Việc nâng cao chất lượng trong đào tạo nhân lực du lịch sẽ giúp các trường cao đẳng, đại học tìm được đầu ra phù hợp cho sinh viên của mình,... Bản thân học viên cao học đã từng là học v
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
MAI THỊ THANH HƯƠNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG
DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI - HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾCHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
MAI THỊ THANH HƯƠNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG
DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI - HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN TRỌNG XUÂN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chưa từng
được ai nghiên cứu và công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
Người cam đoan
Mai Thị Thanh Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của:
PGS - TS NGUYỄN TRỌNG XUÂN - Người trực tiếp hướng dẫn tôi làm
luận văn này và các thầy cô giáo Phòng Đào tạo, Bộ phận sau Đại học -
Trường Đại học Kinh tế và QTKD - Đại học Thái Nguyên; Ban giám hiệu và
tập thể giáo viên, CBCNV trường cao đẳng Du Lịch và Thương Mại Hải
Dương đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Sự giúp đỡ đã cổ vũ và giúp tôi nhận thức, làm sáng tỏ thêm cả lý luận
và thực tiễn về lĩnh vực mà luận văn nghiên cứu
Luận văn là quá trình nghiên cứu công phu, sự làm việc khoa học và nghiêm túc của bản thân, song do khả năng và trình độ có hạn nên không thể
tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định
Tôi rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và những độc giả đến đề tài này
Tác giả
Mai Thị Thanh Hương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ 7
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết phải nghiên cứu 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới của luận văn 3
5 Cấu trúc của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC DU LỊCH 4
1.1 Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch 4
1.1.1 Nguồn nhân lực 4
1.1.2 Nguồn nhân lực du lịch 4
1.1.3 Khái niệm về chất lượng 7
1.1.4 Khái niệm về đào tạo và chất lượng đào tạo 9
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch 15
1.2.1 Kinh tế và sự phát triển về du lịch 15
1.2.2 Quan niệm của xã hội về bằng cấp và nghề nghiệp 17
1.2.3 Những ảnh hưởng của công nghệ đến sự phát triển của Du lịch 17
1.2.4 Chính sách pháp luật của nhà nước 18
1.3.1 Nhân tố thuộc môi trường ngành 20
1.3.2 Nhân tố nội tại từng trường 23
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 27
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 27
Trang 62.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Phương pháp điều tra thực địa 27
2.2.2 Phương pháp phân tích tổng hợp so sánh 27
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu /thông tin /dữ liệu 28
2.2.4 Phương pháp dự báo 28
2.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nhân lực 28
2.3.1 Trình độ kiến thức được đào tạo 29
2.3.2 Kỹ năng, kỹ xảo 29
2.3.3 Năng lực nhận thức và tư duy 29
2.3.4 Phẩm chất nhân văn 30
2.3.5 Khả năng làm việc sau tốt nghiệp ra trường 30
Chương 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI 32
3.1 Khái quát tình hình tổ chức và hoạt động của trường cao đẳng Du lịch và Thương mại 32
3.1.1 Khái quát về các trường cao đẳng du lịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương 32
3.1.2 Giới thiệu khái quát về trường cao đẳng du lịch và Thương mại 33
3.2 Thực trạng chất lượng đào tạo nhân lực du lịch của trường cao đẳng Du lịch và Thương mại 48
3.2.1 Thực trạng công tác tuyển sinh ngành Du lịch 48
3.2.2 Chương trình, thời gian đào tạo - thực tập 49
3.2.3 Chất lượng đào tạo của trường thông qua các tiêu chí 50
3.2.4 Thực trạng các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo của trường 54
3.3 Đánh giá chất lượng đào tạo của nhà trường 72
3.3.1 Đánh giá từ phía các doanh nghiệp 72
3.3.2 Đánh giá từ góc độ cựu học sinh, sinh viên 74
3.4 Đánh giá chung thực trạng chất lượng đào tạo nhân lực du lịch của trường cao đẳng Du lịch và Thương mại Hải Dương và nguyên nhân 78
Trang 73.4.1 Những ưu điểm và nguyên nhân cơ bản trong công tác đào tạo nhân
lực về du lịch tại trường cao đẳng Du lịch và Thương mại Hải Dương 78
3.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân trong công tác đào tạo nhân lực về du lịch tại trường cao đẳng Du lịch và Thương mại Hải Dương 80
Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI HẢI DƯƠNG 82
4.1 Các dự báo triển vọng về đào tạo và nhu cầu nhân lực du lịch 82
4.1.1 Dự báo nhu cầu nhân lực ngành du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030 82
4.1.2 Định hướng phát triển trường cao đẳng Du lịch và Thương mại giai đoạn 2015 - 2020 88
4.2 Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch tại các trường cao đẳng du lịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương (Định hướng của trường cao đẳng Du lịch và Thương mại) 91
4.2.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên 91
4.2.2 Hoàn thiện công tác lập kế hoạch, xây dựng chương trình đào tạo 93
4.2.3 Đổi mới phương pháp tiếp cận học lý thuyết và thực hành của học sinh, sinh viên 94
4.2.4 Đổi mới cơ chế, chính sách đào tạo 95
4.2.5 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ việc dạy và học 96
4.2.6 Đổi mới phương pháp dạy học và công tác kiểm tra, đánh giá trong đào tạo 97
4.2.7 Tăng cường liên kết giữa Nhà trường và Doanh nghiệp 98
4.3 Các kiến nghị 98
4.3.1 Với Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 98
4.3.2 Với Bộ Công thương và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 99
4.3.3 Đối với Ủy ban nhân dân Tỉnh Hải Dương 101
4.3.4 Với trường cao đẳng Du lịch và Thương mại 101
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 8BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
AU - KS : Ăn uống khách sạn BGD&ĐT : Bộ Giáo dục và đào tạo CBCNV : Cán bộ công nhân viên
CĐ DL&TM : Cao đẳng Du lịch và Thương Mại DHTĐ : Danh hiệu thi đua
ĐNGV : Đội ngũ giảng viên HSSV : Học sinh sinh viên NCKH : Nghiên cứu khoa học SPAU : Sản phẩm ăn uống SPAU&PV : Sản phẩm ăn uống và phục vụ TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp TCCN - CĐ : Trung cấp chuyên nghiệp - Cao đẳng THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thong
TMDV : Thương mại - dịch vụ TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
Trang 9
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ Bảng:
Bảng 3.1 Ngành nghề đào tạo của trường Cao đẳng Du lịch và
Thương mại 38
Bảng 3.2 Qui mô đào tạo của trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại 40
Bảng 3.3 Tổng số HSSV nhập học và số lượng HSSV ngành Du lịch nhập học vào trường trong 5 năm qua 48
Bảng 3.4 Quy mô và cơ cấu đào tạo hiện nay của trường 49
Bảng 3.5 Thực trạng kỹ năng, kỹ xảo của HSSV tốt nghiệp ngành Du lịch 51
Bảng 3.6 Kết quả năng lực nhận thức và tư duy của HSSV ngành Du lịch 52
Bảng 3.7 Số lượng HSSV du lịch bình quân trên một giảng viên du lịch 57
Bảng 3.8 Trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên về du lịch 58
Bảng 3.9 Tổng hợp phiếu điều tra đánh giá các kỹ năng của người lao động từ phía người sử dụng 73
Bảng 3.10 Kết quả đánh giá về chương trình đào tạo 75
Bảng 3.11 Kết quả đánh giá về đội ngũ giảng viên 76
Bảng 3.12 Kết quả đánh giá về cơ sở vật chất 77
Bảng 3.13 Đánh giá về kết quả đào tạo 78
Bảng 4.1 Dự báo khách du lịch quốc tế và nội địa của du lịch Việt Nam đến năm 2030 83
Bảng 4.2 Nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2020 83
Bảng 4.3 Nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2020 84
Sơ đồ: Sơ đồ 1.1 Sơ đồ quan niệm về chất lượng đào tạo 13
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ mối quan hệ giữa mục tiêu đào tạo và chất lượng đào tạo 15
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết phải nghiên cứu
Du lịch là một trong những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng vào loại nhanh nhất và nhu cầu về lao động trong ngành Du lịch cũng tăng lên đáng
kể Ở nước ta hiện nay, có khá nhiều trường cao đẳng, đại học đào tạo du lịch nhưng nhìn chung chất lượng đào tạo nhân lực du lịch trên thực tế còn thấp, thiếu tính chuyên nghiệp, yếu về trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và hạn chế kinh nghiệm thực tế Có nhiều nguyên nhân của những yếu kém nêu trên, một trong các nguyên nhân chính là công tác đào tạo tại các trường còn non yếu, quy mô, chất lượng chưa đủ để đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của xã hội
Liên kết đào tạo giữa 3 nhà (nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp) còn
rời rạc, chưa chặt chẽ và kém hiệu quả
Thực tế này đã được nhiều cuộc hội thảo bàn bạc để nhằm tìm ra giải pháp Điển hình là Hội thảo “Nhân tài với thịnh suy đất nước” do TƯ hội khoa học phát triển nguồn nhân lực, nhân tài Việt Nam tổ chức ngày 27/9/2011 Hội thảo cũng đã tổng kết đánh giá về thực trạng chất lượng giáo dục Việt Nam là “Nhân thì có, còn tài thì ít” Cũng vào ngày 27/9/2011, Ban Tuyên giáo Trung ương đã tổ chức toạ đàm “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo” Đặc biệt là Hội thảo Quốc gia về “Đào tạo nhân lực du lịch theo nhu cầu xã hội” đã được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, đã đánh giá về tình hình đào tạo nhân lực ngành Du lịch theo nhu cầu xã hội và đề ra phương hướng mục tiêu, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nhân lực ngành Du lịch theo nhu cầu xã hội đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
Việc nâng cao chất lượng trong đào tạo nhân lực du lịch sẽ giúp các trường cao đẳng, đại học tìm được đầu ra phù hợp cho sinh viên của mình,
Trang 11mặt khác giúp các trường đào tạo về du lịch tìm được giải pháp cho việc đào tạo nhân lực có chất lượng hơn
Do vậy, việc nghiên cứu để nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực phục
vụ cho du lịch sao cho đáp ứng được với đòi hỏi của thực tế là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa quyết định cho sự tồn tại và phát triển của chính cơ sở đào tạo đó cũng như sự tồn tại của Du lịch Việt Nam
Bản thân học viên cao học đã từng là học viên của lớp học Dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam; đồng thời là một giảng viên của Bộ môn Nghiệp vụ Nhà Hàng, một trong những nghề đào tạo về du lịch của Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại, với mong muốn các học sinh, sinh viên của mình luôn có được những kiến thức bám sát với thực tế để khi ra trường dễ dàng tìm được việc làm phù hợp với ngành nghề đã được học Vì thế, tác giả đã lựa chọn
đề tài: “Nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch tại trường cao đẳng Du
Lịch và Thương Mại Hải Dương” làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch của các trường cao đẳng du lịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói chung và của Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại Hải Dương nói riêng đáp ứng nhu cầu của ngành Du lịch
- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
+ Hệ thống và phát triển một số khái niệm và vấn đề lý luận về chất lượng đào tạo nhân lực về du lịch liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn + Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo nhân lực du lịch tại các trường cao đẳng du lịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương, điển hình là Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại thông qua các phương pháp nghiên cứu và phân tích các dữ liệu, chỉ rõ ưu điểm và nguyên nhân, hạn chế và nguyên nhân
Trang 12+ Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch của các trường cao đẳng du lịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương (trong đó đặc biệt chú trọng đến Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại Hải Dương), đáp ứng nhu cầu xã hội và ngành Du lịch
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng đào tạo nhân lực du lịch đặt trong mối quan hệ với những vấn đề này ở tại các trường có đào tạo du lịch tại tỉnh Hải Dương
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường cao đẳng du lịch của Hải Dương trong giai đoạn từ 2010 - 2014; đề xuất giải pháp đến năm 2020
- Về không gian nghiên cứu: Khảo sát tại Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại Hải Dương; các trường cao đẳng du lịch của Hải Dương và một
số doanh nghiệp sử dụng nguồn nhân lực đã qua đào tạo của các trường trên địa bàn tỉnh
- Về nội dung: Tập trung vào chất lượng đào tạo và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch của các cơ sở đào tạo nói trên
4 Những đóng góp mới của luận văn
- Sau khi hoàn thành, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm tới công tác đào tạo nhân lực ngành Du lịch
- Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại và các trường cao đẳng, đại học có đào tạo về du lịch có thể xem xét áp dụng những đề xuất của luận văn
để nâng cao chất lượng công tác giảng dạy
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn dự kiến gồm 4 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận chung về chất lượng đào tạo nhân lực du lịch
Trang 13Chương 2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Chương 3
Cao đẳng Du lịch và Thương mại Hải Dương
Chương 4 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch tại
các trường cao đẳng du lịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong thời gian tới
1.1.2 Nguồn nhân lực du lịch
Nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay không thành công trong sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Để phát triển du lịch cũng cần có nhiều nguồn lực, trong đó nguồn nhân lực được đánh giá là một trong những yếu tố quyết định trong sự phát triển của ngành
Có khá nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực tùy theo góc độ tiếp cận nghiên cứu, như:
Trang 14- “Nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới” “Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức”
- Theo Phạm Minh Hạc, “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó…” (Phạm Minh Hạc, 2001)
Vậy, khi nói đến nguồn nhân lực, người ta bàn đến số lượng, chất lượng, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của thị trường lao động Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trong trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động
Do đó, chúng ta có thể hiểu: Nguồn nhân lực du lịch là bao gồm những lao động trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra những sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu của con người và nhu cầu phát triển xã hội
Cơ cấu nguồn nhân lực du lịch có thể phân thành 3 nhóm sau đây:
- Nhóm lao động có chức năng quản lý nhà nước về du lịch: Nhóm lao động này bao gồm những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước
về du lịch từ Trung ương đến địa phương như: Tổng cục Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, thành phố, phòng Văn hóa - Thông tin cấp huyện…
Bộ phận lao động này chiếm tỉ trọng không lớn trong toàn bộ nhân lực du lịch song đây là bộ phận nhân lực có trình độ cao, có hiểu biết tương đối toàn diện
Trang 15và có trình độ chuyên môn về du lịch Những kiến thức của họ ở tầm vĩ mô thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước
- Nhóm lao động có chức năng đào tạo, nghiên cứu về du lịch: Nhóm lao động này bao gồm những người làm việc trong các cơ sở giáo dục đào tạo như cán bộ giảng dạy, nghiên cứu ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp
và cán bộ nghiên cứu ở các viện khoa học về du lịch Đây là bộ phận nhân lực
có trình độ học vấn cao và có trình độ chuyên môn sâu nhất trong toàn bộ nhân lực du lịch đặc biệt trong các trường đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu, bao gồm đội ngũ các Giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân… Họ
có kiến thức khá toàn diện và sâu sắc về lĩnh vực du lịch Họ có chức năng đào tạo, nghiên cứu khoa học về du lịch, có vai trò to lớn trong việc phát triển
du lịch Hay nói cách khác, họ có nhiệm vụ hết sức cao cả là nhiệm vụ “trồng người” Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực hiện tại, tương lai có đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành du lịch hay không có sự tác động lớn của những người làm công tác đào tạo Có thể nói, họ như “cỗ máy cái” trong quá trình sản xuất Do vậy bộ phận này càng phải được đào tạo bài bản, lâu dài, hướng tới đạt trình độ khu vực và thế giới Mặt khác, họ phải có năng khiếu
và đạo đức sư phạm cũng như khả năng độc lập nghiên cứu khoa học cao
- Nhóm lao động có chức năng kinh doanh du lịch: Nhóm lao động này gồm các lao động quản lý trong lĩnh vực kinh doanh du lịch (gồm lãnh đạo của các doanh nghiệp, khách sạn, công ty lữ hành du lịch…) và các lao động chức năng trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách trong doanh nghiệp du lịch (như: lao động thuộc nghề lễ tân, buồng, bàn, bar, bếp, hướng dẫn viên du lịch…)
Phát triển nguồn nhân lực du lịch là những hoạt động nhằm tăng cường
số lượng và nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việc của lực lượng lao động đang và sẽ làm việc trực tiếp trong ngành du lịch, bao gồm: lao động thuộc các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và các đơn vị sự nghiệp trong ngành
Trang 16từ trung ương đến địa phương, lao động trong các doanh nghiệp du lịch gồm đội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh, đội ngũ lao động nghiệp vụ trong các khách sạn - nhà hàng, công ty lữ hành, vận chuyển du lịch, lao động làm công tác đào tạo du lịch trong các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học
1.1.3 Khái niệm về chất lượng
“Chất lượng” là một thuật ngữ gây nhiều tranh cãi Với một số người,
“chất lượng” cũng giống như “cái đẹp” vốn “nằm trong mắt của người thưởng thức” Những người này cho rằng chất lượng chỉ là vấn đề tương đối, trong khi một số khác cho rằng chất lượng bao gồm nhiều thành tố xác định khác nhau; nói cách khác chất lượng là một cái gì đó hoàn toàn khách quan Từ chất lượng (quality) bắt nguồn từ „qualis‟ trong tiếng Latin, có nghĩa là “loại gì” Đây là một từ đa nghĩa và nhiều hàm ý, một khái niệm khó nắm bắt (Pfeffer and Coote, 1991) Có thể hiểu rằng với những người khác nhau thì chất lượng có những ý nghĩa khác nhau
Viện tiêu chuẩn Anh Quốc (British Standards Institution, viết tắt là BSI) định nghĩa chất lượng là “toàn bộ các đặc trưng cũng như tính chất của một sản phẩm hoặc một dịch vụ giúp nó có khả năng đáp ứng những yêu cầu được xác định rõ hoặc ngầm hiểu” (BSI, 1991)
Green và Harvey (1993) đã xác định năm (05) cách tiếp cận khác nhau
để định nghĩa chất lượng như sau: 1) Chất lượng là sự vượt trội (đạt tiêu chuẩn cao và vượt quá yêu cầu); 2) Chất lượng là tính ổn định (thể hiện qua
tình trạng “không có khiếm khuyết ” và tinh thần “làm đúng ngay từ đầu”,
biến chất lượng thành một văn hóa); 3) Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu
(tức sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng đúng những mục đích đã đề ra, theo đúng
các đặc tả và sự hài lòng của khách hàng); 4) Chất lượng là đáng giá đồng
Trang 17tiền (có hiệu quả và hiệu suất cao); và 5) Chất lượng là tạo sự thay đổi (những
thay đổi về chất lượng)
Những quan niệm khác nhau về chất lượng này đã khiến Reeves và Bednar (1994) kết luận rằng: “…Cuộc tìm kiếm một định nghĩa thống nhất và một phát biểu có tính quy luật về chất lượng đã bị thất bại” Theo Gummesson (1990), có lẽ cần làm sao để mọi người cùng đồng thuận về cách hiểu cái thực thể mơ hồ nhưng phức tạp và đa diện mà ta gọi là chất lượng hơn là tìm cách đưa ra một định nghĩa về chất lượng
Garvin (1988) đã phân loại các định nghĩa chất lượng ra thành năm (05)
nhóm chính: 1) Những định nghĩa mang tính “tiên nghiệm” Đây là những
định nghĩa dựa trên cảm nhận chủ quan Những định nghĩa này tồn tại rất bền vững, nhưng không thể đo lường và cũng không thể mô tả một cách logic Có thể nói chúng cũng giống như những khái niệm về "„tình yêu" hoặc "cái đẹp";
2) Những định nghĩa dựa trên sản phẩm Chất lượng được coi như những biến
số đo lường được Căn cứ để đo lường là dựa trên những thuộc tính khách quan
của sản phẩm 3) Những định nghĩa hướng về người sử dụng Chất lượng là
một phương tiện để đáp ứng sự hài lòng của khách hàng Điều này khiến
những định nghĩa này có phần chủ quan và mang tính cá nhân; 4) Những định nghĩa dựa trên hoạt động sản xuất Chất lượng được xem là sự đáp ứng những yêu cầu và thông số kỹ thuật của sản phẩm; 5) Những định nghĩa dựa trên giá trị Những định nghĩa này xác định chất lượng trong mối tương quan
với chi phí Chất lượng được coi là sự cung cấp những giá trị tốt so với chi phí bỏ ra (Largosen và đồng nghiệp, 2004)
Quanh khái niệm chất lượng ta có thể nhận ra một số ý tưởng chính yếu, đó là: Chất lượng có tính tuyệt đối, chất lượng có tính tương đối, chất
lượng như một quá trình, và chất lượng như một văn hóa
Trang 18Khi chúng ta xem chất lượng là tuyệt đối, nó được xem như là những tiêu chuẩn cao nhất có thể có Ví dụ như bức tranh “Mona Lisa” của
Da Vinci, Kim tự tháp Hy Lạp hoặc Lăng Taj Mahal ở Ấn Độ là những tuyệt tác với tiêu chuẩn chất lượng tuyệt vời Xét theo khía cạnh sản phẩm, chúng luôn đi kèm với những “thương hiệu” cao, có lợi thế vè đẳng cấp và vị trí Những tổ chức giáo dục như Oxford, Cambridge và Stanford ở phương Tây
có thể được hiểu là đạt chuẩn chất lượng theo nghĩa tuyệt đối, mặc dù khi xét trong trường hợp của ngành giáo dục điều này vẫn có ít nhiều cảm tính Quan niệm “chất lượng là tương đối” thì cho rằng chất lượng của một sản phẩm hoặc dịch vụ chỉ có giá trị tương đối Chất lượng ở đây có thể được đo lường bằng những tiêu chí nhất định Theo Mukhopadhyay (2005) việc tuân thủ các
“đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm thực sự là điều kiện tối thiểu về chất lượng, nhưng không phải là điều kiện đủ” Điều kiện đủ là sự hài lòng của khách hàng và hơn thế nữa”
Quan niệm “chất lượng như một quá trình” cho rằng để đạt được chất lượng của một sản phẩm hoặc dịch vụ, nhất thiết phải trải qua những quá trình nhất định và tuân theo những yêu cầu về thủ tục Do đó, chất lượng là kết quả của những hệ thống và quy trình được lập ra cho một mục tiêu Cuối cùng - chất lượng như một văn hóa - công nhận tầm quan trọng của việc một tổ chức xem chất lượng là một quá trình chuyển đổi, trong đó mỗi bộ phận đều quan tâm và thừa nhận tầm quan trọng của chất lượng Quan niệm cuối cùng này đặc biệt đáng quan tâm trong các cơ sở giáo dục, tuy nhiên các ý tưởng khác
về chất lượng đều có vai trò của chúng
1.1.4 Khái niệm về đào tạo và chất lượng đào tạo
1.1.4.1 Khái niệm Đào tạo
Theo giáo trình Quản trị nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động
Trang 19có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn
Đào tạo có thể chia thành 2 nhóm, một là đào tạo trong công việc và hai
là đào tạo ngoài công việc
Đào tạo trong công việc: Đào tạo trong công việc là các phương pháp đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, trong đó người học sẽ được học những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động lành nghề hơn
Đào tạo ngoài công việc: Là phương pháp đào tạo trong đó người học được tách ra khỏi sự thực hiện các công việc thực tế
1.1.4.2 Chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo là khái niệm trừu tượng, đa chiều và phụ thuộc vào nhiều nhân tố tác động, khi các nhân tố tác động đến nó thay đổi cũng làm cho chất lượng đào tạo thay đổi theo Do đó, để đánh giá chất lượng đào tạo cần dùng một hệ thống các chỉ tiêu về mặt định tính, định lượng để phân tích
và đánh giá
Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề quan trọng của các cơ sở đào tạo và của cả xã hội Nó phản ánh kết quả của các cơ sở đào tạo, thậm chí của cả hệ thống đào tạo Chất lượng đào tạo được biến đổi theo thời gian và không gian dưới sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau Do vậy, việc nâng cao chất lượng đào tạo được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các cơ sở đào tạo nói chung, của các trường cao đẳng du lịch nói riêng
Các quan niệm về chất lượng đào tạo:
- Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Đầu vào”: Có một số quan điểm cho rằng chất lượng đào tạo phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng các
Trang 20yếu tố đầu vào của cơ sở đào tạo đó Quan điểm này được gọi là “quan điểm nguồn lực”, có nghĩa là: “Nguồn lực” = “Chất lượng”
Theo quan điểm này, nếu một trường tuyển được học sinh, sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có cơ sở vật chất tốt… thì được coi
là trường có chất lượng đào tạo tốt Qua điểm này đã bỏ qua quá trình tổ chức
và quản lý đào tạo diễn ra rất đa dạng và liên tục trong một khoảng thời gian nhất định Điều này sẽ khó giải thích cho trường hợp một trường đã có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng chất lượng đầu ra hạn chế hoặc ngược lại Theo cách đánh giá này cho rằng dựa vào chất lượng nguồn lực đầu vào có thể đánh giá được chất lượng đầu ra
- Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu ra”: “Đầu ra” là kết quả, là sản phẩm của quá trình đào tạo được thể hiện bằng năng lực, chuyên môn nghiệp
vụ, sự thành thạo trong công việc hay khả năng cung cấp các dịch vụ của cơ
sở đào tạo đó Có quan điểm cho rằng “đầu ra” của quá trình đào tạo có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào”
- Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”: Quan điểm này cho rằng một trường có tác động tích cực và tạo ra sự khác biệt của học sinh sinh viên về trí tuệ, nhân cách… tức là tạo được giá trị gia tăng cho HSSV đó
“Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu ra” trừ đi giá trị của
“đầu vào” Kết quả thu được được coi là chất lượng đào tạo của trường Quan điểm này chỉ tồn tại về mặt lý thuyết vì trên thực tế rất khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất về mặt định lượng để đánh giá chất lượng “đầu vào” và
“đầu ra” từ đó tìm ra mức chênh lệch để đánh giá chất lượng đào tạo Ngoài
ra, mỗi cơ sở đào tạo, mỗi trường lại không thống nhất về chương trình đào tạo, mục tiêu đào tạo…
- Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”: Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường học phương tây, quan điểm này chủ yếu dựa
Trang 21vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ giảng viên trong từng cơ sở đào tạo (được đánh giá bằng quá trình thẩm định) Điều này cũng có nghĩa là trường nào có đội ngũ giảng viên có học vị, học hàm cao, có uy tín khoa học lớn thì được xem là trường có chất lượng cao Quan điểm này còn hạn chế ở chỗ: Cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan thì cũng khó có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục hiện nay xu thế đa dạng hoá các ngành nghề, lĩnh vực đào tạo cộng với sự buông lỏng trong quản lý đã làm cho số lượng các học thuật của các trường tăng về
số lượng nhưng giảm về chất lượng
- Chất lượng được đánh giá bằng “Văn hoá tổ chức”: Quan điểm này cho rằng “Văn hoá tổ chức” có tác dụng hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất lượng Vì vậy, một trường được đánh giá là có chất lượng khi nó có được
“văn hoá tổ chức riêng” nhằm mục tiêu là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
- Chất lượng được đánh giá bằng “Kiểm toán”: Quan điểm này tiếp cận
từ các yếu tố bên trong của tổ chức và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định Nếu kiểm toán tài chính xem xét các tổ chức có duy trì chế độ sổ sách hợp lý hay không thì kiểm toán chất lượng quan tâm xem các trường có thu thập đủ thông tin cần thiết hay không, quá trình thực hiện các quyết định
về chất lượng có hợp lý và hiệu quả không Quan điểm này cho rằng: Nếu một cá nhân có đủ thông tin cần thiết thì có thể có được các quyết định chính xác, khi đó chất lượng giáo dục được đánh giá thông qua quá trình thực hiện, còn “đầu vào” và “đầu ra” chỉ là yếu tố phụ
Trên thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm chất lượng đào tạo, do khái niệm “chất lượng” được dùng chung cho cả hai khái niệm chất
Trang 22lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối, do đó khái niệm chất lượng đào tạo cũng mang tính trìu tượng
Với quan niệm chất lượng tương đối thì “chất lượng” dùng để chỉ một số thuộc tính mà người ta gán cho sản phẩm, đồ vật Theo quan niệm này thì một vật, một sản phẩm hoặc một dịch vụ được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng được các mong muốn mà người sản xuất định ra và các yêu cầu người tiêu thụ đòi hỏi từ đó nhận ra rằng chất lượng tương đối có hai khía cạnh:
Thứ nhất, Đạt được mục tiêu phù hợp với tiêu chuẩn do người sản xuất
đề ra Khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên trong”
Thứ hai, Chất lượng được xem là sự thoả mãn tốt nhất những đòi hỏi của
người dùng, ở khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên ngoài”
Theo cách tiếp cận trên thì tại mỗi trường, cơ sở đào tạo cần xác định mục tiêu và chiến lược sao cho phù hợp với nhu cầu của người học, của xã hội để đạt được “chất lượng bên ngoài” đồng thời phải cụ thể hoá các mục tiêu trên thông qua quá trình tổ chức, phối hợp giữa các bộ phận… Các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng vào nhằm mục đích đạt mục tiêu đó, đạt
“chất lượng bên trong”
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ quan niệm về chất lượng đào tạo
Nhu cầu xã hội
Kết quả đào tạo khớp với mục tiêu đào tạo Đạt chất lượng trong
Kết quả đào tạo
Kết quả đào tạo phù hợp với nhu cầu xã hội Đạt chất lượng
Mục tiêu đào tạo
Trang 23Nguồn: Quản lý và kiểm định chất lượng theo ISO và TQM
Sản phẩm của quá trình đào tạo là con người và các dịch vụ đào tạo (đầu ra) của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân văn và năng lực vận hành nghề nghiệp Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo với những điều kiện đảm bảo chất lượng như: cơ
sở vật chất, đội ngũ giảng viên,… mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của HSSV tốt nghiệp đối với yêu cầu công việc, nhu cầu của người
sử dụng lao động và xã hội, của quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của người học
Quá trình thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lượng đào tạo mà còn phụ thuộc vào các yếu tố thị trường như Quan hệ cung - cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và bố trí công việc của Nhà nước, người sử dụng lao động Do đó, khả năng thích ứng còn phản ánh
cả về hiệu quả đào tạo ngoài xã hội và thị trường lao động được thể hiện rõ hơn qua sư đồ sau:
Quá trình đào tạo
Kiến thức
Kỹ năng Thái độ
Mục tiêu đào tạo
Chất lượng đào tạo
- - Đặc trưng, giá trị nhân cách, xã hội, nghề nghiệp;
- - Giá trị sức lao động;
- - Năng lực hành nghề;
- - Trình độ chuyên môn nghề nghiệp (kiến thức, kỹ năng,…)
- - Năng lực thích ứng với thị trường lao động
Trang 24Sơ đồ 1.2 Sơ đồ mối quan hệ giữa mục tiêu đào tạo và chất lượng đào tạo
Nguồn: Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực - theo ISO
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch
1.2.1 Kinh tế và sự phát triển về du lịch
Thực trạng nền kinh tế có ảnh hưởng đến nhiều ngành nghề, lĩnh vực chứ không chỉ riêng giáo dục Đại học và các trường cao đẳng du lịch Trong Luật
Du lịch Việt Nam 2005 cũng đã khẳng định: “Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên vùng, liên ngành và xã hội hoá cao” Kinh tế phát triển, thịnh vượng, đời sống người dân
ổn định và được cải thiện, thu nhập tăng khiến cho nhu cầu du lịch phát sinh tăng, mọi người đầu tư tài chính nhiều hơn cho việc đi du lịch đồng thời cũng chi tiêu nhiều hơn cho du lịch, tức là kéo theo sự phát triển ngày một mạnh của ngành du lịch
Khi mà khách du lịch phải bỏ ra số tiền lớn cho các dịch vụ du lịch thì họ cũng có những yêu cầu khắt khe hơn về tiêu chuẩn phục vụ, chất lượng dịch vụ…; đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh du lịch phải đầu tư vốn nhiều hơn cho cơ sở vật chất hạ tầng, thị trường du lịch sẽ thiếu một số lượng lớn lao động, nhu cầu việc làm trong ngành tăng lên đắng kể, đặc biệt lao động trong
du lịch cần phải được chuyên nghiệp hóa, nâng cao tay nghề và các kỹ năng phục vụ cũng như giao tiếp với khách hàng đảm bảo tối đa hóa sự hài lòng của khách hàng
Tuy nhiên, sự thiếu hụt nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng đang là thách thức lớn đối với ngành du lịch trước yêu cầu của thị trường Có một thực tế cho thấy các khách sạn cao cấp ở các thành phố lớn đều vấp phải khó khăn trong việc tìm kiếm nhân viên đã qua đào tạo một cách chuyên nghiệp, bài bản, giỏi tin học và thông thạo ngoại ngữ Chính vì thế
Trang 25hầu hết các sinh viên chuyên ngành du lịch khi được nhận vào làm việc tại các khách sạn này đều phải qua lớp đào tạo ngắn hạn tại chỗ theo mục tiêu của từng công ty, từng doanh nghiệp
Điều này tất yếu dẫn đến việc cần phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch Chính vì thế, các trường cao đẳng du lịch cần phải mở rộng quy mô tuyển sinh, đào tạo và đào tạo nhân lực du lịch chất lượng cao trở thành mục tiêu của hầu hết các trường cao đẳng du lịch
Nhưng, muốn nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch trước hết phải nâng cao chất lượng người thầy, các trường cao đẳng du lịch cần có chính sách phát triển đội ngũ giảng viên cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu nhân lực du lịch cấp thiết hiện nay Bên cạnh đó, nền kinh tế phát triển, giá cả ổn định, thu nhập và lương tăng, đời sống của giảng viên du lịch được cải thiện, họ có điều kiện tập trung công tác giảng day, khiên cứu khoa học, học tập bồi dưỡng và gắn bó lâu dài với nghề; đó là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng giảng dạy du lịch tại nước ta hiện nay
Ngược lại, nếu nền kinh tế kém phát triển, suy thoái hay lạm phát, hoạt động kinh doanh, đầu tư của các doanh nghiệp bị thu hẹp, tiền công và giá cả trở nên khó kiểm soát, người dân thắt chặt chi tiêu, tập trung vào những nhu cầu thiết yếu trước tiên nhu cầu du lịch giảm sút, kinh doanh du lịch sẽ trở nên ảm đạm hơn bao giờ hết, nhu cầu việc làm trong ngành du lịch không còn cấp thiết, thu nhập giảm thậm chí nhiều lao động du lịch bỏ nghề hoặc chuyển sang làm những nghề có thu nhập cao hơn Đây sẽ là rủi ro lớn đối với các trường đào tạo du lịch tại nước ta
Bên cạnh đó, sự phát triển của du lịch cũng là yếu tố hấp dẫn người học bởi “đầu ra” sau tốt nghiệp ra trường Nếu ngay sau khi tốt nghiệp ra trường sinh viên nhành du lịch dễ dàng tìm được cho mình một công việc phù hợp,
Trang 26với mức thu nhập tương đối sẽ là yếu tố rất quan trọng để thu hút được 1 lượng sinh viên lớn tham gia học chuyên ngành này
1.2.2 Quan niệm của xã hội về bằng cấp và nghề nghiệp
Quan niệm coi trọng bằng cấp của xã hội và người học vẫn còn tồn tại làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Tư duy của nhiều HSSV đến trường, đến lớp là học cho qua hoặc là để đối phó với thầy cô và nhà trường Kết thúc khoá học để nhận được bằng cấp mà không quan tâm nhiều đến kiến thức, không quan tâm đến rèn luyện các kỹ năng mềm Nếu tâm lý coi trọng bằng cấp của người học bị xoá bỏ, lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về các trường có chất lượng đào tạo tốt hơn Các trường, các cơ sở đào tạo muốn giữ được uy tín, tạo sức hút đối với người học và xã hội thì phải đổi mới mạnh mẽ nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo
Bên cạnh đó, một công việc của một nữ nhân viên tại một Nhà hàng, khách sạn nào đó vẫn là một định kiến trong xã hội đặc biệt là ở nông thôn nên họ cũng ít thích cho con em mình theo học những ngành này Vì vậy, đa phần những học sinh là nữ giới (đầu vào) sẽ có xu hướng lựa chọn cho mình một nghề khác để theo học
1.2.3 Những ảnh hưởng của công nghệ đến sự phát triển của Du lịch
Thời đại công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bão, công nghệ len lỏi trong mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, mọi nền kinh tế Ngành Du lịch cũng vậy, các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn du lịch hiện nay việc mua bán, trao đổi với khách hàng thường thông qua internet Thậm chí, chỉ cần ngồi tại nhà, bằng một cái click chuột, khách hàng có thể đặt phòng và các dịch vụ của khách sạn hay đặt tour du lịch theo yêu cầu và được phục vụ tận tình chu đáo
Du lịch phát triển hàng ngày, hàng giờ, thông tin về các tuyến điểm du lịch có thể thay đổi thường xuyên; ngay cả trong các khách sạn, nhà hàng hiện nay
Trang 27cũng đưa nhiều máy móc công nghệ mới vào trong phục vụ Nếu không có kiến thức công nghệ thông tin, thật khó để HSSV ra trường không bị tụt hậu
và kiến thức không bị lỗi thời
Công nghệ thông tin, máy móc hiện đại giúp ích cho con người trong tìm kiếm dữ liệu, cập nhật thông tin, học hỏi các kinh nghiệm tri thức mới, tiên tiến nhằm ứng dụng vào thực tế công việc hoặc nghiên cứu và không bị tụt hậu Đồng thời cũng tạo cơ hội cho giáo dục nghề nghiệp Việt Nam nhanh chóng tiếp cận trình độ tiên tiến Khoa học công nghệ phát triển nhanh đòi hỏi người lao động phải nắm bắt kịp thời và làm chủ công nghệ mới; đối với các trường cần phải đổi mới trang thiết bị dạy và học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
1.2.4 Chính sách pháp luật của nhà nước
Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Điều này đòi hỏi giáo dục phải có chiến lược phát triển đúng hướng, hợp quy luật, xu thế và xứng tầm thời đại
Các cơ chế, chính sách liên quan đến việc nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của chính phủ, hệ thống pháp luật hiện hành có liên quan đến du lịch và giáo dục - đào tạo; các xu hướng chính trị, ngoại giao của chính phủ và những diễn biến chính trị trong nước, trong khu vực và trên toàn thế giới.Chính trị ổn định là nền tảng vững chắc để mọi ngành nghề, lĩnh vực trong xã hội phát triển Quốc gia có nền chính trị hòa bình, tình hình an ninh đảm bảo là yếu tố quảng cáo hữu hiệu cho du lịch của quốc gia đó, thu hút được nhiều khách du lịch quốc
tế đến, thúc đẩy du lịch phát triển mạnh mẽ Các chính sách thương mại, thuế quan, thủ tục xuất nhập cảnh… rõ ràng, hành lang pháp lý thuận lợi cũng là
cơ hội tốt cho kinh doanh du lịch Do đó giảng viên về du lịch cần phải phát
Trang 28triển về số lượng để đảm bảo yêu cầu đào tạo du lịch gia tăng, đồng thời tăng cường học hỏi, nâng cao trình độ, chuyên môn để đào tạo ra những lao động
du lịch chất lượng nhằm phục vụ khách hiệu quả và giữ chân khách hàng
Chính sách về lao động, việc làm và tiền lương của nhà nước đối với lao động qua đào tạo; chính sách về thu nhập, trợ cấp đối với giáo viên để họ yên tâm giảng dạy, nghiên cứu khoa học cũng là một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến số lượng, chất lượng đội ngũ giảng viên Tiền lương ổn định, xu hướng tăng sẽ giúp người giảng viên ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với nghề, tạo động lực nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng nâng cao trình độ, từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy, thậm chí thu hút người lao động tham gia vào sự nghiệp giáo dục và ngược lại
Các chính sách về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đào tạo đối với giáo dục đào tạo Thực tế cho thấy, việc thẩm định, cho phép thành lập trường đại học, cao đẳng của các Bộ, ngành trong thời gian qua quá dễ dãi Tăng số lượng các trường, tăng quy mô đào tạo nhưng những điều kiện khác đi kèm lại không theo kịp làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo
Cơ chế, chính sách còn có thể làm kìm hãm hoặc khuyến khích việc huy động các nguồn lực để cải tiến nâng cao chất lượng cũng như mở rộng liên kết, hợp tác quốc tế trong công tác đào tạo thông qua công tác tài chính, cung cấp vốn đầu tư hoặc giao các chỉ tiêu đầu vào khác
Các chính sách về đầu tư, về tài chính đối với các cơ sở có đào tạo, quy định về quản lý chất lượng đào tạo
Như vậy, cơ chế chính sách tác động đến tất cả các khâu từ đầu vào, quá trình tổ chức đào tạo và khâu đầu ra của các trường
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nhân lực tại các trường cao đẳng, đại học đào tạo về du lịch
Trang 291.3.1 Nhân tố thuộc môi trường ngành
1.3.1.1 Cơ chế, chính sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ liên quan
Cơ chế, chính sách của Bộ giáo dục và đào tạo là tiền đề, là cơ sở để các trường đưa ra các quyết định, các biện pháp, đường lối hoạt động của mình cho phù hợp, thống nhất với mục tiêu chung, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục; thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục
Xác định giáo dục ngày càng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, hợp quy luật, xu thế và xứng tầm thời đại, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Luật Giáo dục 2005 và được sửa đổi 2012, chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 và nhiều quy chế, chỉ thị như Chỉ thị số 4899/CT - BGDĐT ngày 04 tháng 8 năm 2009, thông tư số 07 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hay Quy chế số 84 của Bộ Giáo dục và Đào tạo với mục tiêu “Đổi mới quản lý
và nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường học” cho phép các cơ sở này được:
- Đa dạng hoá các ngành nghề đào tạo, các hình thức đào tạo, các hệ đào tạo;
- Triển khai mạnh mẽ hơn nhiệm vụ đào tạo theo nhu cầu xã hội; đẩy mạnh hợp tác với các đơn vị sử dụng nhân lực; tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp
* Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học VN giai đoạn 2006-2012
Để nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới, giáo dục đại học nước ta phải đổi mới một cách mạnh mẽ, cơ bản và toàn diện Tại
Trang 30phiên họp Chính phủ tháng 7 năm 2005, Chính phủ đã quyết nghị về Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam với mục tiêu có liên quan đến việc nâng cao chất lượng đào tạo như:
- Mở rộng quy mô đào tạo, đạt tỷ lệ 450 sinh viên/1 vạn dân vào năm
2020, trong đó khoảng 70 - 80% tổng số sinh viên theo học các chương trình nghề nghiệp- ứng dụng và khoảng 40% tổng số sinh viên thuộc các cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập
- Xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học đủ về
số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiên tiến; bảo đảm tỷ lệ sinh viên/giảng viên của cả hệ thống giáo dục đại học không quá 20 Đến năm
2020 có ít nhất 60% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ và 35% đạt trình độ tiến sĩ
- Nâng cao rõ rệt quy mô và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học
Trước các mục tiêu trên, nghị quyết đã đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp:
- Đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng giảng viên; Xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ giảng viên bảo đảm đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng giảng viên Chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của giảng viên
- Đổi mới phương thức tuyển dụng theo hướng khách quan, công bằng
và có yếu tố cạnh tranh Hoàn thiện và thực hiện cơ chế hợp đồng dài hạn; bảo đảm sự bình đẳng giữa giảng viên biên chế và hợp đồng
- Xây dựng và ban hành chính sách mới đối với giảng viên bao gồm tiêu chuẩn giảng viên, định mức lao động, điều kiện làm việc, nhiệm vụ khoa học
và công nghệ; Ban hành chính sách, chế độ kiêm nhiệm giảng dạy
Trang 31- Đổi mới quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư; Cải cách thủ tục hành chính xét công nhận giảng viên, giảng viên chính
* Thông tư số 14/2009/TT-BGDĐT ban hành Điều lệ Trường Cao đẳng
Tại điều 6 của Điều lệ có quy định một số nhiệm vụ của trường cao đẳng như sau:
- Đào tạo nhân lực trình độ cao đẳng có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt,
có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp phù hợp, đáp ứng nhu cầu của xã hội, có khả năng hợp tác trong hoạt động nghề nghiệp, tự tạo được việc làm cho mình
và cho xã hội
- Thực hiện dân chủ, bình đẳng, công khai trong việc bố trí và thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, khoa học, công nghệ và hoạt động tài chính; quản lý giảng viên, xây dựng đội ngũ giảng viên của trường đủ về số lượng, đảm bảo yêu cầu về chất lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và trong đội ngũ cán bộ giảng viên của trường
- Tổ chức cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với ngành nghề đào tạo Chăm lo đời sống và bảo
vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của cán bộ, giảng viên nhà trường
Từ định hướng, chiến lược, các quy chế, chỉ thị trên các trường phải đánh giá, nhìn nhận lại mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo của cơ sở mình nhằm xây dựng cho mình một chiến lược đào tạo phù hợp
1.3.1.2 Cơ chế, chính sách của ngành Du lịch
Cơ chế chính sách của ngành du lịch đặc biệt là chính sách đầu tư phát triển du lịch đã làm cho cơ sở vật chất kỹ thuật đào tạo được được quan tâm đầu tư mới hoặc nâng cấp, từng bước đổi mới, hiện đại hoá Các định hướng phát triển du lịch theo từng giai đoạn tạo tiền đề cho du lịch phát triển, từ đó
Trang 32làm cho thị trường lao động trong ngành Du lịch sôi động, đó là cơ hội để các trường cao đẳng thu hút tuyển sinh, cơ hội việc làm Các dự án đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch của ngành hoặc liên kết với các tổ chức nước ngoài trong đó có đào tạo và phát triển nhân lực du lịch nằm nâng cao chất lượng đào tạo du lịch trong các trường cao đẳng du lịch đã làm cho nhiều cơ
sở đào tạo (các trường đào tạo về du lịch) được hưởng lợi từ việc được cử giáo viên đi học đến việc được trang bị các trang thiết bị học thực hành, thí nghiệm, cung cấp các tài liệu du lịch, kỹ năng nghề du lịch, báo tạp chí du lịch…; đó là nguồn tư liệu, nguồn thông tin hữu ích, quý giá cho đội ngũ giảng viên cũng như HSSV du lịch của các trường
1.3.2 Nhân tố nội tại từng trường
Nhóm nhân tố này bao gồm mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, người dạy, người học, cơ sở vật chất kỹ thuật, quá trình đào tạo và môi trường giáo dục
1.3.2.1 Mục tiêu đào tạo
Cơ sở giáo dục nào cũng phải xác định mục tiêu giáo dục là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo,
có sức khoẻ đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Mục tiêu đào tạo là kim chỉ nam cho các cơ sở đào tạo nói chung và cho các trường cao đẳng du lịch nói riêng
1 3.2.2 Chương trình, nội dung giáo dục
Chương trình giáo dục quy định được chuẩn về kiến thức, kỹ năng, phạm vi các cấu trúc nội dung, đảm bảo các yêu cầu về đầu ra Nội dung giáo dục phải có tính hiện đại và phát triển, đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản, ngoại ngữ, công nghệ thông tin với kiến thức chuyên môn
Trang 33và các bộ môn khoa học Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng, kế thừa phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hoá dân tộc, tương ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới
1.2.3.3 Người dạy học - Nhà giáo
Người dạy học của các trường cao đẳng du lịch được tuyển dụng theo phương thức ưu tiên với những sinh viên học chuyên ngành Du lịch đạt khá
và giỏi có phẩm chất tốt, được bồi dưỡng kiến thức sư phạm và được đào tạo nâng cao trình độ, đạt chuẩn của một giảng viên trường cao đẳng du lịch để làm giảng viên hướng dẫn thực hành các kỹ năng Tiếp đó là tuyển dụng những người có trình độ đại học, thạc sỹ, tiến sỹ, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có nguyện vọng trở thành nhà giáo, yêu ngành nghề, tôn trọng và quý mến HSSV để làm giảng viên truyền đạt cả về kiến thức và kỹ năng Người dạy phải được bồi dưỡng kiến thức về sư phạm và bồi dưỡng đạt chuẩn của giảng viên trường cao đẳng
Trang 34góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường Những người học như vậy chắc chắn góp phần quyết định đến việc nâng cao chất lượng đào tạo
1.3.2.4 Cơ sở vật chất
Đó là sự đầu tư xây dựng, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ, xây dựng các khách sạn, nhà hàng, cơ sở thực hành nghề, dụng cụ học tập, rèn luyện thân thể thông qua gáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng Đó là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo chất lượng đào tạo
1.3.2.5 Quy trình đào tạo
Quy trình đào tạo của một trường cao đẳng hay một cơ sở đào tạo đóng góp một phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng đào tạo Trước hết là phương pháp giáo dục phải đảm bảo cho sinh viên có kiến thức cơ bản và kiến thức chuyên môn tương đối hoàn chỉnh, có phương pháp làm việc khoa học, có năng lực vận dụng lý thuyết vào công tác chuyên môn Thực hiện tốt phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo, tổ chức quản lý và thực hiện quy trình đào tạo
1 3.2.6 Môi trường đào tạo
Môi trường đào tạo có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo Môi trường đào tạo trước hết phải nói đến môi trường cảnh quan của một trường sao cho đáp ứng được mục tiêu của việc đào tạo Vấn đề này của nước
ta trở lên bức xúc của xã hội, đặc biệt càng quan trọng đối với các trường đào tạo về du lịch, khi mà nạn ô nhiễm môi trường xâm lấn, quỹ đất hạn hẹp Môi trường đào tạo còn bao hàm nhiều lĩnh vực khác như: Quan hệ của nhà trường với gia đình và xã hội, với địa phương và với các tổ chức đoàn thể,
tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, các quỹ khuyến học, quỹ bả trợ xã hội Ngoài ra, còn phải kể đến uy tín và thương hiệu của các trường cao đẳng du lịch Điều này ảnh hưởng tích cực đến quy mô đào tạo, chỉ tiêu tuyển
Trang 35sinh hàng năm Bất cứ người học nào khi lựa chọn cho mình một một môi trường để học tập cũng muốn lựa chọn những nơi có uy tín, được nhiều người biết đến Uy tín và thương hiệu của nhà trường mạnh giúp ích rất lớn không chỉ đầu vào mà còn với cả đầu ra của sinh viên
Công tác đào tạo có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, không chỉ những quốc gia phát triển mà cả những quốc gia đang phát triển trên thế giới đều nhận thức rõ vấn đề này Vấn đề đâu là chìa khoá thành công cho mỗi quốc gia và làm thế nào để đưa đất nước của mình bắt nhịp được với nền kinh tế tri thức? Để thực hiện được điều đó các quốc gia đều coi trọng việc đầu tư nâng cao về chất lượng đào tạo nhân lực Bên cạnh việc nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực cho các ngành kinh tế trọng điểm, mũi nhọn như Tài chính - Ngân hàng, Công nghệ Thông tin - Truyền thông, Đóng tàu thì việc nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực cho ngành Du lịch
là hết sức cấp thiết Muốn công tác này đạt hiệu quả cao đòi hỏi các trường, các cơ sở có đào tạo về Du lịch phải đặc biệt quan tâm vì đây chính là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo và làm lên thương hiệu cho Nhà trường
Trang 36Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng về công tác đào tạo nhân lực du lịch tại Trường Cao đẳng
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và phù hợp với tính chất, phạm vi của
đề tài, tác giả dự kiến sẽ sử dụng một số phương pháp sau đây:
2.2.1 Phương pháp điều tra thực địa
Tiến hành điều tra, khảo sát thực tế tại địa bàn nghiên cứu Sử dụng phương pháp này để thu thập, tích luỹ tài liệu, thông tin thực tế Kết quả điều tra thực tế này là cơ sở ban đầu và thẩm định lại một số nhận định trong quá trình nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp phân tích tổng hợp so sánh
Phương pháp này dự kiến được sử dụng để xử lý tư liệu, số liệu về hoạt động đào tạo nhân lực du lịch của các trường cao đẳng du lịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương mà điển hình là Trường Cao đẳng Kỹ thuật Khách sạn và
Du lịch Từ đó có những đánh giá và đưa ra cách khắc phục những hạn chế tồn tại
Trang 372.2.3 Phương pháp thu thập số liệu /thông tin /dữ liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp: Dựa trên các báo cáo thông kê về kết quả công tác đào tạo nghề hằng năm của Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại như: Quy mô HSSV tham gia học nghề hằng năm, cơ cấu ngành nghề đào tạo của Nhà trường, số lượng giáo viên tham gia dạy nghề, chương trình đào tạo nghề, kết quả học tập của HSSV học nghề, việc làm của HSSV học nghề,… Các số liệu trên sẽ được so sánh giữa các năm với nhau để phân tích hoạt động dạy nghề của Nhà trường về mặt định lượng, làm cơ sở rút ra các kết luận nhằm đánh giá công tác đào tạo nghề của Nhà trường
- Thu thập số liệu sơ cấp: Sử dụng phiếu điều tra để thu thập thông tin trên các khía cạnh như:
Điều tra về nhu cầu đào tạo và điều tra về năng lực đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Hải Dương;
Lập phiếu điều tra, chọn ra mẫu để nghiên cứu việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại Để đạt được mục tiêu nghiên cứu tác giả chọn điểm nghiên cứu dựa trên tiêu chí sau:
+ Các trường Cao đẳng nghề, và trường cao đẳng có hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Hải Dương
+ Phỏng vấn cán bộ, giáo viên và học sinh tại Trường Cao đẳng Du lịch
và Thương mại
2.2.4 Phương pháp dự báo
Sử dụng phương pháp này để xác định nhu cầu về nhân lực ngành Du lịch trong tương lai để từ đó có một phương hướng, một cái đích để các trường đào tạo về du lịch hướng tới và theo đuổi
2.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nhân lực
Chất lượng đào tạo nhân lực được thể hiện qua chính năng lực của người học sau khi hoàn thành một chương trình đào tạo Năng lực này bao gồm các thành tố sau:
Trang 38- Trình độ kiến thức được đào tạo
- Kỹ năng, kỹ xảo thực hành được đào tạo
- Năng lực nhận thức và năng lực tư duy qua quá trình đào tạo
- Phẩm chất nhân văn được đào tạo
2.3.1 Trình độ kiến thức được đào tạo
Trình độ kiến thức này chính là khối lượng nội dung được quy định trong chương trình khung của Bộ giáo dục và Đào tạo phù hợp với chuyên ngành đào tạo và thực hiện được các mục tiêu đào tạo đã đề ra Trình độ kiến thức được đào tạo bao gồm: Kỹ năng, kỹ xảo và Năng lực nhận thức, tư duy
2.3.2 Kỹ năng, kỹ xảo
Kỹ năng, kỹ xảo được phân thành 5 cấp độ từ thấp đến cao, cụ thể như sau: Cấp độ 1: Bắt chước (Tức là quan sát và lặp lại được 1 kỹ năng nào đó) Cấp độ 2: Thao tác (Tức là hoàn thành một kỹ năng nào đó theo chỉ dẫn, không phải là bắt chước một cách máy móc)
Cấp độ 3: Chuẩn hoá (Tức là lặp lại một kỹ năng nào đó một cách chính xác, nhịp nhàng một cách độc lập mà không cần hướng dẫn)
Cấp độ 4: Phối hợp (Tức là kết hợp được nhiều kỹ năng theo thứ tự xác định một cách nhịp nhàng và ổn định)
Cấp độ 5: Tự động hoá (Tức là hoàn thành một hay nhiều kỹ năng một cách dễ dàng, thuần thục, không đòi hỏi phải gắng sức về thể lực hay trí tuệ)
2.3.3 Năng lực nhận thức và tư duy
* Năng lực nhận thức được chia thành 8 cấp độ như sau:
- Biết: Tức là ghi nhớ được các sự kiện, thuật ngữ và các nguyên lý mà mình đã được học
- Hiểu: hiểu được các tư liệu đã được học, có thể diễn giải, mô tả tóm tắt các thông tin đã thu nhận được
- Áp dụng: Áp dụng được các thông tin, kiến thức vào giải quyết các tình huống khác
Trang 39- Phân tích: Biết cách tổng thể thành bộ phận và biết rõ sự liên hệ giữa các thành phần đó đối với nhau theo cấu trúc của chúng
- Tổng hợp: Biết kết hợp các bộ phận thành một tổng thể mới từ tổng thể ban đầu
- Đánh giá: Biết so sánh, phê phán, chọn lọc, quyết định và đánh giá trên cơ sở các tiêu chí đã xác định
- Chuyển giao: Có khả năng diễn giải và truyền thụ kiến thức đã tiếp thu được cho đối tượng khác
- Sáng tạo: Tạo ra những giá trị mới trên cơ sở các kiến thức đã tiếp thu được
* Năng lực tư duy được chia thành 4 cấp độ như sau:
- Tư duy logic: Suy luận theo một chuỗi có tuần tự, có khoa học và hệ thống
- Tư duy trìu tượng: Suy luận một cách khá quát hoá, tổng quát hoá ngoài những khuôn khổ có sẵn
- Tư duy phê phán: Suy luận một cách có hệ thống, có nhận xét, có phê phán
- Tư duy sáng tạo: Suy luận các vấn đề một cách mở rộng và ngoài các khuôn khổ có sẵn, tạo ra những cái mới…
2.3.5 Khả năng làm việc sau tốt nghiệp ra trường
Khả năng làm việc của HSSV ngành Du lịch sau tốt nghiệp ra trường được thể hiện ở những kiến thức cơ bản, hệ thống, hiện đại về lịch sử, văn
Trang 40hóa, kinh tế - xã hội, ngoại ngữ… và những kỹ năng theo chuyên ngành để sinh viên dễ dàng tiếp cận thị trường lao động sau khi tốt nghiệp
Với phương châm “Học đi đôi với hành” sinh viên ngành Du lịch phải được tham gia các hoạt động ngoại khóa và tham quan thực tế tại các khách sạn, các khu du lịch điển hình, các khu di tích lịch sử, văn hóa, khu du lịch sinh thái và các điểm tham quan hấp dẫn du khách từ Bắc tới Nam, thậm chí ở nước ngoài
Ví dụ:
Sinh viên chuyên ngành Quản trị Nhà hàng - Khách sạn: Có kiến
thức cơ bản, hệ thống, hiện đại về lịch sử, văn hóa, kinh tế - xã hội và quản trị kinh doanh du lịch, những kỹ năng chuyên sâu về quản trị doanh nghiệp khách sạn, lữ hành và các khu nghỉ dưỡng, có khả năng hoạch định chính sách, chiến lược, kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp, biết tổ chức các hoạt động văn hóa, hoạt động kinh doanh phục vụ cho du lịch Sinh viên tốt nghiệp làm việc trong các khu nghỉ dưỡng, khách sạn, nhà hàng thuộc ngành Du lịch
Sinh viên chuyên ngành Quản trị Lữ hành - Hướng dẫn Du lịch: Có
kiến thức cơ bản, hệ thống, hiện đại về lịch sử, văn hóa, kinh tế - xã hội và thiết thực về Việt Nam học, am hiểu về đất nước con người của các nước trên thế giới, những kỹ năng chuyên sâu về hướng dẫn du lịch, có khả năng giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam, sự nghiệp đổi mới của Việt Nam cho khách trong nước và quốc tế, biết tổ chức các hoạt động văn hóa phục vụ cho
du lịch Sinh viên tốt nghiệp làm việc trong các công ty du lịch, lữ hành, các khu di tích lịch sử, văn hóa, khu du lịch trong cả nước, thậm chí có thể làm việc được ở các công ty nước ngoài
Khả năng làm việc sau tốt nghiệp ra trường phải đảm bảo trên 90% số sinh viên ra trường đã có việc làm phù hợp với ngành nghề mà mình đã học tại trường Thậm chí trong quá trình đang học tập tại trường (nhà trường cử đi