Trong đó, mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến được xem là mô hình có hiệu quả và ổn định, do ít dịch bệnh so với nuôi tôm theo hình thức thâm canh và bán thâm canh.. Đặc biệt là phát t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
***
LÊ VĂN NGỜI
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH NUÔI TÔM THEO MÔ HÌNH QUẢNG CANH
CẢI TIẾN TẠI HUYỆN NĂM CĂN,
TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
***
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH NUÔI TÔM THEO MÔ HÌNH QUẢNG CANH
CẢI TIẾN TẠI HUYỆN NĂM CĂN,
TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Văn Sĩ
Học viên: Lê Văn Ngời
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, nội dung của luận văn là kết quả nghiên cứu của tác giả Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa được công bố ở bất
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa thực tiễn 4
6 Bố cục luận văn 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VÀ NUÔI TÔM QUẢNG CANH CẢI TIẾN 5
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 5
1.1.1 Khái niệm nuôi trồng thủy sản. 5
1.1.2 Đặc điểm của nuôi trồng thủy sản. 5
1.2 KHÁI NIỆM CÁC MÔ HÌNH TRONG NUÔI TÔM 8
1.2.1 Nuôi tôm thâm canh (Intensive Sytem) 8
1.2.2 Nuôi tôm bán thâm canh (Semi-Intensive Sytem) 8
1.2.3 Nuôi tôm quảng canh (Extensive Sytem) 8
1.2.4 Nuôi tôm quảng canh cải tiến (Improved Extensive Sytem): 9
1.2.5 Sự khác nhau của nuôi tôm quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh và nuôi tôm kết hợp với trồng rừng ngập mặn: 9
1.3 KHÁI NIỆM VỀ HIỆU QUẢ TRONG SẢN XUẤT THỦY SẢN 11
1.3.1 Hiệu quả sản xuất 11
1.3.2 Hiệu quả kinh tế 11
1.3.3 Hiệu quả kỹ thuật 11
1.3.4 Rủi ro 12
1.3.5 Lợi nhuận 12
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN HUYỆN NĂM CĂN 13
2.1 THỰC TRẠNG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2009 - 2015 13
2.1.1 Tình hình nuôi tôm công nghiệp 17
2.1.2 Tình hình nuôi tôm - lúa 17
2.1.3 Tình hình nuôi tôm - rừng 18
2.1.4 Tình hình nuôi tôm quảng canh truyền thống 21
2.1.5 Tình hình nuôi tôm QCCT 22
2.2 THỰC TRẠNG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN CỦA HUYỆN NĂM CĂN 23 2.2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 23
2.2.1.1 Vị trí địa lý 23
2.2.1.2 Địa hình 23
2.2.1.3 Khí hậu 24
2.2.1.4 Thủy văn 24
2.2.1.5 Tiềm năng đất đai 24
2.2.1.6 Tài nguyên nước 26
2.2.1.7 Nguồn nhân lực 27
2.2.1.8 Giao thông 27
2.2.1.9 Thủy lợi 28
Trang 52.2.1.10 Hệ thống lưới điện 28
2.2.2.1 Nuôi tôm Quảng canh truyền thống 35
2.2.2.2 Nuôi tôm quảng canh cải tiến 36
2.3 CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN NUÔI TÔM QUẢNG CANH CẢI TIẾN HUYỆN NĂM CĂN 40
2.3.1 Sản xuất và kinh doanh tôm giống 40
2.3.2 Dịch vụ cung ứng vật tư nuôi trồng thủy sản 41
2.3.3 Dịch vụ thu mua và chế biến thủy sản 42
2.3.4 Công tác khuyến ngư 42
2.3.5 Tổ chức sản xuất và quản lý sản xuất 43
2.3.6 Về phòng, chống dịch bệnh và bảo vệ môi trường 43
2.4 ĐÁNH GIÁ NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM QUẢNG CANH CẢI TIẾN: 44
2.4.1 Thuận lợi: 44
2.4.2 Khó khăn và thách thức: 46
2.5 NHỮNG TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN 48
2.5.1 Chất lượng tôm giống 48
2.5.2 Hệ thống thủy lợi – môi trường 49
2.5.3 Kỹ thuật 49
2.5.4 Thị trường tiêu thụ 50
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN NUÔI TÔM QUẢNG CANH CẢI TIẾN BỀN VỮNG TRONG THỜI GIAN TỚI 51
3.1 ĐỀ XUẤT CÁC DỰ ÁN, CHƯƠNG TRÌNH ƯU TIÊN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 51 3.1.1 Các Dự án nuôi tôm Quảng canh cải tiến tập trung 51
3.1.2 Dự án xây dựng khu sản xuất giống tập trung 51
3.1.3 Dự án thành lập hệ thống quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh 51
3.1.4 Chương trình kiểm soát chất lượng giống, thức ăn, vật tư nuôi tôm 52
3.1.5 Công tác khuyến ngư 52
3.1.6 Thủy lợi 53
3.1.7 Điện lưới 53
3.1.8 Giao thông 54
3.2 CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN NUÔI TÔM QUẢNG CANH CẢI TIẾN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 54
3.2.1 Giải pháp về thị trường 54
3.2.2 Giải pháp về nâng cao chất lượng và số lượng tôm giống 55
3.2.3 Về thức ăn, vật tư và hóa chất 56
3.2.4 Về quản lý dịch bệnh và thú y thủy sản 57
3.2.5 Về đào tạo nguồn nhân lực và khuyến ngư 58
3.2.6 Về khoa học công nghệ 58
3.2.7 Giải pháp bảo vệ môi trường 59
3.2.8 Giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu 60
3.2.9 Giải pháp về tổ chức sản xuất 61
3.2.10 Giải pháp về cơ chế chính sách 62
3.3 CÁC GIẢI PHÁP VỀ VỐN ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂN NUÔI TÔM QUẢNG CANH CẢI TIẾN TRONG THỜI GIAN TỚI 62
Trang 63.3.1 Vốn ngân sách nhà nước 62
3.3.2 Vốn tín dụng 63
3.3.3 Vốn tự có và huy động 63
3.3.4 Giải pháp tạo vốn 63
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
4.1 KẾT LUẬN 66
4.2 KIẾN NGHỊ 67
4.2.1 Xây dựng quy hoạch 67
4.2.2 Về chính sách 67
4.2.3 Thị trường 68
4.2.4 Nguồn lao động và đào tạo cán bộ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Sự khác nhau về lịch thời vụ giữa các mô hình 11
Bảng 2: Diện tích, năng suất và sản lượng các mô hình nuôi tôm tỉnh Cà Mau năm 2011-2015 16
Bảng 3: Diện tích nuôi tôm sinh thái đến cuối năm 2015 19
Bảng 4: Hiệu quả nuôi tôm tính cho 1 ha mặt nước cho 1 năm 20
Bảng 5: Hiện trạng sử dụng đất khu dân cư nông thôn năm 2014 25
Bảng 6: SẢN XUẤT THUỶ SẢN HUYỆN NĂM CĂN GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 31
Bảng 7: Tổng hợp diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bản huyện 34
Bảng 8: Tổng hợp kết quả thực hiện quy hoạch nuôi tôm công nghiệp năm 2015 35
Bảng 9: Diện tích nuôi tôm QCTT qua các năm 36
Bảng 10: Năng suất và sản lượng tôm QCTT qua các năm 36
Bảng 11: Diện tích nuôi tôm QCCT qua các năm: 37
Bảng 12: Năng suất và sản lượng tôm QCCT qua các năm 38
Bảng 13: Chi phí và lợi nhuận của của mô hình nuôi QCCT trên 1ha diện tích, theo đánh giá của Hội đồng khoa học công nghệ huyện Năm Căn 39
Bảng 14: Chỉ tiêu môi trường nước phải đảm bảo theo Tiêu chuẩn 28 TCVN 171:2001 60 DANH MỤC HÌNH Hình 1: Tình hình giao động diện tích, sản lượng NTTS giai đoạn 2009 – 2015 13
Hình 2: Diện tích NTTS theo địa phương năm 2015 13
Hình 3- Diện tích nuôi tôm công nghiệp, quảng canh truyền thống, quảng canh cải tiến qua các năm 14
Hình 4: Diện tích và sản lượng nuôi tôm công nghiệp giai đoạn 2009 - 2015 17
Hình 5: Diện tích và sản lượng nuôi tôm - lúa giai đoạn 2009 – 2015 18
Hình 6: Diện tích và sản lượng nuôi tôm - rừng giai đoạn 2009 – 2015 19
Hình 7: Diện tích và sản lượng nuôi tôm quảng canh giai đoạn 2009 – 2015 21
Hình 8: Diện tích và sản lượng nuôi tôm QCCT giai đoạn 2009 – 2015 22
Hình 9 Thống kê 3 mô hình nuôi tôm nuôi tôm chủ yếu huyện Năm Căn năm 2013 33
Hình 10 Thống kê 3 mô hình nuôi tôm nuôi tôm chủ yếu huyện Năm Căn năm 2014 và QCCT năm 2015 33
Hình 11 Diễn biến nuôi tôm QCCT của các xã, thị trấn qua các năm 2013 – 2015 37
Trang 8Việt Nam
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thủy sản Việt Nam có vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế đất nước và không ngừng tăng lên với quy mô của ngành thủy sản ngày càng mở rộng Theo VASEP (2014), tổng sản lượng thuỷ sản năm 2014 ước đạt 6.311 ngàn tấn, tăng 4,8% so với năm 2013, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 2.918 ngàn tấn, tăng 4,1%; sản lượng nuôi trồng ước đạt 3.393 ngàn tấn, tăng 5,5% so với năm 2013 Giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 7,92 tỷ USD, tăng 18,4%; Giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 6,54 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm 2013 Hiện nay, có rất nhiều mô hình nuôi tôm sú như là nuôi thâm canh, bán thâm canh, quảng canh và quảng canh cải tiến Trong đó, mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến được xem là mô hình có hiệu quả và ổn định, do ít dịch bệnh so với nuôi tôm theo hình thức thâm canh
và bán thâm canh Mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến đang được áp dụng khá phổ biến ở nhiều nơi (Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang,…) cho những hộ nuôi không có điều kiện đầu tư lớn, hình thức nuôi tôm quảng canh cải tiến thường kết hợp với cua hay cá, đây còn gọi là hình thức nuôi tôm quảng canh cải tiến thân thiện môi trường, không làm suy thoái ao nuôi và có hiệu quả kinh tế ổn định
Nuôi tôm quảng canh cải tiến được quan tâm ở Việt Nam từ vài năm gần đây,
đi đầu trong loại hình nuôi này hiện là tỉnh Cà Mau với khoảng 73.000 ha nuôi Bên cạnh những đóng góp quan trọng của nghề nuôi tôm sú trong việc tạo ra nguồn nguyên liệu, chế biến xuất khẩu thu ngoại tệ, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động và tác động kéo theo sự tăng trưởng cho nhiều ngành dịch vụ khác, thì nghề nuôi tôm sú trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế đáng kể như: Gây ô nhiễm môi trường trên nhiều vùng nuôi, tình trạng lây lan dịch bệnh trên diện rộng đã diễn ra khá phổ biến làm thiệt hại về kinh tế và khó khăn cho đời sống của nhiều hộ nông dân thất mùa Ảnh hưởng của vụ kiện bán phá giá và quy định ký quỹ nhập khẩu cũng như rào cản về an toàn vệ sinh thực phẩm đã gây ra rất nhiều khó khăn, trở ngại cho các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản trong nước
Năm Căn là huyện có tiềm năng, lợi thế rất lớn để phát triển nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là nuôi tôm Có 3 mặt giáp biển, chiều dài bờ biển khoảng 34 km, nhiều cửa sông lớn, nhỏ nối liền với biển; phần lớn diện tích tự nhiên chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều Biển Đông và nhật triều của Biển Tây nên là vùng sinh thái lý tưởng cho
Trang 10sinh sản, sinh trưởng và phát triển của nhiều loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, tạo nguồn giống tự nhiên dồi dào cung cấp cho khu vực ven biển và nội địa Nuôi trồng thủy sản huyện Năm Căn thời gian qua đã được quan tâm đầu tư phát triển và đã đạt được những kết quả nhất định Đặc biệt là phát triển nuôi tôm, hiện tại diện tích nuôi tôm của huyện Năm Căn có khoảng 25.700 ha bao gồm nuôi tôm công nghiệp (CN), quảng canh cải tiến, tôm – rừng, nuôi quảng canh, nuôi kết hợp
Tuy nhiên việc phát triển nuôi theo mô hình QCCT ở huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau và Việt Nam chưa phát triển như mong đợi, nghề nuôi trồng thủy sản của huyện còn tiềm ẩn rất nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng, điện lưới chưa đáp ứng cho nuôi tôm, trình độ tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, cùng với sự diễn biến phức tạp của thời tiết, chất lượng con giống Dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản, nhất là tôm nuôi thường xuyên xảy ra, năng suất tôm nuôi bình quân đạt rất thấp, kinh tế tuy có phát triển nhưng vẫn còn chưa ổn định Do nhận thức của người dân nuôi tôm còn thấp và việc tham gia thực hiện nuôi tôm quảng canh cải tiến còn xa lạ với đông đảo các hộ dân nuôi tôm trên địa bàn huyện, người dân còn mang nặng tư tưởng nuôi tôm quảng canh theo cách truyền thống, khó chấp nhận thay đổi; người dân còn e ngại khi áp dụng mô hình mới, công tác tuyên truyền vận động của cán bộ chuyên môn còn hạn chế… Đây chính là trở ngại lớn nhất khi muốn nhân rộng mô hình sản xuất ra toàn huyện Để góp phần tháo gở những khó khăn đó, điều cần thiết là phải nhận biết các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của các hộ nông dân nuôi tôm vào việc áp dụng mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến Đó là lý do thôi thúc tôi chọn và thực hiện
đề tài “Phân tích tình hình nuôi tôm theo mô hình quảng canh cải tiến tại huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau” để xây dựng cho Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học quản lý
kinh tế của mình, nhằm xây dựng được các điều kiện, quy hoạch, phương án bố trí sản xuất hợp lý dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và chủ trương của tỉnh để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên mặt nước và định hướng phát triển NTTS tỉnh Cà Mau theo hướng hiệu quả, bền vững của mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến trên địa bàn huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau và thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp trong thời gian tới
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả của mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến so với các mô hình nuôi tôm khác Tìm hiểu các các yếu tố tác động đến sự tham gia mô hình các hộ
Trang 11dân trên địa bàn huyện Năm Căn Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là đánh giá chung đặc điểm tình hình, thực trạng về nuôi tôm quảng canh truyền thống và nuôi tôm quảng canh cải tiến trong những năm qua và đưa ra các giải pháp mang tính bền vững cho nuôi tôm quảng canh cải tiến trong những năm tiếp theo của huyện Năm Căn nói riêng, tỉnh Cà Mau nói chung trong thời gian tới Cụ thể cần làm rõ các vấn đề sau:
(1) - Đặc điểm tình hình, thực trạng nghề nuôi tôm quảng canh truyền thống và nuôi tôm cải tiến đã qua của huyện Năm Căn Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của mô hình này trong thời gian qua
(2) - So sánh hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi tôm và mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến ở huyện Năm Căn Xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc tham gia mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến
(3) - Giải pháp để phát triển nuôi tôm quảng canh cải tiến bền vững trong thời gian tới
(4) – Kết luận và kiến nghị
3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện ở huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau, số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo thống kê của ngành có liên quan đến thủy sản, các bài đăng trên tạp chí khoa học, các luận văn cao học và các website có thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu Số liệu thứ cấp kết hợp với các số liệu được ghi nhận từ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Năm Căn Các số liệu được xử lý thống kê
mô tả, tỷ lệ phần trăm và phương pháp so sánh các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của
mô hình nuôi Việc nghiên cứu xử lý số liệu được nhập vào vi tính, sau đó xử lý số liệu bằng các phần mềm chuyên dụng
Phương pháp nghiên cứu bằng cách thu thập thông tin, số liệu, dữ liệu đã qua, các nghiên cứu và báo cáo trước đó làm nền tảng cơ sở Qua đó đúc kết lại để đánh giá, phân tích và đề ra những giải pháp cho chiến lược phát triển mang tính bền vững của nuôi tôm quảng canh cải tiến trên địa bàn huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm QCCT Thực hiện đối với các hình thức nuôi tôm sú quảng canh truyền thống và quảng canh cải tiến
Trang 12Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của các hộ nuôi tôm tại huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau Đánh giá thực trạng NTTS giai đoạn 2009 –
2015 tỉnh Cà Mau và mô hình nuôi tôm QCCT huyện Năm Căn.Thu thập thông tin số liệu, dữ liệu của tỉnh và trên địa bàn huyện Năm Căn làm cơ sở cho cho các phân tích, đánh giá, đưa ra các giải pháp, kiến nghị đề xuất mang tính bền vững của nuôi tôm quảng canh cải tiến trên địa bàn huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau
5 Ý nghĩa thực tiễn
Phân tích các yếu tố tác động đến nuôi tôm quảng canh cải tiến nhằm chuyển đổi cơ cấu trong lĩnh vực NTTS, từ nuôi quảng canh truyền thống năng suất thấp sang nuôi tôm quảng canh cải tiến góp phần tăng năng suất và sản lượng tôm nuôi của huyện Năm Căn, xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế hộ gia đình Tuy nhiên, ngành hàng tôm QCCT ở Cà Mau và Việt Nam chưa phát triển như mong đợi Năng suất nuôi tôm quảng canh bình quân trên thế giới đạt thấp (200-300 kg/ha/năm) cũng là một hạn chế rất lớn Nghiên cứu này thực hiện việc phân tích kinh tế và nhận thức của các
hộ nuôi tôm sú bao gồm các mô hình nuôi, từ đó đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm góp phần phát triển mô hình nuôi tôm QCCT một cách hợp lý hơn, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội cũng như bảo vệ và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn và nguồn lợi thủy sản ven biển của tỉnh cũng như của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Hệ thống hóa được thực tiễn trong phát triển nông nghiệp, đánh giá thực trạng phát triển NTTS huyện Năm Căn trong thời gian qua Giúp cho lãnh đạo địa phương
có những giải pháp khoa học trong phát triển NTTS của huyện Năm Căn, cụ thể là phát triển mô hình tôm có hiệu quả Đánh giá hiệu quả và các yếu tố tác động đến mô hình nuôi tôm QCCT tại huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau trong thời gian qua và đề xuất giải pháp nhân rộng mô hình nuôi
6 Bố cục luận văn: Luận văn này được chia ra làm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan về nuôi trồng thuỷ sản và nuôi tôm quảng canh cải tiến Chương 2 Đặc điểm tình hình, thực trạng nuôi tôm quảng canh truyền thống và quảng canh cải tiến của tỉnh Cà Mau và huyện Năm Căn trong thời gian qua
Chương 3 Giải pháp để phát triển nuôi tôm quảng canh cải tiến bền vững trong thời gian tới
Chương 4 Kết luận và kiến nghị
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VÀ NUÔI TÔM QUẢNG
CANH CẢI TIẾN
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
1.1.1 Khái niệm nuôi trồng thủy sản
NTTS là hoạt động sản xuất dựa trên cơ sở kết hợp giữa tài nguyên thiên nhiên sẵn có (mặt nước biển, nước sông ngòi, ao hồ, ruộng trũng, sông cụt, đầm phá, khí hậu ) với hệ sinh vật sống dưới nước (chủ yếu là cá, tôm, và thủy sản khác ) có sự tham gia trực tiếp của con người Hoạt động này ở Việt Nam bao gồm nuôi, trồng các loại thủy sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn Các loại thủy sản nuôi trồng chủ yếu hiện nay là: tôm sú, tôm càng xanh, cá biển (cá song, cá hồng, cá cam, cá vược, cá bớp, cá chẽm, cá măng…), cá nước ngọt (cá tra, cá ba sa, cá chép, cá mè, rô phi, trê phi, trắm cỏ, cá trôi, bống tượng, tai tượng, cá quả, sặc rằn, cá lóc…) các hình thức nuôi chủ yếu là:
- Nuôi tôm sú theo phương pháp công nghiệp và bán công nghiệp, quảng canh, quảng canh cải tiến
- Nuôi cá biển trong lồng bè trên mặt nước biển, sông, đầm phá, ven biển, sông cụt, chủ yếu là cá chẽm, cá mú, cá tra, cá ba sa, cá bống tượng, cá trôi, cá cá chép, cá
mè, ba ba, lươn, ếch
- Nuôi tôm càng xanh
- Nuôi nhuyễn thể: ngao, nghêu, sò huyết, ốc
- Nuôi thủy sản ao hồ, đìa, hầm
- Nuôi thủy sản trên ruộng trũng, ruộng lúa
- Trồng rong biển, các đối tượng chủ yếu là rong câu chỉ vàng, rong mơ, rong
kỳ lân, rong cước và rong sụn
* Chủ thể nuôi: các tổ chức (DN, HTX, tổ hợp tác), hộ gia đình, cá nhân
Như vây, hoạt động NTTS rất đa dạng cả về phương thức nuôi, đối tượng nuôi, mặt nước nuôi trên cơ sở tận dụng các loại diện tích đấtmặt nước bỏ hoang, mặt nước biển, nước sông suối, dòng chảy, hồ thủy lợi, thủy điện hoặc diện tích đất có mặt nước đang sử dụng kém hiệu quả trong nông nghiệp, lâm nghiệp
1.1.2 Đặc điểm của nuôi trồng thủy sản
Trang 14- NTTS là một ngành phát triển trên phạm vi cả nước và có đối tượng phức tạp
so với các ngành sản xuất khác Tính chất rộng khắp của ngành thủy sản thể hiện nghề NTTS phát triển ở khắp các vùng trong nước từ đồng bằng, trung du, miền núi cho đến các vùng ven biển, ở đâu có diện tích mặt nước là ở đó có thể phát triển nghề NTTS Song, mỗi vùng có điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết khác nhau nên có sự khác nhau
về đối tượng sản xuất, về quy trình kỹ thuật, về mùa vụ sản xuất Do đó, trong công tác quản lý và chỉ đạo sản xuất của ngành thủy sản cần lưu ý đến các vấn đề như: xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch, chính sách giá cả, vốn đầu tư cho phù hợp đối với từng khu vực, từng vùng lãnh thổ
- Trong NTTS đất đai, diện tích mặt nước vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là
tư liệu sản xuất đặt biệt không thể thay thế được Nếu không có đất đai, diện tích mặt nước thì không thể tiến hành NTTS được Đất đai không những là tư liệu sản xuất mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt, khác với các tư liệu sản xuất khác Do diện tích đất đai, mặt nước có giới hạn, vị trí của chúng cố định, sức sản xuất của chúng thì không giới hạn và nếu biết sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, diện tích mặt nước không những không bị hao mòn đi mà còn tốt hơn (tức độ phì nhiêu, độ màu mỡ của đất đai, diện tích mặt nước ngày một tăng); mặt khác đất đai, diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không đồng nhất về mặt chất lượng do cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình, vị trí dẫn đến độ màu mỡ của đất đai, diện tích mặt nước giữa các vùng thường là khác nhau Chính vì vậy, khi sử dụng đất đai, diện tích mặt nước phải hết sức tiết kiệm, phải quản lý chặt chẽ đất đai diện tích mặt nước trên cả 3 mặt: pháp chế, kinh tế và kỹ thuật
- NTTS có tính thời vụ cao Trong NTTS ngoài sự tác động trực tiếp của con người, các đối tượng nuôi còn chịu sự tác động của môi trường tự nhiên Nhân tố cơ bản quyết định tính thời vụ là quy luật sinh trưởng và phát triển của các đối tượng nuôi trồng, những biểu hiện chủ yếu của tính thời vụ trong NTTS là:
+ Đối với mỗi đối tượng nuôi trồng, các giai đoạn sinh trưởng, phát triển diễn ra trong các khoảng thời gian khác nhau của mùa vụ sản xuất nên đòi hỏi thời gian, hình thức và mức độ tác động trực tiếp của con người tới chúng cũng khác nhau Có thời gian đòi hỏi lao động căng thẳng, có thời gian ít căng thẳng
+ Cùng một đối tượng NTTS nhưng ở những vùng có điều kiện khí hậu, thời tiết khác nhau thường có mùa vụ sản xuất khác nhau
+ Các đối tượng NTTS khác nhau có mùa vụ sản xuất khác nhau
Trang 15Tính thời vụ trong NTTS có xu hướng dẫn tới tính thời vụ trong việc sử dụng các yếu tố sản xuất nhất là sức lao động, công cụ lao động và đất đai, diện tích mặt nước Do điều kiện lao động thủ công, điều kiện tự nhiên, thời tiết diễn biến bất thường, tính thời vụ trong NTTS càng gây nên nhiều vấn đề phức tạp trong tổ chức quản lý sản xuất và kinh doanh Mặt khác, tính thời vụ trong NTTS còn ảnh hưởng và đòi hỏi ngành thủy sản phải có kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt việc thu hoạch, tiêu thụ sản phẩm (bao gồm cả xác định giá bán theo mùa cho phù hợp)
- Đối tượng sản xuất của ngành NTTS là những cơ thể sống Chúng sinh trưởng, phát sinh, phát triển và phát dục theo các quy luật sinh học Do đó, trong quá trình sản xuất chúng luôn luôn đòi hỏi sự tác động thích hợp của con người và tự nhiên
để sinh trưởng và phát triển Vì thế, có hàng loạt các vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết
để đạt năng suất các đối tượng NTTS cao như: nâng cao chất lượng con giống, quản lý chất lượng môi trường và xây dựng các quy trình sản xuất tiên tiến cho năng suất cao
- Một số sản phẩm thủy sản sản xuất ra được giữ lại làm giống để tham gia vào quá trình tái sản xuất vụ sau Trong NTTS một số sản phẩm như: đàn cá thịt, tôm thịt được tuyển chọn làm cá bố mẹ hoặc tôm bố mẹ để cho đẻ trong quy trình sản xuất tiếp theo Do đó, trong quá trình NTTS phải quan tâm đến việc sản xuất, nhân ra các loại giống tốt Đồng thời, ngành thủy sản phải quan tâm xây dựng một hệ thống giống quốc gia, hệ thống giống cho từng vùng, từng khu vực
Ngoài những đặc điểm trên, NTTS Việt Nam còn có những đặc điểm riêng Đó là:
+ Ngành NTTS Việt Nam có từ lâu đời, song hiện tại vẫn trong tình trạng của một nền sản xuất nhỏ, phân tán, lao động chủ yếu còn là thủ công Cơ cấu ngành thủy sản đang chuyển dịch theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN Do đó, ngành NTTS phải thấy hết những tồn tại khó khăn của nền sản suất nhỏ, đó là: cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và quản lý của cán bộ, nông dân ở nhiều nơi, nhất là các vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa còn quá yếu kém, tâm lý người sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu, để quản lý sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao Phải nhận thức đúng tính tất yếu của sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu trong ngành NTTS, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và thực hiện tốt những quy định của Nhà nước về đổi mới quản lý kinh tế trong NTTS
Trang 16+ Trong NTTS đất đai, diện tích mặt nước phân bố không đều giữa các vùng cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý NTTS Đặc điểm này đòi hỏi ngành NTTS phải
có kế hoạch khai thác, sử dụng đầy đủ các loại đất đai diện tích mặt nước hiện có; mặt khác phải tiến hành cân đối lao động, bồi dưỡng và nâng cao trình độ lao động, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa
+ Nghề NTTS Việt Nam chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm có pha trộn ít khí hậu vùng ôn đới
Tài nguyên khí hậu, một mặt tạo ra nhiều thuận lợi cho ngành NTTS: có thể nuôi trồng được nhiều đối tượng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và những đối tượng
có nguồn gốc từ các vùng ôn đới, đồng thời có thể nuôi được nhiều vụ trong một năm; mặt khác, khí hậu nước ta cũng gây ra những khó khăn phức tạp cho ngành NTTS như: bão lụt, gió mùa Đông Bắc, sương muối, các vùng ven biển sóng gió thủy triều, sóng thần, Do đó, ngành thủy sản cần có những phương án đề phòng để chinh phục
và cải tạo thiên nhiên, đảm bảo năng suất sản lượng cao và ổn định
1.2 KHÁI NIỆM CÁC MÔ HÌNH TRONG NUÔI TÔM
1.2.1 Nuôi tôm thâm canh (Intensive Sytem)
Là hình thức nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn bên ngoài, chủ yếu sử dụng thức
ăn viên có chất lượng cao Mật độ thả cao từ 25- 60 con/m2 Diện tích ao nuôi từ 0,5-
2 hecta, tối ưu là 1 hecta, ao xây dựng hoàn chỉnh cấp và tiêu nước chủ động, có trang
bị đầy đủ các phương tiện nên dể quản lý và vận hành (hệ thống ao hầm, thuỷ lợi, giao thông, điện nước, cơ khí…) độ sâu mặt nước từ 1,5-2m và đạt năng suất từ 3 tấn /ha/vụ
1.2.2 Nuôi tôm bán thâm canh (Semi-Intensive Sytem)
Là hình thức nuôi dựa chủ yếu vào nguồn thức ăn bên ngoài, có thể là thức ăn viên hay kết hợp với thức ăn tươi sống (thức ăn tự nhiện ít quan trọng) Mật độ thả dao độn từ 8- 10 con/m2 (tiêu chuẩn ngành thủy sản Việt Nam 2000), nhưng trong thực tế
là từ 15- 24 con/m2, diện tích ao nuôi nhỏ từ 0,5- 0,5 hecta được xây dựng hoàn chỉnh
và có trang bị đầy đủ trang thiết bị như sục khí, máy bơm,…để chủ động trong quản lý
ao Độ sâu mặt nước từ 1,2-1,4m và đạt năng suất từ 3 tấn /ha/vụ
1.2.3 Nuôi tôm quảng canh (Extensive Sytem)
Đây là hình thức nuôi bằng nguồn giống và thức ăn tự nhiên thông qua việc lấy nước và thức ăn qua cửa cống và nhốt giữ trong nột thời gian nhất định Thời gian nhốt
Trang 17giữ trong đầm tuỳ vào vùng địa lí, mùa vụ và tập quán Miền Bắc và miền Trung từ
3-6 tháng, miền Nam từ 15 ngày đến 2 tháng Qui mô diện tích từ 2ha đến hàng chục ha, có nơi đến 100ha Độ sâu mực nước từ 0,5-1m Nâng suất có thể đạt từ 30-300 kg/ha/năm
1.2.4 Nuôi tôm quảng canh cải tiến (Improved Extensive Sytem):
Là hình thức nuôi dựa trên mô hình quang canh nhưng có thả thêm giống ở mật
độ thấp (0,5- 2 con/m2) hoặc bổ sung thức ăn không thường xuyên, đôi khi bổ sung cả giống và thức ăn Hình thức nuôi này thường là thu tỉa thả bù Ở nước ta các mô hình như nuôi kết hợp trong rừng ngập măn, nuôi trên đất nhiễm mặn theo mùa,…thuộc hình thức này Ưu điểm của mô hình này là chi phí vận hành thấp có thể bổ sung con giống tự nhiên thu gom hay nhân tạo, kích cở tôm thu hoạch lớn bán giá cao, cải thiện năng suất của đầm nuôi Nhược điểm là phải bổ sung con giống lớn để tránh hao hụt
do địch hại trong ao nhiều, hình dang và kích cỏ ao theo dạng quảng canh nên quản lý khó khăn Năng suất và lợi nhuận vẫn còn thấp Ngoài ra vẫn còn có hình thức quảng canh cải tiến nhưng được vận hành với những giải pháp kỹ thuật cao hơn như: Ao đầm nuôi nhỏ, xây dựng ao khá hoàn chỉnh (mương, bờ bao, cống…) mật độ thả cao (có thể đến 7 tôm bột/m2) và quản lý chăm sóc tốt…Qui mô diện tích từ 1ha đến10ha Độ sâu mực nước từ 0,8 -1m Nâng suất có thể đạt từ 300-800 kg/ha/năm
1.2.5 Sự khác nhau của nuôi tôm quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh và nuôi tôm kết hợp với trồng rừng ngập mặn:
- Nuôi tôm quảng canh (QCTT): Là hình nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn tự
nhiên trong ao Mật độ tôm trong ao thường thấp do dựa hoàn toàn vào nguồn giống tự nhiên Diệ tích ao nuôi thường lớn để đạt sản lượng cao
+ Ưu điểm: Vốn vận hành thấp vì không tốn chi phí giốngvà thức ăn, kích cỡ tôm thu lớn, giá bán cao, cần ít nhân lực cho một đơn vị sản xuất (ha) và thời gian nuôi thường không dài do giống đã lớn
+ Nhược điểm: Năng suất và lợi nhuận thấp, tường cần diện tích lớn, để tăng sản lượng nên khó vận hành va quản lý, nhất là ở các ao đầm tự nhiên có hình dạng không cố định Hiện nay mô hình này đang bị hạn chế do giá đất và giá nhân công tăng
- Nuôi quảng canh cải tiến (QCCT): Là hình thức nuôi dự trên nền tảng của
hình thức nuôi quảng canh nhưng có bổ sung hoặc là giống ở mật độ thấp (0,5 - 2
Trang 18con/m2) hoặc là thức ăn theo tuần, đôi khi bổ sung cả giống và thức ăn
+ Ưu điểm: Chi phí vận hành thấp, có thể bổ sung bằng giống tự nhiên thu gom hay giốn nhân tạo, kích tôm thu hoạch lớn, giá bán cao, tăng năng suất của đầm nuôi
+ Nhược điểm: Phải bổ sung giống lớn để tránh hao hụt do địch hại trong ao nhiều, hình dạng và kích cỡ ao theo dạng quảng canh nên quản lý khó khăn, năng suất
và lợi nhuận vẫn còn thấp
- Nuôi bán thâm canh: Là hình thức nuôi dùng phân bón để gia tăng thức ăn tự
nhiên trong trong ao và bổ sung thức ăn từ bên ngoài như thức ăn tươi sống, cám gạo giống được thả nuôi ở mật độ tương đối cao (10 - 15 con/m2) trong diện tích ao nuôi nhỏ (2000 - 5000 m2)
+ Ưu điểm: Ao xây dựng hoàn chỉnh, kích thước ngỏ nên dễ vận hành và quản
lý, kích cỡ tôm thu khá lớn, giá bán cao, chi phí vận hành thấp vì thả ít giống, thức ăn hỗn hợp dùng chưa nhiều và thức ăn tự nhiên vẫn còn quan trọng
+ Nhược điểm: Năng xuất còn thấp so với ao sử dụng
- Nuôi thâm canh: Là hình thức nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn bên ngoài
(thức ăn viên đơn thuần hay kết hợp với thức ăn tươi sống), thức ăn tự nhiên không quan trọng Mật độ thả cao ( 15 - 30 con/m2) Diện tích ao nuôi từ 1000 - 1 ha, tối ưu
là 5000 m2
+ Ưu điểm: Ao xây dựng rất hoàn chỉnh, cấp và tiêu nước hoàn toàn chủ động,
có trang bị đầy đủ các phương tiện máy móc nên dễ qủn lý à vận hành
+ Nhược điểm: Kích cỡ tôm thu hoạch nhỏ (30 - 35 con/kg), giá bán thấp, chi phí vận hành cao, lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm thấp
- Nuôi tôm kết hợp với trồng rừng: Là hình thức nuôi tôm kết hợp với trồng
rừng ngập mặn, diện tích rừng thường chiếm 30 - 40 % diện tích đầm nuôi
+ Ưu điểm: Tạo môi trường thuân lợi cho tôm phát triển như trong tự nhiên, hạn chế ô nhiễm môi trường, kích cỡ tôm thu lớn, giá thành cao
+ Nhược điểm: Năng suất không cao so với diện tích ao sử dụng
Tuỳ từng điều kiện cụ thể mà ta áp dụng hình thức nuôi như thế nào cho phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi hộ nuôi
Trang 19Bảng 1: Sự khác nhau về lịch thời vụ giữa các mô hình
- Không sử dụng nguồn lực lãng phí
- Sản xuất với chi phí thấp
- Sản xuất để đáp ứng nhu cầu của con người Người sản xuất cần phải xem xét lựa chọn nguồn lực sao cho có kết quả cao nhất
1.3.2 Hiệu quả kinh tế
Được đo bằng sự so sánh kết quả sản xuất kinh doanh và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Hiệu quả kinh tế là biểu hiện tính hiện hữu về mặt kinh tế của việc sử dụng các loại vật tư, lao động, tiền vốn trong sản xuất kinh doanh Nó chỉ ra các mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế thu được với các chi phí bằng tiền trong mỗi chu kì kinh doanh Lợi ích kinh tế càng lớn thì kết quả kinh doanh càng cao và ngược lại
Hay nói cách khác, tiêu chí hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị Có nghĩa là khi sự thay đổi làm tăng gía trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại sẽ không tăng hiệu quả
1.3.3 Hiệu quả kỹ thuật
Hiệu quả kĩ thuật đòi hỏi nhà sản xuất tạo ra một số lượng nhất định xuất phát
từ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất Thực ra, hiệu quả kĩ thuật được xem chỉ
là một thành phần của hiệu quả kinh tế Bởi vì, để đạt được hiệu quả kinh tế thì trước hết họ phải có hiệu quả kĩ thuật Cụ thể trong trường hợp tối đa hóa lợi nhuận đòi hỏi nhà sản xuất phải sản xuất mức sản lượng tối đa tương ứng với nguồn lực đầu vào nhất định hay nói cách khác hiệu quả kĩ thuật dùng để chỉ sự kết hợp tối ưu các nguồn lực đầu vào để tạo ra mức sản lượng nhất định
Trang 201.3.4 Rủi ro
Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm có thể phát sinh từ một vài tiến trình hay từ một vài sự kiện Rủi ro trong nền kinh tế là những rủi ro mà hậu quả của nó có thể có lợi, nhưng cũng có thể sẽ mang đến sự tổn thất (sự thay đổi về thị hiếu khách hàng có thể phù hợp với sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh hay không, sự thay đổi
về công nghệ kĩ thuật có phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp hay không,
sự thay đổi đó có quá nhanh hay không? )
1.3.5 Lợi nhuận
Là phần thu về được sau khi đã trừ chi phí liên quan đến đầu tư đó Là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí bỏ ra Các yếu tố ngoại cảnh tác động thận lợi thì khả năng thu lợi nhuận càng cao
Trang 21CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN HUYỆN NĂM CĂN
2.1 THỰC TRẠNG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2009 - 2015
Diện tích NTTS từ 2009 – 2015 tương đối ổn định và có tăng lên hàng năm nhưng không cao với mức tăng 0,3%/năm, từ 294.659 ha ở năm 2009 lên 299.819 ha ở năm 2015 Diện tích NTTS phát triển trên toàn bộ các địa phương của tỉnh cụ thể:
Hình 1: Tình hình giao động diện tích, sản lượng NTTS giai đoạn 2009 – 2015
ha (chiếm 8,8% diện tích NTTS toàn tỉnh);
Hình 2: Diện tích NTTS theo địa phương năm 2015
Trang 220 10000 20000 30000 40000 50000 60000 70000 80000 90000
Đầm
Dơ
Năm Căn
Ngọc
H ển
tấn ha
Tổng d ện tíc NTTS D ện tíc NTTS mặn lợ D ện tíc NTTS nư c ngọt Tổng sản lượng NTTS NTTS mặn lợ NTTS nư c ngọt
Trong giai đoạn 2009 – 2015 diện tích nuôi mặn lợ tăng nhẹ đạt 0,6%/năm (từ 266.931 ha ở năm 2009 lên 276.104 ha ở năm 2015) Tuy diện tích tăng ít nhưng trong từng loại hình nuôi lại có sự thay đổi mạnh Trong đó, diện tích nuôi QCCT và nuôi công nghiệp tăng nhanh, nuôi quảng canh truyền thống giảm mạnh Việc tăng nhanh diện tích nuôi tôm công nghiệp và quảng canh cải tiến cho thấy mức độ đầu tư khoa học công nghệ và tài chính cho NTTS nói chung và nuôi tôm nói riêng ngày càng tăng Sản lượng nuôi mặn lợ tăng bình quân 8,8%/năm (từ 169.734 tấn lên 281.965 tấn)
Hình 3- Diện tích nuôi tôm công nghiệp, quảng canh truyền thống, quảng canh cải tiến qua các năm
+ Diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến (ha) + Diện tích nuôi tôm công nghiệp (ha)
Qua biểu đồ cho ta thấy diện tích nuôi tôm của 3 mô hình nuôi có biến động qua các năm ở tỉnh Cà Mau Trong đó nhìn hai mô hình nuôi mà thật sự quan tâm vì có
Trang 23sự biến động lớn qua các năm, cụ thể là: Mô hình nuôi tôm quảng canh truyền thống giảm mạnh qua các năm, từ 206.065 ha ở năm 2010 giảm xuống còn 107.744 ha ở năm 2015; Mô hình nuôi QCCT tăng mạnh qua các năm, từ 3500 ha ở năm 2010 tăng lên 79.382 ha ở năm 2015; mô hình nuôi tôm công nghiệp tăng nhẹ qua các năm, từ 1.685
ha trong năm 2010 tăng lên 9.597 ha ở năm 2015 Điều này chứng tỏ ở mức hiệu quả của mô hình nuôi QCCT làm cho nhu cầu của người dân cho mô hình này tăng lên ở các năm Tuy nhiên mức tăng lên chưa là đáng kể với kỳ vọng mong muốn của chính quyền địa phương, cũng như khát khao của người dân trong việc làm giàu từ mãnh đất của mình từ mô hình nuôi hiệu quả
Năng suất của các mô hình nuôi cũng biến động qua các năm, chủ yếu là giảm qua các năm, điều này chứng đặt ra giả thuyết là do trình độ kỹ thuật nuôi hoặc là môi trường có sự biến động ô nhiễm làm cho năng suất của các mô hình nuôi điều giảm qua các năm Cụ thể là: Mô hình nuôi tôm CN năng suất giảm từ 5 tấn (tôm sú), 10 tấn (tôm thẻ) ở năm 2010 giảm còn 4 tấn (tôm sú), 7 tấn (tôm thẻ) ở năm 2015; mô hình nuôi QCTT giảm từ mức 400kg/ha ở năm 2011 xuống còn 260kg/ha ở năm 2015; mô hình nuôi QCCT tương đối ổn định hơn, không giảm mà tăng nhẹ hoặc giữ ở mức trung bình từ 500-600kg/ha Điều này chứng tỏ hiệu quả về mặt năng suất của mô hình nuôi QCCT, và mức độ phù hợp của mô hình nuôi đối với địa phương Bên cạnh đó có thể nói rằng tình hình ô nhiễm môi trường cũng làm ảnh hưởng rất lớn đến quá trình nuôi, việc nuôi tôm dựa hoàn toàn vào thiên nhiên của mô hình nuôi QCTT đối với tình trạng môi trường càng ô nhiễm như hiện nay là không phù hợp, không mang tính bền vững, năng suất tôm nuôi không đảm bảo cho việc cải thiện đời sống của hộ nuôi trên địa bàn tỉnh
Trang 24Bảng 2: Diện tích, năng suất và sản lượng các mô hình nuôi tôm tỉnh Cà Mau năm 2011-2015
Sú 5,2 tấn, thẻ 8-
5-10 tấn
Sú 5tấn, thẻ
8 tấn
Sú 5 tấn, thẻ 8,2 tấn
Sú 4 tấn, thẻ 7 tấn
Trang 252.1.1 Tình hình nuôi tôm công nghiệp
Giai đoạn 2009 – 2015, diện tích nuôi tôm công nghiệp có tốc độ tăng bình quân 38,8%/năm (1.339 ha lên 9.587 ha) Tuy nuôi tôm công nghiệp có tốc độ tăng nhanh nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, nuôi tôm công nghiệp mới chiếm 2,7% diện tích NTTS của toàn tỉnh và còn manh mún, nhỏ lẻ, những vùng được quy hoạch nuôi công nghiệp nhưng người dân đầu tư nuôi công nghiệp còn thấp Mặc dù
đã có chủ trương và các chính sách hỗ trợ, nhưng tốc độ phát triển vẫn còn chậm Sản lượng nuôi tôm công nghiệp có tốc độ tăng bình quân 47,2%/năm (5.729 tấn lên 54.484 tấn)
Hình 4: Diện tích và sản lượng nuôi tôm công nghiệp giai đoạn 2009 - 2015
Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
2.1.2 Tình hình nuôi tôm - lúa
Giai đoạn 2009 – 2015 diện tích nuôi tôm lúa tăng bình quân hàng năm là 5,4%/năm (36.997 ha trong năm 2009 lên 50.608 ha trong năm 2015) Sản lượng nuôi tôm lúa sản lượng 3,9%/năm (10.359 tấn trong năm 2009 lên 13.040 tấn trong năm 2015)
Hiện nay, nuôi tôm - lúa chủ yếu được sản xuất theo phương thức luân canh 01
vụ tôm từ tháng 3 - 8 âm lịch, tiếp theo là 01 vụ lúa Đối tượng nuôi là tôm sú, có một
số mô hình được tiếp tục nuôi tôm càng xanh xen canh với vụ lúa, thả mật độ thấp Năng suất nuôi tôm - lúa bình quân khoảng 300-500 kg/ha Chi phí sản xuất trung bình 30-35 triệu đồng/ha, lãi suất trung bình 35-50 triệu đồng/ha/năm (tính cả tôm và lúa)
Trang 26Tuy nhiên, gần đây mô hình tôm - lúa bắt đầu bộc lộ nhiều hạn chế, trở nên bấp bênh hơn, hiệu quả về năng suất tôm nuôi và lúa đều thấp Do vậy cần phải có những giải pháp cấp bách hữu hiệu cải thiện thì mô hình nuôi tôm - lúa mới phát triển hiệu quả và bền vững
Hình 5: Diện tích và sản lượng nuôi tôm - lúa giai đoạn 2009 – 2015
2.1.3 Tình hình nuôi tôm - rừng
Trong giai đoạn 2010 – 2015 diện tích tăng bình quân 1,1%/năm (28.127 ha lên 29.636 ha) Với mô hình này các doanh nghiệp chế biến thủy sản đã liên kết với các hộ dân để nuôi tôm sinh thái Tính đến cuối năm 2015 đã có 3.320 hộ dân tham gia với diện tích nuôi tôm sinh thái 17.000 ha Sản lượng TBQ 2,7%/năm (7.546 tấn lên 9.605 tấn), số đợt thả tôm trong năm bình quân trong năm giao động từ 3 – 8 đợt/năm với mật độ thả bình quân giao động từ 1 – 9 con/m2, (thường thì đợt thả đầu trong năm sẽ thả với mật độ cao và các đợt còn lại sẽ thả mật độ ổn định) Thời gian nuôi tôm sú (từ lúc thả giống đến khi bắt đầu thu hoạch) trung bình 128 ngày với tỷ lệ sống khá thấp trung bình 8,48% (do không bổ sung thức ăn và sử dụng thuốc hóa chất trong quá trình nuôi), năng suất nuôi tôm cũng có sự giao động khá lớn từ 112 – 312 kg/ha/năm (trung bình 222,86 kg/ha/năm) Do nuôi mật độ thấp nên người dân thường thu hoạch tôm khi đạt kích cỡ lớn để có thể bán được với giá cao, kích cỡ trung bình đạt 20 con/kg (giao động từ 13 đến 45 con/kg)
Trang 27Hình 6: Diện tích và sản lượng nuôi tôm - rừng giai đoạn 2009 – 2015
Bảng 3: Diện tích nuôi tôm sinh thái đến cuối năm 2015
Diện tích
Số hộ
DN liên kết
Chứng nhận
Trang 28Theo báo cáo Hiện trạng các mô hình nuôi tôm quy mô nhỏ thân thiện với môi trường: Chi phí đầu tư: Trong cơ cấu chi phí cố định, có 3 loại chi phí chính là chi phí đào ao, xây cống; chi phí mua một số trang thiết bị như chài, lưới, đụt, lú; và chi phí thuê mướn đất Cơ cấu chi phí biến đổi đối với nuôi tôm sú: khoản chi chính đối với nuôi tôm sú ở các mô hình vẫn tập trung vào việc chuẩn bị ao và mua con giống Các
mô hình có hai khoản chi phí này chiếm trên 70% tổng chi lưu động Bên cạnh các khoản chi trên, các khoản chi như chi mua vôi, dây thuốc cá; chi phí sửa chữa nhỏ là các hạng mục chỉ chiếm khoảng 10% tổng chi phí lưu động Hiện vẫn còn một số hộ vay thêm vốn để nuôi tôm, tuy nhiên chi phí cho việc vay vốn chiếm tỷ trọng không nhiều trong cơ cấu vốn lưu động
Bảng 4: Hiệu quả nuôi tôm tính cho 1 ha mặt nước cho 1 năm
Chỉ tiêu
QCTT (N=68)
Tôm lúa (N=25)
TR-CCN (N=106)
CNNH (N=26 )
CNNC (N=29)
Trang 29thấy, thu từ tôm sú đóng góp vào doanh thu nhiều nhất, tiếp theo là cua Tuy nhiên cơ cấu chi phí cho thấy chi cho tôm sú chiếm tỷ trọng lớn nhất, sau đó là chi cho cua và thuỷ sản khác Ở các mô hình nuôi có sự khác biệt, đó là do mô hình tôm rừng thường thu hoạch tôm với cỡ lớn bán có giá cao, trong khi các mô hình còn lại tôm thu có cỡ nhỏ hơn và giá cũng thấp hơn Như vậy, vùng khảo sát hiện nay mô hình tôm rừng vẫn
là mô hình cho hiệu quả cao nhất và cũng có thể xem như mô hình phát triển khá ổn định thời gian qua
2.1.4 Tình hình nuôi tôm quảng canh truyền thống
Đây là hình thức nuôi bằng nguồn giống và thức ăn tự nhiên thông qua việc lấy nước và thức ăn qua cửa cống và nhốt giữ trong nột thời gian nhất định Thời gian nhốt giữ trong đầm tuỳ vào vùng địa lí, mùa vụ và tập quán.Qui mô diện tích từ 2ha đến hàng chục ha, có nơi đến 100ha Độ sâu mực nước từ 0,5-1m Nâng suất có thể đạt từ 30-300 kg/ha/năm Diện tích nuôi tôm quảng canh liên tục giảm với mức giảm bình quân 9,8%/năm (từ 208.577 ha xuống còn 107.744 ha) Tuy nhiên mô hình nuôi này vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong NTTS của tỉnh Cà Mau với 36% tổng diện tích NTTS Sản lượng nuôi tôm quảng canh liên tục giảm với mức giảm bình quân giảm bình quân 13,8%/năm (từ 71.751 tấn xuống còn 29.061 tấn) Điều này cho ta thấy mô hình nuôi này đang dần không phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương, có thể đây là dấu hiệu cho thấy phần đông hộ dân trên địa bàn tỉnh đã dần chuyển sang mô hình khác có hiệu quả kinh tế cao hơn, ít rủi ro hơn
Hình 7: Diện tích và sản lượng nuôi tôm quảng canh giai đoạn 2009 - 2015
Trang 302.1.5 Tình hình nuôi tôm QCCT
Diện tích nuôi QCCT liên tục được tăng lên, năm 2009 diện tích nuôi QCCT chỉ đạt 2500 ha, đến năm 2015 đã tăng lên 79382 ha đạt tốc độ tăng bình quân 43,3%/năm Sản lượng nuôi QCCT liên tục tăng, năm 2009 sản lượng nuôi QCCT mới đạt 1650 tấn nhưng đến năm 2015 đã tăng lên 39.760 tấn đạt tốc độ tăng bình quân 41,4%/năm Năng suất đạt từ 500 – 650 kg/ha/vụ (mật độ thả từ 5 – 6 con/m2 mặt nước, có xử lý, cho ăn thêm, thời gian nuôi từ 4 - 5 tháng/vụ), lợi nhuận tương đối cao
Hình 8: Diện tích và sản lượng nuôi tôm QCCT giai đoạn 2009 – 2015
Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
Hiện nay, mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến đang phát triển mạnh ở tỉnh Cà Mau, tập trung nhiều nhất là ở các huyện Năm Căn, Ngọc Hiển, Cái Nước, Phú Tân, Đầm Dơi Để phát triển đạt diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến theo đề án quy hoạch vùng nuôi tôm đến năm 2015, tỉnh Cà Mau khuyến khích và chú trọng mở rộng diện tích nuôi tôm theo mô hình sản xuất 1 vụ lúa – 1 vụ tôm
Theo mô hình đó, các ngành chuyên môn hỗ trợ khoa học kỹ thuật thông qua việc tổ chức rộng rãi nhiều lớp tập huấn hướng dẫn nông dân nắm vững quy trình kỹ thuật nuôi tôm quảng canh cải tiến như cải tạo ao đầm nuôi tôm, xử lý môi trường nước hạn chế gây ô nhiễm, chăm sóc và phòng bệnh cho tôm, cách bảo quản chất lượng tôm nguyên liệu sau khi thu hoạch Đồng thời, liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu giải quyết ổn định đầu ra đối với tôm nguyên liệu
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau cho biết nuôi tôm quảng canh cải tiến là mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao
Hiện nay, nông dân nuôi tôm bằng nhiều hình thức như: quảng canh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh… Mỗi hình thức nuôi đều có những ưu, nhược điểm riêng
Trang 31Chính vì vậy, để tìm ra một hình thức nuôi với chi phí thấp, hiệu quả kinh tế cao là vô cùng cần thiết Mô hình nuôi tôm sú quảng canh cải tiến năng suất cao đang được khuyến khích phát triển tại tỉnh Cà Mau Mô hình tôm nuôi theo hình thức quảng canh truyền thống đã qua cho năng suất không cao (khoảng từ 200 – 300kg/ha/năm) Từ khi
bà con nông dân tiếp cận kỹ thuật nuôi tôm theo hình thức nuôi tôm quảng canh cải tiến đến nay, vuông nuôi của bà con nông dân đạt được kết quả rất khả quan
Hình thức nuôi tôm QCCT chi phí vừa phải, gần gũi với người dân, kỹ thuật không đòi hỏi cao như nuôi tôm công nghiệp mà hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với hộ gia đình Trước mắt, bà con nông dân cần cải tạo ao đầm đúng kỹ thuật Trung tâm Khuyến ngư Cà Mau khuyến cáo bà con tát cạn ao đầm, bón vôi CaCO3, phơi khô đáy
ao nứt chân chim; sau đó lấy nước vào ao nuôi đạt 1,2m, sau 3 ngày diệt cá tạp và diệt khuẩn Ương tôm giống trước khi thả nuôi, mật độ thả nuôi 6 con/m2 Trong thời gian ương, cho tôm ăn bằng thức ăn công nghiệp, liều lượng 1kg/ngày và tăng 10% những lần cho ăn tiếp theo Hàng ngày, bà con nông dân cần kiểm tra và xử lý các yếu tố môi trường như pH, độ kiềm, màu nước, độ trong…
2.2 THỰC TRẠNG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN CỦA HUYỆN NĂM CĂN 2.2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.2.1.1 Vị trí địa lý
Nằm ở cực Nam của Tổ quốc thuộc tỉnh Cà Mau, huyện Năm Căn có tọa độ Địa
lý từ 8035’ đến 8052’ vĩ độ Bắc và từ 104020’ đến 104042’ kinh độ Đông Vị trí của huyện tiếp giáp với các đơn vị hành chính sau:
- Phía đông giáp Biển đông
- Phía tây giáp Vịnh Thái Lan
- Phía nam giáp huyện Ngọc Hiển
- Phía bắc giáp 3 huyện: Phú Tân, Cái Nước, Đầm Dơi
Diện tích tự nhiên của huyện 495 km2, chiếm 9,27% diện tích của tỉnh, gồm 8 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc (1 thị trấn và 7 xã) Trung tâm hành chính, kinh
tế, chính trị, văn hóa của huyện đặt tại thị trấn Năm Căn, cách thành phố Cà Mau 54
km về phía Tây Nam
2.2.1.2 Địa hình
Địa hình huyện Năm Căn nhìn chung tương đối bằng phẳng, nhưng bị chia cắt khá mạnh bởi hệ thống sông rạch tự nhiên và kênh mương chằng chịt, có khá nhiều
Trang 32Sông rộng như sông Cửa Lớn, sông Tam Giang, sông Cái Ngay, sông Đầm Dơi, sông
Bồ Đề…và có các cửa sông lớn đổ ra biển như cửa Bảy Háp, cửa Bồ Đề, cửa Hố Gùi với đặc điểm là cửa sông lớn là điều kiện thuận lợi để tàu bè có tải trọng lớn có thể ra vào dễ dàng Cao độ trung bình từ 0,5 - 0,7m; thường xuyên ngập triều biển
2.2.1.3 Khí hậu
Năm Căn mang đặc trưng khí hậu gió mùa cận xích đạo, nên nhiệt độ quanh năm cao, nhiệt độ trung bình 26,90c Theo bản đồ phân bố lượng mưa nhiều năm của Đài khí tượng thủy văn Minh Hải thì khu vực huyện Năm Căn là địa bàn có lượng mưa cao trong tỉnh cũng như trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đường đẳng mưa chạy qua trung tâm huyện có lượng mưa trung bình hàng năm là 2.200 mm, riêng phía Đông bắc huyện tiếp giáp với huyện Đầm Dơi có đường đẳng mưa khoảng 2.100mm
43 phút và thời gian thủy triều xuống là 6 giờ 40 phút, chu kỳ triều 12 giờ 32 phút
2.2.1.5 Tiềm năng đất đai
Đất đai là một trong những yếu tố cơ bản để phát triển các ngành kinh tế - xã hội, mức độ ảnh hưởng của đất đai đến sự phát triển của các ngành có khác nhau Việc đánh giá tiềm năng về mặt lượng và chất theo khả năng thích hợp với từng mục đích sử dụng có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo ra những căn cứ để định hướng sử dụng đất lâu dài, nhằm khai thác sử dụng tiết kiệm và hợp lý Ngược lại, nếu không đánh giá đúng tiềm năng và khả năng thích ứng của từng loại đất với các mục đích sử dụng thì hiệu quả sử dụng đất thấp, dẫn đến hủy hoại đất, gây hậu quả nghiêm trọng cho môi trường sinh thái cũng như sự tồn tại và phát triển của toàn xã hội Đánh giá tiềm năng
Trang 33là xác định được diện tích thích hợp với từng mục đích sử dụng trên cơ sở đặc điểm tự nhiên của đất và các mối quan hệ trong phát triển kinh tế - xã hội Tiềm năng đất đai không chỉ là khả năng khai thác đất chưa sử dụng mà còn là khả năng khai thác chiều sâu đối với đất đang sử dụng bằng việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội
- Tiềm năng đất đai cho phát triển sản xuất nông nghiệp: diện tích để mở rộng cho loại đất này không còn nhiều (diện tích đất bằng chưa sử dụng toàn huyện năm
2010 còn 1.508,76 ha, chiếm 3,05% diện tích đất tự nhiên), hướng chính chủ yếu là đầu tư thâm canh tăng vụ, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất
và chất lượng sản phẩm
- Tiềm năng đất đai cho phát triển lâm nghiệp: ngoài diện tích rừng hiện có là 16.995,37 ha, chiếm 40,05% diện tích đất tự nhiên, khả năng thích nghi của rừng ngập mặn ven biển là rất lớn Yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần phủ xanh diện tích, trồng rừng
để cải thiện môi trường sinh thái, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, phát triển du lịch, tạo công ăn việc làm cho nhân dân Tuy nhiên, khi trồng rừng cần lưu ý phân bố diện tích hợp lý nhằm đảm bảo giữ vững tính chất của đất trên địa bàn khi sử dụng vào mục đích khác
- Tiềm năng đất đai cho phát triển sản xuất thủy sản: Sản xuất thủy sản hiện giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của huyện, hình thức kinh tế này chiếm một diện tích sử dụng không nhỏ trên địa bàn huyện Với các điều kiện thuận lợi về địa hình, thủy văn cũng như đất đai tiềm năng dành cho nuôi trồng thủy sản của huyện là rất lớn Bên cạnh những điều kiện thuận lợi về mặt tự nhiên, trong những năm qua việc phát triển tốt về các hình thức nuôi trồng và các loại con giống đã thúc đẩy việc nuôi trồng thủy sản trở thành thế mạnh trong thành phần kinh tế nông nghiệp Đây là tiền đề rất to lớn cho việc đầu tư phát triển tăng trưởng thu nhập từ nuôi trồng thủy sản Hiện nay trên địa bàn huyện đã và đang hình thành hệ thống cung ứng các giống thủy sản có chất lượng cao và đầu tư phát triển tốt về hạ tầng cơ sở, đây cũng là một mặt tích cực thúc đẩy tiềm năng phát triển cho nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện Các mô hình nuôi thủy sản nước
lợ - mặn được phát triển rất nhanh trong những năm gần đây trên địa bàn huyện với các
mô hình khác nhau như: nuôi tôm sinh thái, nuôi tôm quảng canh, quảng canh cải tiến, nuôi tôm bán thâm canh, nuôi tôm thâm canh, nuôi tôm công nghiệp…
Bảng 5: Hiện trạng sử dụng đất khu dân cư nông thôn năm 2014
Trang 34STT Chỉ tiêu Diện tích (ha) Tỷ lệ %
Tổng diện tích đất tự nhiên 49.539,61 100,00
2.2.1.6 Tài nguyên nước
Do nằm tiếp giáp với biển nên toàn bộ nguồn nước mặt (nước sông rạch) là nước mặn, nước lợ Nước phục vụ sịnh hoạt, sản xuất công nghiệp, các dịch vụ khác…đều sử dụng nguồn nước ngầm và nước mưa Theo kết quả điều tra, đánh giá của liên đoàn Bản đồ - Địa chất Miền Nam năm 2001 về nguồn nước dưới đất ở tỉnh
Cà Mau (trong đất liền) đều được phân chia thành 7 tầng chứa nước dưới đất, có độ sâu từ 36,6m đến 372m trong đó độ sâu trung bình của tầng đáy I từ 32 - 45m, tầng II
từ 89 - 140m, tầng III từ 146 - 233m, tầng IV từ 198 - 326m, tầng V từ 300 - 348m, tầng VI từ 330 - 355m và tầng VII từ 372 - 415m Trong đó nước từ tầng II đến tầng
- Nước mưa là nguồn nước ngọt, hàng năm cung cấp từ 6 - 8 tỷ m3 nước, là nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông - lâm – ngư - nghiệp và một phần trong sinh hoạt Mặt khác, nước mưa cùng với nước mặn còn đóng vai trò điều hòa càng làm tăng thêm giá trị của tài nguyên nước nói chung trên địa bàn huyện Tuy
Trang 35nhiên, lượng mưa phân bố không đồng đều đã gây ra tình trạng ngập úng cục bộ trong mùa mưa lớn và thiếu nước trầm trọng trong mùa khô
- Nước ngầm là nguồn nước đang được khai thác, sử dụng trên địa bàn huyện Năm Căn là từ tầng II đến tầng III có độ sâu từ 89 - 186m, riêng khu vực thị trấn Năm Căn khai thác nước ngầm ở 3 tầng II, III và IV có độ sâu từ 78 - 222m Về chất lượng nước nhìn chung khá tốt, không bị nhiễm mặn, thuộc nhóm nước mềm, chưa bị ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật, đảm bảo cho sinh hoạt của nhân dân
2.2.1.7 Nguồn nhân lực
- Dân số Nông thôn huyện Năm Căn có 12.025 hộ, với 47.651 khẩu (trong đó nam 24.575 khẩu, nữ 23.076 khẩu), chiếm 71,91% dân số toàn huyện (66.261 khẩu) và chiếm 3,93 % dân số của tỉnh (1.212.089 người)
Mật độ dân số bình quân là: 102 người/km2, bằng 76,12 % mật độ dân số toàn huyện ( 134 người/ km2) và bằng 45% mật độ dân số của tỉnh (227 người/ km2)
- Lao động: Tổng số lao động đang làm việc 35.163 lao động, của nông thôn 24.778 chiếm 70,50 % lao động trong toàn huyện, (trong đó lao động nông nghiệp, thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi chiếm 71,23 %; lao động công nghiệp, xây dựng, thương mại – dịch vụ 28,77 %)
2.2.1.8 Giao thông
Với mục tiêu là phát triển giao thông nông thôn bền vững gắn với mạng lưới giao thông của huyện, bảo đảm giao thông suốt trong hai mùa mưa nắng tới các ấp và
cơ bản có đường ô tô đến trung tâm các xã; thực hiện dự án đầu tư, nâng cấp các tuyến
lộ về trung tâm các xã, UBND huyện tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện khá quyết liệt với nhiều giải pháp, từng bước thay dần phương tiện đường thủy, đến nay có 04 đơn vị xã, có đường ô tô về trung tâm xã Đến nay, trên địa bàn huyện có hệ thống đường giao thông như sau:
Đường trục xã, liên xã 48,46 km, trong đó trải nhựa hoặc bê tông khoản 50% Đường trục ấp, xóm có 477 km đường giao thông nông thôn bằng đất đen, với 199,4
km lộ giao thông bằng bê tông cốt thép
Trên các tuyến đường giao thông có 283 cây cầu, trong đó có 200 cây kiên cố hóa, 83 cây hư hỏng cần nâng cấp cải tạo
Huyện đang tiếp tục tập trung chỉ đạo các ngành chức năng đầu tư các công trình giao thông trọng điểm phục vụ cho sản xuất để đáp ứng cho việc vận chuyển sản
Trang 36phẩm và vật tư cần thiết phụ vụ cho sản xuất với quy mô lớn Chỉ có hệ thống đường giao thông nông thôn, một số vùng đã được bê tông hóa từ trung tâm xã đến tận vùng quy hoạch, hệ thống đường bộ này chỉ phục vụ cho việc đi lại của người dân
2.2.1.9 Thủy lợi
Hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi tôm quảng canh truyền thống và quảng canh cải tiến trên địa bàn huyện gồm có rất nhiều tuyến kênh Kênh cấp 1, cấp 2, kênh trục chính thông ra biển và ngoài ra còn có cả hệ thống kênh nội đồng Hệ thống giao thông
và thuỷ lợi thời gian qua nhà nước rất quan tâm đầu tư nhưng do nguồn vốn còn hạn chế nên chưa đáp ứng được như cầu sản xuất của người dân Để nuôi tôm nói chung
và nuôi tôm quảng canh truyền thống và quảng canh cải tiến nói riêng phát triển mạnh trong thời gian tới, cần phải chú trọng đầu tư phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng như giao thông đi lại, hệ thống thuỷ lợi đảm bảo cấp thoát nước phục vụ sản xuất, cải thiện môi trường vùng nuôi, hạn chế lây lan dịch bệnh
Hiện trạng thủy lợi toàn huyện Năm Căn hiện nay như sau:
- Kênh trục: có 7 công trình với tổng chiều dài 130,4 km, đủ năng lực phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
- Kênh cấp 1: có 25 công trình với tổng chiều dài 161,7 km đủ năng lực phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
- Kênh cấp 2: có 77 công trình với tổng chiều dài 227,9 km đủ năng lực phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
- Kênh cấp 3: có 82 công trình với tổng chiều dài 101,6 km đủ năng lực phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Do điều kiện tự nhiên mang tính đặc thù nên hệ thống thuỷ lợi ở vùng nuôi tôm huyện Năm Căn tương đối hoàn thiện, phục vụ tốt cho nuôi tôm quảng canh cải tiến cũng như nuôi tôm công nghiệp Tuy nhiên một số vùng do bồi lằng nên chưa đáp ứng tốt cho nhu cầu cấp nước phục vụ cho sản xuất NTTS Để nuôi tôm quảng canh cải tiến nói chung và nuôi tôm công nghiệp nói riêng phát triển mạnh trong thời gian tới, cần phải chú trọng đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống thuỷ lợi, đảm bảo cấp thoát nước phục vụ sản xuất, cải thiện môi trường vùng nuôi, hạn chế lây lan mầm bệnh
2.2.1.10 Hệ thống lưới điện
Hệ thống điện lưới được đầu tư khá toàn diện, toàn bộ các trung tâm xã, thị trấn đều có hệ thống mạng lưới điện trung thế; hầu hết các xóm, ấp đều có điện sinh hoạt
Trang 37Tuy nhiên, đối với nuôi tôm tôm quảng canh truyền thống và quảng canh cải tiến thì lưới điện phải cần đầu tư và nâng cấp thêm đủ mạnh để vận hành thiết bị tốt, giảm chi phí cho sản xuất do phải chạy máy bằng nhiên liệu xăng, dầu Để phát triển nuôi tôm công nghiệp cần phải nâng cấp đầu tư xây dựng mới lưới điện hoặc nâng cấp đường dây, bình điện, khi có nhu cầu phát triển mạnh sau này để đảm bảo vận hành tốt thiết
bị và giảm chi phí sản xuất cho người nuôi
Hệ thống trạm biến áp có 420 trạm với tổng công suất 21.500 KVA Đường dây trung thế, cao thế có 391,46 km Đường dây hạ thế có 429,47 km Việc cải tạo và phát triển lưới điện luôn được ngành điện quan tâm đầu tư; hiện nay 100% số xã có điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn đạt trên 98%
Đối với nuôi tôm công nghiệp thì lưới điện 01 pha cũng vận hành được máy móc thiết bị, nhưng tỷ lệ tiêu hao điện cao hơn điện 3 pha Trong nuôi tôm công nghiệp điện lưới góp phần giảm chi phí sản xuất do phải vận hành thiết bị bằng máy chạy nhiên liệu xăng, dầu Để phát triển nuôi tôm công nghiệp cần phải nâng cấp mạng lưới điện 01 pha lên 03 pha và đầu tư xây dựng mới lưới 03 pha khi có nhu cầu phát triển mạnh sau này để đảm bảo vận hành tốt máy móc thiết bị và giảm chi phí sản xuất cho người nuôi
Theo tính toán của cơ quan chuyên môn, để vận hành cho 1 ha nuôi tôm công nghiệp thì phải sử dụng khoảng 15-20KWh, tương đương 20-25 sức ngựa (horse power) Do vậy 1ha nuôi tôm công nghiệp theo lý thuyết thì phải cần 1 máy biến áp công suất 25KVA Do chưa có quy hoạch nuôi tôm công nghiệp nên Dự án cung cấp điện cho các khu nuôi tôm công nghiệp tỉnh Cà Mau giai đoạn I (năm 2011-2013), Ngành điện chưa đầu tư cho huyện Năm Căn để phục vụ cho nuôi tôm công nghiệp trong thời gian tới
Trang 382.2.2 THỰC TRẠNG CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM HUYỆN NĂM CĂN
Huyện Năm Căn với tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 25.676,93 ha Trong đó:
có 203,17 ha nuôi tôm công nghiệp, có 238 hộ nuôi; diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến 30 ha năm 2011 và tăng lên 2.551 ha ở năm 2015 Ngoài ra, còn nuôi tôm kết hợp với nuôi cua (tôm-cua), nuôi tôm kết hợp với trồng rừng (tôm –rừng), nuôi tôm kết hợp với nuôi sò huyết (tôm-sò) Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản bình quân của
huyện từ 17.992 tấn/năm tăng lên 31.164 tấn/năm ở năm 2015 Khó khăn đối với nuôi
tôm quảng canh cải tiến ở huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau hiện nay là hạ tầng vùng nuôi thiếu và yếu; thói quen sinh hoạt người nuôi tôm còn lạc hậu, khó thay đổi; trình độ dân trí, ứng dụng khoa học công nghệ còn nhiều hạn chế, môi trường ngày càng ô nhiễm, đất đai ở một vài nơi có sự lão hóa, thức ăn tự nhiên ngày càng cạn kiệt nên năng suất tôm nuôi quảng canh truyền thống ngày càng giảm Trong khi nuôi tôm quảng canh cải tiến phải đảm bảo được các yếu tố: Môi trường, con giống, ứng dụng công nghệ vi sinh, thực hành tốt và ghi chép, lưu giữ hồ sơ tốt sẽ đạt được năng suất và hiệu quả cao
Mặt dù, công tác chỉ đạo sản xuất được triển khai đến nhân dân, xây dựng nhiều
mô hình thí điểm, tổ chức các cuộc tập huấn, hội thảo, tham quan học tập kinh nghiệm, nhưng chuyển biến về nhận thức, về cách làm trong nhân dân chưa được sâu rộng và toàn diện Tư tưởng trông chờ, ỷ lại tình trạng độc canh con tôm là phổ biến Thời tiết diễn biến bất thường, dịch bệnh trên tôm thường xuyên xảy ra rải rác chủ yếu do bệnh
đỏ thân, đốm trăng với mức độ thiệt hại từ 30 - 60% làm ảnh hưởng rất lớn đến nghề nuôi trồng thủy sản của nhân dân
Trang 39Bảng 6: SẢN XUẤT THUỶ SẢN HUYỆN NĂM CĂN GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
STT Nội dung ĐVT Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
3 Sản xuất giống Tr.con 3.066,00 3.164,00 3.067,00 3.012,00 1.868,77
- 1.197,23 Tr.con
Nguồn số liệu: Báo cáo UBND huyện Năm Căn, sơ kết thực hiện chỉ đạo sản xuất nông nghiệp năm 2011 - 2015