận thức sẵn có, họ cũng mắc phải những
“lệch lạc trong nhận thức” Những nghiên cứu về hành vi không hợp lý tiêu biểu trong thị trường
tài chính là kết hợp giữa tâm lý học, mà chủ yếu là trường phái tâm lý nhận thức với trường phái
tâm lý hành vi
Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống:
Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống có nghĩa là một nhóm nhiều nhà đầu tư cùng có một
hành vi không hợp lý như nhau thì việc định giá sai sẽ xuất hiện và có thể bắt đầu kéo dài và làm
ảnh hưởng đến giá các tài sản tài chính trên thị trường Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng tính
“bất hợp lý” trong hành vi là khá phổ biến đối với nhiều nhà đầu tư Do đó, nó tạo thành “hiệu
ứng bầy đàn”
Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính:
Có 2 dạng định giá:
Trang 8Dạng 1 là thường xuyên xảy ra và có thể kinh doanh chênh lệch giá được
Dạng 2 là không thường xảy ra, kéo dài và không thể kinh doanh chênh lệch giá được
Kinh doanh chênh lệch giá không thể xảy ra vì về lý thuyết có những tài sản có tính thay thế lẫn
nhau hoàn hảo và có thể kinh doanh chênh lệch giá 2 tài sản đó Hành động kinh doanh chênh
lệch giá chỉ có thể tồn tại trong ngắn hạn, vì khi xuất hiện hiện tượng chênh lệch giá thì nhiều
nhà đầu tư sẽ hành động giống nhau khiến giá biến động theo chiều hướng bất lợi Ngoài ra, chi
phí thực hiện các chiến lược hưởng chênh lệch giá và sự tồn tại của các giao dịch của những nhà
đầu tư không hợp lý cũng ngăn cản điều này
2.2 Một số lý thuyết tài chính hành vi:
Lý thuyết triển vọng: Nhà đầu tư có khuynh hướng xem khả năng bù đắp một khoản lỗ quan
trọng hơn khả năng kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Khi khoản đầu tư có khuynh hướng mang
lại lợi nhuận, họ thích nắm chắc ngay khoản lợi nhuận hiện tại hơn là cố gắng tiếp tục đầu tư để
thu được nhiều lợi nhuận hơn trong tương lai Nhưng ngược lại, khi khoản đầu tư có nguy cơ
thua lỗ thì họ lại cố gắng duy trì với hy vọng sẽ nhận được khoản lời trong tương lai, mặc dù lúc
này rủi ro thua lỗ nhiều hơn là rất lớn bởi họ cho rằng, cổ phiếu đang sụt giá sẽ tốt hơn cổ phiếu
đang lời của họ trong tương lai
Lý thuyết tiếc nuối: Con người luôn có khuynh hướng cảm thấy đau buồn sau khi phạm phải
một sai lầm trong phán đoán Nhà đầu tư luôn nghĩ rằng, những cổ phiếu bị lỗ sẽ nhanh chóng tốt
trở lại, họ sợ phải nuối tiếc khi bán lỗ cổ phiếu Vì thế, khi đối mặt với tình trạng thua lỗ, họ càng
kỳ vọng vào lợi nhuận trong tương lai và thể hiện sự liều lĩnh của mình Lý thuyết này lý giải
cho xu hướng “giữ cổ phiếu lỗ quá lâu”
Lý thuyết quá tự tin: Nhà đầu tư thường tự đánh giá cao bản thân hơn những gì người khác
đánh giá, và họ thường phóng đại những hiểu biết của mình Những nhà đầu tư quá tự tin đã
được chứng minh rằng, họ giao dịch nhiều hơn những nhà đầu tư khác bởi vì sự quá tự tin là lý
do khiến nhà đầu tư sẵn sàng về quan điểm của họ, không cần tham khảo thêm những quan điểm
thích đáng của những nhà đầu tư khác
Sự quá tự tin cũng làm tăng tính không đồng nhất trong niềm tin của nhà đầu tư Nhà đầu tư quá
tự tin cho rằng, hành động của họ ít rủi ro hơn các nhà đầu tư khác cảm nhận Những nhà đầu tư
quá tự tin nhiều khi hiểu sai giá trị thông tin họ nhận được, không những tính chính xác của
thông tin mà còn hiểu sai cả ý nghĩa của thông tin
Lý thuyết mâu thuẩn nhận thức: Lý thuyết này cho rằng, mâu thuẫn về nhận thức chỉ phát sinh
khi thua lỗ Bởi vì con người thường khó chấp nhận mình bị lỗ, còn khi lời thì họ thích nói nhiều
về điều đó hơn Họ không chấp nhận sai lầm mà thường tìm lý lẽ để biện hộ và níu kéo hy vọng
Do đó, khi nhà đầu tư thua lỗ, thay vì họ thừa nhận thì họ lại nghĩ “ việc đầu tư của tôi sẽ tốt trở
lại” Lý thuyết này giải thích nguyên nhân các nhà đầu tư càng lún sâu vào các khoản đầu tư lỗ,
thay vì thừa nhận và đầu tư vào những loại cổ phiếu mới
Lý thuyết tâm lý đám đông: Làm theo đám đông không chỉ giới hạn với những nhà đầu tư chưa
có kinh nghiệm mà việc làm theo đám đông xuất hiện trực tiếp đến những tình huống không chắc
chắn và mơ hồ Khi một tình huống ra quyết định trở nên không chắc chắn thì ảnh hưởng hành vi
và quan điểm của đám đông sẽ làm cho các cá nhân trở nên chắc chắn hơn
Trang 9Tâm lý đám đông luôn tồn tại trong quá trình ra quyết định của con người cũng như nhà đầu tư,
không phân biệt việc có kinh nghiệm hay không Và lý thuyết ảnh hưởng đám đông này càng
thấy rõ khi nhà đầu tư buộc phải đưa ra các quyết định nhanh chóng, chưa có đầy đủ thông tin
cần thiết
Để có những quyết định đầu tư hợp lý và đạt được nhiều lợi nhuận, nhà đầu tư nên hạn chế
những ảnh hưởng tâm lý trong các lý thuyết nêu trên, thay vào đó là sử dụng tổng hợp các công
cụ phân tích tài chính, tạo tiền đề vững chắc cho các quyết định
3 Ứng dụng của lý thuyết tài chính hành vi:
Một khi trong thị trường hội đủ 3 yếu tố: hành vi bất hợp lý của nhà đầu tư, hiệu ứng bất
hợp lý mang tính hệ thống, và giới hạn kinh doanh chênh lệch giá; Thì đó là lúc mà hiện tượng
giá tài sản tài chính bị định giá sai sẽ đáng kể và kéo dài
Khi đó các lý thuyết tài chính truyền thống bị giảm hiệu quả, và lý thuyết tài chính hành vi
là một bổ sung giá trị
Ứng dụng của tài chính hành vi không chỉ dừng lại trong việc giải thích các hành vi không
hợp lý của nhà đầu tư, mà đi xa hơn, nó có thể điều chỉnh các mô hình định giá các tài sản tài
chính bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, sản phẩm phái sinh, hàng hóa… cho đến ứng dụng trong lý
thuyết quản trị công ty hay cấu trúc vốn trong tài chính doanh nghiệp, lẫn giải thích tính tương
tác giữa các thị trường khác nhau
3.1/ Ứng dụng của tài chính hành vi trong quản trị doanh nghiệp:
Các nhà đầu tư thiếu lý trí có hệ thống tác động đến giá khiến cho cổ phần bị định giá sai
Những nhà quản lý có khả năng phát hiện ra sự định giá sai và họ hành động dựa trên việc định
giá sai này
a Thay đổi tên công ty:
Đây là chiến lược đáp ứng đơn giản với chi phí không đánh kể Những nhà quản lý trong
trường hợp này đóng vai trò như nhà tiếp thị với tên công ty là nhãn hiệu sản phẩm Bằng chứng
thực nghiệm cho thấy một số ngành nào đó tạo ra sự kích thích cảm xúc hấp dẫn hơn so với các
ngành khác, do đó khuyến khích đầu tư vào ngành này mà không phải ngành khác Các nhà quản
lý đặt tên công ty liên quan đến ngành được yêu thích để tạo ra các kích thích cảm xúc mà đôi
khi công ty không thực sự hoạt động trong ngành
Ví dụ: Vào cuối những năm 1990 rất nhiều các công ty đã đổi tên thành “dotcom” trong
cơn sốt Internet Michael Cooper, Orlin Dimitrov và Raghavenda Rau đã lấy mẫu 147 công ty
thay đổi tên theo xu hướng từ 6/1998 – T7/1998 Các doanh nghiệp này đã thấy cổ phần của họ
tăng giá ngoạn mục ngay cả khi hoạt động kinh doanh cơ bản của họ rất ít hoặc không liên quan
Trang 10gì đến Internet Các nhà nghiên cứu này thấy rằng tác động dotcom dẫn tới tỷ suất sinh lợi vượt
trội tích lũy trung bình là74% trong khoảng 10 ngày công bố.
Chẳng hạn Computer Literacy, Inc đã biện luận rằng việc công ty đổi tên thành
fatbrain.com là vì khách hàng gặp khó khăn trong việc ghi nhớ địa chỉ trang web Giá cổ phiếu
đã tăng 33% một ngày trước công bố khi mà tin tức rò rỉ trên các diễn đàn Internet.
Tuy nhiên, sau khi các công ty theo định hướng Internet bắt đầu nhận thấy sự sụt giảm giá
lớn, các công ty này cũng có lợi nhuận bằng việc loại bỏ các tác động tiêu cực liên quan đến tên
doanh nghiệp Giữa tháng 8/2000 và tháng 9/2001 các công ty bỏ tên dotcom của họ đã thấy
một hiệu ứng công bố dương vào khoảng 70%.
b Phát hành cổ phiếu và mua lại:
Khi những cổ phiếu được định giá cao, các cổ đông dài hạn hiện hành được hưởng lợi khi
ban quản lý phát hành cổ phần Phát hành cổ phần tương đương việc bán đi 1 phần công ty ở
mức giá cao Việc làm này có lợi cho các cổ đông hiện hữu bằng thiệt hại từ các cổ đông mới
Ngược lại, khi cổ phiếu được định giá thấp, cổ đông đang nắm giữ có lợi khi nhà quản lý mua lại
cổ phần
Như vậy, thời điểm được lựa chọn để phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) và
phát hành thêm (SEO) cũng được các nhà quản lý cân nhắc và lựa chọn để tận dụng việc định giá
sai
c Cổ tức:
Trong thế giới của thị trường hoàn hảo và hiệu quả thì việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp
không có tác động đến giá trị doanh nghiệp Ở đây chúng ta có thể ứng dụng bài học tự làm lấy
của thị trường hiệu quả Giả định rằng, một công ty hiện đang chi trả toàn bộ dòng tiền tự do của
nó dưới dạng cổ tức, nhưng bây giờ nó đang xem xét việc không chi trả cổ tức nữa Nếu một nhà
đầu tư nào đó thực sự mong đợi tỷ suất sinh lợi 10% trên dòng tiền mà hiện tại đang đến từ cổ
tức, nhà đầu tư có thể sử dụng một quá trình được biết đến như là “tự tạo cổ tức” (home-made
dividend) Tức là bán ra cổ phiếu thay cho nhận cổ tức bằng tiền mặt và sử dụng số tiền thu được
để trả cho mình một số tiềntương đương với cổ tức trước đó Ngược lại, nếu một nhà đầu tư nắm
giữ cổ phiếu đang chi trả cổ tức nhưng không đòi hỏi tiền mặt, họ có thể tái đầu tư cổ tức