Xuất phát từ hiện trạng ngân sách tỉnh Long An vẫn còn phụ thuộc vào khoản trợ cấp cân đối từ ngân sách trung ương, tôi chọn đề tài “Tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương -
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Lê Xuân Khang
TÍNH BỀN VỮNG TÀI CHÍNH CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG-
TRƯỜNG HỢP TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh-Năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Lê Xuân Khang
TÍNH BỀN VỮNG TÀI CHÍNH CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG-
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn “Tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương - trường hợp tỉnh Long An” là công trình nghiên cứu của chính tác giả
Nội dung được đúc kết từ quá trình học tập và các kết quả nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua Số liệu sử dụng là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hồng Thắng
TP Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Xuân Khang
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các hình vẽ, bảng biểu
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Động cơ nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Nguồn dữ liệu 4
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 Tài chính chính quyền địa phương 5
2.1.1 Vai trò kinh tế của chính quyền địa phương 5
2.1.2 Tài chính chính quyền địa phương 6
2.1.3 Quản lý tài chính của chính quyền địa phương 7
2.2 Tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương 9
2.3 Lược khảo những nghiên cứu liên quan 15
2.4 Khung phân tích 18
2.4.1 Quy mô của chính quyền địa phương 19
2.4.2 Năng lực quản lý tài chính của chính quyền địa phương 20
2.4.3 Cấu trúc dân cư 21
2.4.4 Nền tảng kinh tế của địa phương 21
2.4.5 Phân cấp ngân sách 24
2.4.6 Cơ cấu nguồn thu ngân sách của chính quyền địa phương 24
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Quy trình nghiên cứu 27
3.2 Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu 30
3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 30
3.3.1 Phân tích thống kê mô tả 30
Trang 53.3.3 Phân tích nhân tố khám phá 31
3.3.4 Phân tích hồi quy đa biến 32
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1 Tổng quan kết quả điều tra mẫu phân tích 34
4.1.1 Đặc điểm cá nhân đại diện được khảo sát 34
4.1.2 Thống kê về các nhân tố trong mô hình nghiên cứu 39
4.2 Kiểm định giả thuyết về sự khác biệt của các đặc tính cá nhân được khảo sát 45
4.2.1 Kiểm định giả thuyết về trị trung bình cho các thang đo 45
4.2.2 Kiểm định khác biệt về đặc tính cá nhân đến việc đánh giá tác động các nhân tố đến tính bền vững của tài chính chính quyền địa phương (BVNS) 46
4.3 h EFA 49
4.4 53
4.5 Đánh giá chi tiết cho từng nhân tố sau EFA 58
4.6 Điều chỉnh mô hình và giả thiết nghiên cứu 60
4.7 Phân tích mô tả và tương quan giữa các nhân tố sau EFA 61
4.8 62
4.8.1 Kết quả mô hình 62
4.8.2 64
4.8.3 65
4.8.4 65
4.8.5 65
CHƯƠNG 5 NHẬN ĐỊNH VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 68
5.1 Nhận định từ kết quả nghiên cứu 68
5.2 Gợi ý chính sách 73
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tiếng Việt 88
Tài liệu tiếng Anh 88
PHỤ LỤC
Trang 6ANOVA: Phân tích phương sai (Analysis of Variance)
EFA: Phân tích nhân tô khám phá (Exploratory Factor Analysis)
GDP: tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product)
KMO: Hệ số Kaiser - Mayer – Olkin
OLS: Phương pháp bình phương bé nhất (Ordinary Least Squares)
SIG : Mức ý nghĩa quan sát (Observed significance level)
SPSS: Phần mềm thống kê cho khoa học xã hội (Statistical Package for the Social Sciences)
UNDP: Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (United Nations Development Programme)
VIF: Hệ số nhân tố phóng đại phương sai (Variance inflation factor)
Trang 7Bảng 4.1 Quy mô của chính quyền địa phương
Bảng 4.2 Cấu trúc dân cư
Bảng 4.3 Nền tảng kinh tế địa phương
Bảng 4.4 Năng lực quản lý tài chính của chính quyền địa phương
Bảng 4.5 Phân cấp ngân sách
Bảng 4.6 Cấu trúc nguồn thu ngân sách
Bảng 4.7 Thống kê mô tả chung cho các nhân tố ảnh hưởng
Bảng 4.8 Kiểm định trị trung bình cho các thang đo
Bảng 4.9 Kiểm định khác biệt về Giới tính
Bảng 4.10 Kiểm định khác biệt về vị trí nơi làm việc
Bảng 4.11 Kiểm định khác biệt về số lần chuyển vị trí làm việc trong khu vực nhà nước
Bảng 4.12 Kiểm định khác biệt về thời gian làm việc trong ngành tài chính Bảng 4.13 Kiểm định khác biệt từng cặp về thời gian làm việc trong ngành tài chính
Bảng 4.15 Kết quả phân tích nhân tố khám phá cho nhân tố độc lập lần 1
Bảng 4.16 Kết quả phân tích nhân tố khám phá cho nhân tố độc lập sau cùng Bảng 4.17 Phân tích độ tin cậy các thang đo sau EFA
Bảng 4.18 Các khái niệm nghiên cứu
Bảng 4.19 Phân tích mô tả và tương quan giữa các nhân tố sau EFA
Bảng 4.20 Kiểm định kết quả các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương
Bảng 5.1 Các loại thuế phân chia giữa trung ương và địa phương ở một số quốc gia
Trang 8Hình 1.1 Thu, chi ngân sách theo khu vực
Hình 2.1 Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương
Hình 2.2 Mức cung cấp hàng hóa công đạt hiệu suất Pareto
Hình 3.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu
Hình 4.1 Giới tính
Hình 4.2 Trình độ học vấn
Hình 4.3 Cơ quan làm việc
Hình 4.4 Vị trí tại cơ quan làm việc
Hình 4.5 Thời gian làm việc trong ngành Tài chính
Hình 4.6 Thời gian đã làm việc trong khu vực Nhà nước
Hình 4.7 Số lần chuyển vị trí làm việc trong khu vực nhà nước
Hình 5.1 13 Địa phương điều tiết về ngân sách trung ương
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Động cơ nghiên cứu
Tùy vào thể chế và cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính ở mỗi quốc gia mà hệ thống ngân sách chính phủ được chia là nhiều cấp với tên gọi khác nhau Tại Việt Nam, hệ thống ngân sách nhà nước gồm hai cấp chính là ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã
Bền vững ngân sách cấp quốc gia và bền vững ngân sách cấp địa phương là một mối quan tâm lớn của hầu hết các nhà nước Chính phủ ở bất kỳ đất nước nào cũng hướng đến xây dựng một nền tài khóa bền vững để trước hết bảo vệ ngân sách nhà nước các cấp trước những cú sốc kinh tế nhằm cung cấp hiệu quả hàng hóa, dịch vụ công trong dài hạn Như vậy, bền vững tài khóa gián tiếp thậm chí trực tiếp
hỗ trợ tăng trưởng bền vững và nâng cao dần phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư Cân đối bền vững ngân sách nhà nước sẽ không thể có được nếu thiếu bền vững tài khóa cấp địa phương “Quản lý ngân sách Việt Nam đang có trục trặc về phân cấp Chúng ta nói hằng năm bội chi ngân sách Việt Nam 5% GDP, nếu bóc tách phân cấp mức thâm hụt 5% này thì sẽ biết ngay địa chỉ đang gây thâm hụt là ở đâu Và thực tế, bài toán thâm hụt ngân sách đang nằm chủ yếu từ các địa phương Các địa phương nhận trợ cấp ngân sách được phân bổ xuống mà không có động lực cũng như phát huy hiệu quả hơn nguồn vốn nhận được Việc phân cấp ngân sách diễn ra nhanh nhưng các điều kiện đi kèm như năng lực của bên được phân cấp, năng lực thực thi, giám sát, giải trình trách nhiệm không theo kịp Thực thi các quy định quá lỏng lẻo, chế tài kém”1
Thống kê số liệu quyết toán ngân sách nhà nước cho thấy sau 5 năm (từ năm
2009 -2013), số chi bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương năm 2013 bằng 1,74 lần năm 2009 Loại trừ yếu tố lạm phát, sau 5 năm ngân sách trung ương phải chi trợ cấp nhiều hơn cho các địa phương Vùng Bắc Trung bộ và
1 Đỗ Thiên Anh Tuấn (2015) Cần truy địa chỉ gây thâm hụt ngân sách Báo Tuổi trẻ thứ Sáu 30-10-2015
Trang 10duyên hải miền Trung, vùng miền núi phía Bắc và vùng đồng bằng sông Cửu Long
là khu vực nhận trợ cấp nhiều nhất từ ngân sách trung ương Ngược lại, Vùng Đông Nam bộ đang là khu vực có tổng thu ngân sách trên địa bàn lớn nhất với 4/6 địa phương tự cân đối ngân sách và điều tiết nguồn thu phân chia về ngân sách trung ương (xem hình 1.1)2
Hình 1.1: Thu, chi ngân sách theo khu vực
(Nguồn: Số liệu quyết toán ngân sách nhà nước năm 2013)
Long An, một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong gần 80% địa phương ở Việt Nam thường xuyên nhận bổ sung từ ngân sách trung ương dưới
cả hai hình thức là bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu, nhưng vẫn có kết dư Vào năm 2004 lần đầu tiên và có thể coi là duy nhất cho đến nay, Long An lọt vào danh sách 15 địa phương tự cân đối được thu chi cùng với Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Khánh Hòa, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ Nhiều năm trở lại đây, Long An không còn nằm trong danh sách này nữa Trong giai đoạn 2011-2015,
2
http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/tinh-thanh-dang-ngon-nhieu-ngan-sach-trung-uong-nhat
20151031143233692.chn
Trang 11ngân sách tỉnh Long An thường xuyên nhận bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu
từ ngân sách trung ương Khoản bổ sung từ ngân sách trung ương đạt đỉnh điểm 2.486 tỷ đồng năm 2013 sau đó giảm còn 1.765 tỷ đồng vào năm 2015 (xem hình 1.2) Tuy nhiên có một dấu hiệu đáng mừng tại Long An, đó là số bổ sung trong cân đối từ ngân sách trung ương ổn định ở mức 697,9 tỷ đồng mỗi năm trong thời kỳ ổn định ngân sách 2012-2015, phần còn lại là bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương
Hình 1.2: Tổng thu ngân sách địa phương tỉnh Long An giai đoạn
2011-2015
(Nguồn: Tổng hợp thu, chi ngân sách giai đoạn 2011-2015 và dự báo giai đoạn
2016-2020, Sở Tài chính Long An)
Xuất phát từ hiện trạng ngân sách tỉnh Long An vẫn còn phụ thuộc vào khoản
trợ cấp cân đối từ ngân sách trung ương, tôi chọn đề tài “Tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương - trường hợp tỉnh Long An” để làm luận văn tốt nghiệp
bậc cao học với hy vọng nhận diện và định lượng những nhân tố có thể tác động đến tính bền vững tài chính của một chính quyền địa phương cụ thể Vùng Đồng bằng sông Cửu Long Từ đó đưa ra các hàm ý về mặt chính sách góp phần tạo ra và duy trì tính bền vững tài chính của những địa phương tương tự
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Trang 12Luận văn hướng đến hai mục tiêu sau đây:
- Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến bền vững tài chính tỉnh Long An
- Đề xuất được giải pháp xây dựng tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương
Để đạt hai mục tiêu nêu trên, Luận văn xuất phát từ hai câu hỏi:
- Tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương theo thông lệ quốc tế được hiểu như thế nào?
- Giải pháp khả thi nhằm nâng cao tính bền vững tài chính của chính quyền tỉnh Long An là gì?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương, lấy tỉnh Long An là một tình huống điển hình
Tài chính của chính quyền địa phương trong khuôn khổ nghiên cứu này bao gồm tổng thể những hoạt động liên quan đến thu, chi và vay nợ trong phạm vi một vùng lãnh thổ cấp tỉnh của Việt Nam Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi, song khái
niệm tài chính của chính quyền địa phương trong luận văn này có thể sử dụng tương đương với khái niệm ngân sách địa phương
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nhân tố khám phá (EFA) để nhận diện những nhân tố và định lượng mức tác động của chúng đến tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương
1.5 Nguồn dữ liệu
Dữ liệu sử dụng trong Luận văn là thông tin sơ cấp thông qua điều tra tại tỉnh Long An và các thông tin về tình hình phát triển kinh tế xã hội của các xã trên địa bàn tỉnh Long An, số liệu thống kê về thu - chi ngân sách, … từ báo cáo quyết toán,
dự toán về ngân sách nhà nước hàng năm, các báo cáo tổng kết, sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan về ngân sách nhà nước và ngân sách cấp địa phương
Trang 13CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này trình bày lý thuyết nền về tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương Phần đầu chương mô tả vai trò kinh tế của chính quyền địa phương Tiếp theo là trình bày về tài chính của chính quyền địa phương và những góc tiếp cận khác nhau về tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương Sau
đó là phần lược khảo những công trình nghiên cứu liên quan để hình thành khung lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến bền vững tài chính của chính quyền địa phương
2.1 Tài chính chính quyền địa phương
Tổ chức bộ máy quản lý hành chính ở các quốc gia có nhiều kiểu nhưng tựu trung ở hai hình thức phổ biến là tổ chức theo kiểu liên bang và tổ chức phi liên bang Điển hình cho mô hình liên bang là Mỹ, Đức, India, Malaysia, Myanmar, Thụy Sỹ,… Điển hình cho tổ chức phi liên bang là Pháp, Anh, Việt Nam, Thái Lan,… Tuy nhiên, kiểu nào cũng có cấp chính quyền địa phương Theo Hội đồng Địa phương của New-Zeland, chính quyền địa phương là “hệ thống những thành viên được bầu cử từ địa phương đại diện cho cộng đồng dân cư trong địa hạt và ra quyết định nhân danh họ”3
Địa phương ở đây được hiểu là một vùng lãnh thổ có giới hạn địa lý và cùng chung môi trường tự nhiên, điều kiện kinh tế và/hoặc truyền thống, tập tục văn hóa Cấp chính quyền địa phương là cấp gần cộng đồng cư dân nhất Trong khuôn khổ Luận văn này, địa phương được hiểu là cấp tỉnh trong mô hình hành chính như Việt Nam
2.1.1 Vai trò kinh tế của chính quyền địa phương
Nhìn từ góc độ kinh tế học, cũng như khu vực tư nhân, chính quyền các cấp là đơn vị sản xuất hàng hóa công và cung cấp dịch vụ công Chính quyền trung ương sản xuất hàng hóa, dịch vụ công phạm vi cả nước, còn chính quyền địa phương cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cấp địa phương Hàng hóa, dịch vụ công địa
3 “Local government is the system of locally elected members representing their communities and making decisions on their behalf“ (http://www.localcouncils.govt.nz/lgip.nsf/wpg_url/About-Local-Government- Local-Government-in-New-Zealand-Index)
Trang 14phương chỉ phục vụ người dân trên một địa bàn nhất định nên mang tính đặc trưng của vùng, miền
Hàng hóa, dịch vụ công cấp địa phương có thể kể ra dưới đây:
- Công viên, cổng chào, công trình kiến trúc, quảng trường, vỉa hè, cây xanh, đèn đường, bồn hoa,…;
- Trường mầm non, trường phổ thông, trường dạy nghề công lập;
- Thư viện, khu văn hóa, vui chơi cộng đồng;
- Đường giao thông địa phương;
- An ninh, trật tự, phòng cháy, chữa cháy địa phương;
- Khu thể thao địa phương;
- Viện dưỡng lão, viện trẻ em cơ nhỡ;
- Cấp nước, thoát nước;
- Y tế cộng đồng;
- Hệ thống kênh, rạch nội thị,…
Hàng hóa, dịch vụ công địa phương trước hết được cung cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu của người dân trên địa bàn, nhưng không thể vì tính địa phương mà bỏ qua tính quốc gia Mặt khác, mức thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ công cũng khác nhau giữa những cư dân nên việc phân tích hiệu quả cung cấp hàng hóa, dịch vụ công gặp nhiều khó khăn
2.1.2 Tài chính của chính quyền địa phương
Để sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ trong suốt thời gian tồn tại, chính quyền địa phương phải thực hiện ba hoạt động liên quan đến đồng tiền: (1) thu thuế
và phí, (2) chi vận hành và đầu tư để tạo hàng hóa, dịch vụ công (3) vay nợ (khi thu không bằng chi) Ba hoạt động này hợp thành tài chính của chính quyền địa
phương, thường gọi tắt là tài chính địa phương Như vậy, tài chính của chính quyền địa phương là tổng thể những hoạt động liên quan đến thu, chi và vay nợ trong phạm vi một vùng lãnh thổ được xác định bởi địa giới hành chính Tùy theo đặc
điểm ở mỗi quốc gia mà nguồn thu cụ thể và nhiệm vụ chi cụ thể của địa phương sẽ khác nhau
Trang 15Ở Việt Nam, chính quyền địa phương có ba nguồn thu chính:
(1) Các khoản thu địa phương hưởng 100% gồm các khoản thuế, lệ phí, phí và thu thuộc địa phương (thu từ giao quyền sử dụng đất, bán tài sản công,…) Tùy mỗi quốc gia mà tên gọi cụ thể những khoản thu này sẽ khác nhau;
(2) Các khoản thu địa phương hưởng theo tỷ lệ phần trăm cùng với ngân sách trung ương, thường được gọi tắt là thu phân chia;
(3) Trợ cấp từ ngân sách trung ương gồm trợ cấp cân đối (subsidy) và trợ cấp theo mục tiêu (intergovernmental transfers)
Ở Việt Nam, chính quyền địa phương có các khoản chi chủ yếu như sau: (1) Chi đầu tư phát triển cho các dự án do địa phương quản lý; đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của địa phương theo quy định của pháp luật;
(2) Chi thường xuyên cho (i) hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội, (ii) hoạt động sự nghiệp các loại, (iii) bảo đảm xã hội, bao gồm cả chi thực hiện các chính sách xã hội, và (iv) hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp;
(3) Chi trả nợ lãi các khoản do chính quyền địa phương vay;
(4) Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính địa phương
Ở Việt Nam, theo Luật Ngân sách Nhà nước 2015, chính quyền địa phương cấp tỉnh được bội chi để để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn
đã được hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định Bội chi ngân sách địa phương được
bù đắp bằng các nguồn vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay lại từ nguồn Chính phủ vay về cho vay lại và các khoản vay khác trong nước
2.1.3 Quản lý tài chính của chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương thu thuế và phí nhằm tài trợ các khoản chi thường xuyên và đầu tư, qua đó cung cấp hàng hóa, dịch vụ công trong suốt thời gian tồn
Trang 16tại của chính quyền địa phương Muốn vậy, một trong nhiều nhiệm vụ quan trọng của chính quyền địa phương là quản lý tốt tài khóa
Theo PWC (2011), quản lý tài chính (financial governance) là quá trình xây dựng và thực thi các quyết định liên quan đến đồng tiền nhằm đạt mục đích tài chính và phi tài chính của một đơn vị Quản lý tài chính của chính quyền địa phương thể hiện qua quá trình xây dựng và thực thi kế hoạch tài khóa trung hạn, kế hoạch ngân sách trung hạn4 và dự toán ngân sách hàng năm Kế hoạch tài khóa trung hạn bao gồm dự báo trung hạn về các đại lượng kinh tế vĩ mô cùng với dự báo trung hạn về khả năng thu, phân tích tính bền vững của nợ, các gói chi ngân sách cứng, kỷ luật tài khóa và rủi ro tài khóa … ở cấp địa phương Kế hoạch ngân sách trung hạn là những dự báo về các khoản chi trung hạn thuộc chính sách hiện hành của cơ quan tham mưu cho chính quyền địa phương và chương trình mục tiêu trên địa bàn Dự toán ngân sách hàng năm chính là kế hoạch thu, chi để thực hiện nhiệm
vụ của chính quyền địa phương
Quản lý tài chính dù ở khu vực tư hay khu vực công cũng phải chứa đựng những thuộc tính như hiệu suất (efficiency), hiệu quả (effectiveness) và minh bạch (transparency) Trong khu vực công, những thuộc tính này được hình thành từ hoặc chịu chi phối của hệ thống luật pháp và giám sát của cộng đồng Hiệu quả quản lý tài chính của chính quyền địa phương được thể hiện ở số lượng và chất lượng dịch
vụ công do địa phương cung cấp trong mối tương quan với ngân sách cho trước Chất lượng của dịch vụ công thể hiện thông qua mức đáp ứng những đòi hỏi của người dân trong khuôn khổ trách nhiệm pháp quy của chính quyền Quản lý tài khóa hiệu quả sẽ góp phần gia tăng niềm tin của cộng đồng dân cư trên địa bàn đối với chính quyền và hoàn thiện những giá trị của bộ máy (value of organization) Tuy nhiên quản lý hiệu quả tài chính của chính quyền địa phương bị ảnh hưởng tiêu cực của một loạt tồn tại khách quan Thứ nhất là địa phương không quan tâm xây dựng kế hoạch ngân sách trung hạn, tức là khuôn khổ ngân sách cho
4
Luật Ngân sách Nhà nước Việt Nam 2015 gọi là Kế hoạch Tài chính 5 năm và Kế hoạch Tài chính – Ngân sách 3 năm
Trang 17khoảng thời gian từ 03 đến 05 năm Thứ hai, mục tiêu tài chính và phi tài chính tại địa phương chưa toàn diện và dễ bị thay đổi bởi những sự kiện mang tính chính trị Thứ ba, tính minh bạch của các báo cáo giải trình, báo cáo quyết toán ngân sách chưa dễ tiếp cận có nguy cơ làm giảm sút hiệu lực giám sát của cộng đồng
Những tồn tại tiêu cực này được hình thành từ những nguyên nhân có thể kể
ra như sau Thứ nhất, người lãnh đạo địa phương là một chính khách xuất thân từ dân cử hoặc điều động của tổ chức chính trị chứ không phải chuyên gia về kinh tế hay tài chính công Thứ hai, đại biểu hội đồng nhân dân không phải 100% là cán bộ chuyên trách Thứ ba, cả người đứng đầu chính quyền địa phương lẫn đại biểu hội đồng địa phương đều làm việc theo nhiệm kỳ Thứ tư, ngân sách cho các hoạt động giám sát thường rất eo hẹp nên không trang trải đủ chi phí
Nếu các tồn tại này không kiểm soát được thì quản lý tài khóa không những không thể có hiệu quả mà còn phải đương đầu với nhiều rủi ro Đầu tiên là rủi ro là các quyết định tài khóa được đưa ra không dựa trên nền tảng kỹ năng tài chính căn bản Thứ hai là nguy cơ không đảm bảo đủ kinh phí cho những cam kết trung và dài hạn Thứ ba là rủi ro về tính hữu dụng của những công trình mang tính nhiệm kỳ, tức là chúng chỉ phát huy thậm chí chưa kịp phát huy tác dụng trong nhiệm kỳ Thứ
tư, có thể để lại gánh nặng tài chính kéo dài cho thế hệ tương lai
2.2 Tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương
Ở lĩnh vực nhà nước và theo cách gọi tại Việt Nam, bền vững tài chính nhà nước còn có thể được gọi là bền vững tài khóa hoặc bền vững ngân sách nhà nước Trong Luận văn này, những cách gọi đó là tương đương nhau
Trước hết, tính từ “bền vững" trong cụm từ “phát triển bền vững” được Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (World Commission on Environment and Development, 1987) giải thích như sau: một sự phát triển được coi là bền vững nếu
nó thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Đầu thập niên 90 của Thế kỷ XX, tính bền vững trong các dự án thuộc chính sách công được đề cập Các tổ chức lớn của thế giới như Liên Hợp Quốc với UNDP, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á,
Trang 18… gợi ý chính phủ ở các quốc gia đang phát triển lồng tính bền vững vào những dự
án phát triển
Từ năm 1990, Ngân hàng Thế giới bắt đầu tài trợ nghiên cứu về tính bền vững tài khóa quốc gia Trong công trình hợp tác của Burnside (2003) với Ngân hàng Thế giới, ông lưu ý rằng tính bền vững tài khóa quốc gia có nhiều khía cạnh song nó thường liên quan đến chính sách tài khóa của chính phủ Cụ thể, thuộc tính cơ bản minh họa bền vững tài khóa cấp quốc gia là khả năng thanh toán (solvency) Nó được thể hiện ở hai khía cạnh Một là “khả năng của chính phủ để thực hiện nghĩa
vụ trả nợ của mình một cách vĩnh viễn mà không tuyên bố vỡ nợ” Hai là, “khả năng tài chính để chính phủ duy trì những chính sách hiện hành mà vẫn đảm bảo thanh khoản” (Gorina, 2013)
Vấn đề bền vững tài khóa cấp quốc gia đã được nhiều chính phủ trên thế giới quan tâm và chú trọng thời gian gần đây, nhất là trước yêu cầu đảm bảo tính ổn định nguồn thu của ngân sách nhà nước, hạn chế thâm hụt ngân sách và kiểm soát gia tăng nợ công Ở cấp địa phương, một trong những thách thức lớn nhất chính quyền địa phương phải đối mặt là bền vững tài khóa (financial sustainability) Vì nếu không đạt được trạng thái này thì mọi cam kết phát triển và năng lực cạnh tranh của địa phương cũng như việc xây dựng Chỉ số Kết quả Lõi (Key Performance Indicators, KPIs) cấp địa phương đều vô nghĩa
Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Công Quốc tế (IPSASB) xem bền vững tài khóa như là “khả năng của một chủ thể trong việc đáp ứng nghĩa vụ và cam kết tài chính
ở hiện tại và tương lai” IPSASB thừa nhận rằng việc đánh giá tính bền vững tài khóa đòi hỏi nhiều loại dữ liệu “Những dữ liệu này bao gồm các thông tin tài chính
và phi tài chính về các điều kiện kinh tế và nhân khẩu học hiện tại, giả định về xu thế quốc gia và xu thế toàn cầu như năng suất, khả năng cạnh tranh tương đối của nền kinh tế quốc gia hay nền kinh tế địa phương và thay đổi dự kiến trong các biến nhân khẩu học như tuổi tác, tuổi thọ, giới tính, thu nhập, trình độ học vấn và bệnh tật” (IPSASB, 2011: 6)
Trang 19Đó là bền vững tài khóa cấp quốc gia Bền vững tài khóa cấp địa phương cũng
có nhiều cách tiếp cận
Gorina (2013) dẫn Chapman (2008) định nghĩa bền vững tài khóa ở địa phương là “khả năng dài hạn của chính quyền trong việc luôn đáp ứng các trách nhiệm tài chính của mình” và xác định ba loại áp lực mà chính quyền địa phương tại các quốc gia phải đối mặt khi duy trì bền vững tài khóa cấp mình: (i) tính chu kỳ của kinh tế địa phương, (ii) cơ cấu dân số, khuynh hướng tiêu dùng và cơ cấu nguồn thu ngân sách trên địa bàn, và (iii) mức độ phân cấp giữa các cấp chính quyền IPSASB (2011) phân biệt ba phương diện mở rộng của tính bền vững tài khóa: năng lực tài chính (fiscal capacity), năng lực dịch vụ (service capacity), và độ nhạy cảm (sensitiveness or vulnerability) Năng lực tài chính là khả năng trả nợ của chính quyền địa phương “…liên tục suốt thời gian dự kiến mà không gia tăng mức thuế” (IPSASB, 2011: 8) Năng lực dịch vụ là mức độ mà: (a) chính quyền địa phương có thể duy trì cung cấp dịch vụ theo khối lượng và chất lượng ít nhất không đổi đến cư dân hiện tại hoặc tương lai và (b) đáp ứng các nghĩa vụ liên quan đến các chương trình quyền lợi cho người thụ hưởng hiện tại và tương lai (IPSASB, 2011: 8) Độ nhạy cảm hay khả năng dễ bị thương tổn là mức phụ thuộc tài chính vào các nguồn tài trợ nằm ngoài tầm kiểm soát của chính quyền địa phương (ví dụ trợ cấp từ chính quyền trung ương) và năng lực của địa phương gia tăng mức thu và/hoặc tạo nguồn thu mới (IPSASB, 2011: 8)
Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Chính phủ (GASB) đã xem bền vững tài khóa như là “tầm nhìn tương lai của điều kiện kinh tế” (the forward-looking aspect of economic condition) và định nghĩa là “trách nhiệm và sự sẵn lòng của chính quyền trong việc tạo ra các dòng vào của nguồn lực cần thiết (inflows of resources necessary) để vừa thực thi những cam kết cung cấp dịch vụ ở hiện tại vừa đáp ứng được nghĩa vụ tài chính trong tương lai khi chúng đáo hạn mà không đẩy nghĩa vụ tài chính sang thế hệ tương lai” (GASB, 2011: x) Sự sẵn lòng của chính quyền tạo
ra các dòng vào của nguồn lực cần thiết là đặc điểm nổi bật trong định nghĩa của GASB GASB (2011) đề nghị Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp nên
Trang 20thực hiện 4 dự báo trong phần báo cáo tài chính: dự báo dòng vào của nguồn lực, dự báo dòng tiền ra, dự báo về cam kết tài chính và dự báo thực thi nghĩa vụ nợ (hoàn gốc và trả lãi)
Dollery và Grant (2011) xem xét sáu nghiên cứu về tính bền vững tài khóa trong ở các địa phương nước Úc và kết luận rằng hầu hết nghiên cứu này đều thiên
về “kế toán”, có nghĩa là họ đang tập trung một cách rất hạn hẹp vào kế toán và chỉ tiêu tài chính Dollery & Grant (2011) bàn luận phương pháp tiếp cận hiện tại để phát triển bền vững tài khóa từ 2 phương diện
Trước tiên, họ thừa nhận rằng các cuộc thảo luận về bền vững tài khóa không nên đem lồng với các cuộc thảo luận về khả năng tài chính Chính quyền địa phương Australia luôn luôn có khả năng tài chính, bởi vì họ có quyền đánh thuế, và
vì Luật Chính quyền địa phương liên kết với người dân để đáp ứng các nghĩa vụ chưa thanh toán Chính phủ không thể “tách khỏi doanh nghiệp” như các thực thể thương mại làm Nhưng chính phủ có thể hoặc không thể đạt bền vững tài khóa trong khi có khả năng tài chính
Thứ hai, Dollery & Grant (2011) tin rằng các khuôn khổ hiện tại cần kết hợp phân tích các mục tiêu xã hội và môi trường, và các chức năng của chính phủ Các nhà nghiên cứu tài chính cần nhìn nhận rằng tính bền vững tài khóa là phụ thuộc vào các nguồn tài trợ cho các chương trình môi trường và xã hội “Nếu không có nhu cầu kinh tế theo quy định để đáp ứng các mục tiêu phát triển bền vững môi trường và xã hội ở chính quyền địa phương, do đó hầu như không có ý nghĩa để sử dụng bền vững tài khóa dài hạn độc lập” (Dollery và Grant, 2011: 44)
Gorina (2013) cho rằng Hagist và Vatter (2009) tiếp nối Chapman (2008) khi
họ nêu bật tầm quan trọng của những thay đổi về nhân khẩu học và sự dịch chuyển dân số Theo quan điểm của họ, ngân sách thành phố là bền vững về tài chính nếu
nó cho phép chính phủ duy trì “bộ quy tắc hiện hành về các đầu ra và đầu vào của các sản phẩm công cộng (hàng hoá, dịch vụ, thuế và các khoản thu khác)…và mức cân bằng đô thị có liên quan đến tiềm năng sản xuất thành phố.” (Hagist và Vatter,
Trang 212009: 6) “Tiềm lực sản xuất thành phố” có liên quan trực tiếp đến chất lượng và số lượng của lực lượng lao động ở địa phương
Hagist và Vatter (2009) sử dụng thông tin kế toán chi tiết cho ba thành phố của Đức và kiểm tra tính bền vững của tiềm lực tài chính của họ dưới nhiều kịch bản về nhân khẩu học Họ vận dụng những thay đổi về nhân khẩu học thông qua dự báo của tỷ suất sinh, tỷ lệ tử vong, và sự di cư Mô phỏng khả năng của chính phủ
để thu hẹp khoảng cách tài chính theo các kịch bản khác nhau trong vòng 50 năm cho phép các tác giả kết luận rằng “thặng dư hay thâm hụt dường như không phải là yếu tố quyết định đến việc làm thế nào để thành phố bền vững về tài chính” (Hagist
và Vatter, 2009: 24) Ngược lại, tỷ lệ sinh, tuổi thọ, tỷ lệ phần trăm của dân số từ các nhóm từ 30-50 tuổi, và tỷ suất di cư xuất hiện để trở thành chỉ tiêu bền vững quan trọng
Những thay đổi trong cấu trúc dân cư là trung gian ảnh hưởng nghịch biến đến khoản thâm hụt vận hành (lỗ hổng cơ sở của ngân sách, primary budget gap) và trả
nợ (lỗ hổng nợ vay) Các tác giả bàn luận cách tiếp cận dòng tiền để đánh giá tính bền vững tài khóa và thừa nhận rằng “chỉ tập trung vào những lỗ hổng tài chính hay
nợ mà không có bất cứ so sánh gì với sức mạnh kinh tế trong tương lai của các con
nợ là không đủ” (Hagist và Vatter, 2009:8)
Đáng chú ý là Hagist và Vatter (2009) là những người tiên phong trong việc
sử dụng mô phỏng để phân tích về bền vững tài khóa của địa phương, một trong nhiều cách tiếp cận chủ đạo trong nghiên cứu bền vững tài khóa quốc gia Tuy nhiên phương pháp mô phỏng đã được áp dụng để nghiên cứu các chủ đề liên quan đến tính bền vững tài khóa, chẳng hạn như việc quản lý số dư quỹ và sự lỏng lẻo tài chính (Hendrick, 2004; Kriz, 2003) Bởi vì mô hình bền vững tài khóa vẫn chưa được phát triển, nên việc nghiên cứu các khái niệm liên quan đến sự căng thẳng tài chính và tình hình tài chính có liên quan đến việc xây dựng một khuôn khổ
Báo cáo của Price Waterhouse Coopers (PWC) về bền vững tài khóa địa phương ở Úc (năm 2006) là một ví dụ điển hình của những nghiên cứu này PWC (2006) định nghĩa tính bền vững tài khóa là “khả năng của chính quyền địa phương
Trang 22trong việc quản lý các yêu cầu tài chính, các rủi ro tài chính được dự báo và những
cú sốc trong dài hạn mà không cần sử dụng các biện pháp tăng thu mạnh hay cắt giảm chi lớn”5 PWC phát triển 5 Chỉ số Kết quả Lõi (KPIs) đo bền vững tài khóa cấp địa phương gồm: Thặng dư hay thâm hụt vận hành (Operating surplus or deficit), Khả năng trả lãi (Interest coverage), Tỷ số bền vững (Sustainability ratio),
Tỷ số hiện thời (Current ratio), và Khả năng đảm bảo chi (Rates coverage)
Ủy ban Đánh giá Bền vững Tài khóa của Nam Úc (2005) định nghĩa bền vững tài khóa từ cách tiếp cận kinh tế học như sau: “a council’s finances can be judged to
be sustainable in the long term only if they are strong enough-currently and in the foreseeable future-to allow the council to manage financial risks and shocks over the long-term financial planning period without having to introduce substantial or disruptive revenue (or expenditure) adjustments during that period.” (Tạm dịch: tài chính địa phương được đánh giá là bền vững dài hạn chỉ khi nó đủ mạnh ở hiện nay
và tương lai để cho phép địa phương kiểm soát được những cú shock và rủi ro tài khóa trong giai đoạn kế hoạch tài khóa dài hạn mà không cần phải đưa thêm những khoản thu mới hay cắt giảm chi)
Như vậy, tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương thể hiện ở:
• Khả năng chi trả ngắn hạn (currently healthy finance): ít điều chỉnh ngân sách trong tức thời hoặc ngân sách đủ thanh toán cho những khoản chi ngắn hạn;
• Khả năng chi trả dài hạn (long-term healthy finance) dựa trên chính sách thu
và chi không thay đổi trong khoảng 3 đến 5 năm với giả định nền kinh tế và tình hình xã hội không đổi;
• Đủ dự trữ, dự phòng (margin of comfort in the council’s finance) ở hiện tại
và tương lai để chính quyền địa phương chịu đựng được những cú shock hay rủi ro tài khóa mà không cần phải gia tăng đáng kể (substantial increase) thuế hay cắt giảm mạnh chi tiêu
5
“Fiscal sustainability as a council’s ability to manage “expected financial requirements and financial risks and shocks over the long term without the use of disruptive revenue and expenditure measures” PWC (…)
Trang 23Tóm lại, có thể hiểu bền vững tài chính của chính quyền địa phương là khả năng tài chính (financial capacity) của chính quyền địa phương trong việc đáp ứng những yêu cầu về tài chính (financial requirements) và phòng vệ rủi ro tài khóa
trong dài hạn mà không cần đưa thêm đáng kể các khoản thu mới hay cắt giảm mạnh khoản chi hiện hành Nói ngắn gọn hơn, bền vững tài chính là duy trì dài hạn
sự cân đối giữa khả năng tài chính và yêu cầu tài chính Khả năng tài chính là tổng
nguồn thu ngắn hạn và dài hạn mà địa phương có thể động viên (mobilise) thông
qua chính sách thu và huy động trái phiếu Yêu cầu tài chính là tổng các khoản chi
(tiêu dùng và đầu tư) nhằm đáp ứng các cam kết chi theo luật định và phòng vệ được những cú sốc tài khóa (financial shock)
2.3 Lƣợc khảo những nghiên cứu liên quan
Gorina (2013) sử dụng dữ liệu của U.S Census Bureau Annual Survey of Government Finances and Employment, U.S Census Bureau Decennial Census, Bureau of Labor Statistics, và Government Finance Officers Association đã nêu ra
ba nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sự bền vững tài chính của chính quyền địa phương tại Mỹ Một là cơ cấu hoạt động của chính quyền địa phương (government structure) Hai là tính đa dạng của nguồn thu và khả năng kiểm soát thu trên địa bàn (financial structure and performance) Ba là, nền tảng kinh tế của địa phương (local economic base)
Gorina (2013) dẫn Chapman (2008) cho rằng tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương chịu tác động của ba áp lực, đó là (i) tính chu kỳ của kinh
tế địa phương, (ii) cấu trúc dân số, xu hướng tiêu dùng và cơ cấu nguồn thu tại địa bàn, và (iii) mức độ phân cấp giữa các cấp chính quyền Tính chu kỳ của kinh tế địa phương phản ảnh tác động của chu kỳ kinh doanh đến tình hình tài chính của chính quyền và thường phổ biến cho tất cả ba cấp chính quyền Cấu trúc dân số, khuynh hướng tiêu dùng và cơ cấu nguồn thu ngân sách bao gồm những thay đổi về nhân khẩu học, xu hướng đô thị hóa, sự di dời tổng thể của dân cư và doanh nghiệp, chuyển dịch cơ cấu từ việc tiêu thụ hàng hóa đến tiêu thụ các dịch vụ, và sự gia tăng các nguồn thu mới như thu từ thương mại điện tử, thu từ nguồn tài nguyên mới đưa
Trang 24vào khai thác,… Ảnh hưởng của các yếu tố này đến khả năng của địa phương để luôn đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trực tiếp và hữu hình
Gorina (2013) dẫn Chapman kết luận, áp lực cấu trúc dân cư có lẽ ảnh hưởng mạnh nhất đến tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương bởi vì một số trong số khía cạnh đó nằm dưới sự kiểm soát của những người hoạch định chính sách địa phương Áp lực phân cấp xuất phát từ các mối quan hệ giữa chính quyền địa phương với chính phủ trung ương khi mà chính phủ trung ương không trực tiếp cung cấp các dịch vụ tại địa phương, chúng tác động đến các điều kiện tài chính của địa phương thông qua “các chương trình liên chính phủ với nhiều ràng buộc”
Vũ Đình Ánh (2012) cho rằng thu ngân sách địa phương hiện đang bộc lộ một
số bất cập, hạn chế mà nổi bật nhất là tính bền vững không cao trong các nguồn thu của ngân sách địa phương, theo đó hạn chế khả năng tăng thu, nguồn thu không ổn định và quy mô thu chưa gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương Đến lượt mình, do nguồn thu hạn hẹp và cơ cấu thu chưa hợp lý lại làm giảm cơ hội và khả năng phát triển kinh tế-xã hội của địa phương Do những khoản thu ngân sách nhà nước quan trọng như thu từ dầu thô, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu, thu thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành, đều thuộc về ngân sách trung ương nên những khoản thu 100% của ngân sách địa phương đều có quy mô nhỏ và hay biến động Trong đó chủ yếu là thu từ đất đai trong khi sự phát triển của thị trường bất động sản và quy định về giá đất còn nhiều bất cập Kết quả tất yếu là mặc dù tỷ trọng thu ngân sách địa phương chiếm khoảng một nửa tổng thu ngân sách nhà nước hằng năm, song vẫn thấp xa so với nhu cầu chi ngân sách địa phương nên có tới hơn 5/6 tỉnh, thành phố trên cả nước không có
số thu điều tiết về ngân sách trung ương và được giữ lại toàn bộ nguồn thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương nhưng cũng không đủ để thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước trên địa bàn mà phải thường xuyên nhận bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương với quy mô hàng trăm nghìn tỷ đồng mỗi năm
Trang 25Thu ngân sách địa phương thiếu tính bền vững trở thành mảnh đất màu mỡ cho cơ chế xin-cho, giảm sự chủ động tích cực của địa phương, đồng thời tăng sự phụ thuộc và ỷ lại vào trung ương Hơn nữa, do buộc phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ đất nên không ít chính quyền địa phương thay vì thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh lại tập trung khai thác nguồn thu từ đất tới mức tận thu, thậm chí chấp nhận vi phạm quy định về quản lý đất đai trong khi nguồn lực này không phải là vô hạn và ẩn chứa rất nhiều rủi ro
Huỳnh Thế Du (2014) dẫn Shick (2005) về bốn yếu tố bền vững của ngân sách địa phương Một là, khả năng thanh toán (solvency): khả năng chính quyền địa phương thanh toán được gốc và lãi mọi khoản nợ Hai là, tăng trưởng (growth): chính sách chi nhằm tạo tăng trưởng kinh tế trên địa bàn Ba là, ổn định (stability): năng lực của chính quyền địa phương trong việc trang trải nghĩa vụ tương lai bằng khoản thuế sẵn có mà không gia tăng thuế một cách đáng kể Bốn là, công bằng (fairness): khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính từ hiện tại cho đến khi đáo hạn mà không chuyển gánh nặng nợ sang thế hệ tương lai
Abt Associates Inc (1994) cho rằng bền vững tài chính được đo lường chính xác (gauge) thông qua ba chỉ tiêu cơ bản: thặng dư hay bội thu ngân sách (the surplus of revenues over expenditures); khả năng thanh toán ngắn hạn (liquidity); và khả năng đảm bảo nợ (solvency: the relationship of assets and debt or liabilities) León (2001) cho rằng bền vững tài chính phải dựa trên bốn cột trụ (pillard): Chiến lược và kế hoạch tài chính (Financial and Strategic Planning); Tính đa dạng hóa các nguồn thu (Diversification of Sources of Funding); Quản lý tài chính và hành chính tốt (Sound Administration and Finance); Chủ động tạo được thu nhập (Own Revenue Generation)
Đồng thời, León nêu 6 yêu cầu cơ bản để bền vững tài khóa cấp chính quyền địa phương:
1 Phải có cam kết dài hạn từ phía lãnh đạo và đội ngũ công chức, viên chức
2 Chỉ đạo sâu sát và quyết đoán
Trang 263 Phải đầu tư thời gian và tiền để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn
4 Xây dựng được kế hoạch vận hành chi tiết
5 Xây dựng được nhóm quản lý hiệu quả
6 Có tinh thần làm việc theo nhóm
Cuối cùng, León xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá bền vững tài khóa xoay quanh 4 cột trụ
- Chiến lược và kế hoạch tài chính;
- Tính đa dạng hóa các nguồn thu;
Trang 27Hình 2.1: Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững
tài chính của chính quyền địa phương 2.4.1 Quy mô của chính quyền địa phương
Quy mô của chính quyền địa phương thể hiện thông qua số lượng người hưởng lương nhân sách cùng với quy mô hoạt động của chính quyền Số lượng người hưởng lương nhân sách gồm: công chức, viên chức và nhân viên trong biên chế, nhân viên làm việc theo hợp đồng và số lượng người hưởng lương hưu Quy
mô hoạt động của chính quyền địa phương thể hiện qua các cơ quan hành chính, đoàn thể và đơn vị công ích như: công ty cấp thoát nước, đơn vị phòng cháy chữa cháy, nhà máy xử lý chất thải rắn, nước thải, nhà cung cấp điện, cung cấp khí ga, đơn vị xe buýt, công ty vệ sinh môi trường đô thị, chăm sóc công viên, cây xanh,… Các phát hiện cho thấy sự gia tăng số lượng nhân viên trong biên chế có sự liên quan nghịch biến với mức kinh phí về nghĩa vụ lương hưu Chính quyền có nguồn nhân sự dồi dào ở phòng ban tài chính có vẻ như không quản lý nguồn kinh phí lương hưu hiệu quả hơn chính quyền có lực lượng nhân sự “khiêm tốn” hơn Sự chuyên môn hóa và giám sát ở mức cao hơn việc sử dụng các nguồn lực cho các chương trình khác nhau không làm tăng hiệu suất Theo dự đoán, số lượng kế hoạch lương hưu mà chính quyền có tham gia và tỷ lệ phần trăm các nhân viên toàn thời gian gây ra sức ép tiêu cực lên mức kinh phí kế hoạch hưu trí
Quy mô của chính quyền địa phương
Năng lực quản lý tài chính của chính
quyền địa phương
Nền tảng kinh tế địa phương
Phân cấp ngân sách
Tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương
Cấu trúc dân cư
Cơ cấu nguồn thu ngân sách của
chính quyền địa phương
Trang 28Điều quan trọng phải nhìn nhận đó là quản lý tài chính của địa phương theo hướng duy trì sự bền vững tài khóa có thể mâu thuẫn với quản lý ngân sách được định hướng theo hướng cải thiện cung cấp dịch vụ hoặc/và đáp ứng các ý thích của người dân Nói cách khác, chính quyền ít “hào phóng” hơn, có sự thận trọng về tài chính, có thể có khả năng bền vững tài khóa cao hơn Trong khi thắt chặt ngân sách
có thể là một phương thuốc cho các vấn đề về tài khóa, nó có thể không phải là một nền tảng hoàn toàn chuẩn mực trong cung cấp dịch vụ công
Một câu hỏi gây tranh cãi cho các nhà quản trị công không phải là làm sao để tối thiểu hóa chi tiêu mà là làm thế nào để cung cấp ở mức tối ưu các dịch vụ công một cách hiệu quả Có một tính huống như sau Giả sử 1 đồng chi phí mang lại 1,2 đồng lợi ích Nếu chính quyền địa phương chủ trương tiết kiệm thì cứ mỗi đồng cắt giảm chi phí sẽ làm giảm lợi ích trị giá 1,2 đồng Nếu chính quyền địa phương “hào phóng” thì cứ mỗi đồng chi phí tăng thêm sẽ làm tăng lợi ích trị giá 1,2 đồng Ngay
cả khi đạt hiệu suất chi tiêu như thế (1 đồng chi mang lại 1,2 đồng lợi ích) thì chính quyền địa phương có nên vay thêm nợ trên thị trường tài chính để gia tăng chi không? Câu trả lời không đơn giản và không thuần túy mang tính kinh tế mà sẽ phụ thuộc vào nhiều vấn đề mang tính chính trị, xã hội
2.4.2 Năng lực quản lý tài chính của chính quyền địa phương
Số lượng và trình độ nhân viên bộ phận quản lý tài chính nhiều hơn có thể bổ sung nguồn lực cho chính quyền trong việc lên kế họach và quản lý kinh phí Việc lập kế hoạch có hiệu suất cao hơn có thể làm giảm áp lực mất cân đối ngân sách nhà nước Mặc khác, số lượng công việc thủ công và số lượng công việc được công nghệ thông tin hóa hoặc tự động hóa cũng có thể ảnh hưởng đến cân bằng ngân sách
vì nếu tự động hóa hay tin học hóa càng nhiều thì phải chi mua sắm tài sản máy móc thiết bị càng cao cộng với khoản chi duy tu, sửa chữa thường xuyên và khoản chi huấn luyện nhân viên sử dụng thiết bị
Năng lực tài chính của chính quyền địa phương thể hiện qua các khía cạnh: chính quyền địa phương đã xây dựng được chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương chưa; chính quyền địa phương đã xây dựng được kế hoạch tài chính 05
Trang 29năm; chính quyền địa phương đã cụ thể hóa thành được kế hoạch tài chính-ngân sách 03 năm Bên cạnh đó, năng lực tài chính của chính quyền địa phương còn thể hiện qua sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan thuộc ngành tài chính (Sở Tài chính, Cục thuế, Cục Hải quan, Kho bạc nhà nước) với cơ quan ngoài ngành tài chính như Ngân hàng, Công An, Sự phối hợp chặt chẽ này sẽ giúp chính quyền địa phương quản lý tốt hơn hoạt động tài chính trên địa bàn từ khâu lập kế hoạch thu, chi, đến khâu kiểm soát thực thi kế hoạch thu, chi và những hành động chống thất thu hoặc chống lãng phí chi
2.4.3 Cấu trúc dân cư
Cấu trúc dân cư trên địa bàn được xem là một nhân tố có thể tác động đến bền vững tài chính của chính quyền địa phương Cấu trúc dân cư được xem xét từ những tiêu chí gồm: tiêu chí thu nhập, tiêu chí độ tuổi lao động, khuynh hướng tiêu dùng hoặc khuynh hướng tiết kiệm
Tiêu chí thu nhập: tỷ lệ cư dân có thu nhập cao, tỷ lệ cư dân có thu nhập trung bình và tỷ lệ cư dân có thu nhập thấp so với mặt bằng cả nước
Tiêu chí độ tuổi lao động: tỷ lệ cư dân trong độ tuổi lao động và tỷ lệ cư dân ngoài độ tuổi lao động
Tiêu dùng: khuynh hướng tiêu dùng và tỷ lệ tiêu dùng biên của cư dân Khuynh hướng tiêu dùng sẽ cho biết cư dân trên địa bàn thích tiêu dùng hàng hóa công, dịch vụ công nào Tỷ lệ tiêu dùng biên của cư dân sẽ cho biết cư dẫn sẵn lòng nộp thêm bao nhiêu thuế để tiêu dùng hàng hóa công, dịch vụ công khi thu nhập của
họ tăng thêm một đơn vị
Cấu trúc dân cư thể hiện qua những biến: số lượng người nộp thuế thu nhập cá nhân và các khoản thu ngân sách trên địa bàn; số lượng người nghèo, cận nghèo; số lượng người thuộc diện hưởng chính sách như học sinh, thanh niên xung phong, thương binh, gia đình có công, gia đình liệt sỹ…; số lượng người về hưu; số lượng người đang có việc làm hoặc đang xin việc;…
2.4.4 Nền tảng kinh tế của địa phương
Trang 30Nền tảng kinh tế địa phương có ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình ngân sách địa phương Một nền tảng kinh tế vững sẽ tạo khả năng tài chính cho chính quyền địa phương duy trì các dịch vụ công trong hiện tại và trong tương lai
Nền tảng thu hay còn gọi là cơ sở thu ngân sách địa phương thể hiện ở thành phần dân cư và mức độ phát triển kinh tế của địa phương Thêm vào đó là nhu cầu chi tiêu nói chung của người dân, sở thích của người dân đối với mọi loại hình dịch
vụ, trong đó nhu cầu, sở thích về dịch vụ do chính quyền địa phương cung cấp Năng lực thu của chính quyền địa phương là những khả năng của chính phủ để tăng số thu từ nền tảng thu của địa phương sẽ bị ảnh hưởng bởi khuynh hướng tiêu dùng và sở thích phúc lợi của người dân trên địa bàn, vốn cũng chính là người nộp thuế cho chính quyền địa phương
Lý thuyết về người tiêu dùng cho thấy thu nhập ảnh hưởng đến sự lựa chọn của người dân giữa hàng hóa, dịch vụ tư hoặc công và tác động đến sự sẵn lòng của người dân để chấp nhận việc tăng thuế và phí nhằm hỗ trợ cho việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ công Đặc điểm nhân khẩu học địa phương, chẳng hạn như độ tuổi bình quân cư dân, dân tộc, cũng như tỷ lệ nghèo đói và tình trạng việc làm có thể là những yếu tố có liên quan mà chính quyền địa phương phải xem xét trong việc cung cấp dịch vụ xã hội như chăm sóc y tế, trợ giúp người lớn tuổi neo đơn, hỗ trợ thu nhập, giao thông công cộng, và các dịch vụ khác
đây cho mức sản lượng hàng hóa công cung cấp tối ưu là Q3 chứ không phải tại mức sản lượng Q2 và càng không phải Q1
Giả sử một địa phương có hai nhóm người Nhóm người thu nhập thấp có đường cầu D1, nhóm người thu nhập cao có đường cầu D2 về cùng một mặt hàng do chính quyền địa phương cung cấp Nếu thu thuế chỉ bằng đoạn DO để cung cấp Q1
sản phẩm thì cơ sở thu tại địa phương vẫn còn “phần dư” có thể khai thác Nếu thu
Trang 31thuế vào nhóm người thu nhập cao bằng đoạn BO để cung cấp Q2 sản phẩm thì cơ
sở thu tại địa phương vẫn còn “phần dư” và có thể xảy ra nguy cơ nhóm thu nhập thấp trở thành “người thụ hưởng không trả tiền” Tại mức sản lượng Q3, cơ sở thu tại địa phương được khai thác triệt để: nhóm người thu nhập thấp trả thuế bằng đoạn
EO, nhóm người thu nhập cao trả thuế bằng đoạn CO Như vậy đạt hiệu suất Pareto
ở ba khía cạnh: lượng hàng hóa công cung cấp cho địa phương nhiều nhất, khai thác
cơ sở thu (đánh thuế) triệt để nhất, và không để xảy ra hiện tượng “người thụ hưởng không trả tiền” vốn là một hiện tượng tạo ra những người dân thấp nhất là ỷ lại, sống bám vào thuế của người dân khác và cao nhất là trốn thuế
Hình 2.2: Mức cung cấp hàng hóa công đạt hiệu suất Pareto
Như nói trên, khả năng thu là khả năng của chính quyền địa phương có thể khai thác cơ sở thu tăng theo thu nhập của người dân Một phát hiện khá thú vị (Cooper, 1996 trích dẫn Lu, 1994) tìm thấy rằng các địa phương có cơ sở thu phong phú hơn có xu hướng giảm chi phí vốn đòi hỏi trên những dự án công, chương trình chi tiêu công để gia tăng số lượng hàng hóa, dịch vụ công cung cấp cho cư dân Điều này không gây mất cân bằng tài khóa hiện hành (vì cơ sở thu phong phú) nhưng có thể ảnh hưởng đến tính bền vững ngân sách địa phương trong dài hạn vì phải thường xuyên cung cấp dịch vụ công khi mà cơ sở thu phong phú trước đây biết đâu sẽ bị suy giảm qua thời gian
Trang 32Nền tảng kinh tế của địa phương được thể hiện qua những khía cạnh: kinh tế địa phương da dạng, đa ngành; GDP của địa phương; địa phương có cửa khẩu hoặc đường biên giới; chu kỳ kinh doanh ổn định hay có nhiều biến động; vị trí của địa phương trong vùng hay khu vực
2.4.5 Phân cấp ngân sách nhà nước
Phân cấp ngân sách nhà nước hay phân cấp tài khóa là việc phân chia nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Nhìn từ cấp độ địa phương, ngân sách địa phương có ba nguồn thu chính: (1) nguồn thu ngân sách địa phương hưởng 100%, (2) nguồn thu phân chia với ngân sách trung ương theo một tỷ lệ xác định vào đầu thời kỳ ổn định ngân sách và (3) nguồn thu từ trợ cấp của ngân sách trung ương cho địa phương gồm trợ cấp trong cân đối và trợ cấp có mục tiêu
Nguồn thu ngân sách địa phương hưởng 100% thường bao gồm các khoản thu mang tính địa phương như thu tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, thuế tài nguyên không kể thuế tài nguyên của ngân sách trung ương, xổ số kiến thiết,…
Nguồn thu phân chia với ngân sách trung ương theo một tỷ lệ xác định vào đầu thời kỳ ổn định ngân sách bao gồm các khoản thu lớn như: thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng hoạt động xổ số; thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp từ dầu, khí
và thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động xổ số; thuế thu nhập cá nhân; thuế tiêu thụ đặc biệt từ hàng hóa, dịch vụ trong nước không kể thuế tiêu thụ đặc biệt từ hoạt động xổ số; thuế bảo vệ môi trường,…
Nguồn thu từ trợ cấp của ngân sách trung ương cho địa phương gồm trợ cấp trong cân đối và trợ cấp có mục tiêu Trong bối cảnh Việt Nam, có hơn 50 địa phương thường xuyên nhận trợ cấp trong cân đối của ngân sách trung ương Điều
đó cho thấy khả năng tự chủ tài chính của đại bộ phận địa phương ở Việt Nam là chưa cao và gây áp lực lớn cho những địa phương còn lại
2.4.6 Cơ cấu nguồn thu ngân sách của chính quyền địa phương
Trang 33Cơ cấu nguồn thu và các hoạt động tài chính của chính quyền địa phương cũng có thể tác động đến tính bền vững tài khóa của địa phương Nguồn thu của địa phương gồm: thu từ thuế, từ phí, lệ phí, từ bán tài sản công, từ vay nợ ngoài nước, trong nước, từ quyên góp, từ nhận viện trợ, từ trợ cấp của chính quyền trung ương,… Hoạt động tài chính của chính quyền địa phương thể hiện qua: nỗ lực thu (tax effort)6, chi phí tài trợ các hoạt động chính phủ, tài sản đang dùng trong khu vực chính quyền, tài sản đang dùng tại các doanh nghiệp nhà nước địa phương, sự tham gia của chính quyền địa phương vào thị trường tài chính, những hình thức vay
nợ của chính quyền địa phương, chi phí vốn ngân sách nhà nước, thay đổi tài sản thuần của chính quyền,…
Cơ cấu nguồn thu và các hoạt động tài chính của chính quyền địa phương có thể ảnh hưởng đến mức thâm hụt tài chính địa phương Cụ thể, những tác động của
sự đa dạng nguồn thu là rất quan trọng để xác định Nếu đa dạng hóa dẫn đến thâm hụt ngân sách ít hơn, kết quả này cần cho việc hướng dẫn khuyến nghị chính sách cho chính phủ tìm cách tăng cường vị thế tài chính của họ Nếu đa dạng hóa nguồn thu dẫn đến thâm hụt ngân sách nhiều hơn, sau khi chính phủ cố gắng đa dạng hóa cần phải nhận thức được hiệu ứng này và có thể cân nhắc lợi ích của đa dạng hóa (thu bổ sung) đối với chi phí của nó (thâm hụt tiềm năng) một cách cẩn thận hơn
Nợ của chính quyền địa phương đồng biến với quy mô thâm hụt ngân sách Bởi chính thâm hụt được bù đắp bằng nợ Thâm hụt càng nhiều và càng trải qua nhiều năm thì mức dư nợ càng cao Vay nợ dai dẳng để bù đắp thâm hụt ngân sách đến một thời gian nào đó sẽ trở thành một nhân tố gây thâm hụt, chứ không còn là nguồn để bù đắp thạm hụt nữa
Một câu hỏi đáng lưu ý là sự phát triển của thị trường tài chính có liên quan đến mức thâm hụt ngân sách không Vì thị trường tài chính phát triển sẽ khiến chính quyền địa phương cảm thấy dễ phát hành trái phiếu đô thị và các chi phí liên quan đến nợ cũng trở nên rẻ hơn
6
Nỗ lực thu
thuế = Tỷ lệ % chính phủ mong muốn lấy từ GDP
Tỷ lệ % thực tế của thuế so với GDP
Trang 34Kết luận chương 2
Chính quyền địa phương có vai trò cung cấp hàng hóa, dịch vụ công địa phương cho người dân trên địa bàn Để đảm bảo sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ trong suốt thời gian tồn tại, chính quyền địa phương phải thường xuyên tạo nguồn và duy trì nguồn thu, chi vận hành và đầu tư để tạo hàng hóa, dịch vụ công
và vay nợ nhằm bù đắp thiếu hụt Tất cả những hoạt động này tạo nên tài chính của chính quyền địa phương Tùy theo đặc điểm ở mỗi quốc gia mà nguồn thu cụ thể và nhiệm vụ chi cụ thể của địa phương sẽ khác nhau
Không chỉ ở cấp quốc gia, mà vấn đề bền vững tài khóa cấp địa phương đã được nhiều chính phủ trên thế giới quan tâm và chú trọng thời gian gần đây, nhất là trước yêu cầu đảm bảo tính ổn định nguồn thu của ngân sách nhà nước, hạn chế thâm hụt ngân sách, kiểm soát gia tăng nợ công và phân cấp mạnh cho địa phương Nhìn chung, bền vững tài khóa được xem như là “khả năng dài hạn của chính quyền trong việc luôn đáp ứng các trách nhiệm tài chính của mình” và phụ thuộc vào nhiều nhân tố Sơ bộ, luận văn đề xuất 6 nhân tố có thể tác động đến bền vững tài khóa của chính quyền địa phương Đó là: (1) Quy mô của chính quyền địa phương; (2) Năng lực quản lý tài chính của chính quyền địa phương; (3) Cấu trúc dân cư trên địa bàn; (4) Nền tảng kinh tế địa phương; (5) Phân cấp ngân sách nhà nước hay phân cấp tài khóa; (6) Cơ cấu nguồn thu ngân sách của chính quyền địa phương Từ khung phân tích này, tác giả tiến hành thiết kế nghiên cứu và thực hiện những kiểm định cần thiết
Trang 35
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 này, tác giả giới thiệu về quy trình nghiên cứu được thực hiện trong quá trình nghiên cứu Qua đó sẽ chỉ ra cách mà tác giả trả lời và giải thích các hiện tượng và trình bày đã nêu trong chương 2, bao gồm: Thiết kế nghiên cứu, tổng thể của nghiên cứu, nguồn dữ liệu, các công cụ nghiên cứu cơ bản, các biến xử lý được
sử dụng trong nghiên cứu
3.1 Quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tuần tự theo hai bước Bước 1 là nghiên cứu khám phá sử dụng phương pháp định tính được tiến hành thông qua phỏng vấn các chuyên gia nhằm phát hiện, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng bằng cách phỏng vấn trực tiếp với bảng câu hỏi chi tiết nhằm đánh giá các thang đo và kiểm định mô hình lý thuyết Quy trình thực hiện nghiên cứu được tiến hành theo kỹ thuật Delphi, bao gồm các bước như sau:
Bước 1: Kiểm tra lại tuyên bố thật rõ ràng và đầy đủ với một vài chuyên gia trước khi thông qua lần cuối cùng Kế đến, chọn lựa và liên hệ với những người tham gia vào cuộc phỏng vấn
Bước 2: Phát bảng câu hỏi đến danh sách những người tham gia Trang bìa của thư thăm dò phải giải thích (1) quy trình của phỏng vấn; (2) thời gian hoàn thành toàn bộ quá trình Delphi; (3) thời hạn hoàn thành câu hỏi vòng 1; (4) giấu tên những người tham gia; (5) cơ chế phản hồi khi hoàn thành quá trình Tên, số điện thoại và địa chỉ của người liên hệ được ghi rõ ở phần tiêu đề
Bước 3: Dựa vào các câu hỏi được trả về, tác giả sẽ đối chiếu (collate) với các kết quả ban đầu, nhóm ra các phản hồi tương tự Tác giả có thể hiệu chỉnh lại một chút các phúc đáp nhưng không làm sai ý nghĩa của câu trả lời
Bước 4: Bảng câu hỏi thứ 2 được tạo ra với mỗi kết quả được trình bày cùng với các thang đo, như thang đo định danh, thang đo thứ bậc…
Trang 36Điều chỉnh bảng câu hỏi và các thang đo cho phù hợp với thực tế nghiên cứu thông qua việc đánh giá độ tin cậy của các thang đo
Bước 5: Gửi bảng câu hỏi đến khách hàng Xác nhận thời gian nhận thư phúc đáp (nếu gửi bảng câu hỏi bằng bưu điện hoặc email)
Bước 6: Thu thập bảng trả lời và đối chiếu với số lượng bảng câu hỏi của vòng
2 đã phát ra, tính toán giá trị mean, mode của mỗi phúc đáp Thống kê và tổ chức lại tất cả những ý kiến của khách hàng
Bước 7: tác giả sử dụng công cụ SPSS 20.0 để phân tích dữ liệu, đánh giá và đưa ra kết luận về mô hình được kiểm định
Bước 8: Đánh giá kết quả, kiến nghị và nêu các giải pháp
Theo (Creswell, 2009), có bốn hình thức thu thập dữ liệu: các bảng câu hỏi tự thực hiện (tự điền câu trả lời vào); các cuộc phỏng vấn; việc xem xét lại hồ sơ có cấu trúc để thu thập thông tin về tài chính, y tế, hay học đường; và những sự quan sát có cấu trúc Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn hình thức thu thập dữ liệu là phát và thu hồi các bảng câu hỏi tự thực hiện Các hình thức thu thập dữ liệu này dễ thực hiện, tiết kiệm chi phí, không tiết lộ danh tánh, giảm sai lệch do diễn giả bộ câu hỏi khác nhau Tuy nhiên, phương pháp thu thập dữ liệu này không thực hiện được với người không biết chữ, tỷ lệ phản hồi thấp, câu hỏi có thể bị hiểu nhầm Khái quát quy trình này được thể hiện trong sơ đồ sau:
Trang 37
Sơ đồ quy trình nghiên cứu
Câu hỏi nghiên
cứu và thiết lập
bảng câu hỏi
Thu thập dữ liệu (N=200)
Cronbach’s Alpha
Phân tích nhân
tố khám phá (EFA)
Hoàn chỉnh thang đo
Phân tích dữ liệu
Đánh giá và kết luận
Đánh giá độ tin cậy của các thang đo, loại
bỏ các biến quan sát không phù hợp
Kiểm tra nhân tố trích được, kiểm tra phương sai trích được
Trang 383.2 Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu
Trong nghiên cứu khoa học việc xác định kích thước mẫu là quan trọng, kích
cỡ mẫu phải đạt được tính đại diện Có nhiều lý thuyết về xác định kích thước mẫu,
ở nghiên cứu này ta dựa vào hai lý thuyết, đó là theo Hoelter thì kích thước mẫu tối thiểu phải là 200 (trích Nguyễn Thị Minh Tâm, 2008) và theo Bollen (trích Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007) thì kích thước mẫu tối thiểu phải là 5 mẫu cho một biến quan sát Theo đó với 26 biến quan sát thì kích thước mẫu tối thiểu là 26 x5 bằng 130 quan sát Để mẫu nghiên cứu đạt mức tốt và đảm bảo độ tin cậy thì tác giả chọn kích thước mẫu 200 quan sát cho đề tài nghiên cứu này Song,
để đạt được cỡ mẫu 200 quan sát sau khi đã loại bỏ các mẫu không đạt yêu cầu về thông tin hoặc chất lượng thấp, nghiên cứu quyết định sử dụng 220 bảng câu hỏi, lên kế hoạch phân phối các bảng câu hỏi đến các đối tượng khảo sát và thu hồi trực tiếp
ấy mẫu thuận tiện sẽ giúp tác giả dễ chọn ra những người am hiểu về tính bền vững của tài chính chính quyền địa phương
3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu
Bảng câu hỏi sẽ được điều tra thử trên 20 đối tượng để rà soát lỗi, sau đó sẽ tiến hành hoàn chỉnh để ra bảng câu hỏi nghiên cứu chính thức Các dữ liệu khi nghiên cứu chính thức sau khi thu hồi về sẽ tiến hành sàng lọc, mã hóa, nhập liệu và tiến hành làm sạch dữ liệu trước khi phân tích Quá trình phân tích sẽ được thực hiện trên phần mềm SPSS phiên bản 20.0 với các nội dung sau:
3.3.1 Phân tích thống kê mô tả
Mục đích của phân tích là cung cấp thông tin tổng quan về mẫu nghiên cứu dựa vào tần suất, tỉ lệ, trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, các biểu đồ thống kê
3.3.2 Kiểm định Cronbach’s Alpha
Kiểm định Cronbach’s Alpha cho phép đánh giá mức độ tương quan chặt chẽ
giữa các câu hỏi trong thang đo, do đó cho phép ta loại bỏ những biến có hệ số
Trang 39tương quan thấp Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) thì một tập hợp các mục hỏi dùng để đo lường được đánh giá là tốt phải có hệ số α lớn hơn hoặc bằng 0,8
Tuy nhiên, theo Nguyễn Đình Thọ (2011) hệ số α lớn thì tốt nhưng nếu nó quá lớn (α> 0,95) thì cho thấy có nhiều biến trong thang đo không có khác biệt nhau Đây là hiện tượng trùng lắp trong đo lường Do đó, trong một số trường hợp, hệ số
α từ 0,6 trở lên là có thể chấp nhận
3.3.3 Phân tích nhân tố khám phá
Đây là phương pháp thống kê dùng để rút gọn một tập hợp gồm nhiều biến quan sát phụ thuộc lẫn nhau thành một tập biến ít hơn để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng đầy đủ thông tin của tập biến ban đầu (Hair và cộng sự, 1998) Việc phân tích nhân tố khám phá này chỉ phù hợp khi thỏa mãn các điều kiện như:
(1) Hệ số KMO: là một chỉ tiêu dùng để xem xét sự thích hợp của EFA, EFA thích hợp khi: 0,5 ≤ KMO ≤ 1; Kiểm định Bartlet xem xét giả thuyết về độ tương quan giữa các biến quan sát, nếu kiểm định này có ý nghĩa thống kê (sig ≤ 0,05) thì các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2005, p.262)
(2) Hệ số tải nhân tố (hay trọng số nhân tố) (Factor Loading) > 0,5 để tạo giá trị hội tụ (Hair và Ctg 1998, 111) Hệ số tải nhân tố là chỉ tiêu để đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA Hệ số tải nhân tố > 0,3 được xem là đạt mức tối thiểu thì
cỡ mẫu ít nhất phải là 350; hệ số tải nhân tố > 0,4 được xem là quan trọng; và ≥ 0,5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn Nếu cỡ mẫu khoảng 100 thì nên thì nên chọn tiêu chuẩn hệ số tải nhân tố > 0,55; nếu cỡ mẫu khoảng 50 thì hệ số tải nhân tố > 0,75 Với mẫu khảo sát thu được trong nghiên cứu này là 200, tác giả chấp nhận hệ số tải nhân tố từ 0,5 trở lên Với các biến không đạt tiêu chí này thì bị loại vì không phải
là biến quan trọng trong mô hình
(3) Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích ≥ 50% (Hair và Ctg,
1998 và Gerbing & Anderson, 1988)
Trang 40(4) Hệ số Eigenvalue >1 (Gerbing và Anderson, 1998) Số lượng nhân tố được xác định dựa trên chỉ số eigenvalue - đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố
(5) Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) lớn nhất của từng biến quan sát ≥ 0,5 (được xem là có ý nghĩa thực tiễn, Hair & ctg, 1998)
(6) Khác biệt hệ số tải nhân tố của một biến quan sát giữa các nhân tố phải ≥ 0,3 để tạo giá trị phân biệt giữa các nhân tố (Jabnoun và Al-Tamimi, 2003)
3.3.4 Phân tích hồi quy đa biến
Trước khi tiến hành phân tích hồi quy cần tiến hành kiểm định hệ số tương quan giữa biến phụ thuộc (tính bền vững của tài chính chính quyền địa phương) và biến độc lập (các yếu tố ảnh hưởng)
Tiếp theo, phân tích hồi quy tuyến tính đa biến bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (Ordinal Least Squares – OLS) Hệ số xác định R2 hiệu chỉnh được dùng để xác định độ phù hợp của mô hình Kiểm định F được sử dụng để khẳng định khả năng mở rộng mô hình này áp dụng cho tổng thể cũng như kiểm định t để bác bỏ giả thuyết các hệ số hồi quy của tổng thể bằng 0
Nhằm đảm bảo độ tin cậy của phương trình hồi quy được xây dựng cuối cùng
là phù hợp, một loạt các dò tìm sự vi phạm của các giả định cần thiết trong mô hình hồi quy tuyến tính cũng được thực hiện
Các giả định được kiểm định trong phần này bao gồm: liên hệ tuyến tính (dùng biểu đồ phân tán Scatterplot), phương sai của phần dư không đổi (dùng hệ số hạng Speaeman), phân phối chuẩn của phần dư (dùng Histo-gram và P-P plot), tính độc lập của phần dư (dùng đại lượng thống kê Dur-bin-Watson), hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số phóng đại VIP)
Nghiên cứu các nhân tố tác động đến tính bền vững tài chính của chính quyền địa phương là một khía cạnh trong nghiên cứu kinh tế vừa mang tính chuyên biệt lại vừa mang tính tổng hợp Để có thể giải quyết yêu cầu của nghiên cứu, đề tài sử dụng cách tiếp cận theo nguyên tắc toàn diện và tiếp cận theo kinh tế vi mô Sử