Theo cách tiếp cận này, về cấu trúc của nền hành chính nhà nước bao gồm các yếu tố: Thứ nhất, hệ thống thể chế hành chính bao gồm Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và các văn bản qui phạm về
Trang 1TRỊNH HOÀNG NHỚ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CƠ QUAN CÔNG QUYỀN - DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH
CÔNG - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRỊNH HOÀNG NHỚ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CƠ QUAN CÔNG QUYỀN - DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH
CÔNG - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH CÀ MAU
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THỊ HUYỀN
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Ngày tháng năm 2016
Tác giả
Trịnh Hoàng Nhớ
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1.SỰCẦNTHIẾTCỦAVẤNĐỀNGHIÊNCỨU 1
1.2.MỤCTIÊUNGHIÊNCỨU 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3.CÂUHỎINGHIÊNCỨU 3
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5.2 Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích thông tin 4
1.6 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU 5
1.7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 5
CHƯƠNG 2: ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CÔNG, DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG VÀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CÔNG 6
2.1 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CÔNG VÀ PHÂN CẤP HÀNH CHÍNH 6
2.1.1 Khái niệm và chức năng của đơn vị hành chính công 6
2.1.2 Các mức độ của phân cấp hành chính 7
2.1.3 Các yếu tố cấu thành nền hành chính Việt Nam 8
2.1.4 Những đặc tính chủ yếu của nền hành chính nhà nước Việt Nam 8 2.2 DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG VÀ KHẢ NĂNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ
Trang 5HÀNHCHÍNHCÔNGỞCHÍNHQUYỀNĐỊAPHƯƠNG 11
2.2.1 Khái niệm và đặc trưng của dịch vụ hành chính công 12
2.2.1.1 Khái niệm dịch vụ hành chính công 12
2.2.1.2 Đặc trưng của dịch vụ hành chính công 13
2.2.2 Phân loại dịch vụ hành chính công 15
2.2.2.1 Các dịch vụ cấp giấy phép 15
2.2.2.2 Các dịch vụ đăng ký và cấp giấy chứng nhận 15
2.2.2.3 Các dịch vụ công chứng, chứng thực 16
2.2.2.4 Hoạt động thu các khoản đóng góp vào ngân sách, các quỹ của nhà nước 16
2.2.2.5 Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm hành chính 17
2.2.3 Vai trò, phân cấp dịch vụ hành chính công ở chính quyền địa phương 17 2.2.3.1.Vai trò của chính quyền địa phương 17
2.2.3.2 Phân cấp cung ứng dịch vụ hành chính công ở chính quyền địa phương 18
2.2.2.3 Dịch vụ hành chính công hiệu quả 19
2.2.4 Một số nhân tố tác động đến dịch vụ hành chính công 19
2.2.4.1 Tác động do phát triển kinh tế 19
2.2.4.2 Tác động do đô thị hóa và gia tăng dân số 19
2.2.4.3 Tác động do công nghệ thông tin phát triển 20
2.2.4.4 Tác động của hội nhập và toàn cầu hóa 21
2.3 CHƯƠNG TRÌNH TỔNG THỂ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CÔNG Ở VIỆT NAM 21
2.3.1 Mục tiêu về chương trình cải cách hành chính đến năm 2020 22
2.3.2 Nội dung cơ bản và lộ trình về cải cách hành chính 22
2.3.3 Những văn bản pháp lý liên quan đến cải cách hành chính công 24
2.4.MỘT SỐKINHNGHIỆMVÀ GIẢIPHÁPCẢI CÁCHHÀNH CHÍNHỞTP ĐÀNẴNGVÀTỈNHANGIANG 24
2.4.1 Kinh nghiệm cải cách hành chính ở TP Đà Nẵng 24
2.4.2 Kinh nghiệm cải cách hành chính ở tỉnh An Giang 26
Trang 62.5.MỘTSỐBÀI HỌCKINHNGHIỆMCỦATP.ĐÀNẴNG, TỈNHANGIANG CẦNNGHIÊNCỨUÁPDỤNGTRONGQUÁTRÌNHCẢICÁCHHÀNHCHÍNH
TỈNHCÀMAUGIAIĐOẠN2011-2016 28
CHƯƠNG 3: THỰC HIỆN CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CÔNG VÀ KHẢ NĂNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG Ở CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2011-2015 29
3.1 ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH KINH TẾ – XÃ HỘI 29
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau 29
3.1.2.1 Dân số và lao động 29
3.1.2.2 Về tăng trưởng kinh tế 30
3.1.3 Đặc điểm hành chính, dân cư 30
3.2 BIÊN CHẾ VÀ QUÁ TRÌNH SẮP XẾP CÔNG CHỨC THEO VỊ TRÍ VIỆC LÀM VÀ CƠ CẤU NGẠCH CÔNG CHỨC TẠI CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 31
3.2.1 Về tổ chức bộ máy hành chính 31
3.2.2 Biên chế công chức 32
3.2.3 Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức 33
3.2.4 Sắp xếp công chức theo vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức giai đoạn 2011-2015 35
3.3 THỰC HIỆNCHẾ ĐỘ TỰ CHỦ, TỰ CHỊUTRÁCH NHIỆM VỀ SỬ DỤNG KINH PHÍ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH TẠI ĐƠN VỊHÀNH CHÍNH Ở CÀ MAU GIAIĐOẠN2011-2015 38
3.4 KHẢ NĂNG CUNG ỨNG VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TẠI CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2011 -2015 41
3.4.1 Cải cách thủ tục hành chính 41
3.4.2 Chất lượng dịch vụ hành chính công tại các đơn vị hành chính 44 3.5 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CẢI CÁCH DỊCH VỤ
Trang 7HÀNHCHÍNHCÔNG 48
3.6 NHỮNG HẠN CHẾ TRONG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH - CUNG ỨNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TẠI CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 50
3.6.1 Về cải cách thể chế, tổ chức bộ máy 51
3.6.2 Cải cách thủ tục hành chính 51
3.6.3 Về biên chế, sắp xếp theo trị trí việc làm; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức 51
3.6.4 Hiện đại hóa hành chính, ứng dụng CNTT trong cải cách hành chính 52 3.6.5 Khả năng, chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công 53
CHƯƠNG 4: NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ KHẢ NĂNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG Ở CƠ QUAN HÀNH CHÍNH TỈNH CÀ MAU 55
4.1 MỤC TIÊU CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CÔNG Ở TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN2016–2020 55
4.2.NHỮNGKIẾNNGHỊNHẰMĐẨYMẠNHCẢICÁCHHÀNHCHÍNH 55
4.2.1 Về công tác chỉ đạo, điều hành 55
4.2.2 Về thể chế, tổ chức bộ máy 56
4.2.3 Về thủ tục hành chính 56
4.2.4 Biên chế, sắp xếp trị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức; nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC 57
4.3.NHỮNG KIẾNNGHỊNHẰMNÂNG CAOCHẤTLƯỢNG VÀKHẢ NĂNG CUNGỨNGDỊCHVỤHÀNHCHÍNHCÔNG 59
4.3.1 Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công 59
4.3.2 Đa dạng và xã hội hóa cung cấp dịch vụ hành chính công 61
4.3.3 Hiện đại hóa hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin 61
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
GRDP Tổng sản phẩm trên địa bàn
HĐND Hội đồng nhân dân
PAPI Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
TTHC Thủ tục hành chính
QLNN Quản lý nhà nước
VIC Phần mềm liên thông
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Phân cấp DVHCC chính quyền địa phương 18
Bảng 3.1: Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 31
Bảng 3.2: Cơ cấu cán bộ công chức tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011-2015 33
Bảng 3.3: Thưc hiện biên chế công chức tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011 - 2015 36
Bảng 3.4: Định mức chi quản lý hành chính tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011 – 2015 39
Bảng 3.5: Kết quả chi quản lý hành chính tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011 – 2015 40
Bảng 3.6: Số lượng TTHC tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011 - 2015 42
Bảng 3.7: Kết quả tiếp nhận và giải quyết TTHC tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011 - 2015 44
Bảng 3.8: Tỷ lệ hồ sơ tiếp nhận tại bộ phận một cửa, một cửa liên thông 46
Bảng 3.9: Thứ hạng chỉ số “Thủ tục hành chính công” tỉnh Cà Mau 2011 - 2014 46
Bảng 3.10: Chỉ số năng lực cạnh tranh và chỉ số CCHC tỉnh Cà Mau 2011 – 2014 47
Bảng 3.11: Tỷ lệ CBCC sử dụng và xử lý văn bản phần mềm VIC 48
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ HÌNH VẼ
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu CBCC tỉnh Cà Mau theo độ tuổi 34
Biểu đồ 3.2: Cơ cấu CBCC tỉnh Cà Mau theo trình độ chuyên môn 35
Biểu đồ 3.3: Biên chế công chức tiết kiệm và hợp đồng trong biên chế 37
Biểu đồ 3.4: TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông 43
Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ hồ sơ trể hẹn trả kết quả bình quân 50
Hình 3.1: Kết quả DVHCC trực tuyến 50
Trang 11CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ngày nay trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế, cải cách hành chính (CCHC) trở thành yêu cầu cấp thiết của tất cả các quốc gia trên thế giới, nhằm xây dựng một nền hành chính nhà nước hiện đại, năng động, hiệu quả, lấy đối tượng phục vụ làm mục đích chủ yếu, để từ đó xây dựng, phát triển và hoàn thiện nền hành chính CCHC là động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo
an sinh xã hội
Ở Việt Nam, công cuộc CCHC bắt đầu từ năm 1994, đánh dấu bằng sự ra đời Nghị quyết 38-CP ngày 04/5/1994 của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân, tổ chức Tiếp theo là chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2001- 2010 và hiện nay đang tiếp tục thực hiện chương trình tổng thể cải CCHC nhà nước giai đoạn 2011- 2020 Nền hành chính Việt Nam đã triển khai toàn diện nhiều nội dung mà trọng tâm là cải cách thể chế, tổ chức bộ máy hành chính, tài chính công, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC); nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức (CBCC) thực thi công vụ có chất lượng, hiệu quả nhằm tiến tới phát triển, hiện đại hóa nền hành chính công và cũng là điều kiện căn bản để góp phần đạt các mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội
Dịch vụ hành chính công (DVHCC) là loại hình mang tính đặc thù do các cơ quan hành chính (CQHC) thực hiện, mang tính quyền lực pháp lý, có liên quan trực tiếp hàng ngày đến lợi ích của người dân, doanh nghiệp Cải cách DVHCC là xu hướng và đòi hỏi cấp thiết trong bối cảnh CCHC hiện nay nhằm xác định rõ vai trò trong cung ứng dịch vụ công; nhà nước cần làm những việc gì, làm thế nào đạt được hiệu quả cao nhất với chí phí thấp nhất, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận với CQHC nhà nước Bên cạnh đó để nâng cao chất lượng cung ứng DVHCC cũng cần đòi hỏi
Trang 12công chức trong bộ máy hành chính không chỉ là người ra lệnh, mà đòi hỏi thực sự
là người “công bộc” của dân
Cùng với các tỉnh, thành trong cả nước, Cà Mau đang tích cực tiến hành đổi mới, CCHC theo chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước và tình hình thực tiễn ở địa phương Công tác CCHC của tỉnh Cà Mau đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ Đã cụ thể hóa bằng các văn bản về CCHC, đơn giản hóa các TTHC và được công khai cổng thông tin điện tử của tỉnh, trên trang điện tử của các
cơ quan hành chính, cung cấp trực tuyến đạt mức độ 2, mức độ 3 Các CQHC nhà nước đã xây dựng và cải tiến trang thông tin điện tử của cơ quan nhằm góp phần tuyên truyền chủ trương, chính sách và pháp luật của nhà nước và là cầu nối thông tin giữa nhà nước với các tổ chức và công dân
Tuy nhiên, CCHC hiện nay trong phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Cà Mau nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc gây không ít khó khăn cho người dân, doanh nghiệp Những hạn chế đó là việc thực hiện rà soát, tham mưu công bố thủ tục hành chính của một số cơ quan, đơn vị còn chậm và chưa đảm bảo chất lượng; giải quyết thủ tục hành chính tùy tiện, không đúng quy trình, thủ tục và thời hạn giải quyết theo quy định Bên cạnh đó còn một bộ phận cán bộ, công chức còn thiếu tinh thần, trách nhiệm trong công việc, gây khó khăn, phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính; hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước còn yếu kém, Chính vì vậy nên chỉ số cải cách hành chính (PAR INDER) của tỉnh Cà Mau trong thời gian qua luôn xếp hạng ở mức thấp so sánh với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước (năm 2014 xếp hạng 38/63) Chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) của tỉnh hàng năm đều tụt giảm (năm 2011 xếp hạng 32/63, năm 2014 xếp hạng 58/63 tỉnh, thành) Qua đó, cản trở sự phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh
Với mong muốn tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công
của các CQHC tỉnh Cà Mau, tôi chọn đề tài “Cải cách hành chính cơ quan công
quyền - dịch vụ hành chính công - nghiên cứu trường hợp tỉnh Cà Mau” để làm
luận văn thạc sĩ
Trang 131.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Cải cách thể chế là một quá trình đòi hỏi thời gian và sự quyết tâm chính trị của chính quyền các nước đang phát triển Chính quyền các cấp ở Việt Nam đã thực hiện cải cách hành chính mạnh mẽ hơn mười năm qua và sẽ tiếp tục giai đoạn hai (2011-2020) Vậy chính quyền cấp tỉnh ở Cà Mau đã thực hiện quá trình cải cách hành chính - dịch vụ hành chính công ở cơ quan công quyền trong thời gian qua như thế nào?
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích, đánh giá thực trạng cải cách hành chính tập trung ở khía cạnh cải cách tổ chức bộ máy, quá trình sắp xếp đội ngũ cán bộ công chức theo vị trí việc làm và kinh phí quản lý hành chính được giao ở cơ quan công quyền tỉnh Cà Mau
- Phân tích, đánh giá thực trạng khả năng cung ứng dịch vụ hành chính công ở địa bàn tỉnh Cà Mau
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng CCHC và khả năng cung ứng dịch
vụ hành chính công ở địa bàn tỉnh Cà Mau Từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ
hành chính công ở cơ quan công quyền tỉnh Cà Mau
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn cần tập trung làm rõ và trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
(1) Vấn đề cải cách hành chính tập trung ở khía cạnh sắp xếp bộ máy theo vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức và kinh phí hoạt động được giao tự chủ được thực hiện như thế nào theo thời gian trên địa bàn tỉnh Cà Mau?
(2) Những cải cách hành chính có hướng đến chất lượng hoặc nâng cao khả năng cung ứng dịch vụ hành chính công trên địa bàn tỉnh Cà Mau hay chưa?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Cải các hành chính thông qua sắp xếp và xác định vị trí việc làm của công chức; nguồn tài chính tự chủ và khả năng cung ứng dịch vụ hành chính công ở cơ
Trang 14quan công quyền tỉnh Cà Mau là đối tượng nghiên cứu của luận văn
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Các cơ quan hành chính ở tỉnh Cà Mau bao gồm: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã
Về thời gian: Luận văn tập trung phân tích đánh giá thực trạng trong giai đoạn
từ 2011- 2015; các kiến nghị được nghiên cứu đề xuất cho giai đoạn 2016 - 2020
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, thống kê mô tả, phân tích theo thời gian và theo hệ thống để làm rõ mục tiêu nghiên cứu
Phương pháp thống kê: Thống kê mô tả là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội bằng việc mô tả thông qua các số liệu thu thập được Phương pháp này được sử dụng để phân tích tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Cà Mau và thực trạng cung ứng DVHCC tại tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011 – 2015
Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu kinh tế - xã hội, trong luận văn tác giả sử dụng phương pháp này nhằm xác định mức độ thay đổi, biến động của số lượng CBCC, số lượng DVHCC trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011 - 2015
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để phân tích và tổng hợp kết quả
từ thực trạng cung ứng DVHCC để rút ra tồn tại và nguyên nhân làm căn cứ đề xuất kiến nghị nâng cao chất lượng DVHCC tỉnh Cà Mau
1.5.2 Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích thông tin
Các thông tin về văn bản, chính sách của nhà nước, tác giả thu thập thông tin bằng cách tra cứu các tài liệu, các văn bản, các giáo trình, sách và cơ sở dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật Đồng thời, luận văn đã kế thừa một số kết quả nghiên cứu trước đó nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của luận văn; Các thông tin về đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Cà Mau được thu thập từ các nguồn: UBND tỉnh Cà Mau; Cục Thống kê tỉnh Cà Mau
Các thông tin về thực trạng CCHC, vị trí việc làm của công chức; nguồn tài chính tự chủ và tình hình cung ứng dịch vụ hành chính công ở CQHC tỉnh Cà Mau
Trang 15được thu thập thông qua báo cáo của UBND tỉnh, Sở nội vụ, Sở Tài chính tỉnh Cà Mau
Sau khi thu thập được thông tin, tác giả tiến hành phân loại, thống kê thông tin theo thứ tự ưu tiên về mức độ quan trọng của thông tin Đối với các thông tin là số liệu, tiến hành lập các bảng, biểu
1.6 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU
Luận văn sẽ có những đóng góp về mặt lý luận cũng như thực tiễn cho việc CCHC ở nước ta hiện nay nói chung và trên địa bàn tỉnh Cà Mau nói riêng nhằm đẩy nhanh quá trình CCHC, phát huy vai trò trong quản lý nhà nước (QLNN) đối với các hoạt động kinh tế xã hội của đất nước
Nghiên cứu về CCHC được thực hiện tốt sẽ giúp đưa ra các kiến nghị phù hợp
để thúc đẩy tiến trình cải cách, đáp ứng yêu cầu đổi mới trong QLNN và nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công trên địa bàn tỉnh Cà Mau
1.7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm 4 chương:
Trang 16CHƯƠNG 2: ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CÔNG, DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH
CÔNG VÀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CÔNG
2.1 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CÔNG VÀ PHÂN CẤP HÀNH CHÍNH
2.1.1 Khái niệm và chức năng của đơn vị hành chính công
Theo Nguyễn Ngọc Hiến và công sự (2006) hành chính theo nghĩa rộng là chỉ những hoạt động, những tiến trình chủ yếu có liên quan đến những biện pháp để thực thi các mục tiêu, nhiệm vụ đã được xác định trước Khi có từ hai người trở lên cùng làm việc với nhau, thì lúc đó xuất hiện một hình thức thô sơ của quản lý Dạng quản lý này chính là hoạt động hành chính, hay nói cách khác, hành chính chính là một dạng của quản lý Hay theo nghĩa hẹp, hành chính là những hoạt động quản lý các công việc của nhà nước, xuất hiện cùng với nhà nước
Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu, học giả hành chính học thì họ cho rằng, hành chính công bao gồm luật pháp, các quy tắc, quy chế, thiết chế,… để điều tiết hoạt động quyền hành pháp; Cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của tổ chức bộ máy hành chính cũng như mối quan hệ mà trong đó các công chức làm việc Hành chính công còn bao gồm những đội ngũ CBCC làm việc trong bộ máy hành chính công quyền Những người này là người có trách nhiệm thực thi công vụ mà nhà nước đã giao
- Đơn vị hành chính công: là đơn vị hành chính được phân định theo địa giới
hành chính, theo đó đơn vị hành chính ở Việt Nam được chia thành ba cấp: cấp tỉnh, huyện, xã Tương ứng mỗi cấp đơn vị hành chính có Hội đồng nhân dân (HĐND)
và Ủy ban nhân dân (UBND) được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, các đơn vị hành chính ở nước ta gồm có: Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); Huyện, quận, thị
xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp huyện); Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)
- Chức năng đơn vị hành chính công: Mỗi đơn vị hành chính công có chức
năng, nhiệm vụ được quy định bởi các cơ quan có thẩm quyền, theo quy định của
Trang 17pháp luật Theo đó có các chức năng cơ bản là (1) Chức năng QLNN trên lĩnh vực,
ngành của địa phương nhằm đảm bảo trật tự, công bằng xã hội, bao gồm các hoạt
động quản lý và điều tiết đời sống kinh tế - xã hội thông qua các công cụ quản lý vĩ
mô như pháp luật, chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và kiểm tra, giám
sát,… (2) chức năng cung ứng các dịch vụ hành chính công phục vụ cho lợi ích,
nhu cầu của công dân, ngay cả khi các nhu cầu này có thể phát sinh từ những yêu cầu của nhà nước
2.1.2 Các mức độ của phân cấp hành chính
Phân cấp hành chính là sự phân chia các đơn vị hành chính thành từng tầng, cấp theo chiều dọc Theo đó cấp hành chính ở cấp trên sẽ có quyền quyết định cao hơn, bắt buộc đối với cấp hành chính ở cấp dưới Ở Việt Nam hiện nay mức độ phân cấp hành chính của chính quyền địa phương thành 3 cấp
Theo điều 2 Luật tổ chức chính quyền địa phương, các đơn vị hành chính gồm có:
- Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);
- Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp huyện);
- Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã);
- Ngoài ra còn có “Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt” do Quốc hội thành lập
Theo đó, căn cứ yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện cụ thể của từng địa phương mà cơ quan nhà nước ở Trung ương phân cấp cho chính quyền địa phương và chính quyền địa phương phân cấp cho cơ quan cấp dưới thực hiện công việc một cách thường xuyên, liên tục theo thẩm quyền và chức năng, nhiệm vụ được giao
Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 08/2004/NQ-CP ngày 30/8/2004 về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tiếp
đó chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2001-2010 và giai đoạn 2011-2020, trong
đó mục tiêu, nội dung chương trình thể hiện rõ việc yêu cầu thực hiện phân cấp
Trang 18quản lý hành chính giữa Trung ương và chính quyền địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương
Việc triển khai phân cấp giữa chính quyền Trung ương và địa phương một cách thống nhất, đồng bộ, có hệ thống góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính ở các cấp; và chính quyền địa phương đã chủ động trong thực hiện quyền, nhiệm vụ được giao của từng ngành, lĩnh vực Những lĩnh vực được phân cấp tập trung: Quản lý lĩnh vực đất đai, tài nguyên và môi trường; quản lý ngân sách
và tài sản nhà nước; quản lý quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển; quản lý doanh nghiệp; quản lý hoạt động đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công; quản lý tổ chức bộ máy, công chức, viên chức
2.1.3 Các yếu tố cấu thành nền hành chính Việt Nam
Có nhiều cách tiếp cận về nền hành chính nhà nước, nhưng phổ biến hiện nay cho rằng nền hành chính nhà nước là hệ thống các yếu tố hợp thành về tổ chức (bộ máy, con người, nguồn lực công) và cơ chế hoạt động để thực thi quyền hành pháp
Theo cách tiếp cận này, về cấu trúc của nền hành chính nhà nước bao gồm các yếu tố:
Thứ nhất, hệ thống thể chế hành chính bao gồm Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và
các văn bản qui phạm về tổ chức, hoạt động của hành chính nhà nước và tài phán hành chính;
Thứ hai, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính nhà nước
các cấp, các ngành phù hợp với yêu cầu thực hiện quyền hành pháp;
Thứ ba, đội ngũ CBCC hành chính được đảm bảo về số lượng và chất lượng
để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của nền hành chính;
Thứ tư, nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm yêu cầu thực
thi công vụ của các cơ quan và công chức hành chính
2.1.4 Những đặc tính chủ yếu của nền hành chính nhà nước Việt Nam
Để xây dựng một nền hành chính hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả cần phải hiểu rõ những đặc tính chủ yếu của nền hành chính nhà nước Những đặc tính này vừa thể hiện đầy đủ bản chất của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, vừa kết hợp được những đặc điểm chung của một nền hành chính phát triển theo hướng
Trang 19hiện đại Với ý nghĩa đó, nền hành chính Nhà nước Việt Nam có những đặc tính chủ yếu sau:
Ở nước ta, nền hành chính nhà nước mang đầy đủ bản chất của một Nhà nước dân chủ XHCN “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân" dựa trên nền tảng của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam nằm trong hệ thống chính trị, có hạt nhân lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội giữ vai trò tham gia và giám sát hoạt động của Nhà nước, mà trọng tâm
là nền hành chính
Thứ hai, tính pháp quyền:
Với tư cách là công cụ thực hiện quyền lực nhà nước, nền hành chính nhà nước được tổ chức và hoạt động tuân theo những quy định pháp luật, đồng thời yêu cầu mọi công dân và tổ chức trong xã hội phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Đảm bảo tính pháp quyền của nền hành chính là một trong những điều kiện để xây dựng nhà nước chính quy, hiện đại, trong đó bộ máy hành pháp hoạt động có kỷ luật, kỷ cương
Tính pháp quyền đòi hỏi các CQHC, CBCC phải nắm vững qui định pháp luật, sử dụng đúng quyền lực, thực hiện đúng chức năng và thẩm quyền trong thực
Trang 20thi công vụ Mỗi CBCC cần chú trọng vào việc nâng cao uy tín về chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực thực thi để phục vụ nhân dân Tính pháp quyền của nền hành chính được thể hiện trên cả hai phương diện là QLNN bằng pháp luật và theo pháp luật Điều đó có nghĩa là, một mặt các CQHC nhà nước sử dụng luật pháp là công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mang tính bắt buộc đối với các đối tượng quản lý; mặt khác các CQHC nhà nước cũng như công chức phải được tổ chức và hoạt động theo pháp luật chứ không được tự do, tùy tiện vượt lên trên hay đứng ngoài pháp luật
Thứ ba, tính phục vụ nhân dân:
Hành chính nhà nước có bổn phận phục vụ sự nghiệp phát triển cộng đồng và đáp ứng nhu cầu thiết yếu của công dân Muốn vậy, phải xây dựng một nền hành chính công tâm, trong sạch, không theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, không đòi hỏi người đươc phục vụ phải trả thù lao Ðây cũng chính là điểm khác biệt cơ bản giữa mục tiêu hoạt động của hành chính nhà nước với một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Thứ tư, tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ:
Nền hành chính nhà nước được cấu tạo gồm một hệ thống định chế tổ chức theo thứ bậc chặt chẽ và thông suốt từ Trung ương tới các địa phương, trong đó cấp dưới phục tùng cấp trên, nhận chỉ thị mệnh lệnh và chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp trên Mỗi cấp hành chính, mỗi cơ quan, công chức hoạt động trong phạm vi thẩm quyền được trao để cùng thực hiện tốt chức năng hành chính Tuy nhiên, để hạn chế việc biến nền hành chính thành hệ thống quan liêu, thì xác lập thứ bậc hành chính cũng tạo ra sự chủ động sáng tạo, linh hoạt của mỗi cấp, mỗi cơ quan, công chức hành chính vào đời sống xã hội một cách hiệu quả
Thứ năm, tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao:
Hoạt động hành chính của các cơ quan thực thi quyền hành pháp là một hoạt động đặc biệt và cũng tạo ra những sản phẩm đặc biệt Điều đó được thể hiện trên
cả phương diện nghệ thuật và khoa học trong QLNN Muốn nâng cao hiệu lực, hiệu quả hành chính nhà nước, yêu cầu những người làm việc trong các CQHC cần phải
có trình độ chuyên môn nghề nghiệp cao trên các lĩnh vực được phân công quản lý
Trang 21Tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao là đòi hỏi bắt buộc đối với hoạt động quản lý của các CQHC nhà nước và là yêu cầu cơ bản đối với nền hành chính phát triển theo hướng hiện đại
Đối tượng tác động của nền hành chính có nội dung hoạt động phức tạp và quan hệ đa dạng, phong phú đòi hỏi các nhà hành chính phải có kiến thức xã hội và kiến thức chuyên môn sâu rộng Công chức làm việc trong các CQHC nhà nước là những người trực tiếp thi hành công vụ, nên trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của họ
có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công việc thực hiện Vì lẽ đó trong hoạt động hành chính nhà nước, năng lực chuyên môn và trình độ quản lý của những người làm việc trong các CQHC nhà nước phải được coi là tiêu chuẩn hàng đầu
Thứ sáu, tính liên tục, tương đối ổn định và thích ứng:
Trên thực tế, các mối quan hệ xã hội và hành vi công dân cần được pháp luật điều chỉnh diễn ra một cách thường xuyên, liên tục theo các quá trình kinh tế - xã hội Chính vì vậy nền hành chính nhà nước phải hoạt động liên tục, ổn định để đảm bảo hoạt động sản xuất, lưu thông không bị gián đoạn trong bất kỳ tình huống nào Tính liên tục và ổn định của nền hành chính xuất phát từ hai lý do cơ bản:
Một là, do xuất phát từ quan điểm phát triển Muốn phát triển phải ổn định, ổn
định làm nền tảng cho phát triển, vì vậy chủ thể hành chính phải biết kế thừa giữ cho các đối tượng vận động liên tục, không được ngăn cản hay tuỳ tiện thay đổi trạng thái tác động
Hai là, do xuất phát từ nhu cầu của đời sống nhân dân Người dân luôn luôn
mong muốn được sống trong một xã hội ổn định, được đảm bảo những giá trị văn hóa trong phát triển Điều đó tạo nên niềm tin của họ vào nhà nước
Tính liên tục và ổn định không loại trừ tính thích ứng, bởi vậy ổn định ở đây chỉ mang tính tương đối, không phải là cố định, bất biến Nhà nước là một sản phẩm của
xã hội, trong khi đời sống kinh tế - xã hội luôn vận động biến đổi, nên hành chính nhà nước cũng phải thích nghi với hoàn cảnh thực tế để đáp ứng yêu cầu phát triển
2.2 DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG VÀ KHẢ NĂNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG Ở CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Trang 222.2.1 Khái niệm và đặc trưng của dịch vụ hành chính công
2.2.1.1 Khái niệm dịch vụ hành chính công
Để tìm hiểu quan niệm về DVHCC chúng ta phải bắt đầu tiếp cận từ dịch vụ công, đây là một khái niệm có liên quan trực tiếp đến DVHCC Dịch vụ công theo
từ tiếng Anh là “public service” có xuất xứ từ phạm trù hàng hóa công cộng Theo ý nghĩa kinh tế học, hàng hóa công cộng gắn liền với một số đặc tính cơ bản như: là loại hàng hóa mà khi đã được tạo ra thì khó có thể loại trừ ai ra khỏi việc sử dụng nó; việc tiêu dùng của người này không làm giảm lượng tiêu dùng của người khác;
và không thể vứt bỏ được, tức là ngay khi một ai đó không muốn tiêu dùng thì hàng hóa công cộng vẫn tồn tại Từ các đặc tính cơ bản đó, hàng hóa công cộng được phân loại cụ thể là những hàng hóa nào thỏa mãn cả ba đặc tính trên được gọi là hàng hóa công cộng thuần túy và những hàng hóa nào không thỏa mãn đủ cả ba đặc tính trên được gọi là hàng hóa công cộng không thuần túy Ban đầu, khái niệm
“dịch vụ công” dùng để chỉ hoạt động cung ứng hàng hóa công cộng không thuần túy, được sử dụng lần đầu tiên ở châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai Ngày nay, khái niệm “dịch vụ công” đã được mở rộng đáng kể tùy theo cách tiếp cận khác nhau
Từ giác độ chủ thể QLNN, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng dịch vụ công là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản
lý hành chính nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xă hội Cách hiểu này nhấn mạnh vai tṛ và trách nhiệm của nhà nước đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng Cách tiếp cận khác lấy xuất phát điểm từ đối tượng được hưởng hàng hóa công cộng cho rằng dịch
vụ công là hoạt động cung ứng hàng hóa công vì lợi ích thiết yếu của xã hội và cộng đồng, do nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm Ở nước ta, Điều 39 của Luật Tổ chức chính phủ (2015) quy định: “Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lư nhà nước về một hoặc một số ngành, lĩnh vực và dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc” Như vậy, khái niệm “dịch vụ công” được sử dụng ở đây nhấn mạnh vai trò chủ thể của nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ cho công dân Điều này không có nghĩa là nhà nước độc quyền
Trang 23cung cấp các dịch vụ công mà trái lại nhà nước hoàn toàn có thể xã hội hóa một số dịch vụ, qua đó trao một phần việc cung ứng một số dịch vụ đó, như y tế, giáo dục, cấp thoát nước,… cho khu vực tư nhân thực hiện
Dịch vụ công bao gồm một số loại dịch vụ khác nhau song chúng đều có tính chất chung là: phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu của xã hội và nhà nước có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ này cho xã hội Ngay cả khi nhà nước chuyển giao một phần của một số dịch vụ này cho tư nhân cung ứng thì nhà nước vẫn có vai trò điều tiết nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này
và khắc phục các bất cập của thị trường
Từ những tính chất trên đây, dịch vụ công có thể được hiểu là những hoạt
động phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền cho khu vực tư nhân thực hiện nhằm đảm bảo trật tự và công bằng xã hội
Theo Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ thì “Dịch
vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý” DVHCC là loại dịch vụ gắn liền với chức năng QLNN nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân Đó là các hoạt động của bộ máy hành pháp nhà nước cung ứng trực tiếp cho các tổ chức, công dân các dịch vụ công theo luật định nhằm duy trì và đảm bảo sự vận hành bình thường của xã hội (Trần kim cúc và cộng sự, 2010)
Từ những phân tích trên có thể khái quát, DVHCC là những hoạt đông phục
vụ lợi ích chung, thiết yếu hay những hoạt động phục vụ các quyền và nghĩa vụ của
cá nhân, tổ chức do các CQHC nhà nước thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính
- pháp lý của nhà nước theo nguyên tắc bình đẳng, không vụ lợi nhằm thiết lập, duy trì và bảo vệ trật tự quản lý hành chính nhà nước
2.2.1.2 Đặc trưng của dịch vụ hành chính công
DVHCC có những đặc trưng riêng biệt, phân định nó với loại dịch vụ công cộng, Theo Trần Kim Cúc và công sự (2010), DVHCC có những đặc trưng sau:
Trang 24Thứ nhất, việc cung ứng dịch vụ hành chính công luôn gắn liền với thẩm
quyền hành chính pháp lý của tổ chức cung ứng Thẩm quyền này gắn với các hoạt động của các CQHC nhà nước trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ có tính pháp lý của các tổ chức và công dân như cấp các loại giấy phép, giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, hộ khẩu, hộ chiếu …Thẩm quyền hành chính pháp lý thể hiện dưới hình thức các dịch vụ hành chính công Đây là những dịch vụ thiết yếu của công dân, cần phải được nhà nước cung ứng để thỏa mãn nhu cầu của công dân; mặt khác, thông qua hoạt động cung ứng DVHCC, nhà nước sẽ thực hiện chức năng QLNN đối với xã hội và thông qua đó tạo cơ sở để công dân thực hiện quyền làm chủ của mình cũng như thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước
Với tư cách là người quản lý xã hội, nhà nước có địa vị pháp lý đặc biệt mà các chủ thể khác không có, nên các loại dịch vụ này chỉ có thể do các CQHC nhà nước thực hiện Chỉ có nhà nước mới có thẩm quyền, địa vị pháp lý sử dụng các quyền này để điều hành xã hội thông qua việc xây dựng các chính sách, cung ứng DVHCC đáp ứng các yêu cầu của công dân và thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội
Thứ hai, việc cung ứng DVHCC không xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận
(không vụ lợi) DVHCC là những dịch vụ rất cần thiết do các đơn vị hành chính nhà nước cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của công dân và xã hội; mặt khác, việc cung ứng DVHCC xuất phát từ việc sử dụng quyền lực công nhằm đảm bảo các lợi ích chung, đảm bảo công tác QLNN; dó đó, vấn đề lợi nhuận được đặt xuống hàng thứ yếu Tuy nhiên phi lợi nhuận khác với vấn đề miễn phí trong cung ứng DVHCC Một số DVHCC do nhà nước cung cấp, người thụ hưởng phải trả một khoản phí nhất định Việc trả phí chỉ bù đắp một phần chi phí và cũng là để người sử dụng DVHCC có trách nhiệm hơn, sử dụng dịch vụ công có hiệu quả hơn
Thứ ba, có sự bình đẳng giữa công dân, tổ chức khi tiếp cận với tư cách là đối
tượng phục vụ của các cơ quan công quyền Các DVHCC được cung cấp trên cơ sở bình đẳng giữa các bên Sự bình đẳng trong thụ hưởng DVHCC bắt nguồn từ việc nhà nước sử dụng quyền lực công để cung ứng Nhà nước phục vụ cho quyền lợi của tất cả mọi người trên nguyên tắc đối xử công bằng đối với mọi công dân và chi
Trang 25phí cho việc cung ứng DVHCC chủ yếu được lấy từ nguồn lực công, do đó mọi người đều có sự bình đẳng trong tiếp cận và sử dụng
Thứ tư, DVHCC phục vụ cho hoạt động quản lý của nhà nước DVHCC bản
thân chúng không thuộc về chức năng QLNN, song lại là những hoạt động nhằm phục vụ cho chức năng QLNN DVHCC là những dịch vụ mà nhà nước bắt buộc và khuyến khích người dân phải làm, không phải nhu cầu tự thân của người dân nhằm
để bảo đảm trật tự và an toàn xã hội Việc người dân thực hiện những hoạt động này trước hết là nghĩa vụ có tính bắt buộc đòi hỏi người dân phải làm nhằm thực hiện chức năng QLNN Mọi người càng quan tâm thực hiện tốt những nghĩa vụ này thì càng tạo điều kiện cho nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý của mình
2.2.2 Phân loại dịch vụ hành chính công
Có nhiều cách khác nhau để phân loại DVHCC Dựa vào tiêu chí chủ thể cung cấp, DVHCC được chia thành: các dịch vụ do CQHC cung cấp trực tiếp; các dịch vụ do tổ chức dịch vụ công của nhà nước cung cấp và dịch vụ do cá nhân, tổ chức phi nhà nước cung cấp Theo lĩnh vực của QLNN, có thể chia DVHCC trong QLNN về đất đai, thương mại, thuế, hộ tịch, hải quan, hộ khẩu … Theo Lê Chi Mai (2003), DVHCC gồm những nhóm cơ bản sau:
2.2.2.1 Các dịch vụ cấp giấy phép
Cấp giấy phép là hoạt động của CQHC nhà nước, người có thẩm quyền chính thức cho phép một cá nhân, tổ chức được ghi trong giấy phép thực hiện những hoạt động phù hợp với quy định của pháp luật trong lĩnh vực nào đó Giấy phép là một công cụ để nhà nước quản lý, điều tiết hoạt động của chủ thể theo chính sách và pháp luật trong các lĩnh vực có ảnh hưởng đến đời sống xã hội, nhằm kiểm soát hoạt động đó diễn ra trong phạm vị nhất định, tránh làm bất ổn xã hội
Những hoạt động cấp giấy phép phổ biến hiện nay là cấp giấy phép xây dựng, các loại giấy phép điều khiển phương tiện giao thông vận tải, giấy phép đăng ký kinh doanh, giấy phép quảng cáo,…
2.2.2.2 Các dịch vụ đăng ký và cấp giấy chứng nhận
Đăng ký và cấp giấy chứng nhận là nhóm dịch vụ bao gồm nhiều loại dịch vụ nhất và liên quan hầu hết các CQHC nhà nước Trong dịch vụ này, cá nhân, tổ chức
Trang 26phải đăng ký với cơ quan nhà nước về nhân thân, về tài sản hay những sự kiện nhất định liên quan đến cá nhân, tổ chức Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau khi tiếp nhận đăng ký của cá nhân, tổ chức sẽ tiến hành kiểm tra, đối chiếu với các quy định theo pháp luật hiện hành để xác nhận, cấp giấy chứng nhận phù hợp, chính xác, đúng quy định Thông qua việc xác nhận, cấp giấy chứng nhận cho cá nhân, tổ chức
là nhà nước cam kết, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức đó và cũng là bảo vệ lợi ích của các bên giao dịch có liên quan
Những hoạt động xác nhận, cấp giấy chứng nhận hiện nay như là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy đăng ký kết hôn, giấy khai sinh, khai tử; giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản,…
2.2.2.3 Các dịch vụ công chứng, chứng thực
Công chứng, chứng thực đều là chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch hay các văn bản, giấy tờ mà theo quy định của pháp luật phải công chứng, chứng thực hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng Khi các giao dịch, hợp đồng, các văn bản hay giấy tờ được công chứng, chứng thực thì phát sinh hiệu lực pháp lý, quyền và nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng, văn bản chính thức có hiệu lực và ràng buộc các bên
Theo quy định hiện hành, chứng thực là dịch vụ được thực hiện bởi các CQHC nhà nước và tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để chứng thực bản sao từ bản chính, cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực chữ ký vŕ chứng thực hợp đồng, giao dịch,… Còn “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” (Điều 2 Luật công chứng) Hoạt động công chứng được thực hiện bởi phòng công chứng (công chứng nhà nước) và văn phòng công chứng (công chứng tư)
2.2.2.4 Hoạt động thu các khoản đóng góp vào ngân sách, các quỹ của nhà nước
Các hoạt động này gắn với nghĩa vụ mà nhà nước yêu cầu các chủ thể trong xã hội phải thực hiện Việc nhà nước tổ chức thu thuế và các khoản đóng góp nói trên
Trang 27là loại dịch vụ hành chính mà bất kỳ nhà nước nào cũng thực hiện Việc thu thuế mang tính chất nghĩa vụ bắt buộc và liên quan đến lợi ích của người nộp thuế, vì vậy cần phải cải tiến hoạt động thu thuế và hoàn thiện pháp luật về các sắc thuế nhằm tạo ra sự minh bạch, rỏ ràng và tạo thuận lợi tốt nhất cho người nộp thuế
2.2.2.5 Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm hành chính
Đây là loại dịch vụ do CQHC nhà nước có trách nhiệm thực hiện để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước hoặc công chức nhà nước đối với công dân theo đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân Hoạt động này nhằm bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong mối quan hệ giữa CQHC nhà nước với công dân Khi nhận được đơn thư khiếu nại, tố cáo, thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền phải xem xét xử lý theo phạm vi, trách nhiệm của mình
2.2.3 Vai trò, phân cấp dịch vụ hành chính công ở chính quyền địa phương 2.2.3.1.Vai trò của chính quyền địa phương
Các CQHC ở địa phương có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng QLNN và cung cấp DVHCC, là cơ quan trực tiếp thực hiện các DVHCC nhằm phục vụ lợi ích, nhu cầu của nhân dân, và thực hiện chức năng QLNN để đảm bảo ổn định an ninh, trật tự xã hội, phát triển kinh tế ở địa phương Vì vậy các CQHC nhà nước ở địa phương phải phát huy vai trò điều tiết và quản lý của mình, thể hiện: Quán triệt, triển khai một sách sâu rộng, thiết thực về chủ trương của Đảng và nhà nước về tầm quan trọng đối với CCHC nói chung và chương trình tổng thể CCHC của Chính phủ đến tất cả các CQHC địa phương, nhằm nâng cao nhận thức của của cán bộ, công chức; tạo sư đồng thuận và nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác CCHC và cung ứng DVHCC
Tiến hành triển khai các văn bản, kế hoạch, quy định,… để chỉ đạo, điều hành công tác thực hiện chương trình CCHC của Chính phủ, các quy định của Bộ, ngành
về CCHC; phân cấp, phân quyền quản lý và trách nhiệm cho các cơ quan tham mưu, giúp việc cho chính quyền địa phương (UBND các cấp) trong việc quản lý và cung ứng DVHCC Đồng thời tổ chức kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực này
Trang 28Tổ chức cung ứng DVHCC ở địa phương một cách tốt nhất, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ đã phân cấp, nhằm tạo sự dễ dàng cho người dân tiếp cận DVHCC, giảm áp lực về chi phí và thời gian cho người dân
2.2.3.2 Phân cấp cung ứng dịch vụ hành chính công ở chính quyền địa phương
UBND là CQHC nhà nước ở địa phương có nhiệm vụ quản lý công tác hành chính và tổ chức cung cấp các DVHCC ở địa phương Theo quy định Luật tổ chức chính quyền địa phương thì UBND được tổ chức ở các cấp của đơn vị hành chính,
đó là cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã Ngoài một số lĩnh vực được quản lý theo ngành dọc như công an, quốc phòng, thuế, hải quan, còn các lĩnh vực khác đều được phân cấp trong cung ứng DVHCC giữa bộ ngành với chính quyền địa phương Tùy theo đặc điểm, điều kiện của từng địa phương mỗi nơi có thể có phạm vi các DVHCC được cung ứng khác nhau
Việc cung ứng các DVHCC ở cấp tỉnh được thực hiện tại Văn phòng UBND cấp tỉnh hoặc các Sở, tùy theo quy định cụ thể về phân cấp từng lĩnh vực Sở là cơ quan chuyên môn và tham mưu, giúp việc cho UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng QLNN về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo phân cấp, ủy quyền của cấp trên
UBND cấp huyện và các phòng chuyên môn tham mưu, giúp việc cho UBND cấp huyện cung cấp DVHCC cho tổ chức, người dân Cung cấp DVHCC cấp xã do công chức cấp xã thực hiện
Bảng 2.1: Phân cấp dịch vụ hành chính công chính quyền địa phương
Stt Cấp chính quyền Loại dịch vụ hành chính công
1 Cấp Tỉnh
Đăng ký hoạt động kinh doanh công ty, doanh ngiệp; Giấy phép: Giấy phép xây dựng; Đầu tư nước ngoài; Thành lập các trường phổ thông dân lập; Đăng ký hành nghề y dược tư nhân và an toàn vệ sinh thực phẩm, …
2 Cấp huyện
Giấy đăng ký kinh doanh cho hộ cá thể; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy phép xây dựng nhà ở; chứng thực di chúc, di sản, …
3 Cấp xã
Giấy khai sinh, khai tử; đăng ký kết hôn; đăng ký hộ tịch; Giấy chứng thực bản sao và hợp đồng giao dịch liên quan đến tài sản, …
(Nguồn: Lê Chi Mai,2003)
Trang 292.2.2.3 Dịch vụ hành chính công hiệu quả
DVHCC là dịch vụ rất quan trọng nó liên quan đến cuộc sống của toàn xã hội
và lợi ích của mọi người dân, mà chủ thể cung ứng chủ yếu là CQHC nhà nước và một phần là tư nhân Để DVHCC hiệu quả cần giải quyết tốt vấn đề chất lượng DVHCC, khả năng cung ứng và sự đạng hóa DVHCC của các chủ thể cung ứng, nguồn lực tài chính; bên cạnh đó phải gắn với cơ chế phản hồi của người dân, doanh nghiệp về DVHCC
Giải quyết tốt vấn đề trên là một quá trình CCHC mạnh mẽ, và có liên quan đến cả hệ thống chính trị của nước ta CCHC để có được DVHCC hiệu quả, nhằm đáp ứng yêu cầu, lợi ích của người dân, doanh nghiệp và để tái cấu trúc nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
2.2.4 Một số nhân tố tác động đến dịch vụ hành chính công
2.2.4.1 Tác động do phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng thu nhập cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn Tác động của phát triển kinh tế đến DVHCC thể hiện ở một số khía cạnh sau
Thứ nhất, phát triển kinh tế làm cho mức sống của người dân tăng lên, quy mô
của doanh nghiệp ngày càng mở rộng Từ đó, nhu cầu của người dân và doanh nghiệp đối với các loại sản phẩm dịch vụ nói chung và DVHCC nói riêng cũng đa dạng và đòi hỏi chất lượng ngày càng cao hơn
Thứ hai, khi kinh tế phát triển, nguồn thu NSNN dồi dào hơn, hệ thống
DVHCC công sẽ được đầu tư tốt hơn, có điều kiện phục vụ tốt hơn đối với người dân và doanh nghiệp
2.2.4.2 Tác động do đô thị hóa và gia tăng dân số
Đô thị hóa làm ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đến số lượng, chất lượng dân số đô thị Đô thị hóa có vai trò tích cực là góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thay đổi sự phân bố dân cư Tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người dân,
Trang 30thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài Tuy nhiên, đô thị hóa làm dịch chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị dẫn đến hệ quả thành thị phải chịu áp lực thất nghiệp, quá tải cho cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường sống, an ninh xã hội không đảm bảo, các tệ nạn xã hội sẽ nảy sinh
Dân số tăng nhanh ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên, môi trường, giáo dục, việc làm, bình đẳng giới, an sinh xã hội, tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống con người Dân số gia tăng cùng với việc di dân do quá trình đô thị hóa
đã để lại hệ quả tất yếu khó kiểm soát về các lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Quy mô dân số tăng đòi hỏi quy mô của hệ thống DVHCC cũng phải phát triển với một tốc độ phù hợp để đảm bảo đáp ứng nhu cầu của người dân Trong điều kiện nguồn ngân sách còn hạn hẹp và DVHCC xã hội hóa còn ở mức độ thấp, khi tốc độ đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ cùng với dân số tăng nhanh sẽ làm tăng áp lực của hệ thống cung ứng DVHCC, khả năng đáp ứng của các cơ quan quản lý càng gặp nhiều khó khăn, làm giảm sút chất lượng dịch vụ, nếu không có những chiến lược đầu tư hệ thống DVHCC lâu dài
2.2.4.3 Tác động do công nghệ thông tin phát triển
Chúng ta đang sống trong một thời đại mới, thời đại phát triển rực rỡ của công nghệ thông tin (CNTT) CNTT đã ở một bước phát triển cao đó là số hóa tất cả các
dữ liệu thông tin, luân chuyển mạnh mẽ và kết nối người dân với các cơ quan nhà nước Sự phát triển của CNTT đã làm thay đổi cơ bản phương thức tổ chức và cách tiếp cận của người dân đối với DVHCC, giải quyết công việc và các TTHC
Với sự phát triển của internet, giao dịch điện tử, CNTT là phương tiện để nâng cao chất lượng DVHCC Chính phủ điện tử trên cơ sở điện tử hoá các hoạt động QLNN đang hình thành và ngày càng trở nên phổ biến Mạng thông tin lớn và mạnh
có thể nối các cơ quan quản lý với đối tượng quản lý, giúp cho quá trình ra quyết định được thực hiện nhanh chóng, kịp thời, chính xác và tiết kiệm thông qua các hoạt động giao dịch điện tử
CNTT đi vào cuộc sống sẽ lan toả đến mọi nơi, mọi lĩnh vực, việc kết nối mạng và cung ứng DVHCC thông qua mạng máy tính cũng trở nên dễ dàng và
Trang 31thuận tiện nhất cho tất cả mọi người dân Trang thông tin điện tử của chính quyền sẽ trở thành nơi cung cấp DVHCC trực tuyến cho người dân đã thể hiện được tính hữu ích trong việc ứng dụng CNTT vào triển khai thực hiện nhiệm vụ và đã góp phần nâng cao chất lượng quản lý, điều hành và giải quyết các DVHCC nhanh chóng, khoa học và hiệu quả hơn
2.2.4.4 Tác động của hội nhập và toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa dẫn đến những thay đổi quan điểm về cung ứng DVHCC của nhà nước, đó là : (1) Nhà nước phải thực hiện sự chuyển đổi từ quan điểm quan liêu sang quan điểm trách nhiệm Vì toàn cầu hóa là quá trình cạnh tranh quyết liệt trên thị trường, đòi hỏi công tác quản lý của nhà nước phải hết sức linh hoạt, hiệu quả và tiết kiệm và đó cũng là trách nhiệm của nhà nước phải thực hiện trong giới hạn nguồn lực của mình; (2) Nhà nước phải chuyển từ quan điểm quản chế sang quan điểm phục vụ; (3) Nhà nước phải chuyển đổi từ quan điểm đầu vào sang kết quả đầu
ra (Trần Kim cúc và cộng sự, 2010)
Toàn cầu hóa đẫn đến sự thay đổi hệ thống chức năng của nhà nuớc: Thay đổi
để thích nghi với môi trường, với thông lệ quốc tế để hợp tác có hiệu quả; xu hướng phân quyền mạnh mẽ cho chính quyền địa phương trong cung ứng DVHCC và chyển giao một số DVHCC sang tư nhân đảm nhiệm có tính hiệu quả hơn
Hội nhập quốc tế đòi hỏi phải tuân thủ, thích ứng với những chuẩn mực chung, quy định chung khi tham gia nên vấn đề CCHC là đòi hỏi bức xúc, phải CCHC nhằm tạo sự thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế bền vững,…
2.3 CHƯƠNG TRÌNH TỔNG THỂ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CÔNG Ở VIỆT NAM
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng ta đã có nhiều chủ trương về CCHC và luôn xác định CCHC là một khâu quan trọng để phát triển đất nước Các cơ quan nhà nước đã xây dựng và tổ chức thực hiện nhiều chương trình, kế hoạch về CCHC theo các chủ trương, nghị quyết của Đảng, nhất là chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 và giai đoạn 2011- 2020
Trang 322.3.1 Mục tiêu về chương trình cải cách hành chính đến năm 2020
Đến năm 2020 xây dựng được một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội
“Trọng tâm CCHC trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công” (Nghị quyết 30c/NQ-CP của Chính phủ, giai đoạn 2011-2020)
2.3.2 Nội dung cơ bản và lộ trình về cải cách hành chính
Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2011-2020, xác định những nội dung
cơ bản cần cải cách đó là: (1) Cải cách thể chế; (2) Cải cách thủ tục hành chính; (3) Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; (4) Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; (5) Cải cách tài chính công; (6) Hiện đại hóa hành chính
Lộ trình CCHC chia thành 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: từ năm 2011 đến 2015
Sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan, đơn vị ở Trung ương và địa phương để không còn sự chồng chéo, bỏ trống hoặc trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các CQHC nhà nước; trách nhiệm, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp được phân định hợp lý;
Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật được đổi mới cơ bản;
Thể chế về sở hữu, đất đai, doanh nghiệp nhà nước được xây dựng và ban hành ngày càng phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN;
Thủ tục hành chính liên quan đến cá nhân, tổ chức được cải cách cơ bản theo hướng gọn nhẹ, đơn giản; mỗi năm đều có tỷ lệ giảm chi phí mà cá nhân, tổ chức, phải bỏ ra khi giải quyết thủ tục hành chính tại CQHC nhà nước;
Trang 33Cơ chế một cửa, một cửa liên thông được triển khai 100% vào năm 2013 tại tất cả các CQHC nhà nước ở địa phương; bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của CQHC nhà nước đạt mức trên 60%;
Từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, bảo đảm sự hài lòng của cá nhân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trong các lĩnh vực giáo dục, y tế đạt mức trên 60% vào năm 2015;
50% các CQHC nhà nước có cơ cấu CBCC chức theo vị trí việc làm; trên 80% công chức cấp xã ở vùng đồng bằng, đô thị và trên 60% ở vùng miền núi, dân tộc đạt tiêu chuẩn theo chức danh;
Tiếp tục đổi mới tiền lương đối với CBCC, viên chức
60% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các CQHC nhà nước được thực hiện trên mạng điện tử; 100% CQHC nhà nước từ cấp huyện trở lên có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử cung cấp đầy đủ thông tin theo quy định; cung cấp tất cả các dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 2 và hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến mức độ 3 tới người dân và doanh nghiệp;
Các trang tin, cổng thông tin điện tử của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoàn thành việc kết nối với Cổng thông tin điện tử Chính phủ, hình thành đầy đủ mạng thông tin điện
tử hành chính của Chính phủ trên Internet
Giai đoạn 2: từ năm 2016 đến 2020
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN;
Hệ thống các CQHC nhà nước từ trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả;
Thủ tục hành chính được cải cách cơ bản, mức độ hài lòng của nhân dân và doanh nghiệp về TTHC đạt mức trên 80% vào năm 2020;
Đến năm 2020, đội ngũ CBCC, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình
độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước; 100% các CQHC nhà nước có cơ cấu cán bộ, công chức theo vị trí việc làm;
Chính sách tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức được cải cách cơ bản;
Trang 34thực hiện thang, bảng lương và các chế độ phụ cấp mới; đến năm 2020 tiền lương bảo đảm được cuộc sống CBCC, viên chức và gia đình có mức sống trung bình khá trong xã hội;
Sự hài lòng của cá nhân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trên các lĩnh vực giáo dục, y tế đạt mức trên 80% vào năm 2020; sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với sự phục vụ của các CQHC nhà nước đạt mức trên 80% vào năm 2020
2.3.3 Những văn bản pháp lý liên quan đến cải cách hành chính công
Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 đã xác định CCHC là một trong ba khâu đột phá chiến lược để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Theo đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 phê duyệt Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011 -
2020 Tiếp theo Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 13/6/2013
về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ Các văn bản có liên quan về CCHC (xem phụ lục 2)
2.4 MỘT SỐ KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở
TP ĐÀ NẴNG VÀ TỈNH AN GIANG
2.4.1 Kinh nghiệm cải cách hành chính ở TP Đà Nẵng
Trong hơn 10 năm qua qua, CCHC là lĩnh vực có tác động mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của TP Đà Nẵng Từ năm 2005 đến 2015, Đà Nẵng luôn thuộc nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): xếp thứ nhất các năm 2008, 2009, 2010, 2013 và 2014; dẫn đầu bảy năm liền
về Chỉ số mức độ sẵn sàng ứng dụng CNTT (ICT-Index) từ 2009 đến 2015; hai năm liền xếp thứ hai về Chỉ số quản trị hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2012 và 2013; dẫn đầu hai năm liền về Chỉ số CCHC (PAR-Index) năm 2012 và 2013; đứng đầu về Chỉ số công lý và tiêu chí TTHC công năm 2014 Từ thực tiển đạt được TP
Đà Năng rút những kinh nghiệm, đó là:
Trang 35Thứ nhất, sự chỉ đạo xuyên suốt, quyết liệt của lãnh đạo Thành uỷ, HĐND,
UBND thành phố đến lãnh đạo các cấp, các ngành Đây là yếu tố tiên quyết dẫn đến thành công trong CCHC
Thứ hai, căn cứ vào Chương trình tổng thể CCHC Nhà nước để xây dựng kế
hoạch 10 năm, 5 năm và hàng năm về CCHC của thành phố Hàng năm, Sở Nội vụ chủ động tham mưu cho UBND thành phố ban hành Kế hoạch công tác CCHC, trong đó xác định cụ thể nội dung công việc cần thực hiện, phân công cơ quan chủ trì và phối hợp, xác định rõ thời gian bắt đầu và kết thúc, dự kiến kết quả hoặc sản phẩm cụ thể sẽ đạt được, dự toán và cân đối nguồn lực để triển khai
Thứ ba, công tác theo dõi, giám sát, kiểm tra, thanh tra về CCHC phải được
tiến hành thường xuyên, có thể lặp đi lặp lại ở những đơn vị còn nhiều hạn chế, yếu kém nhằm tạo kết quả chuyển biến thực sự rõ nét về kỷ luật, kỷ cương hành chính, năng lực quản lý, điều hành và chất lượng dịch vụ công Sở Nội vụ còn tham mưu nhiều hình thức theo dõi, kiểm tra bằng việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT, thông qua
các phần mềm CCHC tại địa chỉ cchc.danang.gov.vn, phần mềm quản lý văn bản, điều hành, phần mềm một cửa điện tử tập trung tại địa chỉ egov.danang.gov.vn…
góp phần nâng cao tính hiệu quả, toàn diện, kịp thời của công tác này Nhờ đó, những hạn chế trong công tác CCHC tại các đơn vị, địa phương được phát hiện kịp thời và khắc phục nhanh chóng
Thứ tư, cần phải có công cụ làm đòn bẩy, tạo động lực thúc đẩy làm chuyển
biến tích cực, mạnh mẽ công tác CCHC Từ năm 2008, UBND thành phố ban hành thực hiện hệ thống chỉ số theo dõi, đánh giá, xếp hạng kết quả CCHC hàng năm Việc xếp hạng về CCHC hàng năm đã thực sự tạo động lực thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh giữa các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị Từ đó, lãnh đạo ở từng đơn vị quan tâm, đầu tư nhiều thời gian, nguồn lực hơn để cải thiện thứ hạng của đơn vị
Thứ năm, nhiều mô hình, cách làm phù hợp, thiết thực và hiệu quả trong
CCHC, được tuyên truyền phổ biến, nhân rộng: Cuộc vận động "3 hơn": nhanh
hơn, hợp lý hơn, thân thiện hơn trong CCHC; Thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý; Mô hình đánh giá công chức theo kết quả việc làm; Mô hình một cửa điện tử tập trung; Khảo sát trực tuyến mức độ hài lòng của công dân, tổ chức đối với CBCC
Trang 36làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ TTHC và chất lượng DVHCC của đơn vị
Thứ sáu, CCHC phải gắn với thực hiện dân chủ ở cơ quan, địa phương, đơn
vị; phát huy sức mạnh tập thể, tạo sự đồng thuận cao trong thực hiện, giám sát, kiểm tra, đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực 100% TTHC được công khai thông qua nhiều hình thức như niêm yết tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, đăng tải trên trang thông tin điện tử của thành phố và trên website của từng cơ quan, đơn vị Đáng chú ý nhất là Trung tâm Thông tin dịch vụ công thuộc Sở Thông tin và Truyền thông đóng vai trò trung tâm hỗ trợ thông tin về dịch vụ hành chính công đa
phương diện Đây là nơi các tổ chức, công dân có thể truy vấn về tình trạng xử lý hồ
sơ; đánh giá mức độ hài lòng khi tham gia các dịch vụ công trực tuyến của thành phố
Thứ bảy, sự vào cuộc tích cực của các cơ quan thông tin đại chúng đã góp
phần vào kết quả, hiệu quả của công tác CCHC Nhà nước ở địa phương Thành phố chủ động phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng xây dựng chuyên mục, chuyên trang về CCHC
Thứ tám, Con người là nhân tố quyết định trong công tác CCHC, đặc biệt là
người đứng đầu các cơ quan, đơn vị; cùng với kiến thức, tư duy, quan điểm, lập trường, kinh nghiệm thực tiễn thì phải thực sự có tâm, có tầm, có ý chí, nghị lực, dám đổi mới, dám làm, dám chịu trách nhiệm và còn phải biết kiên trì, nhẫn nại
2.4.2 Kinh nghiệm cải cách hành chính ở tỉnh An Giang
Kết quả cải cách trên tất cả các lĩnh vực QLNN được ghi nhận trong xếp hạng CCHC của Bộ Nội vụ qua các năm: Năm 2012, xếp hạng 05/63 tỉnh thành với tổng điểm là 83,25; năm 2013, xếp hạng 15/63 với tổng điểm là 82,41; năm 2014, xếp hạng 15/63 với tổng điểm là 84,84, thuộc nhóm điều hành và thực hiện tốt Để đạt được kết quả trên, kinh nghiêm và giải pháp thực hiện:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các cấp ủy Đảng, chính quyền,
đội ngũ CBCC và nhân dân về CCHC; xác định đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của từng tổ chức, từng CBCC, và chủ thể thụ hưởng lợi ích của CCHC trước hết là nhân dân, là các nhà đầu tư, các doanh nghiệp Vì vậy, tư tưởng chỉ đạo
Trang 37nhất quán, xuyên suốt là phải lấy sự hài lòng của nhân dân, nhà đầu tư, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả CCHC
Thứ hai, đổi mới nội dung, phương thức tổ chức thực hiện Việc chỉ đạo thực
hiện CCHC cần bám sát chương trình, kế hoạch, mục tiêu, các nội dung quan trọng: (1) có chính sách đãi ngộ, thu hút và đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực, bản lĩnh đội ngũ CBCC, đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới; (2) cải cách TTHC tiếp tục là khâu đột phá, TTHC phải đơn giản, thông suốt, minh bạch, nâng cao mức độ hài lòng của người dân; (3) nâng cao chất lượng giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, kết hợp với mô hình nhận và trả kết quả TTHC qua mạng (internet), qua dịch vụ bưu chính; (4) đẩy mạnh thực hiện các đề án, dự án ứng dụng CNTT hướng đến xây dựng nền hành chính điện tử Đổi mới phương thức chỉ đạo, tổ chức thực hiện
Thứ Ba, nâng cao chất lượng các cơ quan và đội ngũ CBCC chức làm công
tác tham mưu về CCHC Rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ các cơ quan; xây dựng quy chế phân công giữa các ngành, phân cấp giữa các cấp và phối hợp giữa cơ quan các cấp Định rõ trách nhiệm, thẩm quyền và nghĩa vụ của người đứng đầu cơ quan, đơn vị Điều chỉnh một số công việc, khắc phục sự chồng chéo, trùng lặp, chuyển một số công việc cho tổ chức xã hội hoặc doanh nghiệp thực hiện dưới hình thức dịch vụ công Tập trung nguồn lực ðầu tý hiện ðại hóa CQHC nhà nýớc các cấp; áp dụng các công cụ, phương pháp quản lý tiên tiến, hiện đại
Thứ tư, huy động các nguồn lực để đầu tư thực hiện tốt các chương trình, đề
án, dự án CCHC Tranh thủ các nguồn lực ngân sách và khuyến khích huy động xã hội hóa các nguồn đầu tư ngoài ngân sách theo quy định của pháp luật để thực hiện các đề án, dự án, nhiệm vụ CCHC
Thứ năm, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự chỉ đạo của chính
quyền các cấp; thường xuyên sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, chọn những khâu đột phá để đẩy mạnh CCHC
Sáu là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng và
nhân dân trong việc giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán
bộ, công chức thực thi công vụ
Trang 382.5 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA TP ĐÀ NẴNG, TỈNH AN GIANG CẦN NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2011-2016
Một là: Công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp chính quyền địa phương
phải thường xuyên, kỳ quyết, tạo được chuyển biến mạnh mẽ, rõ nét trong nhận thức, trong thực hiện trách nhiệm công vụ của đội ngũ CBCC trong thực hiện chương trình, kế hoạch CCHC Có thể nói, tốc độ, kết quả và hiệu quả CCHC phụ thuộc rất lớn vào mức độ quyết tâm của lãnh đạo các cấp
Hai là: Cải cách TTHC là khâu đột phá, TTHC phải đơn giản, thông suốt,
minh bạch, nâng cao mức độ hài lòng của người dân, nâng cao chất lượng giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, kết hợp với mô hình nhận và trả kết quả TTHC qua mạng (internet), qua dịch vụ bưu chính
Ba là: Có nhiều mô hình, cách làm phù hợp, thiết thực và hiệu quả trong
CCHC, ðýợc tuyên truyền phổ biến, nhân rộng výợt Ðó là: "Cuộc vận động "3
hơn": nhanh hơn, hợp lý hơn, thân thiện hơn trong CCHC", "Mô hình đánh giá công chức theo kết quả việc làm ", "Mô hình một cửa điện tử tập trung", "Khảo sát trực tuyến mức độ hài lòng của công dân, tổ chức đối với CBCC làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ TTHC và chất lượng dịch vụ hành chính công của đơn vị"
Bốn là: Công tác theo dõi, giám sát, kiểm tra, thanh tra về CCHC phải được
tiến hành thường xuyên, có thể lặp đi lặp lại ở những đơn vị còn nhiều hạn chế, yếu kém Sở Nội vụ cần có nhiều hình thức theo dõi, kiểm tra bằng việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT, thông qua các phần mềm CCHC, trang tin điện tử, phầm mềm một cửa điện tử, nhằm góp phần nâng cao tính hiệu quả, toàn diện, kịp thời của công tác này Nhờ đó, những hạn chế trong công tác CCHC tại các đơn vị, địa phương được phát hiện kịp thời và khắc phục nhanh chóng
Năm là: Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng và
nhân dân, các phương tiện thông tin trong việc giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và đội ngũ CBCC thực thi công vụ
Trang 39CHƯƠNG 3: THỰC HIỆN CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CÔNG VÀ KHẢ NĂNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG Ở CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2011-2015
3.1 ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH KINH TẾ – XÃ HỘI
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Cà Mau là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và nằm trọn trên bán đảo Cà Mau, phần đất liền có toạ độ từ 8030’ đến
9010’ vĩ độ Bắc, 10408’ đến 10505’ kinh độ Đông Phía bắc tiếp giáp với tỉnh Kiên Giang và tỉnh Bạc Liêu; Phía Đông và phía Nam tiếp giáp với Biển Đông; Phía Tây tiếp giáp với vịnh Thái Lan
Diện tích phần đất liền của tỉnh là 5.294,8 km2; bằng 13,13% diện tích vùng ĐBSCL và bằng 1,58% diện tích cả nước Tỉnh Cà Mau được chia thành 9 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm thành phố Cà Mau và các huyện: Trần Văn Thời, Thới Bình, U Minh, Cái Nước, Phú Tân, Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển; cấp xã có
101 đơn vị (82 xã, 09 thị trấn, 10 phường)
Về địa lý kinh tế trong đất liền, theo Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Cà Mau là 1 trong 4 tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL (Cà Mau, An Giang, Kiên Giang và thành phố Cần Thơ) Trong Quy hoạch xây dựng ĐBSCL đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 158/QĐ-TTg ngày 09 tháng
10 năm 2009 đã xác định thành phố Cà Mau là đô thị hạt nhân của Vùng đô thị Tây Nam, kết nối với các thành phố Rạch Giá, Hà Tiên, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Thị xã Vị Thanh; thuộc các trục hành lang kinh tế đô thị theo đường thủy và đường bộ TP Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Cà Mau
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau
3.1.2.1 Dân số và lao động
Theo niên giám thống kê tỉnh Cà Mau năm 2014, dân số trung bình của tỉnh
Cà Mau là 1.216.388 người, mật độ dân số 230 người/km2 Dân số trung bình khu vực thành thị năm 2014 là 274.427 người, chiếm 22,56% dân số của tỉnh Dân số
Trang 40nông thôn Cà Mau 941.961 người, chiếm 77,44% dân số của tỉnh
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của Cà Mau giai đoạn 2010 - 2014 có xu hướng tăng Năm 2010 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh là 1,04%, đến năm 2014 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh là 1,25%
Tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của tỉnh thời điểm 01/7/2014 là 602.842 người Cơ cấu lao động theo ngành chủ yếu vẫn là nông nghiệp và thủy sản Trình độ học vấn, ngành nghề, trình độ đào tạo, đạt mức trung bình của vùng Tập quán, kinh nghiệm canh tác và kỹ năng nghề nghiệp của lao động Cà Mau được tích lũy qua nhiều thế hệ thuộc loại khá so với các tỉnh khác, nhất là kỹ năng lao động nghề nuôi trồng, khai thác thủy, hải sản, trồng lúa
3.1.2.2 Về tăng trưởng kinh tế
GRDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 1.700 USD, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3,4% Trong 5 năm (2011-2015), nền kinh tế tỉnh Cà Mau duy trì ở mức độ khá,
cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, các ngành, lĩnh vực kinh tế quan trọng và
hạ tầng kinh tế xã hội phát triển nhanh Kinh tế tăng trưởng ổn định, GRDP bình quân đạt 8,3%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tỷ trọng ngư, nông, lâm nghiệp giảm từ 39,2% xuống 31,1%; thương mại - dịch vụ tăng từ 24,2% lên 27,6%; Công nghiệp, xây dựng đạt 29,1%
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm 56.228 tỷ đồng, chiếm 30,6% GRDP; Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 20.063 tỷ đồng, vượt 18% chỉ tiêu đề ra, tăng bình quân 20% /năm Chi ngân sách 30.851 tỷ đồng, tăng bình quân 13%/năm Việc đầu
tư xây dựng đường ô tô đến trung tâm xã đến cuối năm 2015 hoàn thành 78/82 xã, đạt 95%
3.1.3 Đặc điểm hành chính, dân cư
Tính đến ngày 31/12/2015, tỉnh Cà Mau có 19 cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh; 09 cơ quan hành chính cấp huyện (01 thành phố, 8 huyện); 101 đơn vị cấp xã (09 thị trấn, 10 phường, 82 xã) – (xem phụ lục)