Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa định nghĩa về nghèo: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, s
Trang 1NGÔ MINH CAM
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGÔ MINH CAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
PGS.TS BÙI THỊ MAI HOÀI
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Ngày 06 tháng 06 năm 2016
Tác giả
Ngô Minh Cam
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1.SỰCẦNTHIẾTCỦAVẤNĐỀNGHIÊNCỨU 1
1.2.MỤCTIÊUNGHIÊNCỨU 2
1.3.ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi thu thập dữ liệu 2
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu 2
1.4 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 3
Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
2.1.1 Nghèo 4
2.1.2 Tín dụng người nghèo 7
2.1.3 Đặc điểm của thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam 8
2.1.4 Đánh giá tác động của chính sách 10
2.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC SỐNG HỘ NGHÈO 11
2.2.1 Vai trò của tín dụng đối với giảm nghèo 11
2.2.2 Các yếu tố về nhân khẩu học 12
2.2.3 Tình trạng việc làm và giáo dục của hộ 13
2.2.4 Năng lực sản xuất của hộ 14
2.2.5 Các điều kiện bên ngoài 14
2.2.6 Đặc điểm dân tộc 15
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 15
2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài 15
Trang 52.3.2 Các nghiên cứu trong nước 17
2.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 20
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 21
3.1.1 Khung phân tích 21
3.1.2 Mô hình đánh giá tác động 21
3.2 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.2.1 Mô tả và định nghĩa các biến trong mô hình 23
3.2.2 Dữ liệu thứ cấp 24
3.2.3 Dữ liệu sơ cấp 25
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 26
3.3 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 27
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
4.1 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 28
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu 28
4.1.2 Kết quả triển khai cho vay hộ nghèo của NHCSXH tại huyện Phú Tân 30
4.1.3 Đánh giá những khó khăn, vướng mắc 31
4.2 ĐẶC ĐIỂM MẪU PHỎNG VẤN 31
4.2.1 Đặc điểm nhân khẩu học hộ phỏng vấn 31
4.2.2 Thu nhập của hộ 32
4.2.3 Tình trạng nhà ở và các vật dụng thiết yếu 33
4.3 ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN DỤNG NHCSXH ĐẾN THU NHẬP HỘ NGHÈO HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU 35
4.3.1 Kiểm định điều kiện của phương pháp khác biệt kép 35
4.3.2 Tiếp cận chương trình tín dụng của NHCSXH 36
4.3.3 Tác động của tín dụng NHCSXH đến thu nhập của hộ nghèo 38
4.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 4 42
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ 44
5.1 KẾT LUẬN 44
Trang 65.2 KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 45
5.2.1 Đảm bảo đủ vốn cho các hộ nghèo cần vay vốn sản xuất 45
5.2.2 Mở rộng mạng lưới tín dụng chính thức, nâng cao chất lượng dịch vụ 45
5.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xây dựng kết cấu hạ tâng 46
5.2.4 Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, đoàn thể, chính quyền cơ sở nhằm phát huy hiệu quả nguồn vốn 46
5.2.5 Cải tiến hồ sơ thủ tục cho vay vốn 47
5.2.6 Các chính sách khác 47
5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Bảng câu hỏi phỏng vấn
Phụ lục 2: Kết quả phân tích số liệu phỏng vấn năm 2016
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHYT Bảo hiểm y tế
DID Khác biệt trong khác biệt, còn gọi là khác biệt kép ĐBSCL Đồng bằng sông cửu long
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
NHCSXH Ngân sách Chính sách xã hội
UBND Ủy ban nhân dân
LHPNVN Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Biến quan sát trong mô hình nghiên cứu 24
Bảng 4.1: Đặc điểm nhân khẩu học hộ phỏng vấn 32
Bảng 4.2: Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình 33
Bảng 4.3: Tình trạng nhà ở 33
Bảng 4.4: Tình trạng sở hữu nhà ở 34
Bảng 4.5: Tình trạng nước sạch và vệ sinh 34
Bảng 4.6: Tình trạng sở hữu các vật dụng thiết yếu của hộ gia đình 35
Bảng 4.7: Khác biệt giữa 2 nhóm hộ tại thời điểm chưa có chính sách (năm 2012) 36
Bảng 4.8: Số tiền vay và lãi suất vay vốn NHCSXH năm 2015 36
Bảng 4.9: Mức độ hài lòng của nông hộ khi vay vốn từ NHCSXH 37
Bảng 4.10: Thu nhập của hộ nghèo trước và sau khi vay vốn NHCSXH 38
Bảng 4.11: Phân tích hồi quy tác động của tín dụng NHCSXH và các yếu tố kinh tế xã hội đến thu nhập của hộ 39
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 2-1: Vòng xoáy nghèo đói 6
Hình 3-1: Khung nghiên cứu của đề tài 21
Hình 3-2: Đồ thị biểu diễn tác động của phương pháp khác biệt kép 23
Hình 4-1: Lý do không vay vốn NHCSXH 37
Trang 9Chương 1 GIỚI THIỆU
Xóa đói giảm nghèo là một chủ trương lớn, là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung và của tỉnh Cà Mau nói riêng Theo Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2015), tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh Cà Mau
là 7,3%, xếp vào nhóm các tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo ở mức trung bình khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Những năm qua, tỉnh Cà Mau đã thực thi nhiều chính sách hỗ trợ giảm nghèo như giao đất, cung cấp tín dụng cho người nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, thực hiện các dịch vụ nông nghiệp, giải quyết việc làm, định canh định cư,
Phú Tân là một huyện của tỉnh Cà Mau với diện tích đất liền 446 km², chiếm 8,4% diện tích của tỉnh Cà Mau Thời điểm 2015, huyện Phú Tân có 1.981 hộ nghèo, chiếm 8,1% số hộ nghèo của tỉnh Cà Mau Đa số người nghèo ở huyện Phú Tân đều sinh sống dựa vào nông nghiệp, nông thôn Thu nhập của họ phụ thuộc rất nhiều vào những biến động của việc thay đổi các yếu tố môi trường khách quan từ bên ngoài như là: giá cả yếu tố đầu vào, đầu ra, sự ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu Do đó, vấn đề quan trọng hiện nay là làm sao cho người nghèo có thể vươn lên thoát nghèo
Ngân hàng Chính sách xã hội được thành lập theo Theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP của Chính phủ nhằm mục đích cung cấp vốn cho người nghèo và các đối tượng chính sách để họ vươn lên thoát nghèo và cải thiện cuộc sống Theo Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) tỉnh Cà Mau, đến hết 31/12/2015, tổng
dư nợ cho vay hộ nghèo tại địa bàn huyện Phú Tân đạt 390,9 tỷ đồng đã góp làm giảm tỷ lệ hộ nghèo của huyện Phú Tân khoảng 2%/năm (UBND huyện Phú Tân, 2015)
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình cho vay hộ nghèo huyện Phú Tân còn không ít hạn chế như: vẫn còn số hộ nghèo chưa vay được vốn, mức vốn vay, thời hạn cho vay chưa phù hợp với từng đối tượng, quy mô tín dụng thấp, còn
Trang 10khoảng 40% hộ nghèo chưa trực tiếp tiếp cận tín dụng chính thức từ NHCSXH dẫn đến hiệu quả chương trình tín dụng còn thấp (UBND huyện Phú Tân, 2015)
Vấn đề đặt ra là, chính sách tín dụng ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) có thực sự cải thiện thu nhập cho người nghèo tại địa bàn huyện Phú
Tân hay không? Từ đó tác giả chọn đề tài “Tác động tín dụng Ngân hàng Chính
sách xã hội đến thu nhập của hộ nghèo huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau” để
nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Đánh giá ảnh hưởng của chương trình tín dụng NHCSXH đến thu nhập của hộ nghèo tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau
Mục tiêu 2: Tìm hiểu nguyên nhân của kết quả ảnh hưởng từ chương trình tín dụng NHCSXH đến thu nhập của hộ nghèo tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau
Mục tiêu 3: Gợi ý chính sách cho chương trình tín dụng ưu đãi của NHCSXH
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hộ nghèo tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau và tín dụng NHCSXH đối với hộ nghèo là đối tượng nghiên cứu của đề tài
1.3.2 Phạm vi thu thập dữ liệu
Đề tài thu thập dữ liệu tại huyện Phú Tân tỉnh Cà Mau Các dữ liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài được giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2015
Số liệu sơ cấp được thu thập trong thời gian từ tháng 12/2015 đến tháng 01/2016
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp phân biệt kép (khác biệt trong khác biệt) kết hợp với mô hình hồi quy đa biến OLS để đánh giá tác động của tín dụng NHCSXH đến thu nhập của hộ nghèo huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau
Trang 111.4 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn bao gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Trang 12Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1.1 Nghèo
2.1.1.1 Khái niệm nghèo
Đói nghèo thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất Sự thiếu thốn vật chất còn có thể được thể hiện qua những nét đặc trưng của những khu vực mà người nghèo thường sinh sống, là những nơi thường thiếu điện, nước sạch hay nhà vệ sinh
độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương”
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa định nghĩa về nghèo: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô
la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại.” Các nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình “Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam -1995” đã đưa ra định nghĩa: “Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế”
Một cách hiểu khác thì nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm
cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế
xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia Kể từ năm 2000, Ủy ban Kinh
tế và Xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên hiệp quốc (UNESCAP) đã đưa ra ba
Trang 13khái niệm liên quan chặt chẽ với nhau để mô tả nghèo đói, đó là nghèo thu nhập (poverty of income), nghèo tiếp cận (poverty of access), và nghèo sức mạnh (poverty of power)
Nghèo thu nhập là khi thu nhập dưới một ngưỡng nghèo Nghèo thu nhập thường được sử dụng để đánh giá nghèo đói, cách biệt giàu nghèo, bất bình đẳng và mức độ thoát nghèo của một quốc gia
Nghèo tiếp cận làm vững chắc hơn nữa cái nghèo thu nhập và vòng luẩn quẩn đói nghèo Người nghèo không tiếp cận được với rất nhiều dịch vụ và cơ sở hạ tầng
cơ bản, từ giao thông đến giáo dục, nguồn vốn, nước sạch, nhà ở, an sinh xã hội, thông tin và chính sách
Nghèo sức mạnh thể hiện ở chỗ cho dù có thể tiếp cận được, thì những chính sách và thông tin này có thực sự giúp được những người nghèo không? Câu trả lời
là “có” chỉ khi nó đáp ứng được nhu cầu và bắt nguồn từ thực tế của họ Điều đó liên quan đến việc người nghèo có được tạo điều kiện, và có đủ năng lực, sức mạnh
để có ý kiến tham gia vào quá trình xây dựng chính sách và những quyết định liên quan đến chính họ hay không
Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các
cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh
tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (Liên Hợp Quốc, 2012) Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y tế, giáo dục và điều kiện sống, là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu
Trang 14các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống (Đặng Nguyên Anh, 2015)
Trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng cách tiếp cận nghèo theo hướng nghèo thu nhập và nghèo tiếp cận, tức là người nghèo sẽ nằm dưới ngưỡng thu nhập nghèo theo quy định của Chính phủ và thiếu khả năng tiếp cận chính sách, cụ thể ở đây là chính sách vay vốn tại địa phương
2.1.1.2 Đặc điểm hộ nghèo
Người nghèo đa phần là người nông dân sống ở vùng nông thôn, do họ thiếu thốn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức sản xuất nên đời sống gặp nhiều khó khăn
Đa phần họ bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh nên
họ thường tổ chức sản xuất theo thói quen, chưa biết mở mang ngành nghề, chưa có điều kiện tiếp xúc thị trường Các hộ nghèo thường có nhiều con hoặc ít lao động trong gia đình, chịu áp lực lớn về chi phí y tế, giáo dục và không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của đời sống
2.1.1.3 Vòng xoáy nghèo đói
Vòng xoáy nghèo đói là sự tiếp diễn không kết thúc của nghèo đói Là tập hợp những nhân tố, những sự kiện mà nghèo mỗi khi đã xuất hiện thì sẽ tiếp tục từ thế
hệ này sang thế hệ khác trừ khi có một sự can thiệp từ bên ngoài (hình 2-1)
Hình 2-1: Vòng xoáy nghèo đói
Nguồn: CRNA Ministries, Dự án Sea to Sea, Ending the Cycle of Poverty
Trang 15Hình 2-1 mô tả vòng xoáy nghèo đói Trong đó, người nghèo bị mắc kẹt trong một loạt các tình huống xã hội bất lợi: thu nhập thấp, giáo dục thấp, thiếu thốn nhà
ở, sức khỏe yếu kém… Thu nhập thấp làm giảm khả năng tiếp cận nguồn lực như giáo dục, tín dụng, không có đủ lương thực và nước sạch cho sinh hoạt… vì thế không có đủ điều kiện để cải thiện thu nhập, họ rơi vào tình trạng đói nghèo, dẫn đến bệnh tật, suy dinh dưỡng và chết chóc; kết quả là kiệt quệ sức lao động và dẫn đến kinh tế gia đình càng suy giảm hơn, thu nhập càng thấp hơn
Để giúp người nghèo thoát khỏi vòng luẩn quẩn này thì quan trọng nhất là những khoản vay tín dụng, nó giúp người nghèo có vốn để tự sản xuất, nhờ đó đảm bảo tốt hơn những nhu cầu cơ bản như lương thực, nước sạch…Cung cấp thuốc men hoặc dịch vụ khám chữa bệnh cho người nghèo sẽ giúp họ có sức khỏe tốt hơn, khỏe mạnh hơn để làm việc và nuôi sống bản thân, vượt qua khỏi vòng luẩn quẩn của bệnh tật, nợ nần và nghèo đói
2.1.2 Tín dụng người nghèo
Theo Nguyễn Minh Kiều (2008), “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền
sử dụng vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác trong một khoảng thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định”
Tín dụng đối với người nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho những người nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi; tùy theo từng nguồn có thể hưởng theo lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo mau chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hoà nhập cùng cộng đồng Tín dụng đối với người nghèo hoạt động theo những mục tiêu, nguyên tắc, điều kiện riêng, khác với các loại hình tín dụng của các ngân hàng thương mại
Hầu hết các chương trình tín dụng cho người nghèo đều nhằm mục tiêu giúp người nghèo cải thiện mức sống, cụ thể như: cải thiện thu nhập, chi tiêu đời sống, nhà ở, cải thiện mức độ tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khỏe, môi trường sống… Tùy theo từng chương trình cho vay khác nhau mà mục tiêu cụ thể cũng khác nhau Chương trình cho người nghèo vay vốn để phát triển nhà ở có mục tiêu là giúp
Trang 16người nghèo cải thiện nhà ở, môi trường sống; Chương trình cho người nghèo vay vốn để phát triển chăn nuôi có mục tiêu là để cải thiện thu nhập cho hộ nghèo; Chương trình cho học sinh, sinh viên nghèo vay vốn có mục tiêu là cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục cho người nghèo, nâng cao trình độ và năng lực cho người nghèo Nói tóm lại, mỗi chương trình cho vay đều có một mục tiêu riêng, nhưng chung quy đều nhằm giúp người nghèo cải thiện được cuộc sống trong hiện tại (trang trải cho những nhu cầu cơ bản nhất) và thoát nghèo bền vững trong tương lai (cải thiện thu nhập và tự trang trải cuộc sống trong tương lai)
2.1.3 Đặc điểm của thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam
Đặc điểm chung của tín dụng nông thôn là bao gồm cả tín dụng chính thức và tín dụng không chính thức Có thể chia tín dụng nông thôn Việt Nam thành ba nhóm: tín dụng chính thức, tín dụng phi chính thức và tín dụng bán chính thức Tín dụng chính thức được cung cấp bởi ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và Luật ngân hàng Mặc dù Việt Nam là nước nông nghiệp, hơn 75% dân số sống ở nông thôn nhưng tín dụng chính thức cho khu vực nông nghiệp nông thôn phát triển rất chậm
Tín dụng chính thức ở nông thôn Việt Nam chủ yếu do hai ngân hàng quốc doanh là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) và Ngân hàng Chính sách xã hội (CSXH) đảm nhận Ngân hàng NNPTNT được thành lập từ năm
1988, lĩnh vực cho vay chủ yếu là khu vực nông nghiệp nông thôn và hộ nông dân được xem là khách hàng chủ yếu của ngân hàng này Cho đến nay, ngân hàng NNPTNT đã có hệ thống chi nhánh khá rộng khắp ở tất cả các tỉnh trong cả nước,
và là tổ chức tín dụng quan trọng nhất ở nông thôn
NHCSXH được thành lập vào tháng 10/2002 trên cơ sở Ngân hàng Phục vụ người nghèo trước đây và chính thức hoạt động vào năm 2003 Ngân hàng CSXH
có 64 chi nhánh và 592 phòng giao dịch tại các tỉnh thành (NHCSXH, 2015) Chức năng chủ yếu là thực hiện các chương trình cho vay hộ nghèo, đối tượng chính sách, học sinh sinh viên và các đối tượng được trợ giúp xã hội khác
Nguồn vốn chủ yếu của NHCSXH là từ ngân sách Nhà nước, có thể được cấp
Trang 17trực tiếp hoặc thông qua các chương trình trợ giúp xã hội như: chương trình 135, chương trình 134, chương trình cho học sinh, sinh viên nghèo vay vốn,… Theo đó, vốn trợ cấp của các chương trình này sẽ được giải ngân thông qua ngân hàng CSXH thay vì giải ngân trực tiếp như trước đây Sau bảy năm thành lập, Ngân hàng CSXH cũng có vai trò quan trọng trong cung cấp tín dụng cho khu vực nông thôn với lãi suất thấp, đặc biệt là tín dụng cho người nghèo
Ngoài ra, tín dụng chính thức còn được cung cấp bởi các ngân hàng cổ phần
và các quỹ tín dụng Tuy nhiên, các tổ chức này chỉ có vai trò rất mờ nhạt ở khu vực nông thôn
Tín dụng phi chính thức thường được cung cấp bởi những cá thể, hộ gia đình cho vay lãi, người quen, các nhóm hụi… Đặc điểm của tín dụng phi chính thức là có lãi suất cao hơn mức lãi suất của khu vực chính thức, khối lượng cho vay thường không lớn nhưng thủ tục đơn giản, nhanh chóng đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn của các hộ
Những người cung cấp tín dụng phi chính thức thường ở trong cùng thôn, bản với người đi vay nên họ hiểu rất rõ về điều kiện, khả năng trả nợ của người đi vay
Vì vậy, thường cho vay không cần thế chấp, thậm chí không cần giấy tờ và có thể vay được vốn ngay lập tức nếu cần Điều này thật sự rất phù hợp với nông dân, nhất
là người nghèo
Tín dụng bán chính thức là nguồn tín dụng được cung cấp bởi các dự án, các chương trình tài trợ của nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội Trong đó, hiệu quả nhất là Hội Liên hiệp phụ nữ (HLHPN) các cấp - cầu nối giữa ngân hàng với người dân, nhất là phụ nữ HLHPN thường nhận triển khai các chương trình hỗ trợ tín dụng đối với người nghèo của ngân hàng CSXH hay ngân hàng NNPTNT, hoặc vay tiền của ngân hàng với lãi suất thấp sau
đó cho các hội viên vay lại
Vì có mạng lưới tổ chức đến từng bản, làng, và có sinh hoạt rất gần gủi với người dân nên HLHPN có thể đưa vốn tới tận tay người nông dân Nhờ vậy hỗ trợ rất lớn cho các hộ nghèo Ngoài ra, các tổ chức đoàn thể này còn kết hợp cung cấp
Trang 18tín dụng với hướng dẫn kỹ thuật, chia sẻ kinh nghiệm làm ăn, giúp cho người dân sử dụng vốn hiệu quả
Đánh giá tác động: liệu chương trình có tạo ra tác động mong đợi đối với các
cá nhân hay đối tượng mục tiêu, các hộ gia đình, các thể chế, các đối tượng thụ hưởng của chương trình? Những tác động này là nhờ chương trình hay nhờ vào các yếu tố khác? Mục tiêu của đánh giá tác động của chính sách là đo lường mức độ thay đổi trong phúc lợi của đối tượng tham gia do chính sách đó mang lại
Leeuw và Vaessene (2009) cho rằng đánh giá tác động chủ yếu quan tâm đến kết quả cuối cùng của những can thiệp như là chương trình, dự án đến phúc lợi cộng
Trang 19đồng, gia đình, cá nhân Theo Khandker và cộng sự (2010) các phương pháp đánh giá tác động được áp dụng phổ biến như sau:
(1) Đánh giá ngẫu nhiên hóa (Randomized evaluation)
(2) Phương pháp đối chiếu (Matching method), đặc biệt là so sánh điểm xu hướng (PSM-propensity score matching)
(3) Phương pháp khác biệt kép (DD:Double- difference hay DID- diffence in difference)
(4) Phương pháp biến công cụ (IV-Instrument Variable)
(5) Thiết kế Gián đoạn hồi qui (Regression Discontinuity) và Phương pháp tuần tự (Pipeline)
Luận văn này sử dụng phương pháp phân biệt kép (khác biệt trong khác biệt) kết hợp với mô hình hồi quy đa biến OLS (sẽ trình bày cụ thể ở chương 3)
Mức sống của người nghèo được phản ánh trên nhiều khía cạnh như thu nhập, chi tiêu đời sống, mức độ tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục… Các nghiên cứu thực nghiệm về nghèo đói đã phân tích và chỉ ra các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức sống của người nghèo ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó tín dụng là một yếu tố quan trọng
2.2.1 Vai trò của tín dụng đối với giảm nghèo
Vốn là đầu vào quan trọng cho quá trình sản xuất, chính vì vậy thiếu vốn là một trong những nguyên nhân rơi vào nghèo, làm cho thu nhập và chi tiêu của người nghèo bị hạn chế Có nhiều vốn sản xuất và dễ dàng tiếp cận được các nguồn vốn sẽ tạo cơ hội nâng cao mức sống cho người nghèo
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tiếp cận tín dụng là điều kiện quan trọng để người nghèo tăng cường đầu tư cho sản xuất, trang trải chi phí học hành cho con cái… Nhờ đó, nâng cao thu nhập và có cơ hội thoát nghèo bền vững Ngân hàng thế giới (1995) đã khuyến cáo rằng cải thiện thị trường tín dụng là một chính sách quan trọng để giảm nghèo đói ở Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay, tín dụng ở nông thôn
Trang 20Việt Nam vẫn rất kém phát triển
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tín dụng và giảm nghèo ở một số quốc gia Châu Phi, các tác giả Yasmine F Nader (2007), Shahidur R Khandker (2005), Jonathan Morduch, Barbara Haley (2002) đã khẳng định vai trò quan trọng của việc cấp tín dụng với những điều kiện ưu đãi cho người nghèo, đó là phương tiện để giúp
họ thoát nghèo Ryu Fukui, Gilberto M Llanto (2003): Vai trò của hoạt động tín dụng cho người nghèo thể hiện qua sự đóng góp của nó vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm tác động của sự bất ổn kinh tế và tăng tính tự chủ cho các hộ nghèo Một số nghiên cứu khác ở Việt Nam như Phạm Vũ Lửa Hạ (2003), Nguyễn Trọng Hoài (2005) cũng khẳng định rằng tín dụng và tiếp cận tín dụng là điều kiện quan trọng quyết định đến khả năng nâng cao mức sống và thoát khỏi đói nghèo của các hộ nghèo
Tín dụng vi mô cũng được nhiều nghiên cứu khẳng định có vai trò tích cực trong việc giảm nghèo, đặc biệt ở nông thôn Sudan Jhonson and Ben Rogaly (1997), Hege Gulli (1998), Beatriz Amendáris de Aghion, Jonathan Morduch (2005) khẳng định rằng tài chính vi mô giúp giảm nghèo, đặc biệt là những người nghèo nhất và dễ tổn thương nhất thông qua việc cung cấp tín dụng dễ dàng kết hợp với những hướng dẫn về cách thức sử dụng Nhờ đó giúp người nghèo tăng cường được vị thế của mình trong xã hội, phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ, kể cả sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập và giảm khả năng dễ tổn thương Nhìn chung, tín dụng cho người nghèo được ủng hộ bởi các chuyên gia kinh tế
vì nó thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong dài hạn ở các vùng khó khăn
2.2.2 Các yếu tố về nhân khẩu học
Số nhân khẩu trong hộ: Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004 chỉ ra rằng những
hộ gia đình càng đông người thì thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người càng giảm xuống Dorter Verner (2005), Dự án Diễn đàn miền núi (2005), Nguyễn Trọng Hoài (2005) cũng có kết luận tương tự về mối quan hệ nghịch biến giữa số nhân khẩu trong hộ và phúc lợi của người nghèo
Tỷ lệ phụ thuộc: Tỷ lệ phụ thuộc là số người ăn theo trên một lao động trong
Trang 21hộ Các nghiên cứu về nghèo đói của Ngân hàng thế giới và các chuyên gia kinh tế phát triển đều nhất trí rằng tỷ lệ phụ thuộc là một yếu tố quan trọng quyết định sự sung túc hay nghèo khó của các hộ gia đình ở các địa phương Tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì phúc lợi mà mỗi người trong hộ nhận được càng thấp, do một người lao động phải nuôi sống nhiều người hơn Đặc biệt là những hộ có nhiều trẻ em sẽ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn những hộ có ít trẻ em
Giới tính của chủ hộ: Có những quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa giới tính của chủ hộ và nghèo đói Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những hộ có chủ hộ là nam thường có thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người cao hơn hộ có chủ hộ là nữ Những hộ gia đình mà vợ (hoặc chồng) của chủ hộ bị chết hay li dị có mức thu nhập và chi tiêu đầu người thấp hơn những hộ có đầy đủ cả vợ và chồng Tuy nhiên, theo đánh giá của UNDP (1995), ở Việt Nam, những hộ do phụ nữ làm chủ hộ không nghèo hơn so với những hộ do nam giới làm chủ
2.2.3 Tình trạng việc làm và giáo dục của hộ
Những hộ gia đình có nhiều người có trình độ cao có khả năng có thu nhập cao hơn những hộ khác do họ có thể tiếp cận được những công việc được trả lương cao hơn Baulch và McCulloch (1998) đã nghiên cứu về nghèo đói ở Pakistan trong năm năm và kết luận rằng trình độ giáo dục cao hơn, đặc biệt là giáo dục phổ thông làm tăng khả năng thoát nghèo của các hộ World Bank (2004) cho rằng đầu tư vào giáo dục là cách tốt nhất để người nghèo thoát nghèo một cách bền vững Người nghèo có trình độ cao hơn không chỉ có khả năng sản xuất tốt hơn mà có thể dễ dàng chuyển đổi nghề nghiệp hơn nếu như có một biến cố nào đó xảy ra với công việc của họ
Dorter Verner (2005), R.Khandker (2009) chỉ ra rằng những hộ gia đình có người làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp hay làm việc hưởng lương sẽ có mức sống cao hơn những hộ chỉ làm nông nghiệp Krishna (2004) theo dõi việc rơi vào nghèo và thoát nghèo ở 35 ngôi làng ở vùng Rajashthan, Ấn Độ và kết luận rằng sự
đa dạng hóa thu nhập và khả năng tiếp cận các việc làm công ăn lương (kể cả việc làm không thường xuyên) sẽ tăng khả năng thoát nghèo của người dân
Trang 22Nguyễn Trọng Hoài (2005) nghiên cứu về nghèo đói các tỉnh Đông Nam Bộ
đã kết luận yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến phúc lợi của hộ là việc làm Một hộ gia đình có việc làm chi tiêu nhiều hơn hộ không có việc làm và một hộ có việc làm thuần nông có mức chi tiêu đầu người thấp hơn hộ có việc làm phi nông nghiệp Các nghiên cứu trên cho thấy việc làm là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến phúc lợi của người nghèo và việc làm phi nông nghiệp là cơ hội để họ thoát nghèo
2.2.4 Năng lực sản xuất của hộ
Đất đai: đa số người nghèo ở Việt Nam sống ở nông thôn và phụ thuộc rất lớn vào sản xuất nông nghiệp Do đó đất đai là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập, chi tiêu cũng như những cơ hội cải thiện phúc lợi khác của người nghèo Báo cáo tổng hợp về đánh giá nghèo đói ở Việt Nam có sự tham gia của người dân (1999) đã chỉ ra rằng có đủ đất đai tương đối tốt để sản xuất là cơ sở để hộ nghèo cải thiện cuộc sống Những hộ gia đình có đất đai tốt hơn (độ dốc thấp, gần gủi với nhà ở, có hệ thống tưới tiêu tốt và không nhiễm mặn) sẽ khấm khá hơn những hộ khác Những hộ sở hữu nhiều đất đai có thể đa dạng hóa loại cây trồng, nhờ đó cải thiện mức sống tốt hơn những hộ khác
R Khandker (2009), GayaTri Datar (2009), Nguyễn Trọng Hoài (2005) cũng khẳng định diện tích đất đai và khả năng tiếp cận đất đai có ảnh hưởng cùng chiều tới mức thu nhập và chi tiêu của hộ nghèo
Tư liệu sản xuất: Đối với các hộ nghèo ở nông thôn, gia súc (trâu, bò, ngựa, lợn nái…) là một phần quan trọng của tư liệu sản xuất vì nó cung cấp sức cày bừa, kéo và phân bón phục vụ sản xuất Ngoài ra, lợn nái, bò cái… cung cấp con giống cho chăn nuôi của hộ gia đình
2.2.5 Các điều kiện bên ngoài
Điều kiện địa lý, giao thông, khoảng cách đến khu vực trung tâm có tác động đáng kể đến mức sống của các hộ gia đình Báo cáo phát triển Việt Nam, 2004 đã khẳng định rằng những hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa có mức chi tiêu đầu người thấp hơn những hộ ở đồng bằng và thành thị Trong báo cáo “Việt Nam – Đánh giá
Trang 23sự nghèo đói và chiến lược” (1995), World Bank khẳng định cơ sở hạ tầng là yếu tố
có ảnh hưởng quan trọng tới năng suất nông nghiệp, gắn liền với sự phát triển việc làm phi nông nghiệp và thúc đẩy sự tham gia của người nghèo vào nền kinh tế thị trường Những người dân sống gần cơ sở hạ tầng có mức sống cao hơn và có khả năng tận dụng những ưu thế của thị trường hơn những hộ ở xa
Nicholas Minot, Bob Baulch kết hợp với Nhóm tác chiến lập bản đồ nghèo đói (2003) cho rằng nghèo đói ở Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố địa
lý như địa hình, độ dốc, đặc điểm đất đai, khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm
2.2.6 Đặc điểm dân tộc
Các nghiên cứu trước chỉ ra rằng các hộ thuộc dân tộc thiểu số có thu nhập thấp hơn các hộ người Kinh hay người Hoa Trong điều kiện như nhau, người dân tộc thiểu số có mức chi tiêu thấp hơn người Kinh và người Hoa 13% (WB, 2004) Bởi vì phần lớn dân tộc thiểu số ở Việt Nam sống ở các vùng núi, vùng sâu, vùng
xa, cơ sở hạ tầng kém phát triển; ít có điều kiện học hành vì thế kỹ năng ứng dụng
kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh cũng rất kém Hơn nữa, các hộ dân tộc thiểu số thường có đông con, đất đai ít và không màu mỡ…
Tóm lại, dựa vào lý thuyết về thu nhập và những nghiên cứu thực nghiệm về nghèo đói, có thể chia các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của người nghèo thành các cấp độ: (1) Cấp độ cá nhân (trình độ giáo dục, tuổi, giới tính, năng lực tự nhiên,
cơ hội và sự nỗ lực cá nhân); (2) Cấp độ hộ gia đình (quy mô nhân khẩu của hộ, diện tích đất, số lao động, tỷ lệ phụ thuộc, đặc điểm dân tộc, trang thiết bị sản xuất, nợ); (3) Cấp độ vùng (Khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm, đặc điểm vùng, giao thông); (4) Cấp độ chính phủ (Sự hỗ trợ về giáo dục, y tế, tín dụng)
2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu của Baulch và Vũ (2012) phân tích vai trò của đặc điểm (gồm đặc điểm nhân khẩu hộ gia đình, trình độ học vấn, sở hữu đất, đặc điểm xã…) và hiệu quả thu nhập của các đặc điểm (do ảnh hưởng của các yếu tố không quan sát được
Trang 24qua điều tra mức sống, ví dụ như chất lượng đất, chất lượng giáo dục, các rào cản văn hóa, định kiến và kỳ thị với đồng bào dân tộc thiểu số …) đến sự khác biệt về thu nhập/chi tiêu giữa nhóm dân tộc đa số và các nhóm dân tộc thiểu số, dựa trên số liệu VHLSS 2010 (cập nhật một nghiên cứu tương tự trước đó dựa trên số liệu VHLSS 2006) Khác biệt về đặc điểm đóng góp 50% trong khác biệt về mức sống giữa nhóm đa số và các nhóm dân tộc thiểu số; ngược lại, khác biệt về hiệu quả thu nhập đóng góp trên 50% vào sự khác biệt về mức sống Nghiên cứu cũng cho thấy, thu nhập từ việc làm phi nông nghiệp, kinh doanh, dịch vụ và tiền gửi chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhiều trong thu nhập của nhóm dân tộc thiểu số so với nhóm đa số Mirko Bendig, Lena Giesbert, Susan Steiner (2009), ”Nghiên cứu nhu cầu của nông hộ đối với các dịch vụ tài chính chính thức ở nông thôn Ghana”, viện nghiên cứu Khu vực và Toàn cầu Đức Tác giả sử dụng phương pháp tobit để có thể phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng vay vốn và lượng vốn vay của nông hộ Kết quả cho thấy, có 9 nhân tố ảnh hưởng đến khả năng vay vốn của nông hộ, đó là kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ, quan hệ quen biết của hộ, qui mô gia đình, tuổi tác của chủ hộ, học vấn của chủ hộ, qui mô đất đai, tổng tài sản của nông hộ, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của hộ và việc nông hộ có điện thoại hay không Còn lượng vốn vay của nông hộ thì phụ thuộc vào 10 nhân tố đó là lãi suất món tiền vay, lịch sử trả nợ của hộ, quy mô gia đình, tuổi tác của chủ hộ, học vấn của chủ hộ, qui mô đất đai, tổng tài sản của nông hộ, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của hộ, việc nông hộ có điện thoại hay không, và các biến cố xảy ra trong hộ (bệnh tật, có người thân qua đời…)
Ja Afolabi (2010), Phân tích khả năng trả nợ vay của nông dân sản xuất qui
mô nhỏ ở bang Oyo, Nigeria, Vụ Kinh tế nông nghiệp và khuyến nông, đại học liên bang công nghệ Akure Nghiên cứu tập trung xác định các đặc điểm kinh tế - xã hội của nông hộ ở bang Oyo và ảnh hưởng của chúng đến khả năng trả nợ vay của nông
hộ Mô hình hồi quy OLS cũng được sử dụng trong nghiên cứu nhằm xác định số lượng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến khả năng vay vốn của nông hộ sản xuất quy mô nhỏ trong khu vực nghiên cứu Các biến phụ thuộc là khả năng trả nợ
Trang 25vay của nông hộ bao gồm: Tuổi của chủ hộ, kinh nghiệm canh tác của hộ, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thu nhập của hộ, quy mô sản xuất, quy mô gia đình, chi phí sản xuất, và lãi suất của món tiền vay mà hộ đã vay từ ngân hàng
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Nguyễn Thanh Hùng và cộng sự (2015) với nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả chương trình tín dụng ưu đãi của chính phủ đối với hộ nghèo tại huyện Trà Cú: Đánh giá từ phía người vay” Nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy đa biến Probit để đánh giá tác động của các yếu tố đến tiếp cận tín dụng và lượng vốn tín dụng
Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng vốn vay trung bình của hộ nghèo vay được
từ NHCSXH khoảng 6,87 triệu đồng, lượng vốn vay nhỏ nhất là 3 triệu đồng và lớn nhất là 15 triệu đồng Kỳ hạn trung bình của khoản vay là 19 tháng, kỳ hạn thấp nhất là 6 tháng và cao nhất là 36 tháng
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn vay của hộ nghèo xếp theo mức độ ảnh hưởng từ cao đến thấp gồm chi tiêu trung bình một năm của hộ (1) có ảnh hưởng mạnh nhất đến việc tiếp cận vốn vay của hộ nghèo, kế đến là biến thu nhập trung bình một năm của hộ (2); tổng diện tích đất hộ nắm giữ (3) và cuối cùng
là biến đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (4) Các biến giá trị tài sản của hộ; giới tính chủ hộ; trình độ học vấn và số người phụ thuộc trong hộ không có ý nghĩa thống kê hay nói cách khác là không đủ bằng chứng cho rằng các biến này ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của hộ nghèo
Các yếu tố ảnh hưởng đến số tiền vay từ NHCSXH của hộ nghèo gồm trình
độ học vấn; giới tính chủ hộ; số người phụ thuộc trong hộ; thu nhập trung bình một năm của hộ; chi tiêu trung bình một năm của hộ và cuối cùng là biến đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Phan Thị Nữ (2010), Đánh giá tác động của tín dụng đối với giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, Đại học Kinh tế TPHCM Nghiên cứu này đánh giá tác động của tín dụng đối với giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam dựa trên số liệu điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS) trong
Trang 26các năm 2004 và 2006 Nghiên cứu này sử dụng phương khác biệt trong khác biệt (DID) kết hợp với hồi qui OLS Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tín dụng có tác động tích cực lên mức sống của người nghèo thông qua làm tăng chi tiêu cho đời sống của họ Tuy nhiên, tín dụng không có tác động cải thiện thu nhập cho người nghèo
vì vậy có thể sẽ không giúp người nghèo thoát nghèo một cách bền vững Tín dụng chính thức mặc dù có giá rẻ nhưng rất khó đến được với người nghèo do những thủ tục rườm rà và khoảng cách xa so với người nghèo Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy tác động tích cực của giáo dục và đa dạng hóa việc làm đến mức sống của hộ nghèo Đề tài đã đề xuất một số gợi ý chính sách để cải thiện mức sống cho người nghèo ở nông thôn Việt Nam, bao gồm: Đơn giản hóa thủ tục vay vốn và mở rộng mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng; điều chỉnh lãi suất ở nông thôn; kết hợp cho vay vốn và khuyến nông
Nguyễn Văn Châu (2009), Ảnh hưởng tín dụng ưu đãi NHCSXH đế giảm tỷ
lệ nghèo tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Tác giả đã phỏng vấn trực tiếp 240 hộ nghèo trên địa bàn huyện Vị Xuyên để đánh giá ảnh hưởng của tín dụng NHCSXH đến khả năng tiếp cận vốn vay và cải thiện thu nhập của hộ nghèo
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức vay cao nhất của NHCSXH là 30 triệu đồng/hộ và thấp nhất là 5 triệu đồng/hộ; 64,7% số vốn vay của NHCSXH được đầu
tư vào lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiêp; tín dụng vay thông qua NHCSXH làm tăng thu nhập bình quân 1,0 triệu đồng/người/năm Nguồn vốn NHCSXH đã tạo ra trên 4.000 ngàn việc làm và trên 1.500 lao động xuất khẩu trong đó ra nước ngoài gần 361 lao động
Tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ảnh hưởng tích cực của tín dụng NHCSXH đến giảm nghèo tại huyện Vị Xuyên: (1) Đảm bảo đủ vốn cho các
hộ nghèo cần vay vốn sản xuất; (2) Quản lý tốt nguồn vốn ưu đãi hỗ trợ thông qua các dự án; (3) Kết hợp nguồn vốn ưu đãi NHCSXH với các Chương trình dự án khác
Báo cáo của Oxfam và AAV (2012) tổng hợp kết quả theo dõi nghèo nông thôn tại mạng lưới các điểm quan trắc giai đoạn 2007-2011 cũng cho thấy mức độ
Trang 27giảm nghèo không đồng đều giữa các địa bàn dân cư Tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo thu nhập của Chính phủ tại các vùng dân tộc thiểu số giảm chậm và còn ở mức rất cao Cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số còn rất khó khăn với những bất lợi đa chiều, điển hình là bất lợi về điều kiện sống (nước sinh hoạt, nhà vệ sinh), tiếp cận thị trường, việc làm phi nông nghiệp và chống đỡ rủi ro Tỷ lệ hộ thuần làm nông nghiệp còn khá cao, trong khi đây là một tiêu chí nghèo quan trọng theo cảm nhận của người dân Tình trạng “thiếu ăn” vào thời điểm giáp hạt, gặp thiên tai dịch bệnh vẫn là thách thức lớn đối với một bộ phận dân cư ở vùng dân tộc thiểu số Ngay trong một cộng đồng cũng có nhiều nhóm gặp khó khăn đặc thù, như nhóm nghèo kinh niên, nhóm nghèo tạm thời, nhóm nghèo dễ bị tổn thương, và nhóm cận nghèo hoặc mới thoát nghèo, cần có chính sách hỗ trợ phù hợp với từng nhóm
Phùng Đức Tùng và cộng sự thuộc Công ty nghiên cứu và tư vấn Đông Dương (2012), “Tác động của Chương trình 135 giai đoạn II qua lăng kính hai cuộc điều tra đầu kỳ và cuối kỳ” Tác giả đã sử dụng phương pháp đánh giá tác động của chương trình 135 lên mức sống của hộ nghèo bằng 2 phương pháp đánh giá: (1) Phương pháp khác biệt kép kết hợp với hồi quy OLS và (2) Phương pháp hồi quy
dữ liệu bảng nhân tố cố định (fixed-effects regressions)
Kết quả nghiên cứu cho thấy, Chương trình 135 đã giúp cải thiện rõ rệt việc tiếp cận đến các cơ sở hạ tầng cơ bản, tiếp cận đến thị trường và do vậy làm tăng năng suất trong nông nghiệp, cơ hội việc làm phi nông nghiệp và do vậy làm tăng thu nhập và cải thiện đời sống của các hộ gia đình trong các xã thuộc Chương trình Thu nhập bình quân đầu người của các hộ tăng khoảng 20% trong khoảng thời gian
2007 – 2012 Các hộ có thu nhập thấp có mức tăng thấp hơn các hộ thu nhập cao
Do đó, bất bình đẳng về thu nhập giữa các hộ trong các xã 135-II ngày một tăng lên Kết quả giảm nghèo ở các xã thuộc CT135-II đạt được chủ yếu do tăng thu nhập Các hộ nằm trong các xã CT 135-II phụ thuộc rất nhiều vào thu nhập nông nghiệp Gần 60% thu nhập của các hộ từ các hoạt động nông nghiệp Tỷ trọng đóng góp từ tiền công/tiền lương vào tổng thu nhập có chiều hướng gia tăng tuy nhiên vẫn ở tỷ lệ khá nhỏ Tỷ trọng thu nhập từ phi nông nghiệp còn khá hạn chế, chỉ ở
Trang 28mức khoảng 5% Tỷ lệ các hộ nghèo tạm thời là khá lớn Có đến 22,1% hộ thoát khỏi đói nghèo nhưng lại có đến 14,3% các hộ trở thành hộ nghèo giữa 2 năm Các
hộ dân tộc Kinh dễ có khuynh hướng trở thành hộ nghèo tạm thời trong khi các hộ đồng bào thiểu số lại có nhiều khả năng là hộ nghèo kinh niên
Các nghiên cứu ở trên chủ yếu tập trung vào vấn đề nghèo đói ở các khu vực khác nhau của Việt Nam Phương pháp đánh giá tác động khác biệt trong khác biệt (DID - difference-in-differences) kết hợp với hồi qui OLS được sử dụng khi đánh giá tác động của tín dụng đối với hộ nghèo được 2 tác giả là Phan Thị Nữ (2010) và Nguyễn Thanh Bình (2010) sử dụng có ưu điểm là phản ánh chính xác hơn tác động của tín dụng đối với mức sống của người nghèo so với các mô hình hồi quy OLS thông thường ở các nghiên cứu khác
Tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau trong vòng 10 năm trở lại đây chưa có nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của tín dụng ưu đãi thông qua hệ thống NHCSXH đối với người nghèo Do vậy, đề tài này có nhiều đóng góp mới cho việc đánh giá hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi thông qua hệ thống NHCSXH cũng như hàm ý chính sách giảm nghèo thông qua tín dụng ưu đãi đối với người nghèo tại đơn vị hành chính cấp huyện ở Việt Nam
Trang 29Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
3.1.1 Khung phân tích
Trên cơ sở tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo tại mục 2.2 và các nghiên cứu có liên quan đến đề tài tại mục 2.3, khung phân tích của đề tài được trình bày tại hình 3.1
Hình 3-1: Khung nghiên cứu của đề tài
Phương pháp này được thực hiện bằng cách chia các đối tượng phân tích thành hai nhóm, một nhóm được áp dụng chính sách (nhóm tham gia/ nhóm xử lý), nhóm còn lại không được áp dụng chính sách (nhóm so sánh/ nhóm kiểm soát) Gọi D là
CÁC YẾU TỐ KINH TẾ, XÃ HỘI
Thu nhập phi nông nghiệp
Diện tích đất canh tác bình quân
Điều kiện giao thông
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CHÍNH
SÁCH XÃ HỘI
THU NHẬP CỦA HỘ
NGHÈO
Trang 30biến giả phản ánh nhóm quan sát, D=0: hộ thuộc nhóm so sánh; D=1: hộ thuộc nhóm tham gia
Một giả định quan trọng của phương pháp này là nhóm tham gia và nhóm so sánh phải có đặc điểm tương tự nhau vào thời điểm trước khi áp dụng chính sách
Do đó, đầu ra của hai nhóm này phải có xu hướng biến thiên giống nhau theo thời gian nếu không có chính sách
Gọi Y (thu nhập) là đầu ra của chính sách Với T=0 là khi chưa có chính sách, T=1 là sau khi có chính sách Trước khi áp dụng một chính sách hay chương trình mới, tiến hành thu thập thông tin về đầu ra (Y) của cả hai nhóm và so sánh xem có
sự khác nhau như thế nào
Sau đó, áp dụng chính sách lên nhóm tham gia và không áp dụng chính sách lên nhóm so sánh Khi chương trình kết thúc hoặc sau một thời gian áp dụng nhất định, thu thập thông tin về đầu ra của hai nhóm này một lần nữa So sánh sự khác biệt trước và sau khi có chính sách trong đầu ra của cả hai nhóm
Nếu có sự khác biệt trong mức độ biến thiên trong đầu ra giữa hai nhóm này thì đó chính là tác động của chính sách Kết quả này vừa phản ánh sự khác biệt về mặt thời gian trước và sau khi có chính sách vừa phản ánh sự khác biệt chéo giữa nhóm tham gia và nhóm không tham gia
Giả thiết tối quan trọng của phương pháp DID là nếu không có chính sách thì đầu ra của nhóm so sánh và nhóm tham gia có xu hướng biến thiên như nhau Sự khác nhau trong biến thiên theo thời gian giữa hai nhóm này là do tác động của chính sách hay chương trình mới
Phương pháp DID được mô tả cụ thể như sau:
Vào thời điểm trước khi có chính sách, đầu ra của nhóm so sánh là Y00 (D=0, T=0) và đầu ra của nhóm tham gia là Y10 (D=1, T=0) Chênh lệch đầu ra giữa hai nhóm này trước khi có chính sách là Y10-Y00
Tại thời điểm sau khi áp dụng chính sách, đầu ra của nhóm so sánh là Y01 (D=0, T=1) và đầu ra của nhóm tham gia là Y11 (D=1, T=1) Khi đó, chênh lệch đầu
ra giữa hai nhóm này là Y11-Y01
Trang 31Hình 3-2: Đồ thị biểu diễn tác động của phương pháp khác biệt kép
Nguồn: Phân tích tác động chính sách công, Nguyễn Xuân Thành (2006)
Tuy nhiên, thu nhập của hộ nghèo là hàm đa biến, không chỉ phụ thuộc vào tín dụng mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Chính vì vậy, đánh giá tác động của tín dụng đối với thu nhập của hộ nghèo sẽ chính xác hơn nếu đưa thêm các biến này vào làm biến kiểm soát Để làm được điều này đề tài kết hợp giữa phương pháp khác biệt kép và phương pháp hồi quy đa biến OLS Mô hình kinh tế lượng:
Y it = β0 +β1D+β2 T+β3 D*T+β4 Zit + εit
Trong đó, Yit là chỉ tiêu phản ánh thu nhập của hộ i tại thời điểm t;
D = 1: Hộ khảo sát thuộc nhóm tham gia; D=0: Hộ khảo sát thuộc nhóm so sánh T = 0: Số liệu khảo sát năm 2012; T =1: Số liệu khảo sát năm 2015
Zit là các biến kiểm soát: bao gồm các nhóm biến phản ánh đặc điểm nhân khẩu, đặc điểm về giáo dục và việc làm, năng lực sản xuất của hộ…
3.2 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1 Mô tả và định nghĩa các biến trong mô hình
Biến phụ thuộc: thu nhập bình quân đầu người theo giá thực của hộ nghèo; Biến độc lập: 11 biến độc lập trong mô hình nghiên cứu (bảng 3.1)
Trang 32Bảng 3.1: Biến quan sát trong mô hình nghiên cứu
Biến quan sát Ký hiệu
Kỳ vọng dấu
Cơ sở lý thuyết
1
Biến giả về nhóm hộ (giá trị 0
nếu hộ không vay vốn, 1 nếu hộ
Biến giả về thời điểm khảo sát
(giá trị 0 nếu thuộc thời điểm
2012, 1 nếu thời điểm 2015)
T + Phương pháp phân tích
phân biệt kép
3 Qui mô hộ, bằng số nhân khẩu
Dân tộc của chủ hộ (giá trị 1 nếu
chủ hộ dân tộc Kinh hoặc Hoa, 0
9 Tỷ lệ (%) thu nhập phi nông
nghiệp trong tổng thu nhập TNphiNong +
Dorter Verner (2005), R.Khandker (2009)
10 Diện tích đất canh tác bình quân đầu người (m2/người) DTDat + R GayaTri Datar (2009)Khandker (2009),
11
Điều kiện giao thông
(thuận lợi = 1, không thuận lợi =
0)
GThong + World Bank (1995)
Nguồn: Tổng hợp các nghiên cứu có liên quan
3.2.2 Dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp bao gồm kết quả các nghiên cứu liên quan đến đề tài; số liệu thống kê về nghèo của huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau trong giai đoạn 2012 – 2015; tình hình phát triển kinh tế xã hội huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau giai đoạn 2012 –
Trang 332015 và định hướng xóa đói giảm nghèo của huyện Phú Tân giai đoạn 2016 – 2020
Dữ liệu thứ cấp được thu thập qua qua sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; Niên giám thống kê, các báo cáo về thực hiện chương trình, chính sách giảm nghèo, dư nợ cho vay hộ nghèo từ Phòng Lao động, Thương binh và xã hội huyện Phú Tân; NHCSXH tỉnh Cà Mau
3.2.3 Dữ liệu sơ cấp
3.2.3.1 Chọn đối tượng điều tra
Đề tài chọn hộ nghèo theo phân loại của địa phương vào năm 2012 có tham gia vay vốn trong năm 2015 và không vay vốn trong năm 2012 làm nhóm tham gia
Và hộ nghèo theo xếp loại của địa phương vào năm 2012 nhưng không tham gia vay vốn trong cả giải đoạn 2012 - 2015 có đặc điểm kinh tế, xã hội (thu nhập đầu người, học vấn, tỷ lệ người phụ thuộc, diện tích đất canh tác, …) tương tự với các
hộ có vay vốn làm nhóm so sánh
Vì hai nhóm này đều là những hộ nghèo theo phân loại của địa phương cho nên nếu có chính sách hỗ trợ nào khác thì cả hai đều được hưởng lợi như nhau Với giả định rằng vào năm 2012, hai nhóm này có xuất phát điểm như nhau, nếu hai nhóm đều không vay vốn thì thu nhập và chi tiêu của họ thay đổi tương tự nhau từ năm 2012 đến 2015
Căn cứ vào chuẩn nghèo của tỉnh Cà Mau giai đoạn 2012 - 2015 (khu vực nông thôn 400.000 đồng/người/tháng, khu vực thành thị 540.000 đồng/người/tháng)
để chọn hộ tham gia vào nghiên cứu Đề tài loại bỏ bớt những hộ nghèo có thu nhập bình quân đầu người vượt ra xa khỏi ngưỡng này để loại bỏ trường hợp hộ không nghèo thực chất nhưng được xếp vào diện hộ nghèo Việc chọn hộ thuộc nhóm so sánh và nhóm tham gia như trên nhằm thỏa mãn điều kiện của phương pháp phân tích khác biệt kép
3.2.3.2 Phương pháp chọn mẫu
Theo nghiên cứu của Bollen (1989), kích thước mẫu tối thiểu là 5 lần số biến quan sát (tiêu chuẩn 5:1) Nghiên cứu này có 11 biến quan sát, nên kích thước mẫu
Trang 34tối thiểu phải đạt được là n = 5 lần x 11 = 55 Đề tài chọn số lượng mẫu cho nhóm
so sánh là 100 và số lượng mẫu cho nhóm hưởng lợi là 100 (thỏa mãn điều kiện cỡ mẫu tối thiểu) Như vậy, tổng số mẫu điều tra của cả hai nhóm là 200
Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng theo thu nhập bình quân đầu người của hộ Chọn ra 3 xã có số lượng hộ nghèo đang vay vốn tại thời điểm năm
2015 nhiều nhất để phỏng vấn, tại mỗi xã như vậy phỏng vấn 33 hộ thuộc nhóm tham gia và 33 hộ thuộc nhóm so sánh
3.2.3.3 Thiết kế bảng hỏi định lượng
Bảng câu hỏi sẽ thu thập một số thông tin của đối tượng phỏng vấn năm 2012
và vào thời điểm phỏng vấn năm 2015 Các thông tin chính trong bảng hỏi định lượng được thu thập (ngoài các thông tin cơ bản của hộ gia đình) gồm: Hiện trạng vay nợ của hộ, số tiền vay, lãi suất, mục đích vay và thời hạn vay, việc tiếp cận với tín dụng từ chính sách hỗ trợ, hiểu biết về chính sách, đánh giá về thủ tục liên quan đến việc tiếp cận đến nguồn tín dụng từ chính sách và tác động chính sách tín dụng đối với hộ nghèo và các khuyến nghị nếu có
Trong những trường hợp hộ dân từ chối tham gia vào các cuộc phỏng vấn, hộ
đó sẽ được thay thế bằng hộ gia đình khác
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu
Đối với mục tiêu 1: Đánh giá ảnh hưởng của chương trình tín dụng NHCSXH đến thu nhập của hộ nghèo tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Sử dụng thống kê mô
tả để phân tích các đặc điểm kinh tế - xã hội của đối tượng phỏng vấn Sử dụng mô hình kết hợp giữa phương pháp khác biệt kép và phương pháp hồi qui đa biến OLS
để phân tích tác động của tín dụng từ NHCSXH đến thu nhập của đối tượng được phỏng vấn, sử dụng vòng lặp (robustness) để kiểm tra tính vững của mô hình Thực hiện kiểm định t – test giá trị trung bình các chỉ tiêu thu nhập giữa nhóm hộ hưởng lợi và nhóm hộ so sánh tại thời điểm 2012 và 2015
Đối với mục tiêu 2: Tìm hiểu nguyên nhân của kết quả ảnh hưởng từ chương trình tín dụng NHCSXH đến thu nhập của hộ nghèo tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà
Trang 35Mau Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp kết quả từ việc phân tích số liệu ở mục tiêu 1 kết hợp với các số liệu thống kê từ NHCSXH huyện Phú Tân để đưa ra nhận định, đánh giá
Đối với mục tiêu 3: Gợi ý chính sách cho chương trình tín dụng ưu đãi của NHCSXH Sử dụng phương pháp diễn dịch, tổng hợp các kết quả thu được từ mục tiêu 1 để khuyến nghị chính sách
Đề tài sử dụng phần mềm Stata phiên bản 12.0 để hỗ trợ xử lý dữ liệu
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài Kết quả đã xác định
mô hình nghiên cứu định lượng có 11 biến độc lập tác động đến thu nhập của hộ nghèo, từ đó hình thành nên bảng câu hỏi khảo sát cho nghiên cứu định lượng Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật đánh giá tác động bằng phương pháp phân biệt kép (DID) kết hợp với hồi quy đa biến OLS, theo đó kích thước mẫu là 100 và kỹ thuật chọn mẫu phân tầng được chọn sử dụng Các kỹ thuật phân tích hồi quy đa biến và kiểm định kiểm định t – test về giả định điều kiện của phương pháp khác biệt kép ở giữa nhóm hộ hưởng lợi và nhóm hộ so sánh tại thời điểm 2012 được thực hiện để đảm bảo tính phù hợp của mô hình nghiên cứu
Trang 36Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Phú Tân là một huyện nằm ở phía Tây Nam tỉnh Cà Mau, phía Đông giáp huyện Cái Nước, phía Tây giáp biển Đông, phía Nam giáp huyện Năm Căn, phía Bắc giáp huyện Trần Văn Thời Diện tích tự nhiên là 46.187,5 ha
Huyện Phú Tân được thành lập theo Nghị định của Chính phủ số 138/2003/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2003, do tách ra từ huyện Cái Nước Huyện có 9 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 1 thị trấn huyện lị Cái Đôi Vàm và 8 xã: Nguyễn Việt Khái, Phú Mỹ, Phú Tân, Phú Thuận, Rạch Chèo, Tân Hải, Tân Hưng Tây, Việt Thắng
4.1.1.2 Khí hậu, thời tiết
Khí hậu của huyện Phú Tân thuộc vùng nhiệt đới cận xích đạo gió mùa, với hai mùa khô và mùa mưa tương phản Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10; mùa khô bắt đầu tư tháng 11 đến hết tháng 4 năm sau Mùa mưa ở Phú Tân thường đến sớm hơn và chấm dứt sớm hơn các huyện phía Bắc của tỉnh Cà Mau Tổng lượng mưa trung bình nhiều năm khoảng 1.900 mm, tập trung vào các tháng 6,7,8,9 và 10, chiếm khoảng 90% lượng nước mưa (khoảng 1.500 - 1.600 mm) Lượng mưa phân bố không đều trong năm: mùa mưa chiếm 85 - 90% lượng mưa cả năm Nhiệt độ không khí trung bình xấp xỉ 27oC, chế độ nắng khá dồi dào, trung bình 2.700 giờ/năm, từ 7- 8 giờ/ngày Số giờ nắng trung bình nhiều nhất vào các tháng đầu mùa khô (tháng 1, 2, 3), ít nắng nhất vào các tháng giữa mùa mưa (tháng 7, 8, 9)
Hướng gió cũng thay đổi theo mùa: gió mùa mưa và mùa khô Vào mùa khô, gió chủ yếu thịnh hành theo hướng Đông Bắc Phú Tân ít có bão, tuy nhiên đôi khi ảnh hưởng bão và áp thấp nhiệt đới, có mưa lớn xảy ra
Trang 37Nhiệt độ không khí ổn định là một ưu thế của khí hậu, thuận lợi để tăng năng suất sinh học và cây trồng nông nghiệp Tuy nhiên, chế độ khí hậu tương phản theo mùa đã gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống con người, đặc biệt là thiếu nguồn nước ngọt trong mùa khô
4.1.1.3 Kinh tế - xã hội
Năm 2015 toàn huyện có 24.473 hộ với 105.548 khẩu Kinh tế tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh, đúng hướng Từ cơ cấu ngư - nông - lâm nghiệp chiếm 59,51%, công nghiệp - xây dựng 22,88%, dịch vụ 17,61% vào năm
2004, đến năm 2015 cơ cấu ngư - nông - lâm nghiệp chỉ còn 36,05%, công nghiệp - xây dựng tăng lên 34,60% và dịch vụ tăng lên 29,35% Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 30,5 triệu đồng/năm, cao gấp 3,79 lần so với năm 2004 (UBND huyện Phú Tân)
Công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội thực hiện có hiệu quả Tỷ lệ hộ nghèo từ 25,01% năm 2004 giảm còn 5,32% năm 2015
4.1.1.4 Xây dựng hạ tầng giao thông, thủy lợi
Phú Tân có xuất phát điểm rất hạn chế về kết cấu hạ tầng lúc mới được tái lập, huyện đã nổ lực đầu tư và cho đến nay đã có chuyển biến tích cực, nhất là về giao thông, thủy lợi, điện,… Hệ thống giao thông phát triển nhanh, từ chỗ phần lớn phải lưu thông chủ yếu bằng đường thủy, đến nay đã có đường đến trung tâm huyện, trung tâm các xã Huyện đã bố trí vốn ngân sách và huy động nhân dân đóng góp đầu tư xây dựng trên 499 km đường giao thông nông thôn và 426 cây cầu nông thôn nối liền từ xã đến ấp, liên ấp, tổng nguồn vốn đầu tư trên 262,3 tỷ đồng (trong đó nhân dân đóng góp khoảng 40%)
Nhằm bảo vệ các công trình giao thông, bảo vệ đất ven sông, đất ở trước sự xâm thực của thủy triều, tác động của các phương tiện giao thông thủy, huyện Phú Tân đã tập trung bảo vệ, duy tu, sửa chữa, kè chống sạt lở các công trình đường bộ trên địa bàn huyện Các xã, thị trấn đã đầu tư và vận động nhân dân duy tu, sửa chữa được 32 tuyến đường giao thông với chiều dài là 19.980m; kè chống sạt lở
Trang 38được 61 tuyến với chiều dài 125.756m, trong đó: kè bằng bê tông được 14.697m, kè bằng cây gỗ địa phương 55.850m và trồng cây chống sạt lở được 55.209m; duy tu, sửa chữa được 30/32 cây cầu chủ yếu là hư nhịp giữa
4.1.1.5 Y tế, giáo dục
Hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được coi trọng và phát huy hiệu quả Cơ sở vật chất trường học được tăng cường, tạo ra sự thay đổi rõ nét về cơ sở trường học; đến nay đã xây dựng thay thế toàn bộ các điểm trường bằng cây lá tạm và thực hiện chủ trương kiên cố hóa trường học, lớp học, đã xây dựng 420 phòng học kiên cố và 112 phòng học thuộc dự án hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, tổng nguồn vốn đầu tư trên 111,7 tỷ đồng Đến hết năm 2015 có 20/50 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm 40% (UBND huyện Phú Tân, 2015)
Mạng lưới y tế được củng cố, tăng cường, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên Được đầu tư xây dựng Bệnh viện Đa khoa huyện với quy mô 100 giường bệnh; các xã, thị trấn có trạm y tế và các trạm y tế đều có bác sỹ phụ trách, có 4/9 trạm đạt chuẩn quốc gia; toàn huyện có 134 y sỹ, bác sỹ, dược sỹ, 68 cơ sở hành nghề y dược tư nhân; bình quân 2.563 người dân có 1 bác sỹ và 868 người dân có 1 giường bệnh
4.1.2 Kết quả triển khai cho vay hộ nghèo của NHCSXH tại huyện Phú Tân
NHCSXH huyện Phú Tân thực hiện mục tiêu cho vay đối với hộ nghèo Hiện nay, Ngân hàng Chính sách xã hội có 1 Phòng giao dịch đặt tại thị trấn Cái Đôi Vàm và 9 tổ cho vay lưu động đặt tại 9 xã, thị trấn trực thuộc huyện Phú Tân
Năm 2015, tổng dư nợ cho vay các chương trình tín dụng chính sách của NHCSXH tại huyện Phú Tân đạt 390,9 tỷ đồng, tăng 37,5 tỷ đồng (tăng 10,6%) so với 2014, với trên 17.680 khách hàng còn dư nợ; về chất lượng tín dụng, đến 31/12/2015, nợ quá hạn và nợ khoanh của NHCSXH chiếm 1,02% tổng dư nợ, trong đó, nợ quá hạn chiếm 0,39% (NHCSXH huyện Phú Tân, 2016)
Doanh số cho vay hộ nghèo năm 2015 đạt 97,2 tỷ đồng, tăng 10,9% so với năm 2014, tạo điều kiện cho trên 5.600 lượt hộ nghèo được vay vốn, giúp cho trên