Vậy để làm tiền đề cho những nghiên cứu sau phân tích những vấn đề bất cập của những thông tư ra đời sau, với mục đích phân tích hoạt động đấu thầu thuốc, những kết quả đạt được, chỉ ra
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
VÕ THỊ MAI PHƯƠNG
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU THUỐC TẠI SỞ Y TẾ TỈNH NGHỆ AN NĂM 2013 VÀ NĂM 2014
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I CHUYÊN NGÀNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK60 72 0412
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Xuân Thắng Thời gian thực hiện: Tháng 07/2016 – Tháng 11/2016
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này, trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới: TS Đỗ Xuân
Thắng - Phó Trưởng Bộ môn Quản lý kinh tế Dược, người thầy đã tận tình hướng
dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi từng bước hoàn thành Luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy, cô giáo, cán bộ Phòng Sau Đại học, Bộ môn Quản lý Kinh tế Dược - Trường Đại học Dược Hà Nội đã luôn giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại Trường
Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám đốc, các đồng nghiệp công tác tại phòng Quản lý Dược, Sở y tế Nghệ An, đặc biệt là Ths Ds Nguyễn Thị Xuân Phước - Chuyên viên phòng Quản lý Dược đã luôn động viên, khuyến khích, tận tình hướng dẫn, cho tôi những đóng góp qúy báu trong quá trình thực hiện Luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã chia
sẻ, động viên tôi vượt qua những khó khăn, trở ngại để tôi có thêm quyết tâm, vững vàng trong suốt thời gian học tập và thực hiện Luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
HỌC VIÊN
Võ Thị Mai Phương
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
1 Luật đấu thầu số 43 Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày
ngày 11/11/2013
Trang 522 EU Liên minh châu Âu
đăng ký dược phẩm sử dụng cho con người
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Đại cương về đấu thầu thuốc 3
1.1.1 Khái niệm về đấu thầu 3
1.1.2 Hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư 4
1.1.3 Phương thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư 5
1.1.4 Các hình thức tổ chức thực hiện 6
1.1.5 Mua thuốc, vật tư y tế 9
1.1.6 Quy trình đấu thầu thuốc: 12
1.2 Thực trạng hoạt động đấu thầu thuốc tại Việt Nam 14
1.2.1 Một số văn bản chính liên quan đến hoạt động đấu thầu thuốc 14
1.2.2 Một số đặc điểm trong các giai đoạn đấu thầu 14
1.3 Một số nghiên cứu về hoạt động đấu thầu được công bố 24
1.4 Tình hình đấu thầu thuốc tại Nghệ An trong những năm gần đây : 25
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng 27
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 27
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.2.3 Biến số nghiên cứu 28
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu và phân tích số liệu 30
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Vấn đề tổ chức, thực hiện 31
3.1.1 Xây dựng danh mục kế hoạch đấu thầu thuốc 31
Trang 73.1.2 Tỷ lệ thuốc trúng thầu 31
3.1.3 Tỷ lệ nhà thầu trúng thầu 36
3.2 Vấn đề phân chia nhóm thuốc đấu thầu 36
3.3 Vấn đề cơ cấu thuốc nội, thuốc ngoại trúng thầu 41
3.4 Vấn đề thuốc có hàm lượng không phổ biến 45
3.5 Vấn đề giá thuốc trúng thầu 50
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 52
4.1 Vấn đề tổ chức đấu thầu thuốc 52
4.2.Vấn đề phân chia nhóm thuốc trúng thầu 55
4.3 Vấn đề cơ cấu thuốc nội, thuốc ngoại trúng thầu 58
4.4 Vấn đề giá thuốc trúng thầu 59
4.5 Vấn đề thuốc có hàm lượng không phổ biến với chi phí cao 60
4.6 Ưu điểm và hạn chế của Luận văn 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các hình thức lựa chọn nhà thầu trong đấu thầu mua thuốc 4
Bảng 1.2 Các hình thức đấu thầu thuốc 6
Bảng 1.3 Một số văn bản chính liên quan đến hoạt động đấu thầu thuốc 14
Bảng 1.4 Một số điểm thay đổi của Thông tư 36 so với Thông tư 01 22
Bảng 2.1 Các biến nghiên cứu 28
Bảng 2.2 Các phương pháp phân tích số liệu 30
Bảng 3.1 Kế hoạch đấu thầu thuốc 31
Bảng 3.2 Tỷ lệ thuốc trúng thầu 31
Bảng 3.3 Cơ cấu SMHH thuốc mời thầu, trúng thầu 32
Bảng 3.4 Cơ cấu SMHH không trúng thầu năm 2013 33
Bảng 3.5 Cơ cấu SMHH không trúng thầu năm 2014 34
Bảng 3.6 Tỷ lệ nhà thầu trúng thầu 36
Bảng 3.7 Phân chia nhóm thuốc đấu thầu 36
Bảng 3.8 Cơ cấu thuốc sản xuất tại các cơ sở đạt tiêu chuẩn GMP-PIC/s; EU-GMP 38
Bảng 3.9 Cơ cấu thuốc nhập khẩu trúng thầu 39
Bảng 3.10 Tỷ lệ thuốc đông y, thuốc từ dược liệu 41
Bảng 3.11 Cơ cấu thuốc nội, thuốc ngoại trúng thầu 41
Bảng 3.12 Cơ cấu thuốc nội, thuốc ngoại trúng thầu ở Gói thuốc đông y 42
Bảng 3.13 Danh mục thuốc đông y trúng thầu ở cả 2 nhóm thầu năm 2014 42
Bảng 3.14 Tỷ lệ thuốc sản xuất tại Việt Nam trúng thầu Nhóm 2 năm 2014 44
Bảng 3.15 Danh mục thuốc trúng thầu có hàm lượng không phổ biến năm 2013 45
Bảng 3.16 Danh mục thuốc trúng thầu có hàm lượng không phổ biến năm 2014 46
Bảng 3.17 Tỷ lệ giá trị trúng thầu của các thuốc hàm lượng không phổ biến 47
Bảng 3.18 Danh mục 10 thuốc có giá trị trúng thầu cao nhất năm 2013 48
Bảng 3.19 Danh mục 10 thuốc có giá trị trúng thầu cao nhất năm 2014 49
Bảng 3.20 Chênh lệch giá thuốc trúng thầu năm 2014 so với năm 2013 51
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Các hình thức lựa chọn nhà thầu 5
Hình 1.2 Các phương thức lựa chọn nhà thầu 5
Hình 1.3 Sơ đồ quy trình đấu thầu thuốc 13
Hình 1.4 Đấu thầu tập trung kết hợp với các hình thức đấu thầu khác 16
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây việc mua sắm thuốc ở hầu hết các đơn vị khám chữa bệnh trong cả nước đều được thực hiện bằng hình thức đấu thầu và phương thức đấu thầu thuốc được sử dụng chủ yếu ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là đấu thầu rộng rãi Điều này đã đem lại rất nhiều ưu điểm cho quá trình cung ứng, giúp quản lý sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả Thông qua đấu thầu, bệnh viện
có nhiều cơ hội lựa chọn được thuốc đảm bảo chất lượng, đúng yêu cầu tiêu chuẩn đặt ra, đảm bảo ổn định về giá và đủ thuốc trong thời gian dài, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho người dân ngày càng tốt hơn Đồng thời, qua đấu thầu thuốc giúp các cơ quan chức năng nắm bắt chặt chẽ và sát sao trong quá trình quản lý, chỉ đạo, thanh toán và thanh kiểm tra công tác khám chữa bệnh Cho đến nay, Thông tư hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua thuốc tại các cơ sở
y tế công lập đã qua một số lần thay đổi: Thông tư 20/2005/TT-BYT năm 2005, Thông tư 10/2007/TT-BYT năm 2007, Thông tư 01/2012/TTLT-BYT-BTC và Thông tư 36/2013/TTLT-BYT-BTC và hiện nay là Thông tư 11/2016/TT-BYT Các thông tư sau ra đời từng bước hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với các quy định thay đổi của luật đấu thầu và khắc phục những bất cập tồn tại của các Thông tư trước Hiện nay, chưa có cơ sở y tế trực thuộc trung ương hoặc Sở y tế nào có kết quả đấu thầu năm 2016 theo thông tư 11 Hiện tại, Sở Y tế Nghệ An cũng đang trong giai đoạn áp dụng đấu thầu theo thông tư 11 giai đoạn mở bán hồ sơ thầu Năm 2014, năm 2015, Sở y tế Nghệ An thực hiện đấu thầu theo thông tư số 36, năm 2013 đấu thầu theo thông tư số 01
Vậy để làm tiền đề cho những nghiên cứu sau phân tích những vấn đề bất cập của những thông tư ra đời sau, với mục đích phân tích hoạt động đấu thầu thuốc, những kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại khó khăn trong việc thực hiện đấu thầu theo 2 thông tư trước số 01 và thông tư số 36, qua đó đưa ra các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu, cải tiến về chất lượng, giảm thời gian và chi phí trong đấu thầu_ vấn đề cấp bách trong thời điểm hiện nay, tôi thực hiện đề tài
Trang 11“Phân tích kết quả hoạt động đấu thầu thuốc tại Sở y tế tỉnh Nghệ An năm
2013 và năm 2014” với mục tiêu:
So sánh kết quả hoạt động đấu thầu thuốc tại Sở y tế tỉnh Nghệ An năm 2013
và năm 2014 theo thông tư số 01/2012/TTLT-BYT-BTC và thông tư số 36/2013/TTLT-BYT-BTC
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Đại cương về đấu thầu thuốc
1.1.1 Khái niệm về đấu thầu
Luật Đấu thầu định nghĩa: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký
kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn,dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp;lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng, dự án đầu
tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế” [24]
Đấu thầu là một phương thức vừa có tính khoa học vừa có tính pháp quy, khách quan mang lại hiệu quả cao, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh và hợp pháp trên thị trường Đó là một điều kiện thiết yếu để đảm bảo sự thành công cho chủ đầu tư thông qua tính tích cực, hiệu quả mang lại là hạ giá thành sản phẩm được đảm bảo
về chất lượng và số lượng Đấu thầu đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đẩy mạnh phát triển khoa học kỹ thuật trong các ngành, đổi mới công nghệ từ đó góp phần tích cực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế nhà nước Trước những bất cập của một số vấn đề hiện nay về công tác đấu thầu thì việc nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy về hướng dẫn công tác đấu thầu nước ta là một vấn đề hết sức quan trọng
Trang 131.1.2 Hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Bảng 1.1 Các hình thức lựa chọn nhà thầu trong đấu thầu mua thuốc
- Tất cả các cơ sở y tế thực hiện việc mua thuốc thanh toán
từ nguồn BHYT hoặc ngân sách nhà nước
- Không hạn chế số lượng nhà thầu, nhà đầu tư tham dự
2 Chỉ định thầu
- Áp dụng trong trường hợp đặc biệt: Mua thuốc triển khai phòng chống dịch bệnh trong trường hợp cấp bách, thiên tai Ầ
- Gói thầu có giá trị không quá 01 tỷ đồng
3 Chào hàng
cạnh tranh
- Chào hàng cạnh tranh thông thường có giá trị không quá
05 tỷ đồng Chào hàng cạnh tranh rút gọn có giá trị từ 200 triệu đến 01 tỷ tùy gói thầu quy định cụ thể tại Điều 23 Luật đấu thầu
- Nội dung mua sắm là những hàng hoá thông dụng, sẵn có trên thị trường với đặc tắnh kỹ thuật được tiêu chuẩn hoá
và tương đương nhau về chất lượng
4 Mua sắm trực
tiếp
- Gói thầu mua sắm hàng hóa tưõng tự thuộc cùng một dự
án hoặc thuộc dự án mua sắm khác
- Nhà thầu đã trúng thầu thông qua đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế và đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu trước đó
- Đơn giá: không được vượt đơn giá của các phần việc tương ứng thuộc gói thầu tương tự đã ký hợp đồng trước
đó
- Gói thầu có nội dung, tắnh chất tương tự và quy mô nhỏ hơn 130% gói thầu trước đó trong thời hạn không quá 12 tháng
5 Đàm phán giá
- Áp dụng cho gói thầu mua thuốc chỉ từ một đến hai nhà sản xuất, thuốc biệt dược gốc, thuốc hiếm, thuốc trong thời gian còn bản quyền và các trường hợp đặc thù
Trang 14Hình 1.1 Các hình thức lựa chọn nhà thầu[24]
1.1.3 Phương thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Hình 1.2 Các phương thức lựa chọn nhà thầu[11]
Hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Đấu thầu rộng rãi
Đấu thầu hạn chế
Chỉ định thầu
Chào hàng cạnh tranh
Mua sắm trực tiếp
Tự thực hiện
Lựa chọn nhà
thầu, nhà đầu
tư trong trường hợp
đặc biệt
Tham gia thực hiện của cộng đồng
Các phương thức lựa chọn nhà thầu
Phương thức
một giai đoạn
một túi hồ sơ
Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ
Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ
Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ
Trang 151.1.4 Các hình thức tổ chức thực hiện
Bảng 1.2 Các hình thức đấu thầu thuốc [5]
Thông tư 01 và Thông tư 36 Thông tư 11 và Thông tư 09
Tập trung SYT tổ chức đấu thầu tập
trung cho tất cả các cơ sở y
tế trên địa bàn Các CSYT căn cứ vào kết quả trúng thầu của Sở Y tế để thương thảo, ký hợp đồng cung ứng thuốc theo nhu cầu trong năm
Tập trung cấp quốc gia và đàm phán giá
Tổ chức đấu thầu thuốc thuộc danh mục đấu thầu cấp quốc gia và tổ chức đàm phán giá thuốc thuộc danh mục đàm phán giá
Tập trung cấp địa phương
Tổ chức đấu thầu danh mục thuốc cấp địa phương các thuốc thuộc danh mục đấu thầu cấp địa phương (UBND tỉnh có thể phê duyệt bổ sung danh mục đấu thầu cấp địa phương) Đại diện Một trong các bệnh viện đa
khoa tuyến tỉnh tổ chức đấu thầu hàng năm Các đơn vị khác trên địa bàn áp dụng kết quả lựa chọn nhà thầu của bệnh viện đó để mua thuốc theo hình thức mua sắm trực tiếp
Riêng lẻ Các CSYT tự tổ chức đấu
thầu theo nhu cầu sử dụng thuốc của đơn vị mình
Riêng lẻ Các CSYT tổ chức đấu
thầu các thuốc nằm ngoài danh mục đấu thầu cấp quốc gia, cấp địa phương
Trang 16Như vậy, theo quy định hiện nay việc đấu thầu mua thuốc cho các cơ sở y tế sẽ thực hiện hai hình thức: đấu thầu tập trung cấp quốc gia, cấp địa phương và đấu thầu riêng lẻ tại các cơ sở khám chữa bệnh
1.1.4.1 Đấu thầu tập trung
- Hình thức đấu thầu tập trung là hình thức đấu thầu được Bộ Y tế khuyến khích, và được các tỉnh thành phố trên toàn quốc áp dụng rộng rãi, đến năm 2012 đã
có khoảng 71,5% các tỉnh áp dụng hình thức này[26]
- Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Y tế tổ chức đấu thầu tập trung những loại thuốc có nhu cầu sử dụng thường xuyên, ổn định và có số lượng lớn cho tất cả các
cơ sở y tế công lập thuộc địa phương
- Các cơ sở y tế công lập ở địa phương căn cứ vào kết quả đấu thầu này để ký kết hợp đồng mua thuốc theo nhu cầu ngay trong năm
- Thống nhất về thời gian, chủng loại, giá thuốc trúng thầu đối với tất cả các
cơ sở y tế trên địa bàn, góp phần bình ổn thị trường giá trên địa bàn, quản lýnguồn quỹ KCB BHYT cũng được chặt chẽ, đảm bảo quyền lợi của bệnh nhân BHYT
*) Hạn chế:
- Luôn có một tỷ lệ danh mục thuốc trượt thầu nhất định, do đó khó khăn cho các đơn vị trong việc mua các thuốc đã trượt thầu
Trang 17- Việc quản lýcác đơn vị mua theo số lượng trúng thầu tương đối là khó khăn trong giai đoạn này, trong khi việc áp dụng công nghệ thông tin mới bước đầu được thực hiện
- Thói quen sử dụng thuốc ở các đơn vị khác nhau là không đồng đều, dẫn đến hiện tượng một số thuốc trúng thầu được sử dụng tại đơn vị này, song lại không được sử dụng ở đơn vị khác
* Hạn chế:
+ Đơn vị đại diện thực hiện đấu thầu do thiếu cán bộ chuyên môn đặc biệt là thiếu kinh nghiệm trong đấu thầu nên làm chậm tiến độ đấu thầu, thậm chí qui trình đấu thầu không được thực hiện đầy đủ, tính chuyên nghiệp không cao
+ Đấu thầu đại diện tuy thuốc thống nhất về giá, chủng loại trong một vùng, một số đơn vị có cùng chuyên khoa nhưng xét một cách tổng quát thì vẫn không thống nhất được trong toàn tỉnh, thậm chí còn có sự khác biệt về thuốc có cùng hoạt chất và đặc biệt tình trạng chênh lệch giá giữa các vùng gây tình trạng khó khăn trong thanh toán bảo hiểm
1.1.4.3 Hình thức riêng lẻ:
- Các cơ sở y tế công lập tổ chức đấu thầu mua thuốc theo nhu cầu sử dụng
thuốc của đơn vị
* Ưu điểm:
- Đơn vị tự chịu trách nhiệm trong việc cung ứng thuốc nên thuốc được đấu
Trang 18* Hạn chế:
- Tại đơn vị do thiếu cán bộ chuyên môn đặc biệt là thiếu kinh nghiệm trong đấu thầu nên làm chậm tiến độ đấu thầu, thậm chí qui trình đấu thầu không được thực hiện đầy đủ, tính chuyên nghiệp không cao
- Do phải dành thời gian nhiều cho công tác đấu thầu nên ảnh hưởng đến công tác chuyên môn tại đơn vị
- Đấu thầu tại đơn vị gây nên tình trạng không thống nhất về giá, chủng loại thuốc trên địa bàn tỉnh gây khó khăn trong quản lý và thanh toán quỹ Bảo hiểm
1.1.5 Mua thuốc, vật tư y tế`
1.1.5.1 Nguyên tắc chung trong mua thuốc, vật tư y tế
- Việc mua thuốc thông qua các hình thức lựa chọn nhà thầu quy định trong Luật Đấu thầu phải đảm bảo các nguyên tắc chung sau đây:
+) Thuốc trúng thầu có mức giá hợp lý tương ứng với chất lượng, điều kiện giao hàng, bảo quản thuốc và các điều kiện liên quan khác;
+) Nhà thầu trúng thầu cung cấp thuốc phải bảo đảm cung cấp thuốc theo đúng các thỏa thuận đã ký kết trong hợp đồng;
+) Nhà thầu trúng thầu cung cấp thuốc phải bảo đảm thuốc đáp ứng yêu cầu
về chất lượng trong tất cả các khâu của quá trình thực hiện hợp đồng từ nguyên liệu, sản xuất, đóng gói, vận chuyển, bảo quản, bàn giao thuốc;
+) Phải thực hiện mua sắm tập trung đối với những loại thuốc trong nước chưa sản xuất được, trừ những loại thuốc thuộc danh mục thuốc được áp dụng hình thức đàm phán giá;
+) Đối với gói thầu mua thuốc quy mô nhỏ nhưng mặt hàng thuốc cần được lựa chọn trên cơ sở kết hợp giữa chất lượng và giá thì có thể áp dụng phương thức lựa chọn nhà thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ;
- Việc lựa chọn nhà thầu cung cấp vật tư y tế thực hiện như đối với gói thầu mua sắm hàng hóa
1.1.5.2 Thẩm quyền trong mua thuốc
a) Thẩm quyền phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu:
Trang 19- Bộ trưởng: Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc cho các cơ sở y tế công lập thuộc phạm vi quản lý;
- Người đại diện theo pháp luật của cơ sở y tế ngoài công lập chịu trách nhiệm phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc của đơn vị mình trong trường hợp có ký kết hợp đồng tham gia khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế với
cơ quan bảo hiểm xã hội
b) Thẩm quyền phê duyệt hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, kết quả lựa chọn nhà thầu:
- Thủ trưởng các cơ sở y tế công lập chịu trách nhiệm phê duyệt hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, kết quả lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc của đơn vị mình;
- Trường hợp mua thuốc tập trung, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao Giám đốc Sở Y tế chịu trách nhiệm phê duyệt hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc cho các đơn vị mua sắm tập trung;
- Người đại diện theo pháp luật của cơ sở y tế ngoài công lập chịu trách nhiệm phê duyệt hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, kết quả lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc của đơn vị mình trong trường hợp có ký kết hợp đồng tham gia khám chữa bệnh bảo hiểm y tế với cơ quan bảo hiểm xã hội
c) Trách nhiệm của các cơ quan trong mua thuốc:
- Bộ Y tế có trách nhiệm:
+) Ban hành danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc mua tập trung, danh mục thuốc được áp dụng hình thức đàm phán giá trên cơ sở đề xuất của Hội đồng tư vấn quốc gia về đấu thầu thuốc;
+) Tổ chức mua thuốc tập trung ở cấp quốc gia, chủ trì đàm phán giá;
+) Xây dựng lộ trình và hướng dẫn mua thuốc tập trung ở cấp quốc gia, cấp địa phương, bảo đảm từ năm 2016 thực hiện trên phạm vi toàn quốc;
+) Căn cứ các tiêu chí cơ bản sau: Số đăng ký đã được công bố, giá thuốc mà doanh nghiệp sản xuất trong nước đã kê khai với cơ quan có thẩm quyền, số lượng
Trang 20ban hành danh mục thuốc trong nước sản xuất được, đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp;
+) Định kỳ hàng năm, tiến hành sơ tuyển để lựa chọn danh sách các nhà sản xuất, nhà cung cấp thuốc đáp ứng yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm và uy tín để làm cơ sở cho việc mời tham gia đấu thầu hạn chế;
- Hội đồng tư vấn quốc gia về đấu thầu thuốc do Bộ trưởng Bộ Y tế quyết định thành lập bao gồm đại diện Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Hiệp hội doanh nghiệp dược và đại diện các tổ chức khác có liên quan Hội đồng có trách nhiệm tư vấn cho Bộ Y tế trong các vấn đề sau đây:
+) Nghiên cứu đề xuất danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc mua tập trung, danh mục thuốc được áp dụng hình thức đàm phán giá;
+) Tham gia tư vấn trong quá trình lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc đối với mua thuốc tập trung ở cấp quốc gia;
+) Tham gia tư vấn trong quá trình lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc đối với hình thức đàm phán giá ở cấp quốc gia
- Bảo hiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm sau đây:
+) Tham gia vào quá trình lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc từ khi lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu đến khi có kết quả lựa chọn nhà thầu;
+) Công khai giá từng loại thuốc trúng thầu được thanh toán, giá thuốc trúng thầu trung bình được thanh toán từ nguồn quỹ bảo hiểm y tế của từng bệnh viện, địa phương, Bộ Y tế trên trang thông tin điện tử của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
1.1.5.3 Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu gói thầu mua thuốc
Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu được chia làm hai giai đoạn:
- Đánh giá về kỹ thuật gồm: đánh giá tính hợp lệ của HSĐXKT, năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu, tiêu chí về kỹ thuật của hàng hóa tham dự thầu
- Đánh giá về tài chính: đánh giá tính hợp lệ của HSĐX về tài chính, sau khi phê duyệt kết quả đánh giá về kỹ thuật, những nhà thầu đạt KT mới được đánh giá về tài chính
Trang 21Thông tư 11/2016/TT-BYT quy định rõ việc đánh giá Hồ sơ dự thầu đối với gói thầu mua thuốc và các tiêu chuẩn đánh giá HSDT thực hiện theo quy định tại mẫu hồ sơ mời thầu trong Phụ lục 03 hoặc Phụ lục 04 ban hành kèm thông tư 11/2016/TT-BYT
- Tiêu chuẩn đánh giá về năng lực, kinh nghiệm
- Tiêu chuẩn đánh giá về kỹ thuật[5]
- Tiêu chuẩn đánh giá chi tiết về tài chính [5],[11]
- Tiêu chuẩn xét duyệt thuốc trúng thầu
1.1.6 Quy trình đấu thầu thuốc:
Trình tự các bước thực hiện công tác đấu thầu thuốc theo quy định của Thông tư 11 [5] và Nghị định 63 được mô tả như sau [11]
Trang 22Chủ đầu tư/bên mời thầu Người/cơ quan có thẩm
Hình 1.3 Sơ đồ quy trình ðấu thầu thuốc
Quy trình đấu thầu theo Nghị định số 63 khác so với Nghị định số 61 ở điểm: Sau bước đánh giá Hồ sơ dự thầu của các nhà thầu, và có kết quả sơ bộ, nhà thầu dự kiến trúng thầu được mời lên để tiến hành thương thảo hợp đồng, sau khi thống nhất các nội dung thương thảo giữa Chủ đầu tư/bên mời thầu với nhà thầu thì Kết quả đấu thầu mới được phê duyệt
nộp HSDT Tiếp nhận và
- Hoàn thiện, ký kết hợp đồng Thẩm định, Phê
duyệt KQĐT
Trang 23Đây là một nội dung cải tiến có chất lượng của Nghị định số 63, điều này giúp cho Chủ đầu tư/bên mời thầu có thêm phương tiện để xác nhận nhà thầu có khả năng hoàn thành công việc khi trúng thầu hay không
1.2 Thực trạng hoạt động đấu thầu thuốc tại Việt Nam
1.2.1 Một số văn bản chính liên quan đến hoạt động đấu thầu thuốc
Bảng 1.3 Một số văn bản chính liên quan đến hoạt động đấu thầu thuốc
1 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 01/06/2014 Còn hiệu lực
2
Thông tư liên tịch số
01/2012/TTLT-BYT-BTC về việc hướng dẫn đấu thầu mua thuốc
trong các cơ sở y tế
19/01/2012
Hết hiệu lực
từ ngày 01/01/2014
3
Thông tư liên tịch
36/2013/TTLT_BYT-BTC của liên Bộ Y tế - Bộ Tài hướng dẫn
đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế
01/06/2012
Hết hiệu lực
từ ngày 01/07/2016
4
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP của Chính
Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu
15/08/2014 Còn hiệu lực
5
Thông tư số 11/2016/TT-BYT của Bộ Y tế
quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y
tế công lập
01/07/2016 Còn hiệu lực
1.2.2 Một số đặc điểm trong các giai đoạn đấu thầu
Việc mua thuốc sử dụng trong các cơ sở y tế sử dụng nguồn ngân sách nhà nước và nguồn BHXH bắt buộc phải thực hiện đấu thầu Chính phủ và Bộ Y tế đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp quy, hướng dẫn việc thực hiện công tác đấu thầu nói chung và đấu thầu mua sắm thuốc nói riêng
1.2.2.1 Giai đoạn 1 - Từ 2007 đến 01/6/2012
Luật Đấu thầu số 61 bắt đầu được cụ thể hóa, hàng loạt các văn bản dưới Luật được ra đời như Nghị định số 111/2006/NĐ-CP, trong bối cảnh đó Thông tư
Trang 2410 được Bộ Y tế - Bộ Tài chính ban hành, hướng dẫn tương đối chi tiết các hoạt động đấu thầu thuốc [23] [08]
Một số nội dung chính trong giai đoạn này:
* Thông tư 10 đưa ra 03 hình thức đấu thầu:
- Đấu thầu tập trung
- Đấu thầu đại diện
- Đấu thầu riêng lẻ
Các cơ sở y tế căn cứ vào điều kiện kinh tế, xã hội để lựa chọn hình thức phù hợp Trong đó, đấu thầu tập trung là hình thức phổ biến nhất
Theo kết quả nghiên cứu về thực trạng đấu thầu thuốc BHYT, trong năm
2012, cả nước có 45 tỉnh thành tổ chức đấu thầu mua sắm thuốc tập trung, chiếm 71,5% [26], tăng 5 tỉnh so với năm 2010, tăng 10 tỉnh so với năm 2009 Hình thức đấu thầu đại diện giảm từ 15,9% năm 2010 xuống còn 9,5% năm 2012 và giảm từ 21,6% năm 2010 xuống còn 19% năm 2012 theo hình thức đấu thầu đơn lẻ
Theo thống kê, trong năm 2010 thì cả 3 hình thức đấu thầu mua thuốc trên đều được các địa phương áp dụng, trong đó[21]:
- Đấu thầu tập trung được thực hiện tại 40 tỉnh, thành phố (chiếm tỉ lệ 63,5% tổng số các địa phương trên cả nước);
- Đấu thầu đại diện được thực hiện tại 10 địa phương (chiếm tỉ lệ 15,9% tổng
số địa phương trên cả nước);
- Đấu thầu theo hình thức đơn lẻ được thực hiện tại 13 địa phương (Chiếm tỷ
lệ 20,6% địa phương trên cả nước)
Trang 25Hình 1.4 Đấu thầu tập trung kết hợp với các hình thức đấu thầu khác
Cơ cấu thuốc trúng thầu trong giai đoạn này phản ánh năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thuốc trong nước còn hạn chế và cơ chế đấu thầu thuốc vẫn chưa khuyến khích được việc sản xuất trong nước
Mặc dù thuốc sản xuất trong nước ngày càng được chú trọng phát triển, công nghiệp dược Việt Nam đã đáp ứng được gần 50% nhu cầu thuốc trong nước [21] Tuy nhiên, trong giai đoạn này tỉ lệ thuốc sản xuất trong nước trúng thầu vào các cơ
sở y tế công lập tương đối thấp, đặc biệt ở các tuyến trên và bệnh viện chuyên khoa Theo kết quả đấu thầu thuốc năm 2011, tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam – Cuba Đồng Hới giá trúng thầu của thuốc Arginin 200mg là 650 đồng/viên, nhưng cùng loại thuốc này, giá trúng thầu vào bệnh viện trung ương Huế là 1.100 đồng/viên (chênh lệch 69,2%) Cũng thuốc Arginin 200mg được sản xuất bởi Công ty CPDP
Hà Tây nhưng với hai tên gọi khác nhau thì giá trúng thầu vào Bệnh viện C Đà Nẵng là 1.400 đồng/viên, giá trúng thầu vào Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương là 1.750 đồng/viên Với thuốc nhập khẩu, tình trạng tương tự xảy ra: Thuốc Levofloxacin 500mg/100ml (có cùng nhà sản xuất Glenmark Ấn Độ, cùng số đăng
0 20 40 60 80
B: Đấu thầu tập trung + Đấu thầu đại diện
C: Đấu thầu tập trung + Đấu thầu riêng lẻ
D; Đấu thầu tập trung + Đấu thầu riêng lẻ + Đấu thầu đại diện
Trang 26ký) nhưng giá trúng thầu Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam – Cuba Đồng Hới là 95.000 đồng/chai, còn giá trúng thầu ở Bệnh viện C Đà Nẵng là 120.000 đồng/chai) Năm 2012, tỉ lệ thuốc sản xuất tại Việt Nam trúng thầu vào các bệnh viện tuyến tỉnh chiếm khoảng 34%, tỉ lệ này giảm xuống còn 12% ở bệnh viện tuyến trung ương, và thấp hơn nữa ở bệnh viện chuyên khoa [30]
Sau một thời gian thực hiện, thông tư 10 đã dần cho thấy một số hạn chế, cần khắc phục [21], [26], [27]
- Giai đoạn này, nhiều đơn vị thực hiện đấu thầu theo tên thương mại hoặc tương đương điều trị Hình thức này về cơ bản giống như chỉ đích danh tên thương mại của thuốc mời thầu, điều này dẫn đến tính cục bộ tại một số địa phương, các nhà thầu có uy tín lâu năm, cung ứng thuốc nhiều năm trên địa bàn được ưu tiên lựa chọn đấu thầu theo tên thương mại Thậm chí, có những thuốc có chi phí hoa hồng cao mới được ưu tiên đưa vào đấu thầu, đây là một biểu hiện không khách quan và
dễ dẫn đến tình trạng lạm dụng “biệt dược” trong quá trình lựa chọn thuốc [8], [25]
- Các quy định hướng dẫn đấu thầu mua thuốc mới chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn cách thức tổ chức thực hiện; qui định một số nội dung trong quá trình tổ chức đấu thầu thuốc; chưa có mẫu HSMT thuốc, qui trình đánh giá cũng như chưa có một tiêu chí chung đánh giá lựa chọn thuốc phù hợp với kinh phí của đơn vị [31]
- Tại một số tỉnh việc đấu thầu chỉ là hình thức, các tỉnh này có cơ chế đặc biệt cho công ty dược địa phương, kết quả trúng thầu hàng năm đều do công ty này trúng thầu là chủ yếu, tình trạng này làm cho giá thuốc bị tăng cao, tăng chi phí sử dụng thuốc so với tổng chi phí chung
- Một số bệnh viện chưa tổ chức thực hiện việc đấu thầu mua thuốc;
- Một số bệnh viện gặp khó khăn trong việc thống nhất với cơ quan BHXH
về việc thanh toán tiền thuốc BHYT, đặc biệt là các thuốc điều trị ung thư và chống thải ghép ngoài danh mục được BHYT thanh toán;
- Tại một số bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, việc mua sắm thuốc chưa thực sự thông qua đấu thầu mà được thực hiện qua hình thức chỉ định hoặc “bảo hộ độc quyền” cho công ty dược địa phương thực hiện, làm cho giá thuốc bị tăng cao, dẫn đến việc mua thuốc gặp nhiều khó khăn;
Trang 27- Việc phê duyệt KHĐT và kết quả LCNT còn chậm làm ảnh hưởng đến việc cung ứng thuốc và không đảm bảo đủ thuốc cho người bệnh;
- Thiếu một số thuốc chuyên khoa, thuốc dùng cho bệnh đặc trị, các bệnh hiếm gặp
Trước tình hình đó, Bộ Y tế đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch – Đầu tư và các Bộ ngành liên quan; UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để triển khai nhiều giải pháp quyết liệt nhằm cải cách công tác đấu thầu mua thuốc, kiểm soát chặt chẽ giá thuốc Do đó, trong thời gian gần đây, thị trường thuốc cơ bản được duy trì bình ổn, đáp ứng đủ thuốc phục vụ công tác điều trị, không xảy ra tăng giá đồng loạt, đột biến[4] Chỉ số giá tiêu dùng đối với nhóm hàng thuốc và dịch vụ y tế được duy trì ở mức thấp so với các nhóm hàng khác, xếp thứ 11 trong tổng số 11 nhóm hàng mặt hàng thiết yếu[16]
1.2.2.2 Giai đoạn 2 - Từ 01/06/2012 đến 31/12/2013
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế của giai đoạn trước Bộ Y tế - Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 01 hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các
cơ sở y tế nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp với tình hình thực tế và thông tư số
11 hướng dẫn lập Hồ sơ mời thầu mua thuốc
Điểm thay đổi quan trọng của Thông tư số 01 so với các văn bản trước đó là quy định rõ việc phân chia gói thầu đối với gói thầu mua thuốc: Gói thuốc theo tên generic và thuốc theo tên biệt dược
Theo đó, các cơ sở y tế không được đấu thầu thuốc theo tên thương mại hoặc tương đương điều trị, nếu muốn đấu thầu theo tên biệt dược thì danh mục thuốc biệt dược phải được Bộ Y tế công bố Điều này làm giảm thiểu tính cục bộ trong đấu thầu thuốc như đã phân tích ở trên, tăng tính cạnh tranh trong đấu thầu, qua đó làm giảm chi phí giá thuốc
Khảo sát sơ bộ kết quả đấu thầu cho thấy việc đấu thầu thuốc theo thông tư mới tính đến cuối tháng 04 năm 2013 đã có 10 tỉnh thành có kết quả đấu thầu thuốc theo thông tư 01 và có 07 tỉnh đang xây dựng kế hoạch Kết quả đánh giá sơ bộ cho thấy việc đấu thầu thuốc theo thông tư mới đã góp phần giảm 20% - 30% giá thuốc
Trang 28đến tháng 3 năm 2014, trên cả nước đã có 57 tỉnh, thành phố có kết quả đấu thầu mua thuốc thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư 01[31] Hiệu quả kinh tế đạt được trong đáu thầu thuốc theo Thông tư 01 đã tác động tích cực đến chi phí khám, chữa bệnh BHYT Tại các đơn vị thực hiện đấu thầu thuốc theo Thông tư 01, giá của nhiều loại thuốc đã giảm theo chiều hướng tích cực, hạn chế hiện tượng chênh lệch giá bất hợp lý giữa các CSYT[31] Qua phân tích kết quả trúng thầu của 07 SYT đã thực hiện đấu thầu theo quy định mới của Thông tư 01 và báo cáo về BYT – Cục QLD có thể nhận thấy rằng: khi so sánh trị giá tiền mua thuốc theo giá thuốc trúng thầu năm 2013 của 20 mặt hàng có tỷ trọng sử dụng cao trong đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế (chiếm khoảng 30% trị giá thuốc trúng thầu tại các bệnh viện) với việc mua sắm các mặt hàng này năm 2012, thì số tiền tiết kiệm được là 115,49 tỷ đồng tương đương với 28% tổng trị giá trúng thầu của mặt hàng này tại 07 SYT Điển hình là tại Hà Tĩnh, kết quả đấu thầu năm 2013 đã giảm giá tới 23% so với giá các thuốc cùng loại năm 2012 Theo báo cáo của BHXH VN, tại Vĩnh Phúc, sau khi tiến hành rà soát 20 mặt hàng có giá chênh lệch cao so với các địa phương khác và thương lượng lại với doanh nghiệp dược trúng thầu cung ứng thuốc, Quỹ bảo hiểm
y tế đã thu lại 1,5 tỷ đồng; tại tỉnh Quảng Ngãi đã giảm chi tiền thuốc được 28 tỷ đồng (24%); tỉnh Quảng Ninh giảm được 40 tỷ đồng (20%); tỉnh Hà Tĩnh giảm được 32 tỷ đồng (25%); đặc biệt tỉnh Hậu Giang giảm được tới 57 tỷ đồng (31%) Riêng với 26 bệnh viện trực thuộc BYT đa số giá thuốc trúng thầu đều giảm, tiết kiệm được tổng cộng 379 tỷ đồng[28]
Cũng tại thời điểm này Bộ Y tế ban hành Thông tư số 11 hướng dẫn việc lập
Hồ sơ mời thầu mua thuốc, với những tiêu chí xét thầu, chấm điểm kỹ thuật rõ ràng
và phù hợp với các nội dung trong Thông tư số 01 Hai Thông tư này tạo hành lang pháp lư, giúp cho các cơ sở y tế trong toàn quốc thực hiện công tác đấu thầu thuốc được minh bạch và thống nhất hơn
Hiệu quả kinh tế đạt được trong đấu thầu thuốc theo Thông tư 01 đã tác động tích cực đến chi phí khám, chữa bệnh BHYT Tại các đơn vị thực hiện đấu thầu thuốc theo Thông tư 01, giá của nhiều loại thuốc đã giảm theo chiều hướng tích cực hơn, hạn chế hiện tượng chệnh lệch giá bất hợp lý giữa các cơ sở y tế [31]
Trang 29Bên cạnh những hiệu quả đạt được, Thông tư 01 cũng đã bộc lộ những
sự bất cập và hạn chế:
- Việc phân chia nhóm đối với gói thầu thuốc generic chưa thật phù hợp, chất lượng thuốc chưa thật đồng đều trong nhóm Một số thuốc được sản xuất tại các nước như Ấn Độ, Cyprus, … được đánh giá ngang hàng trong cùng nhóm với các thuốc sản xuất tại các nước có uy tín lớn như Mỹ, Pháp, Đức, …
- Theo đánh giá của BHXH Việt Nam, qua so sánh cho thấy hàng loạt thuốc
có nguồn gốc Trung Quốc, Ấn Độ có giá giảm 20% - 166% so với giá trúng thầu năm 2012 Một thống kê của CQLD – BYT cho thấy kết quả trúng thầu thuốc theo thông tư 01 tại 09 tỉnh, thành phố có 2,211 loại thuốc nhập khẩu, trong đó Ấn Độ dẫn đầu danh sách này Khảo sát kết quả trúng thầu của các đơn vị trong năm 2013, CQLD – BYT cho biết, 120 mặt hàng thuốc Ấn Độ và 15 mặt hàng thuốc Trung Quốc cùng tên thương mại, dạng bào chế, nồng độ hàm lượng, nhà sản xuất (cùng là một loại thuốc) trúng thầu[33] Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là theo công bố của CQLD – BYT về khảo sát chất lượng thuốc: có nhiều doanh nghiệp Ấn Độ có thuốc
vi phạm chất lượng Từ ngày 01/01/2011 đến ngày 23/08/2013, CQLD – BYT đã phát hiện 37 công ty của 10 quốc gia có thuốc vi phạm chất lượng Trong đó, 25 công ty dược phẩm của Ấn Độ có sản phẩm vi phạm chất lượng
- Qua kết quả trúng thầu của một số địa phương và bệnh viện trung ương cho thấy thuốc có nguồn gốc Ấn Độ, Bangladesh, Trung Quốc, Pakistan, Cyprus, Rumani, Belarus, Ukraina chiếm số lượng khá nhiều Sự thắng thế của thuốc Ấn
Độ, Bangladesh, Trung Quốc có thể được lư giải rằng cách tính điểm của quy chế đấu thầu mới còn vài chỗ bất hợp lư, dẫn đến thuốc của những quốc gia này xếp chung nhóm với các quốc gia mạnh về dược như Mỹ, Pháp, Anh, Ý,… Trong hoàn cảnh đó, thuốc có giá thấp hơn sẽ được chọn Ngoài ra, do tiêu chuẩn GMP-WHO không quy định nguồn gốc nguyên liệu đầu vào nên cùng một loại thuốc, nếu nguyên liệu nhập từ Trung Quốc, Ấn Độ thì giá rẻ hơn nhiều so với nguyên liệu nhập từ châu Âu Do vậy, không thể đánh đồng chất lượng thuốc của châu Á sản xuất với châu Âu và cũng không thể nhìn vào hoạt chất, thành phần, dạng bào chế,
Trang 30- Việc quy định hạn mức trong trường hợp mua thuốc vượt kế hoạch đấu thầu trong năm theo phân hạng bệnh viện (600 triệu đối với bệnh viện hạng 3, 4; 1
tỷ đối với hạng 1, 2; 2 tỷ đối với hạng đặc biệt) cũng gây khó khăn cho các cơ sở y
tế, do trong năm luôn có sự thay đổi về cơ cấu, mô hình bệnh tật, triển khai kỹ thuật mới, … cũng như khả năng ước tính số lượng thuốc sử dụng trong năm còn nhiều hạn chế và không đồng đều giữa các cơ sở y tế
- Không còn ưu thế trong việc đấu thầu thuốc theo tên thương mại, nhiều công ty tìm mọi cách để đưa ra những ưu thế đặc biệt nhằm giảm thiểu cạnh tranh trong đấu thầu và tăng giá thuốc như: Đấu thầu những thuốc có hàm lượng không phổ biến, ít cạnh tranh nhưng chi phí lại cao hơn nhiều lần so với mặt bằng chung, một số ví dụ nêu tại Phụ lục 1
- Các tiêu chí đánh giá về kỹ thuật còn nghèo nàn, mức sàn điểm kỹ thuật tối thiểu 70 điểm trở lên là một rào cản dễ vượt qua đối với các thuốc chất lượng không cao Các thuốc sau khi vượt qua điểm sàn được đấu về giá, thuốc nào giá rẻ nhất sẽ trúng thầu Qua thống kê cho thấy trong số ngàn loại thuốc trúng thầu được SYT Cần Thơ công bố theo Quyết định số 164/QĐ-SYT thì có hơn 200 loại thuốc được sản xuất bởi các nhà máy của Ấn Độ Trong khi đó, mặc dù là địa bàn truyền thống
“sân nhà” nhưng một số công ty dược trong nước có số lượng trúng thầu lớn các năm trước thì nay có số lượng trúng thầu khá khiêm tốn như CTCP DP Hậu Giang chỉ trúng thầu khoảng gần 90 loại thuốc, CTDP Imexpharm chỉ có khoảng 52 loại thuốc cung ứng vào bệnh viện Cần Thơ[29] Thực trạng này đặt ra câu hỏi ngỏ về chất lượng thuốc trúng thầu, đề tài này đã được bàn luận sôi nổi trên rất nhiều diễn đàn và các cuộc hội thảo khoa học
Điều này vô hình chung có tác động xấu đến sự phát triển của ngành dược trong nước Không kích thích được các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh dược đầu tư phát triển chiều sâu [26] Không những ảnh hưởng đến tính bền vững của ngành công nghiệp dược Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến người bệnh và hiệu quả điều trị trong các cơ sở y tế
Ngoài ra một số nhà thầu, cơ sở tổ chức đấu thầu đã lợi dụng một số tồn tại, bất cập của Thông tư 01 để đưa vào nhiều loại thuốc có giá không hợp lý như: đưa
Trang 31thuốc có hàm lượng không phổ biến, thuốc phối hợp có giá cao hơn rất nhiều so với thuốc có hàm lượng phổ biến và thuốc đơn chất… Điều đáng nói, hầu hết các loại thuốc hàm lượng “lạ” trúng thầu với giá cao gấp từ 2 – 5 lần so với thuốc cùng loại
có hàm lượng thông thường[31] Có thể lấy ví dụ như thuốc Colocol extra do CTDP Sao Kim – Việt Nam sản xuất có hàm lượng Paracetamol 561,5mg (hàm lượng thông thường của viên nén là 325mg và 500mg) , thuốc Dopropy hoạt chất (Piracetam) do Công ty Đông Nam – Việt Nam sản xuất có hàm lượng 1,2g (trong khi Dược thư Quốc gia chỉ ghi nhận hoạt chất này có hàm lượng 400mg và 800mg)[34] Chỉ riêng nhóm thuốc kháng sinh đã có hơn 40 loại có hàm lượng “lạ” đang lưu hành tại Việt Nam Qua thống kê sơ bộ của BHXH Việt Nam, kết quả trúng thầu thuốc vào các CSYT của 09 tỉnh, thành vừa qua đã có hơn 20 loại thuốc
có hàm lượng bất bình thường, tập trung chủ yếu ở các nhóm thuốc kháng sinh và giảm đau Tuy nhiên, hầu hết các loại thuốc có hàm lượng “lạ” này là của 2 nhà sản xuất có tỷ lệ trúng thầu khá cao ở các tỉnh, thành phố
1.2.2.3 Giai đoạn 3 - Từ 01/01/2014 đến nay
Với những tồn tại nêu trên, sự ra đời của Thông tư số 36 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01 là một tất yếu Bộ Y tế đồng thời cũng ban hành Thông tư số 37 thay thế cho Thông tư số 11 nhằm thống nhất thực hiện các nội dung đã được điều chỉnh [5], [6], [8], [10]
Một số điểm thay đổi quan trọng được nêu tại Bảng 1.7 dưới đây:
Bảng 1.4 Một số điểm thay đổi của Thông tư 36 so với Thông tư 01
- Nhóm 1: Nhóm thuốc sản xuất tại các nước tham gia EMA, hoặc
Phân chia thành 5 nhóm, trong
đó nhóm 01 ở Thông tư 01 được tách thành:
- Nhóm Thuốc sản xuất tại cơ
sở sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP hoặc PIC/s-GMP thuộc
Trang 32EU-ICH, hoặc PIC/S nước tham gia ICH;
- Nhóm Thuốc sản xuất tại cơ
sở sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP hoặc PIC/s-GMP nhưng không thuộc nước tham gia ICH
EU-2 Ưu tiên đối với
3 Sự tham gia của
- Tham gia 4/4 quy trình đấu thầu: Xây dựng Kế hoạch đấu thầu; Xây dựng HSMT; Đánh giá HSDT; Thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu
Không theo phân hạng bệnh viện (không quá 20%, không quá 02 tỷ)
Có thể nói Thông tư 36 sửa đổi Thông tư 01 đã được những hiệu quả tích cực:
- Việc phân nhóm đã phù hợp hơn, giúp cho sự cạnh tranh của các mặt hàng thuốc trong cùng một nhóm được công bằng hơn
- Tạo cơ hội cho thuốc sản xuất trong nước khi cho phép tham gia đấu thầu vào nhóm 1 các thuốc sản xuất tại Việt Nam nhưng được các nước thuộc ICH cấp phép lưu hành (tuy nhiên thực tế trong quá trình triển khai đấu thầu, phần lớn các đơn vị chưa ghi nhận có mặt hàng thuốc đạt tiêu chuẩn này)
- Kích thích các doanh nghiệp trong nước đầu tư công nghệ sản xuất, khuyến khích sản xuất nhượng quyền chuyển giao kỹ thuật với các nước tham gia ICH
Trang 33- Ưu tiên sử dụng thuốc đông dược đạt tiêu chuẩn GMP-WHO do Bộ Y tế Việt Nam cấp khi đưa tiêu chuẩn này thành một nhóm riêng biệt
Tuy nhiên, Thông tư số 36 vẫn chưa hạn chế được việc các nhà thầu đấu thầu với các thuốc hàm lượng không phổ biến với chi phí cao Trong thời gian gần đây, BHXH và Bộ Y tế đã có nhiều chỉ đạo liên quan đến vấn đề này Theo đó, Bộ Y tế chỉ đạo các cơ sở y tế không đưa vào kế hoạch đấu thầu những thuốc ít cạnh tranh với chi phí cao [7]
Trong giai đoạn này, Luật đấu thầu số 43 ra đời thay thế cho Luật đấu thầu
số 61, Nghị định 63 cũng được ban hành để sớm đưa Luật vào thực tế Lần đầu tiên, đấu thầu thuốc được ưu tiên dành một Mục trong Luật đấu thầu Hàng loạt các văn bản hướng dẫn đấu thầu thuốc được hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới, mở
ra một chương mới cho đấu thầu thuốc tiến tới đạt được mục tiêu “mua thuốc chất lượng, giá cả hợp lư”, đồng thời góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của ngành dược Việt Nam
Hiện nay đã ra đời Thông tư số 11/2016/TT-BYT của Bộ Y tế quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập là thông tư mới nhất quy định về đấu thầu thuốc Thông tư có bổ sung một số quy định phân biệt các cấp đấu thầu tập trung cấp quốc gia và đấu thầu cấp địa phương, quy định về danh mục đàm phán giá, có ràng buộc chặt chẽ về tỷ lệ dự trù kế hoạch đấu thầu và tỷ lệ sử dụng kết quả đấu thầu, mục đích để nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu và tiếp tục giảm hơn nữa chi phí BHYT
1.3 Một số nghiên cứu về hoạt động đấu thầu được công bố
Những năm gần đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về hoạt động đấu thầu, chứng tỏ lĩnh vực này ngày càng được chú ư và nghiên cứu nhiều hơn
* Các đề tài phân tích hoạt động đấu thầu đã mô tả, phân tích rất rõ cách thức
và quy trình đấu thầu tại thời điểm nghiên cứu, tuy nhiên chưa phân tích sâu hơn về những bất cập, khó khăn tại công tác đấu thầu trong việc thực hiện theo các quy định của các văn bản pháp quy, từ đó đưa ra các giải pháp giải quyết khó khăn, tăng hiệu quả đấu thầu, giảm bớt chi phí về thời gian thực hiện hoạt động đấu thầu
Trang 34* Nghiên cứu của Dương Thùy Mai [12] có đề cập đến việc tin học hóa để hỗ trợ hoạt động đấu thầu tại bệnh viện, tác giả đã chỉ ra được một số nguyên nhân dẫn đến cần phải xây dựng phần mềm hỗ trợ đấu thầu, đồng thời mô tả sơ lược về phần mềm hỗ trợ đấu thầu tại bệnh viện Hữu Nghị, đưa ra ư tưởng phần mềm quản lýđấu thầu trực tuyến
Nghiên cứu của Ngô Hoàng Điệp đã đề cập đến ứng dụng công nghệ thông tin trong việc làm HSDT của nhà thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, lưu trữ thông tin, in
ấn báo cáo được thuận lợi hơn giúp giảm thời gian và nhân lực hơn
Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT mới ở bước đầu, hệ quản trị cơ sở dữ liệu Microsoft SQL 2000 đã lạc hậu Các bước tin học hóa trong quy trình đấu thầu vẫn còn phân tích sơ sài, chưa có số liệu cụ thể Nghiên cứu cũng chưa phân tích sâu về hiệu quả việc ứng dụng CNTT và định hướng ứng dụng CNTT trong thời gian tiếp theo
1.4 Tình hình đấu thầu thuốc tại Nghệ An trong những năm gần đây :
- Trước năm 2005, do chưa có văn bản hướng dẫn đấu thầu thuốc cụ thể nên đấu thầu thuốc tại tỉnh Nghệ An chưa được thực hiện, việc mua sắm thuốc do đơn vị
tự mua
- Từ năm 2005, thực hiện theo Chỉ thị số 05/CT-BYT ngày 16/4/2004 của Bộ
Y tế v/v chấn chỉnh công tác cung ứng và sử dụng thuốc trong bệnh viện, Năm
2005, tổ chức chào hàng cạnh tranh thí điểm tại 06 bệnh viện công lập (nhóm thuốc kháng sinh và dịch truyền) và năm 2006 tổ chức đấu thầu tập trung tại Sở Y tế (đấu thầu toàn bộ thuốc, hóa chất và vật tư tiêu hao)
- Từ năm 2007-2008, thực hiện theo hướng dẫn của TTLT số 10/2007/TTLT/BYT-BTC ngày 10/8/2007, đấu thầu mua thuốc được tổ chức thực hiện theo 03 vùng (Vùng đồng bằng do bệnh viện HNĐK tỉnh làm chủ đầu tư, Vùng đường 7 do BVĐK Con Cuông làm chủ đầu tư, Vùng đường 48 do BVĐK Nghĩa Đàn làm chủ đầu tư)
- Từ năm 2009 đến năm 2012, đấu thầu thuốc được tổ chức tập trung tại Sở Y
tế theo quy định của UBND tỉnh (tại Công văn số 5295/UBND-KT ngày 20/8/2008), riêng đấu thầu thuốc chuyên khoa Nội tiết giao bệnh viện Nội Tiết tỉnh
Trang 35đấu thầu, thuốc Đông y giao bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An đấu thầu Công tác đấu thầu dần được hoàn thiện và hỗ trợ đắc lực bởi phần mềm đấu thầu, giúp đảm bảo tiến độ và sớm có kết quả chính xác, khách quan, các tình huống đấu thầu thuốc được xử lư kịp thời theo đúng qui định tại các văn bản hiện hành
- Từ năm 2011 đến nay, đấu thầu thuốc được tổ chức tập trung tại Sở Y tế gồm tất cả các mặt hàng bao gồm cả thuốc chuyên khoa nội tiết, thuốc đông y và dược liệu Sau gần 10 năm tổ chức đấu thầu tập trung, Sở Y tế Nghệ An đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong công tác cung ứng thuốc cho các cơ sở y tế cũng như đảm bảo việc quản lýthuốc trên địa bàn, tạo sự thống nhất về giá thuốc trên toàn tỉnh Việc đấu thầu tập trung tại SYT Nghệ An đã thành công trong việc thống nhất giá thuốc ở tất cả các tuyến và ổn định trong vòng 12 tháng, thời gian, tiết kiệm được nhân lực và chi phí liên quan đến đấu thầu, tạo điều kiện cho các đơn
vị tập trung vào công tác cung ứng thuốc và dược lâm sàng, tổ chức đấu thầu ngày càng chuyên nghiệp, lựa chọn được những nhà thầu uy tín, mặt hàng chất lượng với chi phí phù hợp
Tuy nhiên, việc đấu thầu tập trung tại SYT Nghệ An cũng gặp phải những khó khăn, bất cập:
- Việc quy định cung ứng thuốc theo kết quả trúng thầu chỉ được mua vượt 130%, gây khó khăn trong vấn đề cung ứng thuốc khi cơ cấu bệnh tật thay đổi và chính sách bảo hiểm thay đổi
- Một số nhà thầu vi phạm hợp đồng cung ứng, chậm trễ giao hàng
- Hệ thống quản lýgiá thuốc, dữ liệu chuẩn quốc gia chưa hoàn thiện gây khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện
- Khó khăn trong việc đơn giản hóa thủ tục hành chính và lưu tài liệu sau mỗi đợt đấu thầu
Trang 36CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng
Các hoạt động đấu thầu và kết quả đấu thầu năm 2013, năm 2014 của Sở Y tế Nghệ An
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Sở Y tế Nghệ An là đơn vị đấu thầu tập trung cho các đơn vị KCB trên địa bàn
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 07 năm 2016 đến tháng 11 năm 2016
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp mô tả cắt ngang hồi cứu: Mô tả các hoạt động đấu thầu thông qua hồi cứu tài liệu, báo cáo, dữ liệu lưu trữ, các văn bản quy phạm pháp luật
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Tiến hành hồi cứu: Thu thập các tài liệu, báo cáo, các thông tin lưu trữ trong hoạt động đấu thầu tại Sở Y tế NA và các báo cáo cuối năm của các bệnh viện trên địa bàn + Các văn bản, báo cáo liên quan đến hoạt động đấu thầu thuốc tại Sở Y tế Nghệ An năm 2013, 2014 Các văn bản quy phạm pháp luật
+ Danh mục thuốc trúng thầu năm 2013, năm 2014: từ danh mục trúng thầu tiến hành thu thập dữ liệu theo mẫu tại Phụ lục 2
Trường hợp Danh mục thuốc không thể hiện nước sản xuất trong danh mục trúng thầu thì phải kiểm tra lại từ nhà thầu trúng thầu
Năm 2013 đến 2014 tại gói thầu cung ứng thuốc theo tên Generic đấu thầu cả các mặt hàng sinh phẩm chẩn đoán Invitro (nhóm 6) do đó trong quá trình thu thập số liệu sẽ loại trừ nhóm sinh phẩm này
Trang 372.2.3 Biến số nghiên cứu
Bảng 2.1 Các biến nghiên cứu
TT Tên biến Khái niệm/ĐN Giá trị PP thu thập Vấn ðề tổ chức, thực hiện
1 Thời gian xây
dựng danh mục
Số ngày xây dựng danh mục đấu thầu
Biến dạng số (biến rời rạc)
Dữ liệu sẵn có: Báo cáo HSDT gửi tổ thẩm định
3 Thuốc trúng thầu Phân loại theo số
lượng và giá trị thuốc trúng thầu
Phân loại (trúng/
không trúng
Dữ liệu sẵn có: DM thuốc mời thầu, DM thuốc trúng thầu
2 Nhà thầu trúng
thầu
Phân loại theo số lượng nhà thầu trúng thầu
Phân loại (trúng/
không trúng
Dữ liệu sẵn có: Biên bản
mở thầu, Quyết định phê duyệt KQ trúng thầu
Phân chia nhóm thuốc ðấu thầu
1 Nhóm thuốc ðấu
thầu
Phân loại theo nhóm thuốc ðấu thầu
Biến phân loại (Nhóm 1, 2, 3, 4, 5)
nước không tham gia ICH)
Biến dạng số;
Biến phân loại (thuộc các nước tham gia ICH*/
nước không tham gia ICH)
Dữ liệu sẵn có: DM thuốc trúng thầu
6 Thuốc trúng thầu Phân loại theo giá Phân loại (Anh, Dữ liệu sẵn
Trang 38theo xuất xứ trị trúng thầu Pháp, Ấn độ,
Hàn Quốc…)
có: DM thuốc trúng thầu
7 Phân loại thuốc
8 Phân loại thuốc
trúng thầu Gói
Đông Y
Phân loại theo giá trị thuốc Đông Y trúng thầu
Phân loại (Nhóm
1, Nhóm 2)
Dữ liệu sẵn có: DM thuốc trúng thầu
Cõ cấu thuốc nội, thuốc ngoại
9 Phân loại Thuốc
Phân loại (trúng/
không trúng)
Dữ liệu sẵn có: DM thuốc trúng thầu
Giá thuốc trúng thầu
Biến dạng số (biến rời rạc)
Dữ liệu sẵn có: Kết quả ðấu thầu năm
2013, 2014 Thuốc có hàm lượng không phổ biến với chi phí cao
12 Thuốc có hàm
lượng không phổ
biến trúng thầu
Tổng giá trị từng thuốc có hàm lượng không phổ biến trúng thầu
Biến dạng số (giá trúng thầu)
Dữ liệu sẵn có: Kết quả ðấu thầu năm
so với tổng giá trị thuốc trúng thầu
Biến Phân loại (phổ biến, không phổ biến)
Dữ liệu sẵn có: Kết quả ðấu thầu năm
2013, 2014
Trang 39Ghi chú: Danh sách các nước tham gia ICH thuộc Phụ lục 3 Danh mục thuốc
có hàm lượng không phổ biến theo Công văn khuyến cáo BHXH tại Phụ lục 1
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu và phân tích số liệu
2.2.4.1 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập, được đưa vào phầm mềm Microsoft Excel để xử lý, phân tích như sau:
- Sắp xếp số liệu theo mục đích phân tích
- Tính số lượng, giá trị và tỷ lệ của các biến số
- Sử dụng các thuật tính toán: tính tổng (SUM), tính chênh lệch, tính tỷ lệ phần trăm, lọc, sắp xếp, các hàm count, countif…để có kết quả phân tích
- So sánh, vẽ đồ thị, biểu đồ, nhận xét: phân tích để tìm ra những vấn đề còn tồn đọng, hạn chế từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục
2.2.4.2 Phương pháp phân tích số liệu
Sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích số liệu:
Bảng 2.2 Các phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp
thống kê
- Sử dụng ðể hệ thống hóa các biến số nghiên cứu;
- Hệ thống hóa các thuốc ðấu thầu, thuốc trúng thầu;
- Hệ thống hóa số lượng nhà thầu trúng thầu … Phương pháp so
Trang 40CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Điểm khác biệt quan trọng trong hoạt động đấu thầu thuốc trong 2 năm 2013,
2014 tại Sở Y tế Nghệ An là năm 2013 thực hiện đấu thầu thuốc theo hướng dẫn tại Thông tư số 01, năm 2014 thực hiện đấu thầu thuốc theo hướng dẫn tại Thông tư số
36 sửa đổi Thông tư số 01
Việc so sánh kết quả đấu thầu thuốc giữa hai năm 2013, 2014 được trình bày theo 5 nhóm vấn đề lớn, cụ thể được trình bày như sau:
3.1 Vấn đề tổ chức, thực hiện
3.1.1 Xây dựng danh mục kế hoạch đấu thầu thuốc
Một số thông tin về kế hoạch ðấu thầu thuốc ðược trình bày trong Bảng dưới ðây:
Bảng 3.1. Kế hoạch đấu thầu thuốc
Ðơn vị tính giá trị: Triệu ðồng
1 Thời gian xây dựng Danh mục 60 ngày 18 ngày
2 Danh mục thuốc ðấu thầu
Đặc biệt, năm 2014 thời gian xây dựng kế hoạch ðấu thầu thuốc được rút ngắn đáng kể từ 60 ngày ở năm 2013 xuống 18 ngày ở năm 2014
3.1.2 Tỷ lệ thuốc trúng thầu
Bảng 3.2 Tỷ lệ thuốc trúng thầu
Ðơn vị tính giá trị: Triệu ðồng
Danh mục mời thầu 1,973 1,265,092 2,162 1,643,537 Danh mục trúng thầu 1,485 868,736 1,934 1,269,247