Tuy nhiên, trước tác động của cơ chế thị trường, việc sử dụng thuốc không hiệu quả và bất hợp lý trong bệnh viện đã và đang là điều đáng lo ngại: lạm dụng biệt dược trong điều trị, giá t
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THAO
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU
NGHỆ AN NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12
Thời gian thực hiện: 18/7/2016-18/11/2016
HÀ NỘI – 2016
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Dược
Hà Nội đã dạy dỗ và tạo điều kiện cho tôi được học tập và rèn luyện trong suốt những năm học vừa qua.Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô Bộ môn Quản lý kinh tế dược đã hướng dẫn, tạo điều kiện cho tôi thực hiện
và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Bệnh viện Ung bướu Nghệ An và các anh chị tại Khoa Dược bệnh viện đã tạo điều kiện cho tôi
về mọi mặt để tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Lời cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp và người thân đã luôn sát cánh động viên, giúp đỡ và đóng góp ý kiến cho tôi hoàn thành luận văn này
Học viên
Nguyễn Thị Thao
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN VÀ SỬ DỤNG THUỐC 3
1.2 QUY ĐỊNH KÊ ĐƠN THUỐC NGOẠI TRÚ 5
1.2.1 Về kê đơn tốt 5
1.2.2 Một số quy định về đơn thuốc ngoại trú 7
1.2.3.Các tiêu chí đánh giá kê đơn thuốc 10
1.3 BỆNH UNG THƯ 12
1.3.1 Khái niệm 12
1.3.2 Dịch tễ học ung thư 12
1.3.3 Các phương pháp điều trị ung thư 14
1.4 BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN 14
1.4.1 Lịch sử hình thành và phát triển 14
1.4.2 Tình hình khám chữa bệnh tại Bệnh viện 14
1.4.3 Chức năng, nhiệm vụ 15
1.4.4 Khoa Dược bệnh viện Ung bướu Nghệ An 16
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 19
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.2.1 Biến số nghiên cứu 19
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu 25
2.2.3.Phương pháp thu thập số liệu 25
2.2.4 Mẫu nghiên cứu 27
2.2.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 28
Trang 5Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 THỰC TRẠNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH KÊ ĐƠN THUỐC 34
3.1.1 Ghi thông tin bệnh nhân
3.1.2 Quy định về ghi tên thuốc 34
3.1.3 Ghi hướng dẫn sử dụng thuốc 36
3.1.4 Thực hiện quy định kê đơn điều trị bệnh mạn tính 37
3.1.5 Thực hiện quy chế khi kê thuốc gây nghiện 38
3.2 CHỈ ĐỊNH THUỐC TRONG KÊ ĐƠN THEO MỘT SỐ TIÊU CHÍ VỀ KÊ ĐƠN THUỐC 40
3.2.1 Phối hợp thuốc kê trong kê đơn 40
3.2.2 Phân loại theo nhóm thuốc đã được kê đơn 41
3.2.3 Phân tích về chi phí kê đơn thuốc 43
Chương 4 BÀN LUẬN 47
4.1 VỀ VIỆC TUÂN THỦ QUY ĐỊNH KÊ ĐƠN 47
4.2 VỀ CÁC CHỈ SỐ KÊ ĐƠN THUỐC NGOẠI TRÚ BHYT TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN 49
4.2.1 Số thuốc trong đơn 49
4.2.2 Đơn thuốc kê kháng sinh, thuốc gây nghiện, thuốc tiêm và thuốc điều trị ung thư 50
4.2.3 Chi phí trung bình trong một đơn 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Số bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Ung bướu Nghệ An 15
Bảng 1.2 Cơ cấu bệnh tật điều trị ngoại trú chủ yếu năm 2015 15
Bảng 1.3 Cơ cấu nhân lực khoa Dược BV Ung bướu Nghệ An 16
Bảng 2.1 Biến số của đơn thuốc ngoại trú 19
Bảng 3.1 Quy định về ghi thông tin bệnh nhân 34
Bảng 3.2.Quy định về ghi tên thuốc 35
Bảng 3.3.Tỷ lệ về số thuốc ghi rõ hướng dẫn sử dụng 36
Bảng 3.4 Quy định kê đơn điều trị bệnh mạn tính 37
Bảng 3.5 Thời gian trung bình cho một đợt điều trị có kê thuốc gây nghiện 37
Bảng 3.6 Thời gian trung bình cho đợt điều trị có kê thuốc điều trị ung thư 38
Bảng 3.7 Thời gian trung bình cho đợt điều trị các thuốc khác 38
Bảng 3.8: Tỷ lệ đơn kê có kê thuốc Gây nghiện 38
Bảng 3.9 Tỷ lệ đơn gây nghiện thực hiện theo quy chế 39
Bảng 3.10 Khảo sát số thuốc trung bình của một đơn thuốc 40
Bảng 3.11 Cơ cấu số thuốc trong một đơn 40
Bảng 3.12 Tỷ lệ phần trăm đơn thuốc theo tác dụng dược lý 41
Bảng 3.13.Tỷ lệ phần trăm loại thuốc ung thư có trong đơn 42
Bảng 3.14 Cơ cấu thuốc điều trị ung thư theo nguồn gốc 42
Bảng 3.15 Tỷ lệ phần trăm đơn thuốc theo dạng bào chế 43
Bảng 3.16 Tỷ lệ phần trăm các loại thuốc tiêm có trong đơn 43
Bảng 3.17 Chi phí trung bình trong một đơn 43
Bảng 3.18 Chi phí trung bình của đơn thuốc gây nghiện 44
Bảng 3.19 Chi phí trung bình của đơn thuốc điều trị ung thư 44
Bảng 3.20 Cơ cấu chi phí kháng sinh,thuốc gây nghiện, thuốc điều trị ung thư, thuốc điều hòa miễn dịch và thuốc khác 45
Bảng 3.21 Cơ cấu chi phí kê đơn thuốc điều trị ung thư theo nhóm bệnh 45
Bảng 3.22 Cơ cấu chi phí kê đơn thuốc điều trị ung thư sản xuất trong nước, thuốc nhập ngoại 46
Bảng 3.23 Chi phí các loại thuốc trong nhóm thuốc tiêm 46
Trang 8DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức khoa dược bệnh viện 17 Hình 2.1 Thiết kế nghiên cứu 25 Hình 3.1 Biểu đồ cơ cấu số thuốc trong một đơn 41
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới coi việc chăm sóc sức khỏe toàn dân là chiến lược y tế hàng đầu Việc đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý là một trong các yếu
tố góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe con người Sử dụng thuốc không hợp lý không chỉ làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh, tạo gánh nặng cho nền kinh tế xã hội, mà còn làm giảm chất lượng điều trị và tăng nguy cơ xảy ra phản ứng có hại cho bệnh nhân Sử dụng thuốc là một trong bốn nhiệm vụ của chu trình cung ứng thuốc trong bệnh viện, mang tính chất quyết định đến hiệu quả điều trị bệnh
Tuy nhiên, trước tác động của cơ chế thị trường, việc sử dụng thuốc không hiệu quả và bất hợp lý trong bệnh viện đã và đang là điều đáng lo ngại: lạm dụng biệt dược trong điều trị, giá thuốc không kiểm soát được, lạm dụng thuốc, kháng thuốc, sử dụng thuốc bất hợp lý, việc kê đơn không phải là thuốc thiết yếu mà là thuốc có tính thương mại cao… Đó là một trong những nguyên nhân chính làm tăng chi phí cho người bệnh, giảm chất lượng chăm sóc sức khỏe và uy tín của các bệnh viện
Bệnh viện Ung bướu Nghệ An là bệnh viện chuyên khoa ung bướu Việc kê đơn thuốc điều trị ngoại trú của bệnh viện ngoài những nét chung còn
có những nét đặc thù của một bệnh viện chuyên khoa ung bướu Với sự phát triển không ngừng của bệnh viện, sự nâng cao về trình độ chuyên môn và nhận thức của cán bộ y tế cũng như nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân, bệnh viện không những phải cung ứng đủ thuốc mà còn phải đảm bảo sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn, hợp lý
Trang 10Vì vậy, tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Phân tích thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú bảo hiểm y tế tại bệnh viện Ung bướu Nghệ
An năm 2015” 2với mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng tuân thủ quy định kê đơn thuốc ngoại trú bảo hiểm y
tế tại bệnh viện Ung bướu Nghệ An năm 2015
2 Phân tích một số chỉ số kê đơn thuốc ngoại trú bảo hiểm y tế tại bệnh
viện Ung bướu Nghệ An năm 2015
Kết quả nghiên cứu của đề tài phản ánh được thực trạng hoạt động kê đơn thuốc ngoại trú bảo hiểm y tế của bệnh viện Ung bướu Nghệ An, nhằm đưa ra những đề xuất góp phần tăng cường sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn và hợp lý tại bệnh viện
Trang 11Chương 1: TỔNG QUAN
TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN VÀ SỬ DỤNG THUỐC
Hiện nay, vấn đề sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả , kinh tế đang trở thành vấn đề được toàn thế giới quan tâm, nhất là trong khi mô hình bệnh tật liên tục biến đổi, nhiều dịch bệnh mới xuất hiện cũng như sự ra đời của càng nhiều hoạt chất, chế phẩm thuốc Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy thực trạng kê đơn bất hợp lý, lạm dụng thuốc còn rất phổ biến như kê quá nhiều thuốc cho một bệnh nhân, lạm dụng thuốc tiêm trong khi dạng uống thông thường đã đạt được hiệu quả điều trị, lạm dụng sử dụng kháng sinh, sai sót trong liều dùng, đường dùng, kê đơn không theo hướng dẫn điều trị, bệnh nhân tự điều trị hoặc không tuân thủ điều trị
Kết quả nghiên cứu của 35 nước trên thế giới giai đoạn 1988-2002 có
áp dụng các chỉ số sử dụng thuốc của WHO đã phản ánh thực trạng kê đơn bất hợp lý Tình trạng lạm dụng và sử dụng bừa bãi kháng sinh thể hiện qua tỷ
lệ 45% bệnh nhân được kê thuốc kháng sinh Ở Pakistan (1998), Đông Bengal, Ấn Độ (1999) con số này lên tới 70,75%, người lớn và trẻ em ở Reitrea nhận thuốc kháng sinh khi có chẩn đoán nhiễm trùng đường hô hấp trên do virus Tại Indonesia chỉ có 46% bệnh nhân dưới 5 tuổi mắc bệnh tiêu chảy được chỉ định ORS trong khi 73% số bệnh nhân này được chỉ định kháng sinh đường uống Với bệnh nhân trên 5 tuổi, 36% chỉ định ORS, 91% được kê kháng sinh đường uống và 25% được kê kháng sinh đường tiêm [17]
Ngoài ra, kết quả còn cho thấy 90% thuốc tiêm được kê là không thực sự cần thiết Sử dụng quá nhiều thuốc tiêm đặc biệt phổ biến ở các nước thu nhập thấp Ở Zuine trẻ lên 2 tuổi nhận được trung bình 24 mũi tiêm và tại Moldova 39-57% dân số nhận được một mũi tiêm mỗi năm Nó thực sự là một hiểm họa khi mà điều kiện để thực hiện tiêm an toàn chưa được đảm bảo[17]
Trang 12Khoảng 60% các thuốc được kê bằng tên generic, thậm chí tại Pakistan,
Ấn Độ và Namibia dưới 50% số thuốc được kê bằng tên generic Trung bình 60% các thuốc được kê theo danh mục thuốc thiết yếu Đặc biệt ở Nambinia năm 2001 tỷ lệ này chỉ đạt 12% [17]
Những năm gần đây rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm liên tục kiểm tra tình hình kê đơn Nghiên cứu tại bệnh viện chuyên khoa trực thuộc Đại học Y Hawassa, Nam Ethiopia hồi cứu 1.290 đơn thuốc trong vòng
2 năm từ tháng 12 năm 2007 đến tháng 12 năm 2009 tìm được kết quả 98,7%
và 96,6% số thuốc được kê theo tên generic, danh mục thuốc thiết yếu Số thuốc trung bình trong một đơn là 1,9 với khoảng giới hạn số lượng thuốc trong khoảng 1 đến 4 thuốc Tuy nhiên, tỷ lệ đơn kê kháng sinh và thuốc tiêm tương ứng 58,1%, 38,1% vẫn ở mức quá cao
Thực trạng kê đơn và sử dụng thuốc ở Việt Nam cũng không nằm ngoài khuynh hướng chung của thế giới, đó là tình trạng lạm dụng kháng sinh, thuốc tiêm, vitamin, kê quá nhiều thuốc trong một đơn… Những bất cập này đã và đang tồn tại trong hệ thống y tế và cần có các biện pháp khắc phục
cụ thể, kịp thời nhằm hướng tới sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và kinh tế
Năm 2010, tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc đã sử dụng của nước ta chiếm 37,7%[5].Thống kê các báo cáo về tình hình sử dụng thuốc tại bệnh viện của Bộ y tế cho thấy kháng sinh chiếm khoảng 36% tổng chi phí mua thuốc, hóa chất [13]
Kê đơn vitamin, thuốc tiêm khi không cần thiết gây lãng phí cũng cần phải nói tới Kê vitamin có thể đã thành thói quen của bác sỹ, hoặc đôi khi bệnh nhân đòi hỏi các bác sỹ kê đơn trong khi thực chất bệnh nhân không cần dùng tới thuốc Tại bệnh viện Nhi Thanh Hóa, số đơn kê vitamin chiếm tỷ lệ 42,8% [11]
Trang 13Mặc dù Quy chế kê đơn của Bộ Y tế đã quy định việc ghi tên thuốc:
kê tên hoạt chất hoặc ghi tên biệt dược kèm tên hoạt chất trong ngoặc đơn; ghi địa chỉ chính xác đến số nhà, đường phố hoặc thôn, xã……[3], nhưng nhiều đơn thuốc được ghi không đúng mẫu quy định của Bộ Y tế Theo nghiên cứu tại bệnh viện E, hoạt động kê đơn tại bệnh viện E năm 2009 còn nhiều sai sót 88,67% số đơn không ghi đầy đủ tên, tuổi, chẩn đoán và ngày
kê đơn, 22% đơn ghi không rõ liều dùng, cách dùng, 40% đơn không ghi thời gian dùng, 85,33% số đơn không ghi đầy đủ họ tên, chữ ký của bác sỹ và chỉ có 30,86% số thuốc được kê tên generic Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Hữu Nghị cũng phản ánh tỷ lệ sai sót trong kê đơn thuốc ngoại trú đối với các thuốc thuộc diện quản lý đặc biệt là 80%, 53,3% ghi sai sót về số lượng thuốc, sai sót
kê đơn quá ngày tối đa cho phép chiếm 57,7% [10] Ghi đơn thuốc theo tên biệt dược, không ghi theo tên gốc, kê các thuốc đắt tiền, hoặc kê các thuốc được tiếp thị còn tồn tại trong một số bộ phận thầy thuốc Năm 2012, chỉ có 24% số thuốc trong đơn kê tại bệnh viện Nhi Thanh Hóa được ghi bằng tên gốc [11] Nghiên cứu tại bệnh xá Quân Dân y kết hợp Trường sỹ quan lục quân II năm 2013 thì tỷ
lệ này là 39,9%[16] Theo nghiên cứu ở bệnh viện đa khoa Vĩnh Phúc vào năm
2011 chỉ 8,5% số thuốc được ghi bằng tên gốc, còn lại hầu hết thuốc được kê bằng tên biệt dược [9]
Theo nghiên cứu tại Bệnh viện Nhân dân 115 hoạt động kê đơn thuốc vẫn còn nhiều sai sót trước can thiệp như sai sót về tên thuốc chiếm 42%, sai sót về liều dùng 21%, đường dùng 26%, sai sót nồng độ, hàm lượng 50%, khoảng cách dùng thuốc 55%, thời gian sử dụng thuốc 30% [15]
QUY ĐỊNH KÊ ĐƠN THUỐC NGOẠI TRÚ
Về kê đơn tốt
Kê đơn tốt là sự chỉ định thuốc cho điều trị dựa vào quá trình suy luận logic trên những thông tin chính xác và khách quan Kê đơn tốt phải đảm bảo
Trang 14sự cân bằng giữa các yếu tố hợp lý, an toàn và kinh tế, tôn trọng sự lựa chọn của bệnh nhân
Đơn thuốc tốt
Một đơn thuốc tốt yêu cầu bệnh nhân phải được kê loại thuốc thích hợp
ở đúng liều lượng trong khoảng thời gian hợp lý và với chi phí thấp nhất cho
họ và cộng đồng[20]
Một đơn thuốc tốt phải đáp ứng đầy đủ các thông tin, tiêu chuẩn yêu cầu cho một đơn thuốc tốt gồm có:
- Nội dung của một đơn thuốc
- Cách ghi nội dung của một đơn thuốc và cách bố trí các mục ghi trong đơn theo quy định của từng quốc gia
Những yêu cầu về kê đơn tốt
Theo hướng dẫn thực hành kê đơn thuốc tốt của WHO để thực hiện được quá trình kê đơn thuốc tốt người thầy thuốc cần phải tuân theo quá trình thực hiện kê đơn, điều trị hợp lý gồm 6 bước như sau:
Bước 1: Xác định vấn đề bệnh lý của bệnh nhân Quá trình này cần được thực hiện một cách thận trọng dựa trên sự quan sát kỹ lưỡng của bác sĩ,
mô tả bệnh của bản thân bệnh nhân, tiền sử bệnh, X quang, kết quả xét nghiệm và các nghiên cứu khác
Bước 2: Xác định mục tiêu điều trị Việc xác định mục tiêu điều trị giúp người thầy thuốc tránh được việc sử dụng nhiều thuốc không cần thiết, tập trung vào vấn đề
Bước 3: Xác định phương pháp điều trị đã được chứng minh hiệu quả an toàn, kinh tế và phù hợp với bệnh nhân nhất trong số các phương án điều trị khác nhau, kể cả phương án không dùng thuốc Thẩm định lại sự phù hợp của thuốc
đã lựa chọn cho bệnh nhân Sự phù hợp được đánh giá trên 3 khía cạnh:
+ Sự phù hợp giữa tác dụng và dạng dùng của thuốc với bệnh nhân
Trang 15+ Sự phù hợp của liều dùng hàng ngày
+ Sự phù hợp của quá trình điều trị
Đối với mỗi khía cạnh cần phải điều tra mục đích điều trị, hiệu quả (Chỉ định và sự liên quan đến liều dùng) và an toàn (Chống chỉ định, tương tác thuốc, nhóm thuốc có nguy cơ cao) có được đảm bảo
Bước 4: Bắt đầu điều trị Cần đưa ra những chỉ dẫn cho bệnh nhân Ví
dụ như viết một đơn thuốc rõ ràng cẩn thận, ngắn gọn nhưng dễ hiểu cho bệnh nhân
Bước 5: Cung cấp thông tin, hướng dẫn sử dụng và cảnh báo cho bệnh nhân Cần phải cung cấp cho bệnh nhân ít nhất những thông tin sau: Các tác dụng của thuốc; Các tác dụng phụ; Hướng dẫn sử dụng (cách dùng, thời gian
sử dụng, bảo quản…); cảnh báo (nên hay không nên dùng khi nào, liều tối đa, thời gian điều trị đầy đủ); hẹn gặp lần tới, xác minh mọi thông tin có rõ ràng đối với bệnh nhân
Bước 6: Giám sát điều trị Nếu như bệnh đươc chữa khỏi thì ngừng quá trình điều trị, hoặc nếu phương pháp điều trị này có hiệu quả nhưng bệnh vẫn chưa khỏi hẳn thì cần xem lại có tác dụng phụ nào nghiêm trọng hay không Nếu có thì cân nhắc lại liều dùng hay chọn thuốc khác Trường hợp bệnh không được chữa khỏi thì phải nghiên cứu lại tất cả các bước trên [18]
Một số quy định về đơn thuốc ngoại trú
.Điều kiện của người kê đơn
Theo điều 3 của Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú ban hành kèm theo quyết định số 04/2008/QĐ – BYT ngày 01/02/2008 qui định của người kê đơn như sau:
1 Các bác sỹ đang hành nghề tại cơ sở khám, chữa bệnh hợp pháp có bằng tốt nghiệp Đại học Y và được người đứng đầu cơ sở phân công khám, chữa bệnh
Trang 162 Đối với các tỉnh có vùng núi, vùng sâu, vùng cao, hải đảo xa xôi, vùng
khó khăn và những nơi chưa có bác sĩ: Sở Y tế có văn bản uỷ quyền cho Trưởng phòng Y tế huyện chỉ định y sĩ của Trạm Y tế thay thế cho phù hợp với tình hình địa phương[3]
Nội dung của một đơn thuốc
Trên thế giới không có một tiêu chuẩn thống nhất nào về kê đơn thuốc và mỗi quốc gia có qui định riêng phù hợp với điều kiện của đất nước mình Tuy nhiên, yêu cầu quan trọng nhất đó là đơn thuốc phải rõ ràng Đơn thuốc phải
có tính hợp lệ và chỉ định chính xác thuốc phải sử dụng Theo khuyến cáo của WHO thì một đơn thuốc đầy đủ bao gồm các nội dung sau[18]:
1 Tên, địa chỉ của người kê đơn
2 Ngày, tháng kê đơn
3 Tên gốc của thuốc, hàm lượng
4 Dạng thuốc, tổng lượng thuốc
5 Hướng dẫn sử dụng, cảnh báo
6 Tên, tuổi, địa chỉ của bệnh nhân
7 Chữ ký của người kê đơn
Quy định về ghi đơn thuốc
Theo điều 7, Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú được ban hành kèm theo quyết định số 04/2008/QĐ – BYT ngày 01/02/2008 quy định
về ghi đơn thuốc như sau:
1 Kê đơn thuốc vào mẫu đơn, mẫu sổ quy định kèm theo Quy chế này;
2 Ghi đủ các mục in trong đơn; chữ viết rõ ràng, dễ đọc, chính xác;
3 Địa chỉ người bệnh phải ghi chính xác số nhà, đường phố hoặc thôn, xã;
4 Với trẻ dưới 72 tháng tuổi: ghi số tháng tuổi và ghi tên bố hoặc mẹ;
Trang 175 Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế (INN, generic name) hoặc nếu ghi tên biệt dược phải ghi tên chung quốc tế trong ngoặc đơn (trừ trường hợp thuốc có nhiều hoạt chất);
6 Ghi tên thuốc, hàm lượng, số lượng, liều dùng, cách dùng của mỗi thuốc;
7 Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa;
8 Số lượng thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc viết thêm số 0 phía trước nếu số lượng chỉ có một chữ số;
9 Nếu có sửa chữa đơn phải ký, ghi rõ họ tên, ngày bên cạnh;
10 Gạch chéo phần đơn còn giấy trắng Ký, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên người kê đơn[3]
Kê đơn thuốc opioids giảm đau cho người bệnh ung thư
- Hàng năm cơ sở khám, chữa bệnh đăng ký chữ ký của người kê đơn thuốc gây nghiện với cơ sở bán thuốc gây nghiện
- Kê đơn thuốc vào mẫu Đơn thuốc “N” để cơ sở cấp, bán thuốc lưu đơn, đồng thời kê đơn vào sổ điều trị bệnh mạn tính hoặc sổ khám bệnh để theo dõi điều trị và hướng dẫn người bệnh sử dụng thuốc
- Cơ sở Y tế chẩn đoán xác định người bệnh ung thư và người bệnh AIDS cấp sổ điều trị bệnh mạn tính (có chỉ định opioids điều trị giảm đau) cho người bệnh để làm cơ sở cho các đơn vị tuyến dưới chỉ định thuốc giảm đau opioids cho người bệnh
- Liều thuốc giảm đau opioids theo nhu cầu giảm đau của người bệnh Thời gian mỗi lần chỉ định thuốc không vượt quá một (01) tháng, nhưng cùng lúc phải ghi 3 đơn cho 3 đợt điều trị, mỗi đợt điều trị kê đơn không vượt quá mười (10) ngày (ghi rõ ngày bắt đầu và kết thúc của đợt điều trị) Người
kê đơn phải hướng dẫn cho người nhà người bệnh: Đơn thuốc điều trị cho người bệnh đợt 2, đợt 3 chỉ được bán, cấp khi kèm theo giấy xác nhận người bệnh còn sống của trạm Y tế xã, phường, thị trấn; Thời điểm mua, lĩnh thuốc
Trang 18trước 01 ngày của đợt điều trị đó (nếu vào ngày nghỉ thì mua vào trước ngày nghỉ)
- Người bệnh ung thư và AIDS giai đoạn cuối nằm tại nhà, người được cấp có thẩm quyền phân công khám chữa bệnh tại trạm Y tế xã, phường, thị trấn tới khám và kê đơn opioids cho người bệnh, mỗi lần kê đơn không vượt quá 07 ngày
- Người kê đơn thuốc opioids yêu cầu người nhà bệnh nhân cam kết sử dụng opioids đúng mục đích và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu sử dụng thuốc sai mục đích điều trị cho bệnh nhân [3]
Kê đơn thuốc điều trị bệnh mạn tính
Đối với bệnh mạn tính cần chỉ định dùng thuốc đặc trị dài ngày thì kê đơn vào sổ điều trị bệnh mạn tính, số lượng thuốc đủ dùng trong một (01) tháng hoặc theo hướng dẫn điều trị của mỗi bệnh[3]
1.2.3.Các tiêu chí đánh giá kê đơn thuốc
Năm 1985 tại Nairobi, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã tổ chức một hội thảo quan trọng về vấn đề sử dụng thuốc hợp lý, an toàn Kể từ đó những
nỗ lực ngày càng tăng nhằm cải thiện vấn đề sử dụng thuốc Một công cụ thiết yếu để đánh giá việc sử dụng thuốc tại các cơ sở y tế là mô tả các mô hình sử dụng thuốc và hành vi kê đơn thuốc[2], [19]
Mục đích chính của chương trình này là xác định giới hạn những chỉ số
có thể mô tả tình trạng sử dụng thuốc ở một quốc gia, một khu vực hay mỗi
cơ sở y tế Những chỉ số này cho phép các nhà lập kế hoạch, nhà quản lý và nghiên cứu về sức khỏe có sự so sánh cơ bản tình trạng giữa các khu vực khác nhau hoặc ở những thời điểm khác nhau Khi cần thiết có sự can thiệp để nâng cao việc sử dụng thuốc có thể sử dụng những chỉ số này để đánh giá mức độ tác động của những can thiệp Nó có thể được sử dụng như một công
cụ giám sát đơn giản bởi bất kể ai và bất kể nào để đánh giá nhanh chóng,
Trang 19hiệu quả những vấn đề bất cập tiềm tàng trong sử dụng thuốc, và sau đó sẽ ưu tiên, tập trung để cải thiện những vấn đề này[2],[19]
Tổ chức Y tế thế giới – WHO đã đưa ra các chỉ số kê đơn sau:
- Số thuốc trung bình trong một đơn: Để đo mức độ đơn kê nhiều thuốc
- Tỷ lệ phần trăm của các thuốc được kê theo tên generic: Để đo lường
xu hướng kê đơn theo tên generic
- Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh và thuốc tiêm: Để đo lường mức
độ tổng thể của việc sử dụng hai loại thuốc quan trọng, nhưng thường bị lạm dụng và tốn kém trong chi phí điều trị bằng thuốc
- Tỷ lệ phần trăm của các thuốc được kê thuộc danh mục thuốc thiết yếu hoặc danh mục thuốc chủ yếu: Để đo mức độ thực hành phù hợp với chính sách thuốc quốc gia, bằng việc chỉ ra việc thực hiện kê đơn từ danh sách thuốc thiết yếu hoặc thuốc chủ yếu đối với từng loại hình cơ sở khảo sát[19] Ngoài ra, theo thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện đưa ra các chỉ số sử dụng thuốc WHO/INRUD cho các cơ sở y tế ban đầu, bao gồm :
Các chỉ số kê đơn
- Số thuốc kê trung bình trong một đơn
- Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê theo tên chung quốc tế (INN)
- Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh
- Tỷ lệ phần trăm đơn kê có thuốc tiêm
- Tỷ lệ phần trăm đơn kê có vitamin
- Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê đơn có trong DMTTY do Bộ y tế ban hành
Các chỉ số chăm sóc người bệnh
- Thời gian khám bệnh trung bình;
- Thời gian phát thuốc trung bình;
- Tỷ lệ phần trăm thuốc được cấp phát trên thực tế;
Trang 20- Tỷ lệ phân trăm thuốc được dán nhãn đúng;
- Hiểu biết của người bệnh về liều lượng
Các chỉ số cơ sở
- Sự sắn có của các thuốc thiết yếu hoặc thuốc trong danh mục cho bác
sỹ kê đơn;
- Sự sẵn có của các phác đồ điều trị;
- Sự sẵn có của các thuốc chủ yếu
Các chỉ số sử dụng thuốc toàn diện
- Tỷ lệ phần trăm người bệnh được điều trị không dùng thuốc
- Chi phí cho thuốc trung bình của mỗi đơn
- Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho kháng sinh
- Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho vitamin
- Tỷ lệ phần trăm đơn kê phù hợp với phác đồ điều trị
- Tỷ lệ phần trăm người bệnh hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe
- Tỷ lệ phần trăm cơ sở y tế tiếp cận được với các thông tin thuốc khách quan[6]
BỆNH UNG THƯ Khái niệm
Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào khi bị kích thích bời các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một các vô hạn độ, vô tổ chức không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể được đặc trưng bởi sự xâm lẫn tại chỗ và di căn tới các tổ chức khác[4]
Dịch tễ học ung thư Dựa vào số liệu của các ghi nhận quần thể ung thư tại nhiều vùng khác nhau, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính hàng năm trên thế giới có khoảng 11 triệu trường hợp mắc ung thư Các ung thư hàng đầu trên thế giới
ở nam giới là ung thư phổi, dạ dày, đại – trực tràng, tiền liệt tuyến, gan; ở nữ giới là vú, đại – trực tràng, cổ tử cung, dạ dày và phổi [8]
Trang 21WHO cũng ước tính mỗi năm có khoảng trên 6 triệu người chết do ung thư Tỷ lệ chết do ung thư chiếm tới 12% trong số các nguyên nhân gây tử vong ở người[12]
Tỷ lệ mắc bệnh ung thư có xu hướng gia tăng ở phần lớn các nước trên thế giới Hiện tại, qua thống kê cho thấy trên toàn cầu có khoảng 20 triệu người đang sống chung với bệnh ung thư Nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời thì con số này sẽ lên tới 30 triệu vào năm 2020 Ở các nước phát triển ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 2 sau bệnh tim mạch Ở các nước đang phát triển ung thư đứng hàng thứ ba sau bệnh nhiễm trùng/ký sinh trùng và tim mạch [12]
Nhìn một cách tổng quát, tỷ lệ mắc ung thư có xu hướng cao hơn ở các nước phát triển so với các nước đang phát triển Nhận định này cũng phù hợp với rất nhiều tác giả là xã hội càng phát triển thì các bệnh không lây nhiễm bao gồm ung thư,tim mạch và rối loạn sức khỏa tâm thần càng tăng
Tại Việt Nam, trong giai đoạn từ 2001 -2004, các số liệu ghi nhận tại 5 tỉnh thành: Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng, Cần Thơ, Thừa Thiên Huế có 32.944 ca ung thư mới mắc Trong đó, nam giới có 17.793 ca (54,01%), nữ giới 15.151 ca (45,99%) [8]
Ung thư phế quản phổi đứng hàng đầu tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên đứng thứ ba tại Thừa Thiên Huế, đứng thứ tư tại Cần Thơ Ung thư dạ dày đứng thứ hai ở hầu hết các vùng, riêng tại Thái Nguyên đứng thứ ba Ung thư gan đứng hàng đầu tại Thừa Thiên Huế và Cần Thơ, đứng thứ hai tại Thái Nguyên, đứng thứ ba tại
Hà Nội và Hải Phòng Ung thư gan chiếm vị trí thứ nhất tại Thừa Thiên Huế và tại Cần Thơ Riêng tại Thừa Thiên Huế, cả hai giới, ung thư miệng và ung thư phần mềm là hai trong mười ung thư phổ biến nhất [12]
Tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, ung thư vú đứng hàng thứ nhất và ung thư dạ dày đứng thứ hai Riêng tại Cần Thơ, ung thư vú đứng thứ hai sau ung thư cổ tử cung, ung thư dạ dày đứng thứ tư
Trang 22Ung thư phế quản phổi đứng thứ ba tại Hà Nội, Hải Phòng, đứng thứ tư tại Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế và đứng thứ sáu tại Cần Thơ [12]
Các phương pháp điều trị ung thư
Ngoại khoa: là phương pháp chủ yếu và cơ bản nhất trong điều trị ung thư, chiếm khoảng 70-80% các trường hợp ung thư[4], [8]
Tia xạ: Là phương pháp sử dụng các bức xạ ion hóa có năng lượng cao
để điều trị ung thư Là phương pháp chủ yếu và có hiệu quả chiếm khoảng 30% các trường hợp ung thư [4]
Các phương pháp điều trị toàn thân: bao gồm điều trị hóa chất, hormon, miễn dịch… Chiếm khoảng 30-60% các trường hợp điều trị ung thư [8]
Để điều trị ung thư có hiệu quả, ngày nay thường áp dụng điều trị đa phương thức, kết hợp nhiều phương pháp
BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
Lịch sử hình thành và phát triển
Bệnh viện Ung bướu Nghệ An được thành lập ngày 27/8/2010, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 08/8/2011, là một bệnh viện trẻ, chuyên khoa ung bướu của khu vực Bắc Trung Bộ Từ những ngày đầu mới hoạt động, bệnh viện mới chỉ có 50 giường bệnh kế hoạch và chỉ có khoảng vài chục bệnh nhân điều trị Đến nay, sau 5 năm, bệnh viện đã có những bước phát triển vượt bậc, với 400 giường bệnh kế hoạch, 700 giường bệnh thực kê và hơn 2.000 bệnh nhân điều trị ngoại trú
Tổng số nhân lực: 238 cán bộ nhân viên, trong đó có 02 TS & BSCK II
và 18 ThS & BSCK I
Tình hình khám chữa bệnh tại Bệnh viện
Số lượng bệnh nhân khám chữa bệnh trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng sau:
Trang 23Bảng 1.1 Số bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Ung bướu Nghệ An Năm Số lượt khám
chữa bệnh
Nội trú Ngoại trú Tỷ lệ nội
trú
Tỷ lệ ngoại trú
- Đào tạo cán bộ Y tế:
+ Bệnh viện Ung bướu Nghệ Anlà cơ sở thực hành của Trường Đại
Trang 24học Y Vinh, các trường Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp, để đào tạo cán bộ chuyên khoa về ung thư cho Tỉnh và khu vực;
+ Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện và các bệnh viện đa khoa trong tỉnh
- Nghiên cứu khoa học và sáng kiến cải tiến:
+ Nghiên cứu và tham gia nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng những tiến bộ khoa học để phục vụ khám chữa bệnh, phòng bệnh, phục hồi chức năng trong phòng, chống ung thư;
+ Chủ trì và tham gia công trình nghiên cứu các cấp;
+ Tổ chức các chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học phối hợp trong và ngoài nước theo sự phân công
- Công tác chỉ đạo tuyến: Bệnh viện ung bướu Nghệ An tham gia công tác chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật như công tác dự phòng, chẩn đoán, điều trị và các hoạt động phòng chống ung thư; chuyển giao và
hỗ trợ các kỹ thuật chuyên môn về chuyên ngành ung thư cho tuyến dưới
- Phòng bệnh: Phối hợp với các cơ sở y tế trên địa bàn để phát hiện và dập tắt dịch; phòng chống thiên tai, thảm họa
Khoa Dược bệnh viện Ung bướu Nghệ An
Cơ cấu nhân lực khoa Dược
Bảng 1.3 Cơ cấu nhân lực khoa Dược BV Ung bướu Nghệ An
Trang 25Chức năng, nhiệm vụ của khoa Dược
nội trú
thuốc đặc biệt
tiêu hao
ngoại trú
Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức khoa dược bệnh viện
Chức năng: KhoaDược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếpcủa Giám đốc bệnh viện Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn hợp lý
Nhiệm vụ, hoạt động của khoa Dược:
- Theo dõi nhu cầu sử dụng thuốc, vật tư tiêu hao, hóa chất của các khoa phòng tại bệnh viện trong tháng, dự toán và lập kế hoạch số lượng và chủng loại các thuốc, vật tư tiêu hao, hóa chất cho các tháng tiếp theo;
- Pha chế hóa chất điều trị ung thư theo phác đồ cho người bệnh với
khoảng 35-40 ca mỗi ngày và pha chế một số hóa chất sát khuẩn;
Giám đốc
Trưởng khoa Dược
Trang 26- Tham mưu cho Giám Đốc trong việc quản lý chi phí cũng như sử dụng thuốc – vật tư tiêu hao – hóa chất hợp lý an toàn;
- Kiểm tra và tham gia kiểm tra việc sử dụng thuốc – vật tư tiêu hao hóa chất hợp lý, an toàn, hiệu quả và kinh tế trong bệnh viện;
- Bảo quản tốt thuốc, vật tư tiêu hao và hóa chất đúng như yêu cầu của nhà sản xuất cũng như các quy chế chuyên môn, đảm bảo chất lượng của thuốc, vật tư tiêu hao và hóa chất sử dụng trong bệnh viện;
- Thực hiện kiểm kê định kỳ hàng tháng về hạn dùng, số lượng xuất, nhập, tồn của các thuốc, vật tư và hóa chất tại khoa dược;
- Kiểm tra, theo dõi định kỳ điều kiện bảo quản, số lượng, chất lượng, hạn dùng các loại hóa chất, vật tư tiêu hao và thuốc tại các tủ thuốc trực của các khoa lâm sàng, cận lâm sàng để có biện pháp xử lý kịp thời;
- Cấp phát đủ, đảm bảo chất lượng thuốc, vật tư tiêu hao và hóa chất cho các khoa lâm sàng, cận lâm sàng trong bệnh viện;
- Thu hồi vỏ thuốc, vật tư tiêu hao sử dụng của các khoa phòng góp phần tăng cường công tác quản lý;
- Thực hành dược lâm sàng: tham gia tư vấn, góp ý sử dụng thuốc trongđiều trị theo phương châm đúng người, đúng bệnh, đúng dạng dùng, đúng liều dùng, đúng thời gian dùng và đúng khoảng cách giữa các liều Tham gia hội chẩn với các khoa phòng khi có yêu cầu Giám sát và hướng dẫn bệnh nhân phòng tránh tác dụng có hại của thuốc (ADR), lập báo cáo gửi về BYT;
- Tham gia Hội đồng thuốc và điều trị, thực hiện thông tin thuốc trong bệnh viện, góp phần tạo ra nguồn thông tin khách quan, khoa học phi thương mại
Trang 27Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu: Đơn thuốc ngoại trú của bệnh nhân BHYT Thời gian nghiên cứu: Đơn thuốc ngoại trú BHYT của bệnh nhân khám bệnh từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2015
Địa điểm: Bệnh viện Ung bướu Nghệ An
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Biến số nghiên cứu
Các biến số của từng nội dung nghiên cứu trong đề tài được xác định như sau:
Bảng 2.1 Biến số của đơn thuốc ngoại trú
biến
Cách thu thập
TT từ phiếu TT
1 Tên chung quốc tế
2 Tên biệt dược có ghi tên chung quốc
tế trong ngoặc đơn
3 Tên biệt dược
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
3 Đủ hàm lượng,
số lượng
1 = Có : ĐT có ghi hàm lượng (nồng độ) đối với thuốc dạng đơn chất và thuốc có nhiều hàm lượng, ghi đủ số lượng đối với từng thuốc trong đơn
2 = Không : ĐT không ghi đủ một trong các nội dung trên
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
TT từ phiếu TT
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
Trang 28Tên biến Khái niệm Giá trị
biến
Cách thu thập dùng trong đơn
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
9
Thời gian kê
đơn thuốc đối
với bệnh mạn
tính
1 = Có: Đơn thuốc có số lượng thuốc
đủ dùng trong tối đa 1 tháng hoặc theo
HD điều trị của mỗi bệnh
2 = Đơn thuốc có số lượng thuốc được
kê quá 1 tháng
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
10 Mẫu đơn thuốc
Gây nghiện
1 = Có: ĐT có thuốc gây nghiện được
kê vào đơn thuốc “N”
2 = Không: ĐT có thuốc gây nghiện không được kê vào đơn thuốc “N”
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
11
Thời gian kê
đơn đối với
đơn thuốc gây
số liệu ĐT
12
Thời gian kê
đơn đối với
đơn thuốc điều
TT từ phiếu TT
2 = Không: ĐT có thuốc gây nghiện không có giấy xác nhận bệnh nhân còn sống của trạm y tế xã, phường, thị trấn
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
Trang 29Tên biến Khái niệm Giá trị
biến
Cách thu thập
2= Không : ĐT có thuốc gây nghiện không được người cấp thuốc ghi hạn dùng của thuốc đã cấp vào đơn lưu và đơn lưu có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên, địa chỉ, số giấy CMND của người lĩnh thuốc
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
2= Không : ĐT có thuốc gây nghiện không có lưu thêm giấy xác nhận người bệnh còn sống của Trạm Y tế xã,
phường, thị trấn
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
dài ngày được
kê vào sổ điều
trị mạn tính
1= Có: ĐT có thuốc điều trị bệnh mạn tính được kê vào sổ điều trị mạn tính 2= Không: ĐT có thuốc điều trị bệnh mạn tính không được kê vào sổ điều trị mạn tính
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
TT từ phiếu TT
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
21 Số thuốc trong
đơn
Là số thuốc được kê đơn trong một đơn
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
Trang 30Tên biến Khái niệm Giá trị
biến
Cách thu thập
22 Kháng sinh
1 = Có: ĐT có ít nhất một kháng sinh
2 = Không: ĐT không có ít nhất một kháng sinh
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
23 Thuốc tiêm
1 = Có: ĐT có it nhất một thuốc tiêm
2 = Không: ĐT không có ít nhất một thuốc tiêm
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
24
Cơ cấu thuốc
điều hòa miễn
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
25
Cơ cấu thuốc
điều trị ung thư
TT từ phiếu TT
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
27 Cơ cấu thuốc
điều trị ung thư
Là tổng số thuốc điều trị ung thư trong tổng số 400 ĐT BHYT
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
28
Cơ cấu thuốc
điều trị ung thư
số liệu ĐT
29
Cơ cấu thuốc
điều trị ung thư
tiền liệt tuyến
Là tổng số thuốc điều trị ung thư tiền liệt tuyến trong tổng số thuốc điều trị ung thư
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
30 Thuốc Gây
nghiện
1 = Có: ĐT có thuốc gây nghiện
2 = Không: ĐT không có thuốc gây nghiện
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
Trang 31Tên biến Khái niệm Giá trị
biến
Cách thu thập nhóm thuốc
điều trị ung thư
Là tổng số thuốc nhập ngoại trong tổng
số thuốc điều trị ung thư
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
36
Cơ cấu chi phí
thuốc điều hòa
Biến phân loại
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
Trang 32Tên biến Khái niệm Giá trị
biến
Cách thu thập thư
phân loại
TT từ phiếu TT
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
Biến phân loại
TT từ phiếu TT
số liệu ĐT
Trang 33Kết luận và đề xuất
Thiết kế nghiên cứu
Mô hình thiết kế nghiên cứu:Mô tả cắt ngang
Hình 2.1 Thiết kế nghiên cứu
2.2.3.Phương pháp thu thập số liệu
Tiến hành thu thập đơn thuốc ngoại trú BHYT tại Khoa Dược từ tháng
1 đến tháng 12 năm 2015 để đánh giá việc thực hiện quy chế kê đơn trong
điều trị ngoại trú bảo hiểm y tế
Thu thập thông tin từ 400 đơn thuốc ngoại trú BHYT đã chọn, bao gồm:
Mô tả thực trạng tuân thủ quy định kê
đơn thuốc ngoại trú tại Bệnh viện Ung
Chỉ số mô tả việc tuân thủ
quy định kê đơn thuốc ngoại
trú
Các chỉ số kê đơn thuốc
ngoại trú