Chính vì vậy tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà tập trung của hộ nông dân huyện Châu Thành A tỉnh Hậu Giang” để làm Luận văn tốt nghiệp lớp Cao học
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
PHAN VŨ CƯỜNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CHĂN NUÔI GÀ
TẬP TRUNG CỦA HỘ NÔNG DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A
TỈNH HẬU GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh, năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
PHAN VŨ CƯỜNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CHĂN NUÔI GÀ
TẬP TRUNG CỦA HỘ NÔNG DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A
TỈNH HẬU GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA KỌC:
TS Hồ Ngọc Phương
Tp Hồ Chí Minh, năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn
và số liệu sử dụng trong Luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi
Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 01 năm 2016
Tác giả Luận Văn
Phan Vũ Cường
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài 1
Mục tiêu nghiên cứu 2
Câu hỏi nghiên cứu 3
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3
Kết cấu luận văn 4
Chương 1: TỔNG QUAN 5
1.1 Tổng quan lý thuyết 5
Một số khái niệm 5
Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chăn nuôi gà tập trung: 7
Chi phí 11
Một số khái niệm về hiệu quả 12
Phân tích kinh tế trong sản xuất nông nghiệp 12
Lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô 13
Hàm sản xuất Cobb – Douglas 15
1.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 17
1.2.1 Giới thiệu khái quát về tỉnh Hậu Giang 17
1.2.2 Giới thiệu về huyện Châu Thành A 20
Thuận lợi và khó khăn cho phát triển chăn nuôi gà tập trung 23
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu 24
1.3.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 24
1.3.2 Nghiên cứu trong nước 25
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
Trang 52.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 27
2.1.1 Dữ liệu nghiên cứu 27
2.1.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 27
2.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu 28
2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 31
2.4 Phương pháp xử lý dữ liệu 32
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Thực trạng chăn nuôi gà huyện Châu Thành A 34
3.1.1 Thông tin chung về nông hộ 35
3.1.2 Tình hình chăn nuôi 36
3.1.3 Nguồn cung con giống 37
3.1.4 Đặc điểm chuồng trại 38
3.1.5 Đặc điểm kỹ thuật 39
3.1.6 Tình hình tiêu thụ hiện nay 41
3.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của mẫu nghiên cứu 41
3.2.1 Theo phương pháp thống kê đa nhóm 41
3.2.2 Kết quả mô hình hàm sản xuất Cobb – Douglas 49
3.2.2.1 Các kiểm định trong mô hình 49
3.2.2.2 Kết quả mô hình hồi quy 50
3.2.2.3 Giải thích kết quả của mô hình hồi quy 51
3.2.2.4 Giá trị sản phẩm trung bình và sản phẩm biên 54
3.2.2.5 Hiệu quả kinh tế sử dụng yếu tố đầu vào thức ăn 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
Kết luận 56
Hạn chế của đề tài 58
Hướng nghiên cứu tiếp theo 58
Kiến nghị 58
Tài liệu tham khảo Phụ lục Bảng câu hỏi
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
QĐ : Quyết định
UBND : Ủy ban nhân dân
HĐND : Hội đồng nhân dân
NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Những đặc tính chung và riêng của gà ………7
Bảng 1.2: Quy trình phòng bệnh cho gà ………10
Bảng 1.3: Cơ cấu mùa vụ trồng lúa ……… 22
Bảng 2.1: Mô tả các biến độc lập sử dụng trong mô hình ………29
Bảng 3.1: Thông tin chung về chủ hộ ……… 35
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu về chăn nuôi gà ………36
Bảng 3.3: Nguồn vốn chăn nuôi gà ……… 36
Bảng 3.4: Nguồn cung con giống ……… 38
Bảng 3.5: Kiểu chuồng nuôi nông hộ sử dụng ……… 38
Bảng 3.6: Số lần cho gà ăn trong ngày ……… 40
Bảng 3.7: Loại nước cho gà uống ……….40
Bảng 3.8: Tỷ lệ % lợi nhuận/chi phí đầu tư của nông hộ ……… 42
Bảng 3.9: Thống kê hộ theo lợi nhuận/chi phí và quy mô đàn gà ……….42
Bảng 3.9a: Thống kê tỷ lệ hộ theo lợi nhuận/chi phí và quy mô đàn gà …… 42
Bảng 3.10: Thống kê hộ theo lợi nhuận/chi phí và quy mô đàn gà ………… 43
Bảng 3.10a: Thống kê tỷ lệ hộ theo lợi nhuận/chi phí và quy mô đàn gà …….43
Bảng 3.11: Thống kê hộ theo lợi nhuận/chi phí và số lao động ………44
Bảng 3.11a: Thống kê tỷ lệ hộ theo lợi nhuận/chi phí và số lao động ……… 44
Bảng 3.12: Thống kê hộ theo lợi nhuận/chi phí và vốn vay ……….45
Bảng 3.12a: Thống kê tỷ lệ hộ theo lợi nhuận/chi phí và vốn vay ………45
Bảng 3.13: Thống kê hộ theo lợi nhuận/chi phí và giá bán gà thịt ………46
Bảng 3.13a: Thống kê tỷ lệ hộ theo lợi nhuận/chi phí và giá bán gà thịt …… 46
Bảng 3.14: Thống kê hộ theo lợi nhuận/chi phí và kinh nghiệm nuôi gà …….46
Trang 9Hình 1.1: Bản đồ tỉnh Hậu Giang ……… 18 Hình 2.1: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà tập trung ……… 28
Hình 3.1: Phân loại chăn nuôi gà theo quy mô ……….36
Hình 3.2: Tỷ lệ hộ tham gia tập huấn kỹ thuật ……… 39
Trang 10Lý do chọn đề tài
Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi theo giá so sánh 2010 phân theo nhóm vật nuôi và loại sản phẩm năm 2013 đạt 147.979,5 tỷ đồng, tăng 2,2% so với năm 2012, trong đó sản phẩm không qua giết thịt có mức tăng cao nhất (8,2%), tiếp đến là gia cầm (2,5%) và gia súc (1,2%) (Tổng Cục thống kê, 2014)
Ngành chăn nuôi cung cấp thực phẩm chủ yếu cho người dân Đây cũng là ngành kinh tế giúp cho nông dân tăng thu nhập, giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho người lao động, giúp họ nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu Đối với một tỉnh có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp như Hậu Giang, kết cấu hạ tầng còn thấp kém, sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẽ và chưa hiệu quả cao thì chăn nuôi là ngành kinh tế rất quan trọng đối với hộ nông dân Ngày 30 tháng 12 năm
2011, Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang đã ban hành Quyết định số 2178/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi và cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung tỉnh Hậu Giang đến năm 2020 Theo đó đến năm 2020, ngành chăn nuôi của tỉnh cơ bản chuyển sang phương thức chăn nuôi và giết mổ gia súc, gia cầm tập trung theo hướng công nghiệp, hiện đại đảm bảo chăn nuôi an toàn dịch bệnh, môi trường chăn nuôi và vệ sinh an toàn thực phẩm,…; Tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt 9,46%/năm giai đoạn 2011 - 2015 và 8,5%/năm giai đoạn 2016 - 2020; Nâng tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 20% năm 2015 và đạt 35% năm 2020; Sản lượng thịt hơi các loại năm
2015 đạt 48,1 nghìn tấn Trong đó: thịt heo 36,9 tấn, thịt gia cầm 10,8 nghìn tấn, thịt trâu 94 tấn, thịt bò 191 tấn; sản lượng thịt hơi các loại năm 2020 đạt 81,8 nghìn tấn Trong đó, thịt heo 66,2 nghìn tấn, thịt gia cầm 15,1 nghìn tấn, thịt trâu 154 tấn, thịt bò
263 tấn; Sản lượng trứng gia cầm đạt 172 triệu quả trứng năm 2015 và 241 triệu quả trứng năm 2020 Để đạt được những mục tiêu trên góp phần nâng cao tỷ trọng đóng góp của ngành chăn nuôi trong cơ cấu giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp và tạo cơ hội tốt để người dân có thể làm giàu thì chăn nuôi có vai trò rất quan trọng, vậy làm thế nào để chăn nuôi đem lại hiệu quả cao với người nông dân nói chung và với nông
Trang 11dân Hậu Giang nói riêng là rất cần thiết Tại Hậu Giang chăn nuôi gà đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế khá cao đặc biệt ở các huyện Phụng Hiệp, Vị Thủy, Long Mỹ và huyện Châu Thành A
Châu Thành A là một huyện thuộc vùng nông thôn của tỉnh Hậu Giang Trước đây, người dân huyện Châu Thành A chỉ quen độc canh cây lúa, mỗi năm 3 vụ Mấy năm gần đây, ngành nông nghiệp huyện đã phát triển theo hướng đa canh, xuất hiện nhiều mô hình sản xuất bền vững, có tính khoa học cao Phong trào chăn nuôi gia súc, gia cầm của huyện phát triển nhanh và mang lại thu nhập đáng kể cho nhiều gia đình Huyện định hướng phát triển chăn nuôi theo hướng đa dạng về con giống, chủng loại, vận dụng điều kiện thực tế cụ thể để phát triển các mô hình nuôi đặc biệt là chăn nuôi
gà Do vậy, Châu Thành A đã trở thành địa phương có tổng đàn gà khá lớn là 99.137 con với 4.212 hộ nuôi (Trạm thú y huyện Châu Thành A, 2015) Sự phát triển chăn nuôi gà tại huyện đã góp phần xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm và tăng thu nhập cho nông dân trong toàn huyện
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi ở Việt Nam nói chung, chăn nuôi gà nói riêng đã phải gặp nhiều khó khăn như giá sản phẩm không ổn định, sử dụng chất cấm và dư thừa kháng sinh, dịch bệnh xảy ra thường xuyên từ năm này sang năm khác, môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm, phải nhập khẩu thịt gia súc, gia cầm từ các nước phát triển… Hậu quả là nhiều người chăn nuôi bị thua lỗ phải chuyển ngành nghề khác Ở huyện Châu Thành A cho đến nay các nghiên cứu về hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà chưa có Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà tập trung tại huyện Châu Thành A là rất cần thiết Chính vì
vậy tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà tập
trung của hộ nông dân huyện Châu Thành A tỉnh Hậu Giang” để làm Luận văn tốt
nghiệp lớp Cao học Quản lý kinh tế - Khóa 2013
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà tập trung của hộ nông dân Qua đó cho phép nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng để kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà tập trung của hộ nông dân huyện Châu Thành A tỉnh Hậu Giang
Trang 12Mục tiêu cụ thể
1 Đánh giá thực trạng chăn nuôi gà tập trung của hộ nông dân huyện Châu
Thành A tỉnh Hậu Giang
2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà tập trung
của hộ nông dân huyện Châu Thành A tỉnh Hậu Giang
3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà tập
trung của hộ nông dân huyện Châu Thành A tỉnh hậu Giang cho những năm tới
Câu hỏi nghiên cứu
1 Tình hình chăn nuôi gà tập trung của hộ nông dân huyện Châu Thành A tỉnhHậu Giang thời gian qua như thế nào?
2 Những yếu tố nào ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà tập trung của
hộ nông dân huyện Châu Thành A?
3 Cần phải có những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà tậptrung của hộ nông dân huyện Châu Thành A?
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Giới hạn nội dung nghiên cứu
Luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà tập trung và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà tập trung của hộ nông dân huyện Châu Thành A tỉnh Hậu Giang
Giới hạn vùng nghiên cứu
Luận văn này được tiến hành trên địa bàn hai xã đại diện là xã Trường Long A
và xã Nhơn Nghĩa A huyện Châu Thành A, hai xã có số lượng hộ và tổng đàn gà lớn nhất huyện Tiến hành thu thập số liệu sơ cấp từ điều tra mẫu các hộ nông dân tại hai
xã này thông qua phỏng vấn trực tiếp với các hộ dân nuôi gà trên địa bàn
Giới hạn thời gian nghiên cứu
Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp thu thập được từ các báo cáo, số liệu thống kê trong giai đoạn 2011 - 2014 và các số liệu thu thập thực tế từ kết quả phỏng vấn mẫu
Trang 13các hộ nông dân chăn nuôi gà tập trung trên phạm vi hai xã: Trường Long A và Nhơn Nghĩa A, huyện Châu Thành A đã thực hiện trong tháng 06 năm 2015
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà tập trung của hộ nông dân huyện Châu Thành A tỉnh Hậu Giang, cụ thể:
- Theo qui mô: Lớn, trung bình, nhỏ
- Theo giống gà nuôi: Gà lai, gà ta
Đối tượng khảo sát
Hộ nông dân chăn nuôi gà tập trung xã Trường Long A và xã Nhơn Nghĩa A
huyện Châu Thành A tỉnh Hậu Giang
Kết cấu luận văn
- Phần mở đầu
- Chương 1: Tổng quan
- Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Kết luận và kiến nghị
Trang 14Chương 1: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan lý thuyết
Một số khái niệm
Nông hộ (hộ nông dân): Là những hộ nông dân làm nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngư nghiệp,… hoặc kết hợp làm nhiều nghề, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình Nông hộ là gia đình sống bằng nghề nông Nông hộ có những đặc trưng riêng, có một
cơ chế vận hành khá đặc biệt Không giống như những đơn vị kinh tế khác, ở nông hộ
có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, sử dụng và tiêu dùng (Đào Công Tiến, 2000)
Nông hộ là đơn vị tái sản xuất chứa đựng các yếu tố hay nguồn lực của quá trình tái sản xuất (lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật), là đơn vị sản xuất tự thực hiện tái sản xuất dựa trên việc phân bổ các nguồn lực vào các ngành sản xuất để thực hiện tốt các chức năng của nó Trong quá trình đó, nó có mối liên hệ chặt chẽ với các đơn vị khác và với hệ thống kinh tế quốc dân Khai thác đầy đủ những khả năng và tiềm lực của nông hộ sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nền kinh tế quốc dân
Kinh tế hộ nông dân: là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội,
trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất - kinh doanh và đời sống là tuỳ thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển Do vậy hộ không thuê lao động nên không có khái niệm về tiền lương và không tính được lợi nhuận, địa tô và lợi tức Nông hộ chỉ có thu nhập chung của tất cả các hoạt động kinh tế Đó là sản lượng thu được hàng năm của hộ trừ đi chi phí mà hộ đã bỏ ra để phục vụ sản xuất (Đào Công Tiến, 2000)
Đặc điểm kinh tế hộ nông dân: Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất; Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ; Kinh tế hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao; Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của người lao động;
Trang 15Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ; Kinh tế hộ sử dụng sức lao động và nguồn vốn của hộ là chủ yếu (Đào Công Tiến, 2000)
Chăn nuôi: Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông
nghiệp, chăn nuôi cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao Một xu hướng tiêu dùng có quy luật là khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu tiêu dùng
về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên cả về số lượng và chủng loại Chăn nuôi còn là ngành cung cấp nhiều sản phẩm là nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến Phát triển chăn nuôi còn có mối quan hệ khắng khít thúc đẩy phát triển ngành trồng trọt, tạo nên một nền nông nghiệp cân đối bền vững (Trần Thụy Ái Đông, 2008)
Chăn nuôi là ngành sản xuất có đối tượng tác động là cơ thể sống đòi hỏi phải
có đầu tư duy trì thường xuyên Chăn nuôi có thể phát triển theo phương thức di động phân tán theo phương thức tự nhiên, song cũng có thể phát triển tập trung tĩnh tại theo phương thức công nghệp, sản phẩm của ngành chăn nuôi rất đa dạng có sản phẩm chính và sản phẩm phụ có giá trị kinh tế cao
Chăn nuôi gà tập trung: Là sự kết hợp giữa hai hình thức nuôi trong mô hình
nuôi gà thả vườn truyền thống và mô hình gà công nghiệp Trong khu nuôi gà phải có rào chắn bằng lưới B40 hoặc lưới ny-lon Khi gà còn nhỏ được sưởi ấm bằng đèn điện bóng tròn (cứ 2 bóng 75W sưởi cho 100 con) Và trong chuồng làm nhiều cây ngang cách mặt đất 0.5m để thông thoáng cho gà ngủ và dễ quét dọn vệ sinh Mô hình chăn nuôi gà tập trung: vốn ít, dễ chăm sóc, ít dịch bệnh, sử dụng thức ăn công nghiệp, hoặc tận dụng các phụ phế phẩm trong công - nông nghiệp, không chỉ thế nuôi gà tập trung còn tận dụng được nguồn phân bón trực tiếp cho cây trồng rất tốt Trong mô hình này, nông hộ được tập huấn và chuyển giao khoa học kỹ thuật nên gà ít dịch bệnh, đàn gà phát triển nhanh và đều Vì vậy, sau 2,5 - 4 tháng nuôi sẽ có trọng lượng từ 1,2 - 2 kg/con, bán từ 60.000 - 85.000 đồng/kg, tuy giá bán thấp hơn gà thả vườn truyền thống, nhưng vẫn cao hơn so với gà công nghiệp là do thịt săn chắc, ít mỡ hơn gà công nghiệp nên luôn được thị trường ưa chuộng Vì thế, để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất, khả năng tiếp cận của người dân, tăng thu nhập cho người chăn nuôi nên mô hình được nhân rộng ra cộng đồng Từng bước thay đổi tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ không chuồng trại, sang chăn nuôi có quy mô, có chuồng trại an toàn dịch bệnh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào vùng khó khăn
Trang 16Chăn nuôi gà tập trung của hộ nông dân huyện Châu Thành A tỉnh Hậu Giang
có thể hiểu là phương thức chăn nuôi dựa trên cơ sở thâm canh, tăng năng suất trên một đơn vị diện tích chuồng trại, sử dụng các giống gà lai để tạo ra năng suất, hiệu quả cao trong cùng một thời gian, cùng với sự đầu tư về trang thiết bị máy móc, chuồng trại trong chăn nuôi Thức ăn được sử dụng trong chăn nuôi gà là thức ăn được chế biến theo phương pháp công nghiệp kết hợp với thức ăn có sẵn trong sản xuất nông nghiệp như: cám gạo, cám ngô, cám mạch, rau xanh…, điều kiện môi trường chăn nuôi được chủ động điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật nuôi nhất
là trong giai đoạn đầu của gà con
Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chăn nuôi gà tập trung:
Đặc điểm sinh học: Gà (danh pháp khoa học: Gallus gallus) là một loài chim đã
được con người thuần hoá cách đây hàng ngàn năm Một số ý kiến cho rằng loài này
có thuỷ tổ từ loài chim hoang dã ở Ấn Độ và loài gà rừng lông đỏ nhiệt đới ở vùng Đông Nam Á
Bảng 1.1: Những đặc tính chung và riêng của gà Đặc tính thích Đặc tính không thích
- Đùa và làm theo nhau - Ẩm ướt
- Ăn cái mới, sỏi đá (30%) - Rét
- Ánh sáng, chạy nhẩy - Mặm
- Yên tĩnh - Độc ( thức ăn thiu, ẩm mốc)
- Tính bầy đàn cao - Sợ tối
- Chọn đôi giao phối - Ngột ngạt
Nguồn: Phòng NN&PTNT huyện Châu Thành A, 2015
Đặc điểm các giống gà địa phương và các giống gà lai nuôi tại địa phương thường tăng trọng chậm so với các giống nhập ngoại, nhưng giá trị dinh dưỡng cao, ngoại hình lại đẹp nên được người tiêu dùng ưa chuộng Giống gà địa phương và gà lai tạo với các giống nhập nội dễ chăm sóc nuôi dưỡng, có sức chịu đựng bệnh tật tốt hơn các giống lai và giống nhập ngoại, phù hợp với các điều kiện chăn thả hoặc tập trung (Phòng NN&PTNT huyện Châu Thành A, 2015)
Trang 17Đặc điểm kỹ thuật: Gà là một loại vật nuôi dễ thích nghi với môi trường sống,
dễ nuôi, có thể nuôi dưới nhiều phương thức khác nhau Môi trường thích hợp với nuôi
gà nhất là chuồng nuôi thoáng mát, sạch sẽ, nền chuồng không được ẩm ướt, luôn phải giữ khô ráo, thoáng khí Ngược lại, nếu môi trường nuôi không thích hợp, gà dễ mắc bệnh và xảy ra đại dịch gây ra tổn thất rất lớn trên quy mô rộng khắp Với ưu thế cho năng suất, hiệu quả kinh tế cao, phương thức chăn nuôi theo hướng tập trung đã được người chăn nuôi sớm chấp nhận Đặc điểm của phương thức chăn nuôi này là việc áp dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào quá trình chăn nuôi cùng với việc đầu tư đồng bộ về trang thiết bị cho sản xuất và mang tính chuyên môn hoá cao trong sản xuất nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong chăn nuôi
Về chuồng trại: Chuồng trại được thiết kế, xây dựng theo qui mô lớn, phải đảm
bảo ấm áp, khô ráo trong mùa đông và thoáng mát về mùa hè; diện tích chuồng nuôi không quá 8 con/m2; đáp ứng tốt cho việc sinh trưởng và phát triển của vật nuôi Các điều kiện sống cho vật nuôi như chế độ ánh sáng, nhiệt độ, nước được cung cấp chủ động, khoa học và phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển Trong chăn nuôi gà, các điều kiện về môi trường sống cho vật nuôi trong mỗi thời kỳ sinh trưởng
và phát triển luôn được đảm bảo tối ưu nhất là giai đoạn đầu của gà (từ tuần đầu cho đến tuần thứ 6) và hoàn toàn chủ động, không phụ thuộc vào các điều kiện môi trường khí hậu bên ngoài Nhìn chung về chuồng trại trong chăn nuôi gà ở giai đoạn đầu có vai trò hết sức quan trọng vì nó thường xuyên được tập trung một mật độ cao các con vật nuôi trong một không gian hẹp, do đó chuồng trại phải được bố trí một cách khoa học nhằm tạo ra một môi trường sống phù hợp từng giai đoạn tăng trưởng và phát triển của vật nuôi; bãi thả khô thoáng không đọng nước, các bãi thả phải chia nhiều khu để chăn thả luân phiên Người nuôi phải vệ sinh sau mỗi lứa nuôi, sát trùng chuồng nuôi
và bãi thả 2 đến 3 lần trước khi nuôi Chất độn chuồng trước khi nuôi cũng được khử trùng và đảm bảo không có mầm bệnh
Về hình thức chăn nuôi: Trong phương thức chăn thả truyền thống, vật nuôi
được chăn thả tự do, mang nặng tính quảng canh tận dụng Đối với chăn nuôi tập trung, để đạt được hiệu quả kinh tế cao và hạn chế mức tối đa những ảnh hưởng bất lợi
từ môi trường đến quá trình sản xuất nên đã sử dụng hình thức nhốt hoàn toàn trong giai đoạn đầu với hệ thống chuồng trại hiện đại nhằm chủ động về môi trường sống cho vật nuôi (trong giai đoạn này vật nuôi dễ bị mắc bệnh do môi trường mang lại)
Trang 18Thức ăn trong chăn nuôi gà: Thức ăn có vai trò vô cùng quan trọng quyết định
đến sự thành bại của việc chăn nuôi Trong chăn nuôi thức ăn chiếm khoảng 70% giá thành sản phẩm Chăn nuôi truyền thống trước đây thức ăn chủ yếu là tận dụng những phế phụ phẩm trong sinh hoạt hàng ngày, những sản phẩm này được chế biến thô sơ với thành phần dinh dưỡng thấp và không cân đối Do vậy, kết quả đạt được không cao, tăng trọng của vật nuôi kém và phát sinh nhiều bệnh dịch Trong chăn nuôi gà tập trung, nguồn thức ăn được lựa chọn rất kỹ, được xử lý và chế biến một cách khoa học với hàm lượng dinh dưỡng cân đối và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật nuôi cũng như với mục đích của quá trình chăn nuôi Thức ăn được lựa chọn trong chăn nuôi qui
mô lớn theo phương thức bán công nghiệp là các loại thức ăn sạch, không có mầm bệnh, chủ yếu dưới dạng thức ăn đã được pha trộn hoàn chỉnh
Về con giống: Trong chăn nuôi con giống và thức ăn là yếu tố chính tạo nên giá
thành và quyết định đến tính hiệu quả của quá trình chăn nuôi Trong chăn nuôi gà, mặc dù con giống chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng giá thành sản phẩm song con giống lại là yếu tố chính tạo nên sự thành bại của quá trình chăn nuôi Nên chọn con giống ở những cơ sở có độ tin cậy cao, gà bố mẹ có chất lượng giống tốt đã được tiêm phòng và đảm bảo miễn dịch các bệnh Gumboro, Newcastel Chọn những con khoẻ mạnh, thân hình cân đối, mắt nhanh và sáng, lông khô bóng sạch, nên mua gà mới ấp xong (Phòng NN& PTNT huyện Châu Thành A, 2015)
Hiện nay, việc tạo ra con giống chủ yếu là áp dụng các tiến bộ khoa học tiên tiến, tận dụng tối đa ưu thế lai nhằm tạo ra con giống có chất lượng và phẩm chất tốt tuỳ theo hướng sản xuất đã được xác định từ trước: giống chuyên cho thịt, chuyên cho sữa, chuyên trứng Như vậy, các con giống được sử dụng trong chăn nuôi gà là những con giống tốt, phù hợp theo hướng sản xuất mà các nhà chăn nuôi đã lựa chọn
Về vốn đầu tư: Trong chăn nuôi gà tập trung qui mô lớn đòi hỏi phải có một
lượng đầu tư nhất định về vốn Ngoài việc đầu tư xây dựng hệ thống chuồng trại hoàn chỉnh, đầy đủ còn cần một nguồn vốn khá lớn để mua con giống và thức ăn Do vậy,
mà phương thức chăn nuôi theo hình thức này cần có một sự đầu tư tập trung lớn về vốn cho sản xuất
Về thú y phòng bệnh: Trong chăn nuôi truyền thống do trình độ của các nhà
chăn nuôi còn thấp, hơn nữa do việc chăn nuôi chỉ mang nặng tính chất tận dụng
Trang 19những phế phụ phẩm trong sinh hoạt hàng ngày cho nên việc phòng trừ dịch bệnh hầu như không được quan tâm chú ý Người chăn nuôi chỉ quan tâm tới vấn đề chữa bệnh cho vật nuôi khi dịch bệnh đã xảy ra, rất ít chú ý đến vấn đề phòng dịch Điều này đã làm cho dịch bệnh lan rộng gây thiệt hại cho người chăn nuôi cũng như làm giảm hiệu quả của quá trình chăn nuôi và môi trường
Bảng 1.2: Quy trình phòng bệnh cho gà
Ngày
2 đến 5
Vitamin c Tăng sức đề kháng, kích thích tiêu hoá Pha cho uống Bcomlex Tăng sức đề kháng, kích thích tiêu hoá Pha cho uống Colivit, Tetra Phòng bệnh lỵ, tiêu chảy phân trắng Pha cho uống
6 đến 7 Vacxin lasota lần 1 Phòng Newcastel Nhỏ
Trang 20Trong chăn nuôi gà tập trung, do quy mô sản xuất lớn, mật độ gia cầm rất cao trên một đơn vị chuồng trại nên dễ xảy ra dịch bệnh nguy hiểm Chính vì vậy cần phải
có biện pháp để kiểm soát dịch bệnh một cách nghiêm ngặt Điều này đòi hỏi người chăn nuôi phải có một kiến thức cơ bản về thú y, phòng bệnh nhất định, cũng như việc phải tuân thủ hoàn toàn những qui định về phòng dịch bệnh cho trang trại của mình và luôn có các phương án chủ động đối phó ngay mỗi khi dịch bệnh xảy ra Nhằm đảm bảo tốt cho quá trình sản xuất và tránh được những rủi ro, mang lại hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi Nguyên tắc dùng thuốc thú y là dùng đủ liều lượng, đúng bệnh, đúng thời điểm, đúng cách, bảo quản thuốc tốt Dùng thuốc tiêm phòng đúng thời điểm và đầy đủ, tất cả các loại thuốc dùng trước khi xuất bán ít nhất 7 đến 10 ngày
Chi phí
Chi phí cố định ( Fixed cost ): Chi phí cố định hay định phí là những mục chi
phí ít thay đổi hoặc không thay đổi theo mức độ hoạt động của đơn vị Nếu xét trên tổng chi phí, định phí không thay đổi, ngược lại nếu quan sát chúng trên một đơn vị mức độ hoạt động, định phí tỉ lệ nghịch với mức độ hoạt động Như vậy dù doanh nghiệp có hoạt động hay không hoạt động thì vẫn tồn tại định phí; ngược lại khi doanh nghiệp gia tăng mức động hoạt động thì định phí trên một mức độ hoạt động sẽ giảm dần Theo định nghĩa này thì chi phí cố định trong chăn nuôi gà: chi phí công cụ dụng
cụ dùng làm chuồng trại (Trần Thụy Ái Đông, 2008)
Chi phí biến đổi (Variable cost): Chi phí biến đổi là những chi phí mà giá trị
của nó sẽ tăng lên, giảm theo sự tăng giảm về mức độ hoạt động Tổng số của chi phí biến đổi sẽ tăng khi mức độ hoạt động tăng và ngược lại Tuy nhiên nếu tính trên một đơn vị của mức độ hoạt động thì chi phí biến đổi lại không đổi trong phạm vi phù hợp Chi phí biến đổi chỉ phát sinh khi có hoạt động Trong hoạt động chăn nuôi gà chi phí biến đổi bao gồm chi phí con giống, chi phí thức ăn, chi phí thuốc thú y, chi phí điện, chi phí nước và một số chi phí khác (Trần Thụy Ái Đông, 2008)
Chi phí hỗn hợp (Mixed cost): Chi phí hỗn hợp là chi phí mà thành phần của nó
bao gồm cả yếu tố bất biến và yếu tố khả biến (Trần Thụy Ái Đông, 2008)
Chi phí cơ hội ( Opportunity cost ): Ngoài ra đối với các nhà kinh tế, một trong
những chi phí quan trọng nhất là chi phí cơ hội Chi phí cơ hội dựa trên cơ sở là: mọi đầu vào hay yếu tố sản xuất đều có một cách sử dụng thay thế ngay cả khi nó không
Trang 21được sử dụng Khi một đầu vào được sử dụng cho mục đích cụ thể đó, thì nó không thể sẵn sàng để sử dụng cho bất kỳ phương án nào khác và thu nhập từ phương án thay thế này sẽ bị mất đi Chi phí cơ hội có thể được định nghĩa theo hai cách: Thứ nhất: chi phí cơ hội là giá trị của sản phẩm không được sản xuất vì một đầu vào đã được sử dụng cho một mục đích khác Thứ hai: chi phí cơ hội là thu nhập sẽ nhận được nếu nguồn lực đầu vào này được sử dụng cho phương án khác và đem lại lợi nhuận cao nhất (Trần Thụy Ái Đông, 2008)
Một số khái niệm về hiệu quả
Khái niệm hiệu quả: Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà
con người chờ đợi và hướng tới Trong quá trình sản xuất, hiệu quả được định nghĩa là khả năng sản xuất ra một mức đầu ra cho trước từ một khoản chi phí thấp nhất Do vậy, hiệu quả của một nhà sản xuất riêng lẻ có thể được đo bằng tỷ số giữa chi phí tối
thiểu và chi phí thực tế để sản xuất ra mức đầu ra cho trước
Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa
lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra, nó là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực tiếp tới nền kinh tế hàng hoá và với tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác Một phương án có hiệu quả kinh tế cao hoặc một giải pháp kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao là một phương án đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả đem lại
và chi phí đầu tư Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, là đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Hiệu quả kinh tế kinh tế là hiệu quả tính trên góc độ xã hội, tất cả chi phí và lợi ích đều tính theo giá kinh tế bao gồm cả chi phí hay lợi ích mà
dự án hay chương trình tác động vào môi trường
Phân tích kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
Sản xuất
Là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào và quy trình biến đổi (inputs) để tạo thành các yếu tố đầu ra: một sản phẩm hay dịch vụ nào đó (outputs)
Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sản xuất
Vốn sản suất: là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị , các phương tiện
vận tải, kho tàng, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật Vốn đối với quá trình sản xuất là vô cùng
Trang 22quan trọng Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng sản phẩm hàng hóa Tuy nhiên, trong thực tế việc tăng thêm sản lượng hàng hóa còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, như chất lượng lao động, trình độ khoa học kỹ thuật
Lực lượng lao động: là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sản xuất Mọi
hoạt động của sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động Do đó chất lượng lao động quyết đinh kết quả và hiệu quả sản xuất
Đất đai: Là yếu tố sản xuất không chỉ có ý nghĩa quan trọng với ngành nông
nghiệp, mà còn rất quan trọng với sản xuất công nghiệp Đất đai là yếu tố cố đinh lại bị giới hạn về quy mô, nên người ta phải đầu tư thêm vốn và lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai Các loại tài nguyên khác trong lòng đất như khoáng sản, tài nguyên rừng, biển và tài nguyên thiên nhiên đều là những đầu vào quan trọng của sản xuất
Khoa học và công nghệ: Quyết định đến sự thay đổi năng suất lao động và chất
lượng sản phẩm Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng trong sản xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao động và tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế của xã hội
Ngoài ra còn một số yếu tố khác: quy mô sản xuất, các hình thức tổ chức sản xuất, mối quan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành, giữa các thành phần kinh tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm… cũng
có quyết định tới quá trình sản xuất
Lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô
Theo lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô (Pindyck và Rubinfeld, 2001), kinh
tế theo quy mô (economics of scale) được dùng để nói đến vấn đề chi phí của sản xuất Trong dài hạn, nhà sản xuất có thể thay đổi tỷ lệ các yếu tố đầu vào khi có những thay đổi về sản lượng sản xuất Khi có sự thay đổi trong tỷ lệ các yếu tố đầu vào thì xu hướng phát triển của nhà sản xuất không còn là đường thẳng nữa, và khái niệm thu nhập theo quy mô (returns to scale) không còn phù hợp nữa Mà khi đó, nhà sản xuất
sẽ nhắm vào vấn đề kinh tế của quy mô sản xuất Kinh tế của quy mô sản xuất là khi sản lượng sản xuất có thể tăng gấp hai lần mà chi phí cho các yếu tố đầu vào tăng ít
Trang 23hơn hai lần Lợi thế kinh tế theo quy mô là đặc trưng cho một quy trình sản xuất trong
đó một sự tăng lên trong số lượng sản phẩm sẽ làm giảm chi phí bình quân trên mỗi đơn vị sản phẩm sản xuất ra Với quy mô sản xuất lớn hơn, cho phép công nhân và nhà quản lý chuyên môn hóa các nhiệm vụ của họ và khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực
sử dụng trong quá trình sản xuất như đất đai, máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận chuyển Kinh tế theo quy mô thường được đo lường bằng hệ số co giãn chi phí – sản lượng, phần trăm thay đổi trong chi phí sản xuất dẫn đến bao nhiêu phần trăm thay đổi trong sản lượng
Trong sản xuất nông nghiệp, có rất nhiều nghiên cứu và tranh luận về kinh tế theo quy mô Những nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên được thực hiện vào những năm
1950 (Heady và Cộng sự, 1956) thường sử dụng hàm bậc hai hoặc hàm Cobb – Douglass để ước lượng các hệ số của hàm sản xuất nông nghiệp Quy mô nhỏ về diện tích đất và vốn sản xuất sẽ là trở ngại cho việc áp dụng các công nghệ mới như cơ giới, thâm canh gắn với bảo vệ môi trường Các hộ chăn nuôi với diện tích đất, vốn, lao động, máy móc thiết bị, tập trung lớn hơn sẽ thuận tiện cho cơ giới hóa, giải phóng sức người, áp dụng các công nghệ kỹ thuật mới, chi phí sản xuất sẽ giảm nhanh theo quy mô, sản lượng tăng do vậy các hộ quy mô lớn có hiệu xuất cao hơn và có lợi thế kinh tế theo quy mô Các nghiên cứu sử dụng hàm Cobb – Douglas thông thường dẫn đến kết luận là thu nhập theo quy mô tăng dần, tuy nhiên đây không phải là bằng chứng của vấn đề kinh tế theo quy mô và đánh giá thấp vấn đề không hiệu quả trong hàm chi phí sản xuất của các nông trại nhỏ (Kislev và Petterson, 1996) Hơn nữa, trong ngắn hạn khi việc ước lượng chi phí sản xuất sử dụng dạng hàm tuyến tính mà không phải dạng hàm bậc hai thì chi phí trung bình thường giảm khi quy mô nông trại không lớn, sau đó sẽ là không đổi với một khoảng quy mô nhất định Đường biểu diễn giảm ở giai đoạn đầu có thể do sử dụng quá mức lao động tại các nông trại nhỏ
Trong lý thuyết về sản xuất nông nghiệp, để phân tích mối quan hệ giữa các yếu
tố đầu vào và năng suất, nhà nghiên cứu có thể sử dụng khung phân tích hàm sản xuất tân cổ điển để xem xét mối quan hệ kỹ thuật giữa các yếu tố Khung phân tích hàm chi phí hoặc hàm lợi nhuận (Lau, 1978), cho phép xem xét đồng thời các yếu tố kỹ thuật
và kinh tế Ngoài ra còn có các phương pháp khác như hạch toán từng phần toàn bộ, lập trình toán cũng có thể áp dụng (Sadoulet và De Janvy, 1995)
Trang 24Hàm sản xuất Cobb – Douglas
Việc xác định hiệu quả của hoạt động sản xuất liên quan mật thiết đến việc xác định lượng đầu ra từ các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Nên khi nghiên cứu hiệu quả thường bắt đầu từ việc nghiên cứu hàm sản xuất
Hàm sản xuất: là một hàm số biểu diễn về mặt toán học của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của một quá trình sản xuất Thông thường nó được viết dưới dạng:
Y = f (x 1 , x 2 , x 3, ….,x n )
Trong đó: Y: sản lượng đầu ra, xi: là các yếu tố đầu vào Các biến trong hàm sản xuất được giả định là dương, liên tục và các yếu tố đầu vào được xem là có thể thay thế cho nhau tại mỗi mức sản lượng
Hàm sản xuất cho biết mức sản lượng tối đa được tạo ra ứng với mỗi phương án kết hợp các yếu tố đầu vào cho trước Các yếu tố đầu vào bao gồm các yếu tố cố định (là các yếu tố được nông hộ sử dụng một lượng cố định và nó không ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất như: chi phí chuồng trại, chi phí công cụ chăn nuôi,…) và các yếu
tố biến đổi (là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất như: giống, thức ăn, thuốc thú y, điện, nước,…)
Do vậy, hàm sản xuất có thể được viết một cách chi tiết hơn:
xi và sản lượng Y thường quan hệ theo dạng tuyến tính (Debertin, 1986) Do vậy, hàm sản xuất thường được viết dưới dạng là:
lnY = lnα o + α 1 lnX 1 +…+ α 1n lnX n hoặc Y = α o x 1 1….x n n
Trong đó: Y : là sản lượng đầu ra, Xi là các yếu tố đầu vào (i = 1,2,…,n)
Hằng số α o đại diện cho tham số hiệu quả từ các yếu tố đầu vào cố định Xi, biểu diễn tác động của những yếu tố nằm ngoài những yếu tố đầu vào có trong hàm sản
Trang 25xuất như: công nghệ, sự kém hiệu quả,….Với cùng lượng đầu vào xi, αo càng lớn thì sản lượng tối đa đạt được càng lớn
Tham số α i đo lường hệ số co giãn của sản lượng theo số lượng các yếu tố đầu
vào của hàm sản xuất, chúng được giả định rằng có giá trị từ 0 đến 1
Hệ số co giãn sản lượng riêng: trong mô hình này các hệ số α có ý nghĩa là hệ
số co giãn năng suất (tỷ lệ phần trăm thay đổi trong năng suất so với phần trăm thay đổi trong yếu tố đầu vào)
Sản phẩm trung bình (AP): là lượng sản phẩm được tạo ra trên một đơn vị yếu
tố đầu vào thay đổi, giữ nguyên giá trị của các yếu tố khác Giá trị sản phẩm trung bình được tính bằng cách lấy sản lượng chia cho lượng yếu tố đầu vào Giá trị này được tính riêng cho từng yếu tố đầu vào Giá trị sản phẩm trung bình đạt mức tối đa (cực đại) khi giá trị của nó bằng với giá trị sản phẩm biên (MPP)
Sản phẩm biên (MPP): là lượng sản phẩm tăng thêm khi gia tăng thêm một đơn
vị yếu tố đầu vào đó Đạo hàm của Y theo từng yếu tố đầu vào Xi, ta có được hoặc còn gọi là sản phẩm biên (MPPi) của hàm số trên:
MPPi = dLnY/dLnXi = αi(Y/Xi)
Giá trị sản phẩm biên: Hàm sản xuất Cobb – Douglas có quy luật năng suất cận biên giảm dần VMP = MPPi x PY được gọi là giá trị của sản phẩm và nó bằng với chi phí biên của yếu tố đầu vào thứ i Trong đó: MPPi là giá trị sản phẩm biên; PXi là giá nhân tố đầu vào thứ i, PY là giá sản phẩm đầu ra
Tối đa hóa lợi nhuận và lượng yếu tố đầu vào tối ưu: Phân tích kinh tế trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, với giả định là người nông dân có hành vi tối đa hóa lợi nhuận và giá cả của nông sản, giá của yếu tố đầu vào là do thị trường quyết định (nông dân là người chấp nhận giá) Ta có điều kiện bậc nhất của bài toán tối đa hóa lợi nhuận
là VMPi = PXi Trong đó PXi là giá của yếu tố đầu vào
VMPi = MPPi x PY = PXi
Thay thế giá trị của MPPi vào công thức trên ta có: αi(Y/Xi) x PY = PXi Từ đây có thể tìm ra được mức độ tối ưu của một yếu tố đầu vào để đạt được lợi nhuận tối
đa, giữ nguyên các yếu tố khác không thay đổi như sau:
Xi = αi(Y x PY/ PXi)
Trang 261.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu
1.2.1 Giới thiệu khái quát về tỉnh Hậu Giang
Điều kiện tự nhiên
Thực hiện Nghị quyết 22/2003/QH.11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội khoá 11 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nghị định số 05/2004/NĐ-
CP ngày 2 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ, tỉnh Cần Thơ được chia tách làm hai đơn vị hành chính: thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương và tỉnh Hậu Giang
Tỉnh Hậu Giang là một tỉnh nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long thuộc tiểu vùng Tây sông Hậu, diện tích 1.601 km2, chiếm khoảng 4% diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và chiếm khoảng 0,4% tổng diện tích tự nhiên cả nước, dân số 802.799 người
Nằm trung gian giữa châu thổ sông Hậu và vùng ven biển Đông, tỉnh Hậu Giang là nhịp cầu nối giữa hệ thống sông Hậu (phía Đông) và sông Cái Lớn (phía Tây, Tây Nam) Đến nay, Tỉnh Hậu Giang gồm 7 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó có
2 thị xã (Thị xã Vị Thanh, Thị xã Ngã Bảy) và 5 huyện (Huyện Vị Thủy, Huyện Long
Mỹ, Huyện Châu Thành, Huyện Châu Thành A, Huyện Phụng Hiệp) Cùng với Thành Phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, có hệ thống sông ngòi chằng chịt bao quanh: sông Hậu, sông Cái Tư, kênh Quản Lộ, kênh Phụng Hiệp, kênh Xà No
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2014
Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,54% (KH 13 - 14%), trong đó
khu vực I tăng 4,4% (KH 4 - 5%); khu vực II tăng 17% (KH 17 - 18%); khu vực III tăng 19,3% (KH 19 - 20%); Giá trị sản xuất (GO) tăng 17,35% (KH 17 - 18%); trong đó: nông - lâm - ngư nghiệp tăng 5,13% (KH 5 - 6%), công nghiệp - xây dựng tăng 21,2% (KH 21 - 22%), thương mại - dịch vụ tăng 23,4% (KH 23 - 24%)
Cơ cấu kinh tế khu vực I chiếm 34,06%, khu vực II chiếm 30,52%, khu vực III chiếm 35,42%; Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ thu ngoại tệ 183,1 triệu USD (KH 300) Kim ngạch nhập khẩu 49,5 triệu USD (KH 30); Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 3.526 tỷ đồng, vượt 3,9% so kế hoạch (KH 3.392 tỷ đồng)
Trang 27Tổng thu nội địa 789 tỷ đồng (bao gồm thu xổ số kiến thiết 186 tỷ), vượt 57,5% so kế hoạch (501 tỷ đồng)
Hình 1.1 Bản đồ tỉnh Hậu Giang
Nguồn: Cổng thông tin điện tử huyện Châu Thành A, 2015
Về văn hóa - xã hội và môi trường: Nâng cao chất lượng dân số, duy trì mức
giảm sinh 0,3%o (KH 0,3%o); tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 11,72%o (KH 11,6%o) Giải
quyết việc làm 23.500 lao động (KH 23.000), số lao động được đào tạo nghề 8.960 lao động (KH 10.700); Tỷ lệ hộ nghèo còn 9,95% (KH 10%), giảm 1,55% so với năm 2013; Tỷ
lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 18% (KH 18%); số bác sỹ trên 1 vạn dân là 3,9 bác sỹ, số giường bệnh trên 1 vạn dân là 18,28 giường; Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện 96,7% (KH 95%), trong đó khu vực nông thôn 93% (KH 90%);
Về quốc phòng và an ninh: Công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ đạt
100% chỉ tiêu cấp trên giao, cả về số lượng và chất lượng; xây dựng lực lượng Dân quân
tự vệ theo quy định của Quân khu Số lượng tội phạm và tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh được kiềm chế và giảm so với năm 2013
Trang 28Tóm lại, năm 2014 mặc dù chịu nhiều biến động của nền kinh tế thế giới và
trong nước nhưng tỉnh Hậu Giang vẫn cố gắng duy trì phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng đạt cao (13,54%); tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn 8.105 tỷ đồng, đạt kế hoạch; tổng thu và tổng chi ngân sách đều tăng so cùng kỳ, thu nội địa 789 tỷ đồng (kể
cả thu xổ số kiến thiết); hoàn thành đơn giản hoá thủ tục hành chính theo Đề án 30; công tác tổng điều tra hộ nghèo, dân số - kế hoạch hoá gia đình, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội, đạt kết quả tốt Tuy nhiên, dịch bệnh heo tai xanh còn xảy
ra, giá nông sản từng lúc không ổn định; tiến độ thi công một số công trình, dự án, công tác giải phóng mặt bằng còn chậm; kim ngạch xuất khẩu đạt thấp; giá tiêu dùng cao, tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng chưa kịp thời xử lý; môi trường bị ô nhiễm, vệ sinh an toàn thực phẩm kiểm tra thiếu thường xuyên; một số cán bộ công chức chưa có chỗ ở hoặc chỗ ở chưa ổn định đã làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác; tình hình an ninh trật tự, an toàn giao thông cần quan tâm, chỉ đạo mạnh hơn nữa
Quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2020
Ngày 30 tháng 12 năm 2011, Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang đã ban hành Quyết định
số 2178/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi và cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung tỉnh Hậu Giang đến năm 2020 Theo đó đến năm 2020, ngành chăn nuôi của tỉnh cơ bản chuyển sang phương thức chăn nuôi và giết mổ gia súc, gia cầm tập trung theo hướng công nghiệp, hiện đại đảm bảo chăn nuôi an toàn dịch bệnh, môi trường chăn nuôi và vệ sinh an toàn thực phẩm,…; Tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt 9,46%/năm giai đoạn 2011-2015 và 8,5%/năm giai đoạn 2016-2020; Nâng tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 20% năm 2015 và đạt 35% năm 2020; Sản lượng thịt hơi các loại năm 2015 đạt 48,1 nghìn tấn Trong đó: thịt heo 36,9 tấn, thịt gia cầm 10,8 nghìn tấn, thịt trâu 94 tấn, thịt bò 191 tấn; sản lượng thịt hơi các loại năm 2020 đạt 81,8 nghìn tấn Trong đó, thịt heo 66,2 nghìn tấn, thịt gia cầm 15,1 nghìn tấn, thịt trâu 154 tấn, thịt bò 263 tấn; Sản lượng trứng gia cầm đạt 172 triệu quả trứng năm 2015 và 241 triệu quả trứng năm 2020; Quy mô đàn gà: năm 2015 là 1.500 nghìn con, trong đó nuôi tập trung 602 nghìn con (40%); năm 2020 là 2.400 nghìn con, trong đó nuôi tập trung 2.044 nghìn con (85%)
Các vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung, gồm: Huyện Phụng Hiệp: bố trí 02 vùng, diện tích 270 ha thuộc ấp Bào Môn và ấp Hòa Phụng C, xã Hòa
Trang 29An (vùng 1), diện tích 250 ha thuộc ấp 6 và ấp 7, xã Hòa An (vùng 2) Huyện Châu Thành A: bố trí 01 vùng, diện tích 150 ha thuộc xã Trường Long A Huyện Long Mỹ:
bố trí 03 vùng, diện tích 200 ha thuộc xã Xà Phiên (vùng 1), diện tích 100 ha thuộc khu phát triển chăn nuôi thủy cầm kết hợp nuôi trồng thủy sản nằm trong Khu Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc xã Lương Nghĩa (vùng 2), diện tích 230 ha thuộc vùng đầu tư, phát triển chăn nuôi hướng ngoại nằm trong Khu Nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao thuộc xã Lương Nghĩa (vùng 3)
1.2.2 Giới thiệu về huyện Châu Thành A
Đặc điểm tự nhiên
Về vị trí địa lý: Huyện Châu Thành A ở phía Bắc của tỉnh Hậu Giang; Bắc giáp
thành phố Cần Thơ; Nam giáp huyện Phụng Hiệp; Tây giáp thành phố Cần Thơ, tỉnh Kiên Giang và huyện Vị Thủy cùng tỉnh; Đông giáp huyện Châu Thành Về hành chính, huyện bao gồm 4 thị trấn là: Một Ngàn, Rạch Gòi, Cái Tắc, Bảy Ngàn và 6 xã là: Trường Long Tây, Tân Phú Thạnh, Thạnh Xuân, Nhơn Nghĩa A, Trường Long A, Tân Hoà
Đường bộ: Huyện hiện có hai tuyến đường chính là đường Quốc lộ 1A đi qua
thị trấn Cái Tắc và xã Tân Phú Thạnh, đường Quốc lộ 61 đi qua thị trấn Rạch Gòi Ngoài ra, còn có tuyến tỉnh lộ 932, 926, Bốn Tổng – Một Ngàn đi qua, tuyến đường nối Vị Thanh – Cần Thơ đi qua trung tâm huyện Châu Thành A và là cơ hội để huyện phát triển
Đường thủy: Nằm trong hệ thống kênh rạch chằng chịt của hệ thống kênh rạch
ĐBSCL Đặc biệt là đê bao khép kín kênh Xáng Xà No bao bọc nên thuận lợi cho sinh hoạt, đi lại giao thương giữa các vùng và tưới tiêu
Điều kiện đất đai: Huyện Châu Thành A là huyện được tự nhiên ưu đãi có địa
hình đất đai tương đối bằng phẳng thuận lợi để sản xuất nông nghiệp – ngư nghiệp Huyện có diện tích tự nhiên hơn 157,15 km2 trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 13.895,03ha và diện tích đất phi nông nghiệp (gồm đất chuyên dùng và đất thổ cư) và đất chưa sử dụng là 2.299,76 ha
Khí hậu: Huyện Châu Thành A nằm trong vành đai nội chí tuyến Bắc bán cầu
gần xích đạo, là khí hậu nhiệt đới gió mùa rõ rệt, quanh năm chỉ có hai mùa là mùa
Trang 30mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng
4 hàng năm
Tình hình kinh tế - xã hội
Kinh tế: Trước đây, người dân huyện Châu Thành A chỉ quen độc canh cây lúa,
mỗi năm 3 vụ Mấy năm gần đây, ngành nông nghiệp huyện đã phát triển theo hướng
đa canh, xuất hiện nhiều mô hình sản xuất bền vững, có tính khoa học cao Nếu như năm 2013, diện tích trồng màu ở Châu Thành A chỉ có 2.845 ha, thì năm 2014 đã
là 3.460 ha Người dân chủ yếu trồng các loại cây ngắn ngày như: dưa hấu, khoai lang, bắp lai, đậu xanh, dưa leo, bí thu lãi cao hơn trồng lúa 3 - 5 lần Mô hình trồng rau màu, phong trào nuôi thủy sản của huyện phát triển nhanh và mang lại thu nhập đáng
kể cho nhiều gia đình Mặc dù không có lợi thế như các vùng Ô Môn, Thốt Nốt của Cần Thơ, nhưng Châu Thành A lại có diện tích mặt nước khá rộng
Theo kế hoạch phát triển kinh tế, huyện Châu Thành A sẽ thực hiện đồng bộ chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, các ngành nghề phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn Tiếp tục phối hợp với tỉnh thực hiện dự án Cụm công nghiệp tập trung Tân Phú Thạnh, quy hoạch xây dựng Trung tâm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện tại xã Nhơn Nghĩa A Quy hoạch, đầu tư xây dựng, nâng cấp các trung tâm thương mại; đa dạng hoá các loại hình thương mại, dịch
vụ, trong đó tập trung khai thác các khu dân cư, tái định cư Tiếp tục đẩy mạnh phát triển toàn diện kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất nông nghiệp chất lượng cao, tạo ra những sản phẩm chất lượng phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến
và thương mại - dịch vụ.
Kết cấu hạ tầng: Sau khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Hậu
Giang, Châu Thành A có khá nhiều chợ nổi tiếng với vai trò đầu mối giao thương, nhưng hầu hết đều xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu hiện tại Qua hai năm triển khai, huyện đã xây dựng được hệ thống đường bê tông, đường nhựa đến tất cả các ấp, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ cho người dân
Dân số: toàn huyện có 101.211 người chiếm khoảng 13% dân số toàn tỉnh, mật
độ dân số trung bình là 644 người/km2, trong đó phân theo giới tính nam 50.805 người (chiếm tỷ lệ 50,2%) và nữ là 50.406 (chiếm tỷ lệ 49,8%)
Trang 31Giáo dục: Trên địa bàn huyện số xã, thị trấn đã có trường tiểu học là 100%; số
trường trên địa bàn là 32 trường với 447 phòng học, 567 lớp học, 944 giáo viên và 18.876 học sinh Số xã, thị trấn được công nhận xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học là 10 (đạt 100%)
Tình hình sản xuất nông nghiệp
Sản xuất Nông nghiệp năm 2014 của huyện diễn ra với những thuận lợi cơ bản như: Giá cả các mặt hàng nông sản như lúa, trái cây, rau màu ổn định ở mức cao, công tác chuyển giao và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đạt được nhiều thành quả khả quan, tình hình dịch bệnh trên thực vật được khống chế Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, sản xuất nông nghiệp trong năm vẫn còn nhiều khó khăn: Giá xăng - dầu, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật biến động liên tục, dịch bệnh trên động, thực vật vẫn là nguy cơ tiềm ẩn, đặc biệt là dịch bệnh tai xanh trên đàn heo, cúm gia cầm đã xảy ra trên diện rộng, ảnh hưởng đến thu nhập của người chăn nuôi
NS ( tấn/
ha)
So với
KH ( % )
SL (Tấn/
ha)
So với
KH (%) Đông Xuân 8.926 100,92 7,115 104,63 63.510 108,74
Hè Thu 8.620 101,14 5.004 94,41 43.134 95,74 Thu Đông 8.239 102,98 4.205 100,11 34.649 103,12
Cây ăn trái: Diện tính vườn hiện có 3.585/3.675 ha, đạt 111,65 % so với kế
hoạch tỉnh giao Sản lượng ước đạt 25.162/33.953 tấn, đạt 85,19 so với kế hoạch tỉnh
Trang 32giao Về khôi phục và cải tạo vườn cây ăn trái 250/210 ha, đạt 119 % so với kế hoạch của ngành
Chăn nuôi: Tổng đàn gia cầm ước đạt 525.011/375.000 con, đạt 140% so với kế
hoạch năm, chia ra: Gà: 99.137 con; Vịt: 425.874 con Tiêm phòng Vacccin cúm H5N1 trên đàn gia cầm: Tổng gia cầm từ đầu năm đến nay tiêm được: 455.036/525.011 con đạt 86,67% Chia ra: Gà: 78.010 con/99.137 con, đạt 78,69%; Vịt: 377.026 con/425.874, đạt 88,53%
Thuận lợi và khó khăn cho phát triển chăn nuôi gà tập trung
Thuận lợi: Hiện nay, ngoài việc làm vườn, làm ruộng thì nông hộ còn chăn nuôi
gà tập trung, đó là điều kiện thuận lợi cho nông hộ có thể tận dụng thời gian nhàn rỗi
để tăng thêm thu nhập cho gia đình Không chỉ thế, hộ chăn nuôi còn biết kết hợp giữa làm vườn và chăn nuôi để tiết kệm được diện tích đất Và hộ còn có thể tận dụng được nguồn phụ phẩm trong chăn nuôi để bón cho cây hay góp phần tăng thêm doanh thu cho nông hộ
Ngoài ra, điều kiện tự nhiên cũng thuận lợi trong chăn nuôi với nguồn nguyên liệu sẵn có như: tre, lá, trấu … để sử dụng làm chuồng trại và chất độn chuồng Mô hình chăn nuôi này cũng không cần nhiều lao động, dễ nuôi và dễ chăm sóc và thời gian nuôi ngắn
Khó khăn: Do cơ sở sản xuất con giống ở địa phương không có nên việc đặt mua con giống ở xa sẽ làm tăng chi phí con giống trong quá trình vận chuyển Bởi, đa
số nông hộ chăn nuôi cho rằng qua cơ sở sản xuất ở các tỉnh khác thì số lượng con giống rất nhiều và hộ chăn nuôi có thể lựa chọn giống tốt, khỏe và sạch bệnh Có khi nông hộ có nhu cầu mua giống nhưng ở địa phương chưa đáp ứng kịp thời
Ngày nay, dưới sự biến đổi của thời tiết nên có nhiều loại dịch bệnh xuất hiện
và gây nguy hiểm đến đàn gà, dẫn đến tỷ lệ hao hụt và chi phí thuốc thú y tăng sẽ làm giảm thu nhập của hộ chăn nuôi
Khi mô hình được nhân rộng lên sẽ có ngày càng nhiều hộ nuôi tiến hành chăn nuôi trong khi đó thị trường đầu ra cho sản phẩm chưa đa dạng nên nông hộ cũng gặp không ít những khó khăn Người nuôi chưa có khả năng để ứng phó với những biến động bất ngờ trong chăn nuôi như sự gia tăng liên tục của giá thức ăn Một số hộ muốn
Trang 33mở rộng quy mô nhưng thiếu vốn trong khi giá thức ăn ngày càng tăng Nhiều hộ mới nuôi lần đầu tiên nên người nuôi vẫn chưa có điều kiện cập nhật đầy đủ thông tin về khoa học kỹ thuật, thông tin thị trường… Đó là những khó khăn mà các hộ chăn nuôi đều gặp phải, vì vậy cần phải có hướng giải quyết kịp thời để nông hộ tiếp tục chăn
nuôi và năng cao hiệu quả kinh tế hơn
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu
Trong giới hạn các tài liệu có được, tác giả xin tóm tắt một số điểm nổi bật trong một số công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát triển chăn nuôi gia cầm trên thế giới và trong nước
1.3.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Trong nghiên cứu của Khalid N.Alrwis E rancis (2007) về “Technical Efficiency
of Broiler Farms in the Central Region of Saudi Arabia: Stochastic Frontier Approach”, tác giả đã tiến hành nghiên cứu các trang trại chăn nuôi gà công nghiệp tại trung tâm của Arapxeut với mục tiêu đo lường hiệu quả kỹ thuật theo các qui mô trang trại khác nhau Nghiên cứu đã sử dụng cách tiếp cận cận biên để đo lường hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kỹ thuật bình quân đạt 89% và các trang trại qui mô nhỏ đạt hiệu quả
kỹ thuật ở mức 83% các trang trại lớn đạt mức hiệu quả kỹ thuật xấp xỉ là 82%
Rushton và Cộng sự (2004) đã có công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm đến 5 quốc gia Đông Nam Á Trong nghiên cứu này, tác giả và cộng sự
đã đề cập đến nhiều vấn đề và khẳng định chăn nuôi nhỏ lẻ hiện nay vẫn còn khá phổ biến ở một số quốc gia Đông Nam Á Qua nghiên cứu, tác giả và cộng sự cũng khẳng định chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ trong các nông hộ vừa đạt hiệu quả thấp vừa là nguồn lây nhiễm dịch cúm gia cầm rất nguy hiểm Tác giả đã đưa ra khuyến cáo: Các quốc gia Đông Nam Á cần phải có sự điều chỉnh mạnh mẽ ngành hàng gia cầm theo hướng phát triển chăn nuôi tập trung, gắn với chế biến công nghiệp và khi dịch cúm xảy ra thì biện pháp hiệu quả nhất vẫn là khoanh vùng và thực hiện tiêu huỷ hoàn toàn đàn gia cầm trong vùng công bố nhiễm dịch
Taha, FA (2003) đã có công trình nghiên cứu về chăn nuôi gia cầm và những yêu cầu về thức ăn ở các quốc gia có thu nhập trung bình: trường hợp nghiên cứu ở Ai Cập Trong nghiên cứu này, tác giả đã khẳng định chăn nuôi gia cầm có vai trò khá quan trọng đối với một bộ phận nông dân ở các nước có thu nhập trung bình Tác giả đã đưa
Trang 34ra một số kết luận về vấn đề thức ăn chăn nuôi, trong đó nổi bật nhất là kết luận về thức
ăn chăn nuôi gia cầm ở một số quốc gia có thu nhập trung bình chưa đảm bảo chất lượng, trong thành phần thức ăn gia cầm ở một số nước có hàm lượng Dioxin khá cao, vượt ngưỡng cho phép, có nguy cơ gây hại cho sức khoẻ con người Tác giả cũng đưa ra khuyến cáo về việc Chính Phủ các nước có thu nhập trung bình cần có biện pháp quản
lý tốt hơn về chất lượng thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y Có như vậy thì sản phẩm sản xuất ra mới có thể đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm, điều mà toàn thể cộng đồng thế giới đang rất quan tâm
1.3.2 Nghiên cứu trong nước
Tác giả Hà Công Điệp (2008) trong đề tài “Đánh giá hiện trạng chăn nuôi gia cầm trên địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ” Nghiên cứu chỉ ra rằng huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ có 77,35% hộ nông dân chăn nuôi gia cầm Quy mô chăn nuôi phổ biến là nhỏ lẻ, có tới 90,85% số hộ nuôi dưới 50 con gia cầm Nuôi gà thả hoàn toàn chiếm 63,33%, nuôi bán chăn thả chiếm 36%, nuôi nhốt hoàn toàn chiếm tỷ lệ rất thấp 0,67% Nhưng tình hình tiêu thụ rất thuận lợi đối với các sản phẩm gia cầm nội, tuy nhiên đối với các sản phẩm gia cầm ngoại và các hộ tiêu thụ với số lượng ít lại gặp nhiều khó khăn Gia cầm bán thịt chủ yếu là tiêu thụ qua lái buôn
Nghiên cứu phát triển tổ chức nông dân sản xuất lợn chất lượng cao tại khu vực Đồng bằng sông Hồng do Vũ Trọng Bình, Bùi Thị Thái (2002) – Bộ môn Hệ thống nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam được thực hiện năm
2002 Các tác giả đã chứng minh được sự liên kết của nông dân theo một quy trình kỹ thuật chung nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo ra khối lượng sản phẩm có chất lượng đồng nhất, đủ lớn để tham gia vào thị trường Báo cáo khẳng định khả năng các hộ chăn nuôi nhỏ có thể giảm giá thành sản xuất, tham gia vào thị trường có hiệu quả thông qua liên kết nông dân thông qua việc thử nghiệm mô hình từ xây dựng nhóm chăn nuôi đến thành lập hợp tác xã chăn nuôi lợn thành công Người chăn nuôi
đã thực hiện chung về các dịch vụ mua thức ăn gia súc, hợp đồng tư vấn thú y, quản lý chất lượng sản phẩm và tổ chức tiêu thụ sản phẩm Nghiên cứu cũng khẳng định liên kết nông dân thông qua các hành động tập thể có thể phát triển chăn nuôi lợn chất lượng cao một cách vững chắc
Trong bối cảnh dịch cúm gia cầm bùng phát đã có nhiều nghiên cứu về giải
Trang 35pháp phát triển chăn nuôi và hạn chế sự lây lan của dịch cúm gia cầm như tác giả Trần Công Xuân (2006) với các bài viết "Làm gì để khôi phục đàn gia cầm", "Đổi mới hệ thống chăn nuôi và giết mổ gia cầm tập trung, công nghiệp"; tác giả Trần Bạch Đằng (2006) với bài viết "Nâng cao dân trí trong phòng chống dịch cúm gia cầm"; tác giả Trần Công Thắng (2004) với công trình nghiên cứu "Tác động của tự do hoá thương mại đến ngành chăn nuôi Việt Nam"; tác giả Nguyễn Tiến Mạnh (2007) với chuyên đề
"Những giải pháp chủ yếu để phát triển ngành hàng gia cầm trong sự đe doạ của dịch cúm gia cầm"; tác giả Nguyễn Thiện (2007) với bài viết "Giết mổ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm gia cầm qui mô vừa và nhỏ"; tác giả Đinh Xuân Tùng (2005) với công trình nghiên cứu "Sản xuất gia cầm qui mô hộ gia đình ở Việt Nam - đặc điểm kênh phân phối và chiến lược phát triển" và nhiều công trình nghiên cứu khác Trong mỗi công trình nghiên cứu, các tác giả tập trung làm rõ các khía cạnh khác nhau và các biện pháp phát triển chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam trong bối cảnh dịch cúm gia cầm luôn
đe doạ bùng phát Hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định trong giai đoạn tới, để nâng cao cạnh tranh của ngành hàng gia cầm thì Việt Nam cần hạn chế phát triển chăn nuôi nhỏ lẻ, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi tập trung gắn với giết mổ và chế biến công nghiệp
Tuy nhiên, việc hạn chế chăn nuôi nhỏ lẻ trong các nông hộ không phải là vấn
đề không mấy dễ dàng Trong bài viết "Chuyển đổi 8 triệu hộ chăn nuôi nhỏ: Không dễ", tác giả Minh Lê (2006) đã khẳng định: Việc chuyển đổi các hộ chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ ở Việt Nam là rất khó khăn, đòi hỏi phải có một hệ thống các giải pháp và một
cơ chế chính sách đồng bộ, hiệu quả
Tóm tắt Chương 1: Trong sản xuất nông nghiệp các nhà kinh tế học cho rằng
nhà sản xuất có thể thay đổi tỷ lệ các yếu tố đầu vào khi có những thay đổi về sản lượng sản xuất Các lý thuyết phân tích kinh tế trong sản xuất nông nghiệp như lý thuyết về kinh tế hộ gia đình, kinh tế sản xuất, lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô, lý thuyết và các ứng dụng của hàm sản xuất Cobb – Douglas được sử dụng là cơ sở lý thuyết thực hiện Luận văn, các hệ số co giãn, sản phẩm biên, giá trị sản phẩm biên để tối đa hóa lợi nhuận và lượng yếu tố đầu vào tối ưu Một số công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước có liên quan đến đề tài cũng là cơ sở thực tiễn quan trọng để thực hiện đề tài
Trang 36Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mô tả mẫu nghiên cứu
2.1.1 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp là các dữ liệu đã được công bố trên sách, báo,
tạp chí, các loại báo cáo tổng kết của huyện… Trong quá trình nghiên cứu, tác giã đã thu thập dữ liệu thứ cấp đó là: về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của huyện; dữ liệu thống kê về ngành chăn nuôi gà của huyện Châu Thành A và các xã nghiên cứu trong các năm từ 2012 – 2014 Các thông tin liên quan trong các công trình nghiên cứu về phát triển chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng đã được công bố
Dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu sơ cấp là dữ liệu được thu thập thông qua nguồn
thông tin được thu thập qua phiếu điều tra hộ nông dân bằng phương pháp phỏng
vấn trực tiếp sử dụng bảng câu hỏi (nội dung bảng câu hỏi ở phần phụ lục) Các dữ
liệu sơ cấp bao gồm: Thông tin về chủ hộ; Thông tin về cơ sở vật chất, công cụ dụng
cụ và tài sản của hộ phục vụ chăn nuôi gà; Thông tin về số lượng gà nuôi trên lứa; số lứa nuôi trên năm; sản lượng thịt hơi xuất chuồng 1 năm; giống gà nuôi; chi phí giống ; Thông tin về chi phí thức ăn chăn nuôi gà: chi phí đậm đặc; chi phí cám ăn thẳng; chi phí ngô ; Thông tin về chi phí thú y, chi phí chăm sóc và các chi phí khác trong chăn nuôi gà tại hộ; Một số thông tin khác về thuận lợi, khó khăn trong chăn nuôi gà của hộ
Tổng hợp dữ liệu: Các dữ liệu thu thập được kiểm tra, hiệu chỉnh và hệ thống
hoá theo các nội dung nghiên cứu Phương pháp phân tổ được sử dụng để tổng hợp các
dữ liệu theo từng nội dung, các phương thức phân tổ chủ yếu là: Qui mô chăn nuôi (lớn, vừa, nhỏ); theo giống gà nuôi (giống gà lai, giống gà ta) Công cụ hỗ trợ cho xử
lý và tổng hợp dữ liệu là phần mềm EXCEL
2.1.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
Huyện Châu Thành A có 10 đơn vị xã, thị trấn tổng số hộ dân là 25.435 hộ trong đó có 4.212 hộ chăn nuôi gà với số lượng tổng đàn gà là 99.137 con được phân
bố theo từng đơn vị xã, thị trấn và theo quy mô cụ thể như phụ lục 1
Trang 37Việc xác định mức độ chính xác cở mẫu khảo sát sẽ ảnh hưởng đến mức độ phản ảnh tổng thể nghiên cứu ở giá trị sai số cho phép (còn gọi là "khoảng tin cậy") Mức độ tin cậy được chọn trong mức độ chắc chắn có thể cho kết quả là thực sự Vì vậy trong nghiên cứu Luận văn này, tác giả chọn thiết lập khoảng tin cậy ở mức 95%, tức mức độ sai số là 5% Đồng thời do số lượng hộ dân nuôi gà dự định khảo sát sẽ lớn hơn 150 mẫu và mô hình nghiên cứu dự kiến là mô hình hồi quy bội nên tác giả sử dụng phương pháp thuận tiện cho Luận để xác định cở mẫu là 190 hộ
2.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu
Hình 2.1: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà tập trung
Nghiên cứu định lượng
n = 190
Lý thuyết kinh tế sản xuất (Trần Thụy Ái Đông, 2008)
Phân tích kinh tế trong sản xuất nông
Trang 38Dựa theo mô hình lý thuyết về hàm sản xuất Cobb – Douglas trình bày ở chương 1 và số liệu thu thập được, phương pháp để ước lượng hệ số hồi quy trong mô hình là phương pháp bình phương bé nhất (Ordinary Least Squared - OLS), phần mềm được sử dụng là Stata 12, mô hình nghiên cứu thực nghiệm với các biến số cụ thể được xác định để phân tích như sau:
Ln(sanluong) = β0 + β1(thucan) + β2(luonggiong) + β3(laodong) + β4(thoigian) +
β5(taphuan) + β6(kinhnghiem) + β7(loaigiong) + ε
Trong đó: Y là biến năng suất trong một vụ nuôi (số kg gà thịt xuất chuồng); β
là hằng số; βi là các hệ số ước lượng tương ứng cho từng yếu tố đầu vào; ε là sai số ước lượng đại diện cho các yếu tố khác không có trong mô hình
Bảng 2.1: Mô tả các biến độc lập sử dụng trong mô hình Biến độc lập Ký hiệu Mô tả biến số
Thức ăn thucan Số lượng thức ăn cho gà ăn (kg) (+) Lượng giống luonggiong Số lượng con giống được nuôi (con) (+) Lao động laodong Số lượng lao động trong hộ gia đình (người) (+) Thời gian nuôi thoigian Thời gian nuôi gà (ngày) (-) Tập huấn taphuan Tập huấn kỹ thuật (có = 1, không = 0) (+) Kinh nghiệm kinhnghiem Số năm chăn nuôi gà của chủ hộ (năm) (+) Loại giống loaigiong Loại giống gà nuôi (gà lai = 1, gà ta = 0) (+)
Các biến độc lập được định nghĩa như sau:
Biến thucan, thể hiện lượng thức ăn sử dụng trong chăn nuôi Hệ số hồi quy này
dự kiến sẽ có giá trị dương (+), thể hiện lượng thức ăn càng nhiều thì trọng lượng gà xuất chuồng càng cao
Biến luonggiong, thể hiện số lượng con giống khi bắt đầu nuôi Hệ số hồi quy này dự kiến sẽ có giá trị dương (+), thể hiện số lượng con giống càng nhiều thì trọng lượng xuất chuồng càng cao
Trang 39Biến laodong, thể hiện số lao động trong hộ gia đình và thuê mướn Hệ số hồi quy này dự kiến sẽ có giá trị dương (+), thể hiện số lao động trong hộ nuôi gà càng cao thì hiệu quả càng tăng
Biến thoigian, thể hiện thời gian chăn nuôi Hệ số hồi quy này dự kiến sẽ có giá trị âm (-), thể hiện số ngày nuôi càng ít thì trọng lượng xuất chuồng càng nhiều do chủ
hộ áp dụng được các biện pháp kỹ thuật nên rút ngắn được thời gian nuôi và tiết kiệm được chi phí
Biến taphuan, thể hiện chủ hộ có tham gia hay không có tham gia tập huấn kỹ thuật chăn nuôi gà Hệ số hồi quy này dự kiến sẽ có giá trị dương (+), thể hiện chủ hộ
có tham gia tập huấn kỹ thuật thì hiệu quả chăn nuôi sẽ cao hơn hộ không có tham gia tập huấn
Biến kinhnghiem, thể hiện kinh nghiệm chăn nuôi gà của chủ hộ, được tính bằng số năm chăn nuôi gà của chủ hộ Hệ số hồi quy này dự kiến sẽ có giá trị dương (+), thể hiện số năm nuôi gà càng lớn thì hiệu quả chăn nuôi càng tăng
Biến loaigiong, thể hiện giống gà chủ hộ chọn nuôi Biến nhận giá trị gà lai = 1,
gà ta = 0 Hệ số hồi quy dự kiến sẽ có giá trị dương (+), thể hiện nuôi giống gà lai sẽ
có hiệu quả hơn
Kiểm định ý nghĩa thống kê của mô hình:
Hệ số xác định và kiểm định hệ số xác định: Hệ số xác định R2 (R-squared): cho biết mức độ giải thích của các biến độc lập với sự biến động (quanh giá trị trung bình) của biến phụ thuộc, phần còn lại do sự ảnh hưởng của các yếu tố khác mà chúng
ta chưa nghiên cứu Ngoài R2, Stata cũng tính hệ số xác định hiệu chỉnh chỉnh R2(Adj R-squared), ý nghĩa của hệ số này giống như R2, thường thì giá trị của hệ số này có sự khác biệt rất ít so với R2 R2 là hệ số quan trọng để chúng ta xem xét có nên thêm một biến độc lập mới vào phương trình hồi quy không Chúng ta có thể thêm một biến độc lập nếu như việc thêm biến độc lập đó làm tăng hệ số R2
Kiểm định hệ số hồi quy Đặt giả thuyết: Ho : β i = 0, tức là các biến độc lập không ảnh hưởng đến biến phụ thuộc; giả thuyết đối Hi : β i ≠ 0, tức là các biến độc lập
có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc Cơ sở để kiểm định (kiểm định với độ tin cậy 95%
Trang 40tương ứng với mức ý nghĩa α = 1- 0.95 = 0.05 = 5%) Bác bỏ giả thuyết Ho khi P – value < α
Kiểm định đa cộng tuyến: xác định nhân tử phóng đại phương sai (vif) của mỗi biến để xác định đa cộng tuyến hay không Nếu giá trị 10 > vif > 5 thì biến đó đa cộng tuyến không hoàn hảo có thể chấp nhận được, nếu giá trị vif > 10 thì biến đó đa cộng tuyến hoàn hảo và sẽ loại bỏ hoặc điều chỉnh lại ngay từ đầu
Kiểm định phương sai thay đổi: Sử dụng kiểm định Breusch – Pagan với giả thuyết Ho : δi2 = δ2, là mô hình có phương sai thuần nhất, giả thuyết đối H1 : δi2 =
δ2h(α2z2i+… αmzmi), là phương sai của sai số phụ thuộc vào các yếu tố z2i … zki Sau khi hồi quy bằng OLS, Stata hỗ trợ thực hiện kiểm định Breusch – Pagan bằng lệnh hettest Chấp nhận Ho khi Chi bình phương > 0,05 và ngược lại
2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu
Để có số liệu sơ cấp phân tích, Luận văn này tiến hành thu thập số liệu thông qua điều tra phỏng vấn số hộ nông dân chăn nuôi gà trên địa bàn hai xã đại diện của huyện Châu Thành A là Trường Long A và Nhơn Nghĩa A, đây là hai xã có số hộ chăn nuôi gà nhiều nhất của huyện Châu Thành A và tất cả các hộ có quy mô chăn nuôi từ
500 con trở lên Mẫu hộ nông dân nuôi gà được lựa chọn để phỏng vấn xây dựng Luận văn thực hiện theo phương pháp chọn mẫu phân tầng, phân nhóm và chọn mẫu ngẫu nhiên
Tổng thể được chia làm 3 tầng theo quy mô (quy mô nhỏ, quy mô vừa và quy
mô lớn), vì quy mô vừa và quy mô lớn mỗi nhóm chỉ có 9 hộ nên tác giả quyết định chọn tất các các hộ trong hai nhóm này để phỏng vấn tổng số là 18 hộ Nhóm quy mô nhỏ còn lại có tổng số hộ là 4.194 hộ phân bố ở 10 đơn vị xã, thị trấn nên tác giả chọn phương pháp phân nhóm Nhóm được chia tương ứng với 10 đơn vị xã, thị trấn và chọn ra 02 đơn vị có số hộ chăn nuôi gà nhiều nhất là Trường Long A và Nhơn Nghĩa
A, tiếp tục phân nhóm tương ứng với 19 ấp (Trường Long A: 10 ấp, Nhơn Nghĩa A:
09 ấp) và chọn ra 10 ấp có số hộ chăn nuôi gà nhiều nhất (Trường Long A: 05 ấp, Nhơn Nghĩa A: 05 ấp) Danh sách các hộ nuôi gà trong 10 ấp được UBND cấp xã cung cấp và được đánh số thứ tự và chia theo từng ấp, áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên bằng cách sử dụng hàm INT và hàm RAND trong Excel, công thức: