1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích tác động của di cư lao động đến hạnh phúc của người cao tuổi ở lại trường hợp tại xã an nhơn tỉnh bình định

122 389 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, tác động của di cư ở khía cạnh ảnh hưởng đến hạnh phúc của người cao tuổi còn ở lại trong các hộ gia đình di cư, cụ thể là ảnh hưởng đến đời sống tình cảm, đời sống vật chất,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

PHAN THỊ BÍCH NGÂN

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA DI CƯ LAO ĐỘNG ĐẾN HẠNH PHÚC CỦA NGƯỜI

CAO TUỔI Ở LẠI TRƯỜNG HỢP TẠI THỊ XÃ AN NHƠN -

TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH- NĂM 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

PHAN THỊ BÍCH NGÂN

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA DI CƯ LAO ĐỘNG ĐẾN HẠNH PHÚC CỦA NGƯỜI

CAO TUỔI Ở LẠI TRƯỜNG HỢP TẠI THỊ XÃ AN NHƠN -

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 60310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS PHẠM KHÁNH NAM

TP HỒ CHÍ MINH- NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan nghiên cứu này được thực hiện đúng qui trình, qui định của nhà trường, không sao chép hoặc nhờ người khác viết Bên cạnh sự hỗ trợ và

hướng dẫn khoa học của TS PHẠM KHÁNH NAM tất cả các bước, các công việc

của nghiên cứu này được chính tác giả thực hiện

Đối tượng khảo sát, thông tin thu thập, kết quả xử lý và nguồn dữ liệu trích dẫn là rõ ràng và hoàn toàn trung thực Nếu có vi phạm hoặc có đạo văn tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng khoa học

TP.HCM, tháng 04 năm 2016 Tác giả

Phan Thị Bích Ngân

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

Danh mục bảng biểu

Danh mục hình vẽ

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1.Mục tiêu nghiên cứu 2

1.1.1.Mục tiêu tổng quát 2

1.1.2.Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 2

1.1.3.Câu hỏi nghiên cứu 2

1.2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.2.1.Đối tượng nghiên cứu 3

1.2.2.Phạm vi nghiên cứu 3

1.3.Phương pháp nghiên cứu 3

1.4.Bố cục đề tài 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1.Lý thuyết đo lường hạnh phúc 5

2.2.Một số lý thuyết về di cư 10

2.2.1.Di cư lao động 10

2.2.2.Lý thuyết về hai khu vực của Lewis 10

2.2.3.Lý thuyết hút đẩy (the push pull theory of migration) 11

2.2.4.Mô hình Todaro 11

2.2.5.Lý thuyết kinh tế mới của di cư lao động 12

2.3.Một số lý thuyết liên quan đến mối quan hệ giữa di lao động với người ở lại 12

2.4.Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 13

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.1 Khung phân tích 15

Trang 5

3.2 Giả thuyết nghiên cứu 18

3.3 Mô hình kinh tế lượng 20

3.3.1 Một số mô hình phân tích cho biến phụ thuộc là biến nhị phân: 20

3.3.2 Mô hình Probit trong phân tích di cư tác động đến hạnh phúc của NCT ở lại 21

3.4 Dữ liệu nghiên cứu 27

3.5 Quy trình nghiên cứu 28

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

4.1.Tổng quan di cư ở Việt Nam 29

4.1.1 Di cư giữa các vùng 29

4.1.2 Di cư giữa các tỉnh 30

4.1.3 Di cư giữa nông thôn- thành thị 30

4.1.4 Di cư theo giới tính, tuổi và tình trạng hôn nhân 31

4.2 Tổng quan về thị xã An Nhơn và thực trạng di cư lao động 33

4.2.1 Tổng quan về tự nhiên, kinh tế, xã hội 33

4.2.2 Đặc điểm di cư lao động của Tỉnh Bình Định 35

4.3 Đặc điểm chung của mẫu 37

4.4 Các thống kê mô tả 39

4.4.1 Một số đặc điểm của hộ gia đình có thành viên di cư lao động 39

4.4.2 Một số đặc điểm của di cư lao động trong mẫu 41

4.4.3 Những khác biệt giữa hộ có thành viên di cư và không di cư lao động 46

4.5 Kết quả ước lượng 54

4.5.1 Mô hình probit với phương pháp so sánh điểm xu hướng PSM 54

4.5.2 Mô hình tuyến tính với phương pháp ước lượng OLS 57

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 63

5.1 Kết luận 63

5.2 Hàm ý chính sách 64

5.3 Giới hạn của nghiên cứu 65

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu Diễn giải

(.) Dấu chấm: ký hiệu phân cách số thập phân

(,) Dấu phẩy: ký hiệu phân cách nhóm số

UNICEF Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc

UNFPA Quỹ dân số Liên Hợp Quốc

WVS Điều tra giá trị thế giới

NELM Lý thuyết kinh tế mới của di cư lao động

NCT Người cao tuổi

IOM Tổ chức di cư quốc tế

ONS Văn phòng Thống kê quốc gia

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Dấu kỳ vọng của các biến độc lập trong mô hình 187

Bảng 4.1: Di cư giữa các vùng trong Điều tra BĐDS 1/4/2013 29

Bảng 4.2: Nơi thực tế thường trú tại thời điểm 1/4/2012 và 1/4/2013 chia theo thành thị/nông thôn 30

Bảng 4.3: Tỷ suất di cư của dân số từ 5 tuổi trở lên trong 12 tháng trước thời điểm điều tra chia theo giới tính và trình độ học vấn, 1/4/2013 32

Bảng 4.4: Các luồng di cư chia theo giới tính, 1/4/2013 32

Bảng 4.5: Tỷ suất di cư của dân số từ 15 tuổi trở lên trong 12 tháng trước thời điểm điều tra chia theo giới tính và tình trạng hôn nhân, 1/4/2013 33

Bảng 4.6: Thống kê về tự nhiên, kinh tế - xã hội thị xã An Nhơn 34

Bảng 4.7: Một số chỉ tiêu kinh tế của Thị xã An Nhơn giai đoạn 2005-2010 35

Bảng 4.8: Thống kê về tình hình di cư lao động của Tỉnh Bình Định 36

Bảng 4.9: Đặc điểm chung của mẫu khảo sát 37

Bảng 4.10: Đặc điểm của các hộ có thành viên di cư 39

Bảng 4.11: Tuổi người di cư theo nhóm 41

Bảng 4.12: Giới tính di cư lao động 42

Bảng 4.13: Mối quan hệ giữa di cư lao động với NCT ở lại 42

Bảng 4.14: Tình trạng hôn nhân của người di cư lao động 43

Bảng 4.15: Trình độ của người di cư lao động 43

Bảng 4.16: Tính chất công việc của người di cư lao động 44

Bảng 4.17: Chức vụ của người di cư lao động 44

Trang 9

Bảng 4.18: Lượng tiền gửi về của di cư lao động 45

Bảng 4.19: Mức độ về thăm gia đình của di cư lao động 466

Bảng 4.20: So sánh giữa diện tích đất SX &loại hộ gia đình 46

Bảng 4.21: So sánh giữa thu nhập &loại hộ gia đình 47

Bảng 4.22: So sánh loại nhà ở của các hộ gia đình 47

Bảng 4.23: So sánh niềm tin của hai loại hộ gia đình vào người dân ở thị xã 48

Bảng 4.24: So sánh mức độ hài lòng về sức khỏe của hai nhóm hộ 49

Bảng 4.25: So sánh mức độ hài lòng về công việc của hai nhóm hộ 49

Bảng 4.26: So sánh mức độ hài lòng về thu nhập của hai nhóm hộ 50

Bảng 4.27: So sánh mức độ hài lòng về nơi ở của hai nhóm hộ 51

Bảng 4.28: So sánh mức độ hài lòng về gia đình của hai nhóm hộ 51

Bảng 4.29: So sánh hạnh phúc của hai nhóm hộ 52

Bảng 4.30: Bảng tóm tắt các so sánh giữa hai nhóm hộ 52

Bảng 4.31: Kết quả chạy hình probit với phương pháp ước lượng PSM 54

Bảng 4.32: So sánh giá trị của sai số chuẩn theo hai phương pháp 55

Bảng 4.33: Kết quả chạy hình probit với phương pháp ước lượng OLS 58

Bảng 4.34: Các đặc điểm của người di tác động đến hạnh phúc của NCT có ý nghĩa thống kê 59

Bảng 4.35: Kiểm chứng dấu kỳ vọng của các biến đặc điểm NDC 60

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 3.1: Khung phân tích tác động của di cư đến hạnh phúc NCT ở lại 177 Hình 3.2: Minh họa vùng hỗ trợ chung 244

Hình 3.3: Quy trình nghiên cứu 28

Hình 4.1: Tỷ suất di cư đặc trưng theo tuổi và giới tính, 1/4/2013 31

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Đặt vấn đề

Đô thị hóa ở Việt Nam đang diễn ra với tốc độ cao, cùng với sự biến động của thị trường lao động, nhiều loại hình doanh nghiệp hình thành, mức độ di chuyển dân cư giữa các địa phương tăng lên rất nhanh (Tổng cục Thống kê, UNFPA, 2006; UNFPA, 2007) Tại khu vực đô thị, nơi có mức độ phát triển kinh

tế cao, thu hút nhiều lực lượng lao động ở các khu vực lân cận và các tỉnh thành khác tạo nên một làn sóng di dân mạnh mẽ Di cư từ nông thôn ra thành thị có thể được thúc đẩy bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó đa số vì lý do kinh tế Hoạt động di cư từ nông thôn ra thành thị là chiến lược sống của các hộ gia đình để đối phó với những rủi ro (Lê Bạch Dương, 2011), góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống, xóa đói giảm nghèo và là chiến lược sinh kế của các hộ gia đình (Đặng, 2005)

Có khá nhiều công trình nghiên cứu ở Việt Nam về di dân ra đô thị, kể cả cuộc Điều tra về di cư năm 2009 gần đây do Tổng cục Thống kê tiến hành Các nghiên cứu này chủ yếu mô tả thực trạng, nguyên nhân, xu hướng di dân Những nghiên cứu về tác động của di cư đối với mức sống hộ gia đình cũng được xem xét khá nhiều Tuy nhiên, tác động của di cư ở khía cạnh ảnh hưởng đến hạnh phúc của người cao tuổi còn ở lại trong các hộ gia đình di cư, cụ thể là ảnh hưởng đến đời sống tình cảm, đời sống vật chất, điều chỉnh các mối quan hệ của người cao tuổi rất

ít được đề cập

Trong nhiều năm, An Nhơn là thị xã có lượng người di cư vào thành phố Hồ Chí Minh khá cao, chủ yếu là lao động trẻ tìm những cơ hội việc làm và học tập, chấp nhận để lại quê hương những người thân của mình là cha mẹ Đối tượng cần được quan tâm, chăm sóc và hỗ trợ nhiều mặt về đời sống, họ phụ thuộc nhiều vào kinh tế của con cái, sự chăm sóc và sự quan tâm chia sẻ của con cái dành cho mình

Trước những thực trạng nêu trên, tôi lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài

“Phân tích tác động của di cư lao động đến hạnh phúc của người cao tuổi ở

Trang 12

lại- Trường hợp tại Thị xã An Nhơn- Tỉnh Bình Định” nhằm góp phần làm rõ

thêm tác động của di cư lao động đối với hạnh phúc của người cao tuổi bỏ lại phía sau Trong bài viết này, tôi tập trung xem xét di cư của một hoặc nhiều thành viên gia đình ảnh hưởng như thế nào đến hạnh phúc của người cao tuổi ở lại Đặc biệt, tôi cũng nghiên cứu đến hướng tiếp cận thứ hai mà di cư có thể tác động đến hạnh phúc của người cao tuổi còn ở lại đó là số tiền tiết kiệm của họ gửi về gia đình Trong thực tế, người cao tuổi phụ thuộc nhiều nhất vào kinh tế của con cái, tiếp theo là sự chăm sóc và sự quan tâm chia sẻ của con cái dành cho mình (Võ Thành Tâm, 2014) Tiền gửi về của di cư lao động đã phần nào góp phần cải thiện kinh tế của cha mẹ ở thôn quê nhưng có bù đắp được sự vắng mặt của họ trong cuộc sống của họ Kết quả của nghiên cứu này sẽ cung cấp cho những người di cư, người di

cư tiềm năng có thêm thông tin để quyết định lựa chọn loại hình di cư nhằm cải thiện cuộc sống tốt hơn không chỉ cho họ mà còn cho những người cao tuổi ở lại trong gia đình Nghiên cứu phần nào giải thích tính hiệu quả và đưa ra một số hàm

ý cho chính sách giúp những nhà lập chính sách có thêm thông tin để giải quyết hiệu quả hơn về di cư đến hạnh phúc của người dân

1.1 Mục tiêu nghiên cứu

1.1.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu mối quan hệ giữa di cư lao động và hạnh phúc của người cao tuổi ở lại đối với gia đình người Việt Nam

1.1.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

Phân tích tác động của di cư lao động đến hạnh phúc của người cao tuổi ở lại ở hộ gia đình mà có thành viên di cư lao động

Phân tích các yếu tố tác động đến hạnh phúc của người cao tuổi ở lại hộ gia đình

Đưa ra gợi ý chính sách cho chính phủ về thúc đẩy hiệu quả của di cư lao động đến hạnh phúc của người cao tuổi của gia đình có người di cư

1.1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Trang 13

Thực trạng di cư lao động ở Việt Nam nói chung và di cư lao động ở thị xã

An Nhơn những năm qua?

Di cư lao động tác động như thế nào đến hạnh phúc của người cao tuổi ở lại trong các gia đình có thành viên di cư?

Các yếu tố nào của người di cư lao động và người cao tuổi có tác động đến hạnh phúc của người cao tuổi ở lại?

1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là tác động của di cư lao động đến hạnh phúc của người cao tuổi ở lại

Đối tượng khảo sát là người cao tuổi ở thị xã An Nhơn từ 60 tuổi trở lên sinh sống trong các hộ gia đình có và không có người thân là con cái đang di cư lao động đến nơi khác để làm việc hiện không có ở trong hộ

- 150 thành viên được chọn ngẫu nhiên từ những hộ gia đình có người di cư

và 150 thành viên được chọn ngẫu nhiên từ các hộ không có người di cư

- Bảng hỏi điều tra được phát ra cho 300 người cao tuổi ở hộ gia đình có thành viên di cư và hộ gia đình không có thành viên di cư Bảng câu hỏi gồm các câu hỏi đánh giá tác động của di cư đến hạnh phúc của người cao tuổi ở lại và quan tâm đến việc cha mẹ của người di cư sử dụng tiền mà họ gửi về như thế nào

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu là phương pháp định lượng sử dụng mô hình Probit

sẽ được trình bày rõ ở chương 3 Bên cạnh đó đề tài cũng sử dụng phương pháp xu

Trang 14

hướng điểm phù hợp (PSM) để làm rõ hơn sự tác động của di cư đến hạnh phúc của NCT ở lại

1.4 Bố cục đề tài

Luận văn bao gồm 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết và một số nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài đã được thực hiện Mô hình phân tích sẽ được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết và thực nghiệm này

Chương 3: Xây dựng phương pháp và mô hình nghiên cứu Giới thiệu dữ liệu và mô tả các biến số trong nghiên cứu

Chương 4: Kết quả thực nghiệm sau khi chạy hồi quy và giải thích kết quả xuất hiện trong mô hình

Chương 5: Kết luận tóm lược những vấn đề mà đề tài đã giải quyết Từ đó, đưa ra một số gợi ý chính sách Đồng thời, đưa ra một số hạn chế đề tài nhằm tạo hướng đi cho những nghiên cứu tiếp theo

Trang 15

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Để xác định các biến xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp, trong chương này tác giả trình bày cơ sơ lý thuyết làm nền tảng cho việc lựa chọn và đưa

ra các giả thuyết về các biến trong mô hình nghiên cứu Các nội dung được trình bày trong chương này bao gồm: lý thuyết đo lường hạnh phúc; một số lý thuyết liên quan đến mối quan hệ giữa di lao động với người ở lại; tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm liên quan

2.1 Lý thuyết đo lường hạnh phúc

Thuật ngữ hạnh phúc được nghiên cứu dưới góc độ sự hài lòng với cuộc sống hiện tại Khái niệm này được World Value Survey- Điều tra giá trị thế giới (WVS) do Ronald Inglehart Đại học Michigan đưa ra và thực hiện tại châu Âu năm

1981

Hạnh phúc là một khái niệm đa chiều cạnh, mang tính chủ quan cao và có đặc trưng riêng biệt tùy theo hoàn cảnh, điều kiện và thời điểm nhất định, có thể thay đổi theo thời gian với sự kiện cuộc sống, sức khỏe và kinh nghiệm (Bowling

và cộng sự, 2003), phụ thuộc vào cách nhìn nhận của cá nhân (Ziller, 1974)

Edgeworth định nghĩa hạnh phúc của một cá nhân trong một khoảng thời gian là tổng của các tiện ích tạm thời trong khoảng thời gian đó; đó là, tiện ích tạm thời không thể thiếu

Hạnh phúc được đánh giá khách quan và chủ quan dựa trên nhu cầu, bắt nguồn từ hệ thống cấp bậc nhu cầu con người của Maslow (1954) Maslow chia nhu cầu tự nhiên của con người thành các bậc thang khác nhau và được sắp xếp từ thấp đến cao Cấp bậc thấp nhấp là nhu cầu sinh lý (vật chất, cơ bản) đến nhu cầu

an toàn, nhu cầu xã hội (liên kết và chấp nhận), nhu cầu được tôn trọng và cấp bậc cao nhất thể hiện nhu cầu tự hoàn thiện Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ được thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng, là cơ sở để đánh giá mức độ tổng thể hạnh phúc của cá nhân Nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ cách tiếp cận này cho rằng

Trang 16

nhu cầu thiết yếu bao gồm thực phẩm, chỗ ở, y tế, an ninh và sự tự do (Nussbaum, 2000; Sen, 1999) Sen (1999) lập luận rằng sự hài lòng của những nhu cầu này tạo điều kiện cho cá nhân phát triển hạnh phúc và lựa chọn những cơ hội có giá trị cho bản thân (Ryan & Deci, 2001; Ryff, 1989)

Một trong những nghiên cứu đầu tiên về các yếu tố quyết định hạnh phúc chủ quan, Wilson (1967) kết luận rằng một người hạnh phúc là một người ‗trẻ, khỏe mạnh, được giáo dục tốt, được trả lương cao, hướng ngoại, lạc quan, không lo lắng, có tôn giáo, đã kết hôn có lòng tự trọng cao, có tinh thần làm việc, khát vọng, thỏa mãn tình dục và có kiến thức sâu rộng

Dolan et al (2006) đã nhận thấy rằng có năm yếu tố tác động đến hạnh phúc con người Năm yếu tố của họ là: (1) sự thỏa mãn sở thích, trong đó bao gồm sự tự

do và nguồn lực đáp ứng mong muốn và nguyện vọng của cá nhân; (2) các danh sách mục tiêu (hoặc các nhu cầu cơ bản), trong đó là sự hoàn thành các nhu cầu vật chất, nhu cầu tâm lý và xã hội, được xác định ngoại sinh; (3) thịnh vượng trong đó

là việc thực hiện tiềm năng của con người, như quyền tự chủ, phát triển cá nhân, hay yếu tố tích cực (Ryff và Keyes, 1995); (4) hưởng thụ khi đạt sự cân bằng tích cực của tâm trạng và cảm xúc; và (5) kỳ vọng, là đánh giá riêng của cá nhân trong cuộc sống của mình theo một số tiêu chí tích cực

Layard (2005) chỉ ra bảy yếu tố tác động đến hạnh phúc của con người được gọi là ‗Big Seven‖: (1) mối quan hệ gia đình, (2) tình hình tài chính, (3) công việc, (4) quan hệ cộng đồng và bạn bè, (5) sức khỏe, (6) tự do cá nhân và (7) giá trị bản thân

Hầu hết các nhà tâm lý học đánh giá hạnh phúc dựa trên trạng thái tinh thần

và cảm nhận của con người về cuộc sống riêng của họ (Diener, Suh, Lucas, Smith, 1999) Trạng thái, cảm nhận về hạnh phúc như là một hiện tượng tâm lý đặc trưng bởi cảm xúc đối với niềm vui, nỗi buồn, hài lòng hay không hài lòng (Diener,

in press) Hạnh phúc chủ quan thể hiện tâm trạng và cảm xúc gần đây của cá nhân, tuy nhiên khi cá nhân cảm thấy bị áp lực khi phải phù hợp với chuẩn mực xã hội hoặc muốn làm giảm sự lo lắng của người thân (Diener et al, 1999), họ có thể

Trang 17

không phản ánh toàn bộ những suy nghĩ, cảm nhận hiện tại của mình (Schwarz Strack, 1999)

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố quyết định hạnh phúc được hình thành bởi đặc điểm cá nhân như tuổi tác, giới tính, giáo dục và tình trạng hôn nhân

Peiró (2006) thấy rằng tuổi tác, sức khỏe và tình trạng hôn nhân có liên quan chặt

chẽ với hạnh phúc Hạnh phúc có xu hướng theo đường cong U với độ tuổi Con người hạnh phúc ở thời trẻ và thời điểm con người cảm thấy bất hạnh nhất khi ở độ tuổi trung niên từ 32-50 tuổi, nhưng cuối cùng tăng lên khi cá nhân lớn tuổi với điều kiện ít ốm đau (Blanchflower và Oswald (2004a), Mentzakis và Moro (2009),

và Realo và Dobewall (2011)) Ngoài ra, Roysamb et al (2002) tìm thấy rằng phụ

nữ hạnh phúc hơn so với nam giới

Các nghiên cứu đều cho thấy một mối quan hệ mạnh mẽ giữa hạnh phúc và

sức khỏe cả thể chất và tâm lý Helliwell và Putnam (2004), Ball và Chernova

(2005), Safi (2010), và Bartram (2011) tất cả đã tìm thấy rằng sức khỏe là một biến quan trọng liên quan đến hạnh phúc Theo nghiên cứu của (Becchetti Rossetti, 2009), yếu tố sức khỏe kém là nguyên nhân chính làm giảm hạnh phúc của người dân cho dù thu nhập có tăng thì mức tăng đó không thể giúp họ đạt được chỉ số hạnh phúc lớn hơn Chẳng hạn như bị đau tim và đột quỵ làm giảm hạnh phúc của

cá nhân (Shields & Wheatley Price, 2005)

Một số nghiên cứu tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa giáo dục và hạnh phúc

(Blanchflower & Oswald, 2004a) Graham and Pettinato (2001) nhận thấy rằng số năm được đi học có tác động tích cực đến sự hài lòng, và rằng kết quả này xảy ra khi sử dụng luật học bắt buộc như là một biến số công cụ cho việc học để giải quyết các khả năng của nhân quả ngược lại (có nghĩa là, sự hài lòng của cuộc sống lớn hơn có thể làm cho con người hoàn thành việc học nhiều hơn)

Một số nghiên cứu xem xét và cho thấy rằng hôn nhân là công cụ dự báo

mạnh nhất của hạnh phúc (Glenn và Weaver, 1979) và li hôn, góa bụa là công cụ

dự báo mạnh của bất hạnh (Stroebe & Stroebe 1987) Khi cá nhân ly hôn hay góa bụa phải mất nhiều thời gian để ổn định và thường không đạt được mức hạnh phúc

Trang 18

như ban đầu, thậm chí cảm thấy ít hạnh phúc hơn cả khi chưa kết hôn (Lucas, 2005) Kể cả khi cá nhân có cuộc hôn nhân thứ hai sau khi đổ vỡ vẫn cảm thấy ít hạnh phúc hơn so với cuộc hôn nhân đầu tiên (Diener et al., 1999) Kết hôn, sức khỏe tốt và không bị thất nghiệp ảnh hưởng lớn đến hạnh phúc cá nhân, những người độc thân hay đã ly hôn cảm thấy ít hạnh phúc hơn (Clark và Oswald, 1994)

Hầu hết các nhà kinh tế đều xem tất nhiên là thu nhập cao hơn dẫn đến

hạnh phúc cao hơn (Blanchflower Oswald, 2004) Thu nhập cao hơn mở rộng các cơ hội thiết lập của các cá nhân và các quốc gia, tức là nhiều hàng hóa và dịch

vụ có thể được tiêu thụ Nhưng cũng có một số nhà kinh tế người không đồng tình với ý tưởng rằng thu nhập cao hơn làm hạnh phúc cao hơn Nhà kinh tế học đầu tiên nghiên cứu về hạnh phúc, Richard Easterlin (1974) kết luận rằng " tiền không mua được hạnh phúc " Một tác giả cho rằng các giá trị yêu thương nhất không thể mua được trên thị trường là Tibor Scitovsky (1976), Scitovsky cho rằng một mức

độ cao của sự giàu có mang lại tiện nghi liên tục và do đó ngăn ngừa những niềm vui là kết quả của sự hài lòng không đầy đủ và liên tục của những ham muốn Gần đây, Robert Frank, trong Luxyry Fever (1999), nhấn mạnh rằng thu nhập và tiêu dùng ngày càng tăng không mang lại hạnh phúc cao hơn Trong tác phẩm ―Có phải bạn hạnh phúc hơn khi bạn giàu hơn‖ của Kahneman cùng các cộng sự cho rằng thật hão huyền nếu con người chỉ phấn khích khi kiếm được nhiều tiền

Sử dụng dữ liệu của Châu Âu, Lelkes (2006) cho thấy rằng thất nghiệp làm

giảm hạnh phúc Louis và Zhao (2002) thấy rằng bất kỳ khoảng thời gian thất nghiệp trong 10 năm qua đã có một tác động tiêu cực trên thang điểm hạnh phúc Hơn nữa, từ dữ liệu GSOEP của Đức cho thấy rằng hạnh phúc có xu hướng theo một đường cong hình chữ U ngược với số giờ làm việc (kể cả khi các ảnh hưởng được kiểm soát) Hạnh phúc của cá nhân tăng khi tăng giờ làm việc, nhưng chỉ đến một điểm nhất định sau đó giảm dần khi giờ làm việc quá nhiều (Meier Stutzer, 2006; Weinzierl, 2005) Oswald (1997) cũng tìm thấy rằng thất nghiệp là một nguyên nhân gây bất hạnh

Trang 19

Có một số bằng chứng cho thấy rằng sự tham gia vào các hoạt động tôn giáo

có tác động tích cực đến hạnh phúc con người (Clark Lelkes, 2005; Hayo, 2004)

Sử dụng dữ liệu ESS, Clark và Lelkes (2005) báo cáo rằng đi lễ nhà thờ ít nhất một tháng một lần cũng đủ để cá nhân cảm thấy hạnh phúc hơn Helliwell (2003, 2006) đánh giá dữ liệu WVS và thấy rằng con người có niềm tin vào Thiên Chúa sẽ hài lòng với cuộc sống hơn và ít có sự khác biệt giữa các tôn giáo (Thiên chúa giáo, Do Thái giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo) Dựa vào cơ sở dữ liệu của World of Happiness, Rehdanz và Maddison (2005) thấy rằng hạnh phúc trung bình của các nước khác nhau không bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ dân số có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau Tuy nhiên, sự khác biệt ở sức mạnh của niềm tin vào tôn giáo ảnh hưởng khác nhau đến hạnh phúc (Cohen, 2002) Niềm tin tôn giáo mạnh mẽ giúp con người vượt qua những mất mát trong thu nhập hoặc việc làm (Dữ liệu UK, Clark & Lelkes, 2005)

Mối quan hệ giữa hạnh phúc và sự tham gia vào các tổ chức được Pichler‘s

(2006) tìm thấy và kết luận rằng khi cá nhân tham gia hoạt động ở nhiều tổ chức sẽ trở nên hạnh phúc hơn Trong điều kiện của hoạt động tình nguyện, Haller và Hadler (2006) cho thấy không có mối quan hệ giữa các hoạt động tình nguyện và hạnh phúc hay sự hài lòng cuộc sống (trên 34 quốc gia sử dụng các dữ liệu WVS) Tuy nhiên, Greenfield và Marks (2004) thấy rằng trong một nhóm những người lớn tuổi, tham gia hoạt động tình nguyện ảnh hưởng tích cực hơn, ý nghĩa hơn trong cuộc sống Meier và Stutzer (2006), Thoits và Hewitt (2001), tất cả đều cho rằng khi hoạt động tình nguyện thường xuyên hơn thì cá nhân cảm thấy bản thân mình tốt hơn, hạnh phúc hơn

Sử dụng dữ liệu từ WVS và ESS, Helliwell (2003, 2006) và Helliwell và

Putnam (2004) đã phát hiện ra rằng có niềm tin vào xã hội (tin tưởng hầu hết mọi

người) sẽ làm tăng sự hài lòng cuộc sống và hạnh phúc, và xác suất tự tử thấp hơn Hơn nữa, niềm tin đối với hệ thống công cộng như công an, hệ thống pháp luật và chính phủ cũng làm tăng sự hài lòng của cuộc sống (Helliwell& Putnam, 2004; Hudson, 2006)

Trong nghiên cứu này, tác giả cũng dựa vào định nghĩa của World Value

Trang 20

Survey (WSV) do Ronald Inglehart đưa ra, trên cơ sở hạnh phúc chủ quan và được

đo lường bằng cách đặt câu hỏi ―Bạn cảm thấy hạnh phúc thế nào với cuộc sống hiện tại của bạn?‖ Bạn sẽ trả lời rằng bạn rất hạnh phúc, khá hạnh phúc hay không quá hạnh phúc?‖ (General Social Survey Q.157)

2.2 Một số lý thuyết về di cƣ

2.2.1 Di cƣ lao động

Theo định nghĩa trong tài liệu "giải thích thuật ngữ về di cư" của tổ chức di

cư quốc tế (IOM, 2011) di cư lao động là "Sự di chuyển người từ quốc gia này sang quốc gia khác, hoặc trong phạm vi quốc gia cư trú của họ, với mục đích làm việc" Việc di chuyển này có thể là tạm thời hoặc lâu dài

2.2.2 Lý thuyết về hai khu vực của Lewis

Mô hình 2 khu vực của Lewis (1954) giải thích việc di chuyển lao động giữa hai khu vực nông nghiệp truyền thống và công nghiệp hiện đại Khi công nghệ thay đổi, việc áp dụng công nghệ làm cho năng suất lao động tăng và nhu cầu sử dụng lao động trong nông nghiệp truyền thống giảm Khi thay đổi công nghệ đến một ngưỡng nào đó thì không cần nhiều người làm việc trong khu vực nông nghiệp nữa

và dẫn đến nhu cầu sử dụng lao động trong nông nghiệp truyền thống giảm Lúc này, dù có bổ sung lao động vào khu vực nông nghiệp thì tổng sản phẩm của khu vực nông nghiệp không thay đổi Trong khi ngành công nghiệp là nơi có nhu cầu thu hút thêm lao động Do đó, lao động dư thừa trong nông nghiệp sẽ chuyển ra khỏi khu vực truyền thống và vì tiền công trong khu vực công nghiệp cao hơn mức

đủ sống tối thiểu trong khu vực nông nghiệp để bù đắp chi phí di chuyển của người lao động

Mô hình của Lewis có những hạn chế xuất phát từ chính những giả định có thể không xảy ra trên thực tế: Giả định thứ nhất là tỷ lệ lao động thu hút từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp tương ứng với tỷ lệ vốn tích lũy của khu vực này Trên thực tế, không có gì đảm bảo rằng nhà tư bản công nghiệp khi thu được lợi nhuận chỉ có tái đầu tư Giả định thứ hai rằng nông thôn là khu vực dư thừa lao động sẽ dịch chuyển sang khu vực thành thị Thực tế, khu vực nông thôn

Trang 21

cũng có thể tự giải quyết tình trạng dư thừa lao động thông qua các hình thức tạo việc làm tại chỗ Giả định thứ ba là tiền lương công nhân cố định khi khu vực nông thôn còn dư thừa lao động Trên thực tế, vì khu vực công nghiệp cần thu hút lao động có tay nghề cao và áp lực từ hoạt động của các tổ chức công đoàn dẫn đến mức tiền công khu vực công nghiệp có thể tăng lên

2.2.3 Lý thuyết hút đẩy (the push pull theory of migration)

Lee (1966) đã xây dựng lý thuyết hút đẩy trên cơ sở tóm tắt các quy luật di

cư của Ravenstein ở thế kỷ 19 và phân loại các nhóm ảnh hưởng đến quá trình di

cư Theo ông, quyết định di cư được xác định bởi 4 yếu tố chính:

(1) Đặc điểm của nguồn gốc nơi người di cư tiềm năng cư trú,

(2) Đặc điểm của điểm đến,

(3) Các yếu tố cản trở di cư (chi phí, khoảng cách, rào cản vật lý, luật di trú, v.v),

(4) Yếu tố cá nhân thuộc về người di cư

Một người di cư tiềm năng sẽ xem xét sự cân bằng của tất cả các yếu tố sự hấp dẫn của điểm đến cùng với khó khăn của các trở ngại và yếu tố tác động để quyết định di cư Thông thường, các điều kiện kinh tế khó khăn ở nơi đi là yếu tố

―đẩy‖ chủ yếu của việc xuất cư, trong khi cải thiện điều kiện kinh tế của nơi đến là yếu tố ―hút‖ quan trọng của việc nhập cư

2.2.4 Mô hình Todaro

Mô hình Todaro được coi như là một tiền thân của lý thuyết di cư nông thôn Lý thuyết kinh tế (Todaro, 1969) tập trung về hành vi hợp lý của các cá nhân Một vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến việc ra quyết định của người di cư là sự cân bằng giữa rủi ro và xác suất thất nghiệp trong một thời gian nhất định với mức lương và cơ hội để có một việc làm ổn định Mô hình này thể hiện căn bản tác động của động cơ kinh tế (tiền công lao động) trong quyết định di cư Trong đó, yếu tố tiền lương là yếu tố so sánh chính trong việc lựa chọn địa điểm (nông thôn hay thành thị) để di cư đến Khoảng cách về thu nhập (kì vọng về thu nhập) là một

Trang 22

động lực chính để quyết định di cư Khoảng cách thu nhập càng lớn thì làm xu hướng di cư càng tăng lên

Hạn chế của mô hình này chỉ đề cập đến yếu tố kinh tế (thu nhập) trong khi nhiều nghiên cứu khác chỉ ra rằng có những trường hợp di cư yếu tố kinh tế không phải là tác động quan trọng duy nhất Ví dụ như: yếu tố đoàn tụ gia đình, học tập, lấy vợ hoặc chồng, v.v Các yếu tố về khoảng cách, xã hội, cuộc sống, chính trị cũng đóng góp vai trò quan trọng trong quyết định di cư Ngoài ra mô hình này không giải thích được hiện tượng di cư ngược từ thành thị và nông thôn, hoặc di cư tuần hoàn

Gần đây hơn, các lý thuyết kinh tế mới đã được mở rộng bao gồm chi phí giao dịch, thông tin không hoàn hảo cũng như thị trường vốn không hoàn hảo ở nông thôn (Stark, 1991) được trình bày phần tiếp theo

2.2.5 Lý thuyết kinh tế mới của di cƣ lao động

Lý thuyết kinh tế mới của di cư lao động (New Economics of Labour Migration) đề cập đến đa dạng hóa các yếu tố làm cơ sở quyết định di cư và những ảnh hưởng có thể có của di cư Lý thuyết NELM (Stark và Bloom,1985) cho rằng các quyết định di cư của một cá nhân không phải là quyết định của bản thân người

di cư mà là một phần của chiến lược của hộ gia đình nhằm tăng thu nhập, tạo dựng quỹ đầu tư vào các hoạt động mới và nhằm hạn chế các rủi ro sản xuất và đảm bảo nguồn thu nhập Stark và Levhari (1982) cho rằng các quyết định của hộ gia đình

có thể đa dạng hóa các nguồn lực trong hộ chẳng hạn như lao động để giảm thiểu rủi ro thu nhập tốt hơn so với quyết định của từng cá nhân Các giả thuyết cơ bản trong lý thuyết này cho rằng các cá nhân, hộ gia đình không chỉ tối đa hóa thu nhập

mà còn giảm thiểu các rủi ro như trên thị trường lao động và thị trường vốn không hoàn hảo ở nơi muốn đến và nơi cư trú Di cư trong nước và quốc tế được coi là giải pháp của hộ gia đình nhằm đáp ứng với rủi ro trong thu nhập, tiền gửi từ người

di cư như là một bảo hiểm thu nhập cho hộ gia đình

2.3 Một số lý thuyết liên quan đến mối quan hệ giữa di lao động với

Trang 23

người ở lại

Lý thuyết kinh tế mới của di cư lao động (New Economics of Labour Migration) đề cập đến đa dạng hóa các yếu tố làm cơ sở quyết định di cư và những ảnh hưởng có thể có của di cư Lý thuyết NELM (Stark và Bloom, 1985) cho rằng quyết định di cư thường không được thực hiện bởi những cá nhân độc lập mà do các đơn vị lớn hơn có liên quan, thường gia đình hay tập thể, chia sẻ cả chi phí rủi

ro cũng như thành quả của quá trình đó

Kinh tế mới của di cư lao động (NELM giả thuyết cho rằng do thất bại thị trường (ví dụ như một hệ thống bảo trợ xã hội kém phát triển, chính sách bảo hiểm của nhà nước và tổ chức chưa hiệu quả), một thành viên hộ gia đình di chuyển đến một thị trường lao động khác được xem như là chiến lược của hộ gia đình để giảm thiểu rủi ro, đa dạng hóa sinh kế, tăng thu nhập và đồng thời còn là chiến lược để tận dụng hết nguồn lực của hộ gia đình Do đó, trong khuôn khổ lý thuyết này, cũng mong đợi rằng NCT ở lại sẽ được hưởng lợi trực tiếp từ sự di cư của một thành viên trong gia đình, có thể làm cho cuộc sống của họ tốt hơn khi con cái gửi tiền về cho gia đình

2.4 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm liên quan

Có nhiều nghiên cứu trước đây cung cấp lý thuyết, quan điểm về mối quan

hệ giữa di cư và cuộc sống của người ở lại, tuy nhiên các nghiên cứu này lại cho thấy một mối quan hệ phức tạp giữa di cư và hạnh phúc của NCT

Trong nghiên cứu khác của Tobias Stohr (2013) cho rằng di cư của con cái tác động tiêu cực đến cha mẹ, NCT ở lại thiếu sự chăm sóc của con cái và họ làm việc để đối mặt với các vấn đề sinh kế và sức khỏe Nghiên cứu của Tổ chức di cư quốc tế (IOM) cho thấy họ phải thay thế con cái của họ để chăm sóc và giám hộ các cháu nếu con của họ đi làm xa Điều này có thể được giải thích rằng khi một thành viên hộ gia đình rời khỏi nhà, các nhiệm vụ bên trong gia đình và trách nhiệm của mỗi thành viên còn lại có thể thay đổi

Ngoài ra, các nghiên cứu khác gần đây cũng cho thấy có mối quan hệ tiêu

Trang 24

cực giữa di cư lao động và cuộc sống của người ở lại Ví dụ, từ nghiên cứu của Qin, M và cộng sự (2008) cho thấy khi tăng một di cư lao động sẽ làm tăng gấp đôi khả năng NCT ở lại trong hộ sống cô độc

Tuy nhiên, di cư cũng có thể tạo ra những tác động tích cực cho NCT ở lại

Di cư là chiến lược giảm thiểu những rủi ro về cuộc sống cho hộ gia đình (Espinosa, 1977) Hộ gia đình có người di cư kỳ vọng về những khoản tiền gửi từ những người di cư sẽ giúp gia đình trải qua những cú sốc và trang trải cuộc sống, đặc biệt là lúc kinh tế của họ hay địa phương gặp k hó khăn (Taylor, 1999) Yang (2008) cho rằng tiền gửi về từ di cư cao hơn dẫn đến các hộ gia đình có nhiều khả năng tham gia vào các hoạt động kinh doanh và dành nhiều thời gian hơn để tự tạo việc làm Đồng thời, Amuedo-Dorantes và Pozo (2006a) cũng cho thấy việc nhận tiền chuyển về làm giảm nguồn cung cấp lao động nữ ở Mexico, và thay đổi cung ứng lao động nam từ chính thức để làm việc không chính thức

Trang 25

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan được trình bày trên, trong chương này tác giả sẽ tiến hành xây dựng khung phân tích, đưa ra các giả thuyết nghiên cứu, lựa chọn mô hình kinh tế lượng cho phân tích, xác định phạm vi, dữ liệu cũng như phương pháp để tiến hành kiểm định các giả thuyết đặt ra

3.1 Khung phân tích

Hạnh phúc là một khái niệm rộng, khá trừu tượng, nó phụ thuộc vào cảm nhận của từng người trong những bối cảnh cụ thể Trong giới hạn của nghiên cứu chỉ xem xét dựa trên cơ sở hạnh phúc chủ quan, được nghiên cứu dưới góc độ sự hài lòng với cuộc sống hiện tại

Từ khung lý thuyết của nghiên cứu WVS và mục đích nghiên cứu, bài nghiên cứu này sẽ đưa ra một khung lý thuyết đánh giá tác động của di cư lên hạnh phúc của người cao tuổi ở lại dựa trên bản chất của các tác động của di cư sẽ ảnh hưởng đáng kể bởi các loại hình di cư trong ngắn hạn và dài hạn, cũng như của cá nhân, hộ gia đình và đặc điểm của xã hội

Nhóm yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân: tuổi tác, giới tính, sức

khỏe, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tình trạng việc làm, tôn giáo, thu nhập, các yếu tố thuộc vốn xã hội như niềm tin, mối quan hệ bạn bè

Tuổi: Được xem là biến đại diện cho hạnh phúc của cá nhân, khi cá nhân

lớn tuổi với điều kiện ít ốm đau thì cá nhân cảm thấy hạnh phúc hơn (Blanchflower

và Oswald (2004a) Tuổi cũng đồng thời được xem là những yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến hạnh phúc con người trong ―Bát khổ‖ của triết lý Phật giáo

Giới tính: Kết quả nghiên cứu của (Roysamb et al, 2002) và (Alesina, Di

Tella, & MacCulloch, 2004) tìm thấy rằng phụ nữ hạnh phúc hơn so với nam giới Theo truyền thống lịch sử văn hóa Á Đông thì nữ giới thường an phận hơn nam giới nên phụ nữ có thể cảm thấy hạnh phúc hơn đàn ông khi tình hình kinh tế

xã hội có những biến động xấu

Trang 26

Sức khỏe: Sức khỏe có tác động tích cực đến hạnh phúc Theo nghiên cứu

của (Becchetti Rossetti, 2009), yếu tố sức khỏe kém là nguyên nhân chính làm giảm hạnh phúc của người dân cho dù thu nhập có tăng thì mức tăng đó không thể giúp họ đạt được chỉ số hạnh phúc lớn hơn

Thu nhập: Thu nhập và hạnh phúc có mối quan hệ phức tạp Diener (1980)

kết luận rằng sẽ không đúng nếu nói tiền không liên quan tới hạnh phúc nhưng tỷ lệ hài lòng với cuộc sống của người giàu thường cao hơn nhiều với người nghèo

Trình độ học vấn: Giáo dục có tác động tích cực đến hạnh phúc

(Blanchflower & Oswald, 2004a và Campbell, 1981) Graham and Pettinato (2001) cũng nhận thấy rằng số năm được đi học có tác động tích cực đến hạnh phúc con người ở Châu Mỹ La Tinh

Tình trạng hôn nhân cũng là biến ảnh hưởng đến hạnh phúc Glenn và

Weaver (1979) cho rằng hôn nhân có lẽ là công cụ dự báo mạnh nhất của hạnh phúc

Tình trạng việc làm: Thất nghiệp có ảnh hưởng tiêu cực đến hạnh phúc

Lelkes (2006) chỉ ra rằng mất việc làm là yếu tố gây ảnh hưởng tiêu cực và lâu dài đến sự hài lòng đối với cuộc sống con người

Tôn giáo: Con người có niềm tin vào tôn giáo thường cảm thấy an phận, hài

lòng, giúp con người vượt qua những mất mát và chấp nhận với cuộc sống hiện tại của mình (Clark Lelkes, 2005)

Vốn xã hội: Bao gồm niềm tin, sự hợp tác, thể chế chính thức và phi chính

thức Helliwell và Putnam (2004) cho rằng cá nhân có vốn xã hội tốt sẽ hạnh phúc hơn trong cuộc sống

Nhóm yếu tố liên quan đến đặc điểm hộ như tài sản của hộ và các cú sốc

gặp phải

Tài sản của hộ: ―Tài sản của các hộ gia đình càng tăng lên, mức độ hài lòng

về cuộc sống cũng như mức độ hạnh phúc cũng sẽ tăng lên và nỗi lo lắng sẽ giảm bớt‖, ONS nhận định trong báo cáo mới được công bố Nghiên cứu của ONS cho thấy tài sản cá nhân tăng lên không có nhiều ảnh hưởng đến hạnh phúc Thay vào

Trang 27

Yếu tố trung gian

Tuổi  Giới tính  Sức khỏe  Thu nhập  Hôn nhân  Học vấn

 Tôn giáo

 Vốn xã hội  Tính chất công việc  Mức độ về thăm gia đình  Gửi tiền về cho gia đình

 Tài sản của hộ  Cú sốc gặp phải

 Sức khỏe  Công việc  Thu nhập  Gia đình  Nơi ở

Đặc điểm của NDC

Đặc điểm

đó, mức thu nhập của cả hộ gia đình có mối liên hệ mạnh hơn

Các cú sốc gặp phải: Andrew Oswald (2001) cho rằng cú sốc gặp phải ảnh

hưởng đến hạnh phúc Kết quả của một nghiên cứu Andrew Oswald (2001) khi nghiên cứu một nhóm người trúng xổ số từ 2.000 đến 250.000 USD là mức độ hài lòng với cuộc sống của nhóm người này tăng lên so với hai năm trước khi họ trúng

số Một nghiên cứu khác của Landau, Beit-Hallahmi và Levy (1998) về sự hài lòng của cuộc sống ở Israel trong giai đoạn 1967-1979, trong thời gian có nhiều cuộc chiến tranh, bao gồm cả cuộc chiến tranh với Ai Cập vào tháng 10 năm 1973, ngoài

ra còn có rất nhiều cuộc tấn công khủng bố Kết quả là, chiến tranh, cũng như các cuộc tấn công, làm tăng đáng kể mức độ của sự lo lắng và sợ hãi của người dân

Hình 3.1 Khung phân tích tác động của di cư đến hạnh phúc NCT ở lại.Đặc điểm N

HẠNH PHÚC NGƯỜI CAO TUỔI Ở LẠI

Trang 28

3.2 Giả thuyết nghiên cứu

Theo lý thuyết của WVS và các nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá tác động của di cư đến hạnh phúc của người cao tuổi ở lại, bài viết này dựa vào nghiên cứu của UNICEF về đánh giá tác động của di cư đến hạnh phúc của người

ở lại tại Ecuador vào năm 2006 và các nghiên cứu của Tobias Stohr (2013), Qin,

M và cộng sự (2008) và trong trường hợp xem xét tác động của tiền chuyển về của NDC đối với người ở lại theo nghiên cứu của Espinosa (1977), Taylor (1999)

để đưa ra giả thiết nghiên cứu ban đầu cho bài nghiên cứu này.Với giả thiết ban đầu rằng: Di cư lao động tác động tiêu cực hạnh phúc của NCT ở lại, hay nói cách khác sự vắng mặt của con cái làm giảm hạnh phúc của cha mẹ ở lại cộng đồng nguồn Tuy nhiên, tiền chuyển về của NDC có ảnh hưởng làm tăng khả năng tài chính, góp phần giảm thiểu những rủi ro mà NCT gặp phải

Các yếu tố tác động đến hạnh phúc NCT ở lại mà tác giả đã tổng hợp được

từ các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan cũng như thông qua nghiên cứu định tính bằng cách phỏng vấn chuyên gia Đồng thời, trên cơ sở điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế- xã hội của địa bàn nghiên cứu; thực trạng di cư của Thị

xã trong thời gian qua, tác giả đề xuất và đưa ra các giả thuyết tác động đến hạnh phúc NCT ở lại như sau:

Bảng 3.1: Dấu kỳ vọng của các biến độc lập trong mô hình Tên biến Mô tả biến

Dấu

kỳ vọng

Cú sốc Các cú sốc về kinh tế, sức khỏe, thiên tai, dịch

bệnh Biến giả, nhận giá trị 1 nếu có, 0 nếu không

Trang 29

NCT

ở lại

người được khảo sát về sức khỏe của mình với thang đo từ 0 (rất không hài lòng) đến 10 (rất rất hài lòng)

Hôn nhân Tình trạng hôn nhân của NCT, biến giả, nhận giá

trị 1 nếu đầy đủ vợ chồng, 0 nếu trường hợp khác

+

Việc làm Việc làm của NCT ở lại Biến giả, nhận giá trị 1

nếu có việc làm, 0 cho các trường hợp khác

-

Thu nhập Nguồn thu nhập do NCT tạo ra + Học vấn Trình độ học vấn của NCT ở lại +

Tôn giáo Biến giả, nhận giá trị 1 nếu có tham gia tổ chức

tôn giáo, 0 nếu trường hợp khác

+

Vốn XH

Mạng lưới các tổ chức, đoàn, hội mà hộ dân tham gia Số lượng hàng xóm bạn thân, mối quan hệ của hộ với chính quyền, đoàn thể tại địa phương Niềm tin, mức độ hợp tác giữa các hộ dân trong thị xã

Giới tính Biến giả, nhận giá trị 1 nếu là nam, 0 nếu là nữ +

Hôn nhân Tình trạng hôn nhân của NCT, biến giả, nhận giá

trị 1 nếu đầy đủ vợ chồng, 0 nếu trường hợp khác

+

Tính chất CV Việc làm ổn định hay không Biến giả, nhận giá

trị là 1 nếu ổn định, là 0 nếu không ổn định

Trang 30

3.3 Mô hình kinh tế lƣợng

Với mục tiêu nghiên cứu là kiểm tra ảnh hưởng của di cư của người thân trong gia đình đến hạnh phúc của người cao tuổi ở lại Do đó bài nghiên cứu này lập một mô hình định lượng dựa trên các lý thuyết về mối quan hệ giữa di cư lao động và hạnh phúc người cao tuổi ở lại và các nghiên cứu liên quan đã nêu ở chương 2 để đo lường tác động của di cư lao động đến hạnh phúc người cao tuổi ở lại trong hộ gia đình

Như đã trình bày ở trên, trong giới hạn của nghiên cứu này biến ―biến hạnh

phúc của người cao tuổi ở lại‖ được do lường dựa trên cơ sở hạnh phúc chủ quan,

dưới góc độ sự hài lòng với cuộc sống hiện tại Giá trị của biến hạnh phúc này là giá trị rời rạc (biến nhị phân)

Nếu biến nhị phân là biến giải thích (biến độc lập) thì nó được gọi là biến giả, nếu biến phụ thuộc là biến nhị phân rời rạc (không liên tục) thì vấn đề đặt ra là sao để ước tính độ tương quan của các yếu tố (xác suất/ khả năng) và đối tượng phân tích Các phương pháp phân tích như hồi qui tuyến tích không áp dụng được

vì biến phụ thuộc không phải là biến liên tục mà là biến nhị phân Để có cơ sở cho việc lựa chọn mô hình ước lượng phù hợp tác giả sẽ trình bày ưu, nhược điểm của các mô hình phân tích cho biến phụ thuộc là biến nhị phân

3.3.1 Một số mô hình phân tích cho biến phụ thuộc là biến nhị phân:

 Mô hình xác suất tuyến tính (LPM)

Mô hình LPM được gọi là mô hình xác suất tuyến tính, mô hình này được ước lượng bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) Tuy nhiên mô hình LPM có khá nhiều nhược điểm như:

 Giá trị của biến phụ thuộc (Y) 0 ≤ Y ≤ 1

 Xác suất có thể nhỏ hơn 0 hoặc lớn hơn 1

 Hệ số gốc không thay đổi không giải thích hợp lý tác động của biến độc lập lên biết phụ thuộc ở các giá trị khác nhau

 Giả định sai số có phân phối chuẩn rất khó xảy ra

Trang 31

 Phương sai, sai số thay đổi nên ước tính phương sai mẫu không chính xác: Se( ̂ ) không chính xác nên không thực hiện được các kiểm định

 Mô hình Logit

Mục tiêu của hồi qui Logistic là nghiên cứu mối tương quan giữa một (hay nhiều) yếu tố khả năng/ nguy cơ và đối tượng phân tích Trong hồi qui logistic thì các đối tượng nghiên cứu thường được thể hiện qua biến số nhị phân còn các yếu tố giải thích thể hiện qua các biến số liên tục hoặc các biến nhị phân hay các biến thứ

bậc

Nếu như trong mô hình LPM giả định các biến độc lập có quan hệ tuyến tính với biến phụ thuộc thì mô hình Logit chỉ cần Li (logit) quan hệ tuyến tính với biến độc lập (Pi và quan hệ phi tuyến) Bên cạnh đó mô hình Logit còn khắc phục được hạn chế của mô hình LPM ở hệ số gốc, Logit = ln ( ) = β + các β thay đổi theo giá trị của

Ngày nay cùng với sự phát triển của thiết bị phần cứng máy tính thì các phần mềm hỗ trợ tính toán cũng hoàn thiện hơn nên trong nghiên cứu người ta hay dùng

mô hình Probit để phân tích cho trường hợp biết phụ thuộc là biến nhị phân

3.3.2 Mô hình Probit trong phân tích di cƣ tác động đến hạnh phúc của NCT ở lại

Mô hình kinh tế lượng tổng quát được trình bày dưới dạng phương trình kinh tế lượng như sau:

Trang 32

H i = + *F i + *P i + *M i +µ i (1)

Trong đó:

H i là các biến phụ thuộc đo lường hạnh phúc của người cao tuổi ở lại trong từng hộ gia đình, đại diện bằng câu hỏi người cao tuổi ở lại (đối tượng được khảo sát) trong hộ gia đình có thành viên di cư hoặc không có thành viên di cư có hạnh phúc với cuộc sống hiện tại không?

F i là các biến kiểm soát bao gồm các biến về đặc điểm hộ gia đình như: tài sản của hộ gia đình, các cú sốc gia đình gặp phải

P i là các biến kiểm soát bao gồm các biến về đặc điểm cá nhân của người cao tuổi ở lạivà đặc điểm của thành viên di cư bao gồm: tuổi, giới tính, sức khỏe, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, tình trạng việc làm, vốn xã hội, tôn giáo

M i là biến giả về di cư, hộ hiện có thành viên đi di cư lao động không?

Các phương pháp ước lượng cho mô hình

Phương pháp phổ biến dùng để ước lượng của mô hình Probit hay Logit là phương pháp Maximum Likelihood Estimation (MLE) Tuy nhiên theo như các nghiên cứu thực nghiệm trước đây của Hanson và Woodruff năm 2003, Acosta năm

2006, McKenzie.D và H Rapoport năm 2006 về vấn đề di cư thường xảy ra hiện tượng nội sinh Biến nội sinh xuất hiện khi giả thiết không có sự tương quan giữa biến độc lập và sai số bị vi phạm Biến độc lập bị nội sinh có khả năng gây ra ước lượng bị chệch và không vững

Có nhiều phương pháp để khắc phục hiện tượng nội sinh, trong nghiên cứu tùy từng dữ liệu, phạm vi, đối tượng và đặc điểm của nghiên cứu mà người ta sử dụng các phương pháp khác nhau Trong trường hợp của tác giả biến di cư (là biến giả), nó thể hiện có hay không tác động đến hạnh phúc của người cao tuổi ở lại cũng giống như việc đánh giá tác động của một dự án/chương trình nào đó theo khía cạnh không gian Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá tác động loại trừ được hiện tượng nội sinh, mỗi một phương pháp này đều có những giả định riêng cũng như ưu và nhược điểm riêng, cụ thể các phương pháp đó là:

Trang 33

 Phương pháp biến công cụ (IV)

 Phương pháp so sánh điểm xu hướng (PSM)

 Phương pháp sai biệt kép (DID)

 Thiết kế gián đoạn hồi quy (RD) và phương pháp tuần tự

 Tác động phân bổ

 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

 Các phương thức cấu trúc và mô hình khác

Theo như tìm hiểu của tác giả thì 3 phương pháp được áp dụng nhiều nhất là phương pháp biến công cụ (IV); Phương pháp sai biệt kép (DID) và Phương pháp

so sánh xu hướng điểm (PSM)

Đối với phương pháp dùng biến công cụ để xử lý hiện tượng nội sinh được các tác giả nghiên cứu về vấn đề di cư sử dụng thì họ thường dùng biến mạng di cư làm biến công cụ Các tác giả này cho rằng mạng lưới di cư sẽ cung cấp thông tin làm tăng cơ hội tìm việc và hạ thấp chi phí tìm kiếm việc làm cũng như giảm thời gian tìm kiếm việc làm cho những người di cư lao động tiềm năng Trong trường hợp nghiên cứu của tác giả, dữ liệu thu thập là dữ liệu sơ cấp nên tác giả không có

dữ liệu về mạng di cư Nếu những biến công cụ kém chất lượng được lựa chọn có thể làm tăng sai số thậm chí còn cao hơn cả tính toán bằng bình phương thường nhỏ nhất (OLS) nếu những công cụ đó có liên hệ với những đặc trưng không quan sát hay biến bị bỏ sót có ảnh hưởng đến kết quả

Ưu điểm của phương pháp DID là cho phép tồn tại tính không đồng nhất không được quan sát, phương pháp DID giả định rằng tính không đồng nhất không được quan sát này không đổi theo thời gian, đồng thời DID cũng cung cấp một phương pháp trực giác, dễ sử dụng để tính toán việc lựa chọn các đặc tính không được quan sát Tuy nhiên ưu điểm cũng chính là nhược điểm của phương pháp DID

đó là giả định tính không đồng nhất không đổi theo thời gian, trong thực tế giả định này dễ bị vi phạm Bên cạnh đó yêu cầu cơ bản của phương pháp này là cả hai đợt khảo sát phải được thực hiện đối với cùng đối tượng tham gia để tạo ra sự tương đồng trong so sánh Phương pháp DID phù hợp hơn đối với dữ liệu thời gian

Trang 34

Dữ liệu sơ cấp mà tác giả khảo sát được là dữ liệu chéo thu thập tại một thời điểm trên nhiều đối tượng khác nhau vì thế việc so sánh theo không gian bằng phương pháp PSM trở nên khả thi hơn so với so sánh theo thời gian như phương pháp DID

 Phương pháp ước lượng PSM

PSM là phương pháp mà ở đó nó tạo ra 2 nhóm: nhóm can thiệp và nhóm đối chứng (trong trường hợp của tác giả là nhóm những hộ có thành viên di cư và nhóm những hộ không có thành viên di cư) tương đồng nhau dựa vào giá trị xác suất của mỗi cá thể mà giá trị xác suất này được xác định từ các giá trị về đặc điểm của các

cá thể ở 2 nhóm trước khi xác định hiệu quả tác động (Rosenbaum Rubin, 1983)

Để ứng dụng phương pháp PSM trong ước lượng một cách có hiệu quả thì cần các điều kiện sau: Cần phải có nhóm can thiệp và nhóm đối chứng (nhóm hộ có thành viên di cư và nhóm hộ không có thành viên di cư) để so sánh; Cỡ mẫu đủ lớn; Giữa 2 nhóm phải có khoảng giá trị xác suất chung nhau (vùng hỗ trợ chung)

Hình 3.2: Minh họa vùng hỗ trợ chung (Nguồn: Shahidur R Khandker,

Trang 35

Gayatri B Koolwal and Hussain A Samad, 2010) Các đối tượng tham gia và không tham gia sẽ có được cùng những khuyến khích về kinh tế để từ đó đưa ra quyết định  cùng một khu vực địa lý

Các bước cơ bản trong ước lượng PSM cho trường hợp của tác giả như sau:

Mô hình Probit ước lượng bằng phương pháp điểm xu hướng được sử dụng

có dạng:

M i = + *F i + *P i + i (2)

Trong đó:

Mi là biến di cư, nhận giá trị là 1 nếu hộ có thành viên di cư, giá trị là 0 nếu

hộ không có thành viên di cư

F i là các biến kiểm soát bao gồm các biến về đặc điểm hộ gia đình như: tài sản của hộ gia đình và các cú sốc hộ gia đình gặp phải

P i là các biến kiểm soát bao gồm các biến về đặc điểm cá nhân của người cao tuổi ở lại và đặc điểm của thành viên di cư bao gồm: tuổi, giới tính, sức khỏe, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, tình trạng việc làm, vốn xã hội, tôn giáo

Trang 36

và 1 đối với hộ có thành viên di cư lao động

• Các biến độc lập là những nhân tố có thể ảnh hưởng đến khả năng di cư của cả hai nhóm

di cư lao động

Trang 37

Một số cách chọn đối tượng so sánh trong phương pháp PSM

 So sánh cận gần nhất (Nearest Neighbor matching)

 So sánh trong phạm vi hay bán kính (Caliper or radius matching)

 So sánh phân tầng hay từng khoảng (Stratification or interval matching)

 Một số cách khác

Phương pháp so sánh cận gần nhất được sử dụng phổ biến nhất, trong đó mỗi

hộ có thành viên di cư được so sánh với với các hộ không có thành viên di cư mà có điểm xu hướng gần nhất Ta cũng có thể chọn n hộ gần nhất để thực hiện so sánh (n=5 thường được sử dụng) So sánh có lặp lại - nghĩa là cùng một hộ không có thành viên di cư tương tự được so sánh với các hộ có thành viên di cư khác nhau

3.4 Dữ liệu nghiên cứu

Thu thập dữ liệu sơ cấp bằng cách phỏng vấn trực tiếp NCT Các đối tượng NCT tham gia phỏng vấn với kỳ vọng đa dạng về độ tuổi, giới tính, tình trạng hộ gia đình và đặc điểm của NDC lao động trong hộ về trình độ, giới tính

Được sự hỗ trợ của địa phương, tác giả liên hệ với lãnh đạo Thị xã An Nhơn để thu thập dữ liệu thứ cấp về tình trạng di cư lao động của Thị xã cũng như được cung cấp danh sách và số lượng cụ thể NCT của Thị xã Sau đó tiến hành rà soát nhằm chọn lọc NCT được hỏi đảm bảo phù hợp với yêu cầu của nghiên cứu

Phỏng vấn thử được tiến hành trước khi phỏng vấn chính thức Phỏng vấn thủ được tiến hành trên 10 đối tượng người cao tuổi, sau đó nội dung được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện thực tế

Trong quá trình phỏng vấn, người nghiên cứu cũng quan sát thái độ, cảm nhận của NCT được hỏi để hiểu sâu về thông tin mà họ cung cấp

Tiến hành phỏng vấn, thu thập thông tin được 238 NCT, đảm bảo tính ngẫu nhiên về các yếu tố tuổi, giới tính, tình trạng gia đình và số lượng di cư lao động trong hộ

Trang 38

3.5 Quy trình nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Mô hình nghiên sơ

Bảng câu hỏi thử nghiệm

Thảo luận

& PV thử

Bảng câu hỏi chính thức

Hoàn thiện

Thu thập thông tin

Làm sạch dữ liệu

Chỉnh sửa

Mô hình nghiên cứu chính thức

Nghiên cứu chính thức

Trên cơ sở nghiên cứu sơ bộ sẽ tiến hành thiết kế cho nghiên cứu định lượng, nghiên cứu định lượng sẽ thực hiện thông qua các bước như trên

Trang 39

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Dựa vào những kết quả từ cuộc khảo sát để tìm hiểu thực trạng hạnh phúc của NCT còn ở lại Các nội dung phân tích gồm đặc điểm đối tượng của mẫu khảo sát và những phân tích về đặc điểm của người di cư tác động đến hạnh phúc của NCT còn ở lại

4.1.Tổng quan di cư ở Việt Nam

Số người di cư trong 12 tháng trước

1/4/2013

Số người nhập cư từ các vùng khác

Số người xuất cư đi các vùng khác

Số người

di cư thuần

Trang 40

cư chủ yếu, trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương, nơi tập trung nhiều khu công nghệp, cơ hội việc làm, có sức hút lớn đối với người di cư Ngược lại, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long là nơi xuất cư chủ yếu

4.1.2 Di cư giữa các tỉnh

Xét theo di cư giữa các tỉnh thành, báo cáo Biến động dân số Kế hoạch hóa gia đình 1/4/2013, tỷ lệ dân số nhập cư trong tổng dân số ở các tỉnh khác nhau Các tỉnh có tỷ suất di cư thuần âm cao nhất là Bạc Liêu (-14 người/1000 dân), tiếp đến là Cà Mau, An Giang và Quảng Bình Điều tra năm 2012 có 2 tỉnh

có tỷ suất di cư thuần bằng 0 (Quảng Bình và Tây Ninh) thì theo kết quả điều tra năm 2013, hai tỉnh này có lượng người di cư thuần rất nhỏ (-8 và -3 người/1000 dân) Ngược lại, một số tỉnh có di cư thuần dương cao nhất là Bình Dương (35 người/1000 dân), tuy nhiên tỷ suất di cư thuần của Bình Dương đã giảm đi tương đối lớn so với năm 2012 (14,4 điểm phần nghìn), từ 48,9 o/oo năm 2012 xuống 34,5 o/oo năm 2013 Có tỷ suất di cư thuần cao, hầu hết là các tỉnh tập trung ngành công nghiệp thâm dụng lao động cao Tiếp theo là Bắc Ninh (14 người/1000 dân)

và Đăk Nông (12 người/dân)

4.1.3 Di cư giữa nông thôn- thành thị

Bảng 4.2: Nơi thực tế thường trú tại thời điểm 1/4/2012 và 1/4/2013 chia

theo thành thị/nông thôn Nơi thực tế

Tổng

số

Thành thị

Nông thôn

Ngày đăng: 13/03/2017, 23:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w