Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Các nhân tố bên trong của công ty kiểm toán tác động đến chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập tại thành phố Hồ Chí Minh” là kết quả của quá trình nghiên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG VĨNH THẮNG
CÁC NHÂN TỐ BÊN TRONG CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KIỂM TOÁN ĐỘC
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tên đề tài: “Các nhân tố bên trong của công ty kiểm toán tác động đến chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập tại thành phố Hồ Chí Minh”
- Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Hà Xuân Thạch
- Tên học viên: Trương Vĩnh Thắng
- Địa chỉ liên lạc: Phan Thiết, Bình Thuận
- Email liên lạc: thangtruong.hutech@gmail.com
- Ngày nộp luận văn: … /… /…
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Các nhân tố bên trong của công ty kiểm toán tác động đến chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập tại thành phố Hồ Chí Minh” là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc
không sao chép của bất kì tác giả nào khác Số liệu và thông tin trong đề tài đều trung thực và được sử dụng từ các nguồn đáng tin cậy Tài liệu tham khảo trong
đề tài được ghi nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng Nếu có bất kỳ một sự vi phạm nào, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng… năm 2015
Học viên thực hiện
Trương Vĩnh Thắng
Trang 3MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 4
5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 4
6 Đóng góp của luận văn 5
7 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6
1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài 6
1.1.1 Nhóm nghiên cứu về chất lượng dịch vụ KTĐL 6
1.1.2 Nhóm nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL 7
1.1.3 Nhận xét chung về các nghiên bố công bố ở nước ngoài 12
1.2 Các nghiên cứu công bố trong nước 12
1.2.1 Nhóm nghiên cứu về chất lượng dịch vụ KTĐL 12
1.2.2 Nhóm nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL 13
1.2.3 Nhận xét chung về các nghiên bố công bố trong nước 16
1.3 Khe hổng nghiên cứu 16
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 16
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 17
Trang 42.1 Khái niệm chất lượng kiểm toán độc lập 17
2.2.1 Chất lượng dịch vụ KTĐL theo quan điểm thỏa mãn đối tượng sử dụng dịch vụ 18
2.2.2 Chất lượng dịch vụ KTĐL theo quan điểm phát hiện và báo cáo sai sót trọng yếu trong BCTC 20
2.2 Các nhân tố bên trong của CTKT ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL 21
2.2.1 Ảnh hưởng của Quy mô đến chất lượng dịch vụ KTĐL (Firms’ Size) 21
2.2.2 Ảnh hưởng của Phí dịch vụ kiểm toán đến chất lượng dịch vụ KTĐL (Audit Fees) 22
2.2.3 Ảnh hưởng của Phí dịch vụ kiểm toán bất thường đến chất lượng dịch vụ KTĐL (Abnormal Audit Fees) 23
2.2.4 Ảnh hưởng của Phạm vi dịch vụ phi kiểm toán đến chất lượng dịch vụ KTĐL (Non-audit Services) 24
2.2.5 Ảnh hưởng của Phí dịch vụ phi kiểm toán đến chất lượng dịch vụ KTĐL (Non-Audit Fees) 26
2.2.6 Ảnh hưởng Nhiệm kỳ kiểm toán đến chất lượng dịch vụ KTĐL (Audit Tenure) 26
2.2.7 Ảnh hưởng của Mức độ am hiểu lĩnh vực kinh doanh của khách hàng đến chất lượng KTĐL (Industry Expertise) 29
2.2.8 Ảnh hưởng của Hệ thống KSCL bên trong đến chất lượng dịch vụ KTĐL (Quality Control) 29
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 30
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Quy trình nghiên cứu chung 32
3.2 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 33
3.2.1 Mô hình nghiên cứu 33
3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 36
3.3 Phương pháp nghiên cứu 38
3.3.1 Đối tượng khảo sát 38
Trang 53.3.2 Thiết kế thang đo 38
3.3.3 Xây dựng bảng câu hỏi 47
3.3.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 49
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 49
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 52
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 53
4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 53
4.1.1 Thống kê mô tả đặc điểm mẫu 53
4.1.2 Thống kê mô tả thang đo 53
4.2 Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha 54
4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 58
4.4 Phân tích hồi quy tuyến tính bội 60
4.4.1 Phân tích tương quan Pearson 60
4.4.2 Phân tích hồi quy bội 61
4.4.3 Kết quả nghiên cứu định lượng và bàn luận 64
4.4.4 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 68
4.4.5 Dò tìm sự vi phạm các giả định cần thiết trong phân tích hồi quy tuyến tính 70
4.5 Phân tích ảnh hưởng các đặc điểm của đối tượng khảo sát đến chất lượng dịch vụ KTĐL 72
4.5.1 Phân tích ảnh hưởng thông qua Giới tính đối tượng được khảo sát (Nam – Nữ) 72
4.5.2 Phân tích ảnh hưởng thông qua Danh tiếng công ty được khảo sát (Big 4 – Non-Big 4) 73
4.5.3 Phân tích ảnh hưởng thông qua Chức vụ của đối tượng khảo sát 73
4.5.4 Phân tích ảnh hưởng thông qua Thời gian công tác của đối tượng khảo sát 74
4.5.6 Phân tích ảnh hưởng thông qua Chứng chỉ hành nghề của đối tượng được khảo sát 74
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 75
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
Trang 65.1 Kết luận 76
5.2 Các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ KTĐL 77
5.3 Giới hạn và hướng nghiên cứu tiếp theo 81
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 82
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
PHỤ LỤC 4
PHỤ LỤC 5
PHỤ LỤC 6
PHỤ LỤC 7
PHỤ LỤC 8
PHỤ LỤC 9
PHỤ LỤC 10
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Các chữ viết tắt có nguồn gốc tiếng Việt
Từ viết tắt Từ gốc
2 Các chữ viết tắt có nguồn gốc tiếng Anh
Từ viết tắt Từ gốc bằng tiếng Anh Từ gốc bằng tiếng Việt
DA Discretionary Accruals Các khoản dồn tích
ISA Intenational Standards on Auditing Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
VACPA Vietnam Association of Certified
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Thang đo chất lượng dịch vụ KTĐL 39
Bảng 3.2 Thang đo Quy mô CTKT 41
Bảng 3.3 Thang đo Phí dịch vụ kiểm toán 42
Bảng 3.4 Thang đo Phạm vi và phí dịch vụ phi kiểm toán 43
Bảng 3.5 Thang đo Nhiệm kỳ kiểm toán 44
Bảng 3.6 Thang đo Mức độ am hiểu lĩnh vực kinh doanh của khách hàng 45
Bảng 3.7 Thang đo Phương pháp kiểm toán 47
Bảng 3.8 Thang đo KSCL bên trong 46
Bảng 3.9 Bảng tổng hợp các biến đo lường chất lượng dịch vụ KTĐL 48
Bảng 4.1 Thống kê thông tin mẫu khảo sát 53
Bảng 4.2 Kết quả Cronbach’s alpha – Quy mô CTKT 54
Bảng 4.3 Kết quả Cronbach’s alpha – Phí dịch vụ kiểm toán 55
Bảng 4.4 Kết quả Cronbach’s alpha – Phạm vi và phí dịch vụ phi kiểm toán 55 Bảng 4.5 Kết quả Cronbach’s alpha – Nhiệm kỳ kiểm toán 56
Bảng 4.6 Kết quả Cronbach’s alpha – Mức độ am hiểu lĩnh vực kinh doanh của khách hàng 56
Bảng 4.7 Kết quả Cronbach’s alpha – Phương pháp kiểm toán 57
Bảng 4.8 Kết quả Cronbach’s alpha – Kiểm soát chất lượng bên trong 57
Bảng 4.9 Kết quả Cronbach’s alpha – Chất lượng kiểm toán 58
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định KMO và Barlett biến độc lập 59
Bảng 4.11 Kết quả kiểm định KMO và Barlett biến phụ thuộc 60
Bảng 4.12 Tóm tắt các hệ số về sự phù hợp của mô hình 62
Bảng 4.13 Tổng hợp các kết luận giả thuyết được đặt ra 70
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Hinh 3.1 Quy trình nghiên cứu 32
Hinh 3.2 Mô hình nghiên cứu các đặc điểm của CTKT ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL 36
Hình 4.1 Đồ thị phân tán Scatterplot 71
Hình 4.2 Biểu đồ Histogram 71
Hình 4.3 Đồ thị Q-Q plot của phần dư chuẩn hóa 71
Hình 5.1 Mô hình các đặc điểm bên trong của CTKT ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL 77
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động kiểm toán nói chung và KTĐL nói riêng từ khi thành lập vào năm 1991 với hai công ty kiểm toán đầu tiên1 và cho đến năm 2013, cả nước Việt Nam có khoảng 134 doanh nghiệp kiểm toán hoạt động với nhiều hình thức khác nhau Việc
ra đời của nghề nghiệp kiểm toán đóng góp rất nhiều trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trên cả nước và góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế quốc gia BCTC đã được kiểm toán bởi các KTV và CTKT là ý kiến đáng tin cậy về tình hình tài chính của các doanh nghiệp; từ đó thu hút sự tham gia của các nhà đầu
tư trong và ngoài nước Chính vì thế, các văn bản pháp luật2 quy định đối với nghề nghiệp kiểm toán cũng lần lượt ra đời nhằm tăng tính pháp lý, ràng buộc và định hướng CTKT hoạt động theo yêu cầu của pháp luật
Mặc dù đã có những văn bản pháp luật quy định về kiểm toán BCTC nhưng vẫn còn rất nhiều trường hợp CTKT và KTV vô tình hay cố ý làm sai Căn cứ vào kết quả kiểm tra tình hình hoạt động năm 2011 của 30 công ty kiểm toán được Hiệp hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) công bố cũng cho thấy còn nhiều tồn tại, hạn chế: từ chấp hành chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đến ký kết hợp đồng dịch
vụ và quản lý khách hàng, cũng như quy trình kiểm toán và hồ sơ làm việc Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến vi phạm trong BCTC của các doanh nghiệp đã không được CTKT phát hiện, kiến nghị và xử lý kịp thời Đơn cử như trường hợp công ty Dược Viễn Đông (DVD – sàn HSX), kinh doanh thua lỗ song báo cáo tài chính vẫn thể hiện kết quả ấn tượng, song cả cả hai công ty kiểm toán lớn
là là ACC và Ernst & Young đều không phát hiện ra, khiến cho hàng ngàn nhà đầu
tư ra quyết định sai lầm vì tin tưởng vào báo cáo đã được kiểm toán bởi CTKT3 Gần đây nhất năm 2012, Chủ tịch Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam đã ký quyết định xử lý kỷ luật khiển trách/cảnh cáo đối với 28 KTV thuộc 09 CTKT vì có những
1 Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công ty dịch vụ kế toán Việt Nam (ASC)
2 Luật 67/2011/QH12 về Luật Kiểm toán độc lập
Nghị định 105/2004/NĐ-CP về Kiểm toán độc lập
Thông tư 64/2004/TT-BTC về Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 105/2004/NĐ-CP
Quyết định 87/2005/QĐ-BTC về Chuẩn mực nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam
3 Nâng chất công ty kiểm toán <http://www.webketoan.vn/nang-chat-cong-ty-kiem-toan.html>
Trang 11sai phạm về chất lượng kiểm toán BCTC4 Thông qua các sự kiện này càng làm cho các nhà đầu tư, các cơ quan quản lý nhà nước như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước,
Bộ Tài chính, VACPA…lo ngại nhiều hơn về chất lượng dịch vụ kiểm toán BCTC các doanh nghiệp niêm yết, cũng như vai trò của các CTKT độc lập, nếu các BCTC
đã được kiểm toán trở nên không đáng tin cậy
Các KTV và CTKT độc lập với trách nhiệm xác minh độ tin cậy của các BCTC,
sẽ đưa ra ý kiến về BCTC đã được kiểm toán và cho rằng BCTC không còn chứa đựng các sai sót trọng yếu, hoặc nếu có thì chúng đều đã được phát hiện và báo cáo Thông qua khả năng đảm bảo này của KTV và CTKT, chất lượng cuộc kiểm toán được đánh giá đạt hoặc chưa đạt yêu cầu Tuy nhiên, chất lượng kiểm toán không dễ dàng đánh giá và nhận biết Các thước đo kết quả kiểm toán có thể cho biết chất lượng dịch vụ KTĐL nhưng lại không cho biết nhân tố nào giúp chất lượng dịch vụ KTĐL đạt chất lượng và quan trọng hơn là không cho biết cơ sở để nâng cao chất lượng dịch vụ KTĐL Do đó, thông qua việc hiểu rõ, nắm vững và kiểm soát được các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ KTĐL giúp nhà quản lý, CTKT xác định được phương hướng nâng cao chất lượng dịch vụ KTĐL nói riêng và đáp ứng yêu cầu của khách hàng kiểm toán nói chung
Cho đến nay, có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL Các nghiên cứu trước chia các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL thành nhóm nhân tố thuộc về KTV, nhóm nhân tố thuộc về CTKT và nhóm nhân tố bên ngoài Tại Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại, theo tìm hiểu của tác giả chỉ có một số nghiên cứu các đặc điểm, tính cách của KTV tác động đến chất lượng dịch vụ KTĐL tại Việt Nam và chưa có một nghiên cứu chính thức nào nghiên cứu các đặc điểm của CTKT tác động đến chất lượng dịch vụ KTĐL tại Việt Nam
Do vậy, với những lý do đã chỉ ra, đề tài “Các nhân tố bên trong của công ty kiểm toán tác động đến chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập tại thành phố Hồ Chí Minh”
phản ánh tính cấp thiết, góp phần làm sáng tỏ vấn đề đang được quan tâm, đồng thời
là cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp cần tập trung nhằm nâng cao chất lượng dịch
vụ kiểm toán tại các CTKT độc lập
4 9 công ty và 28 KTV - Hội viên bị khiển trách/cảnh cáo do vi phạm về chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính năm 2012 <http://www.vacpa.org.vn/Page/Detail.aspx?newid=3177>
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định các đặc điểm của CTKT ảnh hưởng đến
chất lượng dịch vụ KTĐL thông qua khảo sát các đối tượng đang công tác trong
ngành kiểm toán và đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng đặc điểm đến chất lượng
dịch vụ KTĐL ở thành phố Hồ Chí Minh; qua đó làm cơ sở đề xuất kiến nghị cần tập trung nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ KTĐL tại các CTKT ở thành phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu chi tiết
Thông qua việc xác định mục tiêu tổng quát, những mục tiêu cụ thể của nghiên cứu được chỉ ra như sau:
- Xác định các nhân tố bên trong của CTKT ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ
KTĐL trên thế giới và tại Việt Nam
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bên trong của CTKT tới chất lượng
dịch vụ KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh dựa trên kết quả khảo sát thực tế đối tượng khảo sát là các trợ lý kiểm toán, trưởng nhóm kiểm toán, chủ nhiệm kiểm toán và chủ phần hùn kiểm toán
- Đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ KTĐL tại thành phố Hồ
Chí Minh
3 Câu hỏi nghiên cứu
Nhằm hướng tới mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu được đưa ra như sau:
Câu hỏi số 1: Các nhân tố bên trong nào của CTKT ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh?
Câu hỏi số 2: Nhân tố nào có mức độ ảnh hưởng mạnh đến chất lượng dịch vụ KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh?
Câu hỏi số 3: Có đề xuất kiến nghị nào nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố bên trong của CTKT ảnh hưởng đến chất
lượng dịch vụ KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Trang 13Đối tượng khảo sát: Trợ lý kiểm toán, trưởng nhóm kiểm toán, chủ nhiệm kiểm
toán và chủ phần hùn đang công tác trong các CTKT tại thành phố Hồ Chí Minh
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài cần giải quyết hai vấn đề có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đó là:
(1) Xác định các nhân tố bên trong của CTKT tác động đến chất lượng dịch vụ KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh;
(2) Phân tích mức độ tác động của các nhân tố bên trong CTKT đến chất lượng dịch vụ KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm tìm ra nhân tố tác động mạnh nhất
để có các chính sách, kiến nghị, giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dịch
vụ KTĐL
Do vậy, tác giả sử dụng kết hợp cả hai phương pháp định tính và định lượng, trong
đó nghiên cứu định lượng đóng vai trò chủ đạo Các phương pháp thực hiện theo trình tự như sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích kết quả khảo sát chuyên gia và tổng hợp các nghiên cứu liên quan để thiết lập các biến thuộc về nhân tố bên trong của CTKT
Công cụ nghiên cứu
Công cụ nghiên cứu chính là các bài nghiên cứu liên quan và phiếu khảo sát chuyên gia để tìm hiểu và xác định những biến phù hợp hoặc chưa phù hợp tại thành phố Hồ Chí Minh
5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính phân tích các bảng khảo sát đối tượng thông qua bảng câu hỏi khảo sát trực tiếp và khảo sát thông qua công cụ khảo sát trực tuyến Google Docs
Trang 14Công cụ nghiên cứu
Dữ liệu được thu thập bằng phương pháp phát triển mầm thông qua khảo sát các đối tượng đang công tác tại CTKT và các đối tượng này giới thiệu những phần tử khác có cùng tính chất tham gia vào mẫu
Sau đó, tác giả sử dụng phương pháp phân tích thông kê để nhận dạng một số đặc điểm nhân khẩu học (giới tính, chức vụ, thời gian công tác…) của đối tượng khảo sát, tần số xuất hiện, trung bình, sai số các ý kiến đánh giá của đối tượng khảo sát Ngoài ra, do tính chất của dữ liệu nghiên cứu là chưa có sẵn, nên tác giả thực hiện các phương pháp thống kê suy diễn thông qua hệ số tin cậy thang đo Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA nhằm loại bỏ các biến rác, rút gọn các biến thành một tập biến quan sát có ý nghĩa về mặt thống kê (Nguyễn Đình Thọ, 2012, trang 156)5 Cuối cùng, tác giả tiến hành phân tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy bội để xác định mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập lên biến phụ thuộc
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn bổ sung vào công trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL thông qua việc tìm hiểu các nhân tố bên trong của CTKT
Tác giả đã hình thành cơ sở lý thuyết về kiểm toán, chất lượng dịch vụ KTĐL, đánh giá về chất lượng dịch vụ KTĐL dưới các góc nhìn khác nhau, cũng như tổng hợp các nhân tố bên trong của CTKT ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán trên thế giới và Việt Nam
Kết quả nghiên cứu được đánh giá một cách khách quan dựa trên kết quả từ các bảng khảo sát gửi về cho phép tác giả phân tích và đánh giá trung thực tác động của các biến ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh
7 Kết cấu luận văn
Luận văn có kết cấu gồm năm (05) chương:
- Chương 1 Tổng quan đề tài nghiên cứu
- Chương 2 Cơ sở lý thuyết
- Chương 3 Thiết kế nghiên cứu
- Chương 4 Kết quả và bàn luận
- Chương 5 Kết luận và kiến nghị
5 Nguyễn Đình Thọ (2012) Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh TP Hồ Chí Minh
NXB Lao động xã hội
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL luôn là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới, trong đó có các nhà nghiên cứu ở Việt Nam Mục đích thực hiện các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng và của tác giả là tìm ra những nhân tố tác động đến chất lượng dịch vụ KTĐL, qua đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ KTĐL và đáp ứng kỳ vọng của xã hội
Các nghiên cứu về chất lượng dịch vụ KTĐL được tác giả chia thành hai nhóm: (i) các nghiên cứu công bố ở nước ngoài; và (ii) các nghiên cứu công bố trong nước:
1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài
1.1.1 Nhóm nghiên cứu về chất lượng dịch vụ KTĐL
[1] Chadegani (2011) 6: “Review of studies on audit quality” Nghiên cứu của
Chadegani (2011) tạm dịch là: “Tổng hợp các dòng nghiên cứu về chất lượng dịch
vụ kiểm toán” Bài viết tổng hợp lại các nghiên cứu thực nghiệm trong những thập
niên vừa qua trên thế giới nhằm đánh giá những gì các nhà nghiên cứu đã thực hiện được về vấn đề chất lượng kiểm toán và phát hiện lỗ hổng trong các tài liệu nghiên cứu Những nghiên cứu được phân loại thành 07 nhóm:
(1) Sử dụng công cụ đo lường trực tiếp (sự phù hợp của BCTC với Các nguyên
tắc kế toán được thừa nhận (GAAP - Generally Accepted Accounting Principles),
hay ý kiến về khả năng hoạt động liên tục, hoặc sự phá sản) hoặc gián tiếp (quy mô,
danh tiếng, nhiệm kỳ, phí dịch vụ, khả năng chuyên môn hóa) chất lượng kiểm toán; (2) Các nghiên cứu dựa trên nguồn gốc của sự khác biệt về thể chế giữa các quốc gia, khác biệt thực hành giữa các cá nhân và khác biệt do chuyên môn hóa;
(3) Các nghiên cứu dựa trên kết quả đầu ra (output) (ý kiến kiểm toán), quá trình thực hiện (process) (môi trường kiểm toán, quá trình thực hiện, dự đoán doanh thu
và quản trị doanh thu) và dữ liệu đầu vào (input) (nhận thức của KTV và đấu thầu
kiểm toán bắt buộc);
(4) Các khía cạnh của tổ chức (công ty và đội ngũ kiểm toán);
Humanities, Society and Culture
Trang 16(5) Quan điểm hành vi và chất lượng kiểm toán (giảm chất lượng kiểm toán, lý luận đạo đức, mối quan hệ và quan điểm hành vi, đạo đức của KTV, vốn con người, chất lượng dịch vụ, chất lượng kỹ thuật, danh tiếng, kinh nghiệm, năng lực, độc lập); (6) Các nhận thức khác nhau về chất lượng kiểm toán (nhận thức của cổ đông, KTV, các nhà phân tích và chủ tịch ủy ban kiểm toán, khách hàng, thanh tra liên bảng và các nhà báo kinh tế); và
(7) Các dòng nghiên cứu khác
[2] Hoa Pham và cộng sự (2014) 7: “A Study of audit quality in Vietnam”
Nghiên cứu của Pham Hoa và cộng sự (2014) tạm dịch là: “Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam” Nghiên cứu nhằm mục đích kiểm tra nhận thức của
đội ngũ KTV về chất lượng kiểm toán và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch
vụ kiểm toán tại Việt Nam Thông qua khảo sát ở 10 CTKT khác nhau, tác giả thu
về được 128 bảng trả lời từ đội ngũ nhân viên kiểm toán Kết quả khảo sát cho thấy
có mối tương quan tích cực giữa quy mô CTKT và KTV chuyên nghiệp với chất lượng kiểm toán Ngoài ra, việc đấu thầu cạnh tranh (competitive bidding) để tham gia kiểm toán và dịch vụ phi kiểm toán bổ sung cũng ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán Thêm vào đó, nhóm tác giả còn chỉ ra rằng những KTV không tham gia thỏa thuận kiểm toán dài hạn (long-term audit engagement) thì đánh giá chất lượng cuộc kiểm toán kém hơn so với những KTV tham gia thỏa thuận kiểm toán dài hạn Cuối cùng, nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng doanh thu của nhân viên và công việc trước đây với khách hàng có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng kiểm toán tại Việt Nam Nghiên cứu đề xuất mở rộng đối tượng khảo sát là những người quản lý, điều hành
và người sử dụng báo cáo, cũng như thêm biến tính cạnh tranh về năng lực của các CTKT để đánh giá toàn diện hơn chất lượng dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam
1.1.2 Nhóm nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL
Nhân tố Quy mô CTKT
DeAngelo (1981b)8: “Audit size and Audit quality” Nghiên cứu của DeAngelo
(1981b) tạm dịch là: “Quy mô công ty kiểm toán và chất lượng kiểm toán” Theo
7 Hoa Pham et al “A Study of audit quality in Vietnam”, International Journal of Business, Accounting
and Finance, Volume 8, Number 2, Fall 2014
8 DeAngelo, L E (1981b) Auditor size and audit quality Journal of accounting and economics, 3(3),
183-199
Trang 17DeAngelo, để tồn tại và phát triển CTKT phải nâng cao chất lượng dịch vụ KTĐL
Tuy nhiên, khi phát triển cần nhắc đến biên độ tăng thêm (quasi-rents), đó là áp lực
kinh tế khiến cho CTKT cân nhắc đến việc cân bằng chất lượng dịch vụ KTĐL Cụ thể, CTKT phải xem xét đến việc: (i) có được một đơn vị biên độ tăng thêm từ một khách hàng cụ thể (do CTKT cố tình giảm chất lượng dịch vụ KTĐL để duy trì khách hàng); và (ii) dòng các đơn vị biên độ tăng thêm từ nhiều khách hàng khác có thể bị mất khi những hành vi cố tình làm giảm chất lượng dịch vụ KTĐL của CTKT bị công chúng phát hiện Nói cách khác, CTKT nào có càng nhiều khách hàng (số lượng khách hàng là một trong những tiêu chí đánh giá quy mô của CTKT) thì càng có khả năng bị mất càng nhiều biên độ tăng thêm trong trường hợp những sai phạm của KTV bị phát hiện Như vậy, quy mô (số lượng khách hàng) của CTKT càng lớn thì
họ càng bị áp lực kinh tế buộc phải duy trì và nâng cao chất lượng dịch vụ KTĐL
Nhân tố Phí dịch vụ kiểm toán
DeAngelo (1981a)9: “Auditor independence, ‘low balling’, and disclosure
regulation” Nghiên cứu của DeAngelo (1981a) tạm dịch là: “Tính độc lập của kiểm toán viên, mức phí thấp và quy định về công bố thông tin” Nghiên cứu đã thiết lập
mô hình phí kiểm toán năm đầu tiên (chi phí khởi động kiểm toán - start-up cost) với chi phí phát sinh liên quan đến việc thay đổi CTKT của đơn vị được kiểm toán Theo
mô hình này thì phí dịch vụ kiểm toán năm đầu tiên sẽ là: A 1 = A + K (với A là chi
phí kiểm toán; K là chi phí bắt đầu năm 1), các năm sau sẽ là A2 = A,…, An = A Như vậy, mức phí của KTV đương nhiệm sẽ có lợi hơn so với các đối thủ cạnh tranh trong tương lai của cùng một khách hàng nhất định Đứng về góc độ quản lý thì các nhà quản lý và chuyên gia cho rằng với mức phí thấp sẽ làm giảm tính độc lập của KTV Tuy nhiên, trái ngược với những nhận định trên, DeAngle cho rằng phí dịch
vụ kiểm toán thấp là một phản ứng cạnh tranh với mức phí kiểm toán trong tương lai của đối thủ cạnh tranh, và tự nó không làm giảm tính độc lập của KTV
Nhân tố Phí dịch vụ kiểm toán bất thường
Choi và cộng sự (2009)10: “Do abnormally high audit fees impair Audit
Quality?” Nghiên cứu của Choi và cộng sự (2009) tạm dịch là: “Phí dịch vụ kiểm toán bất thường làm giảm chất lượng kiểm toán?” Nghiên cứu biểu diễn mối tương
9 DeAngelo, L E (1981a) Auditor independence,‘low balling’, and disclosure regulation Journal of
accounting and Economics, 3(2), 113-127
10 Choi, J H., Kim, J B., & Zang, Y (2009) Do abnormally high audit fees impair audit quality? Auditing:
A Journal of Practice & Theory, 29(2), 115-140
Trang 18quan tuyến tính giữa phí dịch vụ kiểm toán bất thường và chất lượng kiểm toán Trong đó, chất lượng kiểm toán được đo lường bằng các khoản dồn tích (DA), cụ thể qua hai mô hình: (1) mô hình của Ball và Shivakumar (2006); và (2) mô hình của Jone (Kothari, Leone và Wasley, 2005) Trong khi đó, dữ liệu về phí dịch vụ kiểm toán và phi kiểm toán được các tác giả thu thập từ dữ liệu công nghiệp hàng năm (Compustat Industrial Annual File) gồm 9.815 công ty trong gian đoạn từ năm 2000 đến năm 2003 Các kết quả hồi quy của nghiên cứu khẳng định phí dịch vụ bất thường tác động tiêu cực đến chất lượng kiểm toán Cuối cùng, nhóm tác giả đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo về mối quan hệ phi tuyến tính giữa phí dịch vụ kiểm toán bất thường và chất lượng kiểm toán
Nhân tố Phí dịch vụ phi kiểm toán
DeFond và cộng sự (2002)11: “Do Non–Audit Service Fees Impair Auditor
Independence - Evidence from Going Concern Audit Opinions” Nghiên cứu của
DeFond và cộng sự (2002) tạm dịch là: “Phí dịch vụ phi kiểm toán làm giảm tính độc lập – Bằng chứng từ ý kiến hoạt động liên tục của kiểm toán viên” Nghiên cứu này
được thực hiện sau sự sụp đổ của tập đoàn dầu khí Enron, thông qua việc sử dụng dữ liệu thứ cấp trên trang dữ liệu Edgar Online Đằng sau sự sụp đổ của tập đoàn dầu khí Enron là sự tiếp tay của CTKT Arthur Andersen cho những sai phạm về kế toán, kiểm toán tại Enron Nguyên nhân chính của sự sai phạm này là do Andersen đã nhận hợp đồng tư vấn dịch vụ cho Enron, mà phí dịch vụ này tỷ lệ cao trong doanh thu của Andersen, điều đó đã làm giảm tính độc lập của CTKT Andersen Chính vì những sai phạm đã xảy ra nên những nhà quản lý đã có những hành động để hạn chế các CTKT cung cấp dịch vụ phi kiểm toán cho cùng một khách hàng Trái với những lo ngại của những nhà quản lý, nghiên cứu đã không tìm thấy mối quan hệ giữa phí dịch
vụ phi kiểm toán và khuynh hướng KTV đưa ra ý kiến về khả năng hoạt động liên tục của khách hàng Thêm vào đó, nhóm tác giả cũng không tìm thấy mối quan hệ giữa phí dịch vụ kiểm toán và khuynh hướng KTV đưa ra ý kiến về tính hoạt động liên tục Nghiên cứu đề xuất khuyến khích cơ chế thị trường cạnh tranh (chẳng hạn như việc sợ mất uy tín, chi phí kiện tụng) sẽ thúc đẩy tính độc lập của các CTKT
11 DeFond, M L., Raghunandan, K., & Subramanyam, K R (2002) Do non-audit service fees impair
auditor independence? Evidence from going concern audit opinions Journal of accounting research,
1247-1274
Trang 19Nhân tố Phạm vi dịch vụ phi kiểm toán
Lennox (1998)12: “Audit Quality and Auditor Switching - Some Lessons for
Policy Makers” Nghiên cứu của Lennox (1998) tạm dịch là “Chất lượng kiểm toán
và luân chuyển kiểm toán – Bài học từ xây dựng chính sách” Bài báo tập trung xem
xét, đánh giá các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và luân chuyển kiểm toán ở các nước khác nhau Ông cho rằng các nhà hoạch định chính sách nên hạn chế ảnh hưởng của các nhà quản lý lên luân chuyển kiểm toán chứ không phải là giảm sự phụ thuộc về kinh tế của công ty kiểm toán vào khách hàng Đặc biệt là các quy định về liên lạc giữa các cổ đông và kiểm toán viên, cũng như một chính sách về việc duy trì luân chuyển kiểm toán bắt buộc Ngược lại, ở một số nước đã áp dụng chính sách luân chuyển bắt buộc, cấm các dịch vụ phi kiểm toán và phí giới thiệu Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ không rõ ràng giữa dịch vụ phi kiểm toán và tính độc lập của kiểm toán viên, và ít bằng chứng cho rằng phí dịch
vụ phi kiểm toán ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên Tương tự như vậy, không có bằng chứng chứng tỏ mối quan hệ giữa phí dịch vụ thấp và chất lượng kiểm toán
Son (2005)13: “Do non-audit services influence audit quality?” Nghiên cứu của
Myungsoo Son (2005) tạm dịch là “Dịch vụ phi kiểm toán có ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán?” Nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của dịch vụ phi kiểm toán đến
chất lượng kiểm toán bằng cách sử dụng hai phương pháp đo lường chất lượng BCTC
là các khoản dồn tích (Discretionary Accruals – DA) và hệ số phản ứng thu nhập (Earnings Response Coefficients – ERC) Trong đó, DA được sử dụng để phản ánh chất lượng kiểm toán thực tế và ERC phản ánh nhận thức của nhà đầu tư về chất lượng BCTC Ngoài ra, nghiên cứu còn kiểm tra tác động của dịch vụ kiểm toán đến chất lượng dịch vụ KTĐL bằng cách so sánh chất lượng dịch vụ KTĐL trước và sau khi Đạo luật Sarbanes-Oxley (SOX) ra đời Mẫu khảo sát của tác giả là BCTC của 1.865 công ty niêm yết trên sàn NYSE, NASDAQ, AMEX tại Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động tiêu cực của dịch vụ phi kiểm toán đến chất lượng dịch vụ KTĐL và chất lượng dịch vụ KTĐL được cải thiện sai khi thực hiện yêu cầu của Đạo luật SOX đối với những doanh nghiệp sử dụng dịch vụ phi kiểm toán
12 Lennox, C S (1998) Audit quality and auditor switching: some lessons for policy makers Available at SSRN 121048
13 Son, M (2005) Do non-audit services influence audit quality? A Dissertation presented to the Faculty
of The Graduate College at the University of Nebraska for the Degree of Doctor Philosophy
Trang 20Nhân tố Nhiệm kỳ kiểm toán
Brooks và cộng sự (2012)14: “Audit Firm Tenure and Audit Quality - Evidence from U.S Firms” Nghiên cứu của Brooks và cộng sự (2012) tạm dịch là:
“Nhiệm kỳ công ty kiểm toán và chất lượng kiểm toán – Bằng chứng từ các công ty Mỹ” Nghiên cứu xem xét mối liên hệ giữa nhiệm kỳ kiểm toán với chất lượng kiểm
toán thông qua hai biến trung gian là kinh nghiệm và tính độc lập của KTV Kết quả khảo sát chỉ ra do “ảnh hưởng tay nghề” (Learning Effect) nên chất lượng kiểm toán tăng cùng chiều với nhiệm kỳ CTKT trong những năm đầu tiên Tuy nhiên càng về những năm cuối, chất lượng kiểm toán giảm do “ảnh hưởng liên kết” (Bonding Effect) Thêm vào đó, để củng cố và bổ sung vào cơ sở lý thuyết cho những nghiên cứu sau, nhóm nghiên cứu đã nêu rõ giới hạn của nghiên cứu là thiếu biến quan sát
về ảnh hưởng của Ủy ban kiểm tra đến chất lượng kiểm toán BCTC, tuyển dụng và kiểm soát KTV Do đó, việc không xem xét tác động của Ủy ban kiểm tra có thể bỏ qua một biến quan sát quan trọng Vì vậy, nhóm tác giả đề xuất nghiên cứu tiếp theo
về tác động của Ủy ban kiểm tra đến mối quan hệ giữa nhiệm kỳ kiểm toán và chất lượng kiểm toán
Nhân tố Mức độ am hiểu lĩnh vực kinh doanh của khách hàng
Minutti-Meza (2013)15: “Does Auditor Industry Specialization Improve Audit
Quality?” Nghiên cứu của Minutti-Meza (2011) tạm dịch là: “Mức độ chuyên sâu trong một lĩnh vực chuyên biệt của kiểm toán viên có nâng cao chất lượng kiểm toán?” Các kết quả nghiên cứu trước cho thấy hiểu biết của KTV về lĩnh vực kinh
doanh của khách hàng sẽ làm tăng chất lượng kiểm toán, nâng cao khả năng phát hiện sai sót (Owhoso, Messier và Lynch, 2002), tăng cường chất lượng đánh giá rủi
ro kiểm toán (Taylor, 2000) và ảnh hưởng đến sự lựa chọn các thử nghiệm kiểm toán
và phân bổ số giờ kiểm toán phù hợp (Low, 2004) Nghiên cứu chỉ rõ mối quan hệ cùng chiều giữa chất lượng kiểm toán và mức độ chuyên sâu trong lĩnh vực riêng biệt của KTV, phí dịch vụ kiểm toán và mức độ chuyên sâu trong lĩnh vực riêng biệt của KTV Bằng cách thu thập dữ liệu thứ cấp từ hệ thống dữ liệu Compustat và Audit analytics từ năm 2000 đến năm 2008, nghiên cứu đánh giá mức độ chuyên sâu trong
14 Brooks, L Z., Cheng, C S., & Reichelt, K J (2012) Audit firm tenure and audit quality: Evidence from
US firms In CAAA Annual Conference
15 Minutti‐Meza, (2013) Does auditor industry specialization improve audit quality? Journal of
Accounting Research, 51(4), 779-817
Trang 21lĩnh vực chuyên biệt thông qua thang đo tỷ lệ chiếm lĩnh thị phần (industry market share); và chất lượng kiểm toán được đo lường bằng các khoản dồn tích (Discretionary Accruals - DA), doanh thu dồn tích (Discretionary Revenue - DR) và phát hành ý kiến kiểm toán về khả năng hoạt động liên tục
1.1.3 Nhận xét chung về các nghiên bố công bố ở nước ngoài
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài chủ yếu xác định một cách riêng
lẻ các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán, chưa có sự phân loại và kết hợp các yếu tố này thành từng nhóm có liên hệ với nhau
Thứ hai, đa số các nghiên cứu đều sử dụng và đo lường chất lượng kiểm toán bằng
cơ sở dồn tích (DA), do đó tác giả muốn nghiên cứu theo một hướng khác đó là dùng thang đo thông qua các câu hỏi khảo sát để đo lường chất lượng dịch vụ KTĐL
Thứ ba, các nghiên cứu được thực hiện đa số ở các nước phát triển, nơi có hoạt
động KTĐL ra đời và phát triển Vì vậy đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL còn quá ít Đây cũng được xem là khoảng trống nghiên cứu để tác giả tập trung giải quyết
1.2 Các nghiên cứu công bố trong nước
1.2.1 Nhóm nghiên cứu về chất lượng dịch vụ KTĐL
Nghiên cứu của Phan Thanh Hải (2014)16 Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về mô hình hoạt động KTĐL và việc ứng dụng cụ thể vào điều kiện mối quốc gia Trong đó, tác giả đi sâu vào nghiên cứu và đánh giá các mô hình
tổ chức hoạt động KTĐL trên thế giới từ trước đến nay dựa trên các tiêu chí phân loại, các đặc điểm về cấu trúc và cơ chế vận hành của từng mô hình cũng như các điều kiện để ứng dụng mô hình tổ chức hoạt động KTĐL tại mỗi quốc gia Thông qua đó, tác giả đánh giá thực trạng mô hình tổ chức hoạt động KTĐL tại Việt Nam trong những năm qua và kết hợp mối quan hệ ảnh hưởng của từng yếu tố (yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài; yếu tố thuộc về môi trường bên trong) của mô hình
có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động KTĐL Luận án đã đưa ra những đề xuất mang tính định hướng và các giải pháp để xác lập và hoàn thiện các yếu tố cụ thể, trong đó trọng tâm là các yếu tố bên trong (công tác nội kiểm là yếu tố quyết định)
16 Phan Thanh Hải (2014) Xác lập mô hình tổ chức cho hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam để nâng
cao ch ất lượng và hiệu quả hoạt động trong xu thế hội nhập Luận án tiến sĩ Trường Đại học Kinh tế Thành
phố Hồ Chí Minh
Trang 22liên quan đến việc ứng dụng mô hình tổ chức hoạt động KTĐL trong xu thế hội nhập hiện nay ở nước ta
1.2.2 Nhóm nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL
Nhân tố Nhiệm kỳ kiểm toán
Nghiên cứu của Lâm Huỳnh Phương (2013)17 Luận văn xác định mối quan hệ
giữa việc luân chuyển KTV đến chất lượng kiểm toán BCTC thông qua việc tìm hiểu mối quan hệ giữa các khoản dồn tích (DA) và nhiệm kỳ kiểm toán Mẫu nghiên cứu được tác giả lấy từ BCTC các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội từ năm 2000 đến năm 2012 Tổng cộng có 39 mẫu được lấy ra đáp ứng đủ điều kiện của tác giả
Cách thức thực hiện nghiên cứu được mô tả lại như sau:
Đầu tiên, tác giả xây dựng và đo lường biến chất lượng kiểm toán bằng DA;
Sau đó xây dựng mối quan hệ giữa DA với nhiệm kỳ kiểm toán
Trong trường hợp phân biệt được dấu DA (nếu dấu DA dương thể hiện động cơ các nhà quản trị muốn khai khống lợi nhuận; và ngược lại dấu DA âm thể hiện rằng các nhà quản trị muốn che giấu bớt lợi nhuận để chuyển sang kỳ kế toán sau), kết quả cho thấy rằng nhiệm kỳ kiểm toán càng dài sẽ giúp KTV dễ dàng phát hiện và điều chỉnh những khoản dồn tích làm tăng việc khai khống lợi nhuận, giúp thông tin lợi nhuận không bị phóng đại và đáng tin cậy hơn Thêm vào đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhiệm kỳ của CTKT hoàn toàn không ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán
Nhân tố Hệ thống KSCL bên trong
[1] Nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân (2011)18 Đề tài nghiên cứu lý luận cơ
bản về chất lượng và KSCL hoạt động KTĐL Tác giả khảo sát và đúc kết kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong xây dựng các quy định về KSCL đối với hoạt động KTĐL nhằm áp dụng cho các CTKT ở Việt Nam Nguồn dữ liệu sử dụng
là các báo cáo hoạt động thường niên của 55 CTKT qua hai năm 2009, 2010, cùng với báo cáo về KSCL của Vụ chế độ kế toán – kiểm toán và VACPA Qua đó, tác
17 Lâm Huỳnh Phương (2013) Ảnh hưởng của việc luân chuyển kiểm toán viên đến chất lượng hoạt động
ki ểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
18 Trần Thị Giang Tân và cộng sự (2011) Cơ sở lý luận và thực tiễn của kiểm soát chất lượng hoạt động
ki ểm toán độc lập ở Việt Nam Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp bộ Trường Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 23giả bổ sung về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết lập các quy định về KSCL và
đề ra các kiến nghị mang tính định hướng đến các cơ quan chức năng cho việc thiết
lập các quy định KSCL đối với hoạt động KTĐL tại Việt Nam
[2] Nghiên cứu của Trần Khánh Lâm (2011)19 Luận án đi sâu vào việc đánh giá những hạn chế cơ bản của cơ chế KSCL đối với hoạt động KTĐL tại Việt Nam trên cả hai phương diện KSCL từ bên trong và bên ngoài Trên cơ sở kết hợp phương pháp định tính và định lượng (chủ yếu là định lượng) thực hiện trên cơ sở mẫu khảo sát là 35 công ty KTĐL khác nhau trong năm 2009 tác giả đã đưa ra kết luận:
(1) Các công ty KTĐL tại Việt Nam có quy mô càng lớn, nguồn lực tài chính càng dồi dào thì chỉ số chất lượng kiểm toán càng cao;
(2) CTKT có mức độ chuyên sâu và thực hiện việc luân chuyển KTV định kỳ thì luôn đạt được chất lượng kiểm toán tốt;
(3) Việc hạ thấp giá phí kiểm toán có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng kiểm toán và phần lớn các CTKT nhỏ do thiếu nguồn lực nên không thể duy trì hoặc thực hiện đều đặn các việc xây dựng hệ thống chính sách và thủ tục KSCL đạt hiệu quả; (4) Việc thực hiện KSCL từ bên trong của các công ty KTĐL tại Việt Nam còn chưa được quan tâm đúng mức
Trên cơ sở các kết luận rút ra tác giả đã đưa ra các quan điểm và giải pháp nhằm xây dựng cơ chế KSCL hoạt động KTĐL theo hướng nâng cao hơn nữa chất lượng kiểm toán như điều chỉnh quy mô CTKT, tăng cường quản lý về giá phí kiểm toán, nâng cao trình độ KTV, xây dựng cơ chế KSCL từ bên trong và bên ngoài
[3] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thảo Nguyên (2013)20 Đề tài được thực hiện
đối với các CTKT được kiểm tra và trình bày trong “Báo cáo kết quả kiểm tra tình
hình hoạt đông năm 2010 của 20 công ty kiểm toán” và “Báo cáo kết quả kiểm tra tình hình hoạt động năm 2011 của 30 công ty kiểm toán” do VACPA thực hiện
Thông qua các báo cáo kết quả kiểm tra tình hình hoạt động 2 năm 2010-2011, tác giả chọn lọc các thông tin có liên quan đến: tính độc lập; năng lực chuyên môn; tuân thủ chuẩn mực chuyên môn và tổng hợp kết quả chấm điểm của Hiệp hội kiểm toán
Tác giả tiến hành thống kê và trả lời các câu hỏi như: (1) Ba nhân tố về tính độc lập, năng lực chuyên môn, tuân thủ chuẩn mực chuyên môn có ảnh hưởng đến kết quả
19 Trần Khánh Lâm (2011) Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng cho hoạt động kiểm toán độc lập tại
Vi ệt Nam Luận án Tiến sĩ Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
20 Nguyễn Thị Thảo Nguyên (2013) Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp đến
ch ất lượng kiểm toán và đề xuất giải pháp Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí
Minh
Trang 24chấm điểm hay không? (2) Các công ty bị chấm điểm chất lượng thấp có phải là do các nhân tố này yếu hay không?
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số các công ty đạt điểm chất lượng thấp là do
không thực hiện đầy đủ các yếu tố về tính độc lập trong công tác kiểm toán; năng lực chuyên môn của KTV và CKT; và tuân thủ chuẩn mực chuyên môn của KTV và CTKT Qua đó, tác giả khẳng định, tính độc lập và tuân thủ các chuẩn mực chuyên môn của KTV và CTKT có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng kiểm toán và năng lực chuyên môn của KTV và CTKT có ảnh hưởng nhưng không nhiều đến chất lượng
kiểm toán
Nhân tố Hệ thống KSCL bên ngoài
Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Uyên Phương (2014)21 Thông qua việc phân
tích và tổng hợp kết quả của các cuộc khảo sát các cuộc KSCL từ bên ngoài đối với hoạt động KTĐL do Bộ Tài chính và VACPA tiến hành từ năm 2010 đến 2013, tác giả nêu lên những mặt được và còn tồn tại của hệ thống KSCL từ bên ngoài Sau đó, tác giả tiến hành khảo sát 133 CTKT được Bộ Tài chính cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán tính đến ngày 10/06/2014 theo phương pháp thuận tiện bằng cách gửi thư điện tử cho các KTV đang công tác tại các CTKT trên Tác giả kết hợp, đánh giá và bàn luận từ hai nguồn thông tin trên để từ đó nêu lên phương hướng và giải pháp hoàn thiện KSCL từ bên ngoài cho hoạt động KTĐL tại Việt Nam
Nhân tố Tính cách của của KTV
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Mai (2013)22 Nghiên cứu này của nhằm đánh
giá tầm quan trọng của các thuộc tính của KTV trong việc ra quyết định của các chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán Quyết định của KTV hiển nhiên ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL, như vậy việc xác định các thuộc tính của KTV có ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL Nghiên cứu xây dựng bảng câu hỏi dựa trên nền 20 thuộc tính của KTV trong nghiên cứu của hai tác giả Mohammsad và James Shanteau (1992) và ba thuộc tính được tác giả thêm vào
Thông qua bảng câu hỏi khảo sát 100 đối tượng là các trợ lý kiểm toán, trưởng nhóm kiểm toán, KTV, kết quả cho thấy các đặc điểm về nhận thức kiến thức là quan
21 Nguyễn Hoàng Uyên Phương (2014) Giải pháp hoàn thiện kiểm soát chất lượng từ bên ngoài đối với
ho ạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
22 Nguyễn Thị Ngọc Mai (2013) Đánh giá tầm quan trọng của một số thuộc tính cá nhân của kiểm toán
viên đối với chất lượng kiểm toán các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Trường Đại
học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 25trọng nhất đối với một KTV, tiếp theo là phong cách đặc trung và chiến lược giải quyết vấn đề của KTV và cuối cùng là các đặc tính về vẻ bề ngoài của KTV
1.2.3 Nhận xét chung về các nghiên bố công bố trong nước
Cũng giống như các nghiên cứu ở nước ngoài, các tác giả trong nước cũng chỉ nghiên cứu một cách riêng lẻ các yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụ KTĐL tại Việt Nam Đa số các nghiên cứu tập trung vào phân tích và đánh giá ảnh hưởng của KSCL bên trong, KSCL bên ngoài đến chất lượng dịch vụ KTĐL Các nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức đánh giá tác động riêng lẻ của từng yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL Do đó, tác giả xác định cần phải có một nghiên cứu tổng hợp về các nhân tố bên trong của CTKT ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL để đánh giá mức độ tác động tổng hợp lên chất lượng dịch vụ KTĐL và làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo
1.3 Khe hổng nghiên cứu
Có rất nhiều yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụ KTĐL, có thể kể đến các yếu
tố thuộc về đặc điểm, tính cách của KTV; hay các yếu tố thuộc về nhân tố bên trong của CTKT (quy mô, danh tiếng, phương pháp kiểm toán); hay các nhân tố thuộc về KSCL (bên trong và bên ngoài) Như đã phân tích ở trên, trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay chưa có một nghiên cứu tổng hợp nào nghiên cứu về các nhân tố bên trong của CTKT ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL Do đó, tác giả khẳng định tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu về: “Các nhân tố bên trong của CTKT ảnh
hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL”
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu về chất lượng dịch vụ KTĐL và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL được công bố ở trong và ngoài nước Các nghiên cứu được tổng hợp nhiều khía cạnh như: các biến đưa vào mô hình, phương pháp nghiên cứu, cách thức khảo sát số liệu, đối tượng khảo sát, cũng như kết quả của mô hình nghiên cứu Qua đó, tác giả xác định
lỗ hổng nghiên cứu để làm cơ sở chứng minh tính cấp thiết khi lựa chọn đề tài luận văn
Chương tiếp theo sẽ trình bày cơ sở lý thuyết nền, định nghĩa các khái niệm kiểm toán và chất lượng dịch vụ KTĐL dưới các góc nhìn khác nhau (bên cung cấp dịch
vụ, bên sử dụng dịch vụ và bên thứ ba) và chọn lọc các biến độc lập đại diện cho các nhân tố bên trong của CTKT ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 26CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Khái niệm chất lượng kiểm toán độc lập
Định nghĩa chất lượng KTĐL là việc không dễ dàng bởi vì giữa mong đợi của xã hội (người sử dụng) với khả năng đáp ứng của CTKT thường tồn tại một khoảng cách Sự mong đợi, kỳ vọng của xã hội là vô hạn, trong khi đó khả năng đáp ứng của KTV, CTKT là hữu hạn Chẳng hạn, xã hội mong đợi KTV phải phát hiện tất cả các gian lận và sai sót trên các báo cáo kiểm toán, một cuộc kiểm toán đáp ứng được mong đợi này mới là cuộc kiểm toán có chất lượng
Do tính phức tạp của khái niệm chất lượng, các chuẩn mực kiểm toán của các quốc gia trên thế giới và quốc tế đã cố gắng đưa ra các khái niệm liên quan, chẳng hạn như:
Theo Vanstraelen (2000)23; De Angelo (1981b), chất lượng KTĐL được định
nghĩa là “khả năng mà kiểm toán viên vừa phát hiện và đồng thời báo cáo sai phạm trong hệ thống kế toán của khách hàng Khả năng phát hiện sai phạm phụ thuộc vào
kỹ thuật của kiểm toán viên trong khi khả năng báo cáo sai sót này phụ thuộc vào tính độc lập của kiểm toán viên”
Theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 22024 (ISA 220) – Kiểm soát chất
lượng kiểm toán: “Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán về những ý kiến đóng góp của kiểm toán viên, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong thời gian định trước với giá phí hợp lý”
Như vậy, chất lượng KTĐL có thể được xem xem xét dưới ba góc độ:
(1) Mức độ người sử dụng thỏa mãn đối với tính khách quan và độ tin cậy của kết quả kiểm toán;
(2) Mức độ của đơn vị được kiểm toán thỏa mãn về ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh;
(3) Báo cáo kiểm toán được lập và phát hành theo đúng thời gian đã thỏa thuận trong hợp đồng kiểm toán và chi phí dịch vụ KTĐL phù hợp với phạm vi kiểm toán
23 Vanstraelen, A (2000) Impact of renewable long-term audit mandates on audit quality European
Accounting Review, 9(3), 419-442
24 ISA 2200 – Quality Control for An Audit of Financial Statements – IAASB Handbook
The objective of the auditor is to implement quality control procedures at the engagement level that provide the auditor with reasonable assurance that: (a) The audit complies with professional standards and applicable legal and regulatory requirements; and (b) The auditor’s report issued is appropriate in the circumstances
Trang 27Do khái niệm chất lượng khá phức tạp, vì vậy cần phải làm rõ khái niệm về chất lượng KTĐL dưới các góc độ khác nhau để từ đó đề xuất các biện pháp kiểm soát hữu hiệu Cho đến nay, tổng hợp từ các nghiên từ nước ngoài, có hai quan điểm chính
về chất lượng kiểm toán độc lập đối với BCTC, được hình thành từ quan điểm thực
hành, nhằm thỏa mãn đối tượng sử dụng dịch vụ và quan điểm khoa học về kiểm toán là khả năng phát hiện và báo cáo các sai phạm trọng yếu trên các BCTC được
dưới góc độ thỏa mãn người sử dụng dịch vụ Theo đó, để đánh giá chất lượng kiểm toán thì người ta quan tâm tới mức độ thỏa mãn về chất lượng dịch vụ kiểm toán với mức giá phí phù hợp của đối tượng sử dụng dịch vụ Mỗi góc nhìn khác nhau, quan điểm thỏa mãn được nhìn nhận và đánh giá khác nhau
Thứ nhất, chất lượng dịch vụ KTĐL dưới góc nhìn của công ty khách hàng
Doanh nghiệp được kiểm toán là khách hàng, đối tượng đầu tiên sử dụng dịch vụ kiểm toán Mặc dù yêu cầu KTĐL đối với BCTC của một số doanh nghiệp là không mang tính bắt buộc, tuy nhiên khách hàng luôn mong muốn nhận được ý kiến về tính trung thực, khách quan của các thông tin về BCTC đã được kiểm toán để cung cấp tới các bên thứ ba, giúp tăng cường uy tín của chính doanh nghiệp và phục vụ cho mục đích thu hút vốn, đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh của doanh nghiệp
Thêm vào đó, các doanh nghiệp cũng mong muốn có được sự đảm bảo từ phía nhà cung cấp dịch vụ kiểm toán rằng: mọi sai sót trọng yếu trên BCTC đều được phát hiện và báo cáo cho ban lãnh đạo; từ đó, đưa ra các kiến nghị giúp khách hàng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ Do vậy, dưới góc độ là khách hàng, chất lượng kiểm toán được đánh giá bởi sự thỏa mãn của doanh nghiệp về tính khách quan, độ tin cậy, khả năng đáp ứng, năng lực phục vụ, sự chia sẻ, đồng cảm với khách hàng của KTV
và CTKT Quan điểm thỏa mãn này không hàm ý KTV đưa ra ý kiến theo hướng
“làm đẹp BCTC” có lợi cho doanh nghiệp hay lợi ích nhóm cổ đông
Trang 28Thứ hai, chất lượng dịch vụ KTĐL dưới góc nhìn của bên thứ ba (nhà đầu
tư, nhà quản lý, đối tác của công ty khách hàng) Dưới góc nhìn của người sử
dụng báo cáo kiểm toán, một cuộc kiểm toán có chất lượng là họ cảm thấy thỏa mãn
về độ tin cậy, tính trung thực và hợp lý của BCTC được kiểm toán, để qua đó họ có thể đưa ra quyết định kinh tế đúng đắn (đầu tư, hợp tác) hoặc quản lý, điều hành cho phù hợp
Tuy nhiên, nếu đánh giá chất lượng kiểm toán được hiểu theo khía cạnh thỏa mãn mong muốn của đối tượng sử dụng là rất khó để lượng hóa, vì họ (bên thứ ba) không trực tiếp chứng kiến và tham gia vào công việc của KTV Họ chỉ cảm thấy tin cậy hơn nếu ý kiến kiểm toán được đưa ra bởi các KTV có năng lực, trình độ chuyên môn, độc lập và kinh nghiệm Tuy nhiên, chính người sử dụng dịch vụ kiểm toán cũng khó có thể tự đánh giá các tiêu chí này từ phía KTV và CTKT Do vậy, các nghiên cứu về chất lượng kiểm toán cũng tìm cách đánh giá mức độ hài lòng của người sử dụng thông qua các tiêu chí trung gian, hoặc nhân tố ảnh hưởng, cụ thể:
- Mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán Người sử dụng sẽ cảm thấy tin cậy nếu
ý kiến kiểm toán được cung cấp từ phía các KTV, CTKT có năng lực, trình độ chuyên môn, độc lập và kinh nghiệm
- Mức độ thoả mãn về những đóng góp, gợi ý của KTV nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, hiệu năng quản lý tại đơn vị được kiểm toán Tiêu chí này khó được lượng hóa được bằng các sai phạm cụ thể mà KTV phát hiện được cho ban giám đốc, mà phụ thuộc vào mức độ thỏa mãn của nhà quản lý về cách làm việc chuyên nghiệp của KTV, cũng như ý kiến của KTV về BCTC nhằm đáp ứng mong đợi của họ
- Báo cáo kiểm toán được phát hành theo đúng thời gian đã đề ra trong hợp đồng kiểm toán và chi phí cho dịch vụ kiểm toán ở mức độ phù hợp Tiêu chí này được đo lường bằng việc tuân thủ kế hoạch theo hợp đồng hoặc thư hẹn kiểm toán, nếu có thay đổi cần được báo trước, cũng như mức giá phí phù hợp
Ngoài ra, công ty kiểm toán - chủ thể thực hiện kiểm toán - thường xây dựng quy trình kiểm toán và kiểm soát nhằm yêu cầu và giúp KTV thực hiện một cuộc kiểm toán có chất lượng, đó là tuân thủ đầy đủ chuẩn mực nghề nghiệp, tuân thủ các quy trình, các thủ tục do CTKT thiết lập, đồng thời thỏa mãn khách hàng trong việc tư vấn, giúp nâng cao uy tín với khách hàng Tuy nhiên, chất lượng kiểm toán cũng phải gắn với sự thỏa mãn của CTKT về mục tiêu lợi nhuận, tức chi phí dịch vụ kiểm toán phù hợp với mức độ rủi ro kiểm toán (giảm thiểu các vụ kiện tụng, tăng cường uy
Trang 29tín) Điều này cũng chính là áp lực đối với CTKT cung cấp dịch vụ KTĐL trong việc cân đối nguồn lực
2.2.2 Chất lượng dịch vụ KTĐL theo quan điểm phát hiện và báo cáo sai sót trọng yếu trong BCTC
Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán đã thực hiện nghiên cứu về chất lượng kiểm toán Theo một số công trình nghiên cứu, chất lượng kiểm toán được xác định
là mức độ CTKT tuân thủ theo các chuẩn mực kiểm toán trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng chất lượng kiểm toán được xem xét trên các khía cạnh như: khả năng mà KTV phát hiện ra sai phạm của hệ thống kế toán của khách hàng và báo cáo các sai phạm này (DeAngelo, 1981b); khả năng KTV không phát hành báo cáo chấp nhận toàn phần cho các BCTC có chứa đựng những sai sót trọng yếu (Lee và cộng sự, 1998); tính trung thực của thông tin tài chính được trình bày trên BCTC sau khi được kiểm toán (Davidson và Neu, 1993); khả năng KTV có thể làm giảm các sai sót và nâng cao tính trung thực của thông tin
kế toán (Wallace, 1987) (theo nghiên cứu của Bùi Thị Thủy, 2013, trang 40) Quan điểm chất lượng kiểm toán là khả năng phát hiện và báo cáo các sai sót trọng yếu được coi là quan điểm phổ biến của các nhà nghiên cứu về chất lượng kiểm toán DeAngelo (1981b) là nhà nghiên cứu đầu tiên xác định chất lượng kiểm toán dựa trên khả năng phát hiện và báo cáo các sai phạm trọng yếu trong BCTC của công ty khách hàng Theo đó, nhiều nhà khoa học kiểm toán dựa vào quan điểm này để phát triển các lý luận kiểm toán và chất lượng kiểm toán Hầu hết các nghiên cứu khác đều thống nhất cho rằng, chất lượng kiểm toán được hiểu là khả năng KTV phát hiện
và báo cáo về những sai sót trọng yếu trong việc trình bày và công bố các BCTC của các khách hàng được kiểm toán Khả năng các KTV phát hiện được các sai phạm trọng yếu này phụ thuộc vào nhiều nhân tố, đặc biệt là năng lực nghề nghiệp của KTV, còn khả năng báo cáo sai phạm phụ thuộc vào tính độc lập của KTV (trong đó
có sức ép từ phía khách hàng được kiểm toán…) (Francis, 2004)25
Theo quan điểm này, nếu cuộc kiểm toán có chất lượng có nghĩa là KTV cam kết đảm bảo về khả năng phát hiện và báo cáo các sai phạm trọng yếu trong các BCTC
đã được kiểm toán theo đúng các quy định chuẩn mực nghề nghiệp Theo đó, người
sử dụng các BCTC đã được kiểm toán, nhất là các nhà đầu tư có thể tin tưởng vào kết quả kiểm toán do đã thỏa mãn mong muốn của họ rằng, các thông tin được kiểm toán là đáng tin cậy
25 Francis, J R (2004) What do we know about audit quality? The British accounting review, 36(4),
345-368
Trang 30Tóm lại, kiểm toán là một loại hình cung cấp dịch vụ đặc biệt Mặc dù chất lượng kiểm toán được nhìn nhận dưới các quan điểm khác nhau, cũng như tồn tại khoảng cách về mức độ thỏa mãn của các đối tượng quan tâm tới chất lượng kiểm toán thì mục tiêu kiểm toán vẫn phải được đảm bảo, đó là KTV phải đưa ra ý kiến đáng tin cậy về mức độ trung thực và hợp lý của các thông tin trên BCTC; điều đó có nghĩa
là, nếu các BCTC có những sai sót làm ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của những người sử dụng, thì chúng đều đã được KTV phát hiện và báo cáo tới các bên liên quan
2.2 Các nhân tố bên trong của CTKT ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL
Theo nghiên cứu của Chadegani (2011), tác giả phân loại các yếu tố bên trong của CTKT thuộc dòng nghiên cứu thứ nhất, đó là đo lường “gián tiếp” chất lượng dịch
vụ KTĐL tại các CTKT thông qua các nhân tố: Quy mô, Phí dịch vụ, Phạm vi dịch
vụ phi kiểm toán, Nhiệm kỳ, Khả năng chuyên môn hóa (Mức độ am hiểu lĩnh vực kinh doanh của khách hàng)
Tác giả tiến hành nghiên cứu trực tiếp các đặc điểm của CTKT ảnh hưởng tới chất lượng cung cấp dịch vụ KTĐL bởi các CTKT, thông qua đánh giá của nhân viên CTKT nhằm giúp xác định phương hướng nâng cao chất lượng kiểm toán, bảo đảm khả năng phát hiện, báo cáo các sai sót trọng yếu của KTV và đáp ứng yêu cầu xã hội, bởi đây là mối quan tâm hàng đầu không chỉ của chính các công ty cung cấp dịch vụ kiểm toán mà đặc biệt là của các nhà đầu tư, cũng như các nhà quản lý Từ quan điểm về chất lượng kiểm toán nói chung và đặc trưng của kiểm toán đối với BCTC, tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả hệ thống lại các nhân
tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL như sau:
2.2.1 Ảnh hưởng của Quy mô đến chất lượng dịch vụ KTĐL (Firms’ Size)
Vào cuối thập niên 1970, nhiều người không đồng tình quan điểm cho rằng, các CTKT lớn luôn có chất lượng tốt hơn CTKT nhỏ và các CTKT quy mô nhỏ bị phân biệt đối xử Để giải quyết vấn đề này, DeAngelo (1981b) đã tiến hành các phân tích
về sự ảnh hưởng của quy mô kiểm toán đến chất lượng kiểm toán và kết luận rằng, CTKT quy mô lớn thường có chất lượng được đánh giá (bởi thị trường) cao hơn các CTKT quy mô nhỏ Theo DeAngelo, CTKT càng nhiều khách hàng thì họ càng bị
áp lực kinh tế buộc phải duy trì và nâng cao chất lượng kiểm toán Ngoài ra, Dye
Trang 31(1993)26 kết luận, chất lượng kiểm toán có mối quan hệ với nguồn tài chính của CTKT Quy mô CTKT càng lớn với nhiều nguồn lực (deep-pocket) thì có thể thanh toán được tiền phạt khi có kiện tụng, điều này cũng làm tăng điều kiện duy trì chất lượng dịch vụ ở mức cao và do vậy cũng sẽ làm giảm tối thiểu khả năng xảy ra các
vụ kiện tụng Bên cạnh đó, nghiên cứu của Choi và cộng sự (2010)27 càng củng cố thêm bằng chứng về ảnh hưởng của quy mô CTKT đến chất lượng dịch vụ KTĐL Nghiên cứu điều tra về mối quan hệ giữa quy mô CTKT và giá phí kiểm toán đến chất lượng dịch vụ KTĐL Kết quả khảo sát cho thấy quy mô của CTKT có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng dịch vụ KTĐL Tuy nhiên, kể từ sau vụ phá sản của tập đoàn năng lượng hàng đầu nước Mỹ Enron năm 2001, liên quan đến sự sụp đổ của hãng kiểm toán hàng đầu thế giới Arthur Andersen năm 2002 đã làm lung lay quan điểm cho rằng chất lượng dịch vụ KTĐL thường được đảm bảo tốt hơn bởi các CTKT lớn
Tại Việt nam, luận án của Phan Thanh Hải (2014) cho rằng quy mô công ty kiểm
toán thể hiện qua vốn điều lệ, số lượng nhân viên, số lượng các văn phòng chi nhánh,
số lượng hợp đồng kiểm toán hàng năm, quan điểm phát triển của người sở hữu, cũng như thời gian hoạt động của CTKT Quy mô càng lớn càng tác động tích cực
đến chất lượng dịch vụ kiểm toán Ngược lại, các CTKT có quy mô vừa và nhỏ thì ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về quy mô CTKT đến chất lượng, hiệu quả kiểm toán chỉ ở mức trung bình
Như vậy, đến nay hầu hết các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đều cho thấy quy mô CTKT là nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán cũng như ảnh hưởng đến sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ kiểm toán
2.2.2 Ảnh hưởng của Phí dịch vụ kiểm toán đến chất lượng dịch vụ KTĐL (Audit Fees)
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, việc hạ thấp chi phí (đặc biệt giá phí của cuộc kiểm toán năm đầu tiên thấp hơn dưới mức chi phí bỏ ra) sẽ ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán Hạ thấp chi phí (lowballing) có thể dẫn đến quỹ thời gian và chi phí dự tính cho cuộc kiểm toán bị hạ thấp và điều này tạo nên áp lực và khó khăn cho KTV trong việc phát hiện các sai phạm trọng yếu do sợ bị mất khách hàng DeAngelo (1981a) đã thiết lập mô hình phí kiểm toán năm đầu tiên (chi phí khởi
26 Dye, R A (1993) Auditing standards, legal liability, and auditor wealth Journal of political Economy,
887-914
27 Choi, J H., Kim, C., Kim, J B., & Zang, Y (2010) Audit office size, audit quality, and audit pricing
Auditing: A Journal of Practice & Theory, 29(1), 73-97
Trang 32động kiểm toán - start-up cost) với chi phí phát sinh liên quan đến việc thay đổi CTKT của đơn vị được kiểm toán Mô hình này cho thấy, một CTKT đương nhiệm
có thể định ra giá phí kiểm toán dưới mức chi phí thực tế bỏ ra trong năm đầu tiên
và sẽ thu được lợi nhuận tăng thêm trong tương lai do thực hiện hợp đồng kiểm toán này Ngoài ra, nhu cầu có được sự giảm giá cho năm đầu tiên để có được lợi nhuận tăng thêm trong tương lai tạo ra mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với khách hàng Từ các mối quan hệ đó, DeAngelo (1981a) đã đưa ra mối liên hệ giữa chi phí kiểm toán và mối quan hệ kinh tế với khách hàng Mối quan hệ kinh tế này có thể làm giảm tính độc lập của KTV và khi giảm tính độc lập sẽ làm suy giảm chất lượng dịch vụ KTĐL
Do vậy, mức phí kiểm toán sẽ tác động đến chất lượng kiểm toán, mức phí kiểm toán ảnh hưởng đến tính độc lập của KTV và việc giảm giá phí kiểm toán thường đưa đến giảm chất lượng dịch vụ KTĐL, đây là quan điểm được chấp nhận rộng rãi
Tuy nhiên, tác giả cũng cần phải nhấn mạnh rằng, không phải phí dịch vụ (kiểm toán hoặc phi kiểm toán) càng cao thì chất lượng dịch vụ KTĐL càng cao Tại Việt Nam, theo như đoạn 290.219 thông tư 70/2015/TT-BTC quy định về Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán quy định nếu doanh thu CTKT trong hai năm liên tiếp từ khách hàng là đơn vị có lợi ích công chúng chiếm hơn 15% tổng doanh thu của CTKT thì CTKT phải có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ nhằm giảm nguy cơ tự lợi hay nguy cơ bị đe dọa sẽ ảnh hưởng đến ý kiến của KTV, cũng như chất lượng dịch vụ KTĐL
Qua phân tích ở trên, tác giả xác định nhân tố phí dịch vụ kiểm toán được xem là một nhân tố không thể thiếu trong việc đánh giá tác động đến chất lượng dịch vụ KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh
2.2.3 Ảnh hưởng của Phí dịch vụ kiểm toán bất thường đến chất lượng dịch
vụ KTĐL (Abnormal Audit Fees)
Phí dịch vụ kiểm toán bất thường là sự khác biệt giữa chi phí kiểm toán thực tế (chi phí thực sự trả cho KTV để kiểm toán BCTC) và dự kiến Phí kiểm toán thực tế bao gồm hai phần (1): chi phí bình thường phản ảnh chi phí kiểm toán, rủi ro kiện tụng và lợi nhuận; và (2) chi phí bất thường được xác định dựa trên mối quan hệ đặc biệt giữa CTKT và khách hàng Như vậy chi phí bình thường chủ yếu được xác định dựa trên các yếu tố phổ biến như quy mô, sự phức tạp và rủi ro từng khách hàng cụ thể; trong khi đó phí bất thường được xác định bởi các yếu tố mang phong cách riêng giữa mối quan hệ cụ thể giữa CTKT và khách hàng Choi và cộng sự (2009) cho rằng phí dịch vụ kiểm toán bất thường làm giảm chất lượng dịch vụ KTĐL
Trang 33Mặt khác, căn cứ điểm c, khoản 1, điều 13, Luật Kiểm toán độc lập (2011) được Quốc hội khóa 12 thông qua ngày 29/03/201128 - về các hành vi bị nghiêm cấm đối với các thành viên tham gia cuộc kiểm toán và CTKT, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam thì ngoài khoản phí dịch vụ và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng đã giao kết thì các cá nhân, tổ chức trên không được nhận bất kỳ một khoản tiền hoặc lợi ích nào khác Thêm vào đó thông tư 70/2015/TT-BTC về việc ban hành chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán cũng yêu cầu các CTKT
không được ký kết thỏa thuận phí dịch vụ đảm bảo theo cách tính phí tiềm tàng (tạm
hiểu là phí dịch vụ bất thường) (đoạn 290.222 và 291.153)
Như vậy, xét trong bối cảnh Việt Nam thì Phí dịch vụ kiểm toán bất thường không ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL; do đó, Phí dịch vụ kiểm toán bất thường không được đưa vào mô hình nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh
2.2.4 Ảnh hưởng của Phạm vi dịch vụ phi kiểm toán đến chất lượng dịch vụ KTĐL (Non-audit Services)
Ảnh hưởng của dịch vụ phi kiểm toán đến chất lượng dịch vụ KTĐL luôn là mối quan tâm của các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chuyên gia trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán Tuy nhiên, không giống như các nhân tố khác, kết quả từ nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy dịch vụ phi kiểm toán không tác động đến chất lượng dịch
vụ KTĐL theo một chiều cố định mà có thể có lúc tác động tiêu cực, tích cực hoặc không có tác động đến chất lượng dịch vụ KTĐL, cụ thể như sau:
- Về tác động tiêu cực: Có thể kế đến nghiên cứu của của Beck và cộng sự (1988)29
chỉ ra rằng việc cung cấp dịch vụ phi kiểm toán có thể làm gia tăng mối quan hệ kinh
tế giữa KTV và khách hàng Mối quan hệ này càng chặt chẽ thì tính khách quan của CTKT càng bị suy giảm do đó dẫn đến phí dịch vụ phi kiểm toán so với giá phí kiểm toán chiếm tỷ lệ cao có thể làm gia tăng sự thỏa hiệp giữa KTV hoặc CTKT với khách hàng do CTKT lo ngại về nguy cơ mất khách hàng
Nghiên cứu thực nghiệm qua điều ra 1.500 KTV của Lindberg và Beck (2004)30
sau sự kiện Enron cho thấy phần lớn KTV đều đưa ra nhận định dịch vụ phi kiểm toán sẽ làm tổn hại đến tính độc lập của KTV Xét về phương diện đạo đức nghề
28 Điểm c, K ho ản 1, Điều 13, Luật Kiểm toán độc lập (2011) về các hành vi bị nghiêm cấm: “Nhận hoặc đòi hỏi bất
k ỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ đơn vị được kiểm toán ngoài khoản phí dịch vụ và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng đã giao kết”
29 Beck, P J., Frecka, T J., & Solomon, I (1988) A model of the market for MAS and audit services:
Knowledge spillovers and auditor-auditee bonding Journal of Accounting Literature, 7(1), 50-64
30 Lindberg, D L., & Beck, F D (2004) Before and after Enron: CPAs' views on auditor independence
The CPA Journal, 74(11), 36
Trang 34nghiệp một khi tính độc lập bị suy giảm thì chất lượng dịch vụ KTĐL cũng bị suy giảm theo Các nghiên cứu trước đó của Mautz và Sharaf (1961)31 có đề cập đến việc dịch vụ tư vấn quản lý và tư vấn thuế của CTKT cung cấp sẽ ảnh hưởng đến tính độc lập của CTKT Ngoài ra, theo Simunic (1984) thì mối quan hệ kinh tế giữa khách hàng và CTKT có thể gia tăng do sự kết hợp việc cung cấp dịch vụ phi kiểm toán và dịch vụ KTĐL Chính vì lý do này đã làm cho các CTKT có xu hướng nhượng bộ với khách hàng khi có sự bất đồng ý kiến trong quá trình thực hiện kiểm toán nhằm mục đích giữ được khách hàng Phát hiện này là phù hợp với nghiên cứu của các tác giả DeFond và cộng sự (2002), Frankel và cộng sự (2002), Dee và cộng sự (2002)
- Về tác động tích cực: DeAngelo (1981b) chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ KTĐL
phụ thuộc vào tính độc lập và năng lực của KTV Vì vậy, dịch vụ phi kiểm toán góp phần làm tăng kiến thức của KTV về khách hàng, qua đó là tăng khả năng phát hiện
sai sót trên BCTC Điều này được cho là hiệu quả của việc “lan tỏa tri thức” từ việc
thực hiện dịch vụ phi kiểm toán đến dịch vụ kiểm toán Phát hiện này là phù hợp với kết quả nghiên cứu của Lennox (1998)
- Không có tác động đến chất lượng dịch vụ KTĐL: Nghiên cứu của Ashbaugh và
cộng sự (2003)32 đã nỗ lực trong việc chứng minh tác động tiêu cực của dịch vụ phi kiểm toán đến chất lượng dịch vụ KTĐL Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu thực nghiệm của họ lại cho thấy một kết quả khác: không có mối quan hệ nào giữa dịch vụ phi kiểm toán và chất lượng dịch vụ KTĐL Reynolds và Francis (2004)33 đã nghiên cứu
về mối quan hệ kinh tế giữa KTV, CTKT và khách hàng Họ đặt ra giả thuyết rằng mức độ thỏa hiệp của KTV, CTKT phụ thuộc vào tầm quan trọng của khách hàng (tỷ lệ doanh thu cung cấp dịch vụ cho khách hàng đó trên tổng doanh thu của CTKT) Tuy nhiên, kết quả lại cho thấy mối quan hệ kinh tế không làm ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán, hay nói cách khác là chất lượng dịch vụ KTĐL Điều này được giải thích
là do những nguy cơ bị kiện tụng làm giảm danh tiếng đã lấn át sự phụ thuộc về kinh
32 Ashbaugh, H., LaFond, R., & Mayhew, B W (2003) Do nonaudit services compromise auditor
independence? Further evidence The Accounting Review, 78(3), 611-639
33 Reynolds, J K., Deis Jr, D R., & Francis, J R (2004) Professional service fees and auditor objectivity
Auditing: A Journal of Practice & Theory, 23(1), 29-52
Trang 35tư 64/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 29/06/2004, Nghị định
105/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/03/2004 và Luật 67/2011/QH12 được ban hành ngày 29/03/2011 về Luật Kiểm toán độc lập (có hiệu lực thi hành kể từ 01/05/2012), các CTKT không được đồng thời cung cấp dịch vụ phi kiểm toán và dịch vụ kiểm toán cho cùng một khách hàng trong cùng một chu kỳ kinh doanh hoặc trong năm trước liền kề Tuy nhiên, theo Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán và kiểm toán được ban hành và công bố của Thông tư 70/2015/TT-BTC34 ngày 05/05/2015 về việc ban hành Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán – Đoạn 290.32 (thay thế quyết định số 87/2005/QĐ-BTC ngày 01/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) thì lại cho rằng CTKT có thể cùng lúc thực hiện cả dịch vụ phi kiểm toán và dịch vụ kiểm toán cho cùng một khách hàng, nếu tách biệt được giữa hai nhóm thực hiện dịch vụ phi kiểm toán và kiểm toán Do đó, để đảm bảo tính khách quan của nghiên cứu, tác giả vẫn đưa biến dịch vụ phi kiểm toán vào mô hình để tiến hành đánh giá tác động đến chất lượng dịch vụ KTĐL
2.2.5 Ảnh hưởng của Phí dịch vụ phi kiểm toán đến chất lượng dịch vụ KTĐL (Non-Audit Fees)
Cũng như phí dịch vụ kiểm toán, phí dịch vụ phi kiểm toán cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dịch vụ kiểm toán Sự sụp đổ của CTKT Arthur Andersen
là một minh chứng cho lập luận trên CTKT vừa cung cấp cả dịch vụ kiểm toán và phi kiểm toán cho cùng một khách hàng rất dễ dẫn đến sự thông đồng giữa CTKT và khách hàng trong việc điều chỉnh số liệu nhằm làm đẹp BCTC để thu hút đầu tư từ bên ngoài (DeFond và cộng sự, 2002) Kinh nghiệm từ thực tế đã chứng minh, phí dịch vụ phi kiểm toán (chẳng hạn như phí tư vấn) nếu chiếm tỷ lệ cao trên tổng doanh thu của CTKT sẽ khiến cho CTKT giảm tính độc lập và có thể bỏ qua những sai sót trọng yếu BCTC của khách hàng Do đó, phí dịch vụ phi kiểm toán có thể được xem
là ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng dịch vụ kiểm toán thông qua tính độc lập của KTV và CTKT
2.2.6 Ảnh hưởng Nhiệm kỳ kiểm toán đến chất lượng dịch vụ KTĐL (Audit Tenure)
Ý tưởng về vấn đề luân chuyển kiểm toán (hay nhiệm kỳ kiểm toán) đầu tiên được giới thiệu và thảo luận vào năm 1976 Theo đó, luân chuyển kiểm toán được phân ra
34 Thông tư 70/2015/TT-BTC ban hành ngày 08/05/2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016, thay thế Quyết định số 87/2005/QĐ-BTC ngày 01/12/2005 của Bộ trường Bộ tài chính về Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán
Trang 36làm hai loại: bắt buộc và tự nguyện Luân chuyển bắt buộc thúc đẩy tất cả các CTKT thay đổi KTV một khoảng thời gian kiểm toán cố định, trong khi luân chuyển tự nguyện là việc tự do hoán đổi KTV Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiệm kỳ kiểm toán ngắn (luân chuyển nhanh), KTV sẽ ít am hiểu hơn về khách hàng, dẫn đến chất lượng dịch vụ KTĐL thấp hơn dự kiến Và nhiệm kỳ kiểm toán dài hơn (luân chuyển chậm) sẽ làm tăng khả năng phát hiện ra các sai sót nhờ có sự am hiểu về khách hàng, nhưng mối quan hệ lâu dài với khách hàng lại có thể làm giảm tính độc lập của KTV
và CTKT, do đó đã hình thành hai trường phái ủng hộ và phản đối luân chuyển kiểm toán
Quan điểm ủng hộ luân chuyển kiểm toán
Thứ nhất, luân chuyển kiểm toán sẽ giúp cải thiện công việc của CTKT bởi vì họ
biết rằng những công việc mà mình thực hiện sẽ được CTKT khác hoặc chủ phần hùn khác xem xét lại trong tương lai khi họ bị luân chuyển sau một thời gian kiểm toán nhất định (Raiborn và cộng sự, 2006)35
Thứ hai, nhiều KTV có xu hướng phát hành báo cáo kiểm toán phù hợp với ý
muốn của khách hàng trong năm đầu tiên kiểm toán hoặc trong thời gian khách hàng
có khả năng đang muốn chuyển sang một CTKT khác nhằm giữ chân khách hàng (Vanstraelen, 2000) Vì vậy, nếu không có sự luân chuyển kiểm toán sẽ có nhiều khả năng họ muốn bảo vệ nhiệm kỳ lâu hơn bằng cách thỏa thuận với khách hàng Ngoài
ra, mối quan hệ lâu dài giữa CTKT và khách hàng có thể gây nên sự quen thuộc giữa CTKT và khách hàng, làm giảm tính độc lập, ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL Do đó, nhiệm kỳ kiểm toán dài có thể sẽ làm giảm chất lượng dịch vụ KTĐL
Thư ba, luân chuyển kiểm toán làm gia tăng tính cạnh tranh trong thị trường kiểm
toán, do đó những CTKT nhỏ (không thuộc nhóm Big 4) có cơ hội tăng trưởng và phát triển chuyên môn thích hợp bởi vì việc luân chuyển đặt tất cả các công ty trong cùng một cấp độ và cơ hội như nhau (Raiborn và cộng sự, 2006)
Cuối cùng, cả phía kiểm toán và khách hàng đều phải chịu tổn thất trong trường
hợp cuộc kiểm toán bị thất bại, tuy nhiên chi phí cho việc luân chuyển kiểm toán thì
ít hơn phí kiện tụng và phí tổn hại danh tiếng đến từ cuộc kiểm toán thất bại (Jackson
và cộng sự, 2007)36 Vì vậy, luân chuyển kiểm toán bắt buộc đã được khuyến cáo
35 Raiborn, C., Schorg, C A., & Massoud, M (2006) Should auditor rotation be mandatory? Journal of
Corporate Accounting & Finance, 17(4), 37-49
36 Jackson, A B., Moldrich, M., & Roebuck, P (2007) Mandatory audit firm rotation and audit quality
Managerial Auditing Journal, 23(5), 420-437
Trang 37nhằm tăng tính độc lập của CTKT và để ngăn chặn gian lận trong phát hành báo cáo kiểm toán
Quan điểm phản đối luân chuyển kiểm toán
Thứ nhất, luân chuyển kiểm toán thì không cần thiết vì khi pháp luật quy định chặt
chẽ và khắt khe hơn trong những vụ kiện, KTV và CTKT sẽ phải cố gắng bằng mọi cách để đấu tranh nhằm bảo về danh tiếng của họ (Davis và cộng sự, 2008)37
Thứ hai, luân chuyển bắt buộc sẽ gia tăng chi phí chuyển đổi và khởi đầu đối với
cả hai phía CTKT và khách hàng Davis và cộng sự (2008) cho rằng khi kiểm toán thực hiện cam kết với một khách hàng mới, trong năm đầu tiên, chi phí sẽ phát sinh nhiều hơn do KTV sẽ mất nhiều thời gian và công sức hơn so với khi kiểm cho khách hàng hiện hữu Từ đó, phí kiểm toán tính cho KTV tăng, vì thế làm cho chi phí kiểm toán cao cũng như chi phí tính cho khách hàng cũng tăng theo
Cuối cùng, KTV thông thường sẽ tiếp xúc với ban quản lý của khách hàng thường
xuyên trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán, vấn đề này làm họ gắn bó thân thiết bất chấp tổng thời gian thực hiện hoặc nhiệm kỳ kiểm toán Điều này phản ánh việc luân chuyển là không cần thiết (Arel và cộng sự, 2005) (theo nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân, 2011, trang 14)
Luân chuyển kiểm toán tại Việt Nam
Tại Việt Nam, hoạt động KTĐL những năm gần đây đang nỗ lực hòa nhập với sự phát triển chung của nghề nghiệp trên thế giới Việc ra đời Luật kiểm toán độc lập vào năm 2011, có hiệu lực thi hành vào năm 2012 đã nâng tầm chuyên nghiệp của nghề kiểm toán ở một vị trí quan trọng nhất định Một lý do quan trọng của việc ra đời Luật kiểm toán độc lập là góp phần “nâng tầm” chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp
kế toán, kiểm toán Việt Nam theo quyết định 87/2005/QĐ-BTC hợp thức hóa tính chất bắt buộc đối với các quy định trong chuẩn mực đạo đức mà không có trong Luật kiểm toán mà phù hợp với nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Theo đoạn 173, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam quy định về thời gian luân chuyển kiểm toán viên tối đa là ba năm một lần
Tóm lại, các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đều cho rằng nhiệm kỳ kiểm toán có ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL thông qua tính độc lập của CTKT
và KTV
37 Davis, L R., Soo, B S., & Trompeter, G M (2008) Auditor tenure and the ability to meet or beat
earnings forecasts Contemporary Accounting Research, Forthcoming
Trang 382.2.7 Ảnh hưởng của Mức độ am hiểu lĩnh vực kinh doanh của khách hàng
đến chất lượng KTĐL (Industry Expertise)
Mức độ chuyên sâu (am hiểu về lĩnh vực kinh doanh của khách hàng) của KTV, CTKT là một nhân tố quan trọng để đảm bảo chất lượng kiểm toán Theo đó, Deis
và Giroux (1992)38 cũng đã tiến hành chọn mẫu để kiểm tra thị phần của các Big 6 (các công ty kiểm toán không thuộc nhóm Big 6 lúc bấy giờ và cả Big 4 hiện nay) Kết quả cho thấy rằng thị phần của các công ty kiểm toán chuyên ngành tỷ lệ thuận với việc kiểm soát chất lượng Bằng chứng này chứng minh cho giả thuyết tính chuyên môn hóa tỷ lệ thuận với CLKT Balsam và các cộng sự (2003) cũng tiến hành điều tra tương tự và rút ra kết luận rằng khách hàng của những công ty kiểm toán chuyên ngành thường có ít các khoản trích trước kế toán tùy tiện hơn so với những khách hàng sử dụng công ty kiểm toán không chuyên ngành (theo nghiên cứu của Trần Khánh Lâm, 2011)
Non-Trong các nghiên cứu trước, KTV được giao nhiệm vụ kiểm toán có sự hiểu biết sâu (tinh thông) về lĩnh vực chuyên ngành thường được đánh giá có mức độ ảnh hưởng quan trọng nhất tới chất lượng dịch vụ KTĐL KTV có hiểu biết chuyên sâu
sẽ có khả năng đánh giá được tính hợp lý trong ước tính kế toán và các xét đoán quan trọng của khách hàng khi lập và trình bày BCTC, do đó, sẽ làm tăng áp lực lên khách hàng phải tuân thủ nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán (Kwon, 1996) Thêm vào đó,
để chuyên môn hóa theo lĩnh vực ngành nghề của khách hàng, các CTKT phải đầu
tư vào công nghệ, kỹ thuật, phương tiện vật chất, nhân sự và hệ thống KSCL để nâng cao chất lượng kiểm toán Maletta và Wright (1996) cho rằng, trong từng ngành kinh doanh khác nhau của khách hàng kiểm toán luôn tiềm ẩn những rủi ro kiểm toán đặc trưng, theo đó cần các KTV am hiểu sâu về khách hàng để giảm thiểu các rủi ro này (theo nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân, 2011, trang 13)
Như vậy, KTV và CTKT có tính chuyên sâu theo ngành nghề được xem là nhân
tố tác động quan trọng tới chất lượng kiểm toán, nhân tố này thường được đánh giá
38 Deis Jr, D R., & Giroux, G A (1992) Determinants of audit quality in the public sector Accounting
Review, 462-479
Trang 39quy định nhằm tạo ra những sản phẩm kiểm toán đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của các đơn vị được kiểm toán nói riêng và các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán nói chung Xét trên phương diện KSCL từ bên trong (nội bộ), nhiều nghiên cứu cho thấy: nếu CTKT có một chính sách, thủ tục KSCL nội bộ tốt và vận hành hiệu quả thường đi liền với chất lượng cao hơn Tiêu biểu cho quan điểm này
là Cushing (1989)39 cho rằng, các sai lệch trọng yếu trên BCTC có thể dễ dàng được phát hiện hơn đối với các CTKT có chính sách và thủ tục KSCL nội bộ tốt Ở hầu hết các quốc gia, nhân tố kiểm soát chất lượng bên trong đều được coi trọng Thêm vào đó, Alderman và Deitrick (1982) đã phát hiện ra rằng 78% KTV đồng
ý rằng các thủ tục soát xét công việc giúp phát hiện ra các hành vi làm suy giảm chất lượng kiểm toán Theo đó, hoạt động soát xét công việc của KTV nhiều kinh nghiệm hơn đối với KTV ít kinh nghiệm hơn trong nhóm kiểm toán và của các chủ phần hùn đối với các chủ nhiệm kiểm toán phụ trách nhóm kiểm toán được xem là cách hiệu quả để KSCL kiểm toán tại CTKT (Otley và Pierce, 1996)40
Ngoài ra, tại Việt Nam nhân tố KSCL được quy định bắt buộc thực hiện theo chuẩn mực Kiểm soát chất lượng số 1 (VSQC1)41 Do đó, đây được xem là nhân tố không thể thiếu trong mối liên hệ ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương 2 đã khái quát các vấn đề về lý luận nền tảng sự ra đời của kiểm toán, KTĐL, vai trò quan trọng của KTĐL trong nền kinh tế thị trường và chỉ ra những đặc điểm tác động đến chất lượng dịch vụ KTĐL, bao gồm 08 đặc điểm của CTKT như: quy mô, phí dịch vụ kiểm toán, phạm vi và phí dịch vụ phi kiểm toán, phí dịch
vụ bất thường, nhiệm kỳ kiểm toán, mức độ am hiểu ngành nghề kinh doanh của khách hàng, và hệ thống KSCL bên trong Trên cơ sở nền tảng lý luận này, tác giả tiến hành đánh giá sự phù hợp của các biến trên vào tình hình thực tế tại thành phố
Hồ Chí Minh và lựa chọn các biến phù hợp để đưa vào mô hình nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh Kết quả phân tích cho thấy, từ 08 nhân tố ảnh hưởng ban đầu tác giả đã xác định được 07 biến đại diện để nghiên cứu, đó là: (1) quy mô; (2) phí dịch
vụ kiểm toán; (3) phạm vi dịch vụ phi kiểm toán, (4) phí dịch vụ phi kiểm toán; (5)
39 Cushing, B E (1989) The association between audit technology and audit delay-discussion
Auditing-a journAuditing-al of prAuditing-actice &Auditing-amp; theory, 8, 38-47
antecedents Accounting, Auditing & Accountability Journal, 9(1), 31-58.
41 Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06/12/2012 của Bộ Tài chính
Trang 40nhiệm kỳ kiểm toán; (6) mức độ am hiểu ngành nghề kinh doanh của khách hàng và (7) hệ thống KSCL bên trong
Chương 3, tác giả sẽ trình bày rõ hơn về mô hình và phương pháp nghiên cứu các đặc điểm bên trong của CTKT ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh