1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hiệu quả quản lý đầu tư công tại thành phố cần thơ từ góc nhìn quản lý nhà nước

93 342 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động đầu tư bằng vốn ngân sách vào các lĩnh vực phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; đầu tư công chiếm vai trò vô cùng cần thiết vì đây công cụ khắc phục các hạn chế của nền kinh tế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn đề tài với tiêu đề “Hiệu quả quản lý đầu tư công tại thành phố CầnThơ từ

góc nhìn quản lý nhà nước” là công trình của riêng tôi Các tài liệu nêu trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Cần Thơ, ngày tháng năm 2016

Người viết cam đoan

Hoàng Thị Huệ

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý đầu tư đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, các bạn lớp quản lý kinh tế Cần Thơ K23 đã chia sẻ kiến thức cùng tôi trong suốt quá trình học và trong thời gian thực hiện luận văn

Tác giả luận văn Hoàng Thị Huệ

Trang 5

FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Đơn vị hành chính thành phố Cần Thơ 27

Bảng 4.2 Thu chi ngân sách địa phương từ năm 2004-2014 30

Bảng 4.3 Kết quả thực hiện vốn đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ 32

Bảng 4.4 Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn chia theo nguồn vốn 34

Bảng 4.5 Hiệu quả vốn đầu tư theo giá hiện hành 36

Bảng 4.6 Vốn đầu tư và hiệu quả vốn đầu tư theo thành phần kinh tế 37

Bảng 4.7: Cơ cấu vốn đầu tư công phân theo nguồn vốn 38

Bảng 4.8: Hệ số ICOR của Cần Thơ so với ICOR cả nước 40

Bảng 4.9: Tỷ lệ thu/chi ngân sách thành phố 57

Trang 7

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1

1.1 Giới thiệu 1

1.1.1 Lý do chọn đề tài: 1

1.1.2 Sự cần thiết nghiên cứu: 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Vùng nghiên cứu và thời gian nghiên cứu 3

1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3

1.5 Kết cấu luận văn 3

CHƯƠNG 2:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Đầu tư 4

2.1.1.1 Đầu tư công 5

2.1.1.2 Nguồn vốn đầu tư 6

2.1.1.3 Đối tượng đầu tư 7

2.1.2 Các lý thuyết về đầu tư công 8

2.1.2.1 Quan điểm của trường phái tân cổ điển 8

2.1.2.2 Quan điểm ủng hộ sự can thiệp của nhà nước 8

2.1.2.3 Quan điểm về sự phát triển cân đối hay không cân đối 9

2.1.3 Đặc điểm của đầu tư công và vai trò của đầu tư công đối với sự phát triển kinh tế - xã hội; Vai trò của nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội 9

2.1.3.1 Đặc điểm của đầu tư công: 9

2.1.3.2 Vai trò của đầu tư công đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 11

2.1.3.3 Vai trò của nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội 13

2.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư công: 15

2.1.5 Quy trình thẩm định dự án đầu tư: 16

2.1.6 Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí: 17

2.1.7 Lý thuyết người đại diện và người quản lý 18

2.1.8 Các nguyên lý của mô hình Harrod – Domar 19

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước: 21

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 25

3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu: 25

Trang 8

3.1.2 Phương pháp xử lý số liệu: 25

3.2 Phương pháp phân tích 26

CHƯƠNG 4: HIỆU QUẢ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG: TIẾP CẬN BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ, MÔ TẢ VÀ PHƯƠNG PHÁP CHUYÊN GIA 27

4.1 Vị trí thành phố Cần Thơ trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long và quan hệ với các tỉnh thành trên cả nước: 27

4.2 Dân số 28

4.3 Đánh giá tổng quát những tiềm năng và khả năng phát huy các lợi thế so sánh vào mục tiêu phát triển của thành phố 29

4.4 Mức độ đóng góp đầu tư công tác động đến tăng trưởng kinh tế trên địa bàn thành phố Cần Thơ 30

4.4.1 Khái quát tình hình thu, chi ngân sách trên địa bàn: 30

4.4.2 Khái quát về tình hình đầu tư, đầu tư công của thành phố Cần Thơ 34

4.4.2.1 Vốn đầu tư trên địa bàn 34

4.4.2.2 Hiệu quả vốn đầu tư: 38

4.4.2.3 Vốn đầu tư và hiệu quả vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế 39

4.4.2.4 Đầu tư công: 40

4.4.2.5 Đánh giá chung tình hình đầu tư công trên địa bàn 40

4.3.2.1 Hiệu quả quả quản lý đầu tư công, đầu tư từ ngân sách: 42

4.5 Nghiên cứu và phân tích các hạn chế trong quản lý đầu tư công 47

4.6 Nghiên cứu thủ tục hành chính, các quy định pháp luật: 50

4.7 Kết quả tham khảo ý kiến của các chuyên gia: 64

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 66

5.1 Kết luận: 66

5.2 Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư công: 67

5.3 Kiến nghị: 71

5.4 Kiến nghị về những nghiên cứu tiếp theo: 72

Trang 9

là vốn đầu tư công phải có hiệu quả nhằm "phấn đấu xây dựng và phát triển thành phố

Cần Thơ trở thành thành phố đồng bằng cấp quốc gia văn minh hiện đại, xanh, sạch, đẹp, xứng đáng là thành phố cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mêkong; là trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại - dịch vụ du lịch, trung tâm giáo dục đào tạo khoa học – công nghệ, trung tâm y tế và văn hóa, là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế; là địa bàn trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc phòng an ninh của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước" theo Nghị quyết 45-

NQ/TW ngày 17/2/2005 của Bộ Chính trị

Kết quả của công cuộc đổi mới của thành phố Cần Thơ đã nâng cao thu nhập, chất lượng đời sống của người dân, cải thiện bộ mặt chung của cả xã hội Để đạt được những thành tựu này, bên cạnh kết quả sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế còn có phần đóng góp rất lớn từ các chính sách điều hành của chính quyền thành phố thông qua các hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính Hoạt động đầu

tư bằng vốn ngân sách vào các lĩnh vực phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; đầu tư công chiếm vai trò vô cùng cần thiết vì đây công cụ khắc phục các hạn chế của nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy kinh tế, tạo điều kiện cho đầu tư từ các khu vực còn lại phát huy hiệu quả cao thông qua việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế Đồng thời còn giúp phát triển các mặt về xã hội mà các thành phần kinh tế tư nhân thường ít khi tham gia vào Trong giai đoạn sắp tới, kinh tế cả nước nói chung và thành phố nói riêng đang đối diện với một số thách thức, khó khăn như áp lực lạm phát, cơ sở hạ tầng kém, thủ tục hành chính rườm rà chậm đổi mới, năng lực quản lý nhà nước chưa đáp ứng kịp cho

Trang 10

phát triển, hiệu quả sản xuất thấp bên cạnh đó sức ép cạnh tranh của các nước khi mở cửa nền kinh tế Muốn vượt qua được những thách thức trên, thành phố cần phải có các chính sách mạnh mẽ cải cách hơn nữa trong quản lý đầu tư công nhằm đầu tư có hiệu quả, chất lượng, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, hạn chế thấp nhất về lãng phí thất thoát Để tìm hiểu công tác thẩm định dự án đầu tư, phân bổ, sử dụng nguồn vốn đầu tư ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước; từ những

thắc mắc đó đã thôi thúc tác giả lựa chọn đề tài “Hiệu quả quản lý đầu tư công trên

địa bàn thành phố Cần Thơ từ góc nhìn quản lý nhà nước” để nghiên cứu

1.1.2 Sự cần thiết nghiên cứu:

Luật Đầu tư công đã được Quốc Hội ban hành năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 Luật Đầu tư công quy định rõ lĩnh vực đầu tư sử dụng vốn ngân sách, quy trình quản lý để nâng cao hiệu quả hướng đến phát triển kinh tế bền vững Do đó, việc phân tích các hạn chế trong quản lý đầu tư công là một việc làm cần thiết, nhằm góp phần đánh giá đúng tác động đầu từ công đến tăng trưởng kinh tế trên địa bàn thành phố Trên cơ sở đó, thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công nhằm góp phần tăng thu ngân sách, mở rộng không gian tài khóa, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của thành phố và bền vững trong dài hạn Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu của đề tài giúp bản thân bổ sung thêm kiến thức quản

lý kinh tế trong lĩnh vực sử dụng vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản làm cơ sở tham mưu cho lãnh đạo thành phổ trong điều hành ngân sách thành phố Cần Thơ và là tài liệu cho lãnh đạo thành phố tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách đầu tư và quản lý vốn đầu tư công có hiệu quả hơn

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài được nghiên cứu nhằm phân tích các hạn chế quản lý đầu tư ảnh hưởng đến đầu tư công, đề ra những cải cách để nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư công, áp dụng vào thực tiễn thông qua việc đưa những cải cách này vào trong kế hoạch điều hành kinh tế - xã hội của thành phố giai đoạn sắp tới

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Các vấn đề hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý đầu tư công là gì?

- Những giải pháp cần thực hiện để nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư công?

Trang 11

1.4 Phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống quy định pháp luật và cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư công

1.4.2 Vùng nghiên cứu và thời gian nghiên cứu

- Vùng nghiên cứu: đề tài được thực hiện trên địa bàn thành phố Cần Thơ

- Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn từ năm 2004 - 2014

1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Về mặt khoa học, theo lý thuyết kinh tế công, chính phủ thực hiện đầu tư công là nhằm đạt được tăng trưởng kinh tế và phát triển các mặt xã hội, môi trường, con người

và đầu tư vào các lĩnh vực mà tư nhân không tham gia Tuy nhiên không phải cứ đầu

tư thật nhiều sẽ đạt được kết quả cao Một số nhà kinh tế còn cho rằng tăng đầu tư công quá mức sẽ gây tác động lấn át đến đầu tư của khu vực tư, trong khi hiệu quả đầu

tư của khu vực tư thường cao hơn, khi đó sẽ làm chậm tốc độ tăng trưởng của nền kinh

tế Vì vậy đánh giá, xác định các vấn đề còn tồn tại của quản lý đầu tư công sẽ làm cơ

sở cho việc tổng kết đưa vào lý thuyết về quản lý kinh tế công

Về mặt thực tiễn, trong quản lý nhà nước việc phân tích các hạn chế sẽ giúp đưa

ra các chính sách quản lý đầu tư công một cách hiệu quả hơn, giúp duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao của thành phố trước các thách thức trong giai đoạn hiện nay Có thể giúp cho lãnh đạo thành phố tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách đầu tư, quản lý, sử dụng vốn đầu tư công có hiệu quả hơn

1.5 Kết cấu luận văn

Luận văn này được chia ra làm 5 chương:

- Chương 1: Giới thiệu

- Chương 2: Cơ sở lý luận

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

- Chương 4: Hiệu quả quản lý đầu tư công tiếp cận bằng phương pháp thống kê,

mô tả kết hợp phương pháp chuyên gia

- Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 12

Về cơ sở lý luận, trên cơ sở hiểu biết các lý thuyết về đầu tư, lý thuyết về người đại diện và quản lý, các nguyên lý của mô hình Harrod - Domar, các khái niệm, các quy định của nhà nước về quản lý đầu tư, đầu tư công, đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư công nhất là hiệu quả đầu tư công trong giai đoạn hiện nay Phần này tập trung vào hiểu chi tiết các nguồn lực quản lý đầu tư công, thước đo đầu tư đối với phát triển kinh tế-xã hội Về Thực tiễn, trên cơ sở các bài luận văn, bài viết được công bố, tác giả sử dụng để kế thừa thực tiễn tại các địa phương.

Trong kinh tế học vĩ mô, đầu tư được hiểu là việc gia tăng tư bản nhằm tăng Đầu

tư là phần sản lượng được tích lũy nhằm để gia tăng năng lực sản xuất tương lai của nền kinh tế (Sach-Larrain 1993) Sản lượng ở đây có thể do nền kinh tế tự sản xuất hay

là do nhập khẩu từ bên ngoài, có thể là các sản phẩm hữu hình như máy móc, thiết bị,…hay là các sản phẩm vô hình như bằng phát minh, sáng chế… Cũng có định nghĩa đầu tư là hoạt động bỏ vốn ở hiện tại nhằm mục đích sinh lời ở tương lai Vốn ở đây có thể là tiền, là tài sản, là sức lao động, là trí tuệ Quá trình tích lũy vốn đến đầu tư được

Trang 13

thể hiện qua ba khâu tiết kiệm, huy động tiết kiệm vào hệ thống tài chính và cuối cùng

là đầu tư

Vốn (hay tư bản, capital) trong nền kinh tế tại một thời điểm nào đó được định nghĩa là bằng giá trị tổng các đầu tư qua các năm, tính đến thời điểm đó Trong thực tế,

để tính toán giá trị vốn tại một thời điểm nào đó người ta cộng tất cả các đầu tư trước

đó rồi trừ đi khấu hao hàng năm Một cách khác để tính giá trị vốn của nền kinh tế tại một thời điểm nào đó là người ta căn cứ vào giá cả thị trường hiện tại của các tài sản vốn này

Ràng buộc của đầu tư: Suất sinh lợi của bất cứ dự án đầu tư nào cũng phải lớn hơn hay chí ít cũng bằng lãi suất thực Keynes cho rằng không nên trao quyết định đầu

tư vào trong tay tư nhân, mà nhà nước phải đứng ra tổ chức, quy hoạch việc đầu tư và cho tư nhân tham gia vào Keynes gọi là xã hội hóa đầu tư

Theo các nhà kinh tế thì chi cho giáo dục cũng là một dạng của đầu tư - đầu tư vốn con người Đầu tư cho giáo dục cũng nhằm làm tăng năng lực sản xuất tương lai của nền kinh tế vì con người được trang bị kiến thức tốt hơn thì sẽ làm việc hiệu quả

hơn, năng suất sẽ cao hơn

2.1.1.1 Đầu tư công

Khái niệm đầu tư công: Theo Luật đầu tư công số 49/2014/QH13, được Quốc

Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua

ngày 18/06/2014 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 thì: “ Đầu tư công là

hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội” Với định nghĩa như trên, đối tượng sử dụng nguồn vốn nhà nước trong đầu tư công rất đa dạng gồm: chương trình mục tiêu, dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế -xã hội, các công trình công cộng, quốc phòng, an ninh đầu tư từ nguồn vốn thuộc phạm vi chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển

Khái niệm hiệu quả quản lý đầu tư công:

Để hiểu rõ khái niệm hiệu quả quản lý đầu tư công, ta tìm hiểu khái niệm hiệu quả và khái niệm hoạt động quản lý đầu tư công

Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của đơn vị cũng như của nền kinh tế để thực hiện tốt nhất các mục tiêu đề ra với mức chi phí thấp nhất và được lượng hóa bằng cách so sánh giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào

Trang 14

Hoạt động quản lý đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người,

do các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính thực hiện nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án công; ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước.1

Từ sự tổng hợp các khái niệm trên, ta có cách hiểu sau: hiệu quả quản lý đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án công; ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc

sử dụng vốn ngân sách nhà nước nhằm tránh thất thóat, lãng phí; đảm bảo hoạt động đầu tư công đạt được tốt nhất mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với chi phí thấp nhất Chỉ khi đáp ứng được những yêu cầu này thì hoạt động quản lý đầu tư công mới được coi là có hiệu quả

2.1.1.2 Nguồn vốn đầu tư

Nếu xét trên tổng thể nền kinh tế thì nguồn vốn đầu tư bao gồm hai loại sau: nguồn trong nước tiết kiệm được và nguồn từ nước ngoài đưa vào Nguồn từ nước ngoài đưa vào có thể dưới dạng: đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, các khoản vay nợ và viện trợ, tiền kiều hối và thu nhập do nhân tố từ nước ngoài chuyển về Có thể chia vốn đầu tư làm 2 loại là đầu tư của khu vực doanh nghiệp và cá nhân (khu vực tư) và

đầu tư của khu vực nhà nước (khu vực công)

- Nguồn vốn đầu tư của khu vực tư: trên lý thuyết thì nguồn đầu tư của khu vực

tư (Ip) được hình thành từ tiết kiệm của khu vực doanh nghiệp và của cá nhân (Sp) và luồng vốn của nước ngoài đổ vào khu vực này (Fp):

Ip = Sp + Fp

Sp = Ypd – Cp Trong đó: Ypd là thu nhập khả dụng

Cp là tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình

( 1) Dựa theo Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính nhà nước của Học viện hành chính quốc gia

Trang 15

Nguồn tiết kiệm của khu vực doanh nghiệp và cá nhân thường là nguồn chủ yếu trong nền kinh tế Nguồn vốn của nước ngoài đổ vào khu vực tư thường ở các dạng như đầu tư trực tiếp (FDI) và các khoản nợ

- Nguồn vốn đầu tư của khu vực công: Vốn đầu tư công theo quy định tại Luật

Đầu tư công gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư; nguồn đầu tư của nhà nước (Ig) được xác định theo công thức sau:

Ig = PSBR+ (T – Cg) + Fg

Trong đó: PSBR là khả năng đi vay của Chính phủ;

T là các khoản thu của khu vực nhà nước;

Cg là các khoản chi tiêu của khu vực nhà nước không kể chi đầu tư Chênh lệch giữa khoản thu và chi này là tiết kiệm của khu vực nhà nước;

Fg là các khoản viện trợ và vay nợ từ nước ngoài vào khu vực nhà nước

Dựa vào đẳng thức trên, ta thấy đầu tư của khu vực nhà nước được tài trợ bởi ba nguồn:

Thứ nhất là khả năng huy động vốn của khu vực nhà nước từ khu vực doanh

nghiệp và cá nhân hoặc các tổ chức tài chính trung gian Hình thức huy động này được thực hiện bằng việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu của nhà nước

Thứ hai là tiết kiệm của khu vực nhà nước, bằng các khoản thu về ngân sách nhà

nước trừ cho các khoản chi thường xuyên Trong trường hợp các nước kém phát triển thì khoản tiết kiệm này rất khiêm tốn, không đủ đáp ứng nguồn vốn đầu tư lớn cho phát triển, nhất là vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng

Thứ ba là nguồn vốn giúp đỡ từ nước ngoài, nguồn này có vai trò khá quan trọng

đối với các nước kém phát triển Các nguồn từ nước ngoài thường dưới dạng viện trợ hoặc nợ

2.1.1.3 Đối tượng đầu tư

Trong một nền kinh tế, tư bản tồn tại dưới nhiều hình thức và vì vậy cũng có nhiều loại đầu tư Có 3 loại đầu tư chính sau:

Trang 16

- Đầu tư vào tài sản cố định: là đầu tư vào nhà, xưởng, máy móc, thiết bị,

phương tiện vận tải,… Đầu tư dưới dạng này chính là đầu tư nâng cao năng lực sản xuất Khả năng đạt được tốc độ tăng trưởng cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào đầu tư loại này

- Đầu tư vào tài sản lưu động: tài sản lưu động là những nguyên vật liệu thô, bán

thành phẩm được sử dụng hết sau mỗi quá trình sản xuất Ngoài ra, tài sản lưu động cũng có thể là thành phẩm được đơn vị đó sản xuất ra mà chưa đem đi tiêu thụ hết Như vậy, lượng đầu tư vào loại tài sản này chính là sự thay đổi về khối lượng của các hàng hóa này trong một thời gian nhất định Và khi họ đầu tư vào loại tài sản này, đơn

vị sản xuất, kinh doanh nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất bằng cách: (1) đầu tiên để tiết kiệm thời gian và chi phí quản lý, giao tiếp và phân phối; (2) đồng thời nhằm đảm bảo vật tư sản xuất luôn có sẵn khi cần

Xét trên tổng thể nền kinh tế, thì có một dạng đầu tư vào các tài sản cố định rất

quan trọng đó là đầu tư vào cơ sở hạ tầng Phần lớn lượng đầu tư vào cơ sở hạ tầng

do nhà nước đảm nhận Tuy nhiên, trong nền kinh tế nhiều thành phần thì khu vực tư nhân và khu vực nước ngoài cũng tham gia đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng bằng các hình thức thích hợp (ví dụ như BOT, BTO, BT,vvv) Đặc điểm của đầu tư vào các loại hàng hóa công là cần vốn lớn, lâu thu hồi vốn Tuy nhiên, đầu tư vào kết cấu hạ tầng

có tác động thúc đẩy đầu tư của các thành phần kinh tế khác phát triển

2.1.2 Các lý thuyết về đầu tư công

2.1.2.1 Quan điểm của trường phái tân cổ điển

Quan điểm của trường phái này cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào nền kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực như vốn và lao động,…mà sự vận động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này Trường phái này khẳng định một trong các

ưu điểm kinh tế thị trường đó là sự phân bổ nguồn lực một cách tự động hay qua bàn tay vô hình của thị trường Đầu tư là một hình thức phân bổ nguồn lực trong các hình thức đó - phân bổ vốn trong nền kinh tế

2.1.2.2 Quan điểm ủng hộ sự can thiệp của nhà nước

Quan điểm này cho rằng do sự không hoàn hảo của thị trường, nhất là các nước đang phát triển, nên sự tự thân vận động của thị trường sẽ không mang lại kết quả tối

ưu Thông tin không hoàn hảo có thể sẽ dẫn đến sản xuất và đầu tư quá mức Trong trường hợp này, nhà nước phải là người tổ chức cung cấp thông tin tốt để thị trường hoạt động tốt hơn

Trang 17

2.1.2.3 Quan điểm về sự phát triển cân đối hay không cân đối

Tăng trưởng cân đối: Theo Rosenstain - Rodan, khái niệm tăng trưởng cân đối

được đưa ra nhằm mô tả sự tăng trưởng cân đối giữa các ngành trong nền kinh tế Ông

đề xuất đầu tư nên hướng cùng lúc vào nhiều ngành để tăng cung cũng như cầu cho nhiều sản phẩm bằng cách tăng thu nhập của lao động trong những ngành này Sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến đòi hỏi lượng đầu tư lớn trong một thời gian dài Từ đó phát sinh nhu cầu phát triển song song cả hàng hóa phục vụ sản xuất lẫn phục vụ tiêu dùng Tư tưởng về “cú huých” lập luận rằng, một sự gia tăng đột ngột về đầu tư có thể làm cho mức tiết kiệm tăng lên bởi vì sự gia tăng đột ngột của thu nhập Tăng trưởng không cân đối: Hirchman (1958) đưa ra một mô hình trái ngược với thuyết tăng trưởng cân đối, ông cho rằng sự mất cân đối giữa cung và cầu tạo ra động lực cho nhiều dự án mới Theo đó, cách tiếp cận này yêu cầu phần lớn vốn đầu tư được phân phối bởi nhà nước cho những ngành công nghiệp trọng điểm nhằm tạo ra những cơ hội ở những ngành khác trong nền kinh tế, từ đó khuyến khích làn sóng đầu

tư thứ hai Những ngành được chọn ra để đầu tư nên được đánh giá theo mối liên hệ giữa ngành đó với các ngành liên quan theo “chuỗi giá trị”, điều này nói đến khả năng tạo ra những ngành mới làm đầu ra hay cung cấp đầu vào cho những ngành được chọn

để đầu tư

2.1.3 Đặc điểm của đầu tư công và vai trò của đầu tư công đối với sự phát triển kinh tế - xã hội; Vai trò của nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội

2.1.3.1 Đặc điểm của đầu tư công:

Hàng hóa công là loại hàng hóa không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng Tính phi cạnh tranh về tiêu dùng biểu hiện cùng một lúc có hơn một người tận hưởng những lợi ích từ hàng hóa công và chi phí đáp ứng nhu cầu đòi hỏi các đối tượng tiêu dùng tăng thêm này là bằng không Phần lớn hàng hóa công do Chính phủ cung cấp; ngoài

ra còn có thể huy động sự tham gia của khu vực tư để đáp ứng nhu cầu về hàng hóa công của xã hội

Tại sao Chính phủ phải cung cấp hàng hóa công? Nguyên nhân là có sự thất bại của khu vực tư trong việc cung cấp hàng hóa công, tính không hiệu quả do khu vực tư cung cấp hàng hóa công và làm giảm phúc lợi xã hội Sự phát triển của xã hội trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại đã cho thấy chi tiêu công hoàn toàn không mất đi

mà trái lại nó tạo ra sự tái phân phối giữa các khu vực trong nền kinh tế Chính phủ đóng vai trò là một trung tâm của quá trình tái phân phối thu nhập thông qua các khoản

Trang 18

chi tiêu công Với ý nghĩa đó, đầu tư công đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn nền kinh tế đang có những bước chuyển đổi nhằm sử dụng các nguồn vốn đầu tư có hiệu quả Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, đầu tư công chuyển mạnh sang đầu tư cho phát triển các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, cho sự nghiệp giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo

Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước có một vai trò rất lớn trong đầu tư công để tạo những bước đột phá phát triển đất nước Tuy nhiên, trong nền kinh tế nhiều thành phần thì khu vực tư nhân trong nước và khu vực nước ngoài cũng được khuyến khích tham gia đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng bằng các hình thức thích hợp (BOT, BTO, BT, ) Đầu tư công của ngân sách nhà nước là khoản chi tích lũy: Chi đầu tư công trực tiếp làm gia tăng số lượng và chất lượng tài sản cố định, gia tăng giá trị tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân Vấn đề này thể hiện rõ nét thông qua việc nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xă hội như giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục,… Sự tăng lên về số lượng và chất lượng của hàng hóa công này là cơ sở và nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân trên các mặt: phát triển cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực, các vùng kinh tế trên lãnh thổ quốc gia; nâng cao chất lượng

và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài và tạo động lực, cú hích cho sự tăng trưởng

- Quy mô và cơ cấu chi đầu tư công của ngân sách nhà nước không cố định và

phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân

Theo kinh nghiệm phát triển cho thấy, trong thời kỳ đầu thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, quy mô chi đầu tư công của ngân sách nhà nước chiếm tỷ lệ khá lớn

so với tổng đầu tư xã hội

Ở giai đoạn này, do khu vực kinh tế tư nhân còn yếu trong khi chính sách thu hút vốn đầu tư chưa hoàn thiện, nhà nước phải tăng cường quy mô đầu tư từ ngân sách nhà nước để tạo đà cho tiến trình công nghiệp hóa Đi đôi với sự gia tăng quy mô thì cơ cấu chi đầu tư cũng rất đa dạng để đáp ứng với nhu cầu thực tiễn đặt ra, như chi hỗ trợ, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế xã hội,… Quy mô chi đầu tư công của nhà nước sẽ giảm dần theo mức độ thành công của chiến lược công nghiệp hóa và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Khi đó chi đầu tư phát triển của nhà nước chủ yếu tập trung vào điều chỉnh nhằm đạt tới sự ổn định của kinh tế vĩ mô và các khoản

Trang 19

chi cho vay chỉ định, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế xã hội sẽ được cắt giảm

- Chi đầu tư công phải gắn chặt chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả vốn

đầu tư

Sự phối hợp không đồng bộ giữa chi đầu tư với chi thường xuyên sẽ dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí để duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng Điều này sẽ làm giảm hiệu quả khai thác và sử dụng tài sản đầu tư Sự gắn kết giữa 2 nhóm chi tiêu này

sẽ khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan, không tính đến hiệu quả khai thác

Nội dung chi đầu tư công gồm bốn lĩnh vực: chi xây dựng các công trình kết cấu

hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn; chi hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước; chi cho quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước; chi dự trữ nhà nước Trong đó, chi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất và được thực hiện theo phương thức không hoàn trả Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn tài chính của nhà nước hướng vào củng cố và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, các ngành công nghiệp cơ bản, các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình trọng điểm phục vụ phát triển văn hóa, xã hội, phúc lợi công cộng

2.1.3.2 Vai trò của đầu tư công đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Đầu tư công có ý nghĩa xã hội rất lớn trong định hướng phát triển chung của đất nước Do đó, nếu chỉ tính hiệu quả kinh tế đơn thuần thì sẽ không chính xác, mà phải tính hiệu quả cả trong xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, an sinh xã hội,vvv Kết cấu hạ tầng là đối tượng chính của đầu tư công, là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế, có chức năng, nhiệm vụ cơ bản đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục Kết cấu hạ tầng cũng được định nghĩa là tổng thể các cơ sở vật chất,

kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội được diễn

ra một cách bình thường.Toàn bộ kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau, cụ thể như:

- Nếu căn cứ theo lĩnh vực kinh tế - xã hội thì kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế, kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động xã hội

và kết cấu hạ tầng phục vụ an ninh - quốc phòng Tuy nhiên, trên thực tế, ít có loại kết cấu hạ tầng nào chỉ phục vụ kinh tế mà không phục vụ hoạt động xã hội và ngược lại

Trang 20

- Nếu căn cứ theo sự phân ngành của nền kinh tế quốc dân thì kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành kết cấu hạ tầng trong công nghiệp, trong nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, xây dựng, hoạt động tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục, văn hóa xã hội, vvv

- Nếu căn cứ theo khu vực dân cư, vùng lãnh thổ thì kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành kết cấu hạ tầng đô thị, kết cấu hạ tầng nông thôn, kết cấu hạ tầng kinh

tế biển (ở những nước có kinh tế biển, và nhất là khi kinh tế biển lớn như nước ta), kết cấu hạ tầng đồng bằng, trung du, miền núi, vùng trọng điểm phát triển, các thành phố lớn, vvv

Kết cấu hạ tầng trong mỗi lĩnh vực, mỗi ngành, mỗi khu vực bao gồm những công trình đặc trưng cho hoạt động của lĩnh vực, ngành, khu vực và những công trình liên ngành đảm bảo cho hoạt động đồng bộ của toàn hệ thống Kết cấu hạ tầng thành 2 loại cơ bản, gồm: kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng xã hội

- Kết cấu hạ tầng kinh tế: thuộc loại này bao gồm các công trình hạ tầng kỹ

thuật như năng lượng (điện, than, dầu khí) phục vụ sản xuất và đời sống, các công trình giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông, đường hàng không, đường ống), bưu chính - viễn thông, các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, vvv Kết cấu hạ tầng kinh tế là bộ phận quan trọng trong hệ thống kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định, bền vững và là động lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn, tạo điều kiện cải thiện cuộc sống dân cư

- Kết cấu hạ tầng xã hội: xếp vào loại này gồm nhà ở, các cơ sở khoa học,

trường học, bệnh viện, các công trình văn hóa, thể thao, vvv và các trang, thiết bị đồng

bộ với chúng Đây là điều kiện thiết yếu để phục vụ, nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Như vậy, kết cấu hạ tầng xã hội là tập hợp một số ngành có tính chất dịch vụ xã hội; sản phẩm do chúng tạo ra thể hiện dưới hình thức dịch vụ và thường mang tính chất công cộng, liên hệ với sự phát triển con người cả về thể chất lẫn tinh thần Với tính chất đa dạng và thiết thực, kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất

có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như vùng lãnh thổ Có kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại, nền kinh tế mới

có điều kiện để tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững Trình độ phát triển của kết cấu hạ tầng có ảnh hưởng đến trình độ phát triển của đất nước, có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế và công tác xoá đói giảm nghèo

Trang 21

Trong nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân thường không muốn tham gia vào việc cung cấp các hàng hóa công do khó thu lợi Những hàng hóa công này thường là các công trình hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội như: đường xá, cầu cống, trường học, bệnh viện, vvv Vai trò của những hàng hóa công này là vô cùng quan trọng vì nếu không có hệ thống hạ tầng giao thông thì nền kinh tế không vận hành được, không có hệ thống công trình trường học, bệnh viện, nhà văn hóa phục vụ phát triển con người thì yêu cầu phát triển xã hội cũng không được đáp ứng Hoạt động đầu

tư công của nhà nước là nhằm cung cấp những hàng hóa công nên vai trò của hoạt động này đối với phát triển kinh tế - xã hội là không thể phủ nhận được Tác động của việc sản xuất những hàng hóa công không thể đo trực tiếp bằng các chỉ tiêu thông thường như đối với các hàng hóa do doanh nghiệp tư nhân kinh doanh mà phải thông qua ích lợi đem lại cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội Chính vì thế việc đánh giá kết quả của đầu tư công của một địa phương phải thông qua kết quả phát triển kinh tế - xã hội của chính địa phương đó

2.1.3.3 Vai trò của nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội

Vai trò điều hành của nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội là một trong những vấn đề nghiên cứu trọng tâm của các nhà kinh tế qua các thời kỳ Mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lại có các học thuyết, mô hình khác nhau được đưa ra nhằm lý giải về việc nhà nước có nên tham gia tác động vào nền kinh tế và nếu có thì cách thức tác động như thế nào là thích hợp

Mô hình cổ điển về tăng trưởng kinh tế với các đại diện là Adam Smith, David Ricardo được đề ra vào những năm đầu phát triển của kinh tế tư bản cho rằng vai trò của chính phủ là hoàn toàn không cần thiết cho điều hành kinh tế Trên cơ sở những khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng những năm 1929-1933, Keynes đã mạnh mẽ thay đổi quan điểm cổ điển về nền kinh tế có xu hướng tự điều chỉnh đi đến cân đối mới, nơi có công ăn và việc làm đầy đủ cho tất cả mọi người Trong các nghiên cứu của mình ông đánh giá cao vai trò của tiêu dùng trong việc xác định sản lượng và đi đến kết luận, muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp, nhà nước phải thực hiện điều tiết bằng các chính sách kinh tế nhằm tăng cầu tiêu dùng Để đạt được điều này, ông đề nghị sử dụng ngân sách nhà nước để kích thích đầu tư thông qua các đơn đặt hàng của nhà nước và trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp Để thúc đẩy tăng trưởng và giảm lãi suất để kích thích đầu tư, chính phủ chấp nhận lạm phát có mức độ, đẩy mạnh đầu tư vào các công trình công cộng và các biện pháp khác nhau như một cú hích trợ lực khi

Trang 22

đầu tư tư nhân giảm sút

Trường phái kinh tế gần đây ra đời với đại diện là P.A Samuelson, những nội dung cơ bản của lý thuyết này là: Trên thực tế, sản lượng cân bằng thường ở dưới mức sản lượng tiềm năng, trong điều kiện hoạt động bình thường, nền kinh tế luôn có thất nghiệp và lạm phát Nhà nước cần xác định tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và mức lạm phát có thể chấp nhận được Sự cân bằng của nền kinh tế được xác định tại giao điểm của tổng cung và tổng cầu Lý thuyết tăng trưởng kinh tế này cũng thống nhất với cách xác định của mô hình kinh tế tân cổ điển về các yếu tố tác động đến sản xuất Họ cho rằng tổng mức cung của nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của sản xuất, đó là nguồn lao động, vốn sản xuất, tài nguyên thiên nhiên và khoa học công nghệ Y=f (K,L,R,T)

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Samuelson cho rằng thị trường là yếu tố cơ bản điều tiết hoạt động của nền kinh tế Mặt khác, trong sự phát triển kinh tế hiện nay, việc mở rộng kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự can thiệp của nhà nước không chỉ vì thị trường có những khuyết tật, mà còn vì xã hội đặt ra mục tiêu mà dù thị trường có hoạt động tốt cũng không thể đáp ứng được Theo Samuelson trong nền kinh tế hỗn hợp hiện đại, chính phủ có bốn chức năng cơ bản: thiết lập khuôn khổ pháp luật, xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô; tác động vào việc phân bổ tài nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế; thiết lập các chương trình tác động đến việc phân phối lại thu nhập Chính phủ cần tạo ra môi trường ổn định để cho các doanh nghiệp và các hộ gia đình có thể tiến hành sản xuất và trao đổi sản phẩm một cách thuận lợi Chính phủ cũng cần đưa ra những định hướng cơ bản về phát triển kinh tế và những hướng ưu tiên cần thiết cho từng thời kỳ và sử dụng các công cụ như thuế quan, chương trình tín dụng, trợ giá để hướng dẫn các ngành, các doanh nghiệp hoạt động Chính phủ thường xuyên tìm cách duy trì công ăn, việc làm ở mức cao bằng cách đưa ra các chính sách thuế, chi tiêu và tiền tệ hợp lý Đồng thời, chính phủ khuyến khích một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế vững chắc, chống lạm phát và giảm ô nhiễm môi trường Chính phủ thực hiện phân phối lại thu nhập của cải giữa các doanh nghiệp và các hộ gia đình thông qua thuế thu nhập, thuế tài sản và những biện pháp khác Chính phủ cũng thực hiện các hoạt động phúc lợi công cộng như cung cấp phúc lợi cho người già, người tàn tật và những người thất nghiệp

Cho đến nay, vẫn có nhiều nhà kinh tế tiếp tục nghiên cứu về vai trò của nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội Những nghiên cứu này được thực hiện trên

Trang 23

nhiều mặt, trên nhiều quốc gia2 và đã đạt được nhiều kết quả nghiên cứu quan trọng, nhìn chung những nghiên cứu này đều xác định vai trò của nhà nước là cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội

2.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư công 3 :

- Năng lực của cơ quan nhà nước: đây là yếu tố mang tính quyết định đến kết quả đạt được của dự án Để dự án đạt được kết quả mong muốn, các cơ quan thực hiện đầu

tư công và quản lý đầu tư công cần phải bảo đảm nguồn nhân lực về số lượng và chất lượng (sự hiểu biết, trình độ, năng lực) Phải đảm bảo những người phụ trách chính trong dự án có trình độ, năng lực quản lý đáp ứng yêu cầu của dự án

- Kinh phí đây là nhân tố không thể thiếu, khi muốn thực hiện công việc nhìn chung đều cần phải lên kế hoạch chuẩn bị bảo đảm đáp ứng đầy đủ kinh phí cho hoạt động đó Đối với hoạt động đầu tư công, do đây chủ yếu là những hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản quy mô lớn nên vấn đề kinh phí lại càng phải được quan tâm chặt chẽ Nguồn kinh phí đầu tư công chủ yếu là từ ngân sách nhà nước Do nguồn ngân sách này còn phải chi đồng thời cho nhiều khoản chi khác nhau, nhiều dự án khác nhau nên việc bảo đảm đủ kinh phí cho hoạt động đầu tư diễn ra đúng tiến độ là vô cùng quan trọng

- Thủ tục hành chính và các quy định pháp luật: việc thực hiện đầu tư công liên quan đến một loạt các quy chế và thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng

cơ bản, quản lý ngân sách Về nguyên tắc, các thủ tục hành chính cần tạo ra trình tự ổn định và lành mạnh cho hoạt động quản lý tối ưu, tạo điều kiện cho việc thực hiện dự

án được thuận lợi Các quy định pháp luật cần rỏ ràng, minh bạch, có cách hiểu thống nhất, bảo đảm định hướng hoạt động của dự án công đáp ứng đúng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

- Bối cảnh thực tế: các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị, tiến bộ khoa học - công nghệ, đều có ảnh hưởng đến hoạt động, kết quả đạt được của dự án đầu tư Những biến động này đôi khi phải dẫn đến việc điều chỉnh dự án, hoặc ngưng không thực hiện dự

Parliament and Government; Deborah Dera (2007), What is the Role of Government in the Economy?

( 3) Dựa theo tài liệu Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách của TS Lê Chi Mai

Trang 24

dân phản đối, ngăn chặn ngay từ khâu giải tỏa mặt bằng sẽ gặp rất nhiều khó khăn về sau Bên cạnh đó, mỗi dự án được thực hiện sẽ mang lại lợi ích và bất lợi cho những nhóm đối tượng khác nhau và do vậy cũng sẽ nhận được sự ủng hộ và phản đối của các nhóm đối tượng tương ứng

2.1.5 Quy trình thẩm định dự án đầu tư: 4

Công tác thẩm định dự án đầu tư công thường cần xem xét ảnh hưởng của dự án

về tài chính (ngân sách), kinh tế và phân phối thu nhập Toàn bộ quy trình thẩm định

có thể được chia ra làm bốn giai đoạn thẩm định và bốn điểm ra quyết định trước khi

dự án được chấp thuận sau cùng Những giai đoạn này được thể hiện như sau:

- Giai đoạn ý tưởng và định dạng là giai đoạn mang tính phôi thai cho toàn bộ quy trình của dự án, tại giai đoạn này cần phải có một xác định sơ bộ về nhu cầu tương đối của dự án Nếu ngay từ giai đoạn này đã có bằng chứng cho thấy người sử dụng dịch vụ của dự án không đưa dự án vào danh mục ưu tiên của họ thì có thể từ bỏ ý định về dự án trước khi tiến hành các nghiên cứu tiếp theo

- Giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi là nỗ lực đầu tiên nhằm đánh giá triển vọng chung của dự án, thường bao gồm sáu lãnh vực như sau:

+ Phân tích thị trường hay sức cầu nhằm ước tính, định lượng hóa và lý giải chứng minh sức cầu hàng hóa và dịch vụ, giá cả hay các nhu cầu tương đối về dịch vụ

xã hội

+ Phân tích kỹ thuật nhằm xác định một cách chi tiết các thông số đầu vào của dự

án và xây dựng các ước tính về chi phí

+ Phân tích nhân lực và quản lý nhằm định rõ chi tiết nhu cầu về nhân lực cần thiết cho việc thực hiện cũng như vận hành dự án, xác định và định lượng cụ thể nguồn nhân lực

+ Phân tích hiệu quả kinh tế nhằm điều chỉnh các dữ liệu tài chính theo ý nghĩa kinh tế, thẩm định chi phí và lợi ích của dự án trên quan điểm của cả nền kinh tế + Phân tích hiệu quả xã hội nhằm thẩm định dự án theo quan điểm của những đối tượng được hưởng lợi từ dự án và những đối tượng phải chịu chi phí cho dự án Khi có thể được, cần lượng hóa lợi ích thụ hưởng và chi phí phải chịu của các nhóm này

( 4 ) Tóm lược từ tài liệu Thẩm định dự án đầu tư của chương trình giảng dạy Trường Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh

Trang 25

Sơ đồ: Quy trình thẩm định dự án

Giai đoạn nghiên cứu khả thi là giai đoạn nghiên cứu khả năng dự án có thể đáp ứng các tiêu chí về tài chính, kinh tế và xã hội mà chính quyền đề ra cho các khoản đầu tư hay không Chức năng của giai đoạn này là nhằm tăng cường mức độ chính xác các tính toán những biến số chủ chốt nếu dự án cho thấy có triển vọng thành công Chính vào cuối giai đoạn này là lúc mà quyết định quan trọng nhất phải được đưa ra là liệu có nên chấp thuận dự án không

- Giai đoạn thiết kế chi tiết là lúc phải xác định rõ các yêu cầu kỹ thuật, tăng cường độ chính xác của mọi dữ kiện đã được sử dụng trong các phần phân tích trước

đó để có thể xây dựng kế hoạch vận hành chính thức Sau khi quy trình này hoàn tất,

dự án sẽ được xem xét lại một lần nữa để xác định có còn đáp ứng được những tiêu chuẩn đề ra để được phê duyệt và thực hiện hay không

- Giai đoạn thực hiện dự án bao gồm việc điều phối và phân bổ tài nguyên hay nguồn lực để dự án có thể hoạt động Một kế hoạch đúng đắn ở giai đoạn này là rất quan trọng để bảo đảm dự án không bị trì hoãn một cách không cần thiết, cũng như hình thành các quy trình hành chính phù hợp để điều phối hài hòa mọi hoạt động cần thiết để thực hiện dự án

2.1.6 Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí:

Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí là một phương pháp để đánh giá sự mong muốn tương đối giữa các phương án cạnh tranh nhau, khi sự lựa chọn được đo lường bằng trị giá kinh tế tạo ra cho toàn xã hội Phương pháp này tìm ra sự đánh đổi giữa các lợi ích thực mà xã hội có được từ một phương án cụ thể với các nguồn tài nguyên

Ý tưởng và định dạng là mốc ra quyết định

Nghiên cứu tiền khả thi

Nghiên cứu khả thi

Thống kê chi tiết

Thực hiện dự án

Trang 26

thực mà xã hội phải từ bỏ để đạt được lợi ích đó Đây là một phương pháp thường được các nước phát triển áp dụng trong việc thẩm định các dự án công và các dự án tư

có quy mô rất lớn Điểm đặc trưng của phương pháp này là việc lượng hóa một cách đầy đủ các lợi ích và chi phí của xã hội và dựa trên đó đưa ra quyết định lựa chọn các phương án thay vì chỉ dựa trên các chỉ tiêu tài chính Hiện nay ở Việt Nam việc áp dụng phương pháp này vẫn còn rất ít

Một cách tổng quan, phương pháp phân tích lợi ích - chi phí bao gồm các bước sau:

(1) Nhận dạng vấn đề và xác định các phương án giải quyết

(2) Nhận dạng các lợi ích và chi phí xã hội của mỗi phương án

(3) Đánh giá lợi ích và chi phí của mỗi phương án

(4) Lập bảng lợi ích và chi phí hàng năm

(5) Tính toán lợi ích xã hội ròng của mỗi phương án

(6) So sánh các phương án theo lợi ích xã hội ròng

(7) Kiểm tra ảnh hưởng của sự thay đổi trong giả định và dữ liệu

(8) Đưa ra đề nghị cuối cùng

2.1.7 Lý thuyết người đại diện và người quản lý 5

Lý thuyết đại diện: Trong những năm 1960 và đầu thập niên 1970, các nhà kinh

tế học đã nghiên cứu vấn đề chia sẻ rủi ro là một vấn đề phát sinh khi các bên hợp tác

có thái độ khác nhau đối với rủi ro, lý thuyết đại diện hướng đến các mối quan hệ đại diện ở khắp nơi, khi một bên (chủ sở hữu) ủy quyền cho một bên khác (người đại diện)

để thực hiện công việc cho mình Lý thuyết đại diện liên quan đến việc giải quyết hai vấn đề có thể xảy ra trong mối quan hệ đại diện Vấn đề đầu tiên là vấn đề đại diện phát sinh khi (a) sự động lực hay mục tiêu của người chủ và người đại diện xung đột

và (b) là khó khăn hoặc tốn kém cho người chủ để xác minh những gì các người đại diện thực sự làm Vấn đề ở đây là người chủ không thể xác minh các người đại diện đã làm việc như thế nào có đúng hay không Vấn đề thứ hai là vấn đề chia sẻ rủi ro phát sinh khi người chủ và người đại diện có thái độ khác nhau đối với rủi ro Vấn đề ở đây

là người chủ và người đại diện có thể thích hành động khác nhau bởi vì nhận thức của

họ khác nhau

(5) Kathleen M.Eisenhardt (1989) Theory: An Essessment and Review Richard c Box (1999) Running Government Like a Business: Implications for Public Administration Theory and Practice

Trang 27

Lý thuyết người chủ - người đại diện: các nhà kinh tế học đã nghiên cứu và áp

dụng trong lĩnh vực công, với các mâu thuẫn phát sinh trong mối quan hệ giữa công dân (người chủ) và các chính trị gia (người đại diện của họ) và giữa các chính trị gia (trường hợp này người chủ) và lực lượng công nhân viên chức (người đại diện của họ) Người ta cho rằng các người đại diện một cách tự nhiên sẽ làm việc ít hơn so với những gì người chủ mong muốn thực hiện hoặc thậm chí không thực hiện Đây là vấn

đề trốn tránh trách nhiệm, và người chủ sẽ phản ứng bằng cách tìm kiếm thông tin về các hoạt động của người đại diện; gây tốn kém về thời gian và tiền bạc Vì vậy, người chủ cần tìm kiếm một mức lương thích hợp để tạo động lực cho các người đại diện và một mức độ giám sát mà không quá tốn kém nhưng thuyết phục

Những luận điểm này là hành vi ở các tổ chức công Các công cụ quản lý tại khu vực công được căn cứ vào các giả định rằng nhân viên sẽ trốn tránh trách nhiệm và việc giám sát là cần thiết Trọng tâm là xác định được hiệu suất một cách rõ ràng, thông qua các cơ chế như các hợp đồng được quy định rõ ràng hoặc các hệ thống thanh toán dựa trên hiệu suất Ví dụ, tại New Zealand, nhiều tổ chức công đã được thay đổi

để "các nhà quản lý hàng đầu được thuê theo hợp đồng, được thưởng dựa theo hiệu suất làm việc, và có thể bị sa thải nếu cách làm việc của họ không tiến bộ" (Kettl,

1997, p 448) Mặc dù cấu trúc đơn giản này được xây dựng phức tạp hơn cùng với dữ liệu mang tính thực nghiệm về tính ứng dụng của nó (Waterman & Meier, 1998), đây vẫn là một công cụ mạnh đối với các nhà cải cách chính phủ đương thời

2.1.8 Các nguyên lý của mô hình Harrod – Domar6: Kết quả nghiên cứu độc lập của nhà kinh tế học Harrod (1939) và Domar (1946, 1947) về tăng trưởng được thế giới công nhận và đặt tên là mô hình Harrod-Domar Nguồn gốc của tăng trưởng kinh

tế chính là lượng vốn sản xuất tăng thêm (∆K, Incremental Capital) hay tiết kiệm (Savings, S) Khi vốn sản xuất (K) thay đổi, sản lượng quốc gia (Y) sẽ thay đổi

Như vậy: ∆K→∆Y Mối quan hệ giữa thay đổi vốn và thay đổi sản lượng qua hệ số gia tăng vốn – đầu ra (ICOR, Incremetal capital-output rate)

Trang 28

Trong phương trình (4), đầu tư có được từ tiết kiệm Mô hình giả định trong nền kinh

tế đóng, nên đầu tư ngang bằng với tiết kiệm

Thế phương trình (4) và (7) vào phương trình (5), ta có:

𝑌 : Tốc độ tăng trưởng của sản lượng quốc gia

Đặt gY: Tốc độ tăng trưởng của sản lượng quốc gia, thế vào phương trình (9), ta có tăng trưởng Harrod – Domar:

Thay đổi sản lượng hoặc tăng trưởng phụ thuộc vào vốn sản xuất tăng thêm hoặc đầu

tư mới hàng năm của nền kinh tế

Vốn sản xuất với hình thái vật chất là các tài sản cố định nên bị hao mòn theo thời gian Gọi 𝛿 là tỷ lệ khấu hao vốn hàng năm, mức khấu hao vốn sẽ là 𝛿K, phương trình (1), viết lại:

Trang 29

Trong điều kiện nền kinh tế mở, có khu vực nước ngoài, tiết kiệm quốc gia bao gồm tiết kiệm trong nước và tiết kiệm khu vực nước ngoài Do đó, mở rộng tiết kiệm khu vực nước ngoài- đầu tư nước ngoài vào trong nước là chìa khóa để các nước đang phát triển nhanh chóng mở rộng vốn, đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế

- Ứng dụng trong dự báo: Dự báo tốc độ tăng trưởng; dự báo đầu tư cho một giai đoạn; dự báo quy mô GDP ở thời điểm t

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước:

- TS Cù Chí Lợi (2009) trong quyển sách nghiên cứu về "Tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam", đã đề cập đến tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng của Việt Nam trong những năm qua thông qua phân tích các yếu tố đầu vào như phân tích các nguồn vốn đầu tư cho phát triển từ khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân, đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

- TS Mai Văn Nam (2008) trong đề tài nghiên cứu "Hiệu quả đầu tư phát triển ở thành phố Cần Thơ" thực hiện phân tích hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho tăng trưởng

và phát triển kinh tế ở thành phố Cần Thơ thông qua phương pháp thống kê mô tả; thông qua mô hình tăng trưởng Solow để phân tích sự đóng góp của vốn đầu tư và lao động trong tăng trưởng kinh tế; thông qua phân tích hệ số ICOR để đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển; kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số ICOR của Cần Thơ cao hơn hệ số

Trang 30

ICOR của Đồng bằng Sông Cửu Long từ năm 2004-2006; nghiên cứu đã đề xuất giải pháp thu hút vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hiệu quả như cải thiện môi trường đầu

tư, có chính sách ưu đãi đầu tư hợp lý, đầu tư cần có trọng tâm, trọng điểm gắn với lợi thế địa phương, phù hợp với nhu cầu phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực theo từng giai đoạn, tránh đầu tư dàn trãi, dự án đầu tư cần phải được thẩm định, kiểm tra, giám sát trước, trong và sau khi kết thúc dự án; cần đầu tư đào tạo lao động có tay nghề để nâng cao chất lượng; tăng cường đầu tư và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất

- Tác giả Nguyễn Hoàng Anh (2008) trong luận văn Thạc sĩ kinh tế “Hiệu quả quản lý đầu tư công tại thành phố Hồ Chí Minh vấn đề và giải pháp”, thông qua phương pháp thống kê mô tả, thông qua việc đánh giá, phân tích tình hình quản lý đầu

tư công trên địa bàn thành phố, luận văn đã tập trung trình bày về thực trạng đầu tư công trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, phân tích một số bằng chứng về những hạn chế trong công tác quản lý đầu tư tại thành phố trong quản lý đầu tư công là: năng lực

bộ máy cơ quan nhà nước còn yếu do không có động lực thúc đẩy và cơ chế giám sát

đủ mạnh; quy định về cách thức thẩm định, lựa chọn dự án công còn đơn giản chưa định lượng được lợi ích kinh tế - xã hội; các chế tài xử lý vi phạm không đủ mạnh; cơ chế quản lý kinh phí cho đầu tư chưa phù hợp Do vậy, tác giả đã đề xuất một số giải pháp là: tăng cường hoạt động kiểm tra giám sát, thực hiện phân tích lợi ích - chi phí, cải cách thủ tục đầu tư, thu hút thêm các nguồn lực ngoài ngân sách vào đầu tư công

- Tác giả Nguyễn Thiện Thức (2010) trong luận văn Thạc sĩ về "Phân tích các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế thành phố Cần Thơ" thông qua phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích hồi quy, tác giả đã tính toán mức độ đóng góp của hai yếu tố chính đó là vốn đầu tư và lao động đến tăng trưởng kinh tế, sử dụng phân tích hệ số ICOR để xác định hiệu quả đầu tư

- Tác giả Trần Thị Hồng Thái (2014) trong luận văn Thạc sĩ về "Tác động đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Lào Cai" thông qua phương pháp thống kê mô tả, ứng dụng mô hình Harrod - Domar tính toán tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh

tế, sử dụng phân tích hệ số ICOR để xác định hiệu quả đầu tác, tác giả đã tính toán, so sánh đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, từ khu vực tư nhân tác động đến tăng trưởng kinh tế Đề tài cho thấy hiệu quả đầu tư khu vực công thấp, tác giả đã đưa ra giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư khu vực tư để giảm áp lực tài chính cho khu vực công, tạo cơ hội đầu tư hiệu quả cho khu vực công

Trang 31

Nhìn chung những công trình nghiên cứu này đã đánh giá, giải quyết các vấn đề liên quan đến tác động của đầu tư đối với tăng trưởng, mối quan hệ giữa chi tiêu ngân sách với việc phát triển xã hội, đưa ra các giải pháp cần thiết như tạo các điều kiện để

đa dạng hóa các nguồn đầu tư, tập trung nguồn lực của nhà nước vào các lĩnh vực cần thiết, nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội Riêng đối với công tác quản lý đầu tư công, còn chưa có nhiều công trình đi sâu vào nghiên cứu một cách cụ thể, do vậy việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa hết sức cần thiết về cả mặt lý luận

và thực tiễn

Trang 32

CHƯƠNG 3

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong nghiên cứu này tác giả đi sâu nghiên cứu đầu tư từ ngân sách nhà nước; vấn đề cần tập trung giải quyết là các hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư công bao gồm: năng lực của cơ quan nhà nước, kinh phí phân bổ vốn đầu tư từ ngân sách, đấu thầu dự án, thẩm định dự án; về số liệu để nghiên cứu sẽ thu thập:

Báo cáo của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ về kinh tế - xã hội của thành phố Cần Thơ từ năm 2004 đến năm 2014; báo cáo tổng kết 10 Chương trình và 4 đề

án, báo cáo sơ kết thực hiện Quyết định số 366/QĐ-TTg ngày 20 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Kế hoạch triển khai tiếp Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ giai đoạn 2009-2015; Cần Thơ 35 năm phát triển và hội nhập (1975-2010); Niên giám Thống kê của Cục Thống kê Cần Thơ từ năm 2004 đến năm 2013 và số liệu của phòng tổng hợp của Cục Thống kê Cần Thơ; Báo cáo của Sở Tài chính Cần Thơ: đánh giá chi tiêu công từ năm 2009 đến năm 2014, báo cáo quyết toán ngân sách từ 2004 đến năm 2014

và báo cáo thực hiện quyết toán dự án hoàn thành vốn đầu tư xây dựng cơ bản; Báo cáo số liệu và đánh giá về vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Cần Thơ và các báo cáo khác có liên quan; Báo cáo của cơ quan Kiểm toán nhà nước về sử dụng ngân sách; Báo cáo thanh tra của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về thanh tra sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách trên địa bàn thành phố Cần Thơ; Báo cáo của thanh tra Bộ Tài chính về thanh tra tài chính – ngân sách thành phố Cần Thơ Luận văn nghiên cứu theo các bước và quy trình như sau:

Lý thuyết đầu tư Đầu tư công

Thu thập và xử lý số

liệu

Phân tích các hạn chế

Kết quả và kết luận

Trang 33

3.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu:

- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập niên giám thống kê; Báo cáo khoa học có

liên quan; Thu thập số liệu về tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tổng vốn đầu tư của khu vực công, vốn đầu tư khu vực tư; tổng GDP của thành phố Cần Thơ, GDP khu vực công, GDP khu vực tư; Số liệu chi đầu tư, số liệu GDP của cả nước từ năm 2004 đến năm 2014 tất cả số liệu trong luận văn được Phòng tổng hợp của Cục Thống kê Cần Thơ cung cấp; Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ Báo cáo tổng kết thực hiện 10 Chương trình mục tiêu 4 đề án của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ; Niên giám thống kê thành phố Cần Thơ từ năm 2004 đến năm 2014; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ; số liệu quyết toán thu – chi ngân sách từ năm 2004 đến năm 2014 của Sở Tài chính Cần Thơ, Báo cáo tổng hợp kinh tế - xã hội của Sở Kế hoạch và Đầu tư, báo cáo của Kho bạc nhà nước Cần Thơ;

và tham khảo số liệu từ các tài liệu có liên quan của Cục Thống kê Cần Thơ

- Phương pháp chuyên gia: thảo luận, lấy ý kiến chuyên gia trong các lĩnh vực có

liên quan đến quản lý, sử dụng vốn đầu tư

3.1.2 Phương pháp xử lý số liệu:

Tác giả thu thập số liệu, tính toán và được thể hiện bằng biểu bảng của excel về

số liệu như: GDP của thành phố Cần Thơ, GDP khu vực công, GDP khu vực tư các năm từ 2004 đến 2014; thu – chi ngân sách từ năm 2004 đến năm 2014; số liệu nguồn vốn đầu tư từ năm 2004 đến năm 2014; trong đó phân tích, mô tả, so sánh nguồn vốn đầu tư từ khu vực công, khu vực tư nhân, nguồn vốn trong nước, nguồn vốn ngoài

nước; so sánh hiệu quả đầu tư cả nước với hiệu quả đầu tư của thành phố Cần Thơ

Về cơ sở số liệu, do đây là các số liệu kinh tế vĩ mô như GDP, tổng vốn đầu tư, vốn đầu tư từ ngân sách, nên luận văn sử dụng số liệu công bố trên trang Web www.gso.gov.vn của Tổng cục Thống kê và số liệu trong Niên giám thống kê của Cục Thống kê thành phố và phòng tổng hợp của Cục Thống kê cung cấp hỗ trợ cánh tính toán Số liệu sử dụng là số liệu tính theo giá so sánh năm 2010 nhằm loại bỏ tác động của yếu tố trượt giá đến kết quả tính toán Về phương pháp tính toán, tác giả sử dụng cách tính như sau:

Đối với số liệu vốn đầu tư của thành phố Cần Thơ, do Cục Thống kê thành phố chỉ cung cấp số liệu tính theo giá thực tế, nên tác giả đã sử dụng phương pháp quy đổi

về giá so sánh năm 2010 thông qua hệ số GDP deflator (GDP deflator = GDP theo giá

Trang 34

thực tế / GDP theo giá so sánh) Khi đó vốn đầu tư tính theo giá so sánh năm 2010 = vốn đầu tư tính theo giá thực tế / GDP deflator

Đối với đánh giá hiệu quả đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế, để đơn giản hóa trong việc so sánh, tính toán, tác giả sử dụng độ trễ trung bình trong đầu tư là một năm, nhằm đưa ra một ước lượng sơ bộ về hiệu quả của đầu tư Cụ thể là tác giả sử dụng các công thức sau trong việc tính toán các chỉ tiêu:

ICOR năm t =∆𝐾

∆𝑌 =𝑌(𝑡)−𝑌(𝑡−1)K(t)−𝐾(𝑡−1)ICOR(NS)năm t= ∆K(Vốn đầu tư ngân sách)

∆Y = K(t)vốnĐTNS−𝑌(𝑡)−𝑌(𝑡−1)K(t−1)(Vốn đầu tư ngân sách)

3.2 Phương pháp phân tích

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê, mô tả để phân tích thực trạng đầu tư, đầu tư công trong giai đoạn 2004-2014 qua bảng số liệu, biểu đồ, kết hợp với phương pháp chuyên gia thông qua việc tham khảo các ý kiến, gồm: Phòng tổng hợp UBND thành phố Cần Thơ, Kiểm toán nhà nước Khu vực 5, Ban Kinh tế ngân sách thành phố, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Tài chính, Hội đồng thẩm định

dự án, tổ công tác thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành, báo cáo của chuyên gia trong ngành

Trang 35

Có cầu Cần Thơ qua sông Hậu đã xây dựng xong được đưa vào sử dụng, sân bay quốc

tế đang được nâng cấp, luồng Định An đang được chỉnh trị, các tuyến đường giao thông huyết mạch đang được xây dựng càng giúp phát huy tiềm năng vị trí của thành

Trang 36

phố Cần Thơ Phấn đấu theo Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 17 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị

Ngoài ra, trong một số lĩnh vực kinh tế, thành phố Cần Thơ có khả năng vươn xa đến thành phố Hồ Chí Minh và vùng trọng điểm kinh tế phía Nam Với vị trí địa lý trung tâm và quá trình phát triển thành đô thị lớn nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Cần Thơ là cửa ngõ giao lưu chính của vùng Tây Nam sông Hậu với vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng Bắc sông Tiền và vùng trọng điểm kinh tế phía Nam;

là giao điểm của nhiều tuyến giao thông thủy bộ quan trọng như:

- Về đường bộ: trục thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ; từ Cần Thơ rẽ các nhánh

đi Cà Mau, Kiên Giang và Long Xuyên - Châu Đốc hướng về Phnom Pênh

- Về đường thủy: trục sông Hậu nối từ biển Đông đến Phnom Pênh, trên đó có trên 55 km ngang qua Cần Thơ; ngoài ra, còn có 2 trục đường thủy quốc gia quan trọng hướng về thành phố Hồ Chí Minh là trục Cái Sắn (từ Rạch Giá ra sông Hậu) và trục Xà No (từ Cà Mau qua Cần Thơ)

4.2 Dân số

Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009 thành phố có 1.189.555 người, trong

đó 65,83% là dân thành thị; dân tộc Kinh chiếm 96,95%; mật độ dân số 848 người/km2, quận Ninh Kiều có mật độ dân cư đông nhất 8.407 người/km2 và mật độ dân cư thấp nhất là huyện Vĩnh Thạnh 274 người/km2

Dân số thành phố Cần Thơ tăng từ 1.189.555 người năm 2009 lên 1.242.000 người năm 2014 là 1.242.000 người tăng bình quân 1,006%o/năm

Dân số đô thị có khuynh hướng tăng nhanh, tốc độ tăng rất nhanh 9,21%/năm giai đoạn 2000-2009, do từ năm 2003 một số vùng lãnh thổ của một số huyện được nâng thành quận và đa số dân nhập cư đều vào đô thị, năm 2014 dân số đô thị 822.222 người

Dân số nông thôn giảm rất nhanh, giảm bình quân -6,34%/năm trong giai đoạn 2000-2009 do một phần của một số huyện được đô thị hóa Năm 2009, dân số nông thôn chỉ còn bằng 55,46% nãm 2000, năm 2014 là 417.842 người

Thành phố Cần Thơ được chia làm 9 đơn vị hành chính gồm 5 quận và 4 huyện Tổng số thị trấn, xã, phường là 85, trong đó có 5 thị trấn, 44 phường và 36 xã (tính từ thời điểm ban hành Nghị định số 12/NĐ-CP)

Trang 37

Quận Bình Thủy

Quận Cái Răng

Quận

Ô Môn

Quận Thốt Nốt

Huyện Phong Điền

Huyện

Cờ Đỏ

Huyện Thới Lai

Huyện Vĩnh Thạnh Diện tích

(km²) 29,2 70,59 62,53 125,41 117,87 119,48 310,48 255,66 297,59Dân số

2009(người) 243.794 133.565 86.278 129.683 158.255 99.328 124.069 120.964 112.529Mật độ dân số

Số đơn vị

hành chính

13 phường

8 phường

7 phường

7 phường

9 phường

1 thị trấn và

Nguồn: Website Thành phố Cần Thơ

4.3 Đánh giá tổng quát những tiềm năng và khả năng phát huy các lợi thế so sánh vào mục tiêu phát triển của thành phố

Với vị trí địa lý kinh tế, tiềm năng về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực, thành phố Cần Thơ có một số lợi thế nhất định cho công cuộc phát triển kinh

tế - xã hội trong thời gian sắp tới:

- Thành phố Cần Thơ nằm trên các trục tuyến giao thông thủy bộ quan trọng nhất của tiểu vùng Tây sông Hậu, là điểm giao lưu kinh tế lớn trong Tứ giác năng động Cần Thơ - Cà Mau - An Giang - Kiên Giang

Đây là điều kiện thuận lợi để thành phố phát triển đồng bộ các khu vực kinh tế, xây dựng các khu kinh tế mang tính chất vùng như khu công nghiệp theo hướng chế biến nông, ngư nghiệp, thủy sản và phục vụ nông, ngư nghiệp, khu công nghiệp có công nghệ cao, khu cảng biển và sân bay hàng không quốc tế, khu thương mại tập trung,…, tương ứng với nhịp độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của toàn vùng

- Thành phố Cần Thơ còn giàu và đa dạng về tài nguyên đất đai nông nghiệp có khả năng hình thành các vùng chuyên canh lớn, vvv, tạo hàng hóa chất lượng cao và tập trung, có khả năng thâm nhập thị trường xuất khẩu

- Dân số khá dồi dào về số lượng và chất lượng, năng động, nếu được đào tạo liên tục trong 10-15 năm, sẽ là một nguồn nhân lực ṇòng cốt cho công cuộc phát triển thành phố và toàn vùng

Nhìn chung, Cần Thơ là thành phố giàu tiềm năng, có vai trò quan trọng cả về kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng đối với vùng ĐBSCL, nếu được tập trung đầu

Trang 38

tư xây dựng và phát triển nhanh, toàn diện, thành phố Cần Thơ sẽ là động lực phát triển của toàn vùng

4.4 Mức độ đóng góp đầu tư công tác động đến tăng trưởng kinh tế trên địa bàn thành phố Cần Thơ

4.4.1 Khái quát tình hình thu, chi ngân sách trên địa bàn:

Thành phố Cần Thơ là một trong 13 tỉnh, thành có số thu điều tiết về Trung ương Trong những năm đầu khi chia tách tỉnh 2004-2006, theo quy định thành phố Cần Thơ thực hiện điều tiết về Trung ương 50% các khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương Ở giai đoạn này, do mới chia tách nên số thu được hưởng của thành phố không cao và phải thực hiện điều tiết về Trung ương, trong khi đó nhu cầu đầu tư nâng cấp, xây dựng mới cơ sở hạ tầng và nhu cầu chi thường xuyên cũng tăng, vì vậy, ngân sách thành phố gặp rất nhiều khó khăn Giai đoạn 2007-2010 để tạo điều kiện cho Cần Thơ chủ động trong điều hành ngân sách và gia tăng vốn đầu tư, trung ương cho địa phương hưởng tỷ lệ điều tiết về trung ương đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương là 4%; Giai đoạn 2011-2015 tỷ lệ điều tiết về trung ương đối với các khoản thu phân chia

giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương là 9% Vì vậy, số chi từ ngân sách

địa phương cho đầu tư được gia tăng, bên cạnh đó Trung ương cũng có nhiều dự án đầu tư tại địa phương Tuy nhiên nguồn vốn cho đầu tư phát triển thời gian này rất hạn chế, chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu, thành phố không được Trung ương hỗ trợ vốn đối ứng đầu tư các công trình có sử dụng vốn ODA, vốn phát triển hạ tầng các khu công nghiệp; tổng mức dư nợ từ nguồn vốn huy động chỉ được 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản ngân sách thành phố7 Đứng trước khó khăn đó, thành phố đã có nhiều nỗ lực trong việc huy động các nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, trong đó phải kể đến sự quan tâm của trung ương trong việc gia tăng nguồn đầu tư từ ngân sách trung ương hỗ trợ cho các công trình trên địa bàn và cho các công tŕnh trọng điểm có tính chất vùng, từ đó góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của thành phố

Với các quy định theo Luật Ngân sách nhà nước hiện hành, trong những năm qua tại thành phố, quản lý nguồn thu ngân sách nhà nước được hình thành theo 3 nguồn, đó

là thu ngân sách nhà nước tại địa phương, thu từ Trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho ngân sách thành phố, thu vay theo khoản 3 điều 8 Luật Ngân sách

( 7 ) Báo cáo sơ kết ngày 23/12/2014 của UBNDTP Cần Thơ về thực hiện QĐ số 366/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Trang 39

Tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) trên địa bàn thành phố năm 2004 là 2.326

tỷ đồng, đến năm 2014 là 12.172 tỷ đồng, bằng 523 % so với năm 2004

Trang 40

Bảng 4.2 Thu, chi ngân sách TP Cần Thơ từ năm 2004-2014:

Nội dung 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014

Tốc độ tăng (từ 2004 đến 2014)

Chi đầu tư phát triển 504 715 744 738 986 1.779 2.179 2.442 2.754 2.838 2.985 19,47

Nguồn: Báo cáo quyết toán năm 2004-2014 của Sở Tài chính

Ngày đăng: 13/03/2017, 23:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương (2005). Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương
Năm: 2005
2. Chính phủ (2006). Quyết định số 42/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế tài chính ngân sách ưu đãi đối với thành phố Cần Thơ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 42/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế tài chính ngân sách ưu đãi đối với thành phố Cần Thơ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
3. Chính phủ (2009). Quyết định số 366/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Kế hoạch triển khai tiếp Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ giai đoạn 2009-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính" phủ (2009). "Quyết định số 366/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Kế hoạch triển khai tiếp Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ giai đoạn 2009-2015
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
4. Nguyễn Thị Cành, Nguyễn Văn Phúc (1999). Vận dụng các mô hình toán trong phân tích và dự báo kinh tế, NXB Thống kê, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng các mô hình toán trong phân tích và dự báo kinh tế
Tác giả: Nguyễn Thị Cành, Nguyễn Văn Phúc
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1999
5. Cục Thống kê thành phố Cần Thơ (2013). Niên giám Thống kê 2012, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê 2012
Tác giả: Cục Thống kê thành phố Cần Thơ
Năm: 2013
6. Cục Thống kê thành phố Cần Thơ (2014). Niên giám Thống kê 2013, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê 2013
Tác giả: Cục Thống kê thành phố Cần Thơ
Năm: 2014
7. Đinh Phi Hổ, Lê Ngọc Uyển, Lê Thị Thanh Tùng (2006). Kinh tế Phát triển - Lý thuyết và thực tiễn, NXB Thống kê, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Phát triển - Lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: Đinh Phi Hổ, Lê Ngọc Uyển, Lê Thị Thanh Tùng
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
8. Đinh Phi Hổ, Nguyễn Văn Phương (2015). Kinh tế Phát triển – Căn bản và nâng cao, Nhà xuất bản kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Phát triển – Căn bản và nâng cao
Tác giả: Đinh Phi Hổ, Nguyễn Văn Phương
Nhà XB: Nhà xuất bản kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
9. Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Cần Thơ (2005). Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ từ 2006-2010, Cần Thơ; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ từ 2011-2015, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở" Kế hoạch và Đầu tư thành phố Cần Thơ (2005). "Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ từ 2006-2010, Cần Thơ; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ từ 2011-2015
Tác giả: Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Cần Thơ
Năm: 2005
12. Ban chấp hành Trung ương (2012). Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW, ngày 17-02-2005 của Bộ Chính trị (khóa IX)“Về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW, ngày 17-02-2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) "“Về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương
Năm: 2012
10. Trung tâm học liệu Trường Đại học Cần Thơ, Luận văn Thạc sĩ của các khóa, và các tài liệu liên quan Khác
11. Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ (2010). Cần Thơ 35 năm phát triển và hội nhập(1975-2010) Khác
13. Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ (2014). Sơ kết thực hiện Quyết định số 366/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch triển khai tiếp Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị Khác
14. Các tài liệu học của Trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh: tài liệu môn Kinh tế phát triển, tài liệu môn vĩ mô, tài liệu môn vi mô, tài liệu môn quản trị tài chính công liên quan đến đề tài Khác
15. Sở Tài chính thành phố Cần Thơ (từ năm 2004 đến năm 2014), Báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Cần Thơ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w