Tại Bệnh viện YHCT Nghệ An chưa có đề tài nào nghiên cứu về hoạt động tồn trữ vị thuốc YHCT, vì vậy em tiến hành đề tài: “Phân tích thực trạng tồn trữ tại kho dược liệu đã chế biến- Bệnh
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÔ THỊ GÁI
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TỒN TRỮ TẠI KHO DƯỢC LIỆU ĐÃ CHẾ BIẾN – BỆNH VIỆN
Y HỌC CỔ TRUYỀN NGHỆ AN NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2016
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÔ THỊ GÁI
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TỒN TRỮ TẠI KHO DƯỢC LIỆU ĐÃ CHẾ BIẾN – BỆNH VIỆN
Y HỌC CỔ TRUYỀN NGHỆ AN NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TCQLD
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12 Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thị Minh Hiền
Thời gian thực hiện: 18/7/2016-18/11/2016
HÀ NỘI 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN Trước tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Thị Minh Hiền – Trưởng khoa Dược bệnh viện Hữu Nghị, người đã tận tình dẫn dắt và truyền đạt kinh nghiệm nghiên cứu cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ths Nguyễn Thị Hà – giảng viên trường đại học Dược Hà Nội đã hướng dẫn trực tiếp và chỉ bảo tận tình giúp em hoàn thành luận văn này
Em xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Phòng đào tạo và các thầy
cô trường Đại học Dược Hà nội đã giảng dạy và tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập tại trường
Em xin gửi lời cảm ơn tới các dược sĩ nhân viên khoa dược cùng tất cả các anh, chị đồng nghiệp Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình khảo sát, thu thập số liệu
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân đã ở bên cạnh khích lệ, động viên em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2016
Học viên
Lô Thị Gái
Trang 5MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Các khái niệm liên quan đến vị thuốc YHCT 4
1.2 Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới thuốc YHCT 5
1.3 Hoạt động tồn trữ thuốc trong bệnh viện 6
1.3.1 Vai trò và chức năng của kho 7
1.3.2 Quy trình quản lý tồn trữ thuốc 10
1.3.3 Xu hướng tồn trữ thuốc tại bệnh viện trên thế giới hiện nay 15
1.3.4 Các điều kiện về bảo quản thuốc YHCT 16
1.4 Sơ lược về Bệnh viện YHCT Nghệ An 17
1.4.2 Vị trí, chức năng 18
1.4.3 Kết quả thực hiện nhiệm vụ của bệnh viện năm 2015 19
1.4.4 Hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện năm 2015 19
1.4.5 Cơ cấu nhân lực và mô hình tổ chức của bệnh viện, khoa Dược Bệnh viện YHCT Nghệ An năm 2015 20
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng 25
2.2 Địa điểm nghiên cứu: 25
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 25
2.3.2 Các biến số nghiên cứu 25
2.3.3 Các chỉ số nghiên cứu 27
2.4 Kỹ thuật thu thập dữ liệu: 28
2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 28
2.5.1 Phương pháp phân tích 28
2.5.2 Phương pháp xử lý số liệu 28
Trang 6Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Khảo sát thực trạng bảo quản thuốc tại tại kho dược liệu đã chế biến - Bệnh viện YHCT Nghệ An năm 2015 29
3.1.1 Cơ sở vật chất 29
3.1.2 Nhân lực tại kho dược liệu đã chế biến 31
3.1.3 Trang thiết bị bảo quản 32
3.1.4 Hoạt động kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm của thuốc 34
3.2 Phân tích thực trạng dự trữ thuốc tại kho dược liệu đã chế biến- Bệnh viện YHCT Nghệ An năm 2015 35
3.2.1 Giá trị và khối lượng hàng tồn kho 36
3.2.2 Tỷ lệ hư hao của các vị thuốc trên sổ sách và thực tế 42
3.2.3 Quản lý lượng thuốc tồn kho 44
3.2.4 Công tác kiểm kê, báo cáo hàng tồn kho 46
Chương 4: BÀN LUẬN 47
4.1 Hoạt động bảo quản 47
4.2 Hoạt động dự trữ 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
KẾT LUẬN 50
KIẾN NGHỊ 51
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Số lượt người khám và điều trị năm 2015 19
Bảng 1.2 Kết quả hoạt động khám, chữa bệnh năm 2015 19
Bảng 1.3 Cơ cấu nhân lực của BV YHCT Nghệ An năm 2015 20
Bảng 1.4 Cơ cấu nhân lực của khoa Dược Bệnh viện 22
Bảng 2.5 Các biến số nghiên cứu 25
Bảng 2.6 Các chỉ số nghiên cứu 27
Bảng 3.7 Diện tích kho dược liệu đã chế biến 31
Bảng 3.8 Trang thiết bị bảo quản thuốc của kho dược liệu đã chế biến 33
Bảng 3.9 Trang thiết bị duy trì nhiệt độ, độ ẩm của kho dược liệu đã chế biến 33
Bảng 3.10 Trang thiết bị phòng chống cháy nổ tại kho dược liệu đã chế biến 34
Bảng 3.11 Hoạt động theo dõi nhiệt độ, độ ẩm 35
Bảng 3.12 Giá trị tồn kho năm 2015 36
Bảng 3.13 Các vị thuốc có khối lượng tồn kho lớn nhất 36
Bảng 3.14 Giá trị tồn kho và giá trị sử dụng theo tháng 38
Bảng 3.15 Giá trị và khối lượng tồn kho theo nhóm 39
Bảng 3.16 Tỷ lệ hư hao của các vị thuốc trên sổ sách và thực tế 42
Bảng 3.17 Tỷ lệ hư hao và giá trị hư hao của thuốc tại kho dược liệu đã chế biến 42
Bảng 3.18 Tỷ lệ hư hao và giá trị hư hao theo nhóm 43
Bảng 3.19 Tỷ lệ hư hao trung bình theo quý 43
Bảng 3.20 Áp dụng công thức của WHO để tính toán lượng đặt hàng cho nhóm thuốc bổ huyết 45
Bảng 3.21 So sánh giữa lượng tồn kho tối thiểu, tối đa và lượng tồn kho trung bình trên thực tế 45
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 1.1 Vị trí của kho đối với sản xuất và lưu thông 7
Hình 1.2 Quy trình quản lý tồn trữ 11
Sơ đồ 1.1 Mô hình tổ chức của BV YHCT Nghệ An 21
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ mô hình tổ chức khoa Dược 23
Sơ đồ 3.3 Sơ đồ kho dược liệu đã chế biến 29
Sơ đồ 3.4 Sơ đồ xuất nhập thuốc tại kho dược liệu đã chế biến 30
Trang 91
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo đảm mục tiêu sức khỏe của con người Hiện nay, các nước trên Thế giới đã bắt đầu xu hướng “trở về với tự nhiên” qua việc sử dụng ngày càng nhiều các loại thuốc có nguồn gốc cây cỏ hay các phương pháp điều trị của y học cổ truyền để dự phòng, chữa trị và nâng cao sức khỏe
Hơn 100 năm qua, sự phát triển và sản xuất hàng loạt các loại thuốc tổng hợp hóa học đã tạo ra bước tiến lớn trong công cuộc chăm sóc sức khỏe con người, thuốc có công rất lớn trong cuộc chiến của con người với bệnh tật Tuy nhiên, phần lớn dân số ở các nước đang phát triển vẫn dựa vào nền y học
cổ truyền và các loại thuốc thảo dược để chăm sóc sức khỏe Theo tổ chức Y
tế thế giới, có đến 80% dân số hưởng ứng việc chăm sóc sức khỏe ban đầu bằng Y học cổ truyền Tại châu Phi lên đến 90% và ở Ấn Độ 70% dân số phụ thuộc vào y học cổ truyền để giúp đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe Ở Trung Quốc, y học cổ truyền chiếm khoảng 40% của tất cả các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và hơn 90% các bệnh viện ở Trung Quốc có đơn vị y học cổ truyền (WHO 2005) Tại các nước phát triểng các liệu pháp tự nhiên đã tăng lên rất nhiều Ở Hoa Kỳ, trong năm 2007, khoảng 38% người lớn và 12% trẻ
em đã sử dụng một số phương pháp của y học cổ truyền để chữa bệnh
Y học cổ truyền Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa cộng đồng các dân tộc, gắn liền với kinh nghiệm phòng chữa bệnh có lịch
sử lâu đời, có nguồn dược liệu phong phú, phù hợp với điều kiện khí hậu, bệnh tật con người Việt Nam Từ cách đây hơn nửa thế kỷ (1955), Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã định hướng phát triển ngành y tế Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc, đại chúng, kết hợp chặt chẽ giữa hiện đại và cổ truyền
Trong mạng lưới cung ứng thuốc, bệnh viện là một mắc xích quan trọng, ở đó thuốc được cung cấp trực tiếp cho người bệnh Quản lý
Trang 102
cung ứng thuốc trong bệnh viện là việc quan tâm và giải quyết các vấn đề liên quan đến thuốc trong bệnh viện, từ việc lựa chọn, mua sắm đến cấp phát
và quản lý việc sử dụng thuốc trên bệnh nhân
Quản lý tồn trữ thuốc là một phần trong công tác quản lý cung ứng thuốc trong bệnh viện Quản lý tồn trữ thuốc phải bao gồm tất cả các khâu từ thu mua, bảo quản đến xuất hàng theo đúng quy định Để thực hiện tốt mục tiêu cung ứng thuốc tốt thì phải đảm bảo tồn trữ thuốc sao cho thuốc luôn được cung cấp đầy đủ kịp thời, đảm bảo chất lượng và giảm thiểu chi phí Việc tồn trữ quá nhiều loại thuốc với số lượng lớn, có thể làm tăng chi phí bảo quản, tồn trữ thuốc Để giảm chi phí tồn trữ, bệnh viện phải duy trì mức tồn trữ thấp, tuy nhiên khi đó khả năng thiếu thuốc cho bệnh nhân có thể xảy
ra và trong một số trường hợp sẽ gây ra những vấn đề nghiêm trọng nếu không có thuốc kịp thời Do đó quản lý tồn trữ thuốc hiệu quả là cân bằng được chi phí và nhu cầu về thuốc điều trị Thực tế cho thấy, đây luôn là bài toán khó, làm đau đầu các nhà quản lý, từ việc theo dõi lượng tồn kho thuốc
để đảm bảo thuốc luôn sẵn có cho bác sĩ kê đơn, cấp phát cho bệnh nhân đến việc dự trù mua thuốc hàng tháng
Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An là bệnh viện hạng II chuyên khoa
về YHCT trực thuộc Sở Y tế Nghệ An Với nhiệm vụ khám và chữa bệnh bằng các phương pháp YHCT kết hợp với Y học hiện đại, Bệnh viện tiếp nhận lượng bệnh nhân đến khám và điều trị ngày càng tăng Người bệnh chủ yếu là mắc các bệnh mãn tính nên số lượng bệnh nhân biến đổi theo thời tiết
và mùa vụ Do vậy nên khoa Dược gặp rất nhiều khó khăn trong công tác dự trữ thuốc Hơn nữa, cơ sở vật chất của khoa Dược bệnh viện đang còn nhiều thiếu thốn Kho còn chật hẹp, trang thiết bị bảo quản thuốc chưa đầy đủ, việc bảo quản thuốc YHCT còn chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết
Vấn đề quản lý tồn trữ thuốc luôn được xác định là một công tác thường xuyên, trọng tâm trong hoạt động của khoa Dược bệnh viện
Trang 113
YHCT Tại Bệnh viện YHCT Nghệ An chưa có đề tài nào nghiên cứu về hoạt động tồn trữ vị thuốc YHCT, vì vậy em tiến hành đề tài: “Phân tích thực trạng tồn trữ tại kho dược liệu đã chế biến- Bệnh viện YHCT Nghệ An năm 2015” với 2 mục tiêu sau:
1 Khảo sát thực trạng bảo quản thuốc tại tại kho dược liệu đã chế biến- Bệnh viện YHCT Nghệ An năm 2015
2 Phân tích thực trạng dự trữ thuốc tại kho dược liệu đã chế biến Bệnh viện YHCT Nghệ An năm 2015
Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tồn trữ tại kho dược liệu đã chế biến- Bệnh viện YHCT Nghệ An
Trang 124
Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Các khái niệm liên quan đến vị thuốc YHCT
Y học cổ truyền là những kiến thức, kỹ năng và thực hành dựa trên các
lý thuyết, niềm tin và kinh nghiệm bản địa đến các nền văn hóa khác nhau, được sử dụng để duy trì sức khỏe và phòng bệnh, chẩn đoán, cải thiện hoặc điều trị các bệnh về thể chất và tinh thần [17,18]
Dược liệu là một nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật, động vật hay
khoáng vật [5]
Thuốc từ dược liệu là thuốc được sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc
tự nhiên từ động vật, thực vật hoặc khoáng chất Thuốc có hoạt chất tinh khiết được chiết xuất từ dược liệu, thuốc có sự kết hợp dược liệu với các hoạt chất hóa học tổng hợp không gọi là thuốc từ dược liệu [16]
Thuốc cổ truyền là một vị thuốc (sống hoặc chín) hay một chế phẩm
thuốc được phối ngũ lập phương và bào chế theo phương pháp của y học cổ truyền từ một hay nhiều vị thuốc (có nguồn gốc từ thực vật, động vật hay khoáng vật) có tác dụng chữa bệnh hay có lợi cho sức khoẻ con người [5]
Thuốc đông y là thuốc từ dược liệu, được bào chế theo lý luận và
phương pháp của y học cổ truyền của các nước phương Đông [16]
Thuốc nam là các vị thuốc được nuôi, trồng hoặc khai thác trong nước ;
Thuốc bắc là các vị thuốc được nuôi trồng, khai thác ở nước ngoài (chủ yếu là Trung Quốc) [11]
Dược liệu thô là những dược liệu chưa qua chế biến theo phương pháp
Y học cổ truyền [5]
Chế biến các vị thuốc theo phương pháp cổ truyền là quá trình làm thay
đổi về chất và lượng của dược liệu thô thành vị thuốc đã được chế biến theo nguyên lý của Y học cổ truyền [5]
Trang 135
1.2 Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới thuốc YHCT
Nền Y học cổ truyền ở nước ta đã phát triển từ rất lâu nhưng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới thuốc YHCT chưa nhiều
Năm 2008, Bộ Y tế quyết định thành lập Vụ Y dược học cổ truyền với chức năng giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác kế thừa, bảo tồn, phát triển y, dược cổ truyền; kết hợp y, dược cổ truyền với y, dược hiện đại trong phạm vi cả nước.[6]
Ngày 15/12/2008 Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 39/2008/QĐ-BYT
về “Phương pháp chung chế biến các vị thuốc theo phương pháp cổ truyền” Tuy nhiên, văn bản này mới chỉ ban hành được phương pháp chung chế biến các vị thuốc mà chưa có phương pháp chế biến từng vị thuốc.[5]
Ngày 29 tháng 4 năm 2010 Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 12/2010/TT-BYT về “Danh mục thuốc y học cổ truyền chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh’’ Thông tư này được thay thế bởi TT 05/2014/TT-BYT ngày 14/02/2014.[11]
Ngày 8/10/2010 Bộ Y tế ban hành“phương pháp chế biến bảo đảm chất lượng đối với 85 vị thuốc đông y ’’ kèm theo quyết định số 3759/2010/QĐ-BYT Quyết định trên cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu thống nhất phương pháp chế biến của các vị thuốc thường xuyên sử dụng.[7]
Ngày 30/12/2011 Bộ Y tế ban hành Thông tư số 49/2011/TT-BYT về vệc “ban hành và hướng dẫn áp dụng tỷ lệ hư hao đối với vị thuốc YHCT trong chế biến, bảo quản và cân chia”.[9]
Ngày 17/3/2015 Bộ Y tế ban hành Thông tư số 05/2015/TT-BYT về Ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và thuốc vị thuốc YHCT thuộc phạn vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế.[11]
Trang 146
1.3 Hoạt động tồn trữ thuốc trong bệnh viện
Theo Tổ chức Y Tế thế giới (WHO) tồn trữ là sự bảo quản tất cả các nguyên liệu, vật tư, bao bì dùng trong sản xuất, mọi bán thành phẩm trong quá trình sản xuất và các thành phẩm trong kho [2]
Tồn trữ không chỉ là việc cất giữ hàng hóa trong kho mà nó còn là cả một quá trình xuất, nhập kho hợp lý, quá trình kiểm tra, kiểm kê, dự trữ và các biện pháp kỹ thuật bảo quản hàng hóa từ khâu nguyên liệu đến các thành phẩm hoàn chỉnh trong kho Công tác tồn trữ là một trong những mắt xích quan trọng của việc đảm bảo cung cấp thuốc cho người tiêu dùng với số lượng đầy đủ và chất lượng tốt nhất, giảm đến mức tối đa tỷ lệ hư hao trong quá trình sản xuất và phân phối thuốc [2]
Để đảm bảo chất lượng thuốc trong quy trình tồn trữ đòi hỏi khoa Dược phải có cơ sở vật chất đáp ứng các yêu cầu về bảo quản thuốc điều trị
có quy trình thực hành bảo quản thuốc tốt trong khoa Dược Kho thuốc phải được thiết kế đúng quy định Đảm bảo thực hiện 5 chống Đảm bảo thực hiện các quy chế quản lý đối với thuốc gây nghiện, hướng tâm thần theo đúng quy chế do Bộ Y Tế ban hành.Các loại thuốc đều phải đảm bảo được quản lý giám sát đầy đủ về nguồn gốc xuất xứ, số đăng ký lưu hành, lô, hạn dùng, phiếu kiểm nghiệm, chất lượng cảm quan Ngày 29/6/2001, Bộ Y tế đã có quyết định số 2701/2001/QĐ-BYT về việc triển khai áp dụng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc” ở tất cả các đơn vị sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, buôn bán, tồn trữ thuốc, kinh doanh dịch vụ kho bảo quản thuốc, khoa dược bệnh viện, viện nghiên cứu và trung tâm y tế[1] Vì vậy, việc chuẩn bị nhân sự, cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng như các tài liệu cần thiết để thực hiện GSP tại Bệnh viện là một nhiệm vụ cấp thiết của Khoa Dược nhằm cung ứng thuốc đảm bảo chất lượng đáp ứng nhu cầu điều trị cũng như sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, kinh tế trong điều trị
Trang 157
1.3.1 Vai trò và chức năng của kho
Kho hàng hóa có vị trí quan trọng đối với sản xuất và lưu thông Một mặt, kho gắn chặt với sản xuất và lưu thông, là một bộ phận của doanh nghiệp sản xuất hoặc lưu thông; mặt khác, nó lại có vị trí độc lập nhất định đối với sản xuất và lưu thông[15]
Phân phối lưu thông Kho Sản xuất
Người bán
Người mua
Nguyên liệu
Các công đoạn sản xuất
Phụ liệu
Vật tư, bao gói
Bán thành phẩm
Thành phẩm
Hình 1.1 Vị trí của kho đối với sản xuất và lưu thông
Chức năng của kho Dược:
- Bảo quản
- Dự trữ
- Kiểm tra, kiểm soát
- Cân đối nhu cầu
Kho dược được xây dựng theo đúng yêu cầu chuyên môn và an toàn Nhà kho được thiết kế, trang bị, sửa chữa, duy tu một cách có hệ thống sao cho có thể bảo vệ thuốc, nguyên liệu tránh được các ảnh hưởng bất lợi có thể
Trang 168
xảy ra như: sự thay đổi nhiệt độ và độ ẩm, chất thải và mùi, các động vật, sâu
bọ, côn trùng, đảm bảo thuốc có chất lượng ổn định
Kho phải được xây dựng ở nơi cao ráo, an toàn, phải có hệ thống cống rãnh thoát nước, để đảm bảo thuốc, nguyên liệu tránh được ảnh hưởng của nước ngầm, mưa lớn, và lũ lụt Kho phải có một địa chỉ xác định, nằm ở nơi thuận tiện cho việc xuất nhập, vận chuyển, bảo vệ
*Quy định về diện tích kho thuốc:
Kho phải đủ rộng, và khi cần thiết, cần phải có sự phân cách giữa các khu vực sao cho có thể bảo đảm việc bảo quản cách ly từng loại thuốc, từng
lô hàng theo yêu cầu
Tuỳ theo mục đích, qui mô của kho (kho của nhà sản xuất, kho của nhà phân phối, kho của khoa dược bệnh viện ) cần phải có những khu vực xác định, được xây dựng, bố trí hợp lý, trang bị phù hợp:
+ Khu vực tiếp nhận, biệt trữ và bảo quản thuốc, nguyên liệu chờ nhập kho + Khu vực lấy mẫu thuốc, nguyên liệu: khu vực này phải được xây dựng, trang bị thích hợp và phải có hệ thống cung cấp không khí sạch đảm bảo yêu cầu của việc lấy mẫu
+ Khu vực bảo quản thuốc
+ Khu vực bảo quản thuốc, nguyên liệu có yêu cầu bảo quản đặc biệt;
+ Khu vực bảo quản thuốc, nguyên liệu không đạt tiêu chuẩn chất lượng, chờ
xử lý;
+ Khu vực bảo quản nguyên liệu, thành phẩm đã xuất kho chờ đưa vào sản xuất hoặc cấp phát;
+ Khu vực đóng gói, ra lẻ và dán nhãn;
+ Khu vực bảo quản bao bì đóng gói;
+ Khu vực bảo quản biệt trữ trước khi xuất nguyên vật liệu;
Nhà kho phải được thiết kế, xây dựng, bố trí đáp ứng các yêu cầu về đường đi lại, đường thoát hiểm, hệ thống trang bị phòng cháy, chữa cháy
Trang 179
Trần, tường, mái nhà kho phải được thiết kế, xây dựng đảm bảo sự thông thoáng, luân chuyển của không khí, vững bền chống lại các ảnh hưởng của thời tiết như nắng, mưa, bão lụt
Nền kho phải đủ cao, phẳng, nhẵn, đủ chắc, cứng và được xử lý thích hợp để chống ẩm, chống thấm đảm bảo hoạt động của nhân viên làm việc trong kho, và hoạt động của các phương tiện cơ giới Nền kho không được có các khe, vết nứt gãy là nơi tích luỹ bụi, trú ẩn của sâu bọ, côn trùng
Với những kho lớn, diện tích toàn bộ của khu vực phải bao gồm diện tích của các bộ phận:
+ Diện tích nghiệp vụ: là diện tích để xếp hàng và bảo quản hàng hóa, diện tích sử dụng cho công tác xuất, nhập hàng hóa
+ Diện tích phụ: là diện tích dùng làm đường đi lại, diện tích dùng để thực hiện các công việc phù cho các nghiệp vụ kho
+ Diện tích hành chính, sinh hoạt
Tính diện tích hữu ích của kho Dược:
T
S1= x β
P Trong đó:
S1: Diện tích hữu ích của kho(tấn/m2) T: Lượng hàng chứa trong kho(tấn/m2) P: Sức chứa tiêu chuẩn của 1m2 diện tích đối với từng loại hàng (tấn/m2)
β: Hệ số sử dụng Nếu hàng hóa xếp trên giá : β = 0,42 đến 0,47
Nếu hàng hóa xếp trên bục : β = 0,65 đến 0,7
Nếu hàng hóa xếp thành khối đứng : β = 0,68 đến 0,75
Trang 1810
Một cách khác theo hướng dẫn của WHO cho những nước đang phát triển thì diện tích của một kho dược (với các kho nhỏ) được tính toán dựa trên
số dân tiêu thụ thuốc mà doanh nghiệp dược phục vụ[15]
1.3.2 Quy trình quản lý tồn trữ thuốc
Quản lý tồn trữ thuốc phải bao gồm tất cả các khâu từ thu mua, bảo quản đến xuất hàng theo đúng quy định
Trong khâu thu mua, một mặt phải quản lý chặt chẽ số lượng, chất lượng, quy cách phẩm chất, chủng loại, giá mua, chi phí mua và tiến độ thu mua, cung ứng phù hợp với kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp hay bệnh viện Mặt khác phải theo dõi nắm bắt được thông tin về tình hình thị trường, khả năng cung ứng của nhà cung cấp, các chính sách cạnh tranh tiếp thị được các nhà cung cấp áp dụng, tính ổn định của nguồn hàng
Trong khâu bảo quản dự trữ phải tổ chức tốt kho tàng bến bãi, thực hiện đúng chế độ bảo quản, xác định được mức bảo quản tối đa, tối thiểu cho từng loại hàng tồn kho để giảm mức hư hỏng, hao hụt, mất mát, đảm bảo an toàn, giữ được chất lượng của hàng tồn kho
Trong khâu xuất hàng, phải đảm bảo xuất hàng theo đúng quy trình, kiểm tra kiểm soát chặt chẽ chất lượng, hạn sử dụng, số lượng của thuốc, đảm bảo không có thuốc kém chất lượng do khâu tồn trữ đi vào khâu lưu thông đến tay người tiêu dùng
Một việc quan trọng trong công tác tồn trữ là xây dựng cơ số tồn kho các loại thuốc phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi bệnh viện, xuất phát từ nhu cầu điều trị, khả năng tài chính, điều kiện cung ứng, lưu thông thuốc tại cơ sở Các nhà quản lý cần xây dựng cơ số tồn kho hợp lý, đảm bảo tính kinh tế, không để tồn đọng thuốc lâu, nhiều gây ảnh hưởng đến công tác bảo quản và tồn đọng một lượng tiền lớn trong điều kiện và kinh phí điều trị có hạn Theo một số tài liệu, lượng thuốc tồn kho hợp lý là số lượng thuốc đảm bảo được nhu cầu sử dụng của bệnh viện từ 2-3 tháng
Trang 1911
Nhập hàng
Chuẩn bị phương tiện, nhân lực, thủ tục kiểm
Loại
Dựa vào nguyên tắc FEFO
Bảo quản
Đảm bảo nhiệt độ, độ ẩm Kiểm tra, vệ sinh đảm bảo 5 chống
Xuất hàng
Kiểm tra chứng từ Kiểm xuất
Trang 2012
- Duy trì niềm tin trong hệ thống: Nếu tình trạng hết hàng xảy ra thường xuyên, bệnh nhân sẽ mất lòng tin vào khả năng phòng và chữa bệnh của hệ thống cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe
- Giảm giá thành của một đơn vị sản phẩm: Đặt hàng với số lượng lớn
sẽ được chiết khấu và giảm chi phí vận chuyển từ các nhà cung cấp
- Tránh tình trạng thiếu kinh phí: Nếu không có tồn kho hoặc tồn kho không đủ sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hàng, lúc đó đặt hàng khẩn cấp sẽ gặp phải sự tăng giá của các nhà cung cấp hoặc mức giá sẽ cao hơn mức giá khi đặt hàng thường xuyên, dẫn đến thiếu hụt vốn
- Đáp ứng sự thay đổi của nhu cầu thị trường: Những thay đổi trong nhu cầu về loại thuốc chuyên khoa không thể dự đoán trước được Do đó, lượng tồn kho thích hợp sẽ giúp hệ thống đối phó với sự thay đổi đó
Theo quy định của Bộ Y tế, yêu cầu về kho thuốc cần đảm bảo nguyên tắc thực hành tốt bảo quản thuốc như: về cơ sở vật chất, nhân lực, trang thiết
bị và một số các quy định về nhiệt độ, độ ẩm[1]
1.3.2.2 Xác định lượng tồn kho an toàn
Hàng tồn kho là tất cả những nguồn lực dự trữ nhằm đáp ứng cho nhu cầu hiện tại hoặc tương lai, tồn kho như một lớp đệm lót giữa nhu cầu và khả năng sản xuất Lượng tồn kho quá thấp sẽ không đảm bảo cung ứng thuốc kịp thời, đầy đủ Còn lượng tồn kho cao thì ngoài việc thuốc dự trữ lâu sẽ hư hỏng, hao hụt chất lượng còn làm tăng chi phí tồn trữ thuốc Vì vậy, muốn đảm bảo cung ứng thuốc kịp thời, đầy đủ, chất lượng cao và giá thành hợp lý cho cộng đồng thì lượng thuốc dự trữ trong kho phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Đáp ứng được các nhu cầu ngoài dự kiến khi có dịch bệnh , thiên tai,
lũ lụt…
- Duy trì hoạt động bình thường của kho khi thuốc về kho chậm so với
dự kiến
Trang 2113
- Các kho có mức dự trữ thuốc tối đa với lượng thuốc vừa đủ thấp nhằm tránh dư thừa gây lãng phí và mức dự trữ thuốc tối thiểu đủ cao để tránh tình trạng thiếu hụt do nhu cầu bệnh nhân tăng cao hay việc nhận hàng xảy ra chậm
Tồn kho an toàn nhằm để bù đắp cho sự không chắc chắn đang tồn tại trong chuỗi cung ứng Theo nguyên tắc này, nếu mức độ không chắc chắn càng lớn, thì mức độ tồn kho an toàn yêu cầu càng cao Mức tồn kho an toàn
là tồn kho để phòng cho những trở ngại trong vận chuyển, phân phối, thiếu hụt thuốc
Lượng hàng dự trữ Lượng hàng dự trữ
Dự kiến hàng Dự kiến hàng Nhận hàng Nhận hàng
T T
SS
Đồ thị 1.1 Đồ thị biểu diễn quan hệ lượng hàng dự trữ theo thời gian khi
có và không có tồn kho an toàn T: Thời gian
SS: Lượng tồn kho an toàn
Trang 2214
Công thức tính lượng tồn kho an toàn:
SS = LT x CA
Trong đó:
- SS: Lượng tồn kho an toàn
- LT: Thời gian trung bình từ lúc đặt hàng đến lúc nhận hàng
- CA: Lượng tiêu thụ trung bình hàng tháng
Tuy nhiên lượng tiêu thụ hàng tháng không phải là không đổi và thời gian chờ nhận hàng cũng luôn thay đổi Do đó, hầu hết các hệ thống cung ứng đều tăng lượng tồn kho an toàn, ít nhất là đối với các mặt hàng thiết yếu để đối phó với sự tăng giảm của lượng tiêu thụ cũng như thời gian nhận hàng Để giải quyết vấn đề này có thể nhân lượng tồn kho an toàn với một hệ số thích hợp Nếu thời gian chuyển thuốc dài, nhu cầu sử dụng thuốc lớn thì lượng tồn kho an toàn càng lớn
1.3.2.3 Lượng tồn kho tối đa và tối thiểu
Các kho có mức dự trữ thuốc tối đa với số lượng vừa đủ thấp nhằm tránh tình trạng dư thừa gây lãng phí và mức dữ trữ thuốc đủ lớn để tránh tình
trạng thiếu hụt khi nhu cầu tăng cao và việc nhận hàng xảy ra chậm
Mức tồn kho tối thiểu là số tồn kho an toàn cộng với lượng thuốc,vật
tư tiêu hao cần phân phối trong thời gian từ khi đặt mua đến khi nhận
Công thức tính lượng tồn kho tối thiểu :
SMIN = LT x CA + SS Trong đó :
- SMIN là lượng thuốc tồn kho tối thiểu cần có để đảm bảo nhu cầu sử dụng
- LT: Thời gian trung bình từ lúc đặt hàng đến lúc nhận hàng
- CA là lượng thuốc tiêu thụ trung bình hàng ngày
- SS là Lượng tồn kho an toàn
Mức tồn kho tối đa là tồn kho tối thiểu cộng với lượng hàng cần phân phối giữa hai lần nhận hàng định kỳ liên tiếp
Trang 2315
Công thức tính lượng tồn kho tối đa:
SMAX = SMIN + PP x CA
Trong đó:
- SMAX là lượng tồn kho tối đa
- SMIN là lượng tồn kho tối thiểu
- PP là thời gian giữa hai lần nhận hàng định kỳ liên tiếp
- CA là lượng thuốc tiêu thụ trung bình hàng ngày
- CA là lượng thuốc tiêu thụ trung bình hàng ngày
- LT là thời gian giữa hai lần nhận hàng định kỳ liên tiếp
- PP là khoảng thời gian từ khi đặt mua đến khi nhận
- SS là lượng tồn kho an toàn
- SI là lượng tồn kho hiện thời
1.3.3 Xu hướng tồn trữ thuốc tại bệnh viện trên thế giới hiện nay
Việc tồn trữ thuốc tại Bệnh viện phải đảm bảo các yếu tố:
- Luôn có đủ thuốc (số lượng, chủng loại, dạng bào chế) và đảm bảo nhu cầu điều trị thuốc của Bệnh viện
- Chi phí cho việc đảm bảo thuốc phải thấp ở mức độ tối ưu, phù hợp với khả năng ngân sách, cán bộ điều trị và người bệnh, với hiệu quả kinh tế tốt nhất có thể.[7]
Như vậy, nếu tồn trữ với số lượng lớn làm cho chi phí cao, lãng phí Nếu tồn trữ thấp sẽ ảnh hưởng tới công tác điều trị Việc tồn trữ thuốc phụ thuộc vào mô hình bệnh tật cụ thể của từng bệnh viện và các yếu tố liên quan
Trang 2416
1.3.3.1 Xu hướng tồn trữ tại các nước phát triển:
Tại các nước phát triển, hệ thống cung ứng tương đối hoàn chỉnh vì:
- Hệ thống thông tin liên lạc thuận tiện, hệ thống điều hành trung tâm để xử lý các mệnh lệnh rất hoàn chỉnh, tự động hóa cao
- Hệ thống giao thông vận tải thuận lợi, có nhiều loại hình và phương tiện vận tải phù hợp với từng loại nhu cầu
- Hệ thống kho tồn trữ của hệ thống cung ứng được phân bố rộng khắp đảm bảo việc cung ứng theo yêu cầu nhanh nhất và đạt hiệu quả tối ưu
- Đội ngũ cán bộ làm công tác cung ứng có trình độ thực hành cao, được đào tạo công phu.[7]
1.3.3.2 Xu hướng tồn trữ tại các nước đang phát triển:
Tại các nước đang phát triển, không có hệ thống các yếu tố để có phương thức tồn trữ thuốc như các nước phát triển, do vậy nhiệm vụ đảm bảo luôn có đủ thuốc (chủng loại, số lượng, dạng bào chế) có chất lượng cho nhu cầu điều trị của bệnh viện là ưu tiên hàng đầu Chi phí cho công việc đảm bảo thuốc phải thấp nhất ở mức độ tối ưu, phù hợp với khả năng của ngân sách, cán bộ điều trị và của người bệnh với hiệu quả kinh tế cao.[7]
1.3.4 Các điều kiện về bảo quản thuốc YHCT
- Phòng chống được sự xâm nhập của côn trùng, các loài động vật gặm nhấm
và các loài động vật xâm hại khác; ngăn ngừa được sự phát triển của nấm mốc, mối mọt;
- Bố trí các khu vực hợp lý cho các công việc như: khu vực tiếp nhận, khu vực bảo quản, khu vực biệt trữ, khu vực xuất dược liệu, vị thuốc y học cổ truyền
Trang 25- Có phương tiện phù hợp cho vận chuyển hàng;
- Kho có đủ trang thiết bị để bảo quản dược liệu, vị thuốc y học cổ truyền như quạt thông gió, điều hòa nhiệt độ, máy hút ẩm, nhiệt kế, ẩm kế;
- Các thiết bị dùng để theo dõi điều kiện bảo quản phải được hiệu chuẩn định kỳ;
- Kiểm soát độ ẩm tương đối không quá 70%;
- Có đủ trang thiết bị cho phòng cháy, chữa cháy theo quy định của pháp luật.[10]
1.3.4.3 Hoạt động bảo quản:
- Bao, thùng hàng phải có nhãn mác và để đúng chủng loại, phải được sắp xếp hợp lý bảo đảm thông thoáng;
- Bảo đảm công tác vệ sinh kho;
- Có hệ thống sổ sách đầy đủ cho việc ghi chép theo dõi việc xuất nhập, công tác chế biến, tiêu chuẩn cơ sở của dược liệu, vị thuốc y học cổ truyền theo mẫu quy định
- Theo dõi chất lượng, hạn dùng, dược liệu và các vị thuốc y học cổ truyền thường xuyên; khi phát hiện có dấu hiệu không bảo đảm chất lượng, phải để
ở khu vực biệt trữ[10]
1.4 Sơ lược về Bệnh viện YHCT Nghệ An
Bệnh viện YHCT Nghệ An hiện nay, nguyên là bệnh xá Đông y dân lập quốc trợ thành lập ngày 16/4/1964 lúc bấy giờ chỉ có 10 giường bệnh Trong thời kỳ chiến tranh, sau nhiều lần sơ tán, đồng thời nâng số giường
Trang 2618
bệnh lên 50 giường bệnh với 31 cán bộ công nhân viên Sau miền nam giải phóng, Nghệ An được sát nhập với Hà Tĩnh (1976) nên chỉ tiêu giường bệnh nâng lên 85 giường bệnh, có 83 cán bộ nhân viên Thời gian này, Bệnh viện
có quyết định đổi tên thành Bệnh viện Y học dân tộc Nghệ Tĩnh I, sau đó chỉ tiêu giường bệnh lại được nâng lên 100 giường bệnh và có 100 nhân viên Hoạt động bệnh viện ngày càng phát triển về cả diện bệnh cũng như số lượng bệnh nhân Cuối năm 1990 do chia tách tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, Bệnh viện
Y học cổ truyền Hà Tĩnh I được chia tách và chuyển tên thành “Bệnh viện Y học Dân tộc Nghệ An” Từ đó trở về 150 giường bệnh nội trú và 50 giường ngoại trú với 150 cán bộ công nhân viên
Năm 1999, tại công văn số 2520/YT-YH của Bộ Y tế đổi tên bệnh viện thành Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An Năm 2003 được Bộ Y tế, UBND tỉnh quyết định nâng từ hạng III lên hạng II theo quyết định số 1127/QĐ.UB-
TC ngày 28/3/2003 Bệnh viện luôn quan tâm đẩy mạnh các hoạt động, lấy đoàn kết làm nền tảng cho sự phát triển, lấy nội dung nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, hiệu quả điều trị làm mục tiêu cơ bản để phấn đấu, đặc biệt
là công tác Y đức.[12]
1.4.2 Vị trí, chức năng
Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc
Sở Y tế Nghệ An Bệnh viện có chức năng tiếp nhận, khám bệnh, chữa bệnh kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại; Nghiên cứu khoa học, bảo tồn và phát triển y học cổ truyền; đào tạo, chỉ đạo tuyến về chuyên môn kỹ thuật; là
cơ sở thực hành về y, dược cổ truyền của các cơ sở đào tạo trong tỉnh và ngoài tỉnh
Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An có tư cách pháp nhân, có con dấu
và được mở tài khoản theo quy định của pháp luật; chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp của Sở y tế Nghệ An đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát về chuyên môn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 2719
1.4.3 Kết quả thực hiện nhiệm vụ của bệnh viện năm 2015
Trong năm 2015, Bệnh viện đã tổ chức khám chữa bệnh cho 8489 lượt bệnh nhân với 270 giường điều trị nội trú, công suất sử dụng giường bệnh đạt 129,6%
Năm 2015, bệnh viện bào chế 165 vị thuốc, sản xuất 13 loại thuốc nước, 03 loại thuốc hoàn, 02 loại cao lỏng và 01 loại cồn thuốc
1.4.4 Hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện năm 2015
Bảng 1.1 Số lượt người khám và điều trị năm 2015
2 Người bệnh không tham gia
BHYT
Tổng cộng 6867 100 Người bệnh đến khám và điều trị tại Bệnh viện YHCT Nghệ An chủ yếu là các người bệnh tham gia BHYT (93%), số người bệnh không tham gia BHYT chiếm tỷ lệ thấp(7%) điều này tác động tích cực đến hoạt động mua sắm của bệnh viện, do việc thanh toán chi trả viện phí chủ yếu là nguồn kinh phí từ cơ quan BHYT, phụ thuộc ít vào kinh tế bệnh nhân
Bảng 1.2 Kết quả hoạt động khám, chữa bệnh năm 2015
6 Tổng số lượt bệnh nhân điều trị
ngoại trú
Trang 2820
Số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện YHCT Nghệ
An năm 2015 trên 8 nghìn lượt, công suất giường bệnh đạt 129,6% và số ngày điều trị trung bình dài 19 ngày
1.4.5 Cơ cấu nhân lực và mô hình tổ chức của bệnh viện, khoa Dược Bệnh viện YHCT Nghệ An năm 2015
1.4.5.1 Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An năm 2015:
Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An năm 2015 được thể hiện ở bảng 1.3
Bảng 1.3 Cơ cấu nhân lực của BV YHCT Nghệ An năm 2015
Trang 2921
1.4.5.2 Mô hình tổ chức của Bệnh viện
Tổ chức của Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An năm 2015 gồm có 4 phòng chức năng và 11 khoa Lâm sàng, cận lâm sàng được biểu thị qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Mô hình tổ chức của BV YHCT Nghệ An
1.4.5.3 Cơ cấu nhân lực của khoa Dược Bệnh viện
Các hội đồng tư vấn: -Thuốc và điều trị
- Khoa học – Kỹ thuật
- Thi đua khen thưởng
- Chống nhiễm khuẩn
Trang 3022
Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý Cơ cấu nhân lực khoa Dược Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An như sau:
Bảng 1.4 Cơ cấu nhân lực của khoa Dược Bệnh viện
Trang 3123
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ mô hình tổ chức khoa Dược Tại khoa dược bệnh viện YHCT Nghệ An gồm có các kho: kho chính Nam – Bắc; kho dược liệu đã chế biến; kho Cao đơn – Tân dược; Kho VTYT – Hóa chất – Thuốc túi Kho chính nam bắc là nơi dự trữ dược liệu chưa chế biến, các dược liệu này được xuất cho tổ bào chế thuốc Thuốc sau khi bào chế được nhập vào kho dược liệu đã chế biến Kho dược liệu đã chế biến là nơi cấp phát thuốc theo đơn cho các khoa lâm sàng và bệnh nhân ngoại trú; xuất hàng cho tổ sản xuất thuốc cao đơn hoàn tán, thuốc túi
1.5 Một số nghiên cứu về tồn trữ thuốc tại khoa dược bệnh
Năm 2013, Nguyễn Hải Anh nghiên cứu “Phân tích hoạt động tồn trữ tại kho thuốc tiêm truyền tĩnh mạch, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức”
Năm 2014, Nguyễn Đăng Nghĩa nghiên cứu “Phân tích hoạt động tồn trữ và sử dụng thuốc ngoại trú tại bệnh viện Giao thông vận tải TP Hồ Chí Minh”
Năm 2014, Hà Minh Hào Nghiên cứu “Phân tích hoạt động tồn trữ, cấp phát vị thuốc Y học cổ truyền tại bệnh viện y học cổ truyền tỉnh Yên Bái năm 2014”
Trưởng khoa dược
Nghiệp
vụ
Dược
Kho và cấp phát
Thống
kê dược
Dược lâm sàng
Bào chế, pha chế thuốc
Trang 3224
Năm 2015, Ng uyễn Hoàng Khiêm nghiên cứu “Khảo sát công tác tồn trữ và sử dụng thuốc ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện An Biên, Tỉnh Kiên Giang”
Năm 2015, Nguyễn Xuân Sơn nghiên cứu “Đánh giá thực trạng bảo quản và tồn trữ tại kho 708 – cục Quân Y – Bộ quốc phòng”
Năm 2015, Bùi Đức Trung nghiên cứu “Phân tích hoạt động tồn trữ và cấp phát thuốc điều trị ung thư tại bệnh viện Hữu Nghị”
Các nghiên cứu trên đều tập trung vào khảo sát, đánh giá thực trạng bảo quản, tồn trữ các thuốc tân dược, có rất ít đề tài chú trọng đến hoạt động bảo quản, tồn trữ các thuốc y học cổ truyền Trong khi đó, thuốc y học cổ truyền là loại thuốc đòi hỏi khá khắt khe về điều kiện bảo quản để đảm bảo chất lượng dược liệu Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài này để làm rõ hơn những hạn chế gặp phải trong quá trình bảo quản cũng như dự trữ dược liệu
Trang 3325
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng
Cơ sở vật chất, trang thiết bị tại kho dược liệu đã chế biến
Lượng thuốc tại kho dược liệu đã chế biến
2.2 Địa điểm nghiên cứu:
Khoa dược - Bệnh viện YHCT Nghệ An
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp mô tả cắt ngang
2.3.2 Các biến số nghiên cứu
Đề tài tiến hành thu thập các biến số sau:
Bảng 2.5 Các biến số nghiên cứu
thập Mục tiêu 1: Khảo sát thực trạng bảo quản thuốc tại tại kho dược liệu đã chế
biến - Bệnh viện YHCT Nghệ An năm 2015
Các trang thiết bị có trong kho: Tủ, thùng nhựa, thùng tôn…
Trang 34viên dược được
đi đào tạo nâng
Sau đại học, đại học, cao đẳng, trung cấp, sơ cấp Mục tiêu 2: Phân tích thực trạng dự trữ thuốc tại kho dược liệu đã chế biến-
Bệnh viện YHCT Nghệ An năm 2015
9 Giá trị tồn kho
Dạng số Giá trị vị thuốc YHCT
tồn kho trung bình trong tháng
Phụ lục 4,5
10 Giá trị sử dụng Dạng số
Giá trị vị thuốc YHCT
sử dụng trung bình trong tháng