Khả năng tái sinh tự nhiên của các loài cây gỗ trong ba kiểu thảm thực vật nghiên cứu .... Cấu trúc tổ thành, mật độ cây gỗ tái sinh của các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu .... Hệ s
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––
NÔNG THỊ HUẾ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC
VÀ TÁI SINH TỰ NHIÊN TRONG MỘT SỐ KIỂU THẢM THỰC VẬT Ở XÃ THẦN SA, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––
NÔNG THỊ HUẾ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC
VÀ TÁI SINH TỰ NHIÊN TRONG MỘT SỐ KIỂU THẢM THỰC VẬT Ở XÃ THẦN SA, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ NGỌC CÔNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nông Thị Huế
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến PGS TS Lê Ngọc Công
– người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu để tôi có thể hoàn thành được luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Sinh – KTNN, Phòng Đào tạo – Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Xin trân trọng cảm ơn Ban quản lý và cán bộ của các Trạm kiểm lâm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, Ủy ban nhân dân xã Thần Sa đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực địa và cung cấp các tài liệu cần thiết
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua
Do thời gian nghiên cứu còn ngắn cũng như trình độ bản thân của tôi còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những thiếu xót nhất định Rất mong nhận được những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, bạn bè và đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 5 năm 2015
Tác giả
Nông Thị Huế
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cẢm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm liên quan 3
1.1.1 Thảm thực vật 3
1.1.2 Khái niệm rừng 3
1.1.3 Tái sinh rừng 4
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên Thế giới và Việt Nam 5
1.2.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật 5
1.2.2 Những nghiên cứu về thành phần loài 8
1.2.3 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống 12
1.2.4 Những nghiên cứu về tái sinh rừng 15
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Nội dung nghiên cứu 21
2.2.1 Xác định các kiểu thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu 21
2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm chính của một số kiểu thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu 21
Trang 62.2.3 Đánh giá khả năng tái sinh tự nhiên của một số kiểu thảm tại khu vực
nghiên cứu 21
2.2.4 Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy tái sinh tự nhiên phục hồi thảm thực vật 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Phương pháp tuyến điều tra (TĐT) 21
2.3.2 Phương pháp ô tiêu chuẩn (OTC) 22
2.3.3 Phương pháp phân tích và thu thập số liệu 25
2.3.4 Phương pháp điều tra trong nhân dân 26
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 27
3.1 Điều kiện tự nhiên 27
3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới 27
3.1.2 Địa hình 29
3.1.3 Đặc điểm thổ nhưỡng 29
3.1.4 Khí hậu, thủy văn 30
3.1.5 Tài nguyên khoáng sản 31
3.1.6 Tài nguyên rừng 31
3.2 Điều kiện xã hội vùng nghiên cứu 32
3.2.1 Dân tộc, dân số 32
3.2.2 Hoạt động nông lâm nghiệp 32
3.2.3 Giao thông, thủy lợi 33
3.2.4 Văn hóa, giáo dục, y tế 33
3.2.5 Điện, nước sạch 34
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.1 Các kiểu thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu 36
4.2 Đặc điểm thành phần loài trong các kiểu thảm thực vật nghiên cứu 42
4.2.1 Thảm cỏ cao 47
4.2.2 Rừng thứ sinh 49
Trang 74.2.3 Thảm cây bụi 51
4.3 Đặc điểm về thành phần dạng sống 53
4.3.1 Thảm cỏ cao 55
4.3.2 Rừng thứ sinh 57
4.3.3 Thảm cây bụi 59
4.4 Khả năng tái sinh tự nhiên của các loài cây gỗ trong ba kiểu thảm thực vật nghiên cứu 61
4.4.1 Đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ cây gỗ tái sinh 62
4.4.2 Phân bố cây gỗ tái sinh theo các cấp chiều cao 65
4.4.3 Phân bố cây gỗ tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang 67
4.4.4 Nguồn gốc và chất lượng của cây gỗ tái sinh 68
4.4.5 Nhận xét về khả năng tái sinh của các loài cây gỗ trong các kiểu thảm nghiên cứu 71
4.5 Đề xuất các giải pháp thúc đẩy phục hồi các kiểu thảm thực vật nghiên cứu 71
4.5.1 Đối với Thảm cỏ cao 72
4.5.2 Đối với Rừng thứ sinh 72
5.4.3 Đối với thảm cây bụi 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 80
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Kí hiệu độ nhiều (độ dày rậm) thảm tươi theo Drude 23
Bảng 4.1 Số lượng và tỷ lệ (%) các họ, chi, loài trong các ngành thực vật ở khu vực nghiên cứu 42
Bảng 4.2 Tỷ lệ (%) các họ, chi, loài trong các kiểu thảm thực vật 44
Bảng 4.3 Sự biến động về số loài trong các họ thực vật ở khu vực nghiên cứu 45
Bảng 4.4 Sự biến động về số chi trong các họ thực vật ở khu vực nghiên cứu 46
Bảng 4.5 Số loài trong các họ giàu loài nhất (từ 4 loài trở lên) trong các kiểu thực vật nghiên cứu 46
Bảng 4.6 Một số chỉ tiêu về cấu trúc hệ thống của các kiểu thảm thực vật 47
Bảng 4.7 Sự phân bố số loài trong các họ thực vật ở Thảm cỏ cao 48
Bảng 4.8 Sự phân bố số chi trong các họ thực vật ở Thảm cỏ cao 49
Bảng 4.9 Sự phân bố số loài trong các họ thực vật ở Rừng thứ sinh 50
Bảng 4.10 Sự phân bố số chi trong các họ thực vật ở Rừng thứ sinh 50
Bảng 4.11 Sự phân bố loài trong các họ thực vật của Thảm cây bụi 51
Bảng 4.12 Sự phân bố chi trong các họ thực vật của Thảm cây bụi 52
Bảng 4.13 Sự phân bố các nhóm dạng sống thực vật trong các kiểu thảm thực vật nghiên cứu 53
Bảng 4.14 Thành phần dạng sống trong từng kiểu thảm thực vật 54
Bảng 4.15 Cấu trúc tổ thành, mật độ cây gỗ tái sinh của các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu 63
Bảng 4.16 Mật độ cây gỗ tái sinh theo các cấp chiều cao của các kiểu thảm thực vật 65
Bảng 4.17 Nguồn gốc và chất lượng cây gỗ tái sinh trong các kiểu thảm thực vật 69
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí ODB trong OTC ở Thảm cây bụi (a) và Rừng thứ sinh (b) 23Hình 4.1 Phân bố của các họ, chi, loài trong các ngành thực vật ở KVNC 43Hình 4.2 Tỷ lệ (%) số họ, chi, loài trong các kiểu thảm thực vật 44Hình 4.3 Tỷ lệ (%) các nhóm dạng sống thực vật trong các trạng thái thảm
thực vật nghiên cứu 54Hình 4.4 Tỷ lệ (%) các nhóm dạng sống của các kiểu thảm thực vật
nghiên cứu 55Hình 4.5 Sự biến động mật độ cây gỗ tái sinh qua các cấp chiều cao trong
các kiểu thảm thực vật nghiên cứu 66Hình 4.6 Nguồn gốc của cây gỗ tái sinh trong các kiểu thảm thực vật 69Hình 4.7 Chất lượng cây gỗ tái sinh trong các kiểu thảm thực vật 70
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Rừng có ý nghĩa đặc biệt lớn, không chỉ cung cấp của cải cho nền kinh tế của đất nước mà còn có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ, cải thiện môi trường và cân bằng sinh thái Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng
Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một một yêu cầu, nhiệm vụ không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Đó là một thách thức vô cùng to lớn đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức thuộc các cấp trong một quốc gia và trên thế giới nhận thức được vai trò và nhiệm vụ của mình trong công tác phục hồi và phát triển rừng Rừng
là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường Rừng là hơi thở của sự sống, là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nó giữ một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển và sinh tồn của loài người Rừng điều hòa khí hậu (tạo ra oxy, điều hòa nước, ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất…) bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sống Rừng còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển kinh tế như: cung cấp nguồn gỗ, tre, nứa, đặc sản rừng, các loại động, thực vật có giá trị trong nước và xuất khẩu, ngoài ra nó còn mang ý nghĩa quan trọng về cảnh quan thiên nhiên và an ninh quốc phòng Vì vậy tỷ lệ đất có rừng che phủ của một quốc gia là một chỉ tiêu an ninh môi trường quan trọng (diện tích đất có rừng đảm bảo an toàn môi trường của một quốc gia tối ưu là 45% tổng diện tích) Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, nước ta
là một trong 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới Với sự
đa dạng về chủng loại, phong phú về thành phần động - thực vật rừng đã cung cấp lâm sản, thuốc chữa bệnh cho con người
Trang 12Đất nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập với quốc tế, quá trình đô thị hóa diễn ra một cách nhanh chóng, một diện tích đất rừng không nhỏ đã được sử dụng để xây dựng các công trình nhà cửa, xí nghiệp, đường xá, khu vui chơi… Bên cạnh đó nạn phá rừng làm rẫy, khai thác gỗ củi và các nguồn tài nguyên khác vẫn thường xuyên xảy ra, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, nhiều loài sinh vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng, lâm tặc ngày càng lộng hành tàn phá thiên nhiên… Nếu không có các biện pháp ngăn chặn kịp thời thì trong những năm tới, nguồn tài nguyên rừng sẽ bị cạn kiệt hoàn toàn
Xã Thần Sa nằm trong khu vực bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng Nơi đây chủ yếu là rừng tự nhiên nên tính đa dạng thực vật rất cao
Tuy nhiên, nhiều năm nay tình trạng khai thác gỗ, củi và các nguồn lợi lâm thổ sản khác vẫn diễn ra trong khu bảo tồn Do đó tính đa dạng sinh học nói chung và tài nguyên rừng nói riêng đang bị giảm sút nghiêm trọng, cần phải nghiên cứu để đề xuất các biện pháp phục hồi, phát triển nguồn tài nguyên
trong khu bảo tồn Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm cấu
trúc và tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật ở xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Thảm thực vật
Thảm thực vật (vegetation) là khái niệm rất quen thuộc, có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau Theo Schmithusen J (1959) thì thảm thực vật là lớp thực bì của trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó Thái Văn Trừng (1978) [47] cho rằng thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh Trần Đình Lý (1998) [30] cho rằng thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trên toàn bộ bề mặt trái đất Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể nào, nó chỉ
có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định ngữ kèm theo như: thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn…
Thảm thực vật thứ sinh là các trạng thái thảm thực vật xuất hiện sau khi thảm thực vật nguyên sinh bị tác động làm thay đổi hoặc bị phá hoại Thảm thực vật thứ sinh thường gồm các trạng thái: thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng tái sinh tự nhiên ở các giai đoạn khác nhau (rừng non, rừng trưởng thành, rừng già…) Nếu so sánh sẽ nhận thấy thảm thực vật thứ sinh khác biệt so với thảm thực vật nguyên sinh ở thành phần thực vật, cấu trúc tầng tán, năng lực phát triển, sinh khối, hoàn cảnh rừng và nhiều yếu tố khác
1.1.2 Khái niệm rừng
Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây gỗ rừng là thành phần chủ yếu Quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác
Ngay từ thuở sơ khai, con người đã có những khái niệm cơ bản nhất về rừng Rừng là nơi cung cấp mọi thứ phục vụ cuộc sống của họ Lịch sử càng
Trang 14phát triển, những khái niệm về rừng được tích lũy, hoàn thiện thành những học thuyết về rừng
Quần lạc sinh địa rừng là một khoảng đất bất kỳ có sự đồng nhất về thành phần, cấu trúc và đặc điểm các thành phần tạo nên nó và mối quan hệ giữa chúng với nhau, có nghĩa là đồng nhất về thực vật che phủ, về thế giới động vật và vi sinh vật cư trú tại đó, về các điều kiện tiểu khí hậu, thủy văn, về đất đai, về các kiểu trao đổi chất và năng lượng với các thành phần của nó với các hiện tượng tự nhiên khác (Sucasep V.N 1964)
Hệ sinh thái rừng (Forest ecosystem): là một hệ sinh thái mà thành phần nghiên cứu chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, hệ động vật và vi sinh vật rừng) và môi trường vật lý của chúng (khí hậu và đất) Nội dung nghiên cứu hệ sinh thái rừng bao gồm cả cá thể, quần thể, quần xã và
hệ sinh thái, về mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cây rừng và giữa chúng với các sinh vật khác trong quần xã, cũng như mối quan hệ lẫn nhau giữa những sinh vật này với hoàn cảnh xung quanh tại nơi mọc của chúng [52]
1.1.3 Tái sinh rừng
Tái sinh rừng là quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện ở sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ dưới tán rừng Tái sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ
Theo nghĩa rộng, tái sinh rừng là sự tái tạo một hệ sinh thái rừng mới bảo đảm cho rừng tồn tại và phát triển Có 3 mức độ tái sinh:
- Tái sinh tự nhiên: nguồn hạt (nguồn giống) hoàn toàn tự nhiên Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [23], tái sinh được coi là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở nơi còn hoàn cảnh rừng Theo ông, vai trò lịch sử của thế hệ cây con là thay thế thế hệ cây gỗ già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ
Trang 15bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Ông cũng khẳng định, tái sinh rừng có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng
- Tái sinh nhân tạo: nguồn giống do con người tạo ra bằng cách gieo giống trực tiếp
-Tái sinh bán nhân tạo: nguồn giống được con người tạo ra bằng cách trồng bổ sung các cây giống, sau đó chính cây giống sẽ là tạo ra nguồn hạt cho quá trình tái sinh
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật
1.2.1.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới
Trên thế giới, những công trình nghiên cứu về thảm thực vật đã được công bố nhiều, trong đó tiêu biểu là các tác giả sau đây:
Champion H.G (1936) [50] khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao
Maurand (1943) [51] nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó
Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của các hệ thống phân loại thảm thực vật nói trên là không thấy rõ mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố sinh thái với thảm thực vật, hoặc là không làm nổi bật mối quan hệ qua lại giữa các nhân tố sinh thái với nhau
1.2.1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam
Rừng là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, vì vậy sử dụng rừng hợp
lý là rất cần thiết để bảo tồn nguồn tài nguyên này Trong kinh doanh rừng, nghiên cứu về rừng thì phân loại rừng là hướng đi hiệu quả Công tác phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam thực sự mới được tiến hành khi người Pháp tiến hành khai thác thuộc địa
Trang 16Bảng phân loại đầu tiên của ngành lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng Việt Nam là bảng phân loại của Cục Điều tra và Quy hoạch rừng thuộc Tổng cục lâm nghiệp Việt Nam (1960), rừng trên lãnh thổ Việt Nam được chia thành 4 loại hình lớn
Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng
Loại II: gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa
Loại III: gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở lên nên nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo
Loại IV: gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa
Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat,1975), Thái Văn Trừng [47] đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù hợp nhất trên quan điểm sinh thái cho đến nay Gồm 16 kiểu rừng sau:
1 Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: Phân bố ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng
2 Kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới: Phân bố ở Ba Chẽ (Quảng Ninh), An Châu, Biển Động (Bắc Giang), Bến Chuông (Thanh Hóa), Quỳ Châu (Nghệ An)
3 Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới: Phân bố ở Nghệ An, Bắc Giang, Đắc Lắc, Đồng Nai
Trang 174 Kiểu rừng kín hơi khô nhiệt đới
5 Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới
6 Kiểu rừng cây lá kim hơi khô nhiệt đới
7 Kiểu trảng cây to, cây bụi cỏ cao, khô nhiệt đới
8 Chuông bụi gai hạn nhiệt đới
9 Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
10 Rừng kín hỗn hợp cây lá rộng lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp
11 Kiểu rừng kín cây lá kim ẩm ôn đới núi cao
12 Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp
13 Kiểu quần hệ khô vùng cao
14 Kiểu quần hệ lạnh vùng cao
Phan Kế Lộc (1985) [27] dựa trên bảng phân loại của UNESCO (1973), cũng đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau Nguyễn Nghĩa Thìn (1994-1996) cũng đã áp dụng cách phân loại này trong những nghiên cứu của ông
Vũ Tự Lập và cộng sự (1995) [24] cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm Dựa vào mối quan hệ giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá, kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh, kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá, kiểu rừng khô nhiệt đới gió mùa khô rụng lá, kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá kim, kiểu sa van nhiệt đới khô, kiểu truông nhiệt đới khô, kiểu rùng nhiệt đới trên đất đá vôi, kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn, kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn, kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh, kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm hốn giao, kiểu rừng thưa á nhiệt đới hơi ẩm lá kín, kiểu rừng rậm á nhiệt đới mưa mùa, kiểu rừng lùn đỉnh cao
Dựa trên nguyên tắc phân loại UNESCO (1973) [54], Nguyễn Thế Hưng (2003) [22] đã xây dựng được 8 trạng thái thảm thực vật khác nhau đặc trưng cho loại hình thảm cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh)
Trang 18Lê Ngọc Công (2004) [14] cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973) [54] đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ: rừng rậm, rừng thưa, trảng cây bụi và trảng cỏ Ở đây, những trạng thái thứ sinh (được hình thành do tác động của con người như: khai thác gỗ, củi, chặt đốt rừng làm nương rẫy…) bao gồm: trảng cỏ, trảng cây bụi và rừng thưa
Ngô Tiến Dũng (2004) [16] đã phân chia thảm thực vật Vườn Quốc gia Yok Don thành: kiểu rừng kín thường xanh; kiểu rừng thưa nửa rụng lá và kiểu rùng thưa cây lá rộng rụng lá gồm 6 quần xã khác nhau dựa theo phương pháp phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) [54]
1.2.2 Những nghiên cứu về thành phần loài
1.2.2.1 Những nghiên cứu về thành phần loài trên Thế giới
Nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nội dung được tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva (1978)… Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật
Ramakrishman (1981-1992) nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy tại vùng Tây Bắc Ấn Độ đã khẳng định: chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hóa
Long Chun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đã nhận xét: khi nương rẫy bỏ hóa 13 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hóa 16 năm thì có 60 họ,134 chi và 167 loài (Dẫn theo Lê Thị Xuân Thu, 2007 [42])
Từ những dẫn liệu trên ta thấy những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên thế giới đều tập trung nghiên cứu và đánh giá thành phần loài ở
Trang 19một vùng và khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan với điều kiện khí hậu và địa hình Tuy vậy, các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn, rộng rãi hơn nhằm mục đích
có thể đánh giá chính xác thành phần loài thực vật đặc trưng của một khu vực hoặc một quốc gia
1.2.2.2 Những nghiên cứu về thành phần loài ở Việt Nam
Phan Kế Lộc (1978) [26] đã xác định hệ thực vật miền Bắc Việt Nam có 5.609 loài thuộc 1.160 chi và 240 họ
Phan Kế Lộc (1998) [27] điều tra phát hiện 20 loài cây có tanin thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae) và giới thiệu có 4 loài khác ở Việt Nam có tannin
Hoàng Chung (1980) [9] khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ
Trong công trình tổng kết các kết quả nghiên cứu đồng cỏ Bắc Việt Nam, Dương Hữu Thời (1981) [41] đã công bố thành phần loài thuộc 5 vùng Bắc Việt Nam gồm 213 loài
Nguyễn Tiến Bân (1983) [4] khi nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên
đã thống kê được 3.210 loài, chiếm gần 1/2 tổng số loài đã biết của toàn Đông Dương
Phạm Hoàng Hộ (2003) [18] trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê số loài hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài
Phan Nguyên Hồng (1991) [19] lập danh mục cùng với một số chỉ tiêu khác (dạng sống, môi trường, khu phân bố) của 75 loài thuộc 2 nhóm loài cây ngập mặn điển hình và cây gia nhập vào rừng ngập mặn
Lê Mộng Chân (1994) [7] điều tra tổ thành vùng núi cao Vườn Quốc gia
Ba Vì đã phát hiện được 483 loài thuộc 32 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch, trong đó gặp 7 loài được mô tả lần đầu tiên
Đỗ Tất Lợi (1995) [28] khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798 loài thuộc 164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta
Trang 20Trần Đình Đại (2001) [17] căn cứ vào kết quả điều tra thực địa, mẫu vật lưu giữ tại các phòng tiêu bản đã thống kê danh lục các loài thực vật tại vùng Tây Bắc bộ (Lai Châu, Lào Cai, Sơn La) gồm 226 họ, 1.050 chi và 3.074 loài thuộc 6 ngành thực vật bậc cao có mạch
Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1994) [12] nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của savan bụi vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được
123 loài thuộc 47 họ khác nhau
Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) [21] khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, sinh vật học của savan Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã phát hiện 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) [38] đã thống kê thành phần loài của Vườn Quốc gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 loài cây có ích thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Năm 1998, khi nghiên cứu về họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số 425 loài của họ Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng
Lê Ngọc Công (1998) [13] khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trường của một số mô hình rừng trồng ở một số tỉnh miền núi phía bắc đã công bố thành phần loài gồm 211 loài thuộc 64 họ
Thái Văn Trừng (1998) [48] khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã
có nhận xét về tổ thành loài thực vật của tầng cây bụi như sau: trong các trạng thái thảm khác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của tầng cây
bụi chủ yếu có sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta (họ
Cà phê – Rubiaceae); chi Tabermontana (họ Trúc đào – Apocynaceae); chi
Ardisia, Maesa (họ Đơn nem – Myrsinaceae)
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) [38] khi tổng kết các công trình nghiên cứu
về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 1.373 loài thực vật bậc cao thuộc 2.524 chi, 378 họ
Trang 21Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (1996) [15] nghiên cứu của sự biến động thành phần loài thực vật sau nương rẫy ở huyện Con Cuông, Nghệ An nhận xét rằng: do ảnh hưởng của canh tác nương rẫy nên thành phần loài và
số lượng cây gỗ trên một đơn vị diện tích có xu hướng giảm dần, đơn giảm hóa để tái ổn định
Lê Đồng Tấn (2000) [35] khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy ở Sơn La đã kết luận: mật độ cây giảm khi độ dốc tăng, mật độ cây giảm từ chân lên đỉnh đồi, mức độ thoái đất ảnh hưởng đến mật độ,
số lượng loài cây và tổ thành loài cây Kết quả cho thấy ở tuổi 4 có 41 loài; tuổi
10 có 56 loài; tuổi 14 có 53 loài
Đặng Kim Vui (2002) [49] nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận: giai đoạn phục hồi 1-2 tuổi, thành phần loài thực vật là 72 loài thuộc 36 họ, trong đó có họ Hòa thảo có số lượng lớn nhất là 10 loài, tiếp đến là họ Thàu Dầu (6 loài)…; giai đoạn 3-5 tuổi
có 65 loài thuộc 34 họ; giai đoạn 5-10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ; giai đoạn
11-15 tuổi có 57 loài thuộc 31 họ
Nguyễn Thế Hưng (2003) [22] đã thống kê trong các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) có 324 loài thuộc 251 chi và 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch
Phạm Ngọc Thường (2003) [45] khi nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên sau nương rẫy ở Bắc Kạn đã kết luận: quá trình phục hồi sau nương rẫy đã chịu tác động tổng hợp của các nhóm nhân tố sinh thái như nguồn giống, địa hình, thoái hóa đất, con người Mật độ cây giảm dần theo thời gian phục hồi của thảm thực vật cây gỗ, trên đất tốt nhiều nhất 11 – 25 loài, trên đất xấu 8 – 12 loài
Lê Ngọc Công (2004) [14] nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ,
Trang 22468 chi, 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến…
Vũ Thị Liên (2005) [25] khi nghiên cứu một số thảm thực vật ở Sơn La
đã thu được 452 loài thuộc 326 chi, 153 họ
Thái Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005) [43] nghiên cứu về thảm thực vật Vườn Quốc gia Ba Vì đã xác định ở đây có 11 kiểu quần xã thực vật khác nhau Trong quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh, lá rộng thành phần chủ yếu là cây gỗ dạng bụi cao từ 2 – 5m
1.2.3 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống
1.2.3.1 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống trên Thế giới
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái cấu trúc cơ thể thực vật thích nghi với điều kiện môi trường của nó, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu từ rất sớm
Patsoxki I K (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm Vưsôxki G N (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớp cây nhiều năm và lớp cây hàng năm (Dẫn theo Nguyễn Thị Ngọc, 2000 [31])
Braun – Blanquet (1951) đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính liên tục hay đơn độc của loài đã chia thành 5 thang: mọc lẻ, mọc thành vạt, mọc thành dải nhỏ, mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn (Dẫn theo Giáp Thị Hồng Anh, 2007 [1])
Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là
hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer (1934) để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu và một trong các dạng sống đó Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm Từ tổ hợp các dấu hiệu thích
Trang 23nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm
Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản:
1 Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất
2 Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất
3 Hemicryptophytes (He): nhóm cây có chồi nửa ẩn
4 Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn
5 Therophytes (Th): nhóm cây sống 1 năm
Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhau trên trái đất (SB):
SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr = 13Th
Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học, dễ áp dụng Phân chia dạng sống của Raunkiaer dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dạng trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên Thuộc về những đặc điểm này có hình dạng ngoài của thực vật, đặc điểm qua đông, sinh sản… Vì lẽ đó, trong nghiên cứu của mình, tôi cũng chọn lựa cách phân chia dạng sống này của Raunkiaer (1934)
Bảng phân loại dạng sống cây thuộc thảo đã được lập ra lần đầu tiên bởi Canon (1911), sau đó hàng loại bảng đã được đưa ra Với cây thảo, đặc điểm phần dưới đất đóng vai trò rất quan trọng trong phân chia dạng sống, nó biểu thị mức độ khắc nghiệt khác nhau của môi trường sống, là phần sống lâu năm của cây Vì thế, việc sử dụng phần dưới đất để làm tiêu chuẩn phân chia dạng sống sẽ giúp cho chúng ta đánh giá đúng hơn kiểu thảm, những đặc điểm đặc trưng của môi trường
1.2.3.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống ở Việt Nam
Ở Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về dạng sống như: Hoàng Chung (1980) [9] thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ
Trang 24sa van, thảo nguyên Cụ thể là: kiểu cây gỗ, kiểu cây bụi, kiểu cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi, kiểu thực vật có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống lâu năm…
Thái Văn Trừng (1978) [47] cũng áp dụng nguyên tắc của Raunkiaer khi phân chia dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam
Lê Trần Chấn (1990) [8] khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hòa Bình cũng phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương pháp của Raunkiaer Tuy nhiên tác giả đã dùng thêm ký hiệu để chi tiết hóa một số dạng sống (a: ký sinh; b: bì sinh; c: dây leo; d: cây chồi trên thân thảo) Tác giả không xếp phương thức sống ký sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản mà chỉ coi đây là những dạng phụ
Phan Nguyên Hồng (1991) [19] khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B), ký sinh (K), bì sinh (B)
Áp dụng theo nguyên tắc của Raunkiaer, Nguyễn Bá Thụ, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) (Dẫn theo Giáp Thị Hồng Anh, 2007 [1]) đã xây dựng phổ dạng sống của Vườn quốc gia Cúc Phương là:
SB = 57,8Ph + 10,5Ch + 12,4He + 8,3Cr + 10,0Th
Phạm Hồng Ban (2000) [2] nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái sau nương rẫy vùng Tây Nam Nghệ An, áp dụng khung phân loại của Raunkiaer để phân chia dạng sống, phổ dạng sống là:
SB = 67,40 Ph + 7,33Ch + 12,62He + 8,53Cr + 4,09Th
Đặng Kim Vui (2002) [49] nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã phân chia dạng sống thực vật dựa vào hình thái cây: cây gỗ, cây bụi, cây leo và cây cỏ, đồng thời ông đã xác định được có 17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi, cây bụi thân bò, cây bụi nhỏ, cây bụi nhỏ thân bò, cây nửa bụi)
Trang 25Nguyễn Thế Hưng (2003) [22] khi nghiên cứu dạng sống thực vật trong các trạng thái thảm thực vật tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã kết luận: nhóm cây chồi trên mặt đất có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật; nhóm cây chồi sát đất có 26 loài chiếm 8,02%; nhóm cây chồi nửa ẩn có 43 loài chiếm 13,27%; nhóm cây chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây 1 năm có
Ngô Tiến Dũng (2004) [16] nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở vườn quốc gia Yok Don đã lập được phổ dạng sống thực vật Yok Don là:
SB = 71,73Ph + 1,41Ch + 7,77He + 4,59Cr + 6,00Th
Vũ Thị Liên (2005) [25] phân chia dạng sống thực vật trong thảm thực vật sau nương rẫy ở Sơn La theo thang phân loại của Raunkiaer, kết quả phổ dạng sống như sau:
SB = 69,69Ph + 3,76Ch + 9,29He + 10,84Cr + 6,42Th
1.2.4 Những nghiên cứu về tái sinh rừng
1.2.4.1 Những nghiên cứu về tái sinh rừng trên Thế giới
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò lịch sử của lớp cây con này là thay thế thế hệ già cỗi Vì vậy theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng được hiểu là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ
Tái sinh rừng trên Thế giới đã được các nhà khoa học nghiên cứu từ lâu, nhưng rừng nhiệt đới chỉ được nghiên cứu vào khoảng những năm 30 của thế
kỷ 20 trở lại đây
Trang 26Khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Châu Phi, Aubreville (1938) đã đưa ra bức khảm tái sinh (còn gọi là lí luận tuần hoàn tái sinh) (dẫn theo Phùng Ngọc Lan, 1986 [23])
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927), với diện tích ô đo đếm thông thường từ 1 – 4m2 Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi trong điều tra nhưng số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng
Nghiên cứu về phân bố cây tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới, đáng chú ý
là công trình của Richards P W (1952) [53] đã nhận xét ở rừng nhiệt đới sự phân bố số lượng cá thể của các loài cây trong các lớp cây bụi là rất khác nhau Phần lớn các loài cây ưu thế ở tầng trên trong rừng nguyên sinh thường có rất ít thậm chí vắng mặt ở những tầng thấp hay cấp thể tích nhỏ Ngược lại ở những
rừng đơn ưu như rừng Mora gonggijpii ở Guana, rừng Mora exelsa ở Guana và
Trinidat…lại có đầy đủ các lớp kích thước Theo tác giả thì sự phân bố này là
do đặc tính di truyền của các loài cây được thể hiện ở khả năng sinh sản và tập tính của chúng trong các giai đoạn phát triển Ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập được Taylor (1954), Barnard (1955), đã xác định ở rừng nhiệt đới ẩm Châu Phi có số lượng cây là thiếu hụt Ngược lại Bava (1954), Budowski (1956), Antinot (1965), lại cho rằng dưới tán rừng nhiệt đới , nhìn chung có đủ
số lượng cây có giá trị kinh tế (theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995 [11])
Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng thông qua độ tàn che của rừng, độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này Baur G N (1976) [3] khi nghiên cứu tái sinh rừng đã nhận định thảm cây cỏ và cây bụi đã ảnh hưởng đến tái sinh của cây gỗ Từ đó ông đã đã tổng kết các biện pháp lâm sinh tác động vào rừng nhằm đem lại rừng căn bản đều tuổi khi nghiên cứu sinh thái rừng mưa Trong “cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa” ông đã tổng kết chi tiết các bước và hiệu quả của từng phương thức tái sinh
Trang 27Lamprecht H (1989) căn cứ nhu cầu sử dụng ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sống đã phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa 14 sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng (theo Lê Ngọc Công,
2004 [14])
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả nghiên cứu Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia và Venezuela nhận xét: Sau khi bỏ hóa, số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành thục Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ
lệ các loài nguyên thủy mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau vào mức độ, tần số canh tác của khu vực đó Kết quả nghiên cứu của các tác giả Lambertetal (1989), Warner (1991), Rouw (1991) đều cho thấy quá trình diễn thế sau nương rẫy như sau: đầu tiên đám nương rẫy được các loài cỏ xâm chiếm, nhưng sau một năm loài cây gỗ tiên phong được gieo giống từ vùng lân cận hỗ trợ cho việc hình thành quần thụ các loài cây gỗ, tạo
ra tiểu hoàn cảnh thích hợp cho việc sinh trưởng của cây con
Tóm lại: Các công trình nghiên cứu tái sinh trên thế giới chủ yếu tập trung vào các trạng thái rừng tự nhiên, cho chúng ta hiểu biết được các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số nơi Đặc biệt vận dụng các hiểu biết các quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp
lý nhằm quản lý tài nguyên rừng một cách bền vững
1.2.4.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam
Rừng nhiệt đới Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung, nhưng do phần lớn là rừng thứ sinh bị tác động của con người nên những quy luật tái sinh đã bị xáo trộn nhiều Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tái sinh rừng nhưng tổng kết thành quy luật tái sinh cho từng loại rừng thì còn rất ít Một số kết quả nghiên cứu về tái sinh thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học và một phần công bố trên các tạp chí
Trang 28Ở miền Bắc nước ta từ 1962 đến 1969 Viện Điều tra Qui hoạch rừng đã điều tra tình hình tái sinh tự nhiên theo các “loại hình thực vật ưu thế”, rừng thứ sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969) Đáng chú ý là công trình điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962 đến 1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình Kết quả điều tra đã được Vũ Đình Huề (1975) [20] tổng kết trong báo cáo khoa học “Khái quát về tình hình 15 tái sinh tự nhiên ở rừng miền Bắc Việt Nam” Theo báo cáo, tái sinh tự nhiên ở rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới
Thái Văn Trừng (1978) [47] trong “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã nhấn mạnh một số nhân tố sinh thái trong nhóm nhân tố khí hậu đã khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng, đó là ánh sáng
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Trương (1983) [46] đã đề cập đến mối quan hệ giữa cấu trúc rừng với tái sinh tự nhiên trong rừng hỗn loài Hiện tượng tái sinh lỗ trống ở các rừng thứ sinh vùng Hương Sơn, Hà Tĩnh đã được Phạm Đình Tam (1987) làm sáng tỏ
Nguyễn Văn Trương (1983) [46] trong “Quy luật cấu trúc rừng gỗ hỗn loại” đã cho rằng cần phải thay đổi cách khai thác rừng cho hợp lý, vừa cung cấp được gỗ, vừa nuôi dưỡng và tái sinh được rừng Muốn đảm bảo cho rừng phát triển liên tục trong điều kiện quy luật đào thải tự nhiên hoạt động thì số lượng lớp cây dưới phải nhiều hơn lớp cây kế tiếp nó ở phía trên
Nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp lâm sinh tới quá trình tái sinh
tự nhiên của quần xã thực vật còn được một số tác giả nghiên cứu, Hoàng Kim Ngũ (1984) [32], Nguyễn Ngọc Lung (1989) [29], Phùng Ngọc Lan (1986) [23], Nguyễn Duy Chuyên (1995) [11]…
Khi nghiên cứu vai trò của tái sinh rừng ở các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Trần Xuân Thiệp (1995) [36] đã nhận định rằng vùng Đông Bắc
có năng lực tái sinh khá tốt với số lượng từ 8000-12000 cây/ha, tỷ lệ cây có triển vọng cao đáp ứng được cho việc phục hồi rừng
Trang 29Trần Ngũ Phương (2000) [34] khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễm thế thứ sinh của rừng tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ
có một tầng thì trong khi nó già cỗi, một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”
Lê Ngọc Công (2004) [14] khi nghiên cứu quá trình phục hồi bằng khoang nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên, cho rằng giai đoạn đầu của quá trình diễn thế phục hồi rừng (giai đoạn 1 – 6 năm), mật độ cây tăng lên sau đó giảm Quá trình này bị chi phối bởi quy luật tái sinh tự nhiên, quá trình nhập cư và quá trình đào thải của các loài cây
Các công trình nghiên cứu tái sinh ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào điều tra đánh giá tái sinh ở các trạng thái rừng trong điều kiện tự nhiên Còn những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên phục hồi rừng ở trạng thái sau nương rãy
và thảm cây bụi còn ít
1.2.4.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng
Những công trình nghiên cứu tại xã Thần Sa đến nay còn rất ít
Năm 2009, Hoàng Thanh Thủy [44] khi nghiên cứu ở xã Thần Sa, huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã mô tả đặc điểm của thảm thực vật bao gồm: trạng thái rừng trên đá vôi, trạng thái rừng trên núi đất, trạng thái rừng trong thung lũng, trạng thái rừng trên núi đất lẫn đá, trạng thái rừng thứ sinh nhân tác, trạng thái rừng tre nứa, trạng thái thảm cây bụi và trạng thái thảm cỏ
Vũ Văn Cần (2009) [6], khi nghiên cứu Dự án xác lập khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên đã công bố
Trang 3056 loài cây quý hiếm ở khu vực này, trong đó có 1 loài ở mức độ rất nguy cấp (CR), 11 loài nguy cấp (EN) và 31 loài sẽ nguy cấp (VU)…
Nguyễn Thị Thoa (2014) [40], khi nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân
gỗ trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, huyện
Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên đã điều tra được 611 loài, 350 chi thuộc 180 họ
Như vậy, nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh tự nhiên trong một số kiểu thảm thực vật ở xã Thần Sa hầu như chưa có Vì vậy đây cũng là hướng nghiên cứu của đề tài này
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là 3 kiểu thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.:
- Thảm cỏ cao
- Rừng thứ sinh
- Thảm cây bụi
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Xác định các kiểu thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu
2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm chính của một số kiểu thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu
- Đặc điểm về thành phần loài thực vật
- Đặc điểm về thành phần dạng sống
- Đăc điểm về cấu trúc thẳng đứng của một số kiểu thảm
- Đặc điểm tái sinh tự nhiên của một số loài cây gỗ trong một số kiểu thảm thực vật:
+ Số lượng, mật độ loài cây gỗ tái sinh
+ Phân bố cây gỗ tái sinh theo chiều cao
+ Phân bố cây gỗ tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang
+ Chất lượng loài cây gỗ tái sinh ( tốt, trung bình, xấu)
2.2.3 Đánh giá khả năng tái sinh tự nhiên của một số kiểu thảm tại khu vực nghiên cứu
2.2.4 Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy tái sinh tự nhiên phục hồi thảm thực vật
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp tuyến điều tra (TĐT)
Chúng tôi sử dụng phương pháp của Hoàng Chung (2008) [10] như sau:
Trang 32Trước hết là xác định địa điểm nghiên cứu, căn cứ vào bản đồ của khu vực lập các tuyến điều tra (TĐT) TĐT đầu tiên có hướng vuông góc với đường đồng mức, các tuyến sau song song với tuyến đầu Chiều rộng quan sát của TĐT là 4m Khoảng cách giữa các tuyến là 50 – 100m tùy vào địa hình cụ thể của từng quần xã Dọc theo TĐT bố trí OTC và ô dạng bản (ODB) để thu thập
số liệu về thành phần loài
2.3.2 Phương pháp ô tiêu chuẩn (OTC)
Sử dụng phương pháp của Hoàng Chung (2008) để lập OTC và ODB Tại mỗi kiểu thảm thực vật, lập 6 OTC ở các vị trí: đỉnh đồi (2 OTC), lưng đồi (2 OTC) và chân đồi (2 OTC) Mỗi OTC có kích thước (10m x 10m) đối với trạng thái rừng và kích thước (4m x 4m) đối với thảm cây bụi, kích thước 1m x 1m đối với thảm cỏ, tổng số OTC được lập là 18 ô
Trong mỗi OTC, mô tả vị trí địa lý, hướng phơi, độ dốc, độ cao tương đối, lịch sử hình thành, thời gian phục hồi, đặc trưng thổ nhưỡng; điều tra về thành phần loài, kiểu dạng sống (dựa trên sự phân chia nhóm dạng sống của Raunkiaer (1934) [57]), số lượng cây, chiều cao, độ che phủ, sự phân tầng
Thu thập các số liệu về cây gỗ:
- Đo chiều cao cây - chiều cao vút ngọn (Hvn) bằng thước đo chiều cao Blumeleiss, đo theo nguyên tắc lượng giác (trị số trung bình của 3 lần đo) Những cây có chiều cao vút ngọn (Hvn) từ 4 m trở xuống được đo bằng sào
Đánh giá độ nhiều: Độ nhiều là mức độ tham gia của 1 loài thực vật nào
đó trong quần xã về số lượng cá thể Người ta đã đưa ra nhiều loại thang thống
Trang 33kê độ nhiều khác nhau; trong luận văn này, chúng tôi sử dụng thang 6 cấp hay còn gọi là thang Drude (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008) [39], được trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Kí hiệu độ nhiều (độ dày rậm) thảm tươi theo Drude
Soc Thực vật mọc rộng khắp, độ che phủ 75- 100% diện tích
Cop 3 Thực vật mọc rất nhiều, độ che phủ trên 50-70% diện tích
Cop 2 Thực vật mọc nhiều, độ che phủ từ 25-50% diện tích
Cop 1 Thực vật mọc tương đối nhiều, che phủ từ 5-25% diện tích
Sp Thực vật mọc ít, che phủ dưới 5% diện tích
Sol Thực vật mọc rải rác phân tán
Un Một vài cây cá biệt
Gr Thực vật phân bố không đều, mọc từng nhóm
* Tại mỗi OTC đặt các ô dạng bản Tùy theo kích thước OTC là 16m2hay 100m2 mà đặt 5 ô dạng bản có diện tích 1m2 (1m x1m) bố trí theo hình gọng vó hoặc 9 ô dạng bản có diện tích 4m2
(2m x 2m) Tổng diện tích ODB ít nhất bằng 1/3 diện tích OTC (trừ thảm cỏ không đặt ODB)
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí ODB trong OTC ở Thảm cây bụi (a) và Rừng thứ sinh (b)
4m (a)
4m
10m
10m (b)
Trang 34Trong các ô dạng bản, chúng tôi thu thập số liệu về cây tái sinh tự nhiên có D1,30 < 6cm nhằm đánh giá diễn thế tự nhiên của thảm cây bụi trong tương lai:
- Xác định mật độ cây tái sinh theo công thức:
N =
s
n
x 10.000 ni Trong đó: N: là mật độ cây tái sinh (cây/ha)
n: là số lượng cây tái sinh s: là diện tích ô điều tra (m2
) 10.000 tức 10.000m2
ni
ni
x 100
Trong đó: n%: là hệ số tổ thành (tính theo phần mười)
ni: là số cây của loài thứ i trong quần xã m: là tổng số loài trong quần xã
+ Nếu Ni 5% thì loài đó được tham gia vào công thức tổ thành và đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành sinh thái rừng
+ Nếu Ni < 5% thì loài đó không tham gia vào công thức tổ thành
- Xác định nguồn gốc cây tái sinh (cây chồi, cây hạt)
- Đánh giá chất lượng cây tái sinh theo 3 cấp:
+ Cây tái sinh có chất lượng tốt: thân thẳng, không cong queo, không cụt ngọn, không sâu bệnh, sinh trưởng và phát triển tốt
+ Cây tái sinh có chất lượng xấu: thân cong queo, cụt ngọn, sâu bệnh, sinh trưởng và phát triển kém
+ Còn lại là những cây tái sinh có chất lượng trung bình
- Đo chiều cao cây tái sinh tự nhiên: Phân chia cây tái sinh theo 6 cấp chiều cao: cấp I (< 20cm), cấp II (21 – 50cm), cấp III (51 – 100cm), cấp IV
Trang 35(110 – 150cm), cấp V (151 – 200cm), cấp VI (201 – 250cm) (Theo Trần Xuân Thiệp, 1995 [36])
2.3.3 Phương pháp phân tích và thu thập số liệu
- Phương pháp xác định tên loài thực vật: Theo các tài liệu:
+ Cây cỏ Việt Nam (2003) của Phạm Hoàng Hộ [18]
+ Danh lục các loài thực vật Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (2005) [5]
- Trên TĐT, quan sát và ghi chép vào phiếu tất cả các thông tin về các loài đã gặp như: tên latinh ( hoặc tên địa phương), dạng sống theo Raunkiaer, 1934:
1 Phanerophytes (Ph) – Cây có chồi trên đất
2 Chamephytes (Ch) – Cây chồi sát đất
3 Hemicryptophytes (He) - Cây chồi nửa ẩn
4 Cryptophytes (Cr) - Cây chồi ẩn
5 Therophytes (Th) - Cây một năm
Những loài chưa biết tên lấy mẫu về định loại
- Trong OTC, tiến hành thu thập mẫu trong các ô nhỏ (ODB), cách thu mẫu cũng giống tuyến điều tra Cụ thể:
+ Đo đếm toàn bộ những cây có chiều cao (chiều cao vút ngon – Hvn) 4m trở xuống được đo bằng sào có chia vạch đến 0,1m Đối với cây cao trên 4m được đo bằng thước Blumeleiss đo theo nguyên tắc lượng giác
+ Nghiên cứu phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang (phân bố khoảng cách từ một điểm chọn ngẫu nhiên đến các cây lân cận) Áp dụng công thức của Nguyễn Hải Tuất (1990) Trên diện tích OTC các cây phân bố ngẫu nhiên, chọn ngẫu nhiên một điểm P và đo khoảng cách x từ P đến 6 cây gần nhất để tính trị số trung bình Khi đó trong phân bố Poisson ta được phép sử dụng tiêu chuẩn U (phân bố chuẩn) của Clark và Evans để đánh giá khi sử dụng mẫu đủ lớn, qua đó dự đoán được thời gian phát triển của quần xã thực vật nơi
cư trú
Trang 36U tính theo công thức: U =
26136,
0
)
5.0
Trong đó: n là số lần quan sát
Nếu U 1,96 : Phân bố ngẫu nhiên
Nếu U >1,96: phân bố đều
Nếu U < -1,96: phân bố cụm
Trong ô dạng bản xác định tên loài, đếm số lượng cây tái sinh, đo Hvn, xác định nguồn gốc cây tái sinh (từ hạt, chồi) Phân loại chất lượng cây tái sinh theo 3 tiêu chuẩn: tốt, trung bình, xấu
2.3.4 Phương pháp điều tra trong nhân dân
Trực tiếp phỏng vấn người chủ rừng hoặc các cơ quan chuyên môn (chi cục kiểm lâm, UBND xã…) để nắm được các thông tin về điều kiện tự nhiên ở KVNC, trạng thái của rừng, tên các loài thực vật (tên địa phương), những tác động của con người và động vật…
Trang 37Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới
Võ Nhai là huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, có giới hạn địa lí
105017 - 106017 đông, 21036 - 212056 vĩ bắc
Phía đông giáp huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn);
Phía tây giáp huyện Đồng Hỉ và huyện Phú Lương (tỉnh Thái Nguyên); Phía nam giáp huyện Đồng Hỉ (tỉnh Thái Nguyên) và huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang);
Phía bắc giáp huyện Na Rì (tỉnh Bắc Cạn)
Khu vực nghiên cứu là xã Thần Sa của huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
Xã nằm ở phía bắc của huyện và nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng với tổng diện tích hơn 17.000 ha rừng, đây là khu vực hiện còn nhiều loại gỗ quý hiếm như nghiến, trai, lý, sến với trữ lượng khá lớn
Thần Sa tiếp giáp với các xã Bình Văn, Như Cố và Quảng Chu của huyện Chợ Mới của tỉnh Bắc Kạn ở phía bắc và tây bắc
Giáp với hai xã Sảng Mộc và Thượng Nung cùng huyện lần lượt ở phía đông bắc và đông nam
Giáp với hai xã Cúc Đường và La Hiên cùng huyện và xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ ở phía nam
Giáp với xã Văn Lăng của huyện Đồng Hỷ ở phía tây và tây nam
Trang 38Bản đồ hành chính Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Ghi chú:
Khu vực nghiên cứu
Trang 393.1.2 Địa hình
Địa hình Võ Nhai khá phức tạp, chủ yếu là đồi núi, hình thành 3 vùng rõ rệt:
- Vùng núi cao, gồm 6 xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Cúc Đường, Thần Sa, Vũ Chấn, có đất rừng đa dạng với tập đoàn cây con phong phú, tạo nên cảnh đẹp tự nhiên Nơi đây có khối núi đá vôi Thượng Nung đồ sộ nhất tỉnh Thái Nguyên, rộng tới 300 km2
, độ cao từ 500 đến 600m so với mực nước biển, kéo dài từ Thần Sa qua Nghinh Tường, đến Liêm Thuỷ (huyện Na Rì, tỉnh Bắc Cạn)
- Vùng thấp, gồm 3 xã La Hiên, Lâu Thượng, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả, có địa hình tương đối bằng phẳng, được tạo nên bởi những thung lũng chạy dọc theo Quốc lộ 1B, hai bên là hai dãy núi cao có độ dốc lớn
- Vùng gò đồi, gồm 5 xã : Tràng Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình Long và Phương Giao, có nhiều đồi đất hình bát úp, bị chia cắt bởi các dòng sông, khe suối và xen lẫn núi đá vôi
Vì vậy, có thể nói Võ Nhai có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế đồi rừng cũng như đẩy mạnh phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản
Xã Thần Sa là một xã có địa hình hiểm trở, địa hình chủ yếu là đồi núi, diện tích đất phục vụ cho nông nghiệp ít Đây là xã có tiềm năng cho phát triển lâm nghiệp
3.1.3 Đặc điểm thổ nhưỡng
Theo kết quả phúc tra do Viện Thiết kế xây dựng thực hiện thì toàn huyện Võ Nhai có các nhóm đất sau:
- Đất phù sa: 1.816 ha chiếm 2,15% diện tích
- Đất đen: 935 ha chiếm 1,11% diện tích
- Đất xám bạc màu: 63.917,7 ha chiếm 75,63% diện tích
- Các loại đất khác: 11.171,4 ha chiếm 16,65% diện tích
Nhìn chung, Võ Nhai có nhiều loại đất canh tác phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp, cây ăn quả và trồng rừng, song chủ yếu là
Trang 40đất đồi núi; những diện tích đất bằng phẳng phục vụ cho canh tác nông nghiệp rất thấp, đất ruộng lúa chỉ có 2.916,81 ha
3.1.4 Khí hậu, thủy văn
là vùng đá vôi, thung lũng thường hẹp và sâu, vách đá dựng đứng
Nguồn nước trên địa bàn huyện Võ Nhai khá phong phú, nhưng phân bố không đều Ngoài nguồn nước mặt từ sông, suối, còn có các mạch nước ngầm
từ các hang động trong núi đá vôi