1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

166 846 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 4,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, nghiên cứu về mối quan hệ giữa TTKT trình bày trên BCTC và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu có thể cung cấp cho các nhà đầu tư có những hiểu biết hơn về mối quan hệ này từ đó đưa ra các

Trang 1

TRẦN MINH HIẾU

MỐI QUAN HỆ GIỮA THÔNG TIN KẾ TOÁN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA

CỔ PHIẾU CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ

TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- -TRẦN MINH HIẾU

MỐI QUAN HỆ GIỮA THÔNG TIN KẾ TOÁN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA

CỔ PHIẾU CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ

TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài “Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết TTCK Việt Nam” là đề tài do chính tác giả thực hiện

Tác giả dựa trên việc vận dụng các kiến thức đã học, các tài liệu tham khảo, kết hợp với quá trình nghiên cứu thực tiễn, thông qua việc tìm hiểu, trao đổi với giáo viên hướng dẫn khoa học để hoàn thành luận văn của mình

Luận văn này không sao chép từ bất kỳ một nghiên cứu nào khác Tác giả xin cam đoan những lời nêu trên là đúng sự thật

TP.HCM, ngày tháng năm 2015 Người thực hiện đề tài

TRẦN MINH HIẾU

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3

7 Kết cấu của bài nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6

1.1 Các nghiên cứu có liên quan trên thế giới và tại Việt Nam 6

1.1.1 Nghiên cứu ở các nước trên thế giới: 6

1.1.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam 9

1.2 Khe hổng nghiên cứu 10

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 13

2.1 Tổng quan về BCTC và vai trò thông tin của BCTC đối với nhà đầu tư 13

2.1.1 Khái niệm về BCTC 13

2.1.2 Đối tượng phục vụ của BCTC 13

2.1.3 Vai trò thông tin của BCTC đối với nhà đầu tư 14

2.2 Thông tin kế toán trên báo cáo tài chính 15

2.2.1 Thông tin về lãi cơ bản trên cổ phiếu 15

2.2.2 Thông tin về lãi cơ bản trên cổ phiếu điều chỉnh 16

2.2.3 Thông tin về tỷ suất thu nhập 17

Trang 5

2.2.4 Thông tin về tỷ suất thu nhập biến đổi 18

2.3 Tỷ suất sinh lời của cổ phiếu 18

2.4 Lý thuyết về mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên BCTC và TSSL 19

2.4.1 Lý thuyết thị trường hiệu quả: 19

2.4.2 Nới lỏng giả thuyết thị trường hiệu quả 20

2.4.3 Mô hình lợi tức của Easton và Harris (1991) 21

2.5 Các nhân tố tác động tới mối quan hệ TTKT và TSSL 24

2.5.1 Hệ số phản ứng thu nhập 24

2.5.2 Quy mô công ty 26

2.5.3 Tỷ lệ nợ 27

2.5.4 Sự tăng trưởng 28

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1 Quy trình nghiên cứu 30

3.2 Giả thuyết nghiên cứu 30

3.3 Mô hình nghiên cứu 32

3.4 Mô tả các biến 33

3.4.1 Biến phụ thuộc 33

3.4.2 Biến độc lập 34

3.4.3 Biến kiểm soát 34

3.5 Phương pháp nghiên cứu 35

3.5.1 Chọn mẫu nghiên cứu 35

3.5.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 37

3.5.3 Phương pháp xử lý dữ liệu 37

3.5.4 Các kiểm định trong mô hình dữ liệu bảng 39

3.5.5 Phương pháp hồi quy theo GMM (General Method of Moments) 42

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 46

4.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam 46

4.1.1 Giới thiệu về Sở GDCK TP.HCM và Sở GDCK Hà Nội 46

4.1.2 Thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2009-2014 47

Trang 6

4.2 Kết quả nghiên cứu và các kiểm định 50

4.2.1 Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu 50

4.2.2 Ma trận hệ số tương quan 53

4.2.3 Kiểm định đa cộng tuyến 54

4.2.4 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi phần dư 55

4.2.5 Kiểm định hiện tượng tự tương quan phần dư 55

4.3 Kết quả mô hình hồi quy 56

4.3.1 Kết quả hồi quy mối quan hệ TTKT trên BCTC và TSSL 57

4.3.2 Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng mối quan hệ TTKT trên BCTC và TSSL 59

4.4 Kết quả hồi quy đối chiếu và mở rộng Daniel Hoechle (2007) 63

4.4.1 Kết quả hồi quy đối chiếu mối quan hệ TTKT trên BCTC và TSSL 64

4.4.2 Kết quả phân tích hồi quy đối chiếu các yếu tố ảnh hưởng mối quan hệ TTKT trên BCTC và TSSL 65

4.5 Kết luận nghiên cứu và bàn luận 68

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71

5.1 Kết luận 71

5.1.1 Tóm tắt nội dung nghiên cứu 71

5.1.2 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 72

5.2 Kiến nghị 73

5.2.1 Nhà đầu tư 73

5.2.2 Công ty niêm yết 74

5.2.3 Sở giao dịch chứng khoán 75

5.3 Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai 76

5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu 76

5.3.2 Hướng nghiên cứu trong tương lai 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BCTC: Báo cáo tài chính

CMKT VN: Chuẩn mực kế toán Việt Nam

CTNY: Công ty niêm yết

GDCK: Giao dịch chứng khoán

HNX: Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội

HOSE: Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

NYSE: Thị trường chứng khoán NewYork

TSSL: Tỷ suất sinh lời

TTCK: Thị trường chứng khoán

TTKT: Thông tin kế toán

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Bảng tổng hợp chiều tác động của biến 32

Bảng 3.2: Bảng đo lường các biến nghiên cứu trong mô hình 35

Bảng 4.1: Số lượng công ty trong mẫu nghiên cứu trên HOSE và HNX 51

Bảng 4.2: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình 53

Bảng 4.3: Kết quả ma trận tự tương quan 54

Bảng 4.4: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai 54

Bảng 4.5: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi mô hình 55

Bảng 4.6: Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình 55

Bảng 4.7: Kết quả hồi quy cho mối quan hệ TTKT trên BCTC và TSSL 57

Bảng 4.8: Kết quả hồi quy trên 4 mô hình khi chia theo quy mô công ty 59

Bảng 4.9: Kết quả hồi quy trên 4 mô hình khi chia theo tỷ lệ nợ 61

Bảng 4.10: Kết quả hồi quy trên 4 mô hình khi chia theo sự tăng trưởng 62

Bảng 4.11: Kết quả hồi quy mô hình đối chiếu và mở rộng Daniel Hoechle (2007) trên 4 mô hình 64

Bảng 4.12: Kết quả hồi quy mô hình đối chiếu và mở rộng Daniel Hoechle (2007) trên 4 mô hình được phân chia theo quy mô 65

Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình đối chiếu và mở rộng Daniel Hoechle (2007) trên 4 mô hình được phân chia theo tỷ lệ nợ 66

Bảng 4.14: Kết quả hồi quy mô hình đối chiếu và mở rộng Daniel Hoechle (2007) trên 4 mô hình được phân chia theo sự tăng trưởng 67

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 4.1: Vn-Index và khối lượng giao dịch trong giai đoạn 2009-2014 49

Hình 4.2: HNX-Index và khối lượng giao dịch trong giai đoạn 2009-2014 50

Hình 4.3: Thống kê dữ liệu nghiên cứu trên HOSE và HNX 52

Hình 4.4: Biểu đồ tương quan từng cặp biến 56

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

Kế toán đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra và thể hiện giá trị của công

ty Để các nhà đầu tư có những quyết định đúng đắn thì phụ thuộc vào những thông tin thích hợp từ những nguồn khác nhau Một trong những nguồn thông tin quan trọng cho các nhà đầu tư đó là BCTC của các công ty được niêm yết trên TTCK Mục tiêu chính của BCTC là cung cấp cho các nhà đầu tư chứng khoán những thông tin cần thiết để ước tính giá trị của công ty Các nhà đầu tư và các bên liên quan như nhà quản lý, chủ nợ và các cơ quan chính phủ đã sử dụng báo cáo tài chính để đánh giá rủi ro và giá trị của một công ty khi ra quyết định đầu tư Tầm quan trọng của TTKT có thể được thể hiện ở các thông tin tài chính trong các báo cáo tài chính để giải thích các cách thức hoạt động của TTCK Giá trị của TTKT có thể được phân tích bằng cách xem xét mối quan hệ giữa TSSL và TTKT như là giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu, lợi nhuận trên mỗi cổ phần (EPS) Vì vậy, giá trị TTKT thể hiện mối quan hệ thống kê giữa thông tin tài chính và TSSL

Trong giai đoạn nền kinh tế Việt Nam đang trên đường hội nhập với quốc tế thì TTCK có vị trí quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Những năm gần đây thì nhà đầu tư trong và ngoài nước vẫn xem chứng khoán là kênh đầu tư tài chính quan trọng Bất kỳ nhà đầu tư nào cũng mong muốn đầu tư vào những công ty mà

cổ phiếu có khả năng sinh lời cao Do đó, nghiên cứu về mối quan hệ giữa TTKT trình bày trên BCTC và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu có thể cung cấp cho các nhà đầu tư

có những hiểu biết hơn về mối quan hệ này từ đó đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn Hiện nay cũng có một số nghiên cứu về vấn đề này trên thế giới, tuy nhiên có rất ít nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam Xuất phát từ vấn đề này, tác giả đã

chọn đề tài “Mối quan hệ giữa TTKT trên BCTC và tỷ suất sinh lời của cổ

phiếu các công ty niêm yết TTCK Việt Nam” để nghiên cứu cho bài luận văn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của bài nghiên cứu này là thông qua phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng và các bằng chứng cụ thể để làm rõ mối quan hệ giữa TTKT

Trang 11

trên BCTC và TSSL cổ phiếu trên TTCK, có các nhân tố nào tác động lên mối quan

hệ này Cụ thể là đạt được các mục tiêu chính sau đây:

Thứ nhất: Kiểm định mức độ và chiều tác động của TTKT trên BCTC tới TSSL

của cổ phiếu các CTNY trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2009-2014 thông qua

mô hình của Easton và Harris (1991)

Thứ hai: Xác định và kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa

thông tin trên BCTC và TSSL của cổ phiếu các CTNY trên TTCK Việt Nam Từ đó đưa ra các kiến nghị cho các bên liên quan nhằm nâng cao vấn đề TTKT được công

bố trên BCTC

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên thì cần phải trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

Câu hỏi thứ nhất: TTKT trên BCTC và TSSL của cổ phiếu các CTNY trên TTCK

Việt Nam có mối quan hệ với nhau hay không? Mối quan hệ này là cùng chiều hay ngược chiều nhau?

Câu hỏi thứ hai: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa thông tin trên

BCTC và TSSL của cổ phiếu các CTNY trên TTCK Việt Nam? Mức độ tác động của các nhân tố này như thế nào lên mối quan hệ trên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ giữa TTKT trên BCTC và TSSL cổ phiếu

của các CTNY trên TTCK

Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu đối với 478 công ty niêm yết

trên Sở GDCK TP.HCM và Sở GDCK Hà Nội có đầy đủ dữ liệu được nêu trong các BCTC

+ Phạm vi về thời gian: BCTC của các công ty niêm yết trên Sở GDCK

TP.HCM (HOSE) và Sở GDCK Hà Nội (HNX) trong giai đoạn 2009 – 2014

5 Phương pháp nghiên cứu

Bài luận văn sử dụng phương pháp định tính kết hợp với phương pháp định lượng

Trang 12

Trước tiên nghiên cứu sơ bộ định tính nhằm xây dựng và hoàn thiện hơn về lý thuyết về mối quan hệ giữa TTKT trên BCTC và TSSL cổ phiếu Sau đó dùng phương pháp định lượng dựa trên mô hình của Easton và Harris (1991) kết hợp với giả thuyết thị trường hiệu quả cùng với phương pháp định lượng thông qua phần mềm Stata 12.0 để kiểm định mối quan hệ giữa TTKT trên BCTC và TSSL của cổ phiếu trên TTCK Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng để đánh giá mối liên hệ giữa TTKT với thị trường qua dữ liệu thu thập từ 478 công ty được niêm yết trên TTCK trong giai đoạn 2009-2014 Dữ liệu thu được thu thập ở trang điện tử www.cophieu68.vn sau đó tính toán cho các biến và tiến hành điều chỉnh các thông tin cho phù hợp

Bài nghiên cứu dựa trên đề xuất của Easton và Harris (1991) với hai biến độc lập

là tỷ suất thu nhập và tỷ suất thu nhập biến đổi Ngoài ra theo đề xuất của Freeman (1987), Collins và Kothari (1989), Easton và Zmijewski (1989), Collins và các cộng

sự (1999) thì tác giả đưa thêm 3 biến kiểm soát vào mô hình: quy mô, tỷ lệ nợ, sự tăng trưởng Tác giả sẽ lần lượt kiểm định các giả thuyết cổ điển: đa cộng tuyến, tự tương quan, phương sai thay đổi, nội sinh (từ lý thuyết) và lựa chọn phương pháp phương pháp khắc phục phù hợp với mẫu dữ liệu, nhằm đảm bảo kết quả tin cậy

Vì hồi quy OLS, FEM và REM không kiểm soát được hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan đã được phát hiện bởi kiểm định Greene (2000), Wooldridge (2002) và Drukker (2003) Do đó, tác giả đã hồi quy theo mô hình GMM (General Method of Moments) để cho ước lượng vững và hiệu quả Ban đầu tác giả thực hiện

mô hình GMM theo Arellano và Bond (1991) Nhưng để đảm bảo tính chính xác, tác giả đã cập nhật thêm mô hình GMM theo đề xuất của Daniel Hoechle (2007) để kiểm tra và đối chiếu kết quả với mô hình của Arellano và Bond (1991)

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

So với những nghiên cứu trước đây thì luận văn có được một số điểm mới như sau:

 Về mặt khoa học:

Trang 13

Trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy TTKT trên BCTC thực sự có ảnh hưởng đến TSSL Tuy nhiên, ở VN vấn đề này vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các nhà nghiên cứu cũng như chính bản thân các doanh nghiệp Nên nghiên cứu này thực sự có ý nghĩa quan trọng khi dùng mô hình của Easton và Harris để tìm ra mối quan hệ giữa chúng Ngoài ra, bài nghiên cứu còn đưa thêm các nhân tố như quy mô công ty, tỷ lệ nợ, sự tăng trưởng để xem xét ảnh hưởng của các nhân tố này đến mối quan hệ giữa TSSL

và TTKT sẽ như thế nào tại TTCK VN

Thông qua việc sử dụng nghiên cứu đã có của nước ngoài để thực hiện ở Việt Nam theo hình thức nghiên cứu lặp lại và có điều chỉnh, đã cung cấp những bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa TTKT trên BCTC và TSSL Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ tìm ra được một mô hình phù hợp cho việc phân tích sự tác động này trong điều kiện phù hợp với tình hình TTCK VN Thông qua đó, đóng góp một phần lý thuyết để hoàn thiện khung lý thuyết phân tích tác động của TTKT trên BCTC đến TSSL của cổ phiếu ở TTCK VN

 Về mặt thực tiễn:

Bài nghiên cứu đưa ra bằng chứng khách quan khoa học góp phần giúp cho nhà đầu tư, các doanh nghiệp nhìn nhận rõ hơn ảnh hưởng của mối quan hệ giữa TTKT được công bố thông qua BCTC và TSSL của cổ phiếu các CTNY Từ mối quan hệ này có thể biết được mức độ tác động lẫn nhau giữa chúng như thế nào và giúp nhà đầu tư dự đoán được khả năng sinh lời của cổ phiếu mà họ quan tâm, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn

7 Kết cấu của bài nghiên cứu

Kết cấu của bài nghiên cứu ngoài phần mở đầu nêu lên sự cần thiết của đề tài, mục tiêu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu, tóm tắt phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa và tính ứng dụng của bài nghiên cứu thì phần nội dung chính được trình bày thành 5 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Trang 14

Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và ở nước ta về vấn đề nghiên cứu Từ đó tác giả nêu ra khe hỏng nghiên cứu

và hướng nghiên cứu của bài luận văn

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Ở chương này, tác giả nêu về tổng quan, đối tượng phục vụ và vai trò của BCTC Các TTKT có liên quan tới đề tài, TSSL và các lý thuyết về mối quan hệ TTKT và TSSL Cuối cùng là các nhân tố tác động đến mối quan hệ này

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Nội dung chính của chương này tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giải thích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, mô tả các đặc điểm của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt ra để kiểm định

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Trước tiên tác giả giới thiệu tổng quan về TTCK VN Sau đó thống kê mô tả, ma trận hệ số tương quan, đa cộng tuyến, phương sai thay đổi phần dư, tự tương quan phần dư, kiểm định mô hình hồi quy theo phương pháp GMM đề xuất bởi Arellano

và Bond (1991) và kiểm tra đối chiếu theo mô hình Daniel Hoechle (2007)

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Ở chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, từ đó đưa các kiến nghị Cuối cùng là những hạn chế của đề tài và hướng mở rộng đề tài

Trang 15

1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Các nghiên cứu có liên quan trên thế giới và tại Việt Nam

1.1.1 Nghiên cứu ở các nước trên thế giới:

Trong những thập niên gần đây, mối quan hệ giữa TTKT và quyết định của nhà đầu tư đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu, trong đó có thể kể đến nghiên cứu của Miller và Modigliani (1966) Kết quả của nghiên cứu này cho thấy các biến thu nhập là biến giải thích quan trọng nhất trong các phương trình định giá hay nói cách khác TTKT có mối quan hệ chặt chẽ với quyết định của nhà đầu tư

Ball và Brown (1968) nghiên cứu tính hữu ích của thông tin lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư thông qua việc kiểm định tác động của EPS có tác động đến TSSL bất thường của cổ phiếu Tác giả đã chọn mẫu 261 công ty trên sàn NYSE trong giai đoạn 1957-1965 Kết quả của nghiên cứu cho rằng TTKT (EPS) có tác

động thuận chiều đến TSSL

Basu (1983) tìm hiểu mối quan hệ giữa lợi tức thu nhập, giá trị thị trường và tỷ suất sinh lợi của các cổ phiếu trên sàn chứng khoán New York (NYSE) trong giai đoạn 1962-1978 Kết quả nghiên cứu cho thấy cổ phiếu của các công ty có lợi tức thu nhập E/P cao, thì sẽ có tỷ suất sinh lợi điều chỉnh rủi ro cao hơn so với cổ phiếu của các công ty có thu nhập trên giá E/P thấp hơn Mặt khác, trong khi cổ phiếu của các công ty có quy mô nhỏ thu được tỷ suất sinh lợi cao hơn đáng kể so với cổ phiếu của công ty có quy mô lớn hơn, thì ảnh hưởng của biến quy mô hầu như không xuất hiện khi tỷ suất sinh lợi được kiểm soát bởi rủi ro và tỷ lệ E/P

Freeman (1987) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa TSSL chứng khoán và lợi nhuận

kế toán của các công ty có quy mô lớn so với các công ty có quy mô nhỏ trên sàn chứng khoán NYSE Mẫu nghiên cứu bao gồm 2263 quan sát công ty năm trong giai đoạn 1966 - 1982 Nghiên cứu này cho thấy rằng giá chứng khoán của các công

ty có quy mô lớn phản ánh các TTKT trên báo cáo tài chính sớm hơn so với các công ty có quy mô nhỏ Tuy nhiên, mức độ của lợi nhuận bất thường tích lũy trong những tháng quanh một mức độ thay đổi thu nhập thì tỷ lệ nghịch với quy mô công

ty Giá cổ phiếu của các công ty lớn có khả năng dự đoán lợi nhuận kế toán sớm

Trang 16

hơn giá cổ phiếu của các công ty nhỏ, và mức độ của lợi nhuận bất thường liên quan

đến tin tức tốt hay xấu thì tỷ lệ nghịch với quy mô doanh nghiệp

Collins và Kothari (1989) đã thực hiện nghiên cứu các nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa TSSL và TTKT thông qua bộ mẫu bao gồm 9776 quan sát được thu thập từ các công ty niêm yết trên NYSE từ 1968 – 1982 Tác giả đã sử dụng mô hình chiết khấu dòng cổ tức với biến đưa vào như là lãi suất, rủi ro, sự tồn lưu của lợi nhuận (earnings persistence), sự tăng trưởng Để đo lường nhân tố lãi suất thì tác giả thực hiện thông qua lợi tức trái phiếu dài hạn, rủi ro được đại diện bởi hệ số be-

ta, sự tăng trưởng đại diện bởi tỷ số giá thị trường trên giá sổ sách Kết quả cho thấy lãi suất và tỷ lệ rủi ro có tác động ngược chiều lên mối quan hệ giữa TSSL và TTKT, trong khi đó sự tăng trưởng và sự tồn lưu của lợi nhuận lại có tác động thuận chiều

Easton và Harris (1991) đã xây dựng mô hình lợi tức từ các biến thu nhập và biến TSSL bằng cách kiểm định mối quan hệ giữa lợi nhuận kế toán hiện hành chia cho giá cổ phiếu đầu kỳ và tỷ suất sinh lời cổ phiếu Các tác giả đã dùng phương pháp định tính thông qua việc lấy mẫu các công ty niêm yết tại Hoa Kỳ trong thời gian từ 1969-1986 Kết quả nghiên cứu cho thấy cả hai biến lợi nhuận kế toán (lợi nhuận kế toán hiện hành và sự biến động lợi nhuận kế toán so với kỳ trước) đều có ý nghĩa trong việc giải thích TSSL cổ phiếu tại Hoa Kỳ Lợi nhuận kế toán là một trong các chỉ số tiêu biểu cho TTKT trên BCTC các công ty niêm yết Bài nghiên cứu đã xây dụng mô hình lý thuyết về mối liên hệ giữa lợi nhuận kế toán và TSSL của cổ phiếu

và cung cấp bằng chứng thực nghiệm sự tác động thuận chiều của thông tin lợi

nhuận kế toán đối với TSSL của cổ phiếu

Lipe và cộng sự (1998) cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa lợi nhuận cổ phiếu và lợi nhuận kế toán, khác nhau giữa lỗ vốn và có lợi nhuận, và khác nhau giữa các công ty Tác giả sử dụng các lý thuyết chung về tầm quan trọng của các hệ số phản ứng thu nhập (ERCs) để xem xét về khả năng các yếu tố này thể hiện khác nhau dưới cùng hiện tượng kinh tế Đồng thời các nhân tố đặc trưng của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến mối quan hệ này

Trang 17

Chen và các cộng sự (1999) đã thực hiện trên TTCK Trung Quốc trong khoảng thời gian 1991-1997 cung cấp những bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa TTKT và TSSL cổ phiếu với nhà đầu tư Trung Quốc Nghiên cứu này cung cấp một kiểm tra thực nghiệm cho các nhà đầu tư trong nước trên TTCK Trung Quốc nhận thức rằng TTKT dựa trên chuẩn mực kế toán Trung Quốc có thể hữu ích trong việc định giá cổ phiếu Nghiên cứu này được thúc đẩy bởi những nghiên cứu học thuật

về giá trị phù hợp dựa vào thị trường ở Mỹ và bởi sự phát triển gần đây của kế toán

và TTCK ở Trung Quốc Tác giả sử dụng một mẫu với các dữ liệu có sẵn của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến từ 1991-1997 và có được bằng chứng về sự phù hợp của TTKT tại Trung Quốc dựa trên mô hình lợi nhuận và mô hình giá

Dimitropoulos và cộng sự (2009) liên quan đến quan hệ giữa thông tin BCTC và các chỉ số tài chính hay giá cổ phiếu CTNY thực hiện trên TTCK Hy Lạp Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy OLS và thu thập dữ liệu của

105 CTNY trên TTCK Athens từ năm 1995-2004 để kiểm định cho các giả thuyết đưa ra Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vốn lưu động trên tổng tài sản và tỷ suất lợi nhuận có tác động tiêu cực đến thu nhập cổ phiếu, trong khi đó tỷ suất lợi nhuận

và doanh thu trên tổng tài sản có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập cổ phiếu

Agnes Cheng và cộng sự ( 2013) đã sử dụng mô hình lợi nhuận chuỗi thời gian để kiểm tra thu nhập thường xuyên ảnh hưởng đến vai trò của mức độ lợi nhuận và thay đổi lợi nhuận trong việc giải thích TSSL của cổ phiếu bằng cách sử dụng mô hình thành phần không quan sát được (Unobservable Components Model) để phân chia các khoản lợi nhuận thành lợi nhuận thường xuyên và lợi nhuận tạm thời Kết quả cho thấy mức độ lợi nhuận thì giải thích sự thay đổi trong lợi nhuận tốt hơn so với sự thay đổi của lợi nhuận Đồng thời, mức độ lợi nhuận có khả năng dự đoán lợi

nhuận và TSSL trong tương lai

Angahar và Malizu (2015) đã điều tra các mối quan hệ giữa thu nhập và những

thay đổi trong thu nhập ảnh hưởng đến TSSL cổ phiếu TTCK khoán Nigeria từ 2007-2011 Nghiên cứu đã được thực hiện lên của tất cả 198 công ty niêm yết trên

Trang 18

sàn chứng khoán Nigeria ở năm 2011, sử dụng lấy mẫu có mục đích để chọn ra 40 công ty Các dữ liệu được thu thập từ các BCTC của công ty và từ TTCK Nigeria Kết luận rút ra là có một mối quan hệ có ý nghĩa giữa thu nhập và TSSL trên TTCK Nigeria, do đó thu nhập có liên quan đến giá cả và TSSL trong TTCK Nigeria, trong khi sự thay đổi trong thu nhập có quan hệ không đáng kể đến TSSL của cổ phiếu Bài nghiên cứu cho rằng vì lợi nhuận cổ phiếu có liên quan đến thu nhập, cho nên các công ty niêm yết trên TTCK Nigeria nên tăng lợi nhuận của họ vào cuối mỗi năm tài chính và các nhà đầu tư tiềm năng và nhà đầu tư hiện nay nên kiểm tra các

con số lợi nhuận của công ty khi đưa ra quyết định đầu tư ở Nigeria

1.1.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu của Nguyễn Việt Dũng (2009) đã chỉ ra sự tồn tại của mối liên hệ giữa

TTKT và giá cổ phiếu khi nghiên cứu TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2003-2007 Kết quả cho thấy tuy còn yếu hơn hầu hết các thị trường phát triển và mới nổi khác, mối liên hệ này hoàn toàn có ý nghĩa, ít nhất là về mặt thống kê Ngoài ra, còn cho thấy TT BCTC giải thích tốt nhất giá cổ phiếu được điều chỉnh cho biến động giá trong 3 tháng tương lai Đây là dấu hiệu giá cổ phiếu phản ứng chậm và dưới mức với công bố TT BCTC va có sự tự điều chỉnh theo thời gian

Tiếp theo, Nguyễn Thị Thục Đoan (2011) đã tìm kiếm những nhân tố tác động đến giá chứng khoán bằng nghiên cứu thực nghiệm dữ liệu của 474 CTNY trong năm

2009 Các nhân tố được đưa vào để kiểm định trong mô hình là các nhân tố liên quan đến TTKT và tài chính, gồm giá trị sổ sách, thu nhập trên cổ phiếu thường (EPS), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) và hệ số đòn bẩy tài chính Kết quả kiểm định cho thấy, với bốn biến độc lập được đưa vào mô hình, chỉ có hai biến EPS và ROE có mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa đối với giá cổ phiếu Kết quả nghiên cứu cho thấy có 2 trong 4 nhân tố được khảo sát có mối quan hệ cùng chiều

và có ý nghĩa đối với giá cổ phiếu đó là thu nhập trên cổ phiếu thường (EPS) và TSSL trên vốn chủ sở hữu (ROE) nhưng mức độ giải thích cũng chưa cao

Trần Thị Thanh Hải và cộng sự (2015) đã thu thập các mẫu của 108 doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Hồ Chí Minh - khu vực kinh tế phát triển nhất ở Việt Nam

Trang 19

trong thời gian 4 năm giai đoạn 2010-2013 Kết quả chỉ ra rằng có một mối liên hệ giữa các TTKT và TSSL cổ phiếu ở thị trường Việt Nam, nhưng mối tương quan này hơi yếu Điều đó nói lên rằng các TTKT thì ít hữu ích để các nhà đầu tư đưa ra quyết định ở TTCK Việt Nam

Gần đây, Tạ Thị Đông Phương (2015) sử dụng mô hình của Easton và Harris (1991) và kiểm định lại mô hình này để đo lường tác động của lợi nhuận kế toán đến TSSL của cổ phiếu của 1992 quan sát tại Việt Nam giai đoạn từ 2009-2014 Kết quả cho thấy lợi nhuận kế toán có tác động thuận chiều với TSSL cổ phiếu Ngoài

ra tác giả còn đưa thêm ba đặc trưng của doanh nghiệp là quy mô, tỷ lệ nợ và tỷ số giá sổ sách trên giá thị trường để xem xét tác động các ba nhân tố này đến mối quan

hệ lợi nhuận kế toán đến TSSL Trong đó quy mô và tỷ lệ nợ có tác động ngược chiều, còn tỷ số giá sổ sách trên giá thị trường lại có tác động thuận chiều lên mối

quan hệ lợi nhuận kế toán đến TSSL

1.2 Khe hổng nghiên cứu

Nhìn chung, mối quan hệ giữa TTKT và TTCK đã được nghiên cứu rộng rãi trên khắp thế giới Ở Việt Nam thì các nghiên cứu về vấn đề này được thực hiện với nhiều mô hình khác nhau Cụ thể, nghiên cứu của Nguyễn Việt Dũng (2009) thì chỉ dựa trên mô hình giá của Ohlson (1995) Trong khi đó, Nguyễn Thị Thục Đoan (2011) lại mô hình hồi quy thông thường với thời gian nghiên cứu chỉ một năm

2009 nên chưa đánh giá và khái quát hóa toàn thị trường Trần Thị Thanh Hải (2015) thì áp dụng mô hình Easton và Harris (1991) tuy nhiên kết quả tương quan yếu, và chỉ thực hiện qua 108 công ty trên sàn HOSE nên chưa đại diện tất cả công

ty tại TTCM Việt Nam Tạ Thị Đông Phương (2015) cũng lặp lại nghiên cứu của Easton và Harris (1991) với mô hình hồi quy OLS, tuy nhiên tác giả chỉ kiểm định trên mô hình OLS trong khi bộ dữ liệu thuộc dạng dữ liệu bảng

Từ các kết quả nghiên cứu đã được thực hiện mà có liên quan đến đề tài thì cho thấy có bằng chứng về mối quan hệ giữa TT trên BCTC và TSSL Tuy nhiên các nghiên cứu này thực hiện dựa trên nhiều lý thuyết, mô hình khác nhau Mỗi mô hình, lý thuyết đều có ưu nhược điểm, cách thu thập dữ liệu, quy định kế toán, áp

Trang 20

dụng tại các thị trường khác nhau Các nghiên cứu trước đây chỉ nghiên cứu một trong hai vấn đề là thông tin trên BCTC hoặc TSSL của cổ phiếu, hay là nghiên cứu TTKT và giá cổ phiếu, chứ chưa có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ TTKT và TSSL Đa số các nghiên cứu trước đều dùng mô hình Ohlson và các mô hình định giá khác như mô hình ba nhân tố, mô hình chiết khấu dòng cổ tức…Các nghiên cứu này được thực hiện tại TTCK của các nước phát triển với lịch sử hình thành lâu đời

và vận hành ổn định, trong những năm gần đây mới được tiến hành ở các nước đang phát triển Giữa các nhóm thị trường này có nhiều điểm khác khác nhau, nên các nghiên cứu về mối quan hệ TT BCTC và TSSL được thực hiện cụ thể tại các thị trường, các nước khác nhau vẫn có nhiều ý nghĩa, đặc biệt là đối với TTCK VN

Vì vậy, từ các vấn đề trên thì hướng nghiên cứu của đề tài này sẽ vận dụng mô hình Easton và Harris (1991) để kiểm định mối quan hệ TTKT trên BCTC và TSSL của cổ phiếu các CTNY trên TTCK Việt Nam để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thứ nhất Đồng thời để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thứ hai thì tác giả còn đưa thêm các nhân tố tác động lên mối quan hệ này như quy mô, tỷ lệ nợ, sự tăng trưởng để làm cho mô hình đầy đủ hơn và tìm ra mô hình phù hợp điều kiện TTCK Việt Nam

Trang 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 tác giả đã trình bày những công trình nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam có liên quan đến đề tài nghiên cứu Nhìn chung qua các nghiên cứu cho thấy được bằng chứng về mối quan hệ giữa TTKT trên BCTC và TSSL cũng như các nhân tố tác động lên mối quan hệ này Tuy nhiên các nghiên cứu này thực hiện dựa trên nhiều lý thuyết, mô hình khác nhau, tại các TTCK khác nhau Do đó, từ việc tổng hợp các nghiên cứu trước thì tác giả nêu lên khe hổng nghiên cứu và đưa ra hướng nghiên cứu cho bài luận văn Luận văn sẽ vận dụng mô hình Easton và Harris (1991) để kiểm định mối quan hệ TTKT trên BCTC và TSSL của cổ phiếu các CTNY trên TTCK Việt Nam Ngoài ra, tác giả còn đưa thêm các nhân tố tác động lên mối quan hệ này như quy mô, tỷ lệ nợ, sự tăng trưởng để làm cho mô hình đầy đủ hơn

Trang 22

2 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Tổng quan về BCTC và vai trò thông tin của BCTC đối với nhà đầu tư 2.1.1 Khái niệm về BCTC

BCTC là một trong những hệ thống báo cáo của doanh nghiệp, tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính nhất định BCTC tổng hợp khái quát, toàn diện tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông tin trên BCTC nhằm phục vụ cho các đối tượng sử dụng TTKT của doanh nghiệp biết được tình hình kinh tế, tài chính, quá trình và kết quả hoạt động của đơn vị, là cơ sở giúp đưa ra các quyết định cần thiết

Trách nhiệm lập và trình bày BCTC

Tất cả các doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần kinh tế đều phải lập và trình bày BCTC năm Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, các CTNY trên TTCK còn phải lập BCTC giữa niên độ dạng đầy đủ

2.1.2 Đối tượng phục vụ của BCTC

Theo Luật kế toán VN (2003), đối tượng phục vụ của BCTC được đề cập trong Luật là “đối tượng có nhu cầu thông tin của đơn vị kế toán”, hay theo chuẩn mực kế toán VN số 01 (VAS 01) và theo chuẩn mực kế toán VN số 21 (VAS 21) là “số đông người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế”

Như vậy, theo những khung pháp lý về kế toán đang áp dụng ở VN, đối tượng phục vụ của thông tin trên BCTC vẫn chưa rõ ràng chi tiết mà khá là rộng, tất cả các bên có nhu cầu sử dụng thông tin đều là đối tượng phục vụ của BCTC

Theo đó, BCTC là nguồn thông tin quan trọng cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như: các cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà đầu tư hiện tại, các nhà đầu tư tiềm năng, các bên cho vay,… Mỗi đối tượng sử dụng yêu cầu loại thông tin nào tùy thuộc vào các loại quyết định mà đối tượng đó cần đưa ra

Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: các nhà quản lý cần công khai các thông tin

trên BCTC định kỳ về hoạt động của doanh nghiệp nhằm thể hiện cho các nhà đầu

tư biết doanh nghiệp đang có mức lợi nhuận cao nhất và rủi ro thấp nhất hay công

Trang 23

khai các khoản lỗ để nhà đầu tư đánh giá đúng tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Đối với các cơ quan Nhà nước: BCTC cung cấp thông tin cần thiết giúp cho việc

kiểm tra, kiểm soát, quản lý vĩ mô của các cơ quan tài chính Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như là cơ sở tính thuế hay các khoản phải nộp khác của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nước

Đối với các nhà đầu tư: Nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng hay chủ nợ có xu

hướng quan tâm đến BCTC để đưa ra quyết định đầu tư, cho vay, sau đó dựa vào BCTC sẽ thực hiện việc giám sát và bắt buộc nhà quản lý thực hiện theo đúng hợp đồng, cam kết

2.1.3 Vai trò thông tin của BCTC đối với nhà đầu tư

Các nhà đầu tư được đề cập đến trong bài nghiên cứu bao gồm cả nhà đầu tư hiện hữu và nhà đầu tư tiềm năng Đối với nhà đầu tư hiện hữu, họ quan tâm đến khả năng ổn định tài chính, suất sinh lợi nhuận, cũng như thu nhập của doanh nghiệp có thể tăng hoặc giảm như thế nào trong tương lai Đối với những nhà đầu tư tiềm năng, họ quan tâm đến thành tựu của doanh nghiệp làm được trong năm hiện tại cũng như quá khứ, để họ đưa ra quyết định đầu tư vào doanh nghiệp đó hay không Chính những mục tiêu như vậy, các nhà đầu tư sẽ khai thác tất cả các nguồn thông tin để phân tích đánh giá Và cho đến nay, nguồn thông tin tài chính mà được phần đông các nhà đầu tư quan tâm, sử dụng đến chính là BCTC của các doanh nghiệp Khi xây dựng danh mục đầu tư và ra quyết định đầu tư vào một doanh nghiệp, hàng loạt các thông tin trên BCTC sẽ được nhà đầu tư tiếp cận, phân tích và đánh giá trực tiếp Việc nghiên cứu các mối quan hệ, các tỷ suất giữa các chỉ tiêu trên BCTC chưa đánh giá đầy đủ bản chất tài chính của một doanh nghiệp, nhưng giúp cho nhà đầu

tư có cái nhìn tổng quan về tình trạng tài chính của doanh nghiệp đó, năng suất hoạt động và khả năng sinh lợi tương ứng Đây là vai trò vô cùng quan trọng của BCTC đối với quyết định kinh tế của nhà đầu tư

Tuy nhiên, do nhiều yếu tố tác động, vai trò thông tin của BCTC đối với nhà đầu

tư có thể trở nên giảm đi do không đảm bảo tính hữu ích của các thông tin BCTC

Trang 24

hay chất lượng của BCTC Từ đó, dẫn đến việc nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định sai lầm nếu căn cứ vào thông tin mà BCTC cung cấp Do đó, vai trò của thông tin BCTC tác động quyết định nhà đầu tư cần phải được xem xét song song với tính hữu ích của thông tin BCTC

2.2 Thông tin kế toán trên báo cáo tài chính

Theo thông tư 52/2012/TT-BTC thì nội dung công bố thông tin về BCTC bao gồm: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Bản thuyết minh BCTC theo quy định của pháp luật về kế toán và Báo cáo kiểm toán Thuyết minh BCTC phải trình bày đầy đủ tất cả nội dung theo quy định của pháp luật về kế toán Trường hợp trong thuyết minh BCTC có chỉ dẫn đến phụ lục, phụ lục phải được công bố cùng thuyết minh BCTC

Theo mô hình gốc của Easton và Harris (1991) thì TTKT đại diện bởi các thông tin về tỷ suất thu nhập (đo bằng EPS trên giá thị trường cổ phiếu) và tỷ suất thu nhập biến đổi (đo bằng chênh lệch của EPS trên giá thị trường cổ phiếu) Để thuận tiện và phù hợp với bài nghiên cứu tại TTCK VN thì TTKT được tác giả đề cập đến

là TTKT của các CTNY bao gồm lãi cơ bản trên cổ phiếu, lãi cơ bản trên cổ phiếu điều chỉnh, tỷ suất thu nhập, tỷ suất thu nhập biến đổi Các thông tin này đa số được lấy từ các BCTC của các CTNY trên TTCK VN và tính toán để có các thông tin cần thiết

2.2.1 Thông tin về lãi cơ bản trên cổ phiếu

Đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị trường Lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS) được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp

Công ty phải tính và trình bày trên báo cáo tài chính lãi cơ bản trên cổ phiếu theo các khoản lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty Lãi cơ bản trên cổ phiếu được tính bằng cách chia lợi nhuận hoặc lỗ phân

bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty cho số lượng bình quân gia quyền của số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ

Trang 25

Theo hướng dẫn của CMKT VN số 30 và hướng dẫn chi tiết theo Thông tư 21/2006/TT-BTC, công thức tính EPS cơ bản như sau:

Lãi cơ bản

trên cổ phiếu =

Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông

Số bình quân gia quyền của cổ phiếu đang lưu hành trong kỳ Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty là các khoản lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ sau khi được điều chỉnh bởi cổ tức của cổ phiếu ưu đãi, những khoản chênh lệch phát sinh do thanh toán cổ phiếu ưu đãi và những tác động tương tự của cổ phiếu ưu đãi đã được phân loại vào nguồn vốn chủ sở hữu

Số lượng cổ phiếu phổ thông được sử dụng để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu là số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ Số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ hiện tại và tất cả các kỳ trình bày phải được điều chỉnh cho các sự kiện (Trừ việc chuyển đổi cổ phiếu phổ thông tiềm năng) tạo ra sự thay đổi về số lượng cổ phiếu phổ thông mà không dẫn đến thay đổi về nguồn vốn

Việc sử dụng số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong

kỳ là do giá trị vốn cổ đông thay đổi trong kỳ khi số lượng cổ phiếu phổ thông lưu hành tăng hoặc giảm Số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông lưu hành trong kỳ là số lượng cổ phiếu phổ thông lưu hành đầu kỳ được điều chỉnh theo số cổ phiếu phổ thông được mua lại hoặc được phát hành thêm nhân với hệ số thời gian

Hệ số thời gian là tỷ số giữa số lượng ngày mà cổ phiếu được lưu hành trong kỳ chia cho tổng số ngày trong kỳ

2.2.2 Thông tin về lãi cơ bản trên cổ phiếu điều chỉnh

Theo Thông tư 21/2006/TT-BTC, trên thực tế có những trường hợp tách, gộp CP, phát hành thêm CP, chia cổ tức bằng CP, thưởng CP, phát hành quyền mua CP mới…thì EPS cơ bản sẽ không phản ánh đựơc chính xác số lựợng CP đang lưu hành Do có sự thay đổi về số lượng CP đang lưu hành nên ta cần điều chỉnh EPS

cơ bản

Sau đây là các trường hợp điều chỉnh EPS:

Trang 26

Trường hợp tách, gộp cổ phiếu, trả cổ tức bằng cổ phiếu, thưởng cổ phiếu: trong ngày giao dịch không hưởng quyền, EPS cơ bản sẽ được điều chỉnh

theo tỷ lệ tách, gộp, trả cổ tức hay tỷ lệ thưởng cổ phiếu mới

Trường hợp phát hành quyền mua cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu: EPS cơ bản

sẽ được điều chỉnh tương ứng với tỷ lệ điều chỉnh giá tham chiếu của cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng quyền

Các trường hợp điều chỉnh EPS cơ bản vào kỳ báo cáo kế tiếp: Mua bán cổ phiếu quỹ, Phát hành cổ phiếu cho cán bộ, công nhân viên hay cho một số cổ đông riêng

Giá đóng cửa của ngày giao dịch trước ngày hưởng quyền – cổ tức tiền mặt (nếu có)

Giá tham chiếu của ngày hưởng quyền

Trong đó:

Giá tham chiếu cho ngày giao dịch không hưởng quyền = (Giá trước ngày giao dịch không hưởng quyền x KL cổ phiếu được nhận quyền mua + Giá phát hành cổ phiếu mới x KL phát hành thêm) / (KL cổ phiếu được nhận quyền mua + KL phát hành thêm)

2.2.3 Thông tin về tỷ suất thu nhập

Theo Easton và Harris (1991) thì tỷ suất thu nhập là tỷ số đo lường phần trăm lợi nhuận trên một đồng vốn đầu tư mà công ty kiếm được, được tính bằng cách chia EPS cho giá thị trường của cổ phiếu:

EPS_P = 𝐸𝑃𝑆𝑡

𝑃𝑡−1

Trong đó:

EPSt : là thu nhập của mỗi cổ phiếu trong năm t

Pt-1: giá cổ phiếu cuối năm (t-1)

Trang 27

Nói cách khác, nó là nghịch đảo của P/E Tỷ suất thu nhập dùng để đánh giá lợi tức nhận được trên chi phí đầu tư của nhà đầu tư Nó giúp cho nhà đầu tư dễ dàng hơn trong việc so sánh lợi tức của công ty với những cơ hội đầu tư khác nhau như trái phiếu hoặc tiền gửi cố định Vì vậy, trên thực tế chỉ số EPS_P hữu dụng hơn so với P/E

2.2.4 Thông tin về tỷ suất thu nhập biến đổi

Theo Easton và Harris (1991) thì tỷ suất thu nhập biến đổi được tính toán bằng cách lấy mức thay đổi trong thu nhập của 2 năm liền kề chia cho giá thị trường của

cổ phiếu

dEPS_P = EPSt − EPSt−1

Pt−1

Với:

EPSt: là thu nhập của mỗi cổ phiếu trong năm t

EPSt-1: là thu nhập của mỗi cổ phiếu trong năm t-1

Pt-1: giá cổ phiếu cuối năm t-1

2.3 Tỷ suất sinh lời của cổ phiếu

TSSL của cổ phiếu là tỷ số đo lường phần trăm thu nhập thực của cổ phiếu trên một đồng vốn mà nhà đầu tư bỏ ra Chỉ số này được tính toán bằng cách lấy tổng thu nhập từ chênh lệch giá cộng với lượng cổ tức nhận được trong năm chia cho giá

cổ phiếu ở đầu năm tài chính Cách tính này được đề cập khá nhiều trong các nghiên cứu về TSSL cổ phiếu và trong mô hình gốc của Easton và Harris (1991) cũng dùng công thức này

Trang 28

mong đợi là hàm số của rủi ro của một công ty gặp phải, TSSL thị trường mong đợi

và TSSL phi rủi ro

2.4 Lý thuyết về mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên BCTC và TSSL 2.4.1 Lý thuyết thị trường hiệu quả:

Thị trường hiệu quả là nơi mà bất kỳ thời điểm nào nhà đầu tư đều có thể nắm bắt được thông tin như nhau và ngay lập tức họ hành xử thuần nhất giống nhau do đó mọi thông tin đều được phản ánh vào giá thị trường

Các giả định của thị trường hiệu quả:

Có một số lượng lớn các thành viên tham gia thị trường cạnh tranh, mỗi thành viên phân tích và định giá độc lập nhằm tối ưu hóa lợi nhuận của mình

Các nhà đầu tư cạnh tranh cố gắng điều chỉnh giá cổ phiếu ngay tức khắc với tất

cả các thông tin liên quan sẵn có nhằm phản hồi được ảnh hưởng của thông tin Giá cả chứng khoán được thay đổi tại thời điểm bất kỳ chủ yếu dựa vào thông tin

mới được ngẫu nhiên đưa ra

Các hình thức của thị trường hiệu quả:

Trong lịch sử, Euge Fama (1970) là người đầu tiên phân chia ra các dạng hiệu quả của thị trường thành ba giả thuyết thành phần tương ứng với ba tập thông tin được xem xét: đó là thị trường hiệu quả dạng yếu, thị trường hiệu quả dạng trung bình và thị trường hiệu quả dạng mạnh

Thị trường hiệu quả dạng yếu (weak - form): Giá cả chứng khoán hiện tại là sự

phản ánh mọi thông tin đã công bố trong quá khứ như tỷ suất sinh lợi chứng khoán, khối lượng giao dịch, các chuyển dịch, xu hướng, quy luật hiện tại của giá Do đó, các bên tham gia thị trường không có khả năng để dự đoán sự lên xuống của thị trường ở tương lai hay không thể tìm kiếm lợi nhuận vượt trội nếu chỉ dựa vào các thông tin tương tự trong quá khứ Tiêu biểu cho dạng thị trường này là các TTCK của các quốc gia đang phát triển khi mà cơ sở hạ tầng và các quy định về công bố

thông tin chưa được hoàn thiện

Thị trường hiệu quả dạng trung bình (semi-strong): Giá cả phản ánh không

những giá cả quá khứ mà còn phản ánh một cách nhanh chóng bất kỳ một thông tin

Trang 29

nào được công bố Trong một thị trường hiệu quả ở cấp độ trung bình theo như giả thuyết này, khi thông tin có liên quan vừa được công bố xong thì giá cổ phiếu sẽ thay đổi trong một thời gian rất ngắn và các nhà đầu tư không thể kiếm lời từ các thông tin này và thông tin đã được phản ảnh hết vào giá Vì mọi thông tin là ngẫu nhiên, nên giá chứng khoán sẽ lên xuống ngẫu nhiên và không thể dự báo được Ví

dụ minh hoạ cho loại thị trường này chính là TTCK của các quốc gia phát triển trên

thế giới như Mỹ, Châu Âu

Thị trường hiệu quả dạng mạnh (strong - form): Lý thuyết thị trường hiệu quả

dạng mạnh cho rằng giá chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin từ công khai đến nội bộ Theo giả thuyết này, khả năng các bên tham gia thị trường tiếp cận thông tin

là như nhau, họ không tốn một chi phí để có được thông tin và gánh chịu cùng mức

độ rủi ro Việc có được thông tin độc quyền và sử dụng thông tin đó để kiếm lời trên thị trường là bất khả thi và giá chứng khoán phản ánh các thông tin liên quan từ công khai đến nội bộ hầu như là tức thì Giả thuyết này bao gồm cả hai dạng thị trường ở trên Tuy nhiên, trên thực tế khả năng tồn tại của loại thị trường này hầu như không có vì kể cả những TTCK hàng trăm năm tuổi như New York hay Tokyo

đều được xếp vào thị trường cấp độ trung bình

2.4.2 Nới lỏng giả thuyết thị trường hiệu quả

Các nghiên cứu về giá trị phù hợp của TTKT thường xuyên sử dụng hồi quy giá

cổ phiếu theo các biến kế toán để đánh giá mức độ TTKT phản ánh vào giá thị trường cùng thời điểm Hầu hết các nghiên cứu về vấn đề này đều bỏ qua tính hiệu quả của thị trường và suy luận dựa trên giả định ngầm rằng TTCK hiệu quả ở cấp

độ trung bình (hay cấp độ bán mạnh) Tuy nhiên có nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy thị trường có thể không hoàn toàn hiệu quả trong việc xử lý các thông tin như mong đợi Cụ thể, có nhiều nghiên cứu chỉ ra được các dị thường trong tập tính của giá cổ phiếu (anormalies) mà giả thuyết thị trường hiệu quả không đủ khả năng giải thích như phản ứng dưới mức, phản ứng quá mức hay biến động quá mức Bên cạnh đó, bản thân TTCK cũng chưa thoả mãn các điều kiện để có thị trường hiệu quả, đặc biệt là các quốc gia có TTCK mới nổi như Việt Nam Với hy vọng trả lời

Trang 30

câu hỏi liệu việc đo lường giá trị phù hợp của TTKT có bị ảnh hưởng lớn bởi sự thiếu hiệu quả của thị trường hay không nên Doody, Hughes và Liu (2002) đã thực hiện bài nghiên cứu "Đo lường giá trị phù hợp của TTKT trong thị trường có khả

năng không hiệu quả” (Measuring value relevance in a (possibly) inefficient

mar-ket)

Doody, Hughes và Liu (2002) xem xét thị trường không hiệu quả trong đó giá chứng khoán (cụ thể là cổ phiếu) phản ánh giá trị nội tại với sai số nhất định Điều này đồng nghĩa giá chứng khoán không thể hiện được hết các thông tin liên quan có sẵn trên thị trường hay giả thuyết thị trường hiệu quả cấp độ trung bình không được thoả mãn và có thể xuất hiện sự tương quan giữa thông tin trên BCTC với sai số nói trên Vì giá chứng khoán phản ánh sự tích tụ của thông tin liên quan đến công ty nên bất cứ yếu kém nào của thị trường có thể kết hợp với thông tin mới hình thành các tác động gây nhiễu Tuy nhiên, quan điểm các tác giả cho rằng các tác động này

sẽ suy giảm theo thời gian nên nó sẽ được phản ánh trong TSSL của chứng khoán trong tương lai, ngụ ý rằng các thông tin mới sẽ được phản ánh đầy đủ vào trong giá chứng khoán với một độ trễ nhất định

Bài nghiên cứu của Aboody, Hughes & Liu (2002) xét thị trường trong đó giá CP phản ánh giá trị nội tại của nó với sai số nhất định hay thỏa mãn dạng yếu của giả thiết thị trường hiệu quả Tác giả đã cho thấy thông tin về sai số có thể rút ra từ biến động giá CP trong tương lai nếu thị trường tự điều chỉnh về trạng thái hiệu quả theo thời gian Nghiên cứu của Doody, Hughes và Liu (2002) đã khẳng định sự thiếu hiệu quả của thị trường tồn tại hầu như ở tất cả các TTCK, và biểu thị rõ rệt hơn ở các TTCK mới nổi cùng với ảnh hưởng của nó Các kỹ thuật phân tích cũng như thủ tục mà tác giả đề nghị đã mở ra một hướng tiếp cận vấn đề, đặc biệt mang tính ứng dụng trong các nghiên cứu có sử dụng đến giá cả của chứng khoán trong trường hợp giả thuyết thị trường hiệu quả không thoả mãn

2.4.3 Mô hình lợi tức của Easton và Harris (1991)

Công trình nghiên cứu của Easton và Harris (1991) " Earnings as an explanatory

variable for returns" đã xây dựng mô hình lợi tức từ các biến thu nhập và biến tỷ

Trang 31

suất sinh lời bằng cách kiểm định mối quan hệ giữa lợi nhuận kế toán hiện hành chia cho giá cổ phiếu đầu kỳ và tỷ suất sinh lời cổ phiếu

Easton và Harris tìm hiểu mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lời của cổ phiếu và thu nhập dựa trên mô hình định giá theo giá trị sổ sách, theo đó giá thị trường và giá trị

sổ sách là hai cách đo lường giá trị của cổ phiếu công ty, được thể hiện qua phương trình sau đây:

Pjt = BVjt + ujt (1)

Trong đó:

Pjt : giá mỗi cổ phiếu của công ty j tại thời điểm t

BVjt : là giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu của công ty j tại thời điểm t

Ujt : là chênh lệch giữa Pjt và BVjt

Sự liên hệ giữa các biến - lợi nhuận kế toán và suất sinh lời chứng khoán có thể thu được bằng khác biệt đầu tiên của các biến trong phương trình (1) Kết quả là:

ΔPjt = ΔBVjt + u'jt (2) Nhưng

ΔBVjt = EPSjt - Djt (3)

Trong đó

EPSjt : được tính toán bằng thu nhập trên mỗi cổ phiếu của công ty j trên khoảng thời gian t

Djt: cổ tức trả trên mỗi cổ phiếu của công ty j trên khoảng thời gian t

Thay (3) vào (2), sắp xếp lại cũng như chia hai vế cho Pjt-1 ta có phương trình sau:

∆𝑃𝑗𝑡+ 𝐷𝑗𝑡

𝑃𝑗𝑡 =

𝐸𝑃𝑆𝑗𝑡

𝑃𝑗𝑡−1 + 𝑢′′𝑗𝑡 (4) Nếu giả thiết giá cổ phiếu và giá trị sổ sách có quan hệ với nhau là đúng thì sau đó lấy thu nhập chia cho giá cổ phiếu thời kỳ đầu là một biến thích hợp cho việc giải thích tỷ suất sinh lời của cổ phiếu

Với mô hình định giá thu nhập, Easton và Harris xem xét, kiểm tra những thay đổi trong thu nhập, đặc biệt là biến tỷ suất thu nhập biến đổi (ΔEPSjt / Pjt-1) Khi xem giá cổ phiếu là một hàm số lợi nhuận kế toán thì ta có phương trình:

Trang 32

Pjt = 𝜌 x EPS𝑗𝑡+ 𝜗jt (5) Theo Ohlson (1989a) cho thấy cổ tức theo quan điểm Miller và Modigliani (1961) thì không phù hợp, cho nên ông đưa ra rằng nếu một cổ tức được trả trên cổ phiếu công ty j tại thời điểm t thì phương trình (5) được viết lại như sau:

Khi chia phương trình (6) cho giá cổ phiếu đầu kỳ, ta thu được phương trình:

𝑃𝑗𝑡+ 𝐷𝑗𝑡

𝑃𝑗𝑡−1 = 𝜌 ×

𝐸𝑃𝑆𝑗𝑡

𝑃𝑗𝑡−1 + 𝜗′′𝑗𝑡 (8) Phương trình trên cho thấy về mặt định giá theo lợi nhuận kế toán thì độ lớn của lợi nhuận kế toán chia cho giá đầu kỳ thì có mối tương quan với tỷ suất sinh lời cổ phiếu

Nếu trừ hai vế của phương trình (8) cho 1 ta có:

∆𝑃𝑗𝑡+ 𝐷𝑗𝑡

𝑃𝑗𝑡−1 = 𝜌 ×

𝐸𝑃𝑆𝑗𝑡

𝑃𝑗𝑡−1 + 𝜗′′𝑗𝑡− 1 (9) Phương trình (9) cho thấy quan điểm định giá cổ phiếu dựa trên thu nhập, tỷ suất thu nhập (𝐸𝑃𝑆𝑗𝑡

𝑃𝑗𝑡−1) có mối quan hệ với tỷ suất sinh lời của cổ phiếu (∆𝑃𝑗𝑡+𝐷𝑗𝑡

𝑃𝑗𝑡−1 )

Khi chứng minh được mối quan hệ của từng biến thu nhập với tỷ suất sinh lời của

cổ phiếu, Easton và Harris đã kết hợp phương trình (4) và (7) thành phương trình sau:

Trang 33

Nhờ chứng minh mối quan hệ tuyến tính, Easton và Harris chứng mimh rằng tỷ suất thu nhập và sự thay đổi của tỷ suất thu nhập có mối quan hệ với TSSL của cổ phiếu Các mô hình hồi quy là:

𝑅𝑗𝑡= 𝛼0+ 𝛼1[ 𝐸𝑃𝑆𝑗𝑡

𝑃𝑗𝑡−1] + 𝛼2[

∆𝐸𝑃𝑆𝑗𝑡

𝑃𝑗𝑡−1 ] + 𝜖𝑗𝑡Với:

𝑅𝑗𝑡 là tỷ suất sinh lời của cổ phiếu

Pjt-1: giá mỗi cổ phiếu của công ty j tại thời điểm t-1

EPSjt: được tính toán bằng thu nhập trên mỗi cổ phiếu của công ty j trong khoảng thời gian t

EPSjt-1: được tính toán bằng thu nhập trên mỗi cổ phiếu của công ty j trong khoảng thời gian t-1

Trong bài nghiên cứu này thì TTKT được đại diện bởi hai biến chính là tỷ suất thu nhập và sự thay đổi của tỷ suất thu nhập

2.5 Các nhân tố tác động tới mối quan hệ TTKT và TSSL

2.5.1 Hệ số phản ứng thu nhập

2.5.1.1 Định nghĩa

Các hệ số phản ứng thu nhập (ERC) là một thước đo thể hiện mối quan hệ giữa TSSL của cổ phiếu và lợi nhuận vào khoảng thời gian các khoản lợi nhuận được công bố (Scott, 1997) ERC đo lường lợi nhuận chứa đựng bao nhiêu thông tin mới trong đó và thông tin mới này được đo bằng cách xem xét các ảnh hưởng TSSL của

cổ phiếu xung quanh thời điểm công bố lợi nhuận Tuy nhiên, thường thì các nhà nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa TSSL và lợi nhuận trong một năm Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng sử dụng ERC để xem xét mối quan hệ giữa các khoản lợi nhuận và TSSL bất thường ERC không phải là mối quan tâm đặc biệt cho các cổ đông mà các nhà nghiên cứu sử dụng ERC để xem xét các ảnh hưởng giữa TSSL của cổ phiếu và các khoản lợi nhuận

Theo Easton và Zmijewski (1989) và Collins và Kothari (1989) cho rằng mối quan

hệ giữa TSSL của cổ phiếu và các khoản lợi nhuận được dựa trên ý tưởng rằng giá

Trang 34

cổ phiếu là một hàm số của cổ tức mong đợi trong tương lai Giá của cổ phiếu thay đổi nếu các nhà đầu tư điều chỉnh cổ tức mong đợi trong tương lai của họ dựa trên

tỷ lệ TSSL mong đợi

Hệ số ERC (𝛽) là một biến quan trọng trong mô hình tuyến tính để xét mối quan

hệ TSSL và TTKT trên BCTC (đại diện là thông tin lợi nhuận) bởi vì nó cho thấy mức độ mà lợi nhuận tác động đến TSSL Mô hình như sau:

+ Lãi suất: Tác giả thấy rằng sự biến động theo thời gian của ERC có tác động

nghịch chiều đến lãi suất phi rủi ro ERC có quan hệ ngược chiều với lãi suất phi rủi

ro vì sự gia tăng lãi suất phi rủi ro sẽ dẫn đến một ERC thấp hơn

+ Rủi ro: Tác giả cho thấy ERC quan hệ nghịch biến với rủi ro hệ thống của công

ty nếu hệ số 𝛽 không đổi qua thời gian Điều này thì rõ ràng bởi vì giá trị hiện tại cổ tức mong đợi trong tương lai sẽ nhỏ hơn nếu như rủi ro hệ thống nhỏ hơn do suất sinh lợi mong đợi thấp hơn Vì thế công ty nào có rủi ro cao hơn thì phản ứng của giá cổ phiếu với các thông tin công bố lợi nhuận cao hơn

+ Sự tồn lưu lợi nhuận và cơ hội tăng trưởng: Collins và Kothari (1989) cho rằng

sự tồn lưu lợi nhuận và cơ hội tăng trưởng có quan hệ đồng biến với ERC Hai ông cho rằng các biến này không tác động riêng lẽ tới ERC bởi vì các đại diện cho sự tăng trưởng và tồn lưu lợi nhuận có thể phản ánh tác động cho cả hai biến Sự tồn lưu lợi nhuận tác động đến ERC vì nó ảnh hưởng tới sự mong đợi cổ tức trong tương lai Càng lợi nhuận nhiều thì cổ tức trong tương lai càng nhiều hơn và cần đánh giá lại sự mong đợi vào lợi nhuận Cơ hội tăng trưởng cũng có mối quan hệ

Trang 35

với ERC bởi vì nó đại diện cho cơ hội đầu tư mà mong đợi sẽ mang lại mức lời cao hơn suất sinh lợi bình quân Vì vậy cổ tức lương lai sẽ cao hơn nếu như đầu tư thành công Nếu lợi nhuận được đầu tư vào thời điểm hiện tại thì cổ tức sẽ thấp hơn, nhưng một khi việc đầu tư hoàn thành, các hoạt động được mong đợi sẽ tăng trưởng thì cổ tức tương lai sẽ cao hơn

2.5.2 Quy mô công ty

Quy mô công ty là một trong những đặc trưng thường được sử dụng trong các nghiên cứu tương quan giữa TTKT trên BCTC và TSSL cổ phiếu trong lĩnh vực kế toán và lĩnh vực tài chính Những nghiên cứu cho thấy quy mô công ty có tác động đến mối quan hệ này Thước đo của quy mô công ty, tác giả sử dụng logarit tự nhiên của tổng tài sản (Collins và Kothari, 1989)

Basu (1983) cho thấy rằng cổ phiếu của các công ty có quy mô nhỏ thu được tỷ suất sinh lợi cao hơn đáng kể so với cổ phiếu của công ty có quy mô lớn hơn và ảnh hưởng của biến quy mô hầu như không xuất hiện khi tỷ suất sinh lợi được kiểm soát bởi rủi ro và tỷ lệ E/P

Theo Freeman (1987) thì có sự khác biệt về tác động của TTKT giữa công ty có quy mô lớn và quy mô nhỏ Giá cổ phiếu của công ty lớn bị ảnh hưởng trước các công ty nhỏ và độ lớn các biến động TSSL quanh thời điểm công bố thông tin của công ty nhỏ thì lớn hơn so với công ty lớn và mức độ của lợi nhuận bất thường liên quan đến tin tức tốt hay xấu thì tỷ lệ nghịch với quy mô doanh nghiệp Freeman (1987) đã chia quy mô công ty thành quy mô lớn và quy mô nhỏ Các công ty được phân loại là lớn nếu giá trị thị trường của cổ phiếu trong năm tài chính cao hơn mức trung bình phân vị của tất cả dữ liệu công ty trong năm Các công ty được phân loại

là nhỏ thì ngược lại Nhưng nếu phân loại theo tổng tài sản thay vì theo giá trị thị trường sẽ mang lại kết quả tương tự Vì vậy nghiên cứu này sẽ phân biến quy mô thành các công ty có quy mô lớn và quy mô nhỏ để xét ảnh hưởng của chúng đến mối quan hệ giữa TTKT và TSSL

Easton và Zmijewski (1989) tìm thấy bằng chứng cho rằng quy mô công ty có tác động cùng chiều đến mối quan hệ giữa TT BCTC và TSSL Thường thì các công ty

Trang 36

lớn ít rủi ro hơn vì vậy TSSL mong đợi sẽ thấp hơn và các công ty lớn cũng không phản ứng chậm chạp trước những thông tin mới từ thị trường Ngoài ra, các công ty lớn công bố nhiều thông tin hơn vào những ngày công bố lợi nhuận (Easton và Zmi- jewski, 1989)

Collins và Kothari (1989) cũng chứng minh qua nghiên cứu của mình cho thấy mối quan hệ giữa TT BCTC và TSSL thay đổi khác nhau với các quy mô công ty khác nhau Để xác định chắc chắn hơn về mức độ tác động tới mối quan hệ trên khi quy mô công ty thay đổi thì mẫu nghiên cứu được phân thành ba nhóm quy mô (nhỏ, trung bình, lớn) bằng cách xếp hạng công ty mỗi năm dựa vào giá thị trường Tuy nhiên kết quả cho thấy nhóm quy mô nhỏ và quy mô lớn có mức độ ảnh hưởng

và có ý nghĩa giải thích cao hơn, điều này phù hợp với nghiên cứu trước của

Free-man (1987)

2.5.3 Tỷ lệ nợ

Biến tỷ lệ nợ theo nghiên cứu của Dhaliwal và cộng sự (1991), cho rằng rủi ro của một công ty được đo lường thông qua tỷ lệ nợ hay đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tài chính là tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản của một công ty

Nghiên cứu của Collins và Kothari (1989) về những nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa TTKT và TSSL bao gồm lãi suất phi rủi ro, mức rủi ro, sự tồn lưu của lợi nhuận kế toán Chi phí vốn của doanh nghiệp tăng cùng với lãi suất và độ rủi ro Collins và Kothari (1989) đã tìm thấy mức lãi suất phi rủi ro và rủi ro hệ thống có tương quan ngược chiều với mối quan hệ giữa TTKT và TSSL Khi tỷ lệ nợ càng cao thì càng làm gia tăng thêm rủi ro Như vậy có thể nói tỷ lệ nợ có tác động nghịch chiều lên mối quan hệ này

Nghiên cứu của Easton và Zmijewski (1989) cũng tìm thấy bằng chứng của việc

có tác động cùng chiều giữa tỷ lệ nợ và hệ số beta, trong khi đó, hệ số beta có tác động ngược chiều đối với mối quan hệ giữa TTKT và TSSL, khi kết hợp lại, tỷ lệ

nợ có tác động ngược chiều lên mối quan hệ giữa TTKT và TSSL

Dhaliwal và cộng sự (1991) cho rằng ERC thì có quan hệ nghịch chiều với tỷ lệ

nợ Công ty có mức độ đòn bẩy trung bình cao thì có tổng nợ lớn hơn tổng nguồn

Trang 37

vốn Do đó, nếu có một sự tăng trong lợi nhuận thì người hưởng lợi là chủ nợ hay người nắm giữ cổ phiếu Cho nên có thể nói rằng công ty có tỷ lệ nợ cao thì có hệ

số ERC thấp hơn những công ty có tỷ lệ nợ thấp

2.5.4 Sự tăng trưởng

Thước đo cho sự tăng trưởng, tác giả đã sử dụng hệ số MB (Market to Book value

of equity ratio- giá trị thị trường trên giá sổ sách) để đo lường sự tăng trưởng của doanh nghiệp (Collins và Kothari, 1989; Collins và các cộng sự, 1999)

Collins và Kothari (1989) cho rằng sự tồn lưu lợi nhuận và cơ hội tăng trưởng có quan hệ đồng biến với ERC Hai ông cho rằng các biến này không tác động riêng lẽ tới ERC bởi vì các đại diện cho sự tăng trưởng và tồn lưu lợi nhuận có thể phản ánh tác động cho cả hai biến Như vậy tác giả xem sự tăng trưởng bao gồm sự tồn lưu lợi nhuận và cơ hội tăng trưởng Collins và Kothari (1989) đã chứng minh rằng mối quan hệ giữa TTKT và TSSL có quan hệ với mức tăng trưởng của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có tăng trưởng cao hơn thì hệ số ERC của doanh nghiệp đó cao hơn

Trong nghiên cứu của Fama và French (1993) cho thấy những danh mục cổ phiếu

có quy mô lớn và tỷ lệ BE/ME (Giá trị sổ sách trên giá trị thị trường) cao đã tạo ra một tỷ suất sinh lợi cao hơn so với những danh mục có quy mô nhỏ và tỷ lệ BE/ME cao Fama và French xây dựng 6 danh mục: tất cả các cổ phần được phân thành 2 nhóm quy mô (Small và Big sử dụng trung vị vốn hóa thị trường của chúng), sau đó tất cả các cổ phần lại được phân nhóm độc lập dựa trên tỷ số BE/ME, 30% công ty

đã sắp xếp theo BE/ME được xếp vào nhóm BE/ME thấp nhất, 40% cổ phần xếp vào nhóm BE/ME ở giữa và 30% cổ phần xếp vào nhóm BE/ME cao nhất Tuy nhiên hai tác giả này cho rằng việc phân các cổ phần thành 3 nhóm theo BE/ME và

2 nhóm theo quy mô là tùy ý và không ảnh hưởng đến kết quả kiểm định

Để đo lường mức tăng trưởng, Collins và các cộng sự (1999) sử dụng tỷ số MB (tỷ số giá số sách trên giá thị trường) Họ đã chứng minh được mối quan hệ thuận chiều giữa mối quan hệ giữa TTKT và TSSL và tỷ số MB Vì mối quan hệ giữa

Trang 38

TTKT và TSSL của doanh nghiệp có tương quan thuận chiều với mức tăng trưởng của doanh nghiệp

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong chương 2, tác giả trình bày về cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu Trước tiên là tổng quan về BCTC và vai trò thông tin của BCTC đối với nhà đầu tư Tiếp theo tác giả nêu ra các lý thuyết về TTKT trên BCTC bao gồm thông tin về lãi cơ bản trên cổ phiếu, thông tin về tỷ suất thu nhập, tỷ suất thu nhập biến đổi và TSSL của cổ phiếu Vì Việt Nam là nước đang phát triển có TTCK với cơ sở

hạ tầng và các quy định về công bố thông tin chưa được hoàn thiện nên về mối quan

hệ giữa thông tin trên BCTC và TSSL tác giả đưa ra các lý thuyết liên quan về thị trường hiệu quả, nới lỏng giả thuyết thị trường hiệu quả và mô hình lợi tức của Easton và Harris (1991)

Trong phần các nhân tố tác động tới mối quan hệ TTKT và TSSL thì đầu tiên tác giả định nghĩa và các nhân tố tác động đến hệ số phản ứng thu nhập vì hệ số phản ứng thu nhập (ERC) là một thước đo thể hiện mối quan hệ giữa TTKT và TSSL của

cổ phiếu Các nhân tố chính tác động đến ERC bao gồm: quy mô, tỷ lệ nợ, sự tăng trưởng Sau đó tác giả sẽ lần lượt trình bày sơ lược về vai trò kiểm soát của biến quy

mô, tỷ lệ nợ và sự tăng trưởng

Trang 39

3 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu trình tự như sau:

3.2 Giả thuyết nghiên cứu

Từ các lý thuyết được nêu ra ở chương 2 thì tác giả tổng hợp lại và đưa ra các giả thuyết của bài nghiên cứu để trả lời lần lượt các câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: TTKT trên BCTC và TSSL của cổ phiếu các CTNY trên TTCK Việt Nam có mối quan hệ với nhau hay không? Mối quan hệ này là cùng chiều hay ngược chiều nhau? Mức độ tác động qua lại của chúng như thế nào?

Để trả lời câu hỏi nghiên cứu thứ nhất và dựa trên nghiên cứu của Easton và ris (1991) thì TTKT đại diện bởi tỷ suất thu nhập và tỷ suất thu nhập biến đổi có tác động thuận chiều lên TSSSL nên tác giả đưa giả thuyết H1 như sau:

Har-Giả thuyết H1: Tỷ suất thu nhập và sự thay đổi của tỷ suất thu nhập tác động

thuận chiều lên TSSL của cổ phiếu

Xác định và làm rõ vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu các lý thuyết liên quan và giới thiệu các mô hình nghiên cứu thực nghiệm trước đó

Thu thập dữ liệu nghiên cứu

Phân tích dữ liệu nghiên cứu

Trình bày các kết quả nghiên cứu

Kết luận, kiến nghị và hoàn thiện luận văn

Trang 40

Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa thông tin trên BCTC và TSSL của cổ phiếu các CTNY trên TTCK Việt Nam? Từ

đó đưa ra các kiến nghị cho các bên liên quan nhằm nâng cao vấn đề cung cấp TTKT được công bố trên BCTC

Như đã nêu ra thì trong nghiên cứu này tác giả đưa ra ba nhân tố tác động lên mối quan hệ giữa thông tin trên BCTC và TSSL của cổ phiếu các CTNY trên TTCK Việt Nam bao gồm: quy mô công ty, tỷ lệ nợ, sự tăng trưởng

Từ tác động của nhân tố quy mô lên mối quan hệ giữa thông tin trên BCTC và TSSL của cổ phiếu và dựa trên nghiên cứu của Freeman (1987), Easton và Zmijew- ski (1989), Collins và Kothari (1989) thì tác giả cho rằng: các công ty lớn ít rủi ro hơn vì vậy TSSL mong đợi sẽ thấp hơn và các công ty lớn cũng không phản ứng chậm chạp trước những thông tin mới từ thị trường Ngoài ra, các công ty lớn công

bố nhiều thông tin hơn vào những ngày công bố lợi nhuận.Vì vậy giả thuyết H2 được đưa ra như sau:

Giả thuyết H2: Quy mô công ty có tác động ngược chiều lên mối quan hệ giữa

TTKT và TSSL

Tương tự, tác động của nhân tố tỷ lệ nợ thì theo Collins và Kothari (1989) và Easton và Zmijewski (1989) cho rằng: công ty có tỷ lệ nợ cao thì có hệ số ERC thấp hơn những công ty có tỷ lệ nợ thấp Ta có giả thuyết H3 như sau:

Giả thuyết H3: Tỷ lệ nợ có tác động ngược chiều lên mối quan hệ giữa TTKT và

TSSL

Dựa trên nghiên cứu của Collins và Kothari (1989), Collins và các cộng sự (1999)

về tác động của nhân tố sự tăng trưởng thì sự tồn lưu lợi nhuận và cơ hội tăng trưởng có quan hệ đồng biến với ERC Sự tăng trưởng bao gồm sự tồn lưu lợi nhuận

và cơ hội tăng trưởng nên công ty nào có tăng trưởng cao hơn thì hệ số ERC của

doanh nghiệp đó cao hơn Qua đó, ta có giả thuyết H4 như sau:

Giả thuyết H4: Sự tăng trưởng có tác động thuận chiều lên mối quan hệ giữa

TTKT và TSSL

Từ bốn giả thuyết trên, tác giả tổng hợp các biến và chiều tác động

Ngày đăng: 13/03/2017, 23:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Bảng tổng hợp chiều tác động của biến. - Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.1 Bảng tổng hợp chiều tác động của biến (Trang 41)
Bảng 3.2: Bảng đo lường các biến nghiên cứu trong mô hình - Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.2 Bảng đo lường các biến nghiên cứu trong mô hình (Trang 44)
Hình 4.1: Vn-Index và khối lượng giao dịch trong giai đoạn 2009-2014 - Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 4.1 Vn-Index và khối lượng giao dịch trong giai đoạn 2009-2014 (Trang 58)
Hình 4.2: HNX-Index và khối lượng giao dịch trong giai đoạn 2009-2014 - Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 4.2 HNX-Index và khối lượng giao dịch trong giai đoạn 2009-2014 (Trang 59)
Bảng 4.1: Số lượng công ty trong mẫu nghiên cứu trên HOSE và HNX. - Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.1 Số lượng công ty trong mẫu nghiên cứu trên HOSE và HNX (Trang 60)
Hình 4.3: Thống kê dữ liệu nghiên cứu trên HOSE và HNX - Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 4.3 Thống kê dữ liệu nghiên cứu trên HOSE và HNX (Trang 61)
Bảng 4.2: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình - Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.2 Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình (Trang 62)
Bảng 4.3: Kết quả ma trận tự tương quan - Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.3 Kết quả ma trận tự tương quan (Trang 63)
Hình 4.4: Biểu đồ tương quan từng cặp biến - Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 4.4 Biểu đồ tương quan từng cặp biến (Trang 65)
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy cho mối quan hệ TTKT trên BCTC và TSSL - Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.7 Kết quả hồi quy cho mối quan hệ TTKT trên BCTC và TSSL (Trang 66)
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy trên 4 mô hình khi chia theo quy mô công ty - Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.8 Kết quả hồi quy trên 4 mô hình khi chia theo quy mô công ty (Trang 68)
Bảng 4.9: Kết quả hồi quy trên 4 mô hình khi chia theo tỷ lệ nợ - Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.9 Kết quả hồi quy trên 4 mô hình khi chia theo tỷ lệ nợ (Trang 70)
Bảng 4.10: Kết quả hồi quy trên 4 mô hình khi chia theo sự tăng trưởng - Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.10 Kết quả hồi quy trên 4 mô hình khi chia theo sự tăng trưởng (Trang 71)
Bảng 4.12: Kết quả hồi quy mô hình đối chiếu và mở rộng Daniel Hoechle - Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.12 Kết quả hồi quy mô hình đối chiếu và mở rộng Daniel Hoechle (Trang 74)
Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình đối chiếu và mở rộng Daniel Hoechle - Mối quan hệ giữa thông tin kế toán trên báo cáo tài chính và tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.13 Kết quả hồi quy mô hình đối chiếu và mở rộng Daniel Hoechle (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w