1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven Thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ

111 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế thu hồi đất và mức sống của các hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã v

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

PHẠM QUANG BÌNH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO MỨC SỐNG CHO CÁC HỘ DÂN SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI CÁC XÃ VÙNG VEN THÀNH PHỐ

VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN, 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

PHẠM QUANG BÌNH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO MỨC SỐNG CHO CÁC HỘ DÂN SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI CÁC XÃ VÙNG VEN THÀNH PHỐ

VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

Mã số: 60.34.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS PHÍ VĂN KỶ

THÁI NGUYÊN, 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế thu hồi đất và mức sống của các hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Tác giả luận văn

Phạm Quang Bình

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn, đề tài:

"Một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ"

Tôi luôn nhận được sự giúp đỡ dận tình quý báu của nhà trường, các thầy, cô giáo, bạn bè, gia đình và nông nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến:

Ban Giám hiệu trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, các quý thầy cô giáo đã tạo điều kiện cùng với sự tận tình giảng dạy, giúp đỡ động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn TS Phí Văn Kỷ đã tận tình hướng dẫn trong quá trình tôi thực hiện đề tài

Trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường Đại học Công nghiệp Việt Trì, Lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho tôi được tham gia và hoàn thành khóa đào tạo thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế

Trong quá trình nghiên cứu, dù đã cố gắng thật nhiều, nhưng do kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được sự cảm thông và góp ý của quý thầy, cô giáo, đồng nghiệp và những người quan tâm đến đề tài này

Thái Nguyên, tháng 2 năm 2013

Tác giả luận văn

Phạm Quang Bình

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Những đóng góp của đề tài 3

5 Bố cục của Luận văn 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5

1 Công nghiệp hóa, đô thị hóa và tác động của nó đến việc làm của người dân 5

1.1.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa 5

1.1.2 Sự cần thiết phải thu hồi đất để phục vụ công nghiệp hóa, đô thị hóa 9

1.2 Khái niệm về mức sống và các chỉ tiêu đánh giá về mức sống 16

1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá về mức sống 17

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới mức sống 30

1.3.1 Những yếu tố thuộc về địa lý tự nhiên và yếu tố dân cư, con người 30

1.3.2 Những yếu tố thuộc về kinh tế xã hội 30

1.3.3 Những yếu tố thuộc tâm lý, sức khỏe, giáo dục 32

1.4 Kinh nghiệm của một số địa phương giải quyết ổn định đời sống và phát triển kinh tế sau thu hồi đất 32

1.4.1 Ở tỉnh Bắc Ninh 32

1.4.2 Ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên 33

Trang 6

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 38

2.2 Phương pháp nghiên cứu 38

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 38

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 39

2.2.3 Phương pháp tổng hợp thông tin 41

2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 41

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 41

Chương 3: THỰC TRẠNG VỀ MỨC SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI CÁC XÃ VÙNG VEN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ THỜI KỲ 2010 - 2012 44

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 44

3.1.1 Khái quát chung về thành phố Việt Trì 44

3.1.2 Quá trình di dời giải toả và tái định cư ở thành phố Việt Trì 45

3.2 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và mức sống của người dân sau thu hồi đất tạ ệt trì giai đoạn 2010-2020 50

3.2.1 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệ ạ ệt Trì 2010-2020 (lấy điểm nghiên cứu ở ba xã: Trưng Vương, Hy Cương và Dữu Lâu) 50

3.2.2 Đánh giá tác động của vấn đề thu hồi đất nông nghiệp đến thực trạng mức sống của người dân tạ ệt Trì từ năm 2010-2012 57

Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO MỨC SỐNG CHO CÁC HỘ DÂN SAU KHI BỊ THU HÓI ĐÁT NÔNG NGHIỆP TẠI CÁC XÃ VÙNG VEN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ 74

4.1 Định hướng quy hoạch phát triển thành phố Việt Trì đến năm 2020 74

4.1.1 Quy hoạch phát triển Thành Phố 74 4.1.2 Dự báo biến động đất thu hồi cho CNH- HĐH và Đô thị hóa và

Trang 7

Tác động qui hoạch đến mức sống các hộ dân 76

4.1.3 Các mục tiêu phấn đấu về đời sống cho hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất sản xuất 78

4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp 79

4.3 Một số kiến nghị 92

4.3.1 Kiến nghị với địa phương 92

4.3.2 Kiến nghị với Nhà nước 93

KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Địa điểm và cỡ mẫu 41 Bảng 3.1 Tỷ lệ số hộ nông dân và diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi

xã Trưng Vương các năm 2010 - 2012 51 Bảng 3.2 Tỷ lệ số hộ nông dân và diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi

xã Hy Cương các năm 2010-2012 51 Bảng 3.3 Tỷ lệ số hộ nông dân và diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi

phường Dữu Lâu các năm 2010 - 2012 52 Bảng 3.4 Tỷ lệ ủa các hộ bị thu hồi đất 52 Bảng 3.5 Số lượng và tỷ lệ về hồ sơ của mẫu điều tra 57

thu hồi đất nông nghiệp giai đoạn 2010-2012 (n = 210) 58 Bảng 3.7 Thu nhập bình quân theo đầu người 1 tháng theo giá thực tế

của các hộ sau thu hồi đất nông nghiệp các năm 2010 - 2012 59 Bảng 3.8 Tổng thu nhập của hộ gia đình và đầu người/tháng 61 Bảng 3.9 Tháp phân tầng mức sống theo thu nhập năm 2012 62 Bảng 3.10 Thu nhập đầu người/tháng theo độ dài thời gian sau thu hồi

đất năm 2012 63 Bảng 3.11 Mức chi tiêu bình quan năm 2012 65 Bảng 3.12 Bảng tương quan giữa nhóm tuổi chủ hộ với thu nhập và chi

tiêu bình quân đầu người/tháng của hộ gia đình 65 Bảng 3.13 Cơ cấu chi tiêu cho đời sống của hộ gia đình trước và sau

khi bị thu hồi đất nông nghiệp 68 Bảng 3.14 So sánh điều kiện nhà ở trước và sau tái định cư của các hộ

gia đình bị thu hồi đất 69 Bảng 3.15 So sánh đo dùng lâu bền trước và sau tái định cư của các hộ

gia đình bị thu hồi đất 70

Trang 10

Bảng 3.16 Tình hình GD - ĐT của người lao động trước và sau THĐ 71 Bảng 3.17 Tình hình sử dụng dịch vụ y tế của người lao động trước và

sau THD 72 Bảng 4.1 Dự báo quỹ đất thu hồi trong giai đoạn đến năm 2020 76

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp, nông thôn nước ta đang trên đường thực hiện CNH - HĐH, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá Đồng thời cũng là quá trình phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu công nghiệp, thương mại dịch vụ từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp Đây cũng là quá trình đô thị hóa nông nghiệp nông thôn với tốc độ ngày càng nhanh Việc thu hồi đất, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là yêu cầu tất yếu Điều đó tất nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến các

hộ nông dân sản xuất nông nghiệp: Thiếu đất sản xuất, lao động dư thừa, đời sống không ổn định người nông dân không tránh khỏi khó khăn khi mà việc tái định cư và những giải pháp chuyển đổi ngành nghề chưa phù hợp Hàng năm, ở nước ta có khoảng 50 đến 60 nghìn ha đất nông nghiệp được chuyển sang mục đích phi nông nghiệp, tương ứng với khoảng 1,5 lao động/hộ bị mất việc làm, phải chuyển đổi nghề nghiệp Không còn hoặc còn rất ít đất sản xuất nông nghiệp, nông dân phải tìm cách kiếm sống mới Với trình độ dân trí có hạn, quen lao động sản xuất nông nghiệp, người nông dân đã phải chật vật tìm kiếm việc làm sau khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp Có nhiều người phải đổ ra thành thị để kiếm việc làm và đối mặt với rủi ro của cuộc sống, một

số ít lao động trẻ được tuyển dụng vào làm việc trong khu công nghiệp, một

số lao động tìm kiếm việc làm tại các địa phương khác hoặc mở các dịch vụ Đảng và nhà nước ta cũng đã có nhiều biện pháp nhằm ổn định đời sống cho người nông dân sau khi bị thu hồi đất như: Chính sách định cư, chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề Mặc dù thế cuộc sống của người nông dân mất đất sản xuất nông nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn

Thành phố Việt Trì có diện tích tự nhiên là 106,36km2 và dân số là 270.167 người, là một trong những thành phố công nghiệp đầu tiên ở miền

Trang 12

Bắc vào đầu những năm 1960 của thế kỷ trước với các khu liên hợp: Nhà máy đường, giấy, mì chính, hóa chất, dệt còn được gọi là thành phố Ngã ba Sông

- nơi hợp lưu của sông Hồng, sông Lô, sông Đà

Đảng bộ thành phố đặt mục tiêu rút ngắn lộ trình xây dựng thành phố trở thành đô thị loại I vào năm 2012, thành phố đã tập trung xây dựng kết cấu

hạ tầng đô thị, mở rộng diện tích, tăng quy mô dân số, tính từ năm 2010 -

2012, thành phố Việt Trì đã tiến hành thu hồi và giao đất cho 216 dự án với tổng diện tích là 918,6ha, trong đó phần lớn là đất lúa, đất trồng màu và đất nuôi trồng thủy sản Đáng chú ý quá trình thu hồi đất thực hiện dự án, nhiều

hộ nông dân đã mất 50 - 70% thậm chí 100% đất sản xuất Không còn đất canh tác bắt buộc người nông dân phải chuyển đổi nghề nghiệp, song vấn đề

là chuyển đổi nghề như thế nào và thời gian bao lâu để người nông dân thích nghi với nghề mới, co thu nhập ổn định nhằm đảm bảo và nâng cao mức sống đang là một câu hỏi đặt ra?

Từ những kiến thức đã tiếp thu được, với vai trò là người đã trực tiếp làm công tác về tài nguyên và môi trường tại thành phố Việt Trì, tôi chọn đề

tài: "Một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ" làm luận văn thạc sỹ

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đánh giá thực trạng về mức sống của các hộ dân trước và sau khi bị thu hồi đất về các vấn đề: Thu nhập - Chi tiêu, lao động - việc làm, lương thực và dinh dương, giáo dục - đào tạo, Y tế - sức khỏe Qua đó đề xuất các giải pháp nâng cao mức sống của người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

2.2 Mục tiêu cụ thể

Trang 13

Để đạt mục đích trên, mục tiêu của luận văn là:

- Phân tích, đánh giá thực trạng việc thu hồi đất nông nghiệp, thực trạng mức sống của người dân tại các xã vùng ven thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ trong những năm qua

- Nghiên cứu làm rõ nội dung cơ sở lý luận và thực tiễn về mức sống của người dân sau thu hồi đất nông nghiệp;

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao mức sống của người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực tiễn cho thấy luôn có một hệ thống các chính sách đồng thời tác động đến mức sống của người nông dân, với phạm vi rất rộng gồm nhiều loại, tuy nhiên trong khuôn khổ của luận văn tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan mức sống của người dân trước và sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp về các vấn đề: thu nhập - chi tiêu, lao động - việc làm, lương thực và dinh dưỡng, giáo dục - đào tạo, Y tế - sức khỏe từ năm 2010 đến

2012 Vì vậy, đối tượng của luận văn là các hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp, các điều kiện sống của họ sau khi thu hồi đất

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Địa bàn nghiên cứu của luận văn lấy điểm ba phường, xã vùng ven (sau đây gọi là các xã): Dữu Lâu, Trưng Vương và Hy Cương của thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Thời gian nghiên cứu: từ 01/2010 đến 01/2013

4 Những đóng góp của đề tài

Kết quả của luận văn sẽ đóng góp những vấn đề sau:

- Về lý luận: Nghiên cứu làm rõ nội dung cơ sở lý luận và thực tiễn về

sự cần thiết nâng cao mức sống của người dân

Trang 14

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao mức sống của người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp

- Luận văn sẽ là tài liêu tham khảo cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn của các địa phương trong tỉnh

5 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày trong 4 chương: Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu;

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu;

Chương 3: Thực trạng về đời sống của hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven thành phố Việt Trì thời kỳ 2010 - 2012

Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao đời sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1 Công nghiệp hóa, đô thị hóa và tác động của nó đến việc làm của người dân

1.1.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa

CNH, HĐH, ĐTH là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển nhanh như vũ bão, kinh

tế tri thức dần đi vào cuộc sống và toàn cầu hóa là một xu thế không có gì cưỡng lại được, thì CNH, ĐTH là con đường giúp các nước chậm phát triển rút ngắn khoảng cách so với các nước đi trước

Thực tiễn, phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy: CNH, HĐH và ĐTH là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất truyền thống, tiểu nông sang phương thức sản xuất mới hiện đại, do đó cũng làm thay đổi nội dung KT - XH nông thôn Trong nền kinh tế hiện đại, CNH, HĐH và ĐTH có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một tiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển KT -

XH Về mặt kinh tế, CNH, HĐH làm thay đổi phương thức sản xuất và cơ cấu nền kinh tế, chuyển nền kinh tế sang một bước phát triển mới về chất, đó là nền kinh tế dựa trên nền đại công nghiệp và dịch vụ chất lượng cao Về mặt xã hội,

đó là quá trình ĐTH Trong nền kinh tế hiện đại, ĐTH không chỉ đơn thuần là

sự hình thành các đô thị mới mà còn là một nấc thang tiến hóa vượt bậc của xã hội với một trình độ văn minh mới, một phương thức phát triển mới Đó là cách thức tổ chức, bố trí lực lượng sản xuất, cơ cấu lại nền kinh tế

Công nghiệp hóa

Khi tiến hành CNH ở Tây Âu đã hình thành nền khái niệm CNH, lúc này người ta coi CNH là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động

Trang 16

sử dụng máy móc Các khái niệm kinh tế nói chung và khái niệm CNH nói riêng mang tính lịch sử, thay đổi cùng thời đại

Kế thừa văn minh nhân loại và kinh nghiệm của lịch sử tiến hành CNH

và thực tiễn CNH ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy, khóa VI và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận định:

"CNH là quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện các hoạt động kinh doanh, dịch vụ và quản lý KT - XH từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao"

Quá trình CNH ở nước ta trong thời kỳ này có những đặc điểm riêng sau đây:

Thứ nhất, CNH phải gắn liền với HĐH

Thứ hai, CNH nhằm mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc và CNXH Thứ ba, CNH trong điều kiện nền kinh tế thị trường phải có sự điều tiết

Trang 17

Đô thị hóa Theo quan điểm một vùng, ĐTH là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị

Theo quan điểm nền kinh tế quốc dân, ĐTH là quá trình biến đổi về sự phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất, bố trí dân cư những vùng không phải

đô thị thành đô thị

Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm ĐTH, song ngày nay khi mà ĐTH gắn liền với CNH đang diễn ra mạnh mẽ và phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới thì nhiều nhà khoa học ngày càng ngả sang cách

hiểu: ĐTH là quá trình mang tính quy luật gắn liền với sự chuyển dịch CCKT

và cơ cấu xã hội từ nông nghiệp - nông dân - nông thôn sang công nghiệp - thị dân - đô thị, với những đặc trưng sau:

Một là, ĐTH không phải là kết quả mà là một quá trình lâu dài diễn ra

trên một không goan lãnh thổ rộng lớn

Hai là, tiền đề cơ bản của ĐTH là sự phát triển công nghiệp hay CNH,

HĐH Bởi lẽ, trong quá trình ĐTH có sự chuyển dịch CCKT

Ba là, ĐTH là quá trình hình thành, nâng cấp và mở rộng quy mô đô thị

với cơ sở hạ tầng hiện đại

Bốn là, các làn sóng di cư nông thôn - đô thị làm tăng nhanh quy mô

dân số đô thị, chuyển từ lối sống phân tán - mật độ dân số thưa sang lối sống tập trung - mật độ dân số cao, dẫn đến sự bố trí lại dân cư, thay đổi cơ cấu giai cấp, phân tầng xã hội

Năm là, không gian đô thị ngày càng mở rộng và cùng với nó là sự thu

hẹp đất nông nghiệp để nhường chỗ cho các KCN, dịch vụ, thương mại du lịch, KĐT mới

Sáu là, tốc độ và quy mô hội tụ kinh tế đô thị ngày càng gia tăng, thể

hiện ở tốc độ và quy mô thu hút vốn đầu tư, số lượng và quy mô các đơn vị kinh tế

Trang 18

Bẩy là, chuyển đổi lối sống nông thôn sang lối sống đô thị; từ văn

hoá làng, xã sang văn hóa đô thị; từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp

Tám là, cùng với quá trình ĐTH là sự đổi mới cơ chế, chính sách phát

triển và quản lý đô thị

Ngoài những đặc trưng trên, quá trình ĐTH ở Việt Nam trong lịch sử

có một số đặc trưng nổi bật gắn liền với đặc điểm của các công nghiệp truyền thống, đó là ĐTH không có tính chất không điển hình Tính chất không điển hình này có nguồn gốc từ sự tồn tại đan xen, hòa trộn giữa nông thôn và thành thị ở mọi phương diện, từ không gian địa lý, cơ sở hạ tầng, dân cư, tôn giáo, văn hoá cho đến các hoạt động kinh tế Làng trong phố, phường, cư dân nông thôn hoạt động nông nghiệp với phong cách, nếp sống làng, xã truyền thống ngày nay vẫn còn đang hiện hữu ngay trong lòng hầu hết các đô thị Việt Nam

Quá trình ĐTH ở nước ta trong nhiều năm qua còn mang nặng tính số lượng thuần túy, một số huyện, xã, làng đã chuyển thành quận, phường, phố chủ yếu dựa vào sự gia tăng dân số hơn là sự phát triển công nghiệp Những điều trên đây hàm ý rằng muốn đảm bảo cho quá trình ĐTH đúng hướng và

có chất lượng thì phải gắn với quá trình CNH, HĐH, trước hết là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ngay tại các đô thị

Công nghiệp hóa là quá trình biến một nước có nền kinh tế lạc hậu

thành một nước công nghiệp

Quan niện của Đảng ta: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động vố công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao Quan niệm trên cho thấy,

Trang 19

đây là một quá trình kết hợp chặt chẽ 2 nội dung: công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong quá trình phát triển:

+ Nó không chỉ đơn thuần là phát triển công nghiệp mà còn phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng kỹ thuật và công nghệ hiện đại

+ Là một quá trình không chỉ tuần tự từ cơ giới hóa sang tự động hóa, tin học hóa mà còn kết hợp giữa thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi vào hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định

Do những biến đổi của nền kinh tế và điều kiện cụ thể của đất nước, CNH, HĐH ở nước ta có những đặc điểm chủ yếu sau:

+ CNH, HĐH theo định hướng XHCN, thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"

+ CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế trí thức + CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước

+ CNH, HĐH trong bối cảnh toàn cầu kinh tế và Việt Nam tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

1.1.2 Sự cần thiết phải thu hồi đất để phục vụ công nghiệp hóa, đô thị hóa

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã và đang từng bước tiến hành thu hồi đất để đáp ứng nghiên cứu phát triển CNH, HĐH và ĐTH, phục vụ an ninh quốc phòng với nhiều hình thức và nội dung khác nhau

Ở nước ta hiện nay trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, phát triển CNH, HĐH và ĐTH thì Nhà nước trưng thu, trưng mua lại quyền

sử dụng đất cạnh tác và đất nhà ở của nông dân dưới hình thức thu hồi đất có bồi thường để xây dựng các KCN, KĐT, xây dựng kết cấu hạ tầng KT - Xh đảm bảo các nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia

Như vậy, dù ở bất cứ hệ thống, hình thái xã hội nào việc phát triển CNH, HĐH và ĐTH tất yếu phải chuyển đổi mục đích sử dụng một phần đất

Trang 20

nông nghiệp, nông thôn để chuyển sang đất chuyên dụng phục vụ công nghiệp

và phát triển đô thị

Theo thống kê diện tích đất đai năm 2008, cả nước có tổng diện tích khoảng 33.104.200ha, trong đó đất nông nghiệp là 9.531.800ha, đất lâm nghiệp có rừng 12.402.200 ha, đất chuyên dùng 1.669.600 ha, đất ở 460.400

ha, còn 8.867.400 ha đất chưa sử dụng Bình quân từ năm 2003 - 2008 đất chuyên dùng tăng 52.545 ha/năm

Việc thu hồi đất ở nước ta trong những năm gần đây là sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất Nhờ có thu hồi đất, chúng ta đã xây dựng được nhiều KCN, các cụm công nghiệp; mở rộng và xây dựng các KĐT; hệ thống kết cấu

hạ tầng KT - XH giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện ; hoàn thiện và phát triển các cơ sở kinh doanh dịch

vụ như khách sạn, nhà hàng, siêu thị trung tâm thương mại, trung tâm dịch vụ,

du lịch; mở rộng và xây dựng các khu vui chơi giải trí, công viên Chính điều đó, đã làm cho quá trình CNH, HĐH có những bước tiến đáng kể, quá trình ĐTH diễn ra mạnh mẽ hơn

Do đó, việc thu hồi đất để xây dựng KCN, KĐT, kết cấu hạ tầng KT -

XH có vai trò quan trọng trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH nhằm phát triển kinh tế đất nước là cần thiết khách quan đó là vì:

Một là, thu hồi đất để có mặt bằng xây dựng KCN, khu chế xuất, thu hút đầu tư trong và ngoài nước cho phát triển KT - XH

Hai là, thu hồi đất để chuyển đổi mục đích sử dụng, thúc đẩy quá trình CNH, ĐTN

Ba là, thu hồi đất để nâng cấp và xây dựng mới hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ yêu cầu phát triển KT - XH và quốc phòng an ninh

Bốn là, việc thu hồi đất để phục vụ CNH, ĐTH đã tạo điều kiện thu hút GQVL cho hàng triệu lao động với thu nhập tương đối khá, giúp họ từng bước cải thiện đời sống vật chất cũng như tinh thần của bản thân và gia đình

Trang 21

Tóm lại, nếu CNH, HĐH và ĐTH là tất yếu khách quan đối với nước ta thì việc thu hồi đất để phục vụ CNH, HĐH và ĐTH là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng Vì vậy, trong quá trình CNH, HĐH, ĐTH bất cứ quốc gia nào cũng phải chuyển đổi một bộ phận đất đai từ đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và đô thị

Tác động của các khu công nghiệp tới đời sống hộ nông dân

Tác động đến đất đai: Quá trình phát triển nhanh các khu công nghiệp

đã làm diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, nhu cầu về sử dụng đất chuyên dùng xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng và đất đô thị tăng lên rất nhanh Điều này đã dẫn đến tình trạng "nuốt chửng" những diện tích đất nông nghiệp vốn rất cần thiết cho một đô thị như: sản xuất lương thực, thực phẩm, tạo mảng không gian xanh có vai trò "giải độc" cho môi trường sốn, tạo khu nghỉ ngơi cho người dân Việc thu hồi đất nông nghiệp đã tác động tới đời sống của các hộ dân vì họ thiếu phương tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống, trong đó có nhiều hộ rơi vào tình trạng bần cùng hóa

Để phục vụ các khu công nghiệp, theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bình quân mỗi năm có 73 nghìn ha đất nông nghiệp được thu hồi, trong 5 năm từ năm 2001 - 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã lấy

là gần 370 nghìn ha Hai vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc là nơi được thu hồi đất nhiều nhất, trong đó những địa phương đứng đầu là: Tiền Giang (20,3 nghìn ha), Đồng Nai (19,7 nghìn ha), Bình Dương (16,6 nghìn ha),

Hà Nội (7,7 nghìn ha), Vĩnh Phúc (5,5 nghìn ha) Điều đó tác động tới đời sống khoảng 2,5 triệu người với gần 630 nghìn hộ nông dân Số liệu cho thấy, trung bình cứ mỗi ha đất thu hồi, sẽ làm hơn 10 lao động nông dân mất việc

Do thiếu trình độ, sau khi thu hồi đất có tới 67% số nông dân vẫn giữ nguyên nghề sản xuất nông nghiệp, 13% chuyển sang nghề mới, 20% không có việc làm hoặc có việc nhưng không ổn định, 53% số hộ nông dân bị thu hồi đất có thu nhập sụt giảm so với trước đây nên đời sống gặp nhiều khó khăn

Trang 22

Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới, năm 2007 xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo Dù vậy không có nghĩa là chúng ta không có nguy

cơ mất đi cân đối an ninh lương thực trong tương lai, nhất là thiếu lương thực cục bộ ở khu vực dân cư nghèo, khi diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, dân

số tăng, tình hình thiên tai, dịch bệnh, giá lương thực tăng cao Mục tiêu hàng đầu của nước ta là giữ diện tích lúa ít nhất ở mức 3,8 triệu - 4,0 triệu ha, sản lượng đạt khoảng 36,0 triệu tấn/năm như hiện nay thì an ninh lương thực của Việt Nam được bảo đảm Tuy nhiên, sản lượng này cũng chỉ cung cấp cho dân số khoảng 100 triệu người, trong khi dân số của Việt Nam dự báo sẽ vào khoảng 120 triệu người vào giữa thế kỷ XXI Bởi vậy, nếu không giữ được một diện tích trồng lúa ổn định thì nguy cơ mất cân đối an ninh lượng thực trong nước là điều sẽ xảy ra

Tác động tới môi trường: Việc hình thành các KCN nhằm tạo điều

kiện để các chủ doanh nghiệp đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, song thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã nhập dây chuyền công nghệ lạc hậu hàng chục năm Điều này, không chỉ làm giảm sức cạnh tranh, mà còn khiến hoạt động sản xuất không ổn định, gây ô nhiễm môi trường

Việc xử lý chất thải của các nhà máy trước khi thải ra môi trường đang làm đau đầu các nhà quản lý Theo ước tính, mỗi KCN thải khoảng từ 3.000 - 10.000 m3 nước thải/ngày đêm Như vậy, tổng lượng nước thải công nghiệp của các KCN trên cả nước lên khoảng 500.000 - 700.000 m3/ngày đêm

Ngay cả ở những KCN đã có trạm xử lý nước thải tập trung, thì chất lượng thực tế của các công trình này vẫn còn hạn chế, chưa đạt được những tiêu chuẩn quy định, gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ở một số KCN tập trung các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, thuộc da, ngành hóa chất độc hại cao

Ngoài ra, tại các KCN, ô nhiễm khí bụi và tiếng ồn là loại hình ô nhiễm khó kiểm soát và không được quan tâm Khí thải của các cơ sở sản xuất chứa

Trang 23

nhiều chất độc hại được xả trực tiếp vào môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân quanh vùng

Theo kết quả quan trắc, nồng độ chất SO2, CO, và NO2 gần KCN hoặc trong các KCN đang gia tăng Nồng độ bụi tại ven các trục giao thông chính đều

đã vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2 - 6 lần Tại nhiều nhà máy cơ khí, luyện kim, công nghiệp hóa chất, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến khoáng sản trong KCN, nồng độ bụi và khí độc hại (điển hình là khí SO2) trong không khí, vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2 - 5 lần Chất thải công nghiệp cũng đang là mối nguy cơ đe dọa tới cuộc sống của một số địa phương có KCN đóng trên địa bàn Chất thải công nghiệp chưa được xử lý kỹ càng, sẽ gây ô nhiễm trầm trọng tới nguồn nước, không khí, tiếng ồn Về vấn đề này đã có khá nhiều địa phương phải trả giá; đời sống người dân thật sự bị đe dọa Nếu chúng

ta không đánh giá đúng và không đưa ra những giải pháp hữu hiệu, tổ chức tốt việc phòng chống ô nhiễm thực tại này sẽ gây những tác hại khôn lường

Tác động tới lao động: Việc phát triển khu công nghiệp đã tạo ra một

kênh thu hút lao động rất có tiềm năng và hiệu quả, góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ (kể cả số lao động của những hộ gia đình

bị thu hồi đất) và lao động nhập cư

Những năm gần đây, lực lượng lao động trong khu công nghiệp gia tăng mạnh mẽ gắn liền với sự gia tăng của các khu công nghiệp thành lập mới

và mở rộng Tuy nhiên, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn ít, thiếu đồng bộ, dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực thấp, đang là rào cản cho việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, văn minh và bền vững Tại các khu công nghiệp, phần lớn lao động vừa mới thoát ra khỏi đồng ruộng hoặc các trường phổ thông chưa qua đào tạo ngành nghề cơ bản Tình trạng thiếu việc làm trong thời vụ đang là khó khăn hiện nay ở nông thôn Năng lực của hệ thống chính trị cấp cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của thực tiễn Mức hưởng thụ của người nông dân còn thấp,

Trang 24

khoảng cách thu nhập và đời sống giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng Giá cả leo thang đang là những vấn đề bức xúc, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người nông dân

Tác động tới kinh tế hộ nông dân: Sản xuất nông nghiệp ở các địa

phương vẫn theo phương thức cũ, nhỏ lẽ, phân tán nên hiệu quả kinh tế thấp

và có nguy cơ kém bền vững trước thiên tai dịch bệnh và biến động của thị trường Diện tích đất nông nghiệp giảm nhanh do quá trình phát triển các khu công nghiệp, từ đó làm hạn chế cơ hội để nâng cao thu nhập từ ngành chính là trồng trọt, trong khi khả năng phát triển chăn nuôi, thủy sản và các ngành nghề phi nông nghiệp còn hạn chế Các sản phẩm rau, quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm có sức cạnh tranh thấp

Người nông dân bị thu hồi đất cho công nghiệp hóa, hay đô thị hóa cũng rơi vào tình trạng tư liệu sản xuất giảm hoặc mất đi, trong lúc chưa chuẩn bị kịp các điều kiện để chuyển đổi nghề nghiệp Phần đông nông dân có tiền (tiền bồi thường do bị thu hồi đất) cũng khó tìm phương án nào cho hiệu quả để sử dụng cho sản xuất, kinh doanh làm cho nó sinh sôi nảy nở Nhiều

hộ nông dân đang rơi vào cảnh thua thiệt trước "vòng xoáy" của các quy luật thị trường, nhất là ở những nơi hợp tác xã không còn tồn tại, chính quyền cơ

sở lại yếu kém, thì không biết dựa vào đâu? Bởi vậy, sự nghiệt ngã của tình cảnh "nghèo thì nghèo thêm, giàu thì giàu nhanh hơn" đang là tác nhân chính làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa người giàu và người nghèo, giữa nông thôn và thành thị Đây là nguyên nhân chính của hiện tượng số người tự

do di cư ra thành thị kiếm việc làm đang tăng lên Họ luôn trong tâm lí lo sợ rủi ro, bởi vậy, tư duy "ăn chắc, mặc bền" vẫn là phổ biến, có đồng nào đồ vào "xây nhà xây cửa" chắp vá, cơi nới một cách manh mún và rất tốn kém

Tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sự phát triển của các KCN

đã đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Trong quá trình đó, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo hướng giảm tỉ trọng của khu

Trang 25

vực nông nghiệp và gia tăng nhanh tỉ trọng của khu vực công nghiệp và dịch

vụ Đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng, góp phần làm thay đổi về cơ cấu diện tích gieo trồng và cơ cấu giá trị sản xuất Các loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp, sử dụng nhiều lao động đang có xu hướng giảm dần diện tích Các loại cây cần ít lao động hơn và cho giá trị kinh tế cao hơn đang được tăng dần diện tích canh tác Trong tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp thì

xu hướng chung là giảm dần tỉ trọng của ngành trồng trọt và tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi

Tác động tới xã hội nông thôn: Năng lực của hệ thống chính trị cấp

cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thực tiễn Mức hưởng thụ của người nông dân còn thấp, khoảng cách thu nhập và đời sống giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng Giá cả leo thang đang là những vấn đề bức xúc, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người nông dân Do thúc đẩy tăng trưởng nhanh các khu công nghiệp nhưng chưa quan tâm giải quyết đúng mức ngay

từ đầu những yếu tố hạ tầng xã hội hỗ trợ thiết yếu như: giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao dẫn đến tình trạng đời sống văn hoá tinh thần của những cộng đồng dân cư mới và công nhân ở trọ xung quanh các khu công nghiệp thực sự bức xúc, có nơi phát sinh ra các loại tệ nạn xã hội

Nhìn chung việc tổ chức triển khai xây dựng các dự án đều theo đúng trình tự, đúng quy định của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Tuy nhiên, hiện nay do giá cả thị trường bất động sản luôn biến động tăng, cùng với sự lôi kéo kích động của các phần tử xấu nên việc khiếu kiện đông người vượt cấp kéo dài, nội dung chủ yếu là đòi nâng giá bồi thường, nâng loại đất bồi thường, giảm giá đất tái định cư làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Sự tập trung cao của lao động tại các KCN đang khiến cho vấn đề xã hội ngày càng trở thành áp lực đối với chính quyền địa phương và người dân

Trang 26

quanh KCN Đó là trình trạng thiếu nhà ở, điều kiện sinh hoạt khó khăn, giá

cả hàng hoá tiêu dùng tăng và đáng lo ngại nhất vẫn là nảy sinh tệ nạn xã hội

1.2 Khái niệm về mức sống và các chỉ tiêu đánh giá về mức sống

Mức sống là một khái niệm, liên quan đến sự phát triển và thỏa mãn

nhu cầu của xã hội nói chung và nhu cầu của con người nói riêng Hiện nay tồn tại rất nhiều định nghĩa về mức sống Nhìn chung, giữa các nhà nghiên cứu có hai cách tiếp cận đối với khái niệm này Cách thứ nhất lấy mức thỏa mãn nhu cầu của con người làm cơ sở xem xét Cách thứ hai chọn tập hợp các điều kiện sống làm đối tượng nghiên cứu

"Mức sống" được hiểu chung nhất đó là: tổng giá trị hàng hoá và các

dịch vụ sinh hoạt mà với cơ cấu của sản xuất ra các tư liệu có khả năng thỏa mãn nhu cầu vật chất và văn hoá của người dân tại một thời điểm kinh tế - xã hội của đất nước

Các chỉ tiêu đánh giá mức sống: Các chỉ tiêu đánh giá mức sống chính

là vấn đề thiết yếu đối với cuộc sống của con người Đó là: Lương thực, dinh dưỡng, thu nhập, chi tiêu, nhu cầu nhà ở, điện, nước sinh hoạt

Theo Đại từ điển tiếng Việt thì mức sống là "mức đạt được trong chi

dùng, hưởng thụ các điều kiện vật chất, tinh thần" Như vậy với quan niệm này thì mức sống được hiểu là mức độ đạt được về các điều kiện vật chất và tinh thần của dân cư

Theo Mác thì "Mức sống dân cư không phải chỉ là sự thỏa mãn nhu cầu của đời sống vật chất mà còn là sự thỏa mãn nhu cầu nhất định, những nhu cầu được sản dinh bởi chính những điều kiện xã hội mà trong đó con người đang sống và trưởng thành" Nghĩa là ngoài đòi hỏi về những điều kiện vật chất, con người ta còn hướng tới những nhu cầu xã hội Những nhu cầu xã hội được sản sinh từ chính những điều kiện xã hội nên đương nhiên nó luôn thay đổi theo sự phát triển của những điều kiện xã hội Điều đó cũng chứng tỏ rằng

Trang 27

mức sống không phải là phạm trù nhất thành bất biến mà luôn biến đổi theo

thời gian và không gian nhất định

Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm mức sống vừa khái

quát vừa cụ thể như sau: Mức sống là phạm trù kinh tế - xã hội đặc trưng mức thỏa mãn nhu cầu về thể chất, tinh thần và xã hội con người Được thể hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu số lượng và chất lượng của điều kiện sinh hoạt và lao động của con người Một mặt, mức sống được quyết định bởi số lượng và chất lượng của cải vật chất và văn hoá dùng để thỏa mãn nhu cầu của đời sống; mặt khác, được quyết định bởi mức độ phát triển bản thân nhu cầu của con người Mức sống không chỉ phụ thuộc vào nền sản xuất hiện tại mà còn phụ thuộc vào quy mô của cải quốc dân và của cải cá nhân được tích lũy Mức sống và các chỉ tiêu thể hiện nó là di tính chất của hình thái kinh tế - xã hội quyết định

Mức sống là một phạm trù kinh tế xã hội phức tạp và phong phú về mặt nội dung Mức sống phản ánh quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm

xã hội

Mức sống được xác định bằng mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất tinh thần mọi thành viên trong xã hội hoặc các tầng lớp giai cấp xã hội khác nhau

Mức sống được hiểu chung nhất đó là tổng giá trị hàng hoá và các dịch

vụ sinh hoạt mà với cơ cấu của sản xuất ra các tư liệu có khả năng thỏa mãn nhu cầu vật chất và văn hoá của người dân tại một thời điểm kinh tế xã hội của đất nước

Theo Các Mác: "Mức sống không chỉ là sự thỏa mãn những nhu cầu của đời sống vật chất mà cả các nhu cầu nhất định được sản sinh ra bởi chính những điều kiện mà con người đang sống và trưởng thành"

1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá về mức sống

1.2.1.1 Thu nhập - Chi tiêu

Trang 28

Trước hết, là chỉ báo về thu nhập Đây là yếu tố quan trọng đầu tiên để

đo lường mức sống Ở đây thu nhập thực tế thường được tính theo bình quân đầu người/tháng Bình quân đầu người/tháng được tính theo 5 mức: rất nghèo, tạm đủ, trung bình, khá giàu, giàu

Sự phân chia này được dựa trên định mức Chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 theo Chỉ thị số 1752/CT - TTg ngày 21/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ

Thu nhập là chỉ tiêu rất quan trọng để đo lường mức sống, song nếu căn

cứ thuần túy vào mức thu nhập bình quân đầu người/tháng thì sự nhận biết về mức sống dân cư sẽ chưa thật đầy đủ và chính xác Một mặt do mức thu nhập của người dân sau thu hồi đất có sự dao động rất lớn, do tình trạng thu nhập không ổn định trong môi trường hoạt động kinh tế của người dân gây ra

Người có thu nhập thấp thường thiếu nhiều nguồn lực, họ không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của họ Ngược lại, nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói Các hộ nghèo có rất ít đất đai và tình trạng không có đất đang có xu hướng tăng lên, đặc biệt là người dân trong diện thu hồi đất nông nghiệp sản xuất Thiếu đất đai ảnh hưởng đến việc đảm bảo lương thực của hộ cũng như đa dạng hóa sản xuất, để hướng tới sản xuất cây trồng với giá trị cao Đa số hộ nông lựa chọn phương án sản xuất tự cung tự cấp họ vẫn giữ các phương thức sản xuất truyền thống với giá trị thấp, thiếu

cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận cao, do vậy giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây trồng và vật nuôi còn thấp thiếu tính cạnh tranh trên thị trường và vì vậy đã không tạo ra thu nhập cao cho hộ dẫn tới tình trạng luẩn quẩn nghèo đói của hộ

Bên cạnh đó, nhiều người nghèo chưa có nhiều dịp tiếp cận với các dịch vụ sản xuất như khuyến nông, khuyến ngư, bảo vệ động vật, thực vật, nhiều yếu tố đầu vào sản xuất như điện nước, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón đã làm tăng chi phí, giảm thu nhập tính trên đơn vị giá trị sản phẩm

Trang 29

Hộ nông dân cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn tín dụng Sự hạn chế của nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, giống mới mặc dù trong khuôn khổ của dự án tín dụng cho người nghèo thuộc Chương trình xóa đói giảm nghèo, khả năng tiếp cận tín dụng đã tăng lên rất nhiều, song do không có tài sản thế chấp, các hộ chỉ có thể vay với số vốn nhỏ

Quy mô hộ là yếu tố quan trọng tác động tới thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển từ mức khởi điểm thấp dựa chủ yếu vào nông nghiệp nên nó bị chi phối bởi sản xuất mang tính sử dụng nhiều lao động Khi hộ có quy mô lớn hơn sẽ thu được thu nhập bình quân trên một lao động cao hơn do các hộ này có thể khai thác được lợi thế kinh tế nhờ quy mô hộ lớn hơn Mặt khác, với những hộ sản xuất nông nghiệp có quy mô hộ lớn năng suất lao động cận biên có thể giảm Quy mô hộ tạo ra thu nhập ho hộ, cũng có thể hộ có quy mô lớn sẽ tạo ra được thu nhập lớn hơn so với hộ có quy mô hộ nhỏ hơn, ở khu vực nông thôn thì các thành viên trong hộ có thể sử dụng sức khoẻ của mình để làm những công việc giản đơn giúp đỡ gia đình tạo ra thu nhập

Việt Nam là một trong những nước Châu Á, có các phong tục và nghi

lễ truyền thống Tôn ti trật tự trong gia đình không thể bị lu mờ trong nhiều quyết định về kinh tế như con cái trong gia đình làm nghề gì, họ sống và làm việc tại đâu, học ngành gì phụ thuộc vào quyết định của người chủ của gia đình Vì vậy các quyết định của chủ hộ là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới thu nhập của hộ Sự sáng suốt của các quyết định này lại phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của chủ hộ Ở khu vực nông thôn nữ giới chiếm gần 50% tổng số lao động nông nghiệp, tuy vậy nữ chỉ chiếm 25% thành viên các khóa khuyến nông về chăn nuôi, và 10% các khóa khuyến nông về trồng trọt Phụ nữ ít có

cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và đào tạo, thường gặp nhiều khó

Trang 30

khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyết định trong hộ và thường được trả công lao động thấp hơn nam giới ở cùng một loại việc

Các yếu tố tác động đến thu nhập hộ

* Lao động: Trong nguồn thu nhập của hộ, thu nhập từ lao động là yếu

tố quan trọng nhất để duy trì mức sống, đây cũng là nguồn thu mà chúng thay đổi theo số giờ lao động Thu nhập này không tính các khoản thu như lương hưu, học bổng, trợ cấp xã hội, tiền chuyển về, tiền cho thuê tài sản và lãi suất tiết kiệm là những khoản không phụ thuộc vào số giờ lao động của các thành viên hộ

Giờ lao động được tính bằng các chia tổng số giờ làm việc của các thành viên của hộ cho số lượng thành viên làm việc trong hộ

Những hộ đang khá lên có nhiều khả năng được sống ở những nơi thuận lợi gần đường giao thông, nhà máy, trường học trong khi một tỷ lệ lớn những hộ đang sa sút thì tập trung ở các vùng sâu vùng xa Mức thu nhập của các hộ dân tộc thiểu số thấp hơn gần 40% so với mức trung bình của quốc gia

* Trình độ học vấn: Hộ nông chiếm phần lớn những người có trình độ

học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định Mức thu nhập của

hộ hầu như chỉ bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện để nâng cao trình độ của mình để tạo ra thu nhập cao hơn trong tương lai và cải thiện mức sống Trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái không những của thế hệ hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai Đối với khu vực nông thôn ở các cấp học càng cao thì số lượng người đi học càng thấp, những người

có trình độ, bằng cấp cao còn thấp nên việc tạo ra năng suất cây trồng vật nuôi còn hạn chế Học vấn là yếu tố ảnh hưởng lớn đến quá trình CNH - HĐH đất nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống của người dân

Khoảng 90% người nghèo chỉ có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn Trong số người có thu nhập thấp và nghèo, tỷ lệ số người chưa bao giờ

Trang 31

đi học chiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%, trung học cơ sở chiếm 37% Trình độ học vấn thấp sẽ hạn chế khả năng kiếm việc làm trong khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp hoặc những công việc mang lại thu nhập cao hơn, ổn định hơn Trình độ học vấn thấp không có khả năng tự giải quyết các vấn đề vướng mắc có liên quan đến pháp luật Nhiều văn bản pháp luật có cơ chế phức tạp, hộ nông khó nắm bắt, mạng lưới các dịch vụ pháp luật, số lượng các luật gia còn hạn chế phân bố chủ yếu ở khu vực thành thị

* Quy mô hộ: Quy mô hộ là yếu tố quan trọng tác động tới thu nhập

bình quân của các thành viên trong hộ Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển

từ mức khởi điểm thấp dựa chủ yếu vào nông nghiệp nên bị chi phối bởi sản xuất mang tính sử dụng nhiều lao động Khi hộ có quy mô lớn hơn sẽ có thu nhập bình quân trên một lao động cao hơn do các hộ này có thể khai thác được lợi thế kinh tế nhờ quy mô hộ lớn hơn, mặt khác, với những hộ sản xuất nông nghiệp có quy mô hộ lớn năng suất lao động cận biên có thể giảm Quy

mô hộ lớn làm cho tỷ lệ người ăn theo cao nhưng đây cũng có thể là nguồn lao động tạo ra thu nhập cho hộ, cũng có thể hộ có quy mô lớn sẽ tạo ra được thu nhập lớn hơn so với hộ có thể sử dụng sức khỏe của mình để làm những công việc giản đơn giúp đỡ gia đình tạo ra thu nhập

* Giới tính của chủ hộ: Các quyết định của chủ hộ là yếu tố rất quan

trọng ảnh hưởng tới thu nhập của hộ Sự sáng suốt của các quyết định này lại phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của chủ hộ Ở khu vực nông thôn nữ giới chiếm gần 50% tổng số lao động nông nghiệp, tuy vậy nữ chỉ chiếm 25% thành viên các khóa khuyến nông về chăn nuôi, và 10% các khóa khuyến nông về trồng trọt Phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ tín dụng và đào tạo, thường gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyết định trong hộ và thường được trả công lao động thấp hơn nam giới ở cùng một loại việc

Trang 32

* Chi phí cho đào tạo, nâng cao tay nghề: Mọi nghề nghiệp bao giờ

cũng có một chi phí nhất định Có thể đây là hao mòn xe cộ tiền mua xăng, tiền bồi dưỡng trong lao động Chi phí này nó phụ thuộc vào tần suất công việc của người lao động Nó quan hệ tỉ lệ thuận với thu nhập

* Vùng kinh tế: Mỗi vùng kinh tế đều có đặc điểm địa dư, kinh tế riêng

nên yếu tố vùng cũng là nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập trung bình của hộ

1.2.1.2 Lao động - Việc làm

a) Khái niệm việc làm

Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật

Điều 13, chương 2 (việc làm) Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm"

Theo khái niệm trên, hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện:

+ Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình

+ Hai là, hoạt động đó phải đúng luật; không bị pháp luật cấm

Việc làm là phạm trù chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó

Trạng thái phù hợp được thể hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa chi phí ban đầu (C) như nhà xưởng máy móc và nguyên vật liệu và chi phí về sức lao động (V) Quan hệ tỷ lệ biểu hiện sự kết hợp giữa C và V phải phù hợp với trình độ công nghệ của sản xuất

Các dạng việc làm

Làm những công việc mà người lao động nhận được tiền lương, tiền công bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật cho công việc đó

Trang 33

Làm những công việc mà người lao động thu được lợi nhuận cho bản thân (người lao động có quyền sử dụng quản lý hoặc sở hữu tư liệu sản xuất

và sức lao động cho bản thân để sản xuất sản phẩm)

Làm công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả thù lao bằng hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó (chủ gia đình làm chủ sản xuất)

Tùy theo mức độ sử dụng lao động mà người ta chia ra:

Việc làm chính: là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian

nhất định hoặc có thu nhập cao hơn so với các công việc khác

Việc làm phụ: là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian

nhất sau công việc chính

- V.v

Thiếu việc làm: Hay còn gọi là bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá

hình là những người làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn Thiếu việc làm được biểu hiện dưới 2 dạng: hoặc là người lao động không có đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, trong tháng hoặc làm những công việc có thu nhập quá thấp không đảm bảo cuộc sống nên muốn làm việc thêm để có thu nhập

Thất nghiệp: Thất nghiệp là sự mất việc làm hay sự tách rời sức lao

động khỏi tư liệu sản xuất Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): "Thất nghiệp

là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành"

Ở Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã quy định:

"Người thất nghiệp là người đủ 15 tuổi trở lên, có nhu cầu làm việc nhưng không có việc làm trong tuần lễ điều tra, và tính tới thời điểm điều tra

có đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua với các lý do chờ việc, nghỉ thời vụ, không biết tìm việc ở đâu, hoặc trong tuần lễ trước điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ, muốn làm thêm nhưng không tìm được việc

Các hình thức thất nghiệp

Trang 34

Thất nghiệp hình thức (hay công khai): Gồm hình thức thất nghiệp tự

nguyện và không tự nguyện Thất nghiệp tự nguyện là hiện tượng những người không chịu làm một số công việc mà họ có đủ khả năng làm, chúng có

ý nghĩa như một phương kế sinh nhai hơn là một công việc

Bán thất nghiệp: Những người làm việc ít hơn mức mà mình mong

muốn (hàng ngày, hàng tuần hoặc theo từng mùa)

Bán thất nghiệp trá hình: Loại hình này liên quan đến những người

dành toàn bộ thời gian của mình cho một tổ chức nào đó nhưng công việc họ làm thực ra không cần nhiều thời gian như vậy, nếu như những người có việc làm công khai chia nhau số công việc hiện có thì tình trạng trá hình sẽ mất đi

và bán thất nghiệp sẽ trở nên rõ ràng

Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động vùng bị thu hồi đất

Đô thị hóa làm giảm diện tích đất canh tác, đất canh tác bình quân trên một người lao động trong nông nghiệp giảm làm cho lao động nông nghiệp thiếu việc làm gia tăng

Quá trình đô thị hóa là quá trình gia tăng và lớn lên của hệ thống đô thị, quá trình biến từng vùng nông thôn thành đô thị, là nguyên nhân cơ bản làm giảm đất canh tác trong nông nghiệp

Trong xu thế phát triển của nền kinh tế, các cơ sở hạ tầng ngày càng được phát triển: đường giao thông, bến cảng, trung tâm thương mại, cũng góp phần làm giảm đất canh tác trong nông nghiệp, nông dân mất dần ruộng đất Với các nước đang phát triển, công nghệ ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp còn chậm chạp và khá lạc hậu, phương thức canh tác theo lối truyền thống vẫn là chủ yếu, do vậy đất đai là yếu tố hết sức cơ bản và cần thiết đối với sản xuất nông nghiệp và khả năng tạo việc làm cho người lao động nông nghiệp Nhiều đất, khả năng tạo việc làm cho lao động nông nghiệp lớn, ít đất khả năng tạo việc làm cho lao động nông nghiệp sẽ giảm đi

Trang 35

Đô thị hóa đã đẩy nhanh quá trình phân công lao động, tạo cơ sở hạ tầng thuận lợi cho sản xuất phát triển, tuy nhiên với các nước đang phát triển

có mức thu nhập trung bình thấp, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, tay nghề của người lao động thấp, không đủ khả năng khai thác những thuận lợi của quá trình đô thị hóa tạo ra, để giải quyết công ăn việc làm cho mình Do vậy, quá trình đô thị hóa càng diễn ra nhanh chóng, nguy cơ thất nghiệp và thiếu việc làm trong nông nghiệp, nông thôn càng gia tăng

Trong quy hoạch phát triển đô thị, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp (đặc biệt là những người "mất" đất canh tác) là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách

Tạo việc làm cho người lao động là cần thiết nhằm làm giảm thất nghiệp Trong quá trình phát triển kinh tế chuyển dịch cơ cấu kinh tế là tất yếu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo chuyển dịch cơ cấu lao động

Tạo việc làm cho người lao động đáp ứng quyền lợi của người lao động - quyền có việc làm và nghĩa vụ phải làm việc của người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động như Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ghi nhận Đặc biệt, thanh niên lại là nhóm năng động và nhiệt huyết nhất đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước Có việc làm đồng nghĩa với có thu nhập, từ đó nâng cao vị thế của thanh niên trong gia đình và xã hội

Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội và của công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong những năm qua đã có rất nhiều những khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị, mọc lên ở ngay giữa những vùng quê tạo ra một bộ mặt mới hiện đại hơn cho các vùng có dự án thu hồi đất Tuy nhiên điều đó cũng kéo theo những hệ lụy đáng quan tâm: đó chính là vấn đề việc làm và ổn định cuộc sống cho những hộ dân trong vùng bị thu hồi đất,

mà trong đó thanh niên là một tầng lớp quan trọng

Trang 36

Một thực tế có thể dễ dàng nhận thấy nhất đó là quỹ đất để sản xuất nông nghiệp - yếu tố không thể thiếu trong nghề nông sẽ giảm xuống, nếu nhỏ thì họ vẫn có thể tiếp tục canh tác sản xuất cầm chừng nhưng rõ ràng năng suất và thu nhập sẽ giảm Nếu quỹ đất của họ giảm đi một phần tương đối lớn thì chắc chắn thanh niên không thể trông chờ vào nghề nông để trang trải cho cuộc sống và ổn định thu nhập được

Sau thu hồi đất, người dân phải tìm kiếm cho mình một việc làm mới

để có thể đảm bảo cuộc sống và ổn định thu nhập Thế nhưng có một nghịch

lý đang tồn tại đó là có rất nhiều người thuần nông không thể làm gì được ngoài việc đồng áng Đối tượng chủ yếu không tìm được việc làm sau khi bị thu hồi đất là lao động trên 40 tuổi, nhất là nữ giới Khoảng 70% hộ nông dân mất đất không có khả năng chuyển đổi sản xuất, thiếu việc làm nên thu nhập giảm sút Nhiều người đôn đáo tìm cách làm ăn khác như buôn bán, làm thủ công, cũng có người kiếm được việc trong các dự án đó Tuy nhiên hầu hết các công ty trong vùng thu hồi đất đều yêu cầu người dân phải đóng góp một khoản tiền khi muốn vào làm ở doanh nghiệp Điều này sẽ trở nên khó khăn đối với những hộ có nhiều nhân khẩu phải đóng góp nhiều Hơn nữa tại các vùng dự án chậm triển khai thì vấn đề càng trở nên phức tạp người nông dân không có đất sản xuất, không có việc làm

b Lao động: Quá trình đô thị hóa là quá trình phát triển các thành phố,

các trung tâm kinh tế, chính trị và xã hội, là quá trình CNH, HĐH đất nước Biến nông thôn thành thành thị, phân công lao động được diễn ra nhanh, mạnh cả chiều sâu lẫn chiều rộng Tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động Việc làm ở các đô thị rất đa dạng và phong phú, bao gồm: lao động trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp (chiếm tỷ trọng 10-40% trong tổng số lao động); lao động trong các nhà máy công nghiệp hiện đại; lao động trong các trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị và xã hội; lao động trong các ngành dịch vụ cơ cấu lao động và việc làm làm đơn đặt hàng cho "cung" lao động

Trang 37

Ngoài 10-40% lao động trong ngành nông nghiệp và một bộ phận không lớn trong một số ngành dịch vụ có trình độ văn hoá, khoa học công nghệ chưa cao, còn lại phần lớn lao động ở các đô thị là lao động được đào tạo, có trình độ văn hoá, khoa học công nghệ, trình độ quản lý, tri thức về nền kinh tế thị trường cao và rất cao

Với các nước đang phát triển, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật của lao động nông nghiệp, nông thôn thường rất thấp, do vậy khi tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng và phát triển các đô thị, phát triển các ngành phi nông nghiệp gắn với nền kinh tế thị trường, cơ hội tìm kiếm công ăn việc làm của lao động nông nghiệp ở các đô thị là rất khó khăn Ngay

cả trong sản xuất nông nghiệp ngày nay - thời đại khoa học công nghệ - lao động nông nghiệp cũng đòi hỏi phải được đào tạo và đào tạo lại Cùng với tiến trình đô thị hóa, CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn đặt ra những yêu cầu mới cho người lao động, đòi hỏi người lao động phải nâng cao năng lực, trình

độ của mình Nếu người lao động nông nghiệp nói riêng, người lao động trong các ngành nói chung không được đào tạo và đào tạo lại đáp ứng yêu cầu mới, thì tự họ sẽ mất công ăn việc làm, cơ hội tìm kiếm việc làm sẽ rất khó khăn tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm là không thể tránh khỏi

Thực trạng về lao động và việc làm ở các nước đang phát triển đã chứng minh: lao động có tay nghề cao, có trình độ chuyên môn giỏi đang rất thiếu, trong khi lao động thủ công và lao động có tay nghề thấp lại thừa với số lượng lớn Do vậy, muốn giải quyết được công ăn việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa cần thiết phải quan tâm tới việc đào tạo, đào tạo lại đội ngũ người lao động nông nghiệp nói riêng, lao động xã hội nói chung theo cơ cấu lao động hợp lý phù hợp với từng giai đoạn đô thị hóa, CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn

1.2.1.3 Lương thực và dinh dưỡng

Trang 38

Ăn uống và sức khoẻ càng ngày càng được chú ý và có nhiều nghiên cứu chứng minh sự liên quan chặt chẽ giữa ăn uống và sức khoẻ Ăn uống không chỉ là đáp ứng nhu cầu cấp thiết hàng ngày, mà còn là biện pháp để duy trì và nâng cao sức khoẻ và tăng tuổi thọ Tuy nhiên để đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng cho mọi người cần có sự phối hợp liên ngành để đảm bảo cung cấp lương thực và thực phẩm đáp ứng nhu cầu Trước tiên là giải quyết vấn đề sản xuất nhiều lương thực và thực phẩm, giải quyết vấn đề lưu thông phân phối, giải quyết việc làm, tăng thu nhập để đảm bảo khả năng mua thực phẩm, đảm bảo an toàn thực phẩm cho cá thể, gia đình, cộng đồng, khu vực và toàn

xã hội Để giải quyết những vấn đề lớn của thiếu dinh dưỡng cần có sự phối hợp của nhiều ngành Đó là sự phối hợp giữa các ngành y tế, nông nghiệp kế hoạch, kinh tế, xã hội học, giáo dục trên cơ sở thực hiện một chương trình dinh dưỡng ứng dụng thích hợp đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, phù hợp với điều kiện kinh tế và dựa vào tình hình sản xuất lương thực, thực phẩm cụ thể

ở các vùng sinh thái

1.2.1.4 Giáo dục - Đào tạo

Thay đổi mục đích sử dụng đất luôn đi cùng với dịch chuyển lao động

từ những nghề có năng suất lao động thấp (vùng nông thôn) sang những nghề

có năng suất lao động cao hơn (đô thị), và đây là xu hướng điển hình của tăng trưởng nhanh tại khu vực Đông Nam Á và đặc biệt là tại Việt Nam trong những năm gần đây Khi cơ sở hạ tầng được cải thiện, những sản phẩm truyền thống địa phương khó mà cạnh tranh được với hàng nhập khẩu, và những thị trấn nông thôn, làng mạc được gộp lại thành những đơn vị hành chính và cấu trúc xã hội lớn hơn Nông dân mất đất khó đi xin việc do kỹ năng lao động không thích nghi với hoàn cảnh mới Lao động lớn tuổi ít học chỉ quanh quẩn

ở địa phương và điều kiện sống xấu dần

Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận

Trang 39

một công việc nhất định Hay đào tạo nguồn nhân lực là quá trình truyền đạt, lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người lao động có thể thực hiện một công việc nào đó trong tương lai

Đào tạo nguồn nhân lực bao gồm các nội dung sau:

- Đào tạo kiến thức phổ thông (gia đình phổ thông)

- Đào tạo kiến thức chuyên nghiệp (giáo dục chuyên nghiệp) Đào tạo kiến thức chuyên nghiệp được chia ra: Đào tạo cán bộ chuyên môn (đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp) và đào tạo nghề (đào tạo công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ, nhân viên bán hàng, phổ cập nghề cho người lao động)

Đào tạo cán bộ chuyên môn là việc đào tạo nguồn nhân lực ở các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, nhằm tạo ra đội ngũ cán

bộ có trình độ học vấn cao, có khả năng lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo một chuyên môn, nghiệp vụ nào đó

Văn kiện Đại hội X khẳng định: "Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" Cương lĩnh xây dựng đất nước thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011) được thông qua tại

Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: "Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển"

Vì vậy, giáo dục - đào tạo hiện nay được đánh giá không phải là yếu tố phi sản xuất, tách rời sản xuất mà là yếu tố bên trong, yếu tố cấu thành của nền sản xuất xã hội Không thể phát triển được lực lượng sản xuất nếu không đầu tư cho giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, đầu tư vào nhân tố con người,

Trang 40

nhân tố quyết định của lực lượng sản xuất Không thể xây dựng được quan hệ sản xuất lành mạnh nếu không nâng cao giác ngộ lý tưởng chính trị, nâng cao trình độ học vấn, trình độ tổ chức và quản lý kinh tế - xã hội cho đội ngũ lao động và quản lý lao động Vì vậy, đầu tư cho giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là đầu tư cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư ngắn nhất và tiết kiệm nhất để hiện đại hóa nền sản xuất xã hội và hiện đại hóa dân tộc

1.2.1.5 Y tế - sức khoẻ

Cơ sở y tế là nơi khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ, bao gồm: bệnh viện đa khoa, chuyên khoa; bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã/ phường/ thị trấn (gọi chung là y tế

cơ sở), trạm y tế cơ sở kinh tế hành chính, sự nghiệp và các cơ sở y tế khác

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới mức sống

1.3.1 Những yếu tố thuộc về địa lý tự nhiên và yếu tố dân cư, con người

- Đặc điểm về khí hậu, thời tiết trong từng nước, từng vùng, khu vực

Ví dụ miền Nam không có nhu cầu mua áo bông vì không có mùa đông, do đó

số tiền này dành cho chi tiêu ăn uống

- Tính thời vụ trong tiêu dùng do ảnh hưởng của thời tiết trong năm

- Phân bố dân cư, phân bố sản xuất, hệ thống giao thông Theo các vùng, nơi nào mà dân số tập trung đông đúc, sản xuất phát triển, hệ thống giao thông tốt thì nơi đó sẽ có nhiều điều kiện để nâng cao chất lượng cuộc sống

- Trình độ văn minh, đặc điểm thói quen, truyền thống, tôn giáo trong tiêu dùng

- Số lượng và cơ cấu dân cư theo tuổi và giới tính, nghề nghiệp trong vùng

- Điều kiện lịch sử, dân số ảnh hưởng đến quá trình phát triển tiêu dùng

và mức sống dân cư

1.3.2 Những yếu tố thuộc về kinh tế xã hội

Ngày đăng: 14/03/2017, 06:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đỗ Văn Hoà (1998), Chính sách di dân châu á, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách di dân châu
Tác giả: Đỗ Văn Hoà
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
4. Đỗ Thiên Kính (2003), Phân hoá giàu nghèo và tác động của yếu tố học vấn đến nâng cao mức sống người dân Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân hoá giàu nghèo và tác động của yếu tố học vấn đến nâng cao mức sống người dân Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thiên Kính
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
5. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (1997), Xã hội học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
6. Tống Văn Đường (2002), Giáo trình dân số và phát triển, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dân số và phát triển
Tác giả: Tống Văn Đường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
7. Trần Ngọc Hiên, Trần Văn Chử (1998), Đô thị hóa và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Hiên, Trần Văn Chử
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
8. Phạm Mộng Hoa, Lâm Mai Lan (2000), Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và thực tiễn
Tác giả: Phạm Mộng Hoa, Lâm Mai Lan
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
9. Tương Lai (1994), Hiện trạng và triển vọng cải thiện nhà ở, mức sống, môi trường sống của người nghèo đô thị - trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng và triển vọng cải thiện nhà "ở
Tác giả: Tương Lai
Năm: 1994
10. Tương Lai (1995), Khảo sát xã hội học về phân tầng xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát xã hội học về phân tầng xã hội
Tác giả: Tương Lai
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
11. Trịnh Duy Luân (1996), Tìm hiểu môn xã hội học đô thị, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu môn xã hội học đô thị
Tác giả: Trịnh Duy Luân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
12. Trịnh Duy Luân (2003), "Nghiên cứu những vấn đề biến đổi xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay", Tạp chí Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu những vấn đề biến đổi xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Trịnh Duy Luân
Năm: 2003
13. Võ Thị Mai (2003), Vai trò của nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Võ Thị Mai
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
14. Lê Duy Phong, Nguyễn Văn áng, Hoàng Văn Hoa (2002), Ảnh hưởng của đô thị hóa đến nông thôn ngoại thành Hà Nội - Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của đô thị hóa đến nông thôn ngoại thành Hà Nội "- Thực "trạng và giải pháp
Tác giả: Lê Duy Phong, Nguyễn Văn áng, Hoàng Văn Hoa
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
15. Trần Xuân Quang (1997), Tình hình thực hiện chính sách đền bù, tái định cư và khôi phục cuộc sống cho những người bị ảnh hưởng bởi các dự án đầu tư phát triển tại các đô thị và khu công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thực hiện chính sách đền bù, tái định cư và khôi phục cuộc sống cho những người bị ảnh hưởng bởi các dự án đầu tư phát triển tại các đô thị và khu công nghiệp
Tác giả: Trần Xuân Quang
Năm: 1997
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2004), Dự án VIE/95/2004, Kiến nghị về đổi mới chính sách di dân giai đoạn 1999-2004 Khác
2. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định của Chính phủ số 197/2004/NĐ - CP ngày 3/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khác
16. Nguyễn Quang Vinh (2001), "Một vấn đề xã hội học hàng đầu của việc cải tạo chỉnh trang đô thị: giảm tổn thương cho nhóm dân cư Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Địa điểm và cỡ mẫu  Địa bàn điều tra  Trưng vương  Dữu Lâu  Hy Cương  Tổng cộng - Một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven Thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 2.1. Địa điểm và cỡ mẫu Địa bàn điều tra Trưng vương Dữu Lâu Hy Cương Tổng cộng (Trang 51)
Bảng 3.5. Số lƣợng và tỷ lệ về hồ sơ của mẫu điều tra - Một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven Thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.5. Số lƣợng và tỷ lệ về hồ sơ của mẫu điều tra (Trang 67)
Bảng 3.6. Cơ cấ ề, việc làm của người dân bị - Một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven Thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.6. Cơ cấ ề, việc làm của người dân bị (Trang 68)
Bảng 3.9. Tháp phân tầng mức sống theo thu nhập năm 2012 - Một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven Thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.9. Tháp phân tầng mức sống theo thu nhập năm 2012 (Trang 72)
Bảng 3.10. Thu nhập đầu người/tháng theo độ dài thời gian sau thu hồi - Một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven Thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.10. Thu nhập đầu người/tháng theo độ dài thời gian sau thu hồi (Trang 73)
Bảng 3.11. Mức chi tiêu bình quan năm 2012 - Một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven Thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.11. Mức chi tiêu bình quan năm 2012 (Trang 75)
Bảng 3.12. Bảng tương quan giữa nhóm tuổi chủ hộ với thu nhập và chi - Một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven Thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.12. Bảng tương quan giữa nhóm tuổi chủ hộ với thu nhập và chi (Trang 75)
Bảng 3.13. Cơ cấu chi tiêu cho đời sống của hộ gia đình trước và sau khi - Một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven Thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.13. Cơ cấu chi tiêu cho đời sống của hộ gia đình trước và sau khi (Trang 78)
Bảng 3.14. So sánh điều kiện nhà ở trước và sau tái định cư của các hộ - Một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven Thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.14. So sánh điều kiện nhà ở trước và sau tái định cư của các hộ (Trang 79)
Hình  giá lương thực tăng nhanh như hiện  nay,  bảo đảm  an  ninh lương thực  đồng  thời tận  dụng  cơ  hội  để nâng  cao  thu  nhập  cho  nông  dân  phải là  một  trong những ưu tiên hàng đầu - Một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven Thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
nh giá lương thực tăng nhanh như hiện nay, bảo đảm an ninh lương thực đồng thời tận dụng cơ hội để nâng cao thu nhập cho nông dân phải là một trong những ưu tiên hàng đầu (Trang 81)
Bảng 3.17. Tình hình sử dụng dịch vụ y tế   của người lao động trước và sau THD - Một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống cho các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại các xã vùng ven Thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.17. Tình hình sử dụng dịch vụ y tế của người lao động trước và sau THD (Trang 82)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w