1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vi phạm trong hoạt động tín dụng tại các ngân hàng tỉnh cà mau luận văn thạc sĩ 2016

69 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 731,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



HUỲNH VĂN ĐẦY

VI PHẠM TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



HUỲNH VĂN ĐẦY

VI PHẠM TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG TỈNH CÀ MAU

Chuyên ngành: Tài Chính –Ngân hàng

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS PHẠM QUỐC HÙNG

TP Hồ Chí Minh – Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Quốc Hùng Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều do tôi thu thập, được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất có thể trong phạm

vi hiểu biết của tôi Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận văn này và cam kết trên của tôi

Cà Mau, ngày 23 tháng 03 năm 2016

Tác giả

Huỳnh Văn Đầy

Trang 5

2.1.3 Nhận thức 10

2.2 Một số các hành vi vi phạm chủ yếu trong lĩnh vực ngân hàng 12

2.2.2 Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng 15

2.2.3 Hành vi vi phạm về cho vay trong hoạt động của các tổ

2.3.5 Yếu tố về nơi làm việc (môi trường công tác) 28

Trang 6

3.3 Kiểm tra và làm sạch dữ liệu 31

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

VDB: Ngân hàng phát triển Việt Nam

Vasep: Hiệp hội thủy sản

CHXHCNVN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

TTLT: Thông tư liên tịch

TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao

VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao

MHB: Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông cửu long

MB: Ngân hàng quân đội

HDTD: Hoạt động tín dụng

TNHS: Trách nhiệm hình sự

NN: Nông nghiệp; CT: Công thương

GCNQSDD: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trang 9

Bảng 4.17 Hành vi vi phạm – Trình độ chuyên môn 48

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn nghiên cứu đề tài này

Ngân hàng là lĩnh vực đặc biệt quan trọng của mỗi quốc gia, mà sự bất

ổn của nó có thể tạo ra khủng hoảng kinh tế, tài chính, thậm chí dẫn đến khủng hoảng về chính trị Ở Việt Nam, ngân hàng là công cụ quan trọng nhất giúp chính phủ điều hành nền kinh tế, là kênh huy động vốn lớn nhất cho các dự án, là trung tâm thanh toán và thực thi chính sách tiền tệ

Trên góc độ an ninh kinh tế, ngân hàng là nơi tập trung khối lượng lớn tiền mặt, các giấy tờ có giá, các tài sản quý hiếm,…Do vậy các đối tượng phạm tội luôn xác định đây là mục tiêu để thực hiện hoạt động phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản

Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu không chỉ khiến cho nền kinh

tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn mà còn làm cho tình trạng tham nhũng tiêu cực

ở Việt Nam có xu hướng phát triển mạnh, đặc biệt trong hệ thống khối doanh nghiệp Nhà nước và trong hệ thống ngân hàng Những vụ án tham nhũng, cố ý làm trái quy định trong ngành ngân hàng những năm gần đây xảy ra liên tục và

có mức độ ngày càng nghiêm trọng, hàng loạt vụ án được đưa ra ánh sáng, hầu hết là các vụ án nghìn tỷ, gây tổn thất rất lớn cho Nhà nước

Theo số liệu thống kê của Cục Cảnh sát kinh tế - Bộ Công an thì tính từ năm 2005 đến nay (31/12/2014) lực lượng Cảnh sát kinh tế đã phát hiện và điều tra trên 1000 vụ với trên 1700 đối tượng, tài sản thiệt hại trên 30.000 tỷ đồng (trong đó khởi tố trên 600 vụ với trên 1200 bị can)

Tội phạm trên lĩnh vực ngân hàng đã làm cho quá trình triển khai các chủ trương, chính sách pháp luật về hoạt động ngân hàng bị sai lệch, dẫn đến niềm tin của nhân dân vào sự lãnh chỉ đạo của Đảng và sự điều hành của nhà nước bị suy giảm Mặt khác tội phạm trên lĩnh vực ngân hàng cũng đã tác động đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, làm tăng rủi ro và nguy cơ mất an toàn hệ thống

Trang 11

ngân hàng; trực tiếp phá hoại tư tưởng tổ chức và làm tha hóa, biến chất một bộ phận cán bộ, đảng viên trong các ngân hàng

Trên địa bàn tỉnh Cà Mau những năm qua mặc dù tội phạm trên lĩnh vực ngân hàng tương đối ít so với các tỉnh, thành trên cả nước nhưng mức độ thiệt hại thì không hề nhỏ như: vụ án xảy ra tại VDB khu vực Minh Hải năm 2013 trên 1.200 tỷ đồng, với các hành vi vi phạm của cán bộ ngân hàng ngày càng nhiều và

có dấu hiệu lây lang tới nhiều thành phần, đối tượng ngoài xã hội gây bất ổn về

an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây mất niềm tin và bất an của nhân dân khi phải giao dịch qua hệ thống ngân hàng Đặc biệt hiện nay đang trong giai đoạn tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng, theo chủ trương của Ngân hàng Nhà nước là sáp nhập, ghép các ngân hàng nhỏ, yếu kém với ngân hàng lớn nhằm từng bước tăng cường khả năng nguồn vốn để có thể cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài cũng như hiện đại hóa hệ thống ngân hàng,…thì vai trò của cán bộ nhân viên ngân hàng hết sức quan trọng, sự quản lý điều hành của hệ thống ngân hàng để giảm thiểu mức độ sai phạm của ngành là cần thiết

Cà Mau là một tỉnh nhỏ nằm ở cuối cùng của Tổ quốc nhưng lại là tỉnh

có thế mạnh của cả nước về xuất khẩu mặt hàng thủy sản Do vậy hệ thống ngân hàng tại Cà Mau đóng vai trò rất quan trọng trong việc luân chuyển nguồn tài chính, những sai phạm của cán bộ nhân viên ngân hàng sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế của địa phương nói riêng và cả nước nói chung

Với lợi thế về điều kiện tự nhiên thiên nhiên sẳn có phù hợp để ngành thủy sản phát triển thuận lợi nên các doanh nghiệp Cà Mau đã tận dụng và từng bước đưa thủy sản Cà Mau đi lên cụ thể:

Năm 2008 từ chổ toàn tỉnh chỉ có 10 doanh nghiệp có xuất khẩu thủy sản

đi các nước với kim ngạch xuất khẩu là 76,772 tấn, giá trị xuất khẩu là 651,79 triệu USD thì đến năm 2014 toàn tỉnh có trên 19 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản sang các nước với kim ngạch là 118.629 tấn, giá trị xuất khẩu là 1.285 triệu USD

Trang 12

Ngoài ra thì kim ngạch xuất khẩu cũng tăng qua từng năm:

Năm 2009 kim ngạch là 84.715 tấn, giá trị xuất khẩu là 638,02 triệu USD;

Năm 2010 kim ngạch xuất khẩu là 96,001 tấn, giá trị xuất khẩu là 844,83 triệu USD; Năm 2011 kim ngạch xuất khẩu là 84,353 tấn, giá trị xuất khẩu là 897,8 triệu USD; Năm 2012 kim ngạch xuất khẩu là 79,694 tấn, giá trị xuất khẩu là 862,9 triệu USD; Năm 2013 kim ngạch xuất khẩu là 89,898 tấn, giá trị xuất khẩu là 1.043,4 triệu USD; Năm 2014 kim ngạch xuất khẩu là 118,629 tấn, giá trị xuất khẩu là 1.285 triệu USD

(Nguồn: Báo cáo thường niên Vasep tỉnh Cà Mau)

Để duy trì và phát triển ngành thủy sản ở Cà Mau, ngành ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng Bởi ngân hàng là trung gian thực hiện các giao dịch tài chính cho các doanh nghiệp ở Cà Mau có thể chuyển trả tiền, giao dịch với đối tác nước ngoài và là đơn vị cung ứng nguồn vốn chính để các doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn phục vụ cho việc thu mua nguyên liệu xuất khẩu, mở rộng hệ thống nhà máy sản xuất phục vụ cho đầu tư phát triển

Từ năm 2008 với định hướng đầu tư cho xuất khẩu mặt hàng thủy sản thì Chính phủ đã chỉ đạo cho ngân hàng nhà nước tập trung tối đa nguồn vốn để hỗ trợ kích thích xuất khẩu và Cà Mau là tỉnh nằm trong chủ trương đó, với vốn giải ngân (kể cả đầu tư cho nhà xưởng, máy móc, thiết bị), thể hiện như sau:

Trang 13

lý nên không còn hoạt động (vụ án xảy ra tại VDB khu vực Minh Hải thiệt hại trên 1.200 tỷ đồng liên quan đến 6 doanh nghiệp xuất khẩu)

Do vậy, đảm bảo ngành ngân hàng phát triển lành mạnh đóng vai trò rất quan trọng đối với việc hỗ trợ ngành thủy sản

Nhằm đảm bảo cho ngành ngân hàng phát triển lành mạnh cần phải tìm

ra các giải pháp để nhanh chóng ngăn chặn các sai phạm nghiêm trọng như trong thời gian vừa qua

Để có cơ sở để tìm ra các giải pháp phù hợp thì một việc cần phải làm là nghiên cứu kỹ các sai phạm đã xảy ra đề phân tích được các nguyên nhân phát hiện ra các vấn đề tồn tại cơ bản Hiện tại chưa có nghiên cứu khoa học nào được tiến hành để phân tích cẩn trọng hệ thống các sai phạm trong ngành ngân hàng ở

Cà Mau, và đó là lý do tôi chọn đề tài nghiên cứu “Vi phạm trong hoạt động tín dụng tại các ngân hàng tỉnh Cà Mau” để làm đề tài nghiên cứu với mong

muốn đóng góp một số quan điểm cũng như giải pháp cho vấn đề về các hành vi

vi phạm trong hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Cà Mau nói riêng và Việt Nam nói chung

Trang 14

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích các hành vi vi phạm của cán bộ, nhân viên ngân hàng ở Cà Mau với các yếu tố cơ bản về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, giới tính, môi trường công tác và tuổi

Một số tồn tại cơ bản và thực trạng về các hành vi vi phạm của ngành ngân hàng tại tỉnh Cà Mau giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014

Phân tích đa chiều về các nhân tố ảnh hưởng, tác động đến hành vi vi phạm trong hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Cà Mau

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các hành vi vi phạm trong hệ thống ngân hàng

và các nhân tố có tác động, ảnh hưởng đến hành vi này

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài sẽ được nghiên cứu trong phạm vi các ngân hàng trên địa bàn tỉnh

Cà Mau

Thời gian từ năm 2005 đến năm 2014 (10 năm)

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Thu thập dữ liệu thứ cấp và sử dụng phương pháp phân tích qua phần mềm SPSS để đánh giá mẩu, so sánh đa chiều về các yếu tố với hành vi vi phạm của các đối tượng có liên quan đến

1.6 Kết cấu đề tài

Luận văn gồm 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trang 15

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả phân tích

Chương 5: Kết luận và Kiến nghị

Trang 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Cơ sở của hành vi cá nhân

2.1.1 Thái độ

Thái độ là những biểu đạt có tính đánh giá (tích cực hay tiêu cực) liên quan đến các vật thể, con người và các sự kiện Khi ai đó nói: "Tôi thích công việc của mình là khi người đó đang biểu đạt thái độ của mình đối với công việc Những thái độ này bao gồm:

2.1.1.1 Thỏa mãn công việc

Thỏa mãn công việc chỉ thái độ chung của một cá nhân với công việc của người đó; một người không thỏa mản với công việc thường có những thái độ tiêu cực đối với những công việc khi một người lãnh đạo nói về các thái độ của nhân viên thường là họ có ý nói sự thỏa mản của nhân viên đối với công việc

2.1.1.2 Quy luật mâu thuẩn và giảm mâu thuẩn trong nhận thức

Mâu thuẩn nhận thức xảy ra khi một người có hai thái độ hoặc nhiều hơn khác nhau đối với sự vật hoặc hiện tượng hoặc khi có sự không nhất quán giửa hành vi của một người với các thái độ của người đó Lý thuyết về mâu thuẩn nhận thức cho rằng mâu thuẩn trong nhận thức là điều không thể tránh khỏi và mọi người thường tìm cách giảm thiểu mâu thuẩn và loại bỏ những nguyên nhân của nó

2.1.1.3 Quan hệ giữa thái độ và hành vi

Mối quan hệ giữa hành vi và thái độ càng thể hiện rõ khi chúng ta xem xét thái độ và hành vi cụ thể Thái độ càng được xác định cụ thể thì càng dễ dàng xác định một hành vi liên quan, đồng thời khi đó khả năng chỉ ra mối quan hệ giữa thái độ và hành vi càng lớn Thông thường, thái độ và hành vi của con người thống nhất với nhau Tuy nhiên, trên thực tế thái độ và hành vi đôi khi không

Trang 17

thống nhất hoặc mâu thuẩn với nhau Một yếu tố khác cũng có ảnh hưởng rất lớn tới quan hệ thái độ - hành vi đó là những ràng buộc xã hội đối với hành vi Đôi khi sự thống nhất giữa thái độ và hành vi do các áp lực xã hội buộc cá nhân phải

cư xử một cách nhất định Như vậy phần lớn các nghiên cứu về quan hệ giữa thái

độ và hành vi đều cho thấy chúng có quan hệ với nhau Cụ thể hơn thái độ có ảnh hưởng đến hành vi và thường thống nhất với hành vi Tuy vậy, thái độ và hành vi

có thể mâu thuẩn với nhau vì nhiều lí do; cá nhân có thể và thường có hành vi mâu thuẩn với thái độ vào một thời gian nào đó, mặc dù có những áp lực giảm mâu thuẩn để hướng tới sự nhất quán

2.1.2 Tính cách

2.1.2.1 Tính cách và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành tính cách

cá nhân

Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành tính cách cá nhân:

- Bẩm sinh, gen duy truyền

- Môi trường nuôi dưỡng

Trang 18

- Tính cởi mở

- Độc đoán

- Chủ nghĩa thực dụng

- Tự kiểm soát

- Thiên hướng chấp nhận rủi ro

2.1.2.3 Tính cách phù hợp với công việc

Thực tế là tính cách của các cá nhân rất khác nhau và đặc điểm, nội dung, yêu cầu của các công việc cũng vậy Theo đó, các nhà quản lý đã có những nỗ lực để chọn những người có tính cách phù hợp với những yêu cầu của những công việc

2.1.2.4 Tính cách và hành vi của cá nhân

Các nhà tâm lý học nghiên cứu về tính cách cho rằng hành vi của cá nhân thực sự bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những đặc điểm tính cách của bản thân Thứ nhất, những đặc điểm tính cách sẽ quyết định cách thức hành động và ra quyết định của cá nhân trong những tình huống nhất định Chẳng hạn, một cá nhân có tính hướng ngoại thì thường ra quyết định rất nhanh và thường không suy nghĩ một cách chính chắn trước khi đưa ra quyết định nào đó Ngược lại, một người có tính hướng nội thường suy nghĩ rất nhiều trước khi đưa ra quyết định Thứ hai, tính cách của cá nhân sẽ ảnh hưởng đến cách cư xử của họ với các thành viên khác khi họ làm việc trong cùng một nhóm Chẳng hạn, cá nhân có tính hòa đồng cao thì sẽ ít có xung đột hay mâu thuẫn với các thành viên khác trong nhóm nhiều hơn

Trang 19

2.1.3 Nhận thức

2.1.3.1 Nhận thức và các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức

Nhận thức là một quá trình qua đó cá nhân sắp xếp và lý giải những ấn tượng, cảm giác của mình để đưa ra ý nghĩa cho một tình huống cụ thể Nhiều nghiên cứu về nhận thức cho thấy các cá nhân khác nhau có thể nhìn nhận và hiểu một vấn đề theo nhiều cách khác nhau Thực tế là không ai nhìn thấy được hiện thực; chúng ta chỉ diễn giải những gì chúng ta nhìn thấy và gọi đó là hiện thực

Khi một cá nhân nhìn vào một đối tượng và cố gắng diễn giải những gì mình nhìn thấy, thì sự diễn giải đó chịu ảnh hưởng nặng nề của các đặc điểm cá nhân của chủ thể nhận thức Các đặc điểm cá nhân ảnh hưởng đến nhận thức bao gồm các thái độ, tính cách, động cơ, lợi ích, kinh nghiệm trong quá khứ, các kỳ vọng, trình độ chuyên môn, văn hóa,

Các đặc điểm của đối tượng nhận thức có thể ảnh hưởng đến những gì được nhận thức Những người sôi nổi có nhiều khả năng được chú ý trong nhóm hơn so với những người trầm lặng Cũng như vậy đối với những người cực kỳ hấp dẫn và những người không hấp dẫn

2.1.3.2 Lý thuyết quy kết

Lý thuyết quy kết đã được đưa ra để giải thích về cách chúng ta đánh giá một người các cách khác nhau dựa vào ý nghĩa, giá trị mà chúng ta quy cho một hành vi nhất định Về cơ bản, lý thuyết này cho rằng khi quan sát hành vi của một cá nhân, chúng ta cố gắng xác định xem liệu hành vi đó xuất phát từ nguyên nhân bên trong hay bên ngoài và sự xác định đó còn dựa vào ba yếu tố: Tính riêng biệt, sự liên ứng và sự nhất quán

Các hành vi có nguyên nhân từ bên trong là những hành vi trong phạm vi kiểm soát của cá nhân Các hành vi có nguyên nhân từ bên ngoài thường là kết

Trang 20

quả của những nguyên nhân bên ngoài; nghĩa là người đó được coi là bị tình huống bắt buộc đi tới hành vi

2.1.3.3 Lối tắt để đánh giá người khác

Đánh giá về người khác là công việc muôn thuở của mọi người trong các

tổ chức Chẳng hạn, các nhà quản lý thường xuyên đánh giá kết quả làm việc của nhân viên dưới quyền, các nhân viên đánh giá liệu những nhà quản lý có thực sự công bằng không Trên thực tế, các cá nhân thường sử dụng "những lối tắt" để đánh giá

2.1.4 Học hỏi

2.1.4.1 Học hỏi

Khái niệm cuối cùng được đưa ra là học hỏi với lý do là hầu như toàn bộ hành vi phức tạp nhất của con người đều được học hỏi Nếu chúng ta muối giải thích, dự đoán hay kiểm soát hành vi, chúng ta cần phải hiểu người ta học hỏi ra sao

2.1.4.2 Quá trình học hỏi

Học hỏi giúp chúng ta thích nghi và làm chủ môi trường; bằng cách thay đổi hành vi cho phù hợp với các điều kiện đang thay đổi, chúng ta trở thành những công dân có trách nhiệm Học hỏi được xây dựng dựa trên quy luật ảnh hưởng, quy luật cho rằng hành vi phụ thuộc vào những hệ quả của nó Hành vi

mà theo sau nó là một hệ quả không thuận lợi thường không được lập lại; hành vi

mà theo sau đó là một hệ quả thuận lợi thường được lập lại

Trang 21

2.2 Một số các hành vi vi phạm chủ yếu trong lĩnh vực ngân hàng

2.2.1 Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 139 Bộ luật hình

sự nước CHXHCNVN

Về hình phạt:

- Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có

giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi

chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Tái phạm nguy hiểm; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Dùng thủ đoạn xảo quyệt; Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; Gây hậu quả nghiêm trọng

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; Gây hậu quả rất nghiêm trọng

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Trang 22

- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Về mặt khách quan có các dấu hiệu sau:

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu)

và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này

mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả

Lưu ý: Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho

kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội

sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự

Trang 23

- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình

sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chí bị truy cứu những tội danh tương ứng

Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của

người khác

Về mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

Tuy nhiên cần lưu ý:

Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định

Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu

Trang 24

trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng (như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

2.2.2 Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng

Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng được quy định tại điều

285 Bộ luật hình sự nước CHXHCNVN

Về hình phạt

- Người nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 144, 235 và 301 của Bộ luật này, thì bị phạt cải

tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm

- Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì

bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm

- Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định, cấm hành

nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm

Cũng như đối với tội “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước”, chủ thể của tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” cũng được coi là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan, tổ chức mới có thể là chủ thể của tội phạm này Việc xác định tư cách chủ thể của tội phạm này là việc làm đầu tiên khi xác định hành vi phạm tội

Cũng như đối với các tội phạm về chức vụ khác, người có chức vụ, quyền hạn là người đã được phân tích ở phần khái niệm về chức vụ Tuy nhiên, đối với tội phạm này khác với các tội thiếu trách nhiệm quy định tại các Điều

144, 235 và 301 Bộ luật hình sự ở chỗ, trách nhiệm của người phạm tội là trách

Trang 25

nhiệm gián tiếp đối với hậu quả xảy ra (hành vi thiếu trách nhiệm không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả nghiêm trọng) Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng với ba trường hợp thiếu trách nhiệm quy định tại các Điều 144, 235 và 301 Bộ luật hình sự

Mặc dù chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biêt, nhưng điều khẳng định này cũng chỉ đúng đối với trường hợp vụ án không có đồng phạm, nếu vụ án

có đồng phạm thì chỉ yêu cầu người thực hành phải là người có chức vụ, quyền hạn, còn những người đồng phạm khác không nhất thiết phải là người có chức

vụ, quyền hạn

Dù là người có chức vụ, quyền hạn hay người đồng phạm khác trong vụ

án, thì họ cũng chỉ trở thành chủ thể của tội phạm này trong những trường hợp sau:

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự

về tội thiếu trách nhiệm trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 285 Bộ luật hình sự, vì trường hợp phạm tội này

là tội phạm rất nghiêm trọng Tuy nhiên, đối với những người này họ chỉ có thể

là đồng phạm trong vụ án với vai trò giúp sức, vì những người này chưa thể trở thành người có chức vụ, quyền hạn

Người dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 285 Bộ luật hình sự mà chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, vì theo quy định tại Điều 12

Bộ luật hình sự thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Đối với tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 của điều luật chỉ là tội phạm nghiêm trọng

Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

Khách thể của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; làm cho cơ quan, tổ chức bị suy yếu, mất uy

Trang 26

tín, mất lòng tin của nhân dân vào chế độ; gây thất thoát, lãng phí nghiêm trọng đến tài sản của cơ quan, tổ chức; làm cho cán bộ, công chức ở cơ quan, tổ chức mình bị thoái hoá biến chất

Các dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan

Có thể nói người phạm tội chỉ có hành vi khách quan duy nhất là thiếu trách nhiệm, bản thân của hành vi này đã phản ảnh bản chất của tội phạm Nhưng biểu hiện của hành vi thiếu trách nhiệm lại không phải giống nhau nó tuỳ thuộc vào nhiệm vụ được giao và tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể lúc xảy ra hậu quả

Hành vi thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý, điều hành của người

có chức vụ, quyền hạn được biểu hiện như: Vi phạm các nguyên tắc, chính sách, chế độ liên quan đến việc quản lý Nhà nước, quản lý con người, quản lý tài sản v.v…

Các nguyên tắc, chế độ có liên quan đến việc quản lý Nhà nước có thể là

là các chế độ chính sách trên phạm phi toàn quốc, từng địa phương, từng ngành, từng lĩnh vực

Các nguyên tắc, chế độ có liên quan đến việc quản lý con người là nguyên tắc chế độ quản cán bộ, công chức hoặc thành viên trong một cơ quan, tổ chức; có thể là quy chế, chỉ thị, nghị quyết, nghị định… về công tác quản lý cán

bộ, công chức

Các nguyên tắc, chế độ có liên quan đến việc quản lý tài sản có thể là các nguyên tắc, chế độ quản lý kinh tế, nhưng cũng có thể chỉ là nguyên tắc, chế độ

về hành chính nhưng có liên quan quản lý tài sản, đôi khi chỉ là một bản nội quy

cơ quan nếu vi phạm mà gây hậu quả nghiêm trọng thì cũng bị coi là thiếu trách nhiệm

Thiếu trách nhiệm là không làm hoặc làm không hết trách nhiệm được giao nên mới gây ra hậu quả, nếu làm tròn trách nhiệm được giao thì không thể

Trang 27

gây ra hậu quả Trường hợp đã làm hết trách nhiệm mà hậu quả vẫn xảy ra thì không phải là thiếu trách nhiệm và không phải là hành vi phạm tội này dù hậu quả gây ra rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng

Thực tiễn xét xử cho thấy, hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng bị coi là hành vi phạm tội thường là những hành vi thiếu yếu tố cấu thành tội phạm khác hoặc không chứng minh được động cơ, mục đích phạm tội

Hậu quả

Hậu quả của tội phạm này là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm là một bộ phân hợp thành tội danh, đó là hậu quả nghiêm trọng Nếu hậu quả gây ra rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 của điều luật

Hành vi thiếu trách nhiệm gây ra hậu quả nghiêm trọng, được xác định như là một nguyên nhân gián tiếp Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt tội phạm tội này với một số tội phạm khác có hành vi thiếu trách nhiệm là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả như tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước

Hậu quả nghiêm trọng là những thiệt hại được xác định và có cơ sở xác định là nghiêm trọng về tài sản, về vật chất hay tinh thần, thiệt hại về uy tín, danh

dự, tài sản của cơ quan Nhà nước, của tổ chức và cá nhân…

Ở mỗi một tội có dấu hiệu nhận định thiệt hại nghiêm trọng khác nhau và cũng có rất nhiều tội phạm không có quy định cụ thể về mức thiệt hại nghiêm trọng Việc thiệt hại nghiêm trọng sẽ dựa trên cơ sở của hành vi phạm tội đối với với mối quan hệ cụ thể do hành vi phạm tội gây ra, những thiệt hại cụ thể để đánh giá xem mức độ nghiêm trọng đến đâu Một số tội phạm khác mức thiệt hại nghiêm trọng được xác định cụ thể như: Nhóm các tội phạm về sở hữu theo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP hay một

số khác lại được xác định theo Thông tư liên tịch số

Trang 28

01/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BNV hay Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và gần đây nhất là Thông tư liên tịch số 10/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC… Chính vì vậy, rất cần có quy định cụ thể về mức độ thiệt hại nghiêm trọng trong từng lĩnh vực như: Tài sản thiệt hại của cá nhân; Tài sản thiệt hại của tổ chức; Căn cứ đánh gia thiệt hại về tinh thần, Thiệt hại về danh dự, nhân phẩm hay tỷ lệ cụ thể thiệt hại về thể chất, sức khỏe hay tính mạng…

Các dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm

Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng được thực hiện do vô ý Các dấu hiệu về vô ý phạm tội được quy định tại Điều 10 Bộ luật hình

sự Có hai trường hợp vô ý phạm tội:

Trường hợp thứ nhất: là người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình

có thể gây ra hậu quả, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được; khoa học luật hình sự gọi trường hợp vô ý phạm tội này là “vô ý

vì quá tự tin”

Trường hợp thứ hai: là người phạm tội không thấy trước hành vi của

mình có thể gây ra hậu quả , mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước Khoa học luật hình sự gọi trường hợp vô ý phạm tội này là “vô ý vì cẩu thả”

Cả hai trường hợp vô ý trên, người phạm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đều có thể mắc phải tuỳ thuộc vào chức vụ, quyền hạn của họ

và hoàn cảnh cụ thể lúc xảy ra hậu quả Việc xác định lỗi vô ý gây hậu quả nghiêm trọng của người phạm tội là bắt buộc, nhưng không bắt buộc phải xác định người phạm tội do vô ý vì quá tự tin hay vô ý vì cẩu thả

Động cơ phạm tội không phải là yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm này Đây là đặc điểm khác với một số tội phạm khác mà người phạm tội có chức

vụ, quyền hạn thực hiện Do đó, khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, nếu cần xác định động cơ

Trang 29

phạm tội cũng chỉ có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt chứ không có ý nghĩa định tội

2.2.3 Hành vi vi phạm về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng

Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng là hành vi cho vay không có bảo đảm trái quy định của pháp luật; cho vay quá giới hạn quy định hoặc hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về cho vay trong hoạt động tín dụng

Về hình phạt:

- Người nào trong hoạt động tín dụng mà có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến bảy năm: Cho vay không có bảo đảm trái quy định của pháp luật; Cho vay quá giới hạn quy định; Hành vi khác vi phạm

quy định của pháp luật về cho vay trong hoạt động tín dụng

- Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến

mười hai năm

- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm

đến hai mươi năm

- Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề

hoặc làm công việc liên quan đến hoạt động tín dụng từ một năm đến năm năm

Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có trách nhiệm trong hoạt động tín dụng mới có thể là chủ thể của tội phạm này Đối với người khác cũng có thể là chủ thể nhưng họ chỉ là đồng phạm trong vụ án có đồng phạm

Trang 30

Người có trách nhiệm trong hoạt động tín dụng là những người chịu trách nhiệm trong việc cho vay tín dụng như: Giám đốc, Phó giám đốc các ngân hàng chuyên doanh của Nhà nước, ngân hàng cổ phần, các cán bộ tín dụng…

Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm này là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực cho vay trong hoạt động tín dụng

Đối tượng tác động của tội phạm này là các khoản tiền, vàng, ngoại

tệ…cho vay trong hoạt động tín dụng

Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

Người phạm tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng có thể thực hiện một trong các hành vi sau: Cho vay không có bảo đảm trái quy định của pháp luật; Cho vay quá giới hạn quy định; Hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về cho vay trong hoạt động tín dụng

Đối với tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Nếu hậu quả chưa nghiêm trọng, thì người có hành vi vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, thì người phạm tội chưa phải chịu trách nhiệm hình sự

Các dấu hiệu khách quan khác của tội phạm

Ngoài hành vi khách quan, hậu quả, đối với tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, nhà làm luật còn quy định các dấu hiệu khách quan khác như: Quy định của Nhà nước về cho vay trong hoạt động tín dụng Các quy định này chủ yếu là của Nhân hàng Nhà nước về hoạt động tín dụng Vì vậy, khi xác định hành vi vi phạm các quy định về cho vay trong hoạt động tín dụng, các cơ quan tiến hành tố tụng cần nghiên cứu kỹ các văn bản của Nhà nước quy định về cho vay trong hoạt động tín dụng

Trang 31

Các dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng thực hiện hành vi của mình là do cố ý, tức là nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm quy định của Nhà nước về cho vay trong hoạt động của các

tổ chức tín dụng quả nghiêm trọng, mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra

Động cơ của người phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, nhưng chủ yếu vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác

2.2.4 Hành vi đồng phạm (trong từng trường hợp cụ thể được coi là giúp sức)

Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm

Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là

tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm Có trường hợp người thực hành tự ý thực hiện những hành vi vượt quá yêu cầu của các đồng phạm khác

Hành vi đồng phạm tùy vào trường hợp cụ thể, hành vi cụ thể mà có mức hình phạt khác nhau theo từng tội danh được quy định trọng Bộ luật hình sự nước CHXHCNVN

Trang 32

2.2.5 Hành vi vi phạm nhưng chưa tới mức truy cứu trách nhiệm hình sự

Chưa tới mức truy cứu trách nhiệm hình sự là hành vi cùng tham gia thực hiện một hành vi phạm tội nhưng trong từng trường hợp cụ thể, quy định cụ thể của luật hình sự mà chưa thể bị xử lý hình sự Tùy vào trường hợp cụ thể mà xác định hành vi vi phạm phù hợp

2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi vi phạm

2.3.1 Yếu tố về giới tính

Thời gian gần đây, nhiều vụ án nghiêm trọng xảy ra, gây xôn xao dư luận

mà thủ phạm chính lại là phụ nữ Đây là vấn đề gây mất ổn định trật tự xã hội, được rất nhiều người quan tâm Theo khảo sát sơ bộ, thì trong cơ cấu tội phạm hiện nay, các tội phạm do phụ nữ gây ra ngày càng tăng, số đối tượng phạm các tội nghiêm trọng cũng tăng hơn thời gian trước đây Hiện nay số phạm nhân nữ trong các trại giam, nhà tạm giữ đã vượt hơn 12% Theo thống kê của Viện Kiểm sát, từ năm 2008 đến năm 2011, có một số điều luật, phụ nữ phạm tội có tỷ lệ cao hơn nam giới (Điều 123: Tội bắt giữ người trái pháp luật, Điều 182: Tội gây ô nhiễm không khí, Điều 150: Tội loạn luân, Điều 188: Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản và Điều 194: Tội tàng trữ vận chuyển trái phép chất ma túy )

Tính chất các tội phạm do phụ nữ gây ra trong thời gian gần đây ngày càng nghiêm trọng hơn Nhiều vụ án nổi tiếng đều do phụ nữ cầm đầu Trong một số vụ án ma tuý lớn thường có nhiều đối tượng là phụ nữ tham gia Thủ đoạn gây án của đối tượng là phụ nữ cũng rất tinh vi, xảo quyệt, không kém phần tàn bạo, trắng trợn, công khai và coi thường pháp luật Phụ nữ biết triệt để lợi dụng mọi hoàn cảnh, điều kiện cho phép cũng như khéo léo lợi dụng thế mạnh giới tính của mình, tạo ra những điều kiện, lôi kéo đồng phạm để phạm tội và họ rất

dễ thành công hơn nam giới trong một số nhóm tội Đặc biệt, là quyết tâm thực hiện tội phạm của phụ nữ quyết liệt hơn nam giới Hậu quả, tác hại của tội phạm

do phụ nữ gây ra có hệ quả rất lớn đối với xã hội Với vai trò là người mẹ, người

Trang 33

chị trong gia đình, phụ nữ phạm tội rất có thể sẽ để lại những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành nhân cách xấu và trở thành kẻ phạm tội sau này của con em Phụ nữ với những khả năng riêng, có thể làm tha hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, dụ dỗ họ tiếp tay phạm tội Hơn thế nữa, hậu quả của hành vi phạm tội của phụ nữ đã và đang làm ảnh hưởng lớn đến thuần phong mỹ tục tốt đẹp của người Việt Nam

Đặc biệt hiện nay tình trạng bạo lực học đường đang diễn ra hết sức phức tạp mà nữ giới hầu như là nguyên nhân cho tình trạng này

2.3.2 Yếu tố về tuổi

2.3.2.1 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Ở nước ta, căn cứ vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, có tham khảo luật hình sự của các nước khác trên thế giới và trong khu vực, bộ luật hình

sự đã quy định:

Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm

trọng (điều 12 bộ luật hình sự)

Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi được coi là người chưa có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ do đó họ cũng chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm theo quy định của pháp luật chứ không chịu trách nhiệm hình sự về tất cả các tội phạm theo luật hình sự nước ta thì người từ

đủ 14 tuổi trở nên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do

cố ý (khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự)

Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội

mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà

Trang 34

mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (khoản 3 điều 8 bộ luật hình sự).

Nếu người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi lại phạm tội do vô

ý thì họ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Một người chưa đủ 18 tuổi khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội, theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự thì khi điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định rõ tuổi của họ; cách tính đủ tuổi là tính theo tuổi tròn, trong trường hợp không có điều kiện xác định chính xác ngày sinh thì tính ngày sinh theo ngày cuối cùng của tháng sinh, trường hợp cũng không có điều kiện xác định chính xác tháng sinh thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng năm sinh là ngày sinh của người phạm tội

2.3.2.2 Không có năng lực trách nhiệm hình sự

Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và điều khiển được hành vi ấy nếu một người thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng họ không nhận thức được hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội hoặc nhận thức được nhưng không điều khiển được hành vi đó

là người không có năng lực trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại khoản 1 điều 13 bộ luật hình sự, thì tình trạng không

có nặng lực trách nhiệm hình sự là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình

2.3.2.3 Độ tuổi vi phạm pháp luật chủ yếu hiện nay ở Việt Nam

Theo kết quả nghiên cứu được công bố của nhóm nghiên cứu thuộc trường Đại học Cảnh sát nhân dân thì hiện nay tỉ lệ tội phạm ở nhóm tuổi từ 18 đến 30 chiếm đến 70% số lượng người phạm tội trên phạm vi cả nước

Ngày đăng: 13/03/2017, 23:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương, Giáo trình hành vi tổ chức, Nhà xuất bản Đại học kinh tế Quốc Dân năm 2013 Khác
2. Bình luận Bộ luật hình sự, nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2014.Bình luận Bộ luật tố tụng hình sự, nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2014 Khác
4. Sổ tay tín dụng xuất khẩu của Ngân hàng phát triển Việt Nam năm 2009 Khác
5. Báo cáo công tác phòng chống tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng trên địa bàn tỉnh Cà Mau những năm qua, của Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh Cà Mau Khác
6. Báo cáo công tác tổng kết công tác phòng chống tội phạm của lực lượng Cảnh sát kinh tế - Bộ Công an từ năm 2012 đến 2014 Khác
7. Báo cáo tổng kết công tác các năm từ 2005 đến 2014 của Hiệp hội thủy sản Cà Mau Khác
8. Báo cáo tổng kết công tác các năm từ 2005 đến 2014 của Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh Cà Mau Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm