1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

MỘT SỐ DỊCH VỤ TRONG GIAO NHẬN VẬN TẢI QUỐC TẾ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

119 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để cho quá trình vận chuyển đó bắt đầu, tiếp tục và kết thúc được, tức là hàng hoá đến tay người mua được, cần phải thực hiện một loạt các công việc khác nhau liên quan đến quá trình chu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

-

NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG

MỘT SỐ DỊCH VỤ TRONG GIAO NHẬN VẬN TẢI QUỐC TẾ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

0

C huyªn ngµnh: 1Kinh tÕ thÕ giíi vµ quan hÖ kinh tÕ quèc tÕ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Ng ười hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Vũ Sỹ Tuấn

Hà n ội 2004

Footer Page 1 of 16

Trang 2

i

MỤC LỤC

Trang LỜI NểI ĐẦU

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO NHẬN VẬN TẢI QUỐC TẾ

VÀ MỘT SỐ DỊCH VỤ TRONG GIAO NHẬN VẬN TẢI QUỐC TẾ I/ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO NHẬN VẬN TẢI QUỐC TẾ 5

1 Khỏi niệm, quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển của GNVTQT 5

1.2 Quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển cỏc dịch vụ trong GNVTQT 6

2 ý nghĩa của hoạt động cung cấp dịch vụ trong GNVTQT 8

3 Một số tổ chức liên quan đến GNVTQT 10

3.1 Liờn đoàn cỏc Hiệp hội giao nhận Quốc tế - FIATA 10

II/ CƠ SỞ PHÁP Lí CỦA DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI QUỐC TẾ 15

1 Quy định Quốc tế về giao nhận vận tải đường biển 15

1.1 Cụng ước Liờn hợp quốc về chuyờn chở hàng hoỏ bằng VTĐPT 15

1.3 Cụng ước Quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển 17

1.4 Cụng ước LHQ về chuyờn chở hàng hoỏ bằng đường biển - Hamburg 1978 17

2 Quy định của Việt Nam về dịch vụ trong giao nhận vận tải quốc tế 18

III/ MỘT SỐ DỊCH VỤ TRONG GIAO NHẬN VẬN TẢI QUỐC TẾ 22

1 Dịch vụ khai thuờ hải quan (Customer Broker) 23

3 Dịch vụ chuyờn chở, kinh doanh cước vận chuyển (Freight Forwarder) 31

4 Dịch vụ gom hàng (Cargo Consolidation) 35

Footer Page 2 of 16

Trang 3

ii

5 Tổ chức vận tải đa phương thức (Multimodal Transport) 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC TRIỂN KHAI CÁC DỊCH VỤ TRONG GIAO NHẬN VẬN TẢI QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM I/ THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG, HÀNG HOÁ 44

1 Thực trạng về thị trường dịch vụ trong GNVTQT ở Việt Nam 44

2 Thực trạng về hàng hóa GNVTQT ở Việt Nam 48

3 Đánh giá thực trạng thị trường, hàng hoá của dịch vụ GNVTQT ở Việt Nam 49 II/ THỰC TRẠNG VỀ CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT 51

1 Các loại chi phí liên quan đến dịch vụ trong giao nhận vận tải quốc tế 57

2 Thực trạng về phí và chi phí giao nhận vận tải quốc tế 62

2.2 Chi phí hoa hồng trong kinh doanh dịch vụ GNVTQT 63

IV/ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VIỆC TRIỂN KHAI CÁC DỊCH VỤ GIAO

NHẬN VẬN TẢI QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

65

2 Vấn đề về quản lý và khai báo thuế 74

3 Các vấn đề trong việc hoàn thiện nghiệp vụ 77

4 Sự phối kết hợp kém hiệu quả với các ngành khác 78

5 Một số nguyên nhân của những tồn tại trên 79

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ TRONG GIAO NHẬN VẬN TẢI QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI I/ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI

QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

81

1 Sự cần thiết phải đưa ra giải pháp nhằm phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ

trong GNVTQT ở Việt Nam

81

Footer Page 3 of 16

Trang 4

iii

2 Phương hướng phát triển dịch vụ GNVTQT ở Việt Nam 83

2.1 Mục tiêu của ngành GNVTQT trong giai đoạn từ năm 2005 cho tới 2020 83

2.2 Triển vọng phát triển dịch vụ GNVTQT ở Việt Nam 83 II/ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ TRONG GIAO NHẬN

VẬN TẢI QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

86

1.1 Cải tổ hành lang pháp lý và quản lý vĩ mô của Nhà nước 86

1.2 Tổ chức lại quy mô các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ GNVTQT 89

1.3 Lành mạnh hoá cạnh tranh trong lĩnh vực GNVTQT 90

2.2 Tăng thêm nguồn hàng hoá, mở rộng thị trường cho GNVTQT 98

2.3 Nâng cao chất lượng cán bộ giao nhận và dịch vụ GNVTQT 101

2.5 Phối hợp hài hoà hoạt động của các ngành liên quan 107

2.6 Nâng cao vai trò của Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam 110

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Footer Page 4 of 16

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Trong xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, hoạt động ngoại thương được xem như một công cụ hữu hiệu để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh

tế của đất nước Gắn liền với việc XNK hàng hoá luôn là các thủ tục rắc rối, những khó khăn do việc di chuyển qua biên giới với một khoảng cách địa lý thường là rất lớn so với buôn bán trong nội địa mang lại Tuy nhiên "gánh nặng" XNK này lại thường được chuyển một phần thậm chí là tất cả sang vai của một người đó là

từ người bán đến người mua diễn ra được nhanh chóng, thuận tiện hơn, giảm chi phí

và thời gian cho các bên tham gia kinh doanh, góp phần không nhỏ vào việc thực hiện

có hiệu quả các hợp đồng mua bán ngoại thương Cho nên, tuy mới ra đời nhưng nó

đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong ngành vận tải và trong nền kinh tế quốc dân

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Kể từ năm “Đổi mới” 1986 đến nay, chúng ta đã trải qua gần 20 năm tăng trưởng, nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển dần sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, một nền kinh tế mở cửa và vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Nền kinh tế mở cửa này đã tạo điều kiện cho thương mại quốc tế phát triển nhằm đảm bảo sự lưu thông hàng hóa với nước ngoài, khai thác tiềm năng và thế mạnh của nước ta và thế giới Bằng việc thu hút ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngòai cộng với việc phát huy mạnh mẽ nội lực của nền kinh tế trong nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta, đặc biệt quan hệ buôn bán với nước ngoài ngày càng tăng, lượng hàng hoá XNK hàng năm tăng mạnh Năm 2003 vừa qua được đánh giá là một năm thành công của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng đạt gần 7,2%, cao nhất trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương Chính sách mở cửa hội nhập với nước ngoài đã tạo ra những cơ hội mới cho Footer Page 5 of 16

Trang 6

nền kinh tế Việt Nam, tạo ra thị trường to lớn đầy tiềm năng nhưng cũng đang đặt ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nói chung và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải nói riêng

Việt Nam có điều kiện địa lý thuận lợi với hơn 3000 km bờ biển chạy dài theo đất nước nằm dọc bờ biển Thái Bình Dương, nhiều cảng biển tự nhiên, rất thuận lợi cho sự phát triển ngành vận tải biển Do vậy, ngành vận tải biển Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu và đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và trong việc mua bán trao đổi hàng hóa giữa Việt Nam và phần còn lại của thế giới Giao thương bằng đường biển đã hình thành và phát triển, ngành vận tải biển đã được chú trọng như một phương thức vận chuyển phổ biến nhất

Kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, đáng chú ý là từ năm 1990 trở lại đây, ngành nghề dịch vụ GNVTQT đã phát triển mạnh cả về số lượng kim ngạch, quy mô hoạt động cũng như phạm vi thị trường với nước ngoài Đây là một loại dịch vụ thương mại không cần đầu tư nhiều vốn nhưng lợi nhuận tương đối ổn định Chúng ta có thể nhận định rằng việc phát triển kinh doanh dịch vụ GNVTQT ở nước ta đã mang lại những hiệu quả kinh tế thiết thực GNVTQT tạo ra được sự chuyên môn hóa cao trong các khâu của họat động kinh tế ngoại thương, qua

đó giảm thiểu được các chi phí phát sinh trong quá trình vận chuyển Đây cũng là một ngành nghề còn đang được bỏ ngỏ, do vậy nó có khả năng tạo ra được thêm công ăn việc làm cho người dân lao động Phát triển các dịch vụ GNVTQT ở Việt Nam tạo sức mạnh cho nền kinh tế chống lại việc nhập siêu ồ ạt các sản phẩm vô hình này từ nước ngoài

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi nêu trên thì hiện nay công tác giao nhận hàng hóa XNK nói chung và kinh doanh dịch vụ GNVTQT nói riêng đang gặp phải một số khó khăn như sau:

- Do đây là một lĩnh vực, một loại hình kinh doanh còn nhiều mới mẻ và người kinh doanh trong lĩnh vực này còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tế trong giai đoạn mà nền kinh tế của nước ta đang tìm cách hội nhập với kinh tế thế giới

- Chủ trương chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN vẫn còn chưa được thực thi một cách triệt để, nền kinh tế vẫn còn mang nặng tính bao cấp, độc quyền trong kinh doanh vẫn là một thực tế,

do đó việc kết hợp giữa các ngành, các cấp với công tác giao nhận hàng hóa XNK vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập cần sửa đổi

Footer Page 6 of 16

Trang 7

- Cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác giao nhận hàng hóa XNK nhìn chung là thiếu thốn và lạc hậu

- Nhiều văn bản pháp luật còn chồng chéo và không thống nhất về quan điểm nên chưa tạo ra được một hành lang pháp lý thông thoáng cho công tác giao nhận, phát sinh nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong kinh doanh giao nhận hàng hóa XNK

- Do đặc điểm của nền kinh tế và thói quen của người XNK nên chúng ta đang gặp phải sự cạnh tranh gay gắt về hàng hóa và thị trường đối với các công ty giao nhận nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Chính vì lẽ đó việc nghiên cứu, nhằm phát họa rõ nét về lĩnh vực giao nhận hàng hóa thông qua việc mô tả các hình thức dịch vụ GNVTQT cũng như những lợi ích mà nó đem lại, đánh giá thực trạng những thuận lợi và khó khăn của GNVTQT, từ

đó đề xuất những giải pháp để phát triển các dịch vụ trong hoạt động GNVTQT ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là một việc làm thiết thực và cần thiết

Trên cơ sở nhận thức như vậy, tôi đã chọn đề tài cho luận văn thạc sỹ là: “Một

số dịch vụ trong giao nhận vận tải quốc tế và giải pháp phát triển ở Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài này trong và ngoài nước:

Tới nay cũng đã có một số tác giả tập trung nghiên cứu về lý luận giao nhận hàng hóa và tình hình giao nhận hàng hóa XNK trên thế giới nói chung, tuy nhiên chưa có một tác giả nào nghiên cứu về các dịch vụ trong GNVTQT tại Việt Nam cũng như về các dịch vụ sẵn có mà người giao nhận có thể cung cấp để từ đó có thể xây dựng chiến lược nhằm áp dụng vào môi trường kinh tế-xã hội của Việt Nam Đây cũng chính là một trong những lý do mà tác giả đã chọn đề tài này để làm luận văn thạc sỹ của mình Hơn nữa, đây là luận văn nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, khoa học, đánh giá thực trạng về một số dịch vụ trong GNVTQT, lấy các ví dụ minh họa từ một số công ty giao nhận tại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua nhằm đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này trong thời gian tới

3 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở đánh giá khách quan thực trạng dịch vụ GNVTQT tại Việt Nam trong thời gian qua, tác giả muốn thông qua đó đưa ra một số giải pháp vĩ mô và vi mô nhằm hoàn thiện và phát triển các dịch vụ liên quan đến GNVTQT trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước nhà

Footer Page 7 of 16

Trang 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là các dịch vụ trong hoạt động GNVTQT tại Việt Nam, chủ yếu là trong vận tải đường biển

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Một số dịch vụ GNVTQT trên thế giới nói chung và thực trạng GNVTQT ở Việt Nam trong những năm vừa qua

Về các dịch vụ, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu 5 dịch vụ chủ yếu đó là: Dịch

vụ khai thuê hải quan; dịch vụ đại lý vận tải; dịch vụ chuyên chở, kinh doanh cước vận tải; dịch vụ gom hàng; dịch vụ tổ chức vận tải đa phươntg thức

Về nội dung của các dịch vụ, luận văn không đi sâu và khía cạnh nghiệp vụ của các dịch vụ mà chỉ nghiên cứu các vấn đề về thị trường hàng hoá, cơ sở vật chất kỹ thuật, và các chi phí liên quan đến dịch vụ trong GNVTQT

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ trên tôi đã viết nghiên cứu dựa trên cơ

sở phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, thực hiện trao đổi, nhằm tìm ra những bất cập, khó khăn của những người kinh doanh dịch vụ trong lĩnh vực GNVTQT, nghiên cứu lý luận kết hợp với khảo sát, tìm hiểu tình hình thực tế

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn được bố cục gồm có 3 phần chính:

Chương 1: Những vấn đề chung về giao nhận vận tải quốc tế và một số dịch vụ trong giao nhận vận tải quốc tế

Chương 2: Thực trạng việc triển khai các dịch vụ trong giao nhận vận tải quốc tế ở Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển dịch vụ trong giao nhận vận tải quốc tế ở Việt Nam

Bài viết chỉ là những lý luận ban đầu, những ý kiến đóng góp cũng chỉ là ý kiến bản thân người viết Thêm nữa, do thời gian và trình độ có hạn nên bài viết chỉ đề cập đến một số dịch vụ nổi bật nhất trong lĩnh vực GNVTQT, đặc biệt chỉ chú trọng đến vận tải biển mà thôi Chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết, còn nhiều điểm cần được bổ sung, chỉnh sửa, do vậy người viết rất mong nhận được những góp ý của các thầy cô, các bạn và các độc giả để có được một bài viết hoàn chỉnh hơn

Footer Page 8 of 16

Trang 9

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO NHẬN VẬN TẢI QUỐC TẾ

VÀ MỘT SỐ DỊCH VỤ TRONG GIAO NHẬN VẬN TẢI QUỐC TẾ I/ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO NHẬN VẬN TẢI QUỐC TẾ

1 Khái niệm, quá trình hình thành và phát triển của giao nhận vận tải quốc tế

1.1 Những khái niệm chung về giao nhận vận tải quốc tế

Đặc điểm nổi bật của buôn bán hàng hoá quốc tế là người mua và người bán

ở các nước khác nhau Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết, người bán thực hiện việc giao hàng, tức là hàng hoá được chuyển từ người bán sang người mua Để cho quá trình vận chuyển đó bắt đầu, tiếp tục và kết thúc được, tức là hàng hoá đến tay người mua được, cần phải thực hiện một loạt các công việc khác nhau liên quan đến quá trình chuyên chở như đóng gói, lưu kho, đưa hàng ra cảng, làm các thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển tải hàng hoá ở dọc đường, dỡ hàng ra khỏi tàu

và giao cho người nhận Những công việc đó được gọi là dịch vụ giao nhận

Dịch vụ giao nhận vận tải (Freight Forwarding Service), theo “Quy tắc mẫu của FIATA về dịch vụ giao nhận”, là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hoá cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu nhập chứng từ liên quan đến hàng hoá

Theo Luật Thương mại Việt Nam thì Giao nhận hàng hoá là một hành vi thương mại, theo đó người cung cấp dịch vụ giao nhận vận tải nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác

Người giao nhận vận tải là một cá nhân hay một tổ chức, một công ty đứng

ra thực hiện các công việc liên quan đến việc chuyên chở hàng hoá Trong giao nhận hàng hoá nội địa, việc chuyên chở này thường bắt đầu từ nhà xưởng của người xuất khẩu đến nơi khai báo hải quan ở nước của người xuất khẩu hoặc quy trình ngược lại với người nhập khẩu tại nước của người nhập khẩu

Theo định nghĩa của Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận (FIATA):

“Người giao nhận (Fowarder, Freight Fowarder hay Forwading Agent) là người thu xếp chuyên chở toàn bộ hàng hoá theo hợp đồng uỷ thác và hành động vì lợi ích của người uỷ thác mà bản thân họ không phải là người chuyên chở Người giao nhận cũng Footer Page 9 of 16

Trang 10

đảm nhận thực hiện mọi công viêc liên quan đến hợp đồng giao nhận như đảm bảo quản lưu kho, chung chuyển, làm thủ tục hải quan kiểm hoá” [9]

Do vậy, người kinh doanh dịch vụ GNVTQT là một cá nhân hay một tổ chức, một công ty đứng ra thực hiện các công việc liên quan đến việc chuyên chở hàng hoá từ nhà xưởng hoặc từ cảng xuất hàng của người xuất khẩu đến cảng nhận hàng hoặc đến nhà xưởng của người nhập khẩu hoặc đến một địa điểm được quy định trước tại nước của người nhập khẩu Các công việc liên quan đến việc chuyên chở hàng hoá này có thể là những việc như đàm phán cước phí vận chuyển, thực hiện việc vận chuyển, nhận và giao hàng hoá, đóng gói, bốc xếp, gom hàng, khai báo hải quan, bảo hiểm hàng hoá, kiểm tra, kiểm định hàng hoá, chuẩn bị chứng từ XNK, lưu trữ, cất giữ và phân phối hàng hoá và nhiều dịch vụ hỗ trợ khác nữa

1.2 Quá trình hình thành và phát triển các dịch vụ trong GNVTQT

a Quá trình hình thành các dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế

Khi nền kinh tế thế giới chưa phát triển, khối lượng hàng hoá trao đổi còn nhỏ, các nhà buôn tự lo liệu các khâu trong công việc kinh doanh của họ, tự tìm nguồn hàng, chuyên chở hàng về nơi tiêu thụ đến khâu bán hàng thu hồi vốn Lúc này chưa

có những người kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải vì khối lượng hàng hoá chuyên chở bằng đường biển chưa nhiều, sức chở của các con tàu còn nhỏ và kỹ thuật thông tin liên lạc còn thấp kém, công việc giao nhận được thực hiện trực tiếp bởi người XNK hoặc người chuyên chở

Cách đây gần 500 năm, năm 1522, hãng giao nhận đầu tiên trên thế giới đã xuất hiện ở Badiley (Thuỵ Sỹ) với tên gọi E VANSAI Hãng này kinh doanh cả vận tải, giao nhận và thu phí giao nhận rất cao, khoảng 1/3 trị giá hàng hoá Sau này, nghiệp vụ giao nhận tách khỏi vận tải và buôn bán, dần được chuyên môn hoá do các

tổ chức, công ty giao nhận tiến hành

Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế, giao nhận vận tải ngày càng phát triển, các công ty giao nhận cạnh tranh gay gắt với nhau dẫn đến sự ra đời các Hiệp hội giao nhận trong hoàn cảnh một cảng, một thành phố cùng tồn tại nhiều công

ty giao nhận khác nhau Sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty giao nhận dẫn đến sự hình thành các Liên đoàn giao nhận trong phạm vi một khu vực, một nước hay trên phạm vi quốc tế Ví dụ: Liên đoàn những người giao nhận Bỉ, Hà Lan, Mỹ Các liên đoàn ra đời nhằm hạn chế sự cạnh tranh giữa các hãng GNVTQT, bảo vệ quyền lợi của các hãng giao nhận trước người chuyên chở, người chủ hàng

Footer Page 10 of 16

Trang 11

b Phạm vi các dịch vụ trong hoạt động kinh doanh giao nhận vận tải quốc tế

Lúc đầu, người giao nhận thường chỉ cung cấp dịch vụ đại lý (Agent) Đại lý là một thương nhân được một người khác (thường gọi là người ủy thác - Principal) giao cho làm một hoặc một số công việc nhất định và được hưởng thù lao cho việc thực hiện những công việc đó Người giao nhận thực hiện một số công việc do các nhà XNK uỷ thác như xếp dỡ, lưu kho hàng hoá, làm thủ tục giấy tờ, lo liệu vận tải nội địa, thủ tục thanh toán tiền hàng và được hưởng hoa hồng từ những công việc đó

Hiện nay do sự mở rộng của thương mại quốc tế và sự phát triển của các phương thức vận tải mà các dịch vụ trong GNVTQT cũng được mở rộng hơn rất nhiều Người giao nhận đóng một vai trò rất quan trọng trong thương mại và vận tải quốc tế Người giao nhận không chỉ làm các dịch vụ về thủ tục hải quan, hoặc thuê tàu

mà còn cung cấp dịch vụ trọn gói toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hoá [3]

Trừ phi bản thân người gửi hàng (hoặc người nhận hàng) muốn tham gia vào bất kỳ khâu thủ tục, chứng từ nào đó, thông thường người giao nhận thay mặt người gửi hàng (hoặc người nhận hàng) lo liệu quá trình vận chuyển hàng hoá qua các cung đoạn cho đến tay người nhận cuối cùng Người giao nhận vận tải hàng hoá có thể làm các dịch vụ trực tiếp hoặc thông qua các đại lý và thuê dịch vụ của người thứ ba khác

Vì hoạt động giao nhận là việc tổ chức quá trình chuyên chở hàng hoá từ nơi gửi đến nơi nhận hàng nên nghiệp vụ này bao gồm nhiều công việc, cụ thể là:

- Chuẩn bị, đóng gói bao bì hàng hoá để chuyên chở

- Tổ chức chuyên chở hàng hoá trong phạm vi cảng

- Tổ chức thu gom, lưu trữ và xếp dỡ hàng hoá

- Tư vấn cho chủ hàng trong việc chuyên chở hàng hoá

- Ký kết hợp đồng vận tải với người chuyên chở, thuê tàu, lưu cước

- Thực hiện các thủ tục gửi hàng, nhận hàng

- Làm thủ tục hải quan, kiểm tra, kiểm dịch, đối chiếu

- Liên hệ với hãng bảo hiểm để mua bảo hiểm cho hàng hoá

- Chuẩn bị chứng từ cần thiết trong quá trình gửi hàng, nhận hàng, thanh toán

- Thanh toán cước, phí dịch vụ, thu đổi ngoại tệ

- Nhận hàng từ người chủ hàng giao cho người chuyên chở tại điểm đi

- Thu xếp các công việc để chuyển tải hàng hoá

- Nhận hàng từ người chuyên chở giao cho người nhận hàng tại điểm đến

Footer Page 11 of 16

Trang 12

- Gom hàng, lựa chọn tuyến đường vận tải, phương thức vận tải và người chuyên chở thích hợp nhất, chi phí tiết kiệm

- Đóng gói bao bì, phân loại, tái chế hàng hoá

- Lưu kho, bảo quản hàng hoá

- Nhận, kiểm tra các chứng từ cần thiết liên quan đến sự luân chuyển hàng hoá

- Thanh toán cước phí, chi phí xếp dỡ, lưu kho, lưu bãi

- Thông báo tình hình đi và đến của các phương tiện vận tải

- Thông báo tổn thất với người chuyên chở

- Giúp chủ hàng trong việc khiếu nại đòi bồi thường bảo hiểm Các công việc liệt kê trên đây được coi là công việc của người chủ hàng, người giao nhận sẽ thay mặt họ thực hiện những công việc này nếu được uỷ thác

Ngoài ra, người giao nhận còn cung cấp các dịch vụ đặc biệt theo yêu cầu của chủ hàng như vận chuyển máy móc thiết bị cho các công trình xây dựng lớn, vận chuyển quần áo may sẵn treo trong các container đến thẳng các cửa hàng, đưa hàng từ nhà máy sản xuất đến kho tập kết hàng hoặc đến các cửa hàng bán lẻ, các siêu thị, vận chuyển hàng triển lãm, hàng tham dự hội chợ ra nước ngoài Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay thì người giao nhận còn cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức đóng vai trò người kinh doanh VTĐPT MTO và phát hành cả chứng từ vận tải mà sẽ được

trình bày cụ thể ở phần sau

2 Ý nghĩa của hoạt động cung cấp dịch vụ trong giao nhận vận tải quốc tế

2.1 Ý nghĩa về mặt kinh tế

- Giảm chi phí vận tải cho người XNK

Hoạt động kinh tế đối ngoại giữa các nước và các khu vực trên bình diện toàn thế giới diễn ra một cách nhộn nhịp và ngày càng phát triển đa dạng Điều này có đóng góp một phần không nhỏ của ngành vận tải nói chung và giao nhận vận tải nói riêng, do sự phát triển của ngành đã làm giảm đáng kể chi phí vận tải trong buôn bán quốc tế, tác động trực tiếp đến giá cả của hàng hoá, và từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, việc chuyên chở hàng hoá XNK được thực hiện thông qua người kinh doanh giao nhận là một yêu cầu khách quan và cần thiết

Cơ sở của yêu cầu này là do chuyên môn hoá và phân công lao động sâu sắc, nên người giao nhận vận tải nắm chắc về xu hướng phát triển của thị trường giá cước,

họ thành thạo những điều khoản, thuật ngữ trong các loại hợp đồng trong kinh doanh thương mại và thuê tàu, nắm vững các luật lệ hàng hải, các tập quán thương mại, xếp Footer Page 12 of 16

Trang 13

dỡ hàng hoá ở các nước trên thế giới, các yêu cầu cụ thể về chuyên chở đối với từng loại hàng hoá trên từng luồng tuyến tàu, các giấy tờ, các chứng từ, thủ tục thương mại

và hải quan cần phải có, đồng thời biết kết hợp nhiều phương thức vận tải

Do nắm chắc nghiệp vụ gom hàng nên người giao nhận tính toán tiết kiệm được dung tích trọng tải của công cụ và phương tiện vận tải, nhờ đó mà giảm được chí phí vận tải cho người gửi hàng, tức là giảm chi đối với hàng xuất khẩu và tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường quốc tế [9]

Ngoài ra, do có quan hệ nghề nghiệp nên người giao nhận biết đựơc tương đối

rõ lai lịch cũng như khả năng tài chính của các chủ tàu, chủ hàng, điều này sẽ giúp cho nhiều chủ tàu, chủ hàng tránh được sự gian lận, những rủi ro không lường trước được trong hoạt động kinh doanh - một hiện tượng hiện đang xảy ra ngày càng nhiều trong thương mại thế giới

- Tạo điều kiện cho người XNK hoạt động có hiệu quả

Khi người giao nhận vận tải thực hiện các dịch vụ giao nhận vận tải dựa trên sự

ủy thác của khách hàng (chủ hàng, người XNK) thì họ sẽ sử dụng kho của mình hoặc thuê kho của người giao nhận khác và sử dụng đội ngũ cán bộ có nghiệp vụ của mình Nhờ đó, người kinh doanh XNK sẽ tiết kiệm được chi phí xây dựng kho tàng và chi phí đào tạo nhân công Bên cạnh đó là những chi phí trong quản lý, vận hành kho, duy

tu, bao dưỡng kho tàng nhà xưởng, thiết bị mà người chủ hàng, sau khi ủy thác cho người giao nhận vận tải, người XNK sẽ không cần phải quan tâm tới nữa

Việc phát triển kinh doanh các dịch vụ trong GNVTQT đã mang lại những hiệu quả kinh tế thiết thực Trước hết nó tạo điều kiện cho Chính phủ có thêm được nguồn thu ngoại tệ vì phần tiền cước thu được tăng lên do chỗ các công ty kinh doanh các dịch vụ này không những chuyên chở theo các chặng đường thông thường mà còn đảm nhận cả khâu vận tải từ cảng vào sâu trong nội địa và ngược lại Với việc ứng dụng VTĐPT đã tạo điều kiện đơn giản hoá chứng từ, thủ tục thương mại, hải quan do vậy tạo sự hấp dẫn cho các đối tác nước ngoài

GNVTQT cũng giúp kích cầu, tạo thêm nguồn thu cho các công ty bảo hiểm trong nước và tạo điều kiện ứng dụng nhanh chóng công nghệ vận tải hiện đại trên cơ

sở đó cải tạo cơ sở hạ tầng vận tải Thực tế, cuối năm 1999 đầu năm 2000, một số hãng bảo hiểm đã ký được hàng chục hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho các nhà giao nhận Việt Nam Nếu biết tổ chức tốt mô hình VTĐPT, thì các nước láng

Footer Page 13 of 16

Trang 14

giềng sẽ sẵn sàng cho hàng hoá của họ quá cảnh qua Việt Nam để tận dụng những ưu thế về địa lý do rút ngắn chặng đường

2.2 Ý nghĩa về mặt xã hội

Với sự phát triển không ngừng của mình, GNVTQT cũng góp phần tạo thêm công ăn việc làm mới, bởi lẽ đưa công nghệ vận tải mới vào đất nước yêu cầu phải có những kỹ thuật, kỹ năng mới, cũng như những công việc mới Đi liền với nó là đội ngũ công nhân, chuyên gia, cán bộ nghiệp vụ thành thạo trong việc vận hành, bảo quản, sửa chữa, gia cố, giao nhận, lưu kho và vận chuyển container, điều hành kho tàng, nhà xưởng, bến bãi và các máy móc, vật tư kỹ thuật đi kèm Từ đó đã xuất hiện các trung tâm gom hàng, trung tâm giao nhận, phân phát hàng, vận chuyển và sửa chữa vỏ container, cùng các hệ thống kho bãi, đội ngũ cán bộ nghiệp vụ chuyên lo giải quyết các thủ tục, giấy tờ, chứng từ đúng với yêu cầu và tập quán thương mại quốc tế

3 Một số tổ chức liên quan đến GNVTQT

3.1 Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận Quốc tế - FIATA

Liên đoàn Quốc tế của các hiệp hội giao nhận được thành lập vào ngày 31.5.1926 tại Viên, thủ đô nước Áo Tên gọi của "Liên đoàn các hiệp hội giao nhận Quốc tế" được giữ nguyên từ khi thành lập đến nay, tên tiếng Anh: "International Federation of Freight forwarders Association" Hiện nay, trụ sở chính của FIATA đóng tại Zurich, Thụy Sĩ

FIATA là một tổ chức tự nguyện phi chính phủ đang đại diện cho hơn 2550 người giao nhận ở hơn 150 quốc gia Vị trí toàn cầu của tổ chức này đã được các cơ quan của LHQ công nhận như Uỷ ban Xã hội và kinh tế (UNESCO); Hội nghị về thương mại và phát triển LHQ (UNCTAD); Hội đồng kinh tế Châu Âu (EEC); Uỷ ban

xã hội và kinh tế Châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP); cùng với các tổ chức này, tổ chức FIATA tham gia các vấn đề tư vấn FIATA cũng được các tổ chức quốc tế khác liên quan đến buôn bán và vận tải công nhận như Hội đồng thương mại quốc tế (ICC); Hiệp hội vận chuyển hàng không quốc tế (IATA) cũng như các tổ chức của những người vận tải và người gửi hàng

Những hoạt động chủ yếu của FIATA bao gồm:

- Duy trì việc tiếp xúc với các tổ chức và hiệp hội khác về những vấn đề chung cũng như những vấn đề đặc biệt khác mà các bên cùng quan tâm về lĩnh vực vận tải, giao nhận vận tải và thương mại

Footer Page 14 of 16

Trang 15

- Chủ động khẳng định việc sử dụng các tập quán/quy tắc trong kinh doanh quốc tế Xúc tiến quá quá trình đơn giản hoá và thống nhất chứng từ và các điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn nhằm cải tiến chất lượng hàng hoá, dịch vụ của các hội viên

- Đẩy mạnh và nâng cao uy tín ngành giao nhận vận tải, phát hành báo chí và tạp chí chuyên ngành, hỗ trợ các thành viên của mình về công tác đào tạo, tư vấn và tổ chức hội thảo Tăng cường đoàn kết, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh giữa các hội viên

3.2 Tổ chức Hải quan Thế giới - WCO

3.2.1 Đôi nét về lịch sử hình thành và phát triển của WCO

Trong một tuyên bố tại Paris ngày 12.9.1947, 13 Chính phủ đại diện cho Uỷ ban Hợp tác Kinh tế Châu Âu đã nhất trí thành lập một Nhóm nghiên cứu để xem xét khả năng thành lập một Liên minh Hải quan giữa các nước Châu Âu trên cơ sở các nguyên tắc của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT)

Năm 1948, Nhóm nghiên cứu này đã thành lập ra 2 Uỷ ban: 1 Uỷ ban về Kinh

tế, sau này trở thành Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Uỷ ban Hải quan sau này trở thành Hội đồng Hợp tác Hải quan (CCC) Uỷ ban Hải quan có nhiệm

vụ nghiên cứu tổng hợp các vấn đề về kỹ thuật Hải quan ở nhiều nước khác nhau nhằm tiêu chuẩn hoá thủ tục hải quan, hải hoà Danh mục hàng hoá và thống nhất định nghĩa trị giá hải quan và các quy định, luật lê hải quan khác Việc nghiên cứu này đã đặt nền móng cho việc ký kết 3 Công ước quốc tế tại Brussels - Bỉ ngày 15.12.1950:

- Công ước về Danh mục để phân loại hàng hoá và Biểu thuế Hải quan: có hiệu lực từ ngày 11.9.1959

- Công ước về trị giá Hải quan của hàng hoá: có hiệu lực từ ngày 28.7.1953

- Công ước thành lập Hội đồng Hợp tác Hải quan: có hiệu lực từ ngày 4.1.1952

Tổ chức Hải quan Thế giới chính thức ra đời Cho đến năm 1993, Hội đồng đã

có 104 thành viên, 15 Công ước Quốc tế và 50 khuyến nghị về các lĩnh vực hoạt động của Hải quan Năm 2002, số lượng thành viên đã tăng lên 152 thành viên

3.2.2 Tóm tắt nhiệm vụ của Tổ chức Hải quan Thế giới

a Nghiên cứu mọi vấn đề có liên quan đến hợp tác hải quan

b Kiểm tra mọi khía cạnh kỹ thuật của các chế độ hải quan, đề xuất biện pháp

để đạt được mức độ hài hoà và thống nhất cao nhất

c Soạn thảo các dự thảo Công ước và điều khoản bổ sung Công ước

Footer Page 15 of 16

Trang 16

d Đảm bảo việc giải thích và áp dụng thống nhất các Công ước đã ký do kết quả các công việc của Hội đồng

e Giải quyết các tranh chấp có thể nảy sinh trong việc giải thích hoặc áp dụng các Công ước

f Phổ biến các thông tin liên quan đến Luật lệ và nghiệp vụ Hải quan

g Cung cấp những thông tin hoặc ý kiến về các vấn đề hải quan nằm trong khuôn khổ các mục tiêu chung của Công ước

h Hợp tác với các Tổ chức liên Chính phủ về các lĩnh vực trong thẩm quyền

3.2.3 Hoạt động của Hải quan Việt Nam trong khuôn khổ WCO

Ngày 1.7.1993, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hội đồng Hợp tác Hải quan Kể từ khi gia nhập Hội đồng, Hải quan Việt Nam đã tích cực thực hiện các nghĩa vụ của mình trong khuôn khổ các hoạt động hàng năm của WCO

a Niên liễn: Hàng năm Việt Nam phải đóng khoản tiền niên liễn là 0,015% trên tổng

số 482.500.000 BEF (Frăng Bỉ) kinh phí hoạt động của Hội đồng (khoảng 723.750 BEF, tương đương với 21.000 USD)

b Họp Hội đồng: Từ năm 1993 đến nay, Hải quan Việt Nam đều cử các đoàn do Tổng

Cục trưởng hoặc Lãnh đạo Tổng Cục dẫn đầu tham dự đầy đủ các kỳ họp Hội đồng tại Brussel cũng như tại các nước thành viên

c Hoạt động trong khuôn khổ các tiểu ban kỹ thuật của Hội đồng Hàng năm do kinh

phí đối ngoại của ngành Hải quan còn hạn chế nên Việt nam chỉ tham dự được một số cuộc họp quan trọng, cần thiết và bổ ích cho hoạt động nghiệp vụ của ngành Chủ yếu

ta cử đoàn tham dự các cuộc họp của Uỷ ban Kỹ thuật thường trực, Uỷ ban Hệ thống hài hoà, Uỷ ban Kỹ thuật xác định trị giá Hải quan, Uỷ ban Kỹ thuật về các quy tắc xuất xứ, Nhóm làm việc về Công ước Kyoto, Uỷ ban kiểm soát và đấu tranh chống gian lận thương mại

d Các hoạt động đào tạo, hội thảo: Tham gia hợp tác về kỹ thuật và đào tạo là một

trong những ưu tiên hàng đầu của Hội đồng kể từ sau tuyên bố Seoul “Tuyên bố của Hội đồng liên quan tới việc tăng cường các Công ước Quốc tế và các văn bản pháp lý Quốc tế để hài hoà và chuẩn hoá Luật hải quan và các quy định, luật lệ hải quan và Hợp tác kỹ thuật” năm 1984, và hình thành Quỹ Hợp tác Hải quan của Hội đồng [25]

Footer Page 16 of 16

Trang 17

3.3 Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam - VIFFAS

3.3.1 Những nét chung về Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam

Tại Việt Nam, hoạt động giao nhận ra đời chậm hơn so với các nước trên thế giới Những năm 1960, các tổ chức giao nhận quốc tế ở Việt Nam mang tính chất phân tán Các đơn vị XNK tự đảm nhận việc tổ chức chuyên chở hàng hoá của mình,

vì vậy các công ty XNK đã thành lập riêng phòng kho vận, chi nhánh XNK, trạm giao nhận ở các cảng, ga liên vận đường sắt Đến năm 1976 Bộ Thương mại đã thành lập một tổ chức giao nhận thống nhất là Tổng công ty Giao nhận và Kho vận Ngoại thương (VIETRANS) Trong thời kỳ bao cấp Vietrans là cơ quan duy nhất được phép giao nhận hàng hoá XNK trên cơ sở uỷ thác của các đơn vị XNK

Do sự phát triển mạnh mẽ của thị trường giao nhận Việt nam, hiện nay trên lãnh thổ Việt Nam có hơn 800 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực giao nhận vẩn tải thuộc đủ các thành phần kinh tế [28] Để bảo vệ quyền lợi của các nhà giao nhận, Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt nam (VIFFAS) đã được thành lập năm 1994 và trở thành thành viên chính thức của FIATA (trong năm đó) Ngoài ra, đến cuối năm 2000

đã có gần 20 doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam được công nhận là thành viên của FIATA

VIFFAS là một tổ chức tự nguyện liên kết nghề nghiệp của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao nhận hàng hoá, kho hàng và tổ chức chuyên chở hàng hoá XNK, không phân biệt thành phần kinh tế, tự nguyện để cùng hợp tác, liên kết hỗ trợ và giúp đỡ nhau trong công việc phát triền nghề nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh doanh và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các hội viên trong các hoạt động GNVTQT hàng hoá XNK của Việt Nam, trên cơ sở đó hội nhập với các hoạt động cùng loại của các đồng nghiệp trên thế giới

Sau khi chính thức thành lập, Hiệp hội là tổ chức đại diện duy nhất của Việt Nam trở thành hội viên đầy đủ và chính thức của Liên đoàn các Hiệp hội GNVTQT quốc tế FIATA cũng như các tổ chức giao nhận vận tải, kho vận khác

Hiệp hội hoạt động theo luật pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và theo Điều lệ của Hiệp hội do đại hội toàn thể hội viên nhất trí thông qua và được Bộ trưởng

Bộ giao thông vận tải phê chuẩn Trong hoạt động nghiệp vụ của mình, Hiệp hội áp dụng các khuyến nghị, các mẫu chứng từ, hợp đồng, giấy tờ phổ biến rộng rãi và lưu hành trong các nước hội viên của FIATA và các tổ chức quốc tế khác

3.3.2 Mục tiêu hoạt động

Footer Page 17 of 16

Trang 18

Hiệp hội phối hợp hoạt động của các hội viên nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế, chính trị và nâng cao địa vị, và nâng cao địa vị của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam trong các lĩnh vực có liên quan đến dịch vụ GNVTQT cũng như các quyền lợi của các hội viên; kiến tạo mối quan hệ hợp tác, liên kết, hỗ trợ và giúp đỡ nhau giữa các đơn

vị hội viên thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động trong lĩnh vực kho vận; nâng cao trình độ tác nghiệp, hình thức hoạt động nghiệp vụ, cải tiến chất lượng hoạt động kinh doanh để góp phần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động XNK, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và hợp tác đầu tư với nước ngoài

Hiệp hội đại diện cho quyền lợi của cộng đồng các doanh nghiệp về các lĩnh vực GNVTQT trong các quan hệ kinh doanh và hợp tác quốc tế Hiệp hội tận dụng mọi điều kiện, phương tiện, tổ chức để bảo vệ và giúp hội viên nâng cao và cải tiến chất lượng hoạt động trong lĩnh vực GNVTQT nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu ngày càng tăng trong lĩnh vực này của các khách hàng trong và ngoài nước

Hiệp hội giúp đỡ hội viên trong quá trình đào tạo, bổ túc, nâng cao trình độ nghiệp vụ của các nhân viên, chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực GNVTQT để đáp ứng các yêu cầu về nghiệp vụ của các đồng nghiệp trên thế giới [8]

3.3.3 Hội viên của VIFFAS

Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, không phân biệt cấp quản lý, được thành lập theo đúng luật pháp và đăng ký hoạt động trong lĩnh vực GNVTQT, tán thành Điều lệ Hiệp hội, tự nguyện xin gia nhập Hiệp hội và đóng hội phí đầy đủ có thể được xét để công nhận làm hội viên

Hiệp hội có hai loại hội viên:

- Hội viên chính thức: Là các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực

GNVTQT tại Việt Nam và có số vốn đăng ký không thấp hơn mức giới hạn trách nhiệm của người giao nhận vận tải được qui định tại Điều 35 (a) (iii) của “Các Điều kiện kinh doanh chuẩn” của Hiệp hội và phải có ít nhất 2 năm (kể từ ngày thành lập doanh nghiệp) hoạt động trong lĩnh vực GNVTQT

- Hội viên liên kết: Là các doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực

GNVTQT tại Việt Nam nhưng có số vốn thấp hơn như đã nêu ở trên Các tổ chức và các chuyên gia Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực này có khả năng đóng góp vào thực hiện mục tiêu nhiệm vụ của Hiệp hội cũng có thể được xét công nhận là hội viên liên liên kết của Hiệp hội

Footer Page 18 of 16

Trang 19

Về công tác phát triển hội viên: Tại hội nghị giữa nhiệm kỳ (7/1999), Hiệp hội

đã quyết định hạ thấp phí hội viên và đơn giản hoá thủ tục gia nhập vì vậy số hội viên

tù 31 đã tăng lên cho đến nay là 43 (năm 1997: 18 hội viên; năm 1998: 25 hội viên; đến tháng 6/1999: 31 hội viên), đến tháng 6 năm 2003 là 78 hội viên [28]

II/ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI QUỐC TẾ

Như đã nói ở phần trên, GNVTQT là một khâu trong hoạt động ngoại thương

Nó diễn ra trên phạm vi toàn cầu và rất phức tạp do liên quan đến rất nhiều qui định

và luật lệ của các quốc gia khác nhau, cũng như của riêng từng vùng kinh tế khác nhau trên thế giới Việc quản lý một cách khoa học, điều chỉnh hành vi của GNVTQT một cách thống nhất bằng các qui định mang tính toàn cầu là một yêu cầu tất yếu nhằm định hướng đúng đắn và chính xác cho các hoạt động này Trên cơ sở nhận thức đó, người kinh doanh các dịch vụ trong GNVTQT phải nắm vững được các qui định đó nhằm bảo vệ quyền lợi của mình cũng như quyền lợi của các bên có liên quan, tạo một môi trường kinh doanh rõ ràng và minh bạch Các qui định mang tính quốc tế đó sẽ

được đề cập trong các mục sau đây

1 Quy định Quốc tế về giao nhận vận tải đường biển

1.1 Công ước Liên hợp quốc về chuyên chở hàng hoá bằng vận tải đa phương thức

Vận tải đa phương thức là một phương thức vận tải, trong đó hàng hoá được vận chuyển ít nhất bằng hai hay nhiều phương thức vận tải khác nhau, trên cơ sở một chứng từ vận tải, một chế độ trách nhiệm và chỉ một người chịu trách nhiệm về hàng hoá trong suốt hành trình chuyên chở từ một địa điểm nhận hàng để chở ở nước này đến địa điểm giao hàng ở nước khác [15]

Trong VTĐPT có hai loại chứng từ quan trọng được quan tâm hàng đầu là hợp đồng VTĐPT và vận đơn VTĐPT là bằng chứng của hợp đồng vận tải và là biên lai nhận hàng- chứng từ chứng minh rằng người VTĐPT đã nhận hàng của người uỷ thác

để chuyên chở đến địa chỉ giao hàng cuối cùng theo đúng các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng vận tải

Theo quy định của Công ước LHQ về VTĐPT 1980, khi người VTĐPT nhận trách nhiệm về hàng hoá, họ sẽ cấp phát một chứng từ VTĐPT là vận đơn đa phương thức (tùy theo yêu cầu và sự lựa chọn của người gửi hàng), ở dạng lưu thông chuyển nhượng, hoặc dưới dạng không lưu thông chuyển nhượng được Chế độ trách nhiệm theo Công ước này là chế độ trách nhiệm duy nhất (Uniform Liability System ), có

Footer Page 19 of 16

Trang 20

nghĩa là mặc dù trong quá trình VTĐPT có nhiều người vận tải khác nhau tham gia các công đoạn bằng phương tiện vận tải khác nhau nhưng người VTĐPT vẫn phải chịu trách nhiệm từ đầu tới cuối với chủ hàng với một chế độ trách nhiệm duy nhất không phân biệt tổn thất hàng hoá xảy ra ở chặng nào trong quá trình vận chuyển [4]

Công ước LHQ về vận tải đa phương thức quốc tế được thông qua tại Geneva vào ngày 24 tháng 5 năm 1980 Nội dung Công ước được chia làm 8 phần, gồm có 40 điều khoản nêu rõ các điều kiện cơ sở chuẩn mực cũng như những vấn đề pháp lý trong VTĐPT quốc tế

Công ước ra đời đã hơn 20 năm, mặc dù chưa có hiệu lực pháp lý nhưng đã tạo

ra những quy định chuẩn mực và những nguyên tắc tiêu chuẩn nhất định về dịch vụ VTĐPT Làm tiền đề cho VTĐPT quốc tế phát triển và là cơ sở để các quốc gia có thể vận dụng hoặc tham khảo khi xây dựng ngành luật liên quan của nước mình Trong khi chờ đợi Công ước Quốc tế về VTĐPT chính thức có hiệu lực, năm 1992 UNCTAD và ICC đã cho ra đời “Quy tắc về chứng từ vận tải đa phương thức” có nội dung dựa trên những quy định của Công ước nói trên của LHQ Đến nay Quy tắc UNCTAD/ICC về chứng từ VTĐPT đã được áp dụng rộng rãi, trong đó FIATA đã vận dụng đưa vào vận đơn của mình và được đông đảo các nước hội viên tham gia sử dụng [24]

1.2 Quy tắc về chứng từ vận tải đa phương thức của UNCTAD/ICC 1992

Quy tắc này gồm có 13 điều khoản, trong đó điều khoản 1 quy định về việc áp dụng Quy tắc, điều khoản 2 nêu ra các định nghĩa về Hợp đồng VTĐPT, Người VTĐPT (MTO), Người vận tải, Người gửi hàng, Người nhận hàng, Điều khoản 3 khẳng định những thông tin ghi trên chứng từ VTĐPT là bằng chứng hiển nhiên của việc người VTĐPT nhận để chở những hàng hoá được mô tả theo thông tin đó Cần chú ý Điều khoản 4 quy định phạm vi trách nhiệm của người VTĐPT: Thời hạn trách nhiệm; Cơ sở trách nhiệm (Người cung cấp dịch vụ VTĐPT sẽ phải chịu trách nhiệm

về những hành vi và thiếu sót của người làm công hoặc đại lý của mình)

Quy tắc UNCTAD/ICC quy định “Giới hạn trách nhiệm của người vận tải đa phương thức” trong Điều 6 như sau:

- Nếu giá trị hàng hoá không được người gửi hàng kê khai trước khi người VTĐPT nhận hàng để chở và được ghi vào chứng từ VTĐPT thì trách nhiệm bồi thường của người vận tải không vượt quá số tiền tương đương 666,67 SDR cho mỗi

Footer Page 20 of 16

Trang 21

kiện hoặc đơn vị hàng hoá hay 2 SDR cho một kg trọng lượng hàng hoá cả bì đã bị mất hoặc tổn thất, tuỳ theo mức nào cao hơn

- Khi chặng vận chuyển không có đường biển hoặc nội thuỷ, thì trách nhiệm của người VTĐPT sẽ được giới hạn bằng số tiền không vượt quá 8,33 SDR cho một

1.3 Công ước Quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển

Ký tại Brussels ngày 25-8-1924, còn được gọi là Quy tắc Hague Công ước này cho đến nay đã được sửa đổi chỉnh lý hai lần, lần thứ nhất vào năm 1968 tại Visby nên được gọi là Nghị định thư Visby 1968 hay Hague/Visby 1968 và lần sửa đổi thứ hai vào năm 1979, nội dung sửa đổi lần thứ hai này liên quan đến đồng tiền tính toán bồi thường về mất mát, hư hỏng hàng hoá đó là dùng đồng SDR thay thế cho đồng Phơ- Răng Pháp, do vậy được gọi tắt là Nghị định thư SDR 1979

Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở về mất mát hư hỏng hàng hoá theo Công ước Brussels 1924 là số tiền không vượt quá 100 bảng Anh/kiện hàng hay đơn

vị chuyên chở; theo Nghị định Visby 1968 là số tiền không vượt quá 10.000 Frăng Pháp cho một kiện hàng hoặc đơn vị hay 30 Frăng Pháp cho một kilogram trọng lượng

cả bì hàng hoá bị mất mát tổn thất, tuỳ theo cách nào cao hơn Còn theo Nghị định thư SDR 1979 giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển là số tiền không vượt quá 666,67 SDR cho một kiện hàng hoặc đơn vị hoặc 2 SDR cho một kg trọng lượng cả bì hàng hoá tổn thất mất mát, tuỳ theo cách tính nào cao hơn

1.4 Công ước LHQ về chuyên chở hàng hoá bằng đường biển - Hamburg 1978

Được ký kết vào ngày 31-3-1978 tại Hamburg, CHLB Đức trước đây, thường được gọi tắt là Công ước Hamburg hay Quy tắc Hamburg 1978 Theo Công ước này, người chuyên chở phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại, mất mát khi hàng hoá còn Footer Page 21 of 16

Trang 22

trong phạm vi trách nhiệm của mình Hàng được coi là chậm giao hàng nếu như nó không được giao ở cảng dỡ hàng đúng theo quy định về thời gian trong hợp đồng vận chuyển Hàng hoá có thể được coi là mất nếu không được giao trong vòng 60 ngày tính từ ngày hết hạn giao hàng Đặc biệt cách quy định trách nhiệm của người chuyên chở theo công ước này không liệt kê các trường hợp mà dựa trên nguyên tắc "Lỗi hoặc

sơ suất suy đoán" Theo nguyên tắc này, nếu có mất mát hư hỏng về hàng hoá hay chậm giao hàng thì suy đoán rằng người chuyên chở có lỗi Người chuyên chở muốn được miễn trách nhiệm thì họ phải chứng minh được là mình không có lỗi hoặc đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết để ngăn ngừa sự cố đó xảy ra

Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở theo Công ước Hamburg 1978 về thiệt hại do hàng hoá bị mất mát hoặc hư hỏng là 835 SDR/kiện hàng hoặc 2,5 SDR/kg hàng hoá tuỳ theo cách tính nào cao hơn Với những nước không phải thành viên của IMF hoặc những nước mà luật quốc gia cấm sử dụng đồng SDR thì có thể tính giới hạn trách nhiệm bồi thường theo đơn vị tiền tệ MU với mức tương ứng là 12.500MU/1 đơn vị hàng hoá hay kiện hàng hoặc 37,5MU/1 kg hàng hoá cả bì (1 MU tương đương 65,5 mgr vàng với độ nguyên chất 900/1000) Trách nhiệm của người chuyên chở về việc chậm giao hàng cũng theo Công ước này được giới hạn bởi số tiền tương đương 2,5 lần tiền cước phải trả cho số hàng giao chậm nhưng không vượt quá tổng số tiền cước phải trả theo quy định của hợp đồng chuyên chở hàng hoá

2 Quy định của Việt Nam về dịch vụ trong giao nhận vận tải quốc tế

Cho đến nay thì ở Việt Nam chưa có một văn bản pháp luật chuyên ngành nào quy định các quan hệ pháp lý nào nẩy sinh trong hoạt động kinh doanh các dịch vụ trong giao nhận vận tải quốc tế, tuy nhiên tại một số văn bản sau đây có một phần đề cập tới các nội dung trên:

2.1 Bộ luật hàng hải Việt Nam

Bộ luật hàng hải Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá VIII thông qua trong kỳ họp thứ 7 ngày 30.6.1990 Trong Bộ Luật này, ở các Điều 87, 88 có nói tới một số nguyên tắc chung nhất về Liên hiệp vận chuyển mà thực chất là VTĐPT, một hình thức kinh doanh thường do người giao nhận đảm nhận:

Điều 87 khoản 1 định nghĩa Liên hiệp vận chuyển (tức vận tải đa phương thức)

là việc vận chuyển hàng hoá được thực hiện với sự tham gia của người vận chuyển đường bộ, đường sông hoặc đường sông, gọi là liên hiệp vận chuyển, và vận đơn được

Footer Page 22 of 16

Trang 23

ký phát cho cả quá trình vận chuyển hàng hoá trong liên hiệp kinh doanh gọi và vận đơn suốt

Tiếp đó mục 2 Điều 87 nói rằng các quy định về vận đơn nói tại Bộ luật hàng hải Việt Nam cũng được áp dụng đối với loại vận đơn suốt do người vận chuyển đường biển ký phát, trừ trường hợp có những văn bản pháp luật khác quy định cụ thể

Ở đây cần hiểu rằng vận đơn suốt (Throngh Bill of Lading) là một dạng sơ khai ban đầu của vận đơn VTĐPT [15]

Theo điều 88 người vận chuyển đã ký phát vận đơn suốt có nghĩa vụ tổ chức việc vận chuyển hàng hoá và chịu trách nhiệm về hàng hoá đối với chủ hàng trong cả quá trình vận chuyển theo vận đơn suốt, cho đến khi hàng đã được trả cho người nhận hàng hợp pháp

Cũng theo Điều 88 chế độ trách nhiệm của những người tham gia quá trình liên hiệp vận chuyển là chế độ cộng đồng trách nhiệm, nghĩa là người vận chuyển nào đã phải bồi thường tổn thất liên quan đến vận đơn suốt thì có quyền yêu cầu những người vận chuyển khác hoàn trả số tiền bồi thường theo tỷ lệ tiền cước vận chuyển tương ứng với quãng vận chuyển do họ thực hiện Người vận chuyển nào chứng minh được mình là không có lỗi, thì không phải hoàn trả số tiền đó [15]

Điều 88 quy định về việc người vận chuyển tham gia liên hiệp vận chuyển có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các trách nhiệm của mình và tận tâm chuẩn bị cho cả quãng vận chuyển khác được thực hiện có kết quả Người vận chuyển trong quãng cuối cùng của liên hiệp vận chuyển có nghĩa vụ bảo vệ các quyền của những người vận chuyển khác, đặc biệt là quyền cầm giữ hàng hoá

Bộ luật Hàng hải Việt Nam chưa đề cập tới những vấn đề căn bản về một loạt các vấn đề như: người kinh doanh VTĐPT, tính không lưu thông và không chuyển nhượng được của vận đơn VTĐPT, trách nhiệm và miễn trách nhiệm, trách nhiệm về chậm giao hàng của người VTĐPT, trách nhiệm ngoài hợp đồng, thời hiện tố tụng, thẩm quyền của trọng tài v.v.…

2.2 Luật thương mại Việt Nam

Luật Thương mại được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp lấn thứ 11 ngày 10/5/1997 viết "Dịch vụ giao hàng hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho bãi, làm các thủ tục giấy tờ và dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo uỷ thác của chủ hàng… " (Điều 163, mục 10, chương 2, Luật Thương mại)

Footer Page 23 of 16

Trang 24

Điều 167: Quyền và nghĩa vụ của người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá

Người kinh doanh dịch vụ GNVT hàng hoá có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a Được hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý khác

b.Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng

c Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng

d Sau khi ký kết hợp đồng, nếu xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được toàn bộ hoặc một phần những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng biết để xin chỉ dẫn thêm

e Trong trường hợp hợp đồng không có thoả thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa

vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý [17]

Điều 169: Các trường hợp miễn trách nhiệm

Người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá không phải chịu trách nhiệm về những mất mát, hư hỏng phát sinh trong những trường hợp sau đây:

a Do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền

b Đã làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng

uỷ quyền

c Khách hàng đóng gói và ghi ký mã hiệu không phù hợp

d Do khách hàng hoặc người được uỷ quyền thực hiện việc xếp, dỡ hàng hoá

e Do khuyết tật của hàng hoá

f Do có đình công

g Các trường hợp bất khả kháng

h Người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá không chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ khách hàng được hưởng, về sự chậm trễ hoặc giao nhận hàng sai địa chỉ

mà không phải do lỗi của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Điều 170: Giới hạn trách nhiệm

a Trách nhiệm của người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá trong mọi trường hợp không vượt quá giá trị hàng hoá, trừ khi các bên có thoả thuận khác trong hợp đồng

b Người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá không được miễn trách nhiệm nếu không chứng minh được việc mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng không phải do lỗi của mình gây ra

Footer Page 24 of 16

Trang 25

c Tiền bồi thường được tính trên cơ sở giá trị hàng hoá ghi trên hoá đơn và các khoản tiền khác có chứng từ hợp lệ Nếu trong hoá đơn không ghi giá trị hàng hoá thì tiền bồi thường được tính theo giá trị của loại hàng đó tại nơi và thời điểm mà hàng được giao cho khách hàng theo giá thị trường; nếu không có giá trị trường thì tính theo giá thông thường của hàng cùng loại và cùng chất lượng

Người cung cấp các dịch vụ GNVTQT không phải chịu trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:

a Người làm dịch vụ giao nhận vận tải không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn 14 ngày, kể từ ngày giao hàng, không tính ngày chủ nhật và ngày lễ

b Người làm dịch vụ giao nhận vận tải không nhận được thông báo bằng văn bản về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng [15]

Điều 171: Quyền cấm giữ và định đoạt hàng hoá

a Người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá có quyền cầm giữ số hàng hoá nhất định và các chứng từ liên quan đến hàng hoá để đòi tiền nợ đã đến hạn của khách hàng và thông báo ngay bằng văn bản cho khách hàng

b Sau thời hạn 45 ngày, kể từ ngày cầm giữ hàng hoá hoặc chứng từ liên quan đến hàng hoá, nếu khách hàng không trả tiền nợ thì người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá

có quyền định đoạt hàng hoá hoặc chứng từ đó theo quy định của pháp luật và phải thông báo ngay bằng văn bản cho khách hàng; mọi chi phí cầm giữ và định đoạt hàng hoá do khách hàng chịu

c Người làm dịch vụ giao nhận vận tải được sử dụng số tiền thu được từ việc định đoạt hàng hoá để thanh toán các khoản mà khách hàng nợ mình và các chi phí có liên quan Số tiền còn thừa phải được chuyển trả cho khách hàng Kể từ thời điểm đó, người làm dịch vụ giao nhận vận tải hết trách nhiệm đối với hàng hoá hoặc chứng từ đã được định đoạt

d Trong trường hợp hàng hoá có dấu hiệu bị hư hỏng, quyền định đoạt hàng hoá của người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá quy định tại khoản 2 Điều này phát sinh ngay khi có bất kỳ khoản nợ nào của khách hàng, với điều kiện người làm dịch vụ giao nhận vận tải hàng hoá đã thông báo cho khách hàng biết về việc định đoạt hàng hoá

2.3 Nghị định 10/2001/NĐ-CP

Nghị định 10/2001/NĐ-CP của Chính phủ về Điều kiện kinh doanh dịch vụ hàng hải ở Việt Nam ban hành ngày 19.3.2001 bao gồm dịch vụ về đại lý tầu biển, đại

Footer Page 25 of 16

Trang 26

lý vận tải đường biển, môi giới hàng hải, cung ứng tầu biển, kiểm đếm hàng hoá, lai dắt, sửa chữa, vệ sinh tầu biển, bốc dỡ hàng hoá tại cảng Về điều kiện kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải Nghị định quy định:

a Giám đốc doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này phải có thời gian công tác tối thiểu 02 (hai) năm

b Đại lý vận tải cần có đủ các điều kiện sau:

Tốt nghiệp Đại học Hàng hải, Đại học Ngoại thương hoặc có thời gian thực hành nghiệp vụ này ít nhất là 03 (ba) năm

Có giấy xác nhận về trình độ chuyên môn nghiệp vụ đại lý vận tải do Hiệp hội giao nhận kho vận VIFFAS cấp

c Doanh nghiệp phải mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự với khách hàng

Theo điều 2 của Nghị định này, các doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh dịch

vụ hàng hải được phép kinh doanh ở Việt Nam dưới hình thức liên doanh trong đó phía Việt Nam phải chiếm 51% số vốn Riêng hai dịch vụ: Đại lý hàng hải và lái dắt tàu biển (Towage) không cho phép pháp nhân nước ngoài được liên doanh

Điều đáng nói là trong Nghị định này không đề cập tới dịch vụ Logistics - một hình thức cao cấp của dịch vụ giao nhận vận tải Do vậy vừa qua một số doanh nghiệp nước ngoài đã tận dụng kẽ hở này xin đăng ký kinh doanh dưới hình thức lập Chi nhánh 100% vốn của họ mà không bị một rào cản nào cả Thực tế là đã có một số Sở

Kế hoạch Đầu tư ở các tỉnh, thành phố đã cấp phép cho họ

Theo công văn 1011/CP-HTQT, ngày 6/11/2001 thì kinh doanh giao nhận hàng hoá bằng đường hàng không chưa cho phép bên nước ngoài lập Công ty 100% vốn của họ ở Việt Nam Họ có thể liên doanh với phía Việt Nam để kinh doanh dịch vụ này song phía Việt Nam phải có tỷ lệ vốn không thấp hơn 51% [14,17]

III/ MỘT SỐ DỊCH VỤ TRONG GIAO NHẬN VẬN TẢI QUỐC TẾ

Người giao nhận đóng vai trò là cầu nối giữa các hoạt động kinh tế, thương mại giữa các khu vực, giữa trong nước và nước ngoài, giữa các nước với nhau GNVTQT góp phần không nhỏ vào việc tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK Hoạt động XNK và hoạt động giao nhận có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Chúng có sự tăng trưởng và phát triển cùng chiều với nhau Theo sự tính toán thống

kê của Nhà nước, thì giá trị phần mà người giao nhận vận tải thu được từ các hoạt động XNK chiếm từ 8 - 18% giá trị XNK của mỗi nước Điều đó cho thấy mức độ đóng góp vô cùng to lớn của GNVTQT đối với hoạt động XNK Người giao nhận giữ Footer Page 26 of 16

Trang 27

vị trí, vai trò to lớn như vậy trong XNK bởi nó đã làm chức năng tổ chức công việc và chịu trách nhiệm trước chủ hàng, cung cấp các loại dịch vụ giao nhận Sau đây là nội dung một số loại hình dịch vụ giao nhận vận tải chủ yếu

1 Dịch vụ khai thuê hải quan (Customer Broker)

1.1 Nội dung cơ bản của dịch vụ khai thuê hải quan

Thuở ban đầu người giao nhận chỉ hoạt động ở trong nước Nhiệm vụ của người giao nhận lúc bấy giờ là làm thủ tục hải quan đối với hàng nhập khẩu Sau đó

mở rộng hoạt động phục vụ cả hàng xuất khẩu và giành chỗ chở hàng trong vận tải quốc tế hoặc lưu cước với các hãng tàu theo sự uỷ thác của người xuất khẩu hay nhập khẩu tuỳ thuộc vào quy định của hợp đồng mua bán Trên cơ sở được Nhà nước cho phép, người giao nhận thay mặt người xuất khẩu, người nhập khẩu để khai báo, làm thủ tục hải quan như một khai thuê hải quan

Khai báo hải quan cũng là một khâu khá quan trọng trong quá trình thông quan hàng hoá bởi các quy định về XNK của các nước, các vùng, các khu vực, các khối kinh tế trên thế giới là khác nhau và vô cùng phức tạp Ngoài những khuôn mẫu thường được áp dụng trung, còn có những mẫu riêng cho từng nước khác nhau quy định khác nhau cho những mặt hàng khác nhau Chính vì vậy, “Khai thuê hải quan” cũng là một loại dịch vụ quan trọng, phổ biến tại Việt Nam và cũng như trên toàn thế giới

Hàng năm toàn thế giới đã sử dụng khoảng 9 tỷ trang chứng từ giao dịch trong thương mại quốc tế để trao đổi một lượng hàng hoá có trị giá lên tới 5 nghìn tỷ USD LHQ cho rằng khoảng 7% (tương đương với 350 tỷ USD) trị giá các hàng hoá này được dùng cho các chi phí liên quan đến chứng từ, thủ tục hành chính Con số này gần gấp 2 lần tổng lợi nhuận toàn thế giới của ngành vận tải biển (- A Blueprint of the APEC

Sub-Committee in Customs Procedures)

Để có thể đưa ra được một dịch vụ khai thuê hải quan tốt, người cung cấp dịch

vụ này cần phải có vốn hiểu biết luật pháp tốt, khả năng giao dịch tốt và phải có mối quan hệ tốt với các cơ quan chức năng

Những mối quan tâm của Nhà nước trong việc xây dựng hàng rào hải quan tập trung vào điểm chính sau đây:

- Nhà nước cần phải biết được ai đang tham gia vào kinh doanh

- Thông kê các số liệu một cách minh bạch và chính xác

Footer Page 27 of 16

Trang 28

- Cú khả năng gõy ảnh hưởng đến cỏc bờn tham gia vào kinh doanh, như việc lựa chọn đối tỏc, kiểm soỏt giỏ…

- Gúp phần ngăn chặn gian lận trong thương mại

- Bảo hộ cỏc nhà sản xuất trong nước, cũng như bảo vệ quyền sở hữu trớ tuệ

- Bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, phũng chống lõy lan dịch bệnh

- Kiểm soỏt chặt chẽ việc kinh doanh vũ khớ, đạn dược và cỏc mặt hàng nhạy cảm khỏc

- Bảo vệ mụi trường, tài nguyờn thiờn nhiờn và động vật hoang dó

- Nhà nước cũng muốn được hưởng lợi từ những hoạt động kinh doanh này

Hỡnh 1.1 Giỏm sỏt hải quan của Chớnh phủ

và cụng việc của Người khai thuờ hải quan (CHB)

Để đạt được cỏc mục tiờu như đó trỡnh bày ở trờn, ngành hải quan của cỏc nước phải xõy dựng được cho mỡnh một chiến lược và chớnh sỏch phự hợp, minh bạch để đảm bảo tốt nội dung cỏc mục tiờu đó đề ra nhưng lại khụng ngăn cản sự phỏt triển tự

do của kinh doanh, buụn bỏn của cỏc thành phần, đối tỏc cựng tham gia vào quỏ trỡnh kinh doanh quốc tế Hải quan là đại diện của Nhà nước về mặt kinh tế tại biờn giới,

Thuế

Thống kê Phân tích

Sức khoẻ cộng đồng

Bảo hộ

Bảo hộ

và ngăn chặn

CHB

Hoạt động kinh doanh

CHB CHB

Ưu đãi th-ơng mại

Footer Page 28 of 16

Trang 29

cửa khẩu Bên cạnh đó thì người khai thuê hải quan lại là người đại diện cho chủ hàng, thay mặt chủ hàng làm các công việc để thông quan hàng hoá

Công việc của người khai thuê hải quan xuất phát từ hoạt động kinh doanh XNK của chủ hàng sẽ phải có những mối quan tâm sau đây:

- Thuế hải quan: Đây là một nguồn thu rất quan trọng của Nhà nước dùng cho những chi tiêu của Nhà nước sau này Công tác thu thuế của hải quan đòi hỏi sự chính xác, tỉ mỉ, đúng đắn những lại dựa trên một quy trình phức tạp và phải luôn được cập nhật thường xuyên Công tác này luôn được kiểm tra, kiểm soát trong và sau khi làm thủ tục thông quan hàng hoá Người khai thuê hải quan phải nắm vững được các quy định, quy tắc liên quan đến việc tính thuế hàng hoá nhằm mục đích tư vấn cho khách hàng và đối chiếu việc kiểm tra thu thuế của cơ quan hải quan Đứng về phía doanh nghiệp thì tiền thuế sẽ được tính vào chi phí hàng hoá do đó nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới giá cả của hàng hoá Tính thuế đúng, đủ là công việc không phải chỉ của hải quan

và còn là của doanh nghiệp hay người được uỷ nhiệm, người khai thuê hải quan Tuy nhiên, doanh nghiệp bắt buộc phải chấp hành và thực hiện đúng các quyết định của Nhà nước về thuế

- Thông qua các hoạt động thương mại, tìm kiếm những thoả thuận thương mại

ưu đãi đem lại lợi ích cao cho các doanh nghiệp kinh doanh XNK như việc hạn chế số thuế áp dụng trên một số mặt hàng chủ lực, dành ưu đãi cho sự tăng trưởng xuất khẩu, kích thích phát triển thương mại của một số hàng hoá cụ thể giữa các nước Từ đó có thể có những tác động ảnh hưởng đến quyền sử dụng nguồn nhân lực, nguồn vốn, giúp cho các doanh nghiệp có thể tận dụng được các nguồn lực này một cách không hạn chế Được thúc đẩy bởi chính trị hay kinh tế, thoả thuận thương mại quốc tế là một diễn đàn cho các chính phủ thương thảo các mục tiêu của họ, Thoả thuận thương mại quốc tế có thể cho phép thuế suất thấp hơn với một số nước và/hoặc thuế suất cao hơn hay bị cấm đoán đối với các nước khác Thuế nhập khẩu cũng có thể gây trở ngại cho thương mại quốc tế khi mà bất đồng và mẫu thuẫn nảy sinh giữa nhà nhập khẩu và nhà sản xuất trong nước

- Tìm kiếm thông tin trên cơ sở các thống kê, số liệu về giá cả, loại mặt hàng, nhà nhập khẩu, xuất xứ … qua các năm, các thời kỳ, đem lại sự rõ ràng, cụ thể về thị trường toàn cầu và xu hướng sử dụng các nguồn lực từ đó có những quyết định kinh tế chính xác Các chính sách kinh tế, thương thảo thương mại cũng cần phải dựa vào các

Footer Page 29 of 16

Trang 30

số liệu này để làm định hướng và nếu cần thiết thì sẽ điều chỉnh cho phù hợp Yêu cầu của dạng thông tin này cần phải đầy đủ, chính xác và minh bạch

Quan tâm đến những chính sách hạn chế của Nhà nước như việc cấm nhập khẩu hay nâng cao mức thuế suất hoặc đề ra những quy định khắt khe đối với việc nhập khẩu một mặt hàng cụ thể nhằm bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp trong nước; bảo hộ bản quyền và nhãn mác bằng cách hình thức xử phạt cụ thể các hành động, những hàng hoá vi phạm… Nhà nhập khẩu có thể bị cản trở nhập khẩu các mặt hàng “chất xám” khi mà Chính phủ ra tuyên bố thừa nhận quyền sở hữu của người giữ bản quyền về mặt hàng đó Ví dụ như với thương hiệu giầy thể thao

“ADIDAS” thì các nhập khẩu buộc phải có được chấp thuận của hãng này để có thể được kinh doanh các mặt hàng, phụ kiện có liên quan đến thương hiệu ADIDAS Các sản phẩm vi phạm có khả năng bị phạt hành chính, tịch thu, hay buộc tiêu huỷ phụ thuộc vào mức độ vi phạm của chủ hàng

- Đặc biệt chú trọng đến việc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, ngăn chặn, phòng ngừa và chống lại các tác nhân gây bệnh, đặc biệt trong vấn đề thực phẩm, thuốc men

và các dịnh bệnh khó kiểm soát (Bò điên, cúm gà, SARS, AIDS, heroin, các chất gây nghiện tổng hợp … )

- Vấn đề an ninh quốc phòng cũng được quan tâm hàng đầu khi mà hiện nay tình hình an ninh trên thế giới luôn căng thẳng, có nhiều biến động và ở trong tình trạng ngày càng leo thang với các cuộc khủng bố, vây ráp, các cuộc chiến tranh phi lý

và các chế độ chính trị đi ngược lại xu thế của nhân loại Nội dung này bao gồm cả việc bảo vệ các nguồn lợi, các nguồn tài nguyên trong nước, tránh thất thoát tài sản của quốc gia, bảo vệ các loài thú, sinh vật quý hiếm trong nước Cấm hoặc hạn chế về

số lượng và cho một số nhà doanh nghiệp nhất định (thường là kiểm soát bằng giấy phép của bên quân đội) được kinh doanh thương mại mặt hàng vũ khí, đạn dược, thiết

bị quân sự; cấm vận chuyển, buôn bán các loài quý hiếm đang có nguy cơ bị đe doạ tuyệt chủng; cấm kinh doanh các mặt hàng nhạy cảm ảnh hưởng đến văn hoá, bản sắc dân tộc

1.2 Yêu cầu nghiệp vụ đối với một người khai thuê hải quan:

Để thực hiện các công việc của dịch vụ khai thuê hải quan, người khai thuê hải quan phải được trang bị đầy đủ những kiến thức cơ bản sau đây:

- Incoterms: Các điều khoản được đề cập trong Incoterms quy định rõ ràng về

đối tượng và thời điểm dịch chuyển các rủi ro và chi phí trong quá trình kinh doanh Footer Page 30 of 16

Trang 31

XNK, phân định rõ trách nhiệm khai báo hải quan kể cả xuất khẩu và nhập khẩu thuộc

về người bán hay người mua

- Thủ tục tại khu vực chuyển tải: Liên quan đến thủ tục hải quan đối với các

hàng hoá không thông quan mà chỉ quá cảnh để chuyển tải sang một phương tiện chuyên chở, vận tải khác để đưa đến một địa điểm khác mà ở đó hàng hoá sẽ được hoàn tất thủ tục hải quan Như vậy, có thể hàng hoá sẽ được quá cảnh qua biên giới một nước để nhập khẩu vào một nước khác

- Kho ngoại quan: Là một dạng kho đặc biệt, có thể được vận hành để dùng

cho cả xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá Cơ quan hải quan sẽ chấp nhận dành ra một khu vực để làm kho dưới sự giám sát của hải quan để lưu trữ hàng hoá mà dự định dành cho xuất khẩu hoặc nhập khẩu Khi đó, hàng hoá coi như đã ra khỏi biên giới nhưng chưa thật sự xuất khẩu đối với hàng dự định xuất khẩu hay đã qua biên giới nhưng chưa thật sự nhập khẩu đối với hàng dự định nhập khẩu

- Hệ thống HS (Harmonised Tariff System) : Đây là một hệ thống điều hoà mô

tả và mã hoá hàng hoá của Hội đồng hợp tác Hải quan thế giới, nay gọi là Tổ chức Hải quan thế giới Tất cả các loại hàng hoá được phân chia một cách rõ ràng và khoa học theo các mã số riêng biệt nhằm quản lý các mặt hàng XNK một cách hệ thống, trên cơ

sở đó xác định tỷ lệ thuế xuất khẩu, nhập khẩu tương ứng Hệ thống gồm 97 chương

và các phụ lục Các loại hàng hoá được phân chia đến cấp độ phân nhóm hàng sẽ được

mã hoá 6 chữ số và phân chia đến cấp độ mặt hàng sẽ được mã hoá 8 chữ số

- Thuế và lệ phí: Là các quy định của Chính phủ liên quan đến việc đánh thuế

hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu nhằm bảo hộ nền kinh tế trong nước, bảo về tài nguyên môi trường và an toàn, trật tự kinh tế-xã hội Đây cũng là một nguồn thu lớn của Chính phủ Người kinh doanh XNK không thể bỏ qua thuế và các lệ phí, coi đây như là một bộ phận cấu thành nên giá cả hàng hoá Thuế và lệ phí được quy định một cách công khai và thường xuyên thay đổi tuỳ thuộc vào chính sách kinh tế của mỗi quốc gia

- Chính sách ưu đãi kinh tế, ưu đãi hải quan: Điều này hoàn toàn phụ thuộc

vào chính sách kinh tế của mỗi quốc gia đối với quốc gia khác hay các quốc gia khác theo các quy định cụ thể, các hiệp định song phương và đa phương hoặc cũng có thể

do chính sách áp đặt kinh tế của riêng quốc gia đó Theo tinh thần của WTO thì các chính sách này phải được minh bạch và rõ ràng trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi

Footer Page 31 of 16

Trang 32

- Chính sách về hạn ngạch: Chủ yếu để bảo hộ nền kinh tế trong nước và dành

ưu đãi cho các quốc gia khác bằng việc phân chia hạn ngạch Người xuất khẩu từ một nước nhất định xuất khẩu một loại hàng hoá nhất định trong một khoảng thời gian đã được ấn định trước sẽ được hưởng một chế độ thuế khoá ưu đãi hơn hẳn so với người xuất khẩu khác không hội tụ đủ các điều kiện trên, có trường hợp còn bị cấm xuất khẩu hàng hoá của mình vào thị trường đó [24]

1.3 Quy trình thực hiện dịch vụ khai thuê hải quan gồm các bước như sau:

 Bước 1: Chuẩn bị chứng từ: Các chứng từ phải phù hợp với nhau và với luật pháp Việt Nam cũng như các thông lệ quốc tế

 Bước 2: Mở tờ khai: Hải quan kiểm tra tính đúng đắn của bộ hồ sơ hàng hoá

 Bước 3: Kiểm tra hàng hoá: Cán bộ hải quan kiểm tra thực tế hàng hoá, đối chiếu với bộ hồ sơ đã được chấp thuận

 Bước 4: Kiểm tra thuế XNK và các khoản thu khác: tính toán thuế XNK, thu thuế hoặc ra thông báo thuế, thu ngay các khoản lệ phí hải quan Việc tính thuế căn cứ vào Biểu thuế hiện hành do Bộ Tài Chính ban hành Biểu thuế này thường xuyên được cập nhập, sửa đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế và theo

lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

 Bước 5: Xác nhận thông quan hàng hoá: cho phép lô hàng được chuyển ra khỏi Việt Nam (đối với hàng xuất khẩu) hoặc lô hàng được đưa vào lưu thông ở thị trường nội địa (đối với hàng nhập khẩu)

 Bước 6: Hồi tố hải quan: trong thời hạn 5 năm kể từ ngày thông quan hàng hoá,

cơ quan Hải quan có quyền thanh kiểm tra lại toàn bộ công việc

2 Dịch vụ đại lý vận tải (Agent)

Đại lý là một thương nhân được người uỷ thác giao cho làm một hoặc một số công việc nhất định và được hưởng thù lao cho việc thực hiện các công việc đó Khi

đó, người giao nhận hoạt động như một cầu nối giữa người gửi hàng và người chuyên chở, như là một đại lý của người chuyên chở hoặc của người gửi hàng chứ không đảm nhận trách nhiệm của người chuyên chở

Trước đây người giao nhận không đảm nhiệm trách nhiệm của người chuyên chở Họ chỉ được coi là cầu nối giữa người gửi hàng và người chuyên trở như là một đại lý của người chuyên chở hoặc của người gửi hàng Người giao nhận làm cho việc kinh doanh của người chuyên chở tốt hơn do am hiểm, gần gũi khách hàng hơn Và nếu người chuyên chở tổ chức được nhiều đại lý ở các khu vực thị trường khác nhau Footer Page 32 of 16

Trang 33

thì xác suất có khách hàng lớn hơn là khi không có các đại lý Người giao nhận còn có thể làm các dịch vụ mà hãng chuyên chở ủy thác Đối với người gửi hàng thì đại lý cũng thực sự cần thiết để có thể nhanh chóng tiếp cận được với người chuyên chở

Đối với hàng hoá phải chuyển tải hoặc quá cảnh qua nước thứ ba, người giao nhận sẽ lo liệu thủ tục quá cảnh hoặc tổ chức chuyển tải hàng hoá từ phương tiện vận tải này sang phương tiện vận tải khác, hoặc giao hàng đến tay người nhận Công việc chuyên môn này của người giao nhận làm giảm tối thiểu thời gian tiêu phí và rủi ro, tổn thất, trộm cắp, hư hỏng hàng hoá ở các điểm chuyển tải Trong trường hợp phải lưu kho hàng hoá trước khi xuất khẩu hoặc sau khi nhập khẩu, người giao nhận sẽ lo liệu bằng phương tiện của mình hoặc thuê của người khác và phân phối hàng hoá nếu cần

Trong xu thế kinh doanh hiện nay của Việt Nam, thị trường tuy được coi là một trong những mảnh đất mầu mỡ để các tập đoàn nước ngoài đầu tư Nhưng thực tế ta luôn bị coi là một nền kinh tế yếu, chưa đáng tin cậy Chính vì vậy, nếu muốn phát triển ngành giao nhận vận tải, ta cần phải có những đại lý quốc tế mạnh, những công

ty giao nhận hàng đầu quốc tế đỡ đầu, giới thiệu, cung cấp mối hàng, cũng như bảo lãnh, giúp đỡ Khi có được những đại lý đáng tin cậy, ta có thể hoàn toàn yên tâm với công việc trong nước

2.1 Nội dung của dịch vụ đại lý vận tải

Trong Nghị định 10/2001/NĐ-CP có quy đinh về công việc của dịch vụ đại lý vận tải bao gồm các công việc sau, theo sự uỷ thác của chủ hàng:

- Tổ chức và tiến hành các công việc phục vụ quá trình vận chuyển, giao nhận hàng hoá trên cơ sở hợp đồng vận chuyển bằng đường biển hoặc hợp đồng VTĐPT

- Cho thuê, nhận thuê hộ phương tiện vận tải, thiết bị bốc dỡ, kho tàng, bến bãi và các thiết bị chuyên dùng hàng hải khác

- Làm đại lý container

- Được giải quyết các công việc khác theo uỷ quyền

Để thực hiện những hoạt động mà theo người giao nhận là cần thiết một cách hợp lý khi thực hiện các nghĩa vụ của mình vì quyền lợi của khách hàng Trong trường hợp không hoàn thành trong một dịch vụ thương mại và khách hàng chối bỏ trách nhiệm của mình với hàng hoá vì lý do chi phí, người giao nhận có quyền lưu giữ hàng hoá với chi phí do khách hàng chịu, để bảo vệ quyền lợi của mình

Footer Page 33 of 16

Trang 34

Tuy nhiên, không nhất thiết lúc nào người giao nhận cũng hỏi ý kiến của khách hàng Chẳng hạn khi bao bì hỏng thì người giao nhận có trách nhiệm thay thế, bao bọc, sửa chữa, nhằm hạn chế tối đa mức độ tổn thất

Tóm lại người giao nhận có quyền đại lý với chủ hàng của mình, nhưng những điều khoản này không thực sự đủ bảo vệ cho họ trong thực tế giao nhận hiện đại ngày nay Vì vậy, người giao nhận giao dịch theo điều kiện và điều khoản đã biết, theo điều kiện tiêu chuẩn quốc gia

2.2 Quy trình thực hiện dịch vụ đại lý vận tải

 Bước 1: Nhận thông tin yêu cầu thu xếp vận chuyển hàng hoá từ chủ hàng

 Bước 2: Thông báo chi tiết về lô hàng cho người uỷ thác đại lý gồm các nội dung: Tên người gửi hàng, tên hàng, số đơn đặt hàng hoặc số hợp đồng mua bán, số lượng hàng hoá, trọng lượng hàng, phương thức vận chuyển dự kiến, tên tàu dự kiến, ngày khởi hành, ngày dự kiến cập cảng đích …

 Bước 3: Nhận lệnh yêu cầu của chủ hàng về việc đồng ý cho xếp hàng

 Bước 4: Liên hệ với hãng vận chuyển để thu xếp chỗ cho lô hàng ở trên tàu, thông báo cho người gửi hàng để chuẩn bị giao hàng đúng như dự kiến

 Bước 5: Nhận hàng, chuẩn bị và cung cấp chứng từ vận tải cho người gửi hàng

 Bước 6: Thông báo chi tiết về lô hàng cho hãng vận chuyển để yêu cầu cung cấp chứng từ vận tải; thông báo chi tiết hàng hoá cho hãng bảo hiểm để mua bảo hiểm cho hàng hoá khi được yêu cầu

 Bước 7: Thông báo về lô hàng cho người nhận hàng hoặc đại lý của người nhận hàng, gửi các chứng từ vận tải có liên quan

 Bước 8: Liên tục theo dõi hành trình của lô hàng, đảm bảo hàng hoá đi đúng lịch trình dự kiến và đến điểm đích đúng như dự kiến Ngay lập tức thông báo cho người nhận hàng khi có sự vụ phát sinh

 Bước 9: Nhận tiền hoa hồng đại lý

2.3 Trách nhiệm của người giao nhận với tư cách là đại lý vận tải

a Trách nhiệm với khách hàng

Chịu trách nhiệm với khách hàng về những hư hỏng, mất mát hàng hoá nếu do lỗi lầm nghiệp vụ, kể cả lỗi do người làm công của người giao nhận, nhưng đã gây thiệt hại về tài chính cho khách hàng Ví dụ trong các trường hợp sau:

- Giao hàng trái với chỉ dẫn của khách hàng

- Quên mua bảo hiểm cho khách hàng

Footer Page 34 of 16

Trang 35

- Sai sót khi làm thủ tục hải quan gây chậm chễ tổn thất

- Gửi sai địa chỉ

- Tái xuất hàng mà không tuân theo thủ tục cần thiết để xin hoàn thuế gây thiệt hại cho khách hàng

- Không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho người nhận hàng

- Giao hàng mà không thu tiền của chủ hàng

- Giao hàng không đúng chủ

b Trách nhiệm với bên thứ 3

Đó thường là công ty bốc xếp, cảng những cơ quan có liên quan đến hàng hoá trong quá trình chuyên chở khi bị các cơ quan này khiếu nại đòi bồi thường tổn thất, hoặc đòi bồi thường do bị tai nạn về con người do hàng hoá gây ra thì người giao nhận có trách nhiệm thu xếp, chi phí do mình chịu Mức bồi thường tổn thất sẽ do pháp luật địa phương quy định hoặc căn cứ vào các quy định quốc tế, ví dụ như điều 6 Quy tắc UNCTAD/ICC quy định “Giới hạn trách nhiệm của người vận tải đa phương thức”

3 Dịch vụ chuyên chở, kinh doanh cước vận chuyển (Freight Forwarder)

Nghiệp vụ chủ yếu của dịch vụ này là việc người giao nhận do nắm bắt được tốt hơn tình hình thị trường vận tải từ đó có thể ký kết được các hợp đồng vận tải với giá cả và chi phí thấp hơn so với người XNK, từ đó họ có thể dùng giá cước vận chuyển đó để kinh doanh, bán lại cho người XNK với một mức giá hợp lý hơn giá cước mà người XNK có thể có được từ người vận chuyển thật sự Người giao nhận sẽ được hưởng phần chênh lệch giữa giá mua và giá bán cước vận chuyển

Hiện nay thì phương thức vận chuyển hàng hoá đường biển bằng container đã trở nên phổ biến khắp thế giới Nó cũng phù hợp với đặc trưng của hàng hoá vận chuyển bằng đường biển là hàng hoá cồng kềnh, giá trị thường không lớn, không có các yêu cầu cấp bách về thời gian Trên thực tế loại hàng này chiếm khoảng 80% tổng khối lượng hàng hoá trong thương mại quốc tế Ví dụ như đối với hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị, hàng chế tạo, nguyên liệu, phụ liệu cho công nghiệp… còn hàng xuất khẩu của nước ta chủ yếu là nông sản, nguyên liệu thô, hàng thủ công

mỹ nghệ … Nguyên lý vận chuyển container đơn giản hơn, song thực tế thì phương thức này mới chỉ phổ biến khắp thế giới được gần 50 năm nay Vào tháng 4-1956, lần đầu tiên con tàu chở dầu mang tên Ideal X của hãng Sealand do Malcolm MsLean thành lập đã tiến hành vận chuyển 58 container từ hải cảng Newark đến Houston (Mỹ) Footer Page 35 of 16

Trang 36

cùng với nhiều hàng hoá khác nữa Xuất phát từ ý tưởng đó, sau 3 tháng thử nghiệm, phí vận chuyển của hãng tàu này từ 5,83 USD/tấn giảm hẳn xuống còn 0,15 USD/tấn [25] Sự kiện ấy thực sự gây tiếng vang lớn và ngành vận tải thế giới liền triển khai áp dụng phương thức vận chuyển tiên tiến này nhằm đạt hiệu suất cao hơn mà giá thành lại rẻ hơn Tuy nhiên, muốn áp dụng phương thức này lại đòi hỏi vốn đầu tư lớn và đội ngũ nhân sự lành nghề Đầu tiên, cần phải có bến cảng kiên cố, phù hợp với kho bãi đủ rộng và thiết bị cần cẩu chuyên dụng Lại phải có đội tầu xà lan và xe tải tương ứng Điều đó đặt ra yêu cầu hoàn thiện mạng lưới giao thông, thống nhất các thông số

về kích thước container, chủng loại container, kích thước các loại xe, tầu thuyền và các phương tiện bốc xếp chuyên dụng Để quản lý, điều hành và khai thác phương thức vận chuyển container đạt kết quả khả quan, yếu tố quyết định vẫn là con người:

đó là lực lượng đó qua đào tạo, huấn luyện quy củ Các loại container ngày càng đa dạng hơn, với nhiều chủng loại từ phổ thông đến đặc biệt, phù hợp với hầu hết các loại hàng hoá đã tạo cho phương thức vận chuyển này một thế đứng khó có thể thay đổi trong ngành công nghiệp vận tải của thế giới Với việc sủ dụng ngày càng nhiều container, việc tắc nghẽn hàng hóa tại các cảng biển đã được giải toả Vấn đề tắc nghẽn đã được chuyển từ bến cảng hoặc cầu tàu sang kho chứa hàng hoặc bãi chứa container Người giao nhận vận tải cũng đặc biệt chú trọng đến phương thức vận chuyển container và dịch vụ kinh doanh cước vận chuyển cũng phần lớn liên quan đến

hình thức vận tải tiên tiến này

3.1 Vai trò là người chuyên chở khi cung cấp dịch vụ kinh doanh cước vận chuyển

Trước đây, người giao nhận chỉ đóng vai trò trung gian giữa người vận chuyển

và khách hàng, thì bây giờ người giao nhận tự đứng ra cung cấp dịch vụ vận chuyển Điều đó không có nghĩa là họ sở hữu phương tiện mà có thể đi thuê của người khác Nhưng quan trọng hơn, họ không đóng vai trò là đại lý mà đóng vai trò người chuyên chở, vì họ đã trở thành một bên chính của hợp đồng Do đó, họ không được lợi dụng quyền bảo vệ và giới hạn trách nhiệm giành cho đại lý mà phải có trách nhiệm thực hiện toàn bộ quá trình vận tải, và tổn thất hàng hoá do lỗi của mình

Ngoài ra người giao nhận còn đóng vai trò là người chuyên chở trong các trường hợp họ cung cấp dịch vụ gom hàng, dịch vụ VTĐPT, hoặc cung cấp dịch vụ vận tải trọn gói (tự vận chuyển hàng hoá bằng các phương thức vận tải khác nhau và các dịch vụ để thực hiện quá trình chuyên chở đó, hay nói cách khác ngành gom hàng Footer Page 36 of 16

Trang 37

hay ngành kinh doanh VTĐPT cũng vẫn là ngành chuyên chở) Tuy nhiên hai hình thức nay còn có những đặc trưng riêng và sẽ được trình bầy cụ thể ở từng phần riêng

3.2 Quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của người giao nhận cung cấp dịch vụ kinh doanh cước vận chuyển

Với tư cách là người chuyên chở, người giao nhận là một bên độc lập của hợp đồng, nhân danh mình đảm nhận việc cung cấp dịch vụ giao nhận theo yêu cầu của khách hàng, lúc này người giao nhận phải chịu trách nhiệm của chính mình và các hành vi sơ xuất của các đại lý, người làm công cho mình Họ chỉ được hưởng ở khách hàng một khoản tiền theo giá dịch vụ giao nhận mà họ cung cấp chứ không theo chế

độ hoa hồng đại lý Điểm khác biệt chính ở đây so với khi người chuyển chở đóng vai trò là đại lý là họ sẽ đồng thời ký kết hai hợp đồng vận tải mà ở một hợp đồng với người chuyên chở thật sự thì họ là người đi thuê vận tải, còn ở hợp đồng kia thì họ lại

là người cung cấp dịch vụ vận tải Hai hợp đồng này thường là trùng khít nhau, nhưng cũng có lúc có sự khác biệt khi người giao nhận có thể cung cấp thêm cho khách hàng của họ một số dịch vụ khác nữa do chính họ cung cấp hoặc do họ đi thuê lại từ một người khác

Thời hạn trách nhiệm được kéo dài từ khi người giao nhận nhận hàng để chở cho đến khi giao hàng theo yêu cầu

Trường hợp miễn trách nhiệm do các nguyên nhân sau:

- Do hành vi thiếu sót của chủ hàng, đại diện của chủ hàng hoặc người mà người giao nhận giao hàng để chở

- Bao bì ký mã hiệu hàng hoá không đầy đủ hoặc sai

- Do việc bốc xếp, dỡ, hoặc dịch chuyển hàng hoá của chủ hàng hoặc đại diện của chủ hàng

- Do nội tỳ của hàng hoá

- Do đình công cấm xưởng hoặc hạn chế lao động

Trường hợp giới hạn trách nhiệm:

- Trong mọi trường hợp, trách nhiệm của người giao nhận hàng không vượt quá 666,67 SDR mỗi kiện hoặc 2 SDR mỗi kg hàng hoá cả bì khi bị mất mát hư hỏng Tuy nhiên, giới hạn này có thể khác đi chỉ khi tính chất hàng hoá đã được khai báo và người giao nhận đã chấp nhận trên hợp đồng chuyên chở

- Nếu hành trình của hàng hoá không gồm quãng chuyên chở bằng đường biển hoặc đường thuỷ nội địa thì giới hạn trách nhiệm là 8,33SDR/kg hàng hoá cả bì [29]

Footer Page 37 of 16

Trang 38

Nếu mất mát hư hỏng hàng hoá xảy ra trên chặng vận chuyển, mà trên chặng

đó bắt buộc áp dụng công ước quốc tế hoặc của quốc gia nào đó thì giới hạn trách nhiệm hoàn toàn phụ thuộc vào luật quốc gia đó

Nếu người giao nhận chịu trách nhiệm tổn thất do chậm giao hàng, giới hạn trách nhiệm của họ không vượt quá mức tương đương hai lần cước phí theo hợp đồng VTĐPT Tổng trách nhiệm người giao nhận không vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất toàn bộ hàng hoá

3.3 Quy trình thực hiện dịch vụ kinh doanh cước vận chuyển

 Bước 1: Nhận thông tin yêu cầu giá cước vận chuyển từ người gửi hàng và các thông tin liên quan đến lô hàng như thời gian dự kiến xuất hàng, tên hàng, số lượng hàng hoá, trọng lượng hàng hoá,

 Bước 2: Liên hệ với các hãng vận chuyển trên thị trường để tìm kiếm lịch trình vận chuyển phù hợp nhất với yêu cầu của khách hàng, cũng như giá cước vận chuyển thấp nhất hay hợp lý nhất Tuy nhiên, nếu người giao nhận đã có ký kết hợp đồng về giá cước với các hãng vận chuyển thì có thể sử dụng ngay những giá cả đó để làm cơ sở chào giá lại cho khách hàng của mình Trường hợp này, khách hàng sẽ không tốn thời gian chờ đợi lâu, tạo một tâm lý thoải mái

 Bước 3: Xác định chính xác giá cước bán ra của mình, có tính đến các yếu tố

về chi phí doanh nghiệp, lợi nhuận doanh nghiệp, giá cả trên thị trường, quan

hệ của doanh nghiệp với khách hàng … để làm bản chào giá cho khách hàng

 Bước 4: Nếu giá cước được chấp thuận, tiến hành các công việc cần thiết để thu xếp cho lô hàng được lên tầu đúng dự định Nếu khách hàng có yêu cầu thêm các dịch vụ giao nhận vận tải khác nữa thì đồng thời thực hiện luôn (như đóng gói hàng hoá, khai thuê hải quan, vận chuyển nội địa… )

 Bước 5: Yêu cầu khách hàng cung cấp chi tiết về lô hàng để chuẩn bị và cung cấp chứng từ vận tải cho người gửi hàng

 Bước 6: Thông báo chi tiết về lô hàng cho hãng vận chuyển để yêu cầu họ cung cấp chứng từ vận tải cho mình

 Bước 7: Thông tin chi tiết về lô hàng cho đại lý của mình hoặc người nhận hàng ở nước ngoài, gửi các chứng từ vận tải có liên quan

 Bước 8: Liên tục theo dõi hành trình của lô hàng, đảm bảo hàng hoá đi đúng lịch trình dự kiến và đến điểm đích đúng như dự kiến Ngay lập tức thông báo cho đại lý, người gửi hàng và người nhận hàng khi có sự vụ phát sinh

Footer Page 38 of 16

Trang 39

 Bước 9: Thu tiền cước vận chuyển và chi hoa hồng vận tải nếu có

 Bước 10: Thanh toán tiền cước vận chuyển cho hãng vận chuyển

3.4 Chứng từ giao nhận vận tải

Khi đóng vai trò là người chuyên chở, người giao nhận phải cấp cho khách hàng chứng từ vận tải riêng của mình, đồng thời họ cũng nhận những chứng từ giao nhận riêng của khách hàng Chứng từ này được lập nhằm mục đích qua đó khách hàng thiết lập quan hệ hợp đồng giữa người giao nhận với khách hàng để thu xếp việc vận chuyển hàng hoá từ nơi này đến nơi khác Với bản chỉ dẫn này, khách hàng cung cấp tất cả các chi tiết liên quan đến hàng sẽ gửi đi và các chứng từ cần thiết sẽ kèm theo Ngoài ra, nếu hàng hoá thuộc nhóm hàng hoá nguy hiểm, chủ hàng phải điền đầy đủ các thông tin cần thiết, chi tiết về hàng hoá theo mẫu quy định liên quan đến việc vận chuyển hàng hoá đó và phải ký xác nhận

Các chứng từ người đại lý giao cho khách hàng là loại chứng từ vận tải liên hợp (đa phương thức) lưu thông được của FIATA, dùng cho người giao nhận quốc tế với tư cách là người tổ chức vận tải hỗn hợp Chứng từ này được sử dụng rộng rãi nhất và được ICC công nhận Khi phát hành vận đơn FBL, người giao nhận không những có nghĩa vụ đối với thực hiện hợp đồng vận chuyển và giao hàng tại nơi đến,

mà còn có nghĩa vụ đối với những hành vi và hoặc sơ xuất của ngành chuyên chở và các bên thứ 3 khai mà họ thuê

4 Dịch vụ gom hàng (Cargo Consolidation)

4.1 Nội dung cơ bản của dịch vụ gom hàng

Gom hàng là tập kết hoặc chuyển tiếp (pre-cariage or on-carriage) container bằng bất kỳ phương thức vận tải nào đến hoặc từ tàu mẹ (main haul vessel) Ở châu

Âu, từ lâu khái niệm gom hàng đã được dùng để chỉ dịch vụ của người giao nhận gom hàng để phục vụ cho vận tải đường sắt Ngày nay, đặc biệt trong vận tải hàng hoá bằng container, dịch vụ gom hàng là không thể thiếu được nhằm biến hàng lẻ (LCL) thành hàng nguyên (FCL) nhằm tận dụng sức chứa của container và giảm cước phí vận tải Khi đó, gom hàng (Consolidation, Groupage) là việc tập hợp những lô hàng lẻ

từ nhiều người gửi ở cùng một nơi đi thành những lô hàng nguyên để gửi và giao cho một hoặc nhiều người nhận ở cùng một nơi đến Hàng lẻ (Less than Container Load - LCL) là nhưng lô hàng nhỏ không đủ một container hoặc những lô hàng lớn nhưng có nhiều người gửi, nhiều người nhận

Footer Page 39 of 16

Trang 40

Việc gom hàng mang lại lợi ích cho tất cả các bên có liên quan như người xuất khẩu, người gửi hàng, người chuyên chở, người giao nhận nói riêng và cho nền kinh tế quốc dân nói chung

Khi là người gom hàng, người giao nhận đóng vai trò là người chuyên trở đối với người có hàng gửi, còn đối với những người “chuyên chở thực sự” thì họ là người gửi hàng Những người gửi hàng lẻ, nhận lẻ không trực tiếp tiếp xúc với người

“chuyên chở thực sự” [32]

Khi đóng vai trò là người gom hàng, người giao nhận đã nhân danh mình thực hiện dịch vụ gom hàng và cấp vận đơn gom hàng của mình - House Bill of Lading (HBL) hoặc biên lai nhận hàng Forwarder‟s certificate of receipt (FCR) cho từng chủ hàng lẻ Đối với người có hàng gửi, người gom hàng coi như người chuyên chở, nhưng với giao nhận người chuyên chở thực sự thì họ lại là người gửi hàng Trong kinh doanh dịch vụ gom hàng, người giao nhận thực chất là mua buôn chở xếp hàng của người chuyên chở để bán lẻ cho người gửi hàng lẻ và hưởng chênh lệch từ việc mua bán đó

Khi cung cấp dịch vụ gom hàng, người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở vì họ đã cam kết vận chuyển hàng hóa từ nơi này đến một nơi khác Do vận đơn gom hàng chưa được Phòng thương mại quốc tế (ICC) thông qua và có nội dụng không thống nhất trên toàn thế giới nên có những vận đơn gom hàng lại ghi người gom hàng chỉ đóng vai trò là đại lý (as agent only) vì vậy trong hoạt động của mình người gom hàng đóng vai trò là người chuyên chở hoặc chỉ là đại lý tuỳ thuộc vào quy định của vận đơn mà họ cấp cho khách hàng Nếu người giao nhận làm dịch vụ gom hàng và cấp vận đơn vận tải đa phương thức - FIATA - FBL thì họ luôn đóng vai trò

để chở cho đến nơi giao hàng cuối cùng Tuy nhiên, nhiều người giao nhận đặc biệt là

ở những nước có điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn, đã chấp nhận trách nhiệm đó và nếu cần thì đòi lại từ người chuyển chở phải có trách nhiệm với những tổn thất xảy ra Thực tế cũng có một số người giao nhận không chấp nhận trách nhiệm, họ tiếp tục coi

Footer Page 40 of 16

Ngày đăng: 14/03/2017, 05:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w