NGUYỄN TRẦN NGỌC THIỆN TÁC ĐỘNG CỦA NIỀM TIN VÀ CÔNG BẰNG ĐẾN HÀNH VI CÔNG DÂN TỔ CHỨC CỦA NHÂN VIÊN – NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số:
Trang 1NGUYỄN TRẦN NGỌC THIỆN
TÁC ĐỘNG CỦA NIỀM TIN
VÀ CÔNG BẰNG ĐẾN HÀNH VI CÔNG DÂN
TỔ CHỨC CỦA NHÂN VIÊN – NGHIÊN CỨU
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2NGUYỄN TRẦN NGỌC THIỆN
TÁC ĐỘNG CỦA NIỀM TIN
VÀ CÔNG BẰNG ĐẾN HÀNH VI CÔNG DÂN
TỔ CHỨC CỦA NHÂN VIÊN – NGHIÊN CỨU
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60340102
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Trần Kim Dung
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 3MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
MỤC LỤC
DANH MỤC PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
TÓM TẮT
TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1
1.1 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.6 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU 3
1.7 KẾT CẤU CỦA NGHIÊN CỨU 4
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
2.1 CÁC KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU 6
2.1.1 Niềm tin (Trust) 6
2.1.1.1 Định nghĩa về niềm tin 6
2.1.1.2 Các thành phần của niềm tin 10
2.1.2 Công bằng (Justice) 11
2.1.2.1 Định nghĩa về công bằng 11
2.1.2.2 Các thành phần của công bằng 12
2.1.3 Hành vi công dân tổ chức (Organizational Citizenship Behavior) 14
2.1.3.1 Định nghĩa về hành vi công dân tổ chức 14
Trang 42.1.3.2 Các thành phần của hành vi công dân tổ chức 15
2.2 Mối quan hệ giữa các khái niệm nghiên cứu 16
2.2.1 Giới thiệu nghiên cứu của Aryee & cộng sự (2002) 16
2.2.2 Mô hình nghiên cứu của Aryee và cộng sự (2002) 16
2.3 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 17
2.3.1 Các giả thuyết nghiên cứu 17
2.3.1.1 Mối quan hệ giữa niềm tin và hành vi công dân tổ chức 17
2.3.1.2 Mối quan hệ giữa công bằng và niềm tin 18
2.3.2 Mô hình nghiên cứu 21
2.3.2.1 Các biến số 21
2.3.2.2 Mô hình nghiên cứu 22
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 24
3.2 XÂY DỰNG THANG ĐO 27
3.2.1 Thang đo Niềm tin 27
3.2.2 Thang đo Công bằng 29
3.2.3 Thang đo Hành vi công dân tổ chức 31
3.3 ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ THANG ĐO 32
3.3.1 Niềm tin 33
3.3.2 Công bằng 33
3.3.3 Hành vi công dân tổ chức 34
3.4 MẪU NGHIÊN CỨU 35
3.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 36
3.5.1 Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 36
3.5.2 Phân tích nhân tố EFA 37
3.5.3 Phân tích nhân tố khẳng định CFA 38
KẾT QUẢ & THẢO LUẬN 41
4.1 ĐÁNH GIÁ THANG ĐO 41
4.1.1 Kết quả Cronbach’s Alpha 41
Trang 54.1.2 Kết quả phân tích EFA 44
4.2 KIỂM ĐỊNH THANG ĐO BẰNG CFA 46
4.2.1 Thang đo Niềm tin 46
4.2.2 Thang đo Công bằng 48
4.2.3 Thang đo Hành vi công dân tổ chức 51
4.2.4 Kiểm định giá trị phân biệt giữa các khái niệm nghiên cứu 52
4.3 KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 55
4.3.1 Kiểm định mô hình nghiên cứu 55
4.3.2 Ước lượng mô hình lý thuyết bằng bootstrap 58
4.3.3 Tóm tắt kiểm định giả thuyết 59
4.4 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 59
KẾT LUẬN 62
5.1 HÀM Ý QUẢN TRỊ 62
5.1.1 Tạo ra nhận thức về công bằng trong tổ chức 63
5.1.2 Xây dựng niềm tin trong tổ chức 65
5.2 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 – Kết quả nghiên cứu của Aryee và cộng sự
Phụ lục 2 – Bảng câu hỏi nguyên gốc
Phụ lục 3 – Dàn bài thảo luận
Phụ lục 4 – Kết quả nghiên cứu định tính sơ bộ
Phụ lục 5 – Bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ
Phụ lục 6 – Bảng câu hỏi khảo sát chính thức
Phụ lục 7 – Số mã
Phụ lục 8 – Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 – Định nghĩa niềm tin trong tổ chức
Bảng 2.2 – Biến số và kỳ vọng dấu
Bảng 3.1 – Thang đo Niềm tin vào lãnh đạo
Bảng 3.2 – Thang đo Niềm tin vào tổ chức
Bảng 3.3 – Thang đo Công bằng
Bảng 3.4 – Thang đo Hành vi công dân tổ chức
Bảng 4.1 – Kết quả Cronbach’s Alpha
Bảng 4.2 – Kết quả phân tích EFA
Bảng 4.3 – Hệ số tương quan giữa các thành phần của công bằng
Bảng 4.4 – Kết quả kiểm định giá trị phân biệt giữa các biến
Bảng 4.5 – Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm trong mô hình nghiên cứu (chuẩn hóa)
Bảng 4.6 – Kết quả ước lượng bằng bootstrap với N = 500
Bảng 4.7 – Tóm tắt kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 – Mô hình nghiên cứu của Aryee và cộng sự (2002)
Hình 2.2 – Mô hình nghiên cứu
Hình 3.1 – Quy trình nghiên cứu
Hình 4.1 – Mô hình CFA thang đo Niềm tin (chuẩn hóa)
Hình 4.2 – Mô hình CFA thang đo Công bằng (chuẩn hóa)
Hình 4.3 – Mô hình CFA của thang đo Hành vi công dân tổ chức (chuẩn hóa) Hình 4.3 – Mô hình CFA của thang đo Hành vi công dân tổ chức (chuẩn hóa) Hình 4.4 – Mô hình đo lường tới hạn (chuẩn hóa)
Hình 4.5 – Kết quả phân tích SEM lần I (chuẩn hóa)
Hình 4.6 – Kết quả SEM của mô hình lý thuyết (chuẩn hóa)
Trang 9TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích đo lường tác động của niềm tin và công bằng đến hành vi công dân tổ chức của nhân viên đang làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh
Trên cơ sở của lý thuyết về hành vi công dân tổ chức, niềm tin, công bằng
và nghiên cứu của Aryee và cộng sự (2002), tác giả xây dựng mô hình lý thuyết để
đo lường mức độ tác động của niềm tin, công bằng đến hành vi công dân tổ chức Nghiên cứu được thực hiện gồm hai giai đoạn – nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Nghiên cứu định tính sơ bộ được thực hiện thông qua thảo luận nhóm gồm 5 chuyên gia trong lĩnh vực nhân sự đang làm việc trong các tổ chức khác nhau
ở TP HCM Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm điều chỉnh, bổ sung cho các thang đo đo lường các khái niệm nghiên cứu Nghiên cứu định lượng sơ bộ đã tiến hành khảo sát 54 nhân viên văn phòng để đánh giá sơ bộ thang đo Nghiên cứu định lượng chính thức với mẫu 245 nhân viên văn phòng được thực hiện để kiểm định các mô hình thang đo và mô hình lý thuyết
Kết quả nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của nhận thức công bằng (đặc biệt là công bằng tương tác và công bằng thông tin) của nhân viên trong tổ chức, giúp gia tăng niềm tin vào lãnh đạo cũng như niềm tin vào tổ chức, từ đó góp phần thể hiện hành vi công dân tổ chức
Dựa trên kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả đề xuất nên nâng cao nhận thức công bằng tương tác và công bằng thông tin của nhân viên, vì hai thành phần công bằng có tác động đến niềm tin – niềm tin vào lãnh đạo và niềm tin vào tổ chức
và hành vi công dân tổ chức – hành vi công dân hướng vào cá nhân và hành vi công dân hướng vào tổ chức và vào cá nhân nhiều hơn
Từ khóa: Niềm tin, Công bằng, Hành vi công dân tổ chức
Trang 10TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
1.1 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI
Sự tồn tại và phát triển của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào việc khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực Ngoài nguồn nhân lực có năng lực chuyên môn thì bất kỳ tổ chức nào cũng cần những nhân sự có thể sẵn sàng làm những việc ngoài trách nhiệm công việc của họ mà không đòi hỏi thêm một phần thưởng hay quyền lợi nào Những việc ngoài trách nhiệm của một nhân viên chẳng hạn như giữ gìn, bảo quản tài sản của tổ chức, hỗ trợ nhân viên mới hay giúp đỡ đồng nghiệp gặp khó khăn trong công việc Những hành vi không được yêu cầu hay không bắt buộc phải thực hiện này được Organ (1997) gọi là hành
vi công dân tổ chức hay OCB – Organizational Citizenship Behavior Hành vi công dân tổ chức không những giúp nâng cao hiệu quả mà còn góp phần tạo nên sự thành công của tổ chức Nhận thức được tầm quan trọng của OCB nên có rất nhiều tác giả trên thế giới thực hiện nghiên cứu những yếu tố tác động đến OCB (Robinson và Morrison, 1995) cũng như tác động của nó vào những khía cạnh khác nhau của tổ chức Mặc dù vậy, số lượng công trình nghiên cứu ở nước ta về OCB hay những yếu tố ảnh hưởng đến nó vẫn còn khá ít, chưa được quan tâm
Nói đến yếu tố con người trong tổ chức, hành vi của một cá nhân phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của họ về môi trường (Nguyễn Hữu Lam, 2007) Hay nói cách khác, nhận thức của nhân viên sẽ dẫn dắt hành vi của họ trong tổ chức Cùng với sự phát triển của khoa học – kỹ thuật không những trình độ của người lao động ngày càng được nâng cao mà khả năng nhận thức của họ cũng tốt hơn Điều này làm thay đổi những nhu cầu, mức độ thoả mãn hay sự hài lòng với công việc của một nhân viên Ngày nay, việc kích thích nhân viên thực hiện hành vi công dân tổ chức không chỉ là vấn đề lương, thưởng mà quan trọng hơn là làm cho nhân viên nhận thức được công bằng trong tổ chức Bởi vì, nhận thức công bằng có mối quan hệ
Trang 11mật thiết với hành vi công dân tổ chức của nhân viên (Cohen-Charash và Spector, 2001; Roohi và cộng sự, 2012) Thông qua nhận thức về công bằng, nhân viên sẽ có niềm tin vào lãnh đạo và vào tổ chức của mình hơn Niềm tin giúp cho nhân viên làm việc hiệu quả hơn và càng quan trọng hơn khi đó là một trong những yếu tố quyết định tạo nên hành vi công dân tổ chức (Dirks và Ferrin, 2001; Aryee và cộng
sự, 2002) Theo nhiều nhà nghiên cứu, nhận thức công bằng và niềm tin của nhân viên thực sự có tác động đến thái độ làm việc và mức độ cống hiến của họ vào tổ chức Nhưng cũng không nhiều công trình nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của công bằng và niềm tin đến hành vi của công dân tổ chức của nhân viên
Vì những lý do đã được trình bày, tác giả đề xuất nghiên cứu đề tài: “Tác
động của niềm tin và công bằng đến hành vi công dân tổ chức của nhân viên – nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đo lường tác động của công bằng, thông qua biến trung gian là niềm tin, vào hành vi công dân tổ chức của nhân viên
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Công bằng có tác động vào hành vi công dân tổ chức của nhân viên không?
Công bằng có tác động vào niềm tin không?
Niềm tin có tác động vào hành vi công dân tổ chức của nhân viên không?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: công bằng, niềm tin, hành vi công dân tổ chức và
mối quan hệ giữa công bằng, niềm tin và hành vi công dân tổ chức
Đối tượng khảo sát: nhân viên văn phòng đang làm việc tại các tổ chức trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Trang 12Phạm vi nghiên cứu: tại thành phố Hồ Chí Minh
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai giai đoạn: (1) Nghiên cứu sơ bộ và (2) Nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung Thông tin thu thập từ nghiên cứu định tính nhằm khám phá, điều chỉnh và bổ sung các thang đo thành phần của các khái niệm nghiên cứu trong luận văn Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện bằng việc gửi bảng câu hỏi khảo sát trực tiếp và qua Internet cho những nhân viên đang làm việc tại các tổ chức trên địa bàn TP HCM Thông tin thu thập từ nghiên cứu định lượng sơ bộ dùng để sàng lọc các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm thành phần của các khái niệm nghiên cứu trong luận văn
Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng và thu thập dữ liệu bằng gửi bản hỏi trực tiếp và qua mạng Internet Mục đích của nghiên cứu định lượng chính thức là nhằm khẳng định lại các thành phần cũng như giá trị, độ tin cậy của thang đo và kiểm định mô hình lý thuyết Phần mềm được
sử dụng trong nghiên cứu là SPSS 20.0
1.6 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện để kiểm định và so sánh kết quả thang đo các khái niệm nghiên cứu ở thị trường TP HCM Kết quả của nghiên cứu cho thấy cái nhìn tổng quan về mối quan hệ giữa công bằng, niềm tin và hành vi công dân tổ chức của nhân viên Nghiên cứu cũng đem lại một số ý nghĩa thực tiễn cho tổ chức
Cụ thể như sau:
Trang 13Một là, nghiên cứu giúp tổ chức hiểu được việc tạo cho nhân viên nhận thức được sự công bằng trong tổ chức là rất quan trọng Một khi người lao động cảm nhận là họ được đối xử công bằng thì họ sẽ thể hiện hành vi công dân tổ chức và đóng góp cho tổ chức nhiều hơn Từ đó, các tổ chức có thể nâng cao hiệu quả làm việc bằng cách tác động đến nhận thức công bằng của nhân viên
Hai là, nghiên cứu giúp khẳng định tầm quan trọng của niềm tin trong các mối quan hệ xã hội tại nơi làm việc Nếu nhân viên có niềm tin vào lãnh đạo và tổ chức thì họ hoàn thành công việc tốt hơn, từ đó tạo sự thành công cho tổ chức Nghiên cứu cho thấy các nhà lãnh đạo có thể tạo động lực để các nhân viên thể hiện hành vi công dân tổ chức bằng cách xây dựng niềm tin cho nhân viên của họ
Cuối cùng là, nghiên cứu chỉ ra rằng các tổ chức có thể gia tăng niềm tin của nhân viên bằng cách tạo ra nhận thức của họ về công bằng Với việc nhận thức công bằng và niềm tin trong tổ chức, nhân viên sẽ thể hiện hành vi công dân tổ chức nhiều hơn Như vậy, không những giúp nâng cao năng suất trong công việc của nhân viên, hiệu quả của tổ chức mà còn thúc đẩy sự phát triển của tổ chức
1.7 KẾT CẤU CỦA NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được chia làm 5 chương với thứ tự và nội dung cụ thể của từng chương được trình bày như sau:
Chương 1 – Tổng quan để tài nghiên cứu Trong chương này sẽ trình bày cơ
sở hình thành đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Chương 2 – Cơ sở lý thuyết giới thiệu các lý thuyết làm nền tảng cho nghiên
cứu, nêu lên các khái niệm dùng trong nghiên cứu và tổng kết nghiên cứu thực tiễn
về mối quan hệ giữa công bằng, niềm tin và hành vi công dân tổ chức của nhân viên Trên cơ sở đó, trình bày các giả thuyết cần kiểm định của nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu
Trang 14Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu trình bày quy trình nghiên cứu, xây
dựng và đánh giá sơ bộ thang đo đo lường các khái niệm nghiên cứu, chọn mẫu nghiên cứu và phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu
Chương 4 – Kết quả và thảo luận phân tích, trình bày các kết quả kiểm định
độ tin cậy thang đo và giá trị của đo lường cũng như kiểm định mô hình nghiên cứu thông qua phầm mềm phân tích SPSS 20.0 Từ đó, đưa ra các thảo luận cần thiết cho việc kiểm định các giả thuyết của nghiên cứu
Chương 5 – Kết luận đưa ra những tổng kết về mối quan hệ giữa công bằng,
niềm tin và hành vi công dân tổ chức của nhân viên Đồng thời, nêu lên những hàm
ý cho nhà quản trị Mặt khác, chương này cũng trình bày những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 15CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2 sẽ đề cập đến cơ sở khoa học của nghiên cứu, làm rõ các khái niệm, tổng quan về những nghiên cứu liên quan đến đề tài, cũng như các giả thuyết & mô hình nghiên cứu Chương này bao gồm 3 phần chính: (1) Các khái niệm trong nghiên cứu, bao gồm:
Niềm tin (Trust), Công bằng (Justice) và Hành vi công dân tổ chức (Organizational
Citizenship Behavior) của nhân viên; (2) Mối quan hệ giữa các khái niệm nghiên
cứu; (3) Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu của đề tài cũng được trình bày cụ thể trong chương này
2.1 CÁC KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU
2.1.1 Niềm tin (Trust)
2.1.1.1 Định nghĩa về niềm tin
Niềm tin tác động đến tất cả mọi mặt của đời sống xã hội và là một khái niệm rất được quan tâm trong những nghiên cứu quản trị Vì niềm tin giúp tăng cường sự hợp tác giữa các nhân viên trong một tổ chức, giảm những bất đồng tại nơi làm việc (Gill, 2008) và tạo điều kiện cho việc hợp tác mang lại hiệu quả cao (Mayer và cộng sự, 1995) Có thể thấy, tin tưởng mang lại lợi ích cho những cá nhân, những nhóm, tổ chức và những thể chế xã hội (Rousseau và cộng sự, 1998) Không có niềm tin thì không thể tồn tại bất kỳ sự hợp tác nào và càng không thể thiết lập nên những mối quan hệ xã hội trong tổ chức Vì vậy, mà theo Barney và Hansen (1994), niềm tin có thể trở thành một lợi thế cạnh tranh rất lớn cho tổ chức
và được xem như một yếu tố ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến sự thành công của một tổ chức
Trang 16Niềm tin là một khái niệm rất trừu tượng (Puusa và Tolvanen, 2006), được định nghĩa là sự tin tưởng của một cá nhân và sẵn lòng hành động dựa trên những lời hứa, hành vi và những quyết định của người khác (McAllister, 1997) Schoorman và cộng sự (2007)thì khẳng định, niềm tin là sự sẵn sàng chấp nhận rủi
ro khi tin tưởng vào người khác và đây có thể là một trong những đặc điểm chung của niềm tin trong những mối quan hệ (Johnson-George và Swap, 1982 trong Mayer và cộng sự, 1995) Trong nhiều trường hợp, không thể có sự chắc chắn về một điều gì đó (Rousseau và cộng sự,s 1998), vì vậy chúng ta kỳ vọng hay đặt niềm tin vào hành động của người khác trong tương lai (Paliszkiewicz, 2011) Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, niềm tin được hình thành dựa trên những kinh nghiệm trong quá khứ và sự dự đoán tương lai Điều đó có nghĩa là, nếu một người, một nhóm người hay một điều gì đó đã gây dựng được niềm tin hay làm mất niềm tin với một
cá nhân, nhóm hay tổ chức, thì đó sẽ trở thành kinh nghiệm để cá nhân, nhóm hay
tổ chức quyết định, trong tương lai có thể tin tưởng vào người hay việc đó nữa được hay không
Bảng 2.1 trình bày tổng hợp một vài quan điểm của các tác giả định nghĩa niềm tin trong tổ chức dựa trên những lý thuyết tiếp cận khác nhau
Bảng 2.1 – Định nghĩa niềm tin trong tổ chức
Ganesan
(1994)
Lý thuyết Trao đổi xã hội, Nghiên cứu Marketing, Hành vi trao đổi giữa các
Mức độ tín nhiệm dựa trên tính đáng tin cậy và trung thực của một
cá nhân
Trang 17Tác giả Lý thuyết tiếp cận Định nghĩa
Chow và
Holden
(1997)
Lý thuyết Tâm lý học, Nghiên cứu Marketing
Sự kỳ vọng hoặc mức độ tin tưởng vào sự trung thực/ sự đáng tin cậy của người hay việc nào đó
Niềm tin là cơ sở quan trọng của sự hợp tác, cùng với sự cưỡng chế và tính tư lợi
Smith và
Barclay
(1997)
Lý thuyết Tổ chức, Trao đổi xã hội
Niềm tin là một nhân tố quan trọng
để phân biệt mối quan hệ giữa những đối tác kinh doanh là hiệu quả hay không hiệu quả
Sako và
Helper (1998)
Lý thuyết Kinh tế,
Xã hội học, Tâm lý học
Một đại lý kỳ vọng rằng, những đối tác kinh doanh của nó sẽ hành xử theo cách đôi bên cùng có lợi
Sự kỳ vọng vào việc thực hiện những điều mà một người đã cam kết, theo cách có thể dự đoán được
và trung thực ngay cả khi có cơ hội
Sự tin tưởng của người mua vào nhân viên bán hàng, sản phẩm và công ty nào đó sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với họ
Trang 18Tác giả Lý thuyết tiếp cận Định nghĩa
Niềm tin dựa trên ba thành phần:
sự đáng tin cậy, hành động của đối tác có thể dự đoán được và sự trung thực (không lợi dụng cơ hội
để thực hiện hành vi bất lợi với người ủy thác)
Dyer,
Chu
(2000)
Lý thuyết Sự hợp tác giữa các tổ chức, Nhận thức tương tác xã hội
Niềm tin là sự tin tưởng mà bên ủy thác đặt vào một bên khác, với kỳ vọng bên được ủy thác sẽ không làm những việc tổn hại đến lợi ích của họ trong quan hệ hợp tác giữa hai bên
Niềm tin đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa sự phụ thuộc lẫn nhau và việc mua hàng trong tương lai
Nguồn: Nghiên cứu của Seppänen và cộng sự (2004)
Theo Paliszkiewicz (2011) niềm tin bao gồm những đặc trưng như:
Hình thành thông qua giao tiếp giữa các cá nhân với nhau
Sự tự nguyện tin tưởng mà không thể bắt buộc được
Sự cam kết thực hiện mà không có sự giám sát của người ủy thác Người ủy thác cũng như người được ủy thác nhận thức được sự tin tưởng của đối phương
Trang 19Sự liên quan – mức độ phụ thuộc lẫn nhau cao
Một chu trình linh hoạt –hình thành, phát triển, suy giảm và cuối cùng
là không còn niềm tin
Định hướng cho hành động của một cá nhân, nhóm hay tổ chức Không phải một quá trình tuyến tính
Chính những đặc trưng này đã làm cho yếu tố niềm tin đặc biệt quan trọng trong môi trường kinh doanh Nhìn chung, những định nghĩa trên tuy diễn tả về niềm tin dưới các góc độ khác nhau nhưng tất cả đều phản ánh đúng những đặc trưng khái quát về niềm tin Trong phạm vi nghiên cứu này, khái niệm niềm tin được hiểu như là một sự tin tưởng hoàn toàn tự nguyện, kỳ vọng tích cực vào hành
vi của người được ủy thác – thực hiện một hành động cụ thể đối với người ủy thác
mà không phụ thuộc vào sự giám sát của những người ủy thác Vì niềm tin phụ thuộc vào hành vi của người khác nên người ủy thác sẽ dễ bị tổn thương đến lợi ích
cá nhân của mình
2.1.1.2 Các thành phần của niềm tin
Dù có khá nhiều định nghĩa về niềm tin cũng như những loại niềm tin khác nhau (McAllister, 1997) nhưng trong phạm vi giới hạn, nghiên cứu này đặc biệt quan tâm đến yếu tố niềm tin ở hai cấp độ: cá nhân và tổ chức (Puusa và Tolvanen, 2006) Ở cấp độ cá nhân, niềm tin dựa trên sự tương tác giữa các cá nhân trong tổ chức (Atkinson và Butcher, 2003), liên quanđến sự hài lòng và tin tưởng vào người lãnh đạo của một nhân viên (Schoorman và cộng sự, 2007) Ở cấp độ tổ chức, niềm tin liên quan đến nhận thức công bằng trong tổ chức của một nhân viên (Robinson
và Rousseau, 1994) Từ đó, tác giả đề xuất nghiên cứu niềm tin với 2 thành phần,
đó là: niềm tin vào lãnh đạo (Trust In The Manager – ký hiệu: TIM) và niềm tin vào
tổ chức (Trust In The Organization – ký hiệu: TIO)
Niềm tin vào lãnh đạo (Trust In The Manager – ký hiệu: TIM) đề cập đến
niềm tin của người lao động đối với lãnh đạo thông qua những ứng xử, hành vi
Trang 20trong giao tiếp của người lãnh đạo Những hành vi của lãnh đạo bao gồm việc chia
sẻ thông tin, kiến thức với nhân viên cấp dưới; hỗ trợ, động viên nhân viên trong công việc và những quyết định của lãnh đạo gắn với lợi ích của nhân viên (Schoorman và cộng sự, 2007)
Niềm tin vào tổ chức (Trust In The Organization – ký hiệu: TIO) liên quan
đến những kỳ vọng hoặc niềm tin của nhân viên với những hành động trong tương lai của tổ chức, những hành động tương lai này sẽ mang lại lợi ích hoặc ít nhất cũng không ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của nhân viên (Robinson, 1994) Niềm tin là một trạng thái tâm lý có định hướng cao, vì vậy niềm tin vào tổ chức sẽ ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ và hành vi của nhân viên (Paliszkiewicz, 2012)
không cảm nhận được sự công bằng tại nơi họ làm việc
Khái niệm công bằng tổ chức được dựa trên thuyết về sự công bằng của Adam (1963, 1965) (Nguyễn Hữu Lam, 2007) Lý thuyết của Adam cho thấy rằng, những cá nhân tạo ra nhận thức công bằng về kết quả mà cá nhân đó nhận được (chính là công bằng phân bổ theo cách phân loại của đa phần các nhà nghiên cứu) bằng cách so sánh tỷ lệ giữa đầu vào và đầu ra (đóng góp của một cá nhân so với kết quả mà cá nhân đó nhận được) với những cá nhân khác Theo thuyết này, tạo được sự công bằng sẽ giúp thắt chặt mối quan hệ với nhân viên, động viên và gia tăng mức độ hài lòng của họ với công việc cũng như với tổ chức Từ đó, nhân viên
Trang 21trong tổ chức sẽ làm việc hiệu quả hơn, nhiệt tình hơn trong việc mở rộng vai trò của mình và gắn bó hơn với tổ chức
Những nguyên tắc chung của công bằng trong tổ chức (Hoy và Tarter, 2004)
có thể được tóm tắt như sau:
Nguyên tắc bình đẳng (Equality) hàm ý rằng, những đóng góp của cá nhân
cho tổ chức sẽ tỷ lệ thuận với thu nhập của họ
Nguyên tắc nhận thức (Perception) tác động của những nhận thức chung
về công bằng đến từng cá nhân
Nguyên tắc đa hưởng (Polyphony) giả định rằng khi cá nhân tham gia vào
việc ra quyết định sẽ kéo theo sự gia tăng những quyết định công bằng
Nguyên tắc công bằng giữa các cá nhân (Interpersonal Justice) hàm ý
những hành vi chín chắn, tôn trọng và tử tế với người khác sẽ được biểu lộ
để đảm bảo công bằng giữa các cá nhân
Nguyên tắc nhất quán (Consistency) dựa trên quan điểm cho rằng, sự nhất
quán trong hành vi của người lãnh đạo là điều kiện cần thiết để tạo ra nhận
thức công bằng giữa những nhân viên trong tổ chức với nhau
Nguyên tắc bình đẳng chính trị, xã hội (Political and Social equality) chia
sẻ nhiệm vụ của tổ chức trong việc ra quyết định và tiến hành một cách
độc lập những quyết định theo từng cá nhân
Nguyên tắc điều chỉnh (Correction) liên quan đến việc điều chỉnh những quyết định sai lầm hay cải thiện những quyết định có kết quả không tốt
Trang 22rộng với việc xác định thành phần công bằng chính sách (Miller và cộng sự, 2011) Tuy nhiên, công bằng phân bổ và công bằng chính sách vẫn chưa đủ để lý giải những bất công mà người lao động cảm nhận Do đó, khái niệm công bằng tiếp tục
bổ sung thêm một thành phần là công bằng tương tác, được Bies và Moag giới thiệu năm 1986 (Coquitt và cộng sự, 2001) và được xem như là một phần mở rộng của công bằng chính sách (Cohen – Charash và Spector, 2001) Tuy vậy, Greenberg (1993) lại đề xuất nên tách công bằng tương tác thành hai thành phần riêng biệt, công bằng tương tác và công bằng thông tin (Coquitt và cộng sự, 2001)
Mặc dù còn rất nhiều tranh luận về thành phần của công bằng tổ chức nên bao gồm hai, ba (Cohen – Charash và Spector, 2001; Aryee và cộng sự, 2002; DeConinck, 2010; Katou, 2013) hay bốn thành phần (Chiaburu và Marinova, 2005) Trong nghiên cứu này, tác giả theo quan điểm của Greenberg (1993) và quan điểm của Colquitt và cộng sự (2001), xác định công bằng bao gồm bốn yếu tố: công bằng
chính sách (Procedural Justice – ký hiệu: PRJ), công bằng phân bổ (Distributive
Justice – ký hiệu: DIJ), công bằng tương tác (Interpersonal Justice – ký hiệu: ITJ)
và công bằng thông tin (Information Justice – ký hiệu IFJ)
Công bằng chính sách (Procedural Justice – ký hiệu: PRJ) thì có liên quan
đến nhận thức công bằng về những chính sách, những thủ tục của người lao động, trực tiếp hướng vào tổ chức Nhân viên sẽ nhận thức được công bằng chính sách khi
họ có thể bày tỏ quan điểm, đóng góp ý kiến của mình với những chính sách, quy trình của tổ chức Mặt khác, việc tham gia vào quá trình ra quyết định đó có thể làm giảm sự không hài lòng của nhân viên về những chính sách của tổ chức (DeConinck, 2010) Những chính sách này thường bao gồm những chính sách về sự thăng tiến, đánh giá hiệu quả công việc, khen thưởng, chia sẻ cơ hội tổ chức, chính sách khen thưởng hay chính sách về đào tạo (Colquitt và cộng sự, 2001)
Công bằng phân bổ (Distributive Justice – ký hiệu: DIJ) có liên quan đến
nhận thức công bằng của nhân viên về kết quả mà họ nhận được (chẳng hạn như tiền lương, phần thưởng và sự thăng tiến trong công việc) (Adams, 1965 trong
Trang 23Nguyễn Hữu Lam, 2007) Nhân viên nhận thức có sự công bằng phân bổ khi kết quả quả mà họ được nhận tương xứng với những nỗ lực hay hiệu quả làm việc của
họ (Coquitt và cộng sự, 2007) Công bằng phân bổ chính là những cảm nhận về địa
vị, thâm niên, sản xuất, nỗ lực, nhu cầu và vấn đề lương thưởng của một cá nhân nào đó trong tổ chức (Organ, 1997)
Công bằng tương tác (Interpersonal Justice – ký hiệu: ITJ) được Coquitt và
cộng sự, 2011 xem như một khía cạnh của công bằng, liên quan đến sự tương tác giữa người lao động và lãnh đạo của mình Nhận thức công bằng tương tác của nhân viên chủ yếu hướng vào người lãnh đạo của họ, khi truyền đạt những chính sách, quy trình của tổ chức (Cohen – Charash và Spector, 2001) Thông những giao tiếp, những lời nói, hành vi hay ứng xử của lãnh đạo sẽ có tác động rất lớn đến nhận thức của nhân viên Công bằng tương tác sẽ được lao động cảm nhận khi lãnh đạo có thể thỏa mãn nhu cầu được tôn trọng và thể hiện của họ (Coquitt và cộng sự, 2011)
Công bằng thông tin (Information Justice – ký hiệu: IFJ) liên quan đến
những cơ sở làm nền tảng cho việc ra quyết định phải được giải thích một cách rõ ràng, trung thực và đầy đủ đến những người có liên quan (chẳng hạn như nhân viên trong tổ chức) (Coquitt và cộng sự, 2001; Aryee và cộng sự, 2002)
2.1.3 Hành vi công dân tổ chức (Organizational Citizenship Behavior)
2.1.3.1 Định nghĩa về hành vi công dân tổ chức
Hành vi công dân tổ chức chính là những hành vi tự nguyện của nhân viên vượt ngoài những vai trò của họ và góp phần nâng cao hiệu quả công việc của tổ chức (Organ, 1997), nhưng những hành vi tự nguyện này lại không được công nhận trong hệ thống lương thưởng chính thức của tổ chức (Banerjee & Banerjee, 2013)
Hành vi công dân tổ chức cũng có thể được hiểu là những hành vi không có trong thỏa thuận hợp đồng giữa người lao động và người sử dụng lao động (Robinson và Morrison, 1995)
Trang 242.1.3.2 Các thành phần của hành vi công dân tổ chức
Khái niệm hành vi công dân tổ chức là một khái niệm đa chiều, mỗi nhà nghiên cứu lại có cách phân loại khác nhau theo quan điểm chủ quan của mình Với Williams và Anderson (1991), hai tác giả đã dựa vào mục đích của hành vi công dân tổ chức, mà chia hành vi công dân tổ chức thành hai khía cạnh, đó là: hành vi
công dân hướng vào tổ chức (organization – directed citizenship behaviors, ký hiệu
– OBO) và hành vi công dân hướng vào cá nhân (individual – directed citizenship behaviors, ký hiệu – OBI) Theo Williams và Anderson (1991), việc phân biệt OBO
và OBI là rất quan trọng Chính vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả cũng xác định hành vi công dân tổ chức gồm hai khía cạnh, OBO và OBI theo quan điểm của Williams và Anderson(1991)
Hành vi công dân hướng vào cá nhân (Individual – directed citizenship
behaviors) đề cập đến những hành vi mang lại lợi ích trực tiếp cho một cá nhân cụ
thể nào đó trong tổ chức, nhưng bằng cách này, nó lại gián tiếp góp phần mang lại lợi ích cho tổ chức (Williams và Anderson, 1991) Podsakoff và cộng sự (2000) đã định nghĩa khía cạnh này như một hành vi giúp đỡ những thành viên khác trong tổ chức, giải quyết những khó khăn trong công việc với tinh thần hoàn toàn tự nguyện
Chẳng hạn như, việc nhiệt tình giúp đỡ, sẵn sàng trao đổi thông tin với đồng nghiệp
hay việc giúp những nhân viên mới để họ có thể hòa nhập nhanh hơn với công việc, với tổ chức Hay một nhân viên chủ động chia sẻ những ý tưởng, những phương
pháp giúp giải quyết vấn đề mà đồng nghiệp của họ đang gặp phải
Hành vi công dân hướng vào tổ chức (Organization – directed citizenship
behaviors) đề cập đến những hành vi có lợi cho tổ chức nói chung, chẳng hạn như
việc tuân thủ quy định của tổ chức ngay cả khi không có người giám sát, tham gia những hoạt động giúp nâng cao hình ảnh hay đưa ra những ý tưởng giúp phát triển
tổ chức (Williams và Anderson, 1991)
Trang 252.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU
2.2.1 Giới thiệu nghiên cứu của Aryee & cộng sự (2002)
Aryee & cộng sự (2002) đã thực hiện một nghiên cứu về “Niềm tin đóng vai
trò trung gian trong mối quan hệ giữa công bằng tổ chức và hiệu quả công việc”
Đối tượng khảo sát của nghiên cứu là những nhân viên làm việc trong các tổ chức thuộc khu vực Nhà nước ở thành phố Bilaspur, tỉnh Madhya Pradash, Ấn Độ
Nghiên cứu thu thập dữ liệu với 2 mẫu khảo sát A và B Mẫu khảo sát B được gửi đến người tham gia khảo sát và mẫu khảo sát A được gửi đến người quản
lý trực tiếp họ Những người tham gia khảo sát cung cấp tên của người quản lý trực tiếp, và việc này được kiểm tra chéo bởi thành viên trong tổ chức
2.2.2 Mô hình nghiên cứu của Aryee và cộng sự (2002)
Mô hình nghiên cứu của Aryee và cộng sự (2002) được trình bày ở hình 2.1
Trang 26Hình 2.1 – Mô hình nghiên cứu của Aryee và cộng sự (2002)
2.3 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.3.1 Các giả thuyết nghiên cứu
2.3.1.1 Mối quan hệ giữa niềm tin và hành vi công dân tổ chức
Dirks và Ferrin (2001) cho rằng niềm tin của nhân viên là một tiền đề quan trọng đối với hành vi công dân tổ chức, bởi vì nếu không có niềm tin thì những kỹ năng cũng như những kiến thức mà nhân viên có cũng sẽ bị hạn chế, không thể phát
Niềm tin vào tổ chức
Niềm tin vào lãnh đạo
Dự định nghỉ việc Thỏa mãn công việc
Gắn kết tổ chức
Hành vi công dân hướng vào cá nhân
Hành vi công dân hướng vào tổ chức
Kết quả công việc
Trang 27huy một cách tối đa được Khi nhân viên có niềm tin với lãnh đạo và vào tổ chức thì
họ sẽ nỗ lực và sẵn lòng thực hiện hành vi công dân tổ chức nhiều hơn (Wat và Shaffer, 2005; Wong và cộng sự, 2006) Từ đó, hai giả thuyết H1a và H1b được phát biểu như sau:
Giả thuyết H 1a : Niềm tin vào lãnh đạo có tác động cùng chiều đến hành vi
công dân hướng vào cá nhân
Giả thuyết H 1b : Niềm tin vào lãnh đạo có tác động cùng chiều đến hành vi
công dân hướng vào tổ chức
Ngoài ra, niềm tin vào tổ chức cũng được chứng minh là một biến quan trọng tác động vào hành vi công dân tổ chức của nhân viên (Roohi và cộng sự, 2012) Trong nghiên cứu Chiaburu và Marinova (2005), niềm tin vào tổ chức thì có tác động cùng chiều đến hành vi ngoài vai trò hướng vào tổ chức (hay hành vi công dân hướng vào tổ chức) Từ đó, nghiên cứu đưa ra giả thuyết H1c như sau:
Giả thuyết H 1c : Niềm tin vào tổ chức có tác động cùng chiều đến hành vi
công dân hướng vào tổ chức
2.3.1.2 Mối quan hệ giữa công bằng và niềm tin
Trong các tổ chức, niềm tin vào lãnh đạo và niềm tin vào tổ chức chịu ảnh hưởng bởi nhận thức của người lao động về công bằng mà họ cảm nhận được (Aryee và cộng sự, 2002; Wat và Shaffer, 2005; Bidarian và Jafari, 2012)
Khi nhân viên nhận thức được sự công bằng tương tác trong tổ chức thì họ
sẽ có mức độ tin tưởng vào lãnh đạo cao hơn (DeConinck, 2010) Công bằng tương tác được xem là gắn bó chặt chẽ hơn với mối quan hệ giữa nhân viên và người lãnh đạo của mình, do đó, công bằng tương tác có mối tương quan mạnh với niềm tin vào lãnh đạo (Cohen – Charash và cộng sự, 2001; Ambrose và Schminke, 2003; Wong và cộng sự, 2006) Vì vậy, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H2a như sau:
Trang 28Giả thuyết H 2a : Công bằng tương tác có tác động cùng chiều đến niềm tin
vào lãnh đạo
Kết quả nghiên cứu cho thấy công bằng trong tổ chức, cụ thể là công bằng thông tin có tác động đến và niềm tin vào lãnh đạo (Chiaburu và Marinova, 2005)
Từ đó, tác giả đề xuất giả thuyết H2b như sau:
Giả thuyết H 2b : Công bằng thông tin có tác động cùng chiều đến niềm tin
vào lãnh đạo
Thêm vào đó, có những nghiên cứu chỉ ra rằng, công bằng chính sách và công bằng phân bổ thì có liên quan mật thiết đến niềm tin vào tổ chức (Chiaburu và Marinova, 2005; DeConinck, 2010; Wong và cộng sự, 2006) Đặc biệt, công bằng chính sách có thể được xem là một yếu tố dự báo tốt về phản ứng của người lao động (Folger và Konovsky, 1989) Vì thế, giả thuyết H3a được phát biểu như sau:
Giả thuyết H 3a : Công bằng chính sách có tác động cùng chiều đến niềm tin
vào tổ chức
Ngoài ra, có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, công bằng phân bổ có tác động cùng chiều đến niềm tin vào tổ chức (Cohen – Charash và Spector, 2001; Wong và cộng sự, 2006) Nghiên cứu của DeConinck (2010) chỉ ra rằng có mối tương quan rất chặt giữa công bằng tương tác và niềm tin vào tổ chức Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H3b và H3c như sau:
Giả thuyết H 3b : Công bằng phân bổ có tác động cùng chiều đến niềm tin vào
Trang 29Giả thuyết H 3d : Công bằng thông tin có tác động cùng chiều đến niềm tin
vào tổ chức
2.3.1.3 Mối quan hệ giữa công bằng và hành vi công dân tổ chức
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, các thành phần của công bằng thì có liên quan đến hành vi công dân tổ chức của nhân viên (Cohen – Charash và Spector, 2001; Colquitt và cộng sự, 2001; Williams và cộng sự, 2002; Katou, 2013)
Kết quả nghiên cứu của Masterson và cộng sự (2000) cho thấy, công bằng tương tác có tác động đến hành vi công dân hướng vào cá nhân Mặt khác, công bằng thông tin cũng có ảnh hưởng đến hành vi công dân hướng vào cá nhân (Chiaburu và Marinova, 2005) Từ đó, nghiên cứu đề xuất hai giả thuyết nghiên cứu
H4a và H4b như sau:
Giả thuyết H 4a Công bằng tương tác có tác động cùng chiều đến hành vi công dân hướng vào cá nhân
Giả thuyết H 4b : Công bằng thông tin có tác động cùng chiều đến hành vi
công dân hướng vào cá nhân
Thành phần công bằng chính sách có ảnh hưởng tích cực đến hành vi công dân hướng vào tổ chức (Tepper và Taylor, 2003; Masterson và cộng sự, 2010) Do vậy, tác giả đề xuất giả thuyết H5a như sau:
Giả thuyết H 5a : Công bằng chính sách có tác động cùng chiều đến hành vi
công dân hướng vào tổ chức
Cũng theo thuyết công bằng của Adam (1965), nếu nhân viên cảm thấy sự không công bằng khi so sánh giữa đầu vào và đầu ra (những đóng góp của họ cho tổ chức so với kết quả mà họ nhận được) thì họ sẽ khắc phục sự không công bằng đó bằng việc giảm bớt những hành vi công dân tổ chức của mình (Nguyễn Hữu Lam, 2007) Giả thuyết H5d được phát biểu như sau:
Trang 30Giả thuyết H 5b : Công bằng phân bổ tác động cùng chiều đến hành vi công
dân hướng vào tổ chức
Organ (1997) đã lý giải cho mối quan hệ giữa hành vi công dân tổ chức và công bằng tổ chức, đó là nhân viên thể hiện hành vi ngoài vai trò (hành vi công dân
tổ chức) để đáp lại việc được tổ chức đối xử công bằng Hay nói cách khác, khi nhân viên cảm nhận mình được đối xử công bằng, họ sẽ tham gia thể hiện hành vi công dân tổ chức nhiều hơn Vì vậy, tác giả đề xuất hai giả thuyết H5c và H5d sau:
Giả thuyết H 5c : Công bằng tương tác có tác động cùng chiều đến hành vi
công dân hướng vào tổ chức
Giả thuyết H 5d : Công bằng thông tin có tác động cùng chiều đến hành vi
công dân hướng vào tổ chức
2.3.2 Mô hình nghiên cứu
Trang 312.3.2.2 Mô hình nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết, những giả thuyết nghiên cứu đã được trình bày, đồng thời kế thừa kết quả nghiên cứu của Aryee và cộng sự (2002), tác giả đề xuất
mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa niềm tin, công bằng và hành vi công dân tổ chức Mô hình nghiên cứu được trình bày ở hình 2.2
Hành vi công dân hướng vào cá nhân
Hình 2.2 – Mô hình nghiên cứu
Trang 32hệ giữa công bằng và hành vi công dân tổ chức với niềm tin đóng vai trò trung gian của quan hệ đó
Chương tiếp theo sẽ trình bày thiết kế nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu để xây dựng và đánh giá sơ bộ thang đo đo lường các khác niệm nghiên cứu
Trang 33PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương trước đã trình bày cơ sở lý thuyết về niềm tin, công bằng và hành vi ngoài vai trò của nhân viên Mô hình nghiên cứu cũng đã được xây dựng kèm theo các giả thuyết nghiên cứu Chương này sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, công
cụ nghiên cứu được sử dụng để điều chỉnh, đánh giá các thang đo lường những khái niệm nghiên cứu Chương này gồm có 04 phần: (1) Quy trình nghiên cứu (2) Xây dựng thang đo (3) Đánh giá sơ bộ thang đo và (4) Phương pháp phân tích dữ liệu
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên cứu được trình bày trong hình 3.1
Trang 34Hình 3.1 – Quy trình nghiên cứu
Mục tiêu
nghiên cứu Tổng kết lý thuyết
Mô hình nghiên cứu
Thảo luận nhóm (n = 5)
Điều chỉnh thang đo
Khảo sát
sơ bộ (n = 54)
Nghiên cứu định lượng chính thức (n=245)
Cronbach’s Alpha
Phân tích EFA
Loại biến có trọng số EFA nhỏ Kiểm tra nhân tố trích được Kiểm tra phương sai trích được
Loại những biến có hệ số tương quan biến – tổng nhỏ hơn 0.30 nếu không vi phạm giá trị nội dung của thang đo Kiểm tra hệ số alpha
Viết báo cáo
Thang đo
sơ bộ
Thang đo chính thức
Phân tích CFA
Loại biến có trọng số CFA nhỏ Kiểm tra độ phù hợp của mô hình Đánh giá độ tin cậy của thang đo Kiểm tra tính đơn hướng, giá trị hội tụ
và giá trị phân biệt
Mô hình SEM
Trang 35Quy trình nghiên cứu được thực hiện từng bước như sau:
Bước 1: Xây dựng thang đo
Phải xác định được vấn đề và mục tiêu nghiên cứu, tiếp sau là dựa vào việc tổng kết lý thuyết và các nghiên cứu liên quan để đưa ra mô hình nghiên cứu và các thang đo sơ bộ
Bước 2: Nghiên cứu sơ bộ
Nghiên cứu định tính sơ bộ được thực hiện thông qua kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung Thông tin thu thập từ nghiên cứu định tính nhằm điều chỉnh và bổ sung các thang đo thành phần của các khái niệm nghiên cứu trong luận văn để phù hợp với thị trường Việt Nam Sau khi chuyển ngữ những thang đo đo lường các khái niệm nghiên cứu sang tiếng Việt, những thang đo này được gửi đến 2 chuyên gia dịch thuật nhằm bổ sung và chỉnh sửa từ ngữ Sau đó, 5 chuyên gia trong lĩnh vực nhân sự đưa ra những ý kiến đóng góp để điều chỉnh nội dung trên cơ sở so
sánh với bảng câu hỏi nguyên gốc tiếng Anh (xem bảng câu hỏi nguyên gốc tiếng
Anh tại Phụ lục 2) Kết quả của thảo luận nhóm (xem kết quả nghiên cứu định tính
sơ bộ tại Phụ lục 4) sẽ giúp cho những đáp viên có thể hiểu chính xác nội dung của
từng câu hỏi trong bảng khảo sát (dàn bài thảo luận nhóm được trình bày tại Phụ
lục 3) Từ đó, tác giả đưa ra bảng câu hỏi khảo sát cho nghiên cứu định lượng sơ bộ
Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện bằng cách phỏng vấn trực tiếp
và qua mail 54 nhân viên đang làm việc tại những tổ chức/doanh nghiệp tại TP
HCM (bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ được trình bày ở Phụ lục 5) Thông tin thu thập
từ nghiên cứu định lượng này dùng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý Sau khi loại bỏ những biến quan sát không đạt yêu cầu, các biến còn lại sẽ được đưa vào trong bảng câu hỏi để sử dụng trong nghiên cứu định lượng chính thức
Ngoài ra bảng câu hỏi còn phân loại đối tượng khảo sát theo Giới tính, Độ tuổi, Tình trạng hôn nhân, Trình độ chuyên môn, Thời gian làm việc tại doanh nghiệp/tổ chức hiện tại và Loại hình doanh nghiệp/tổ chức Các chuyên gia cũng
đồng ý với cách phân loại đối tượng này
Trang 36Bước 3: Nghiên cứu định lượng chính thức
Bước đầu là xác định kích thước mẫu cho nghiên cứu, cách thức lấy mẫu là
chọn mẫu phi xác suất với phương pháp chọn mẫu thuận tiện (bảng câu hỏi khảo
sát chính thức được trình bày ở Phụ lục 6) Tiếp theo, với dữ liệu thu thập được,
dùng phần mềm SPSS 20.0 tiến hành kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích EFA Sau đó, phân tích nhân tố khẳng định CFA để kiểm định thag đo và phương pháp phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính được sử dụng để kiểm định mức độ phù hợp của mô hình lý thuyết và các giả thuyết Cuối cùng là ước lượng lại các tham số của mô hình bằng phương pháp bootstrap
Bước 4: Kết luận
Trình bày những thảo luận về kết quả nghiên cứu Cuối cùng là đưa ra những kiến nghị và nêu những hạn chế của đề tài nghiên cứu
3.2 XÂY DỰNG THANG ĐO
Tất cả các biến quan sát trong các thành phần của các khái niệm nghiên cứu
đều sử dụng thang đo Likert 5 mức độ, tương ứng là: 1 – Hoàn toàn không đồng ý;
2 – Không đồng ý; 3 – Trung dung; 4 – Đồng ý và 5 – Hoàn toàn đồng ý
3.2.1 Thang đo Niềm tin
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng thang đo Niềm tin vào lãnh đạo được phát triển bởi Schoorman và Ballinger (2007) phối hợp với thang đo Niềm tin vào
tổ chức của Robinson và Rousseau (1994)
3.2.1.1 Thang đo niềm tin vào lãnh đạo
Thang đo niềm tin vào lãnh đạo được ký hiệu là TIM Bảy biến quan sát được sử dụng để đo lường cho niềm tin vào lãnh đạo, ký hiệu từ TIM1 đến TIM7 Kết quả nghiên cứu định tính, ngoài việc bỏ biến TIM5, điều chỉnh hai biến TIM6
và TIM7 thì các biến quan sát khác vẫn được giữ nguyên (xem bảng 3.1)
Trang 37Với những phát biểu được điều chỉnh sẽ thêm ký hiệu *** ở cuối câu (xem kết
quả nghiên cứu định tính sơ bộ tại Phụ lục 4)
Bảng 3.1 – Thang đo Niềm tin vào lãnh đạo TIM1 Lãnh đạo luôn nhớ đến quyền lợi của tôi khi đưa ra quyết định
TIM2 Tôi sẵn lòng để lãnh đạo kiểm soát tương lai của tôi trong công ty này
3.2.1.2 Thang đo niềm tin vào tổ chức
Thang đo niềm tin vào tổ chức được ký hiệu là TIO Bảy biến quan sát được
sử dụng để đo lường cho niềm tin vào tổ chức, ký hiệu từ TIO1 đến TIO7 Sau thảo luận nhóm, chuyên gia đồng ý loại bỏ 2 biến TIO1 và TIO5; điều chỉnh 2 biến TIO2
và TIO4 Các biến khác vẫn được giữ nguyên (xem bảng 3.2)
Với những phát biểu được điều chỉnh sẽ thêm ký hiệu *** ở cuối câu (xem kết
quả nghiên cứu định tính sơ bộ tại Phụ lục 4)
Bảng 3.2 – Thang đo Niềm tin vào tổ chức
TIO2 Tôi tin tổ chức luôn đối xử nhất quán và công bằng với mọi người ***
TIO3 Tôi tin rằng tổ chức của tôi trung thực và minh bạch
Trang 38TIO4 Tôi tin rằng mục tiêu của tổ chức là nhất quán và phù hợp với năng lực
của tôi ***
TIO6 Tổ chức của tôi cởi mở và thật tình với tôi
TIO7 Tôi tin tưởng tổ chức của tôi
3.2.2 Thang đo Công bằng
Tác giả sử dụng thang đo Công bằng được đề xuất bởi Coquitt (2001) bao
gồm 4 thành phần với 20 biến quan sát
Công bằng chính sách được ký hiệu là PRJ, bảy biến quan sát được sử dụng
để đo lường khái niệm này, ký hiệu từ PRJ1 đến PRJ7
Ngoài biến PRJ6 được các chuyên gia loại bỏ vì nội dung của biến PRJ2 đã bao hàm nội dung của PRJ6 Biến PRJ7 được chỉnh sửa cho phù hợp với thị trường Việt Nam Các biến quan sát còn lại đo lường khái niệm công bằng chính sách vẫn
được giữ nguyên
Công bằng phân bổ được ký hiệu là DIJ, bốn biến quan sát được sử dụng để
đo lường khái niệm này, ký hiệu từ DIJ1 đến DIJ4
Bốn biến quan sát đo lường khái niệm công bằng phân bổ được các chuyên gia điều chỉnh từ ngữ sao cho rõ ràng, dễ hiểu
Công bằng tương tác được ký hiệu là ITJ, bốn biến quan sát được sử dụng
để đo lường khái niệm này, ký hiệu từ ITJ1 đến ITJ4
Ngoài biến quan sát ITJ4 cần điều chỉnh, các chuyên gia đều đồng ý với những phát biểu còn lại trong thang đo công bằng tương tác Vì vậy, 3 biến quan sát còn lại vẫn được giữ nguyên, không cần phải điều chỉnh hay bổ sung nội dung
Công bằng thông tin được ký hiệu là IFJ, năm biến quan sát được sử dụng
để đo lường khái niệm này, ký hiệu từ IFJ1 đến IFJ5
Trang 39Ngoài biến quan sát IFJ5 được điều chỉnh về từ ngữ thì các biến đo lường khác vẫn được giữ nguyên
Bảng 3.3 trình bày các biến quan sát đo lường các thành phần của công bằng Với những phát biểu được điều chỉnh sẽ thêm ký hiệu *** ở cuối câu (xem kết quả
nghiên cứu định tính sơ bộ tại Phụ lục 4)
Bảng 3.3 – Thang đo Công bằng Công bằng chính sách PRJ1
Tôi có thể bày tỏ quan điểm của mình về những chính sách trong tổ chức
ITJ2 Lãnh đạo của tôi đối xử với tôi bằng một thái độ tự trọng
ITJ3 Lãnh đạo của tôi đối xử với tôi rất tôn trọng