1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Dạy trẻ mẫu giáo phát âm đúng thông qua đồng dao

80 327 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc giáo dục trẻ trước tuổi đi học là vô cùng quan trọng, nếu bỏ qua thời kì thơ ấu của một con người, tức ta không chăm sóc, không giáo dục, không cho trẻ được sống trong môi

Trang 1

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

ĐỖ THU HƯỜNG

DẠY TRẺ MẪU GIÁO PHÁT ÂM ĐÚNG

THÔNG QUA ĐỒNG DAO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt đề tài này em vô cùng cảm ơn các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Các giáo viên chủ nhiệm cùng các trẻ lớp Mẫu giáo bé 3A4 trường Mầm non Hoa Sen, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và lớp Mẫu giáo bé C3 trường Mầm non Hồng Kỳ, xã Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, thành phố

Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để em thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Đặc biệt hơn em xin chân thành biết ơn cô Lê Thị Lan Anh, giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình hướng dẫn em thực hiện đề tài này

Đề tài được hoàn thành là niềm vui rất lớn đối với chúng em Hy vọng nó sẽ

có ích được cho những ai cần tài liệu tham khảo để giúp trẻ phát âm đúng thông qua đồng dao

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!

Xuân Hòa, ngày 10 tháng 5 năm 2016

Sinh viên

Đỗ Thu Hường

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu, các số liệu trình bày trong khóa luận này là trung thực Đề tài của tôi chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2016 Sinh viên

Đỗ Thu Hường

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Cấu trúc đề tài 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY TRẺ PHÁT ÂM ĐÚNG THÔNG QUA ĐỒNG DAO 7

1 Cơ sở lí luận của việc dạy trẻ phát âm đúng thông qua đồng dao 7

1.1 Một số khái niệm liên quan 7

1.1.1 Khái niệm đồng dao 7

1.1.2 Khái niệm chuẩn phát âm 8

1.2 Vài nét về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo 9

1.2.1 Đặc điểm sinh lý của trẻ mẫu giáo 9

1.2.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo 13

1.3 Cơ sở ngôn ngữ học 14

1.3.1 Đặc điểm âm tiết của tiếng Việt 14

1.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 17

1.4 Một số lỗi phát âm của trẻ mầm non 22

2 Cơ sở thực tiễn của việc dạy trẻ phát âm đúng thông qua đồng dao 24

2.1 Thực trạng việc giảng dạy đồng dao cho trẻ hiện nay 24

2.1.1 Thuận lợi 24

2.1.2 Khó khăn 25

Trang 5

2.2 Thực trạng hứng thú của trẻ với việc học và chơi với các bài đồng dao 25

2.3 Khảo sát việc dạy trẻ phát âm đúng 26

2.3.1 Cơ sở tiến hành khảo sát 26

2.3.2 Điều tra thực trạng 29

2.3.3 Kết quả khảo sát 30

2.3.4 Phân tích nguyên nhân mắc lỗi phát âm của trẻ 41

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY TRẺ PHÁT ÂM ĐÚNG THÔNG QUA ĐỒNG DAO 44

2.1 Yêu cầu khi lựa chọn các bài đồng dao vào việc dạy trẻ phát âm đúng 44

2.2 Một số biện pháp dạy trẻ phát âm đúng thông qua đồng dao 44

2.2.1 Biện pháp dạy trẻ phát âm đúng thông qua đọc đồng dao 44

2.2.2 Biện pháp dạy trẻ phát âm đúng thông qua hát đồng dao 46

2.2.3 Biện pháp dạy trẻ phát âm đúng thông qua trò chơi đồng dao 48

2.2.4 Một số lưu ý khi thực hiện dạy trẻ phát âm đúng thông qua đồng dao 50 2.3 Sưu tầm các bài đồng dao có những từ mà trẻ hay phát âm sai theo chủ đề của trường mầm non 50

2.3.1 Chủ đề Trường mầm non của bé 51

2.3.2 Chủ đề Bản thân và chủ đề Gia đình 51

2.3.3 Chủ đề Thế giới thực vật Error! Bookmark not defined 2.3.4 Chủ đề Thế giới động vật 57

2.3.5 Chủ đề nghề nghiệp 61

2.3.6 Chủ đề Giao thông 64

2.3.7 Chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên 65

CHƯƠNG 3 THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM 67

3.1 Mục đích thể nghiệm 67

3.2 Đối tượng và phạm vi thể nghiệm 67

Trang 6

3.3 Phương pháp thể nghiệm 67

3.4 Thời gian và địa bàn tiến hành thể nghiệm 67

3.5 Nội dung thể nghiệm 68

3.5.1 Những bài đồng dao quen thuộc 68

3.5.2 Những trò chơi đồng dao 69

3.5.3 Những bài hát đồng dao 70

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đảng, Nhà nước cùng toàn thể xã hội đã và luôn quan tâm đến công tác Giáo dục và Đào tạo, xem đây là nhân tố quyết định đến sự lớn mạnh của đất nước Trong đó Giáo dục Mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ hình thành và phát triển nhân cách trẻ, tạo ra những thế hệ người có ích, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Để làm được điều này, ngay từ bây giờ chúng ta phải luôn chú trọng đến chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ về mọi mặt Có như vậy trẻ mới phát triển đúng hướng, toàn diện, và phù hợp với mục tiêu chung của ngành Giáo dục Mầm non

Mục tiêu chung của ngành Giáo dục Mầm non đã dặt ra rất nhiều kế hoạch nhằm phát triển về mọi mặt: Tư duy, đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ, ngôn ngữ để trẻ

có thể sẵn sàng bước vào bậc học phổ thông Lep Tonxtoi đã từng nhận định

rằng: “Tất cả những gì mà trẻ có sau này khi trở thành người lớn đều thu nhận

trong thời thơ ấu Trong quãng đời còn lại, những cái mà nó thu nhận được chỉ đáng 1% những cái đó mà thôi” Vì vậy, việc giáo dục trẻ trước tuổi đi học là vô

cùng quan trọng, nếu bỏ qua thời kì thơ ấu của một con người, tức ta không chăm sóc, không giáo dục, không cho trẻ được sống trong môi trường xã hội thì đứa trẻ đó khó có thể lớn lên và phát triển bình thường được

Giáo dục Mầm non không chỉ chú trọng phát triển nhân cách cho trẻ mà còn hướng trẻ trở thành một công dân tương lai với đủ đức đủ tài đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Với ý nghĩa to lớn ấy trong khi lựa chọn nội dung đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã dành sự chú ý đặc biệt đến vai trò của việc phát âm

đúng của trẻ V.I.Lênin đã nói:“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng

nhất của loài người” Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp, đồng thời là công

Trang 8

cụ để biểu hiện, tích lũy và mở rộng khả năng tư duy, nhận thức cũng như các quá trình tâm lí, là phương tiện hình thành nên ý thức người Phát âm đúng được coi là chuẩn mực trong giao tiếp Trẻ lứa tuổi mầm non đang trong giai đoạn tập nói, ham học hỏi Đây cũng là giai đoạn chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1, hình thành ở trẻ khả năng tiền đọc viết Cho nên có thể khẳng định rằng đây là thời kì tốt nhất

để phát triển ngôn ngữ, trong đó có việc rèn luyện phát âm đúng cho trẻ

Chúng tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu các nhóm phương pháp, biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ và thấy rằng văn học dân gian có vị trí quan trọng trong hoạt động giáo dục ở trường mầm non Ta thấy ngay từ khi lọt lòng, trẻ đã được tiếp xúc với văn học dân gian Cùng dòng sữa mẹ, tiếng hát ru đến với trẻ trong suốt những năm tháng đầu đời Khi lên ba, trẻ bước sang một môi trường văn hóa mang tính cộng đồng Lúc này, khúc đồng dao có thể coi như sự nối tiếp với khúc hát ru để gắn bó trẻ với gia đình, làng xóm và bạn cùng trang lứa Trẻ không còn thụ động tiếp nhận lời hát ru hay tiếng cưng nựng của người lớn nữa

mà có thể chủ động tìm trò chơi, câu hát liên quan đến sinh hoạt cộng đồng Tham gia vào đó, trẻ được hoạt động chân tay, phát triển tư duy đặc biệt là được rèn luyện và phát triển về ngôn ngữ Trong thực tế, các biện pháp giáo dục ngôn ngữ cho trẻ hiện nay còn mang tính áp đặt, không logic và gò ép trẻ, còn các bài đồng dao Việt Nam lại thường vui nhộn, dễ thuộc và hầu hết đều gắn với các trò chơi dân gian Phù hợp với sự phát triển tâm lí chung của trẻ lứa tuổi mầm non

Từ những lí do trên, với tư cách là một người giáo viên mầm non tương lai cùng lòng nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, chúng tôi đã tìm hiểu về thực trạng lỗi phát âm của trẻ Đồng thời tìm ra nguyên nhân, biện pháp dạy trẻ phát âm đúng Thông qua đó, chúng tôi cũng có thêm điều kiện bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn Đặc biệt chúng tôi muốn đề tài nghiên cứu này có thể góp phần nào

Trang 9

trong công tác nâng cao chất lượng giáo dục giảng dạy và chăm sóc trẻ ở trường mầm non Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát âm đúng và ý nghĩa của đồng dao đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ nên chúng tôi quyết định chọn

nghiên cứu đề tài: Dạy trẻ mẫu giáo phát âm đúng thông qua đồng dao

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non được rất nhiều nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm đi sâu tìm hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau Ở Việt Nam, từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, vấn đề này rất được quan tâm Một số Hội nghị Khoa học ở Trung ương cũng như địa phương đã hướng vào nội dung thảo luận nâng cao chất lượng giảng dạy và phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

Trong cuốn “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của Nguyễn Xuân Khoa,

Nxb Đại học Sư phạm/2004, đây là cuốn giáo trình đầu đề cập một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề khoa học, thực tiễn của tiếng mẹ đẻ đang được thực hiện trong lớp nhà trẻ và mẫu giáo ở nước ta Trong cuốn giáo trình này, tác giả

đã đưa ra những nhiệm vụ và nội dung của việc dạy trẻ nghe và phát âm đúng Tác giả đề cập đến một số lỗi phát âm mà trẻ hay mắc phải Các lỗi đó được trình bày lần lượt theo cấu trúc âm tiết tiếng Việt: thanh điệu, âm chính, âm đầu, âm đệm và âm cuối Trong mỗi lỗi, tác giả đều nói đến nguyên nhân mắc lỗi ở trẻ và đưa ra mợt số trò chơi nhằm luyện cách phát âm cho trẻ

Trong cuốn giáo trình “Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non” của Đinh Hồng

Thái, Nxb Đại học Sư Phạm/2014, tác giả cũng chú trọng đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non: Giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt, hình thành

và phát vốn từ cho trẻ mẫu giáo, dạy trẻ các mẫu câu tiếng Việt, phát triển ngôn

Trang 10

ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo, phát triển ngôn ngữ nghệ thuật cho trẻ mẫu giáo thông qua bài thơ và truyện để tạo tiền đề cho trẻ bước vào lớp 1

“Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi” của nhóm tác giả

Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội/2005 tìm hiểu các vấn đề luyện phát âm cho trẻ các lứa tuổi

Trong cuốn “Giáo dục trẻ mẫu giáo qua truyện và thơ” của Nguyễn Thị

Thủy, Nxb Giáo dục/1986, tác giả đã đưa ra một số ý kiến và khẳng định đồng dao có tác dụng tốt đối với việc rèn luyện bộ máy cấu âm của trẻ, giúp trẻ cảm nhận nhịp điệu, gợi cho trẻ cảm xúc tươi vui và tâm hồn yêu cuộc sống

Cuốn “Đồng dao Việt Nam” của Trần Gia Linh, Nxb Giáo dục, tái bản lần

thứ 2 năm 2004 đã tuyển chọn 176 bài đồng dao và chia thành năm chủ đề lớn: Đồng dao về thiên nhiên, đất nước; đồng dao gắn với trẻ nhỏ; đồng dao mô phỏng các hoạt động lao động sản xuất cho trẻ hình thành khả năng lao động; đồng dao chứa đựng tư tưởng ngộ nghĩnh và trí thông minh của trẻ và những bài hát ru

Cùng tên “Đồng dao Việt Nam” của Nguyễn Nghĩa Dân, Nxb Văn hóa thông

tin/2005 đã phân đồng dao thành bốn bộ phận: Đồng dao trẻ em hát; đồng dao trẻ

em hát- trẻ em chơi; đồng dao hát ru và trẻ em đố vui

Bài viết “Một số biện pháp rèn phát âm l/n cho trẻ 5 tuổi” trong Tạp chí

Giáo dục số 3/2006 của tác giả Đỗ Thị Lương Huệ đã đưa ra một số biện pháp rèn phát âm l/n cho trẻ như: tự rèn phát âm chuẩn xác l/n, sửa lỗi phát âm phụ âm l/n thông qua hoạt động chung cho trẻ làm quen với chữ cái, rèn cho trẻ luyện phát âm l/n thông qua các hoạt động khác, khuyến khích trẻ tự phát hiện và sưả lỗi phát âm cho nhau

Trang 11

Và nhiều cuốn tạp chí đề cập đến các phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non khác Nhìn chung các nhà khoa học đều hướng tới mục tiêu tìm ra nguyên nhân và đưa ra biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của ngành giáo dục mầm non nói riêng và nền giáo dục nước nhà nói chung Tuy nhiên cho đến thời điểm này theo nghiên cứu của chúng tôi, chưa một ai hay một công trình khoa học nào đưa ra biện pháp đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của đồng dao đối với việc dạy trẻ mầm non phát âm đúng Vì vậy, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu

Tìm ra tác dụng của đồng dao và biện pháp thông qua đồng dao để dạy trẻ

phát âm đúng

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy trẻ phát âm đúng thông qua đồng dao

- Đề xuất một số biện pháp sử dụng đồng dao để dạy trẻ phát âm đúng

- Thể nghiệm sư phạm

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Cách thức sử dụng đồng dao để dạy trẻ phát âm đúng

Trang 12

6 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận thì Nội dung khóa luận gồm ba chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy trẻ phát âm đúng thông qua đồng dao

- Chương 2: Một số biện pháp dạy trẻ phát âm đúng thông qua đồng dao

- Chương 3: Thể nghiệm sư phạm

Trang 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY TRẺ

PHÁT ÂM ĐÚNG THÔNG QUA ĐỒNG DAO

1 Cơ sở lí luận của việc dạy trẻ phát âm đúng thông qua đồng dao

1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm đồng dao

Đồng dao là một trong những lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa quan tâm Dưới nhiều hình thức và góc độ nghiên cứu khác nhau, họ đã mang lại những tiếng nói chung cho đồng dao

Theo cuốn “Đồng dao Việt Nam” do Ngọc Hà sưu tầm và biên soạn: “Đồng

dao là những lời hát dân gian mộc mạc của trẻ con, có từ xa xưa và được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác Đồng dao có thể là những lời hát ru của

mẹ đưa nôi cho con những trưa hè nắng gắt, là những lời hát vần điệu của bọn trẻ chăn trâu, cắt cỏ hay những câu vè của đám trẻ con chơi trò chơi đánh đáo, đánh chuyền, dung dăng dung dẻ những đêm sáng trăng ” (Nxb Văn học, 2013, tr.7) Theo chúng tôi thì đồng dao là những câu vè ngắn gọn có vần điệu đựơc trẻ con thích và hát trong khi chơi, trong sinh hoạt cộng đồng Đây có thể coi là nguồn tài nguyên sinh động, phong phú giúp các em hiểu về quê hương, đất nước, cuộc sống và con người xung quanh qua những trò chơi tuổi thơ, đem lại cho các em những cảm xúc tốt đẹp, giáo dục các em trở thành những người con

có ích cho đất nước trong tương lai

Đồng dao có lịch sử lâu đời, nó hình thành và phát triển cùng cuộc sống của con người Là một bộ phận của văn học dân nên đồng dao cũng được lưu truyền bằng hình thức truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác Nó có thể là sáng tác của chính các em nhỏ cũng có thể là của người lớn sáng tác cho các em vừa học vừa chơi, phù hợp với nhìn nhận về thế giới xung quanh của các em

Trang 14

Đặc điểm của đồng dao đó là có vần điệu rõ ràng nên dễ thuộc, dễ hát Các bài đồng dao thường lặp đi lặp lại theo chu kỳ một cách tự nhiên Ngôn ngữ của đồng dao khá kỳ quặc và chắp vá, logic trong đồng dao chỉ có thể hiểu đó là logic của trò chơi, không theo logic thực hiện và thậm chí không thể giải thích được Chính vì thế, đồng dao được coi như trò chơi thể hiện đặc tính ngộ nghĩnh của trẻ nên được trẻ rất yêu thích Trẻ hát đồng dao như trẻ chơi trò chơi, cốt sao hát cho vui miệng, nghe cho vui tai, không cần quan tâm đến ý nghĩa của nó Tuy ý nghĩa trong câu hát của đồng dao không được rõ ràng, thậm chí là vô nghĩa nhưng nội dung của đồng dao lại vô cùng phong phú Không chỉ phản ánh các hiện tượng tự nhiên mà còn phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người Nói đến dồng dao chắc chắn phải nhắc tới trò chơi dân gian Vì có thể thấy, trò chơi dân gian là sợi dây liên kết trẻ với nhau Trò chơi dân gian đều mang nguồn gốc từ hoạt động lao động sản xuất, là sự giải trí và cũng là ước mong cùa con người trong cuộc sống Trò chơi dân gian mô phỏng lại hoạt động sản xuất, sự vật hiện tượng và các mối quan hệ của con người với con người, con người với thiên nhiên Khi được chơi các trò chơi dân gian kết hợp với hát hay đọc đồng dao, trẻ được rèn kĩ năng nói, cách phát âm, góp phần vào việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ

1.1.2 Khái niệm chuẩn phát âm

Âm tiết của ngôn ngữ là đơn vị âm thanh nhỏ nhất trong lời nói và không thể phân chia được nữa Lúc đầu trẻ hình thành thính giác âm thanh, tức là sự phân biệt các âm của ngôn ngữ còn phát âm trẻ sẽ học sau Sự phát âm đúng có liên quan đến sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan phát âm của trẻ

Phát âm đúng là phát âm chính xác thành phần âm tiết không ngọng, lắp, biết điều chỉnh âm lượng, nắm bắt được những đặc điểm của văn hóa giao tiếp Hiện

Trang 15

nay chuẩn phát âm tiếng Việt là chuẩn phát âm Hà Nội bổ sung âm s, tr, r và hai vần ưu, ươu

1.2 Vài nét về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo

1.2.1 Đặc điểm sinh lý của trẻ mẫu giáo

Trẻ em là một thực thể tự nhiên đang phát triển Trẻ càng nhỏ tốc độ phát triển càng nhanh, các cơ quan dần được hoàn thiện về cấu tạo, chức năng, và chúng ta có thể qun sát được trẻ lớn lên mỗi ngày Tuy nhiên không lúc nào trẻ giống nhau về mức độ phát triển mà còn tùy thuộc vào từng cơ quan, hệ cơ quan

và các giai đoạn phát triển khác Quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện của cá cơ quan, hệ cơ quan có tác động đến tất cả các quá trình tâm lỹ của trẻ Vì vậy tính thích nghi và khả năng hoạt động của trẻ dễ bị thay đổi dưới những tác động khác nhau

 Đặc điểm hệ thần kinh của trẻ

Hệ thần kinh điều khiển hoạt động của các cơ quan, làm cho cơ thể thích nghi

được sự thay đổi thường xuyên của môi trường và có thể cải tạo nó Nhờ có hệ thần kinh mà con người có tư duy, có tâm lý Vỏ não là cơ sở vật chất của toàn

bộ hoạt động tâm lý người

Khi sinh ra, hệ thần kinh của trẻ chưa hoàn diện nên chưa đủ khả năng để thực hiện hết chức năng của mình Khi ra đời não bộ của trẻ chưa phát triển đầy đủ, mặc dù cấu tạo và hình thái không khác người lớn là mấy Trọng lượng não lúc

sơ sinh: 376 – 392 gram; khi được 6 tháng, trọng lượng tăng gấp đôi; 3 tuổi tăng gấp ba; 9 tuổi là 1300 gram Sự phát triển về đường dẫn truyền diễn ra mạnh mẽ tăng theo từng lứa tuổi Vì vậy sự phát triển hệ thần kinh của trẻ mẫu giáo cao hơn so với trẻ lứa tuổi nhà trẻ

Trang 16

Chức năng của tất cả các cơ quan trong đại vỏ não, hoạt động hệ thần kinh cao cấp được phát triển cao hơn Các phản xạ có điều kiện được hình thành nhanh chóng, trong suốt giai đoạn mẫu giáo theo xu hướng tăng dần Chức năng của vỏ bán cầu đại nõa tăng hơn so với trung khu dưới vỏ, do đó ta thấy hành vi của trẻ càng ngày càng có tính tổ chức cao hơn Trẻ em từ 4 – 6 tuổi, quá trình

ức chế tích cực dần phát triển, trẻ có khả năng phân tích, đánh giá, hình thành kĩ năng – kĩ xảo vận động, phân biệt được các hiện tượng xung quanh., hệ thần kinh có tác dụng chi phối và điều tiết đối với sự vận động của cơ thể, cải thiện tình không cân bằng của quá trình thần kinh Cần chú ý sự luân phiên giữa động

và tĩnh trong quá trình vận động của trẻ

 Đặc điểm của hệ vận động

Hệ vận động bao gồm hệ xương và hệ cơ xương Ở lứa tuổi mầm non, xương

và hệ cơ xương phát triển nhanh Tuy nhiên xương vẫn còn tính chất đàn hồi, xương và các xương khác còn mềm và yếu vì trong đó còn chứa nhiều tính chất sụn Thành phần hóa học trong xương của trẻ còn chứa nhiều nước và nhiều chất hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn nên rất dễ cong và gãy Cấu tạo xương chưa kết thúc ở nhiều xương, mặc dù sự cung cấp máu ở trẻ tốt hơn người lớn Các khớp của trẻ rất linh hoạt, dây chằng dễ bị dãn, lỏng lẻo, các gân còn yếu Các khớp còn lỏng, cơ bắp xung quanh khớp còn mềm yếu, tính vững chắc của khớp còn kém

Hệ cơ của trẻ còn yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ, mảnh, thành phần nước nhiều nên sức mạnh của cơ bắp còn yếu, cơ nhanh mỏi

 Đặc điểm hệ tuần hoàn

Hệ tim mạch của trẻ bắt đầu hoạt động sớm hơn các hệ khác và các mạch máu của trẻ rộng hơn so với người lớn (về tỉ lệ) nên áp lực máu vào thành mạch yếu

Trang 17

Để bù đắp vào đó, tần số co bóp của tim lại nhanh Tim của trẻ 5 tuổi nặng gấp 4 – 5 lần tim của trẻ sơ sinh Hệ thống hoạt động điều khiển của tim vẫn tiếp tục phát triển mạnh Mạch đập có chậm hơn trẻ 1 – 2 tuổi nhưng vẫn nhanh so với người lớn Mạch đập của trẻ 3 – 4 tuổi từ 100 – 110 lần/phút, trẻ 5 – 6 tuổi từ 90 – 100 lần/phút Huyết áp tăng, số lượng hồng cầu trong máu tăng, tỷ lệ huyết sắc

tố tăng Sự điều hòa thần kinh tim còn chưa hoàn thiện nên nhịp co bóp dễ mất

ổn định và cơ tim nhanh mệt mỏi Tuy vậy khi thay đổi hoạt động theo xu hướng giảm dần thì tim trẻ lại hồi phục nhanh

 Bộ máy phát âm

Phát âm của trẻ phụ thuộc vào sự hoàn thiệncủa bộ máy phát âm cũng như khả năng điều khiển của bộ máy này Do đó đặc điểm bộ máy phát âm của trẻ có vai trò quan trọng trong hoạt động phát âm của trẻ

Các bộ phận chủ yếu của bộ máy phát âm:

- Bộ phận cung cấp làn hơi:

Bộ phận cung cấp làn hơi bao gồm hai lá phổi, được sự tác động của cơ sườn, ngực, cơ hoành, các mô và cơ bụng Từ sơ sinh đến 8 tuổi, phổi phát triển chủ yếu bằng tăng số lượng phế nang Từ 8 tuổi trở đi, phổi phát triển chủ yếu là sự tăng kích thước phế nang Phổi trẻ em có đặc điểm là nhiều mạch máu, bạch mạch, nhiều cơ trơn, ít tổ chức đàn hồi Các cơ hô hấp chưa phát triển hoàn

Trang 18

chỉnh nên lồng ngực di động kém Do các đặc điểm trên nên trẻ càng nhỏ khả năng phát âm càng kém, chủ yếu là những tiếng “ê”, “a” ngắn gọn, chưa rõ ràng

- Bộ phận phát thanh:

Bộ phận phát thanh (chỉ ra âm thanh chứ chưa phát ra tiếng, ra lời) gồm hai thanh đới nằm trong thanh quản Thanh quản của trẻ có hình phễu mở rộng ở phía trên Ở trẻ bú mẹ, thanh quản nằm vị trí cao hơn hai đốt sống so với người lớn Thanh quản phát triển từ từ nhưng đến tuổi dậy thì thì phát triển mạnh Dưới

6 -7 tuổi, thanh môn hẹp, dây thanh đới ngắn Vì vậy giọng trẻ con thường cao hơn giọng người lớn Từ 12 tuổi, dây thanh đới con trai dài hơn dây thanh đới con gái nên giọng con trai trầm hơn

- Bộ phận truyền tăng âm thanh:

Gồm cuống họng (yết hầu) thông với đường miệng hoặc mũi Họng hầu của trẻ tương đói hẹp và ngắn, có hình phễu, sụn mềm và nhẵn Họng phát triển mạnh trong năm đầu và vào tuổi dậy thì Niêm mạc họng được phủ bằng lớp biểu

mô rung hình trụ Các trấn động âm thanh do thanh đới tạo ra được bộ phận truyền âm gom lại và dẫn ra ngoài hướng theo miệng hoặc lên mũi Cuống họng

và miệng không những truyền âm mà còn góp phần quan trọng vào việc tăng âm

- Bộ phận phát âm:

Bộ phận phát âm là miệng và hoạt động của môi, răng, lưỡi, hàm dưới, vòm miệng Chúng ta nhận ra giọng nói với ý nghĩa của chúng là nhờ vào hoạt động của các cơ quan trên Ở trẻ do sự hoạt động của lưỡi, môi, hàm dưới, vòm miệng chưa linh hoạt, răng chưa đầy dủ nên trẻ phát âm chưa chuẩn, chưa rõ ràng Đối với những trẻ mắc dị tật bẩm sinh ở các cơ quan trên sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc phát âm, khó phát âm được chuẩn và đúng

- Bộ phận dội âm:

Trang 19

Gồm tất cả các khoảng trồng trong cơ thể, chủ yếu là các khoảng trống trên đầu, trên mặt, được gọi là xoang cộng minh Ngoài khoang họng và khoang miệng vừa tăng âm, vừa dội âm thì xoang mũi, xoang vòm mặt, xoang trán, chủ yếu có tính chất dội âm làm cho âm thanh được cộng hưởng, âm vang và phát ra ngoài

1.2.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo

Ngay từ khi lọt lòng trẻ đã được giao tiếp với mẹ Đây là mối quan hệ đầu tiên và cũng là cơ sở để nảy sinh nhu cầu giao tiếp của trẻ với mọi người xung quanh Lớn hơn một chút thì nhu cầu giao tiếp của trẻ phát triển, trẻ hình thành nên phản ứng vận động xúc cảm đặc biệt hướng vào người lớn Đó chính là

“phức cảm hớn hở” Thi thoảng ta có thể bắt gặp những âm thanh “ô”, “a” từ miệng trẻ theo nhịp điệu “ầu ơ” hay “à ơi” của người lớn Đến tuổi hài nhi, trẻ sẵn sàng giao tiếp với người lớn khi nó thấy an toàn và thỏa mái về tình cảm Càng về cuối năm nhu cầu giao tiếp của trẻ càng lớn bằng chính những âm bập

bẹ của mình Như vậy trong quá trình tiếp xúc trực tiếp với người lớn, sự thông hiểu ngôn ngữ của trẻ càng mang tính tích cực và trở thành một trong những phương tiện quan trọng để trẻ giao tiếp với môi trường xung quanh Ở tuổi ấu nhi, trẻ đã có thể nẵm vững hoạt động với đồ vật và sự giao tiếp với người lớn tạo ra sự biến đổi lớn trong các hình thức giao tiếp của trẻ ấu nhi Để kích thích trẻ nói đòi hỏi trẻ phải bày tỏ nguyện vọng của mình bằng lời nói thì mới đáp ứng cho trẻ Trẻ đến tuổi mẫu giáo đã nắm được một số vốn từ vựng nhất định Nét tâm lý đặc sắc ở giai đoạn này là sự tò mò Trẻ muốn tìm hiểu khám phá thế giới xung quanh Trẻ luôn đặt ra câu hỏi “Tại sao?”, “Vì sao” trước những sự vật hiện tượng lạ và luôn yêu cầu người lớn phải giải thích cho trẻ hiểu

Trang 20

Nhờ ngôn ngữ mà tư duy của trẻ mẫu giáo đã phát triển hơn ở các lứa tuổi trước Tư duy của trẻ mẫu giáo ngày càng phát triển dựa vào kinh nghiệm cảm tính của trẻ Trong quá trình giao tiếp với người lớn bằng ngôn ngữ các hình thức

tư duy cũng được hoàn thiện dần khi hiểu biết của trẻ được mở rộng Sự phát triển tư duy của trẻ gắn chặt với sự phát triển ngôn ngữ và sự tăng vốn từ Ở trẻ mẫu giáo, trẻ hình thành và phát triển chủ yếu là tư duy trực quan hình tượng Tuy nhiên đến cuối tuổi mẫu giáo thì kiểu tư duy này lại không đáp ứng được nhu cầu nhận thức đang phát triển mạnh mẽ ở trẻ Vì vậy ở trẻ lại xuất hiện thêm kiểu tư duy trực quan sơ đồ, kiểu tư duy giữ tính chất hình tượng song bản thân hình tượng cũng trở nên khác trước Hình tượng đã lược đi những chi tiết rườm

rà, giữ lại những yếu tố chủ yếu giúp trẻ phản ánh khái quát sự vật chứ không phải từng sự vật riêng lẻ

Như vậy các đặc điểm tâm lý chung của trẻ mầm non đang được hình thành

và phát triển mạnh mẽ song lại chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi sự phát triển ngôn ngữ Sự lĩnh hội ngôn ngữ ở độ tuổi này góp phần thúc đẩy sự phát triển cả thể chất và tâm lý trẻ, bước đầu hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách người

1.3 Cơ sở ngôn ngữ học

1.3.1 Đặc điểm âm tiết của tiếng Việt

a) Mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt gồm 5 thành phần và được sắp xếp theo sơ

Trang 21

- Thành phần ở vị trí số 5 là thanh điệu (bao trùm toàn bộ âm tiết) Có 6 thanh điệu:

+ Thanh ngang: Trên không ghi dấu khi viết

+ Thanh huyền: (\) + Thanh sắc: (/) + Thanh nặng: (.) + Thanh hỏi: (?) + Thanh ngã: (~)

- Thành phần ở vị trí số 1 là âm đầu do các phụ âm đảm nhiệm

- Thành phần ở vị trí số 2 là âm đệm có hai con chữ thể hiện là o và u

Ví dụ: Loan, Luân

- Thành phần ở vị trí số 3 là là âm chính do các nguyên âm đảm nhiệm Âm chính là hạt nhân của âm tiết

- Thành phần ở vị trí số 4 là âm cuối do 6 phụ âm là /m/, /n/, /p/, /t/, /k/ và 2 bán

âm Các thành phần ở vị trí 2, 3, 4 ghép lại với nhau thành một bộ phận gọi là phần vần Âm luôn phải bao gôm âm chính và thanh điệu, các thành phần khác

có thể có hoặc không

b) Cấu trúc âm tiết tiếng Việt chia làm 2 bậc:

Âm tiết

Bậc 1: Thanh điệu Âm đầu Phần vần

Bậc 2: Âm đệm Âm chính Âm cuối

Trang 22

- Thanh điệu: là sự thay đổi độ cao những âm tiết (la, lá, lã đối lập với là, lả,

lạ) Các âm tiết trước đều được phát âm với âm độ cao, các âm tiết sau đều được

phát âm với âm độ thấp Thanh điệu là sự thay đổi về âm điệu Trong những âm tiết trên thì những âm tiết cùng độ cao lại đối lập nhau về sự biến thiên về cao

độ Trong âm tiết “la” được phát với cao độ không phẳng Âm điệu là những nét

biến thiên về cao độ

- Nguyên âm: Nguyên âm trong tiếng Việt thường là âm chính Nguyên âm là khi nói phát ra luồng hơi đi tự do không có gì cản trở Trong tiếng Việt có 16 nguyên âm, bao gồm 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi Nguyên âm đơn có

9 âm dài: a, ơ, u, e, ê, o, ô, i, ư; 4 âm ngắn: ă, â, ăy, âu.

- Phụ âm: Các âm vị đảm nhiệm thành phần âm đầu của âm tiết tiếng Việt là phụ

âm Phụ âm là âm vị khi phát âm luồng hơi đi ả bị cản ở chỗ nào đó trong bộ máy phát âm Phụ âm có loại bị cản ở môi, có loại bị cản ở răng, có loại bị cản ở thanh hầu Về phương thức phát âm chia phụ âm thành:

+ Phụ âm tắc: hơi bị cản lại sau thoát ra đường miệng vào mũi: b, d, t, s, c, k,

m, r, ng

+ Phụ âm sát: hơi đi qua kẽ hở khe miệng: p, v, s, z, l, x, y, h + Phụ âm vang: hơi thoát ra đầu lưỡi và trên lưỡi: m, n, nh

+ Phụ âm ồn: hơi thoát ra đằng miệng có tiếng ồn: b, d, t, c, k, p, x, v, z, y, h

+ Phụ âm hữu thanh, vô thanh trong âm ồn: căn cứ vào chỗ dây thanh có rung hay không, người ta chia ra:

 Phụ âm hữu thanh: dây thanh rung (d, v, y)

 Phụ âm vô thanh: dây thanh không rung (t, k, c, b, s, x, h)

+ Căn cứ vào vị trí cấu âm chia phụ âm thành:

 Phụ âm môi: p, b, m, f, v

Trang 23

 Phụ âm lưỡi: d, t, s, z, l, n

 Phụ âm hầu: h

1.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo

a) Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo

Một nhà tâm lý học người Nga nghiên cứu về đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo đã nhận định rằng: Trong vốn từ của trẻ mẫu giáo đầu tiên trẻ phải phản ánh được những đặc trưng của sự vật hiện tượng, càng lớn trẻ càng có nhiều vốn từ thể hiện đặc điểm của sự vật, hiện tượng một cách chính xác Tư duy trực quan hành động cho ta hiểu việc trẻ mẫu giáo bé và đầu mẫu giáo nhỡ chủ yếu có vốn từ biếu danh Tư duy trừu tượng, tư duy logic xuất hiện ở lứa tuổi thứ 5, cho phép trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm đầu tiên chính là những kĩ năng về sự vật hiện tượng gần gữi xung quanh Vốn từ ngữ phong phú, chính xác giúp trẻ dễ dàng định hướng không gian

Trang 24

Trẻ 3 tuổi sử dụng hơn 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ, tính từ và các loại từ khác Danh từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các con vật gần gũi Động từ chỉ các hoạt động gần gũi với trẻ và những người xung quanh

Trẻ 4 tuổi có thể nắm được gần 700 từ, đa số là danh từ, động từ, hầu hết các

từ loại đều xuất hiện trong vốn từ của trẻ

Trẻ 5 – 6 tuổi, vốn từ của trẻ tăng bình quân 1033 từ, tính từ và các từ loại khác đã chiếm tỷ lệ cao hơn

Tốc độ tăng vốn từ ở các độ tuổi khác nhau, chậm dần theo độ tuổi Cuối 3 tuổi so với đầu 3 tuổi tăng 17%, cuối 4 tuổi so với đầu 4 tuổi tăng 40 – 50%, cuối

5 tuổi so với đầu 5 tuổi chỉ tăng 10 – 40%

 Cơ cấu từ loại:

Các từ xuất hiện nhiều dần dần Ban đầu chủ yếu là danh từ, động từ, sau đó đến tính từ, các loại từ khác xuất hiện muộn hơn

Trẻ 3 – 4 tuổi, các loại từ hầu như đã có đủ Tuy nhiên tỉ lệ danh từ, tính từ, động từ cao hơn các loại từ khác Danh từ chiếm 38%, động từ chiếm 32%, tính

từ chiếm 6,8%, đại từ chiếm 3,1%, phó từ chiếm 7,8%, tình thái từ chiếm 4,8%, quan hệ từ và số từ còn ít xuất hiện

Giai đoạn 5 – 6 tuổi, tỷ lệ danh từ, động từ giảm đi (còn khoảng 50%), tính từ

và các từ loại khác tăng lên Tính từ khoảng 15%, quan hệ từ 5,7%, còn lại là các

từ loại khác

 Khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ:

Theo Federenko (Nga) ở trẻ em có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của từ:

- Mức độ zero (mức độ không): Cuối tuổi lên 1, đầu tuổi lên 2, trẻ tương ứng tên

gọi với một người cụ thể, một vật cụ thể, trẻ hiểu ý nghĩa tên này: mẹ, bố, bàn, ghế để chỉ một vật riêng biệt (nghĩa biểu danh)

Trang 25

- Mức độ thứ nhất của sự khái quát: Cuối tuổi lên hai, trẻ nắm được mức độ thứ

nhất của sự khái quát, tức tên gọi chung của đối tượng cùng loại (đồ vật, hành động, tính chất)

Ví dụ: “Bóng” chỉ một quả bóng nào đó

“Búp bê” chỉ một con búp bê nào đó

- Mức độ thứ hai của sự khái quát: Trẻ nắm được mức độ thứ hai của sự khái

quát Trẻ khoảng có thể nắm được mức độ thứ hai của sự khái quát, tức là tên gọi chung của những sự vật không cùng loại

Ví dụ: “Quả” có thể là bất kỳ loại quả nào (quả cam, đu đủ, xoài )

“Xe” có thể chỉ bất kì chiếc xe nào (ô tô, xe đạp, xe máy )

+ Cam, đu đủ, xoài: Mức độ thứ nhất của sự khái quát

+ Quả: Mức độ thứ hai của sự khái quát

- Mức độ thứ ba của sự khái quát: Trẻ khoảng 5 - 6 tuổi có thể nắm được mức độ

thứ 3 của sự khái quát: “đồ vật” có thể chỉ đồ chơi (búp bê, ô tô, máy bay ), đồ

gỗ (giường, tủ, bàn ghế ), đồ nấu bếp (nồi, bát, chảo )

+ Búp bê: Mức độ thứ nhất của sự khái quát

+ Đồ chơi: Mức độ thứ hai của sự khái quát

+ Đồ vật: Mức độ thứ ba của sự khái quát

- Mức độ thứ tư của sự khái quát: Là những biểu thị sự khái quát tối đa như: vật

chất, hành động, trạng thái, chất lượng, số lượng, quan hệ, khái niệm

Khả năng nắm được mức độ thứ tư của sự khái quát xuất hiện vào tuổi thiếu niên Trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi cũng có thể hiểu được một số khái niệm mang tính khái quát ở mức độ 4 nhưng phải thường xuyên được làm quen, hiểu được nghĩa của từ, được thực hành với những từ ngữ đó và gắn với những tình huống cụ thể

b) Đặc điểm ngữ âm của trẻ mẫu giáo

Trang 26

Thời kỳ này, trẻ dần hoàn thiện về mặt ngữ âm, các phụ âm đầu, phụ âm cuối, thanh điệu dần được định vị Trẻ phát âm đúng hết các âm vị của tiếng mẹ đẻ, kể các âm, các vần khó Trẻ đã biết điều chỉnh nhịp điệu, cường độ giọng nói khi giao tiếp, lời nói của trẻ rõ ràng, dứt khoát hơn Tuy vậy, ở lứa tuổi này trẻ vẫn mắc một số lỗi phát âm, còn nhầm lẫn khi phát âm một vài phụ âm và nguyên

âm và thanh hỏi, thanh ngã

Ở trẻ mẫu giáo bé đôi khi còn hay nói chậm, kéo dài, ậm ừ, ê, a hay nói chưa liên tục, mạch lạc Trẻ mẫu giáo nhỡ khi nói ít ê, a, ậm ừ hơn, song trẻ vẫn còn hay phát âm sai thanh ngã, êm đệm, âm cuối Trẻ mẫu giáo lớn do phạm vi tiếp xúc được mở rộng rất nhiều nên trẻ phát âm đúng hơn Đến 6 tuổi trẻ cơ bản phát

âm đúng trừ một số trường hợp do khuyết tật bẩm sinh đến cơ quan phát âm hay ảnh hưởng của môi trường sống Nếu kiên trì luyện tập thì hầu hết các trẻ đều định vị được âm vị của tiếng mẹ đẻ (trừ các trẻ có khuyết tật về cơ quan phát âm

và thính giác)

c) Đặc điểm ngữ pháp của trẻ mẫu giáo

Đặc điểm ngữ pháp của trẻ cũng thay đổi và phát triển theo từng độ tuổi

 Trẻ 3 – 4 tuổi

Trẻ đã nói được câu có đủ kết cấu chủ vị, câu của trẻ có thể có nhiều chủ ngữ,

vị ngữ đẳng lập

Các loại câu mà trẻ hay nói:

- Loại câu có chủ ngữ là danh từ: Thường là chỉ tên người, các sự vật hiện tượng gần gũi, xung quanh trẻ

Ví dụ: Con tên là Nguyễn Hoài Nam

- Loại câu có vị ngữ là động từ: Là loại câu phổ biến nhất trong lời nói của trẻ, chủ yếu là các hoạt động gần gũi

Trang 27

Ví dụ: Con mèo kêu “meo meo”

Loại câu có danh từ , tính từ làm vị ngữ chiếm ít hơn Danh từ, động từ, tính

từ có thể phát triển thành nhóm danh từ, nhóm động từ, nhóm tính từ

Loại câu có dnah từ , tính từ làm vị ngữ chiếm ít hơn Danh từ, động từ, tính từ

có thể phát triển thành nhóm danh từ, nhóm động từ, nhóm tính từ

Ví dụ: Con thích ăn những món này (NDT)

Ô tô của con màu xanh và rất to (NTT)

Bạn Hoa đã ăn hết những cái kẹo này (NĐT)

- Câu có thành phần trạng ngữ chiếm 20% trong tổng số câu nói của trẻ Chủ yếu

là trạng ngữ chỉ thời gian, nơi chốn

Ví dụ: Hôm nay, bố con đưa con đi học

- Trẻ 4 tuổi đã biết sử dụng trạng ngữ chỉ thời gian nhưng có lúc chưa được chính xác Trạng ngữ chỉ nguyên nhân, mục đích ít xuất hiện hơn trong lời nói

- Trẻ hay sử dụng câu đặc biệt dùng cho lời gọi đáp và để miêu tả sự xuất hiện, tồn tại của sự vật hiện tượng Trong lời nói của trẻ có nhiều câu rút gọn

- Trẻ 4 tuổi đã biết nói câu ghép nhưng không nhiều, chỉ khoảng 10% trong tổng

số câu nói của trẻ, chủ yếu là ghép chính phụ chỉ nguyên nhân – kết quả và câu ghép đẳng lập – liệt kê

Ví dụ: Bố con đi làm, mẹ con đi chợ

Tại bạn Lan trêu bạn Hồng nên bạn Hồng khóc

 Trẻ 5 – 6 tuổi

Trẻ sử dụng đa dạng các loại câu hơn nhưng vẫn còn nhiều hạn chế như: các câu ghép còn nghèo nàn, hay bị mắc lỗi khi gặp những câu ghép phức tạp; trẻ hay bị rối khi gặp những đoạn đối thoại dẫn đến nội dung đối thoại không được

rõ ràng và tính biểu cảm không cao

Trang 28

Trẻ hay dùng các từ chiêm xen như: xong, xong là, rồi làm cho câu chuyện của trẻ không mạch lạc và thiếu hấp dẫn

1.4 Một số lỗi phát âm của trẻ mầm non

Trong quá trình học phát âm, trẻ phải ghi nhận các âm thanh (nghe bằng tai, nhìn bằng mắt) và tái hiện bằng âm thanh của mình Trẻ đầu tuổi mẫu giáo, bộ máy ngôn ngữ của trẻ được hình thành, tuy nhiên khả năng tái tạo ngôn ngữ chưa được hình thành Trẻ thường nói không đúng một số thành phần khó của âm tiết như phụ âm đầu, âm đệm, âm cuối, thanh ngã, thanh hỏi Dưới đây là một số lỗi phát âm mà trẻ hay mắc phải

1.4.1 Lỗi về thanh điệu:

Trong số các thanh điệu tiếng Việt, thanh hỏi và thanh ngã là hai thanh có cấu

Ví dụ: Trẻ nói “cỏ” thành “cọ”

- Đến tuổi mẫu giáo, lỗi sai về hai thanh này được khắc phục hầu như hoàn toàn, đặc biệt là với trẻ ở miền Bắc Từ Thanh Hóa trở vào, trẻ thường nói sai thanh điệu hỏi / ngã, trẻ miền Nam không phân biệt được ba thanh: hỏi / ngã / nặng

Trang 29

1.4.2 Lỗi âm đầu:

Trẻ ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ thường có hiện tượng phát âm sai như:

- Trẻ lẫn lộn giữa “l” và “n”

Ví dụ: Nông dân thành Lông dân

Con lợn thành con nợn Nón lá thành lón ná

- Trẻ nói lẫn “tr” thành “t”, “kh” thành “h”, “g” thành “h”, “c” thành “t”

Ví dụ: Trăng tròn thành tăng tòn

Quả khế thành quả hế Con gà thành con hà

Quả cam thanh quả tam

1.4.3 Lỗi âm đệm:

Âm đệm chỉ được đọc lướt qua nên trẻ khó ghi nhận âm này Vì vậy khi nói

trẻ thường bỏ qua âm này

Ví dụ: Ngoằn nghèo thành ngằn nghèo

1.4.5 Lỗi âm cuối:

Trang 30

- Trong số phụ âm đứng làm âm cuối thì những cặp “ch”, “nh” trẻ thường hay phát âm sai thành “t”, “n”

Ví dụ: Thạch Sanh thành Thặt Săn

Cái phích thành cái phít Quả chanh thành quả chăn

- Trẻ ở miền Nam phát âm sai các phụ âm cuối: “n” thành “ng”, “t” thành

2 Cơ sở thực tiễn của việc dạy trẻ phát âm đúng thông qua đồng dao

2.1 Thực trạng việc giảng dạy đồng dao cho trẻ hiện nay

2.1.1 Thuận lợi:

- Đa số giáo viên nắm được định hướng đổi mới giáo dục mầm non về nội

dung, hình thức, phương pháp làm thế nào để trẻ có thể hoạt động tích cực Các giáo viên đều nhiệt tình trong công việc, yêu nghề, mến trẻ, có giọng đọc hay, truyền cảm giúp trẻ cảm thụ đồng dao như một tác phẩm nghệ thuật

- Được sự quan tâm, giúp đỡ của nhà trường, lớp học được mở rộng, thoáng mát, đầy đủ tiện nghi hiện đại, phù hợp cho việc dạy trẻ làm quen với các bộ môn nói chung, trong đó có bộ môn cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, đặc biệt là đồng dao

Trang 31

- Bản thân đồng dao là những câu vè ngắn gọn, có vần điệu, được trẻ con thích hát trong khi vui chơi Trẻ nhỏ có tâm hồn trong sáng, bay bổng, giàu tưởng tượng, giàu cảm xúc, thích vui chơi bầu bạn Do đó, các em dễ hòa nhập vào tâm trạng của các nhân vật một cách vô tư, hồn nhiên nhất Tác phẩm đồng dao đã thỏa mãn nhu cầu này của các em

- Ngoài ra, khi trẻ đọc các bài đồng dao, theo quan sát, chúng tôi thấy rằng phụ huynh rất vui Vì các bài đồng dao đều dí dỏm nhưng vẫn mang tính giáo dục cao, kết hợp trò chơi vận động khi đọc đồng dao giúp trẻ phát triển cả ngôn ngữ, tình cảm, thẩm mỹ, một cách tự nhiên và đáng yêu

2.1.2 Khó khăn:

- Số lượng các bài đồng dao tuyển chọn trong chương trình giảng dạy cho trẻ

còn hạn chế Nội dung các bài đồng dao còn sơ sài, chưa phục vụ đầy đủ cho các chủ điểm giáo dục trẻ mầm non Vì vậy việc lặp đi lặp lại các bài đồng dao thường gây nhàm chán cho trẻ

- Diện tích các phòng học còn chật hẹp nên việc tổ chức chơi và làm quen với các bài đồng dao còn gặp nhiều khó khăn

- Giáo viên thường gặp khó khăn, lúng túng hay thậm chí chưa biết lựa chọn, tìm các bài đồng dao và phương pháp giảng dạy phù hợp với trẻ và phù hợp với nội dung chủ đề, chủ điểm trong trường mầm non; chưa có điều kiện thực hiện theo ý muốn Điều đó làm hạn chế rất lớn việc cảm nhận của trẻ với các bài đồng dao Một số giáo viên thi thoảng vẫn phát âm sai

2.2 Thực trạng hứng thú của trẻ với việc học và chơi với các bài đồng dao

- Các bài đồng dao luôn chứa đựng những hình tượng sinh động, phong phú, kết cấu chuỗi có nội dung của từng sự vật, sự việc riêng lẻ Đây là những nội

Trang 32

dung giúp trẻ nhận biết và khám phá thế giới xung quanh theo các chủ đề giáo dục ở trường mầm non Các bài đồng dao dễ hát, dễ nhớ, nội dung ca từ có giá trị thẩm mĩ cao, biểu hiện cái đẹp trong thiên nhiên, cuộc sống và có ý nghĩa giáo dục cao Bố cục ngắn gọn, rõ ràng, phù hợp với thời gian tiết học, phù hợp với

khả năng nhận thức của trẻ ở từng độ tuổi

- Câu hát trong đồng dao có vần điệu, tiết tấu nhịp nhàng, mang tính chất vui nhộn, hấp dẫn, dễ nhớ, dễ thuộc, giúp trẻ vừa vui chơi giải trí lại được học hỏi,

mở mang hiểu biết Tạo cho trẻ hào hứng và sự hấp dẫn trong quá trình “học mà chơi, chơi mà học”

- Thông qua các bài đồng dao, trò chơi đồng dao “Trẻ em hát, trẻ em chơi”,

các em được rèn luyện về trí tuệ, thân thể, các giác quan, hưng phấn về thinh thần, là chất xúc tác để các em nhận biết và sáng tạo trong cuộc sống; rèn luyện cho các em tính chủ động trong xử lí tình huống, hợp tác với bạn bè, đoàn kết giúp đỡ nhau, có lòng khiêm tốn, trung thực, khoan dung

2.3 Khảo sát việc dạy trẻ phát âm đúng

2.3.1 Cơ sở tiến hành khảo sát

a) Đôi nét về trường mầm non Hồng Kỳ, xã Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, thành phố

Hà Nội

Trường mầm non Hồng Kỳ, xã Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

là ngôi trường thuộc địa bàn nơi tôi sinh sống

Trường nằm trên địa bàn khu trung tâm của xã Hồng Kỳ Dân cư tập trung,

các cháu chủ yếu là con em nông dân và buôn bán nhỏ, con cán bộ công nhân viên lân cận Trường nằm ở một xã nhỏ nên điều kiện về kinh thế, văn hóa chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu sống và vui chơi cũng như học tập của trẻ Tuy

Trang 33

nhiên, nhờ có sự có quan tâm của các cấp lãnh đạo, đặc biệt là UBND huyện Sóc Sơn, của phòng giáo dục nên cơ sở vật chất của nhà trường đến nay cũng đã khá khang trang, sạch đẹp, rộng rãi, có sân chơi, có tường bao đảm bảo sự an toàn

cho các cháu

- Đội ngũ cán bộ và giáo viên trong nhà trường khá đông, tổng số là 59 cán bộ và giáo viên, trong đó có 3 cán bộ quản lý, 44 giáo viên và 12 nhân viên Trong nhiều năm nhà trường luôn phấn đấu đạt thành tích cao trong công tác giảng dạy cũng như chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ

- Trình độ giáo viên: Ban giám hiệu đều đã có trình độ Đại học Trường có 20 giáo viên có trình độ Cao đẳng Sư phạm Mầm non, số giáo viên có trình độ Trung cấp Mẫu giáo và nhiều giáo viên đang theo học trình độ Cao đẳng, Đại học tại chức chuyên ngành Giáo dục Mầm non Bên cạnh đó, giáo viên luôn có lòng yêu nghề mến trẻ, nhiệt tình trong công việc Giáo viên có đủ trình độ sư phạm để nuôi dạy và chăm sóc các trẻ, đồng thời đáp ứng được mục tiêu chăm sóc và giảng dạy của ngành Giáo dục Mầm non hiện nay Vì thế gia đình có trẻ học trong trường mầm non Hồng Kỳ luôn yên tâm gửi để làm việc, lao động và sản xuất

- Tính đến năm 2016, toàn trường có tổng số là 668 trẻ, được chia thành bốn khối lớp, trong đó:

+ Khối mẫu giáo lớn: 3 lớp + Khối mẫu giáo nhỡ: 3 lớp + Khối mẫu giáo bé: 3 lớp + Khối nhà trẻ: 2 lớp

b) Đôi nét về trường Mầm non Hoa Sen, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 34

Trường Mầm non Hoa Sen, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc là ngôi trường mà tôi được phân công về thực tập sư phạm

Trường Mầm non Hoa Sen thuộc phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc với nhiều năm phấn đấu và phát triển, nhà trường luôn đạt được nhiều thành tích cao trong giáo dục và chăm sóc – nuôi dưỡng trẻ Đội ngũ cán bộ và giáo viên trong nhà trường khá đông, tổng số là hơn 51 cán bộ, nhân viên và giáo viên trong đó có 3 cán bộ quản lý, 10 nhân viên và 31 giáo viên

- Giáo viên trong trường hầu hết đạt trình độ cao đẳng trở lên và có rất nhiều giáo viên đang theo học hệ Đại học tại chức chuyên ngành Giáo dục Mầm non Với lòng nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ và vốn kiến thức vững vàng nên hầu hết giáo viên trong trường đều đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi, còn một số ít đang trong quá trình phấn đấu

- Hầu hết gia đình trẻ đều sống tập trung quanh khu vực phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên Đa số phụ huynh là cán bộ viên chức nhà nước, hộ kinh doanh buôn bán, công nhân và số ít làm nông nghiệp Trường nằm trung tâm thành phố Vĩnh yên, điều kiện kinh tế phát triển nên cơ sở vật chất và khu vui chơi giải trí

có nhiều để đáp ứng nhu cầu vui chơi, học tập, giải trí cho trẻ

- Trang thiết bị và đồ dùng dạy học trong trường khá đầy đủ Hằng năm nhà trường thường xuyên mua thêm đồ dùng, đồ chơi, phát động phong trào thi đua

“Khéo tay hay làm” đến mỗi tập thể lớp nên đồ dùng, đồ chơi của trường rất phong phú Nhờ đó, trẻ học trong trường có đủ điều kiện phát triển toàn diện, đồng thời việc phát triển ngôn ngữ và đặc biệt là rèn phát âm đúng cho trẻ cũng

có nhiều thuận lợi hơn

- Năm 2016, toàn trường có tổng số là 740 trẻ, được chia thành bốn khối lớp, trong đó:

Trang 35

+ Khối mẫu giáo lớn: 5 lớp + Khối mẫu giáo nhỡ: 5 lớp + Khối mẫu giáo bé: 5 lớp + Khối nhà trẻ: 4 lớp

Từ sự khác biệt về đặc điểm vị trí của trường, và đặc trưng dân cư nơi trẻ sinh sống mà chúng tôi đã lựa chọn hai trường trên Trường Mầm non Hoa Sen đặt tại trung tâm thành phố Vĩnh Yên và lại là một trong những trường điểm của thành phố Còn trường mầm non Hồng Kỳ đặt ở xã Hồng Kỳ, một xã xa trung tâm Qua việc tìm hiểu, điều tra về hai ngôi trường này sẽ phần nào cho ta thấy thực trạng về lỗi phát âm của trẻ ở từng địa phương, từng điều kiện khác nhau Từ đó đưa ra được nguyên nhân và biện pháp phù hợp để giúp trẻ phát âm đúng

2.3.2 Điều tra thực trạng

 Mục đích điều tra: Tìm hiểu lỗi phát âm của trẻ mẫu giáo bé tại hai trường mầm non

 Nội dung điều tra:

- Tình hình phát âm của trẻ lớp Mẫu giáo bé C3 Trường Mầm non Hồng Kỳ, xã Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội và trẻ Mẫu giáo bé 3A4 Trường Mầm non Hoa Sen, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

- Đặc điểm phát âm của trẻ, gia đình trẻ và giáo viên trên lớp và một số đặc điểm

xã hội nơi trẻ sinh sống

 Phương pháp điều tra: Chúng tôi tiến hành điều tra dựa trên những phương pháp sau:

- Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát các hoạt động từ lúc đón trẻ đến lúc trả trẻ, ghi chép những âm tiết mà trẻ nói sai hay phát âm chưa chuẩn Quan sát đặc điểm phát âm của phụ huynh trong lúc đón và trả trẻ

Trang 36

- Phương pháp đàm thoại: Xây dựng hệ thống các câu hỏi thông qua các giờ hoạt động góc, giờ chơi để trò chuyện với trẻ, tạo cho trẻ không khí thoải mái để trẻ bộc lộ mình Qua đó phát hiện những lỗi phát âm mà trẻ mắc phải

- Phương pháp điều tra:

+ Cho trẻ phát âm các từ, cụm từ bằng cách lầm lượt cho trẻ xem tranh có nội dung mà từ biểu thị

+ Mời trẻ lên đọc thơ hoặc hát bài hát mà trẻ yêu thích để nghe phát âm của trẻ + Sử dụng phiếu hỏi dành cho giáo viên trực tiếp giảng dạy tại lớp mẫu giáo bé trường mầm non Hồng kỳ, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội và trường mầm non Hoa Sen, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

- Ghi chép những âm tiết mà trẻ nói sai trong từng hoạt động ở trường mầm non

- Sử dụng tranh ảnh có nội dung biểu thị từ, cụm từ cho trẻ phát âm và ghi chép lại các âm mà trẻ đã phát âm sai

2.3.3 Kết quả khảo sát

a) Tình hình lỗi phát âm của trẻ:

Để tìm được thực trạng lỗi phát âm của trẻ mầm non, chúng tối đã tiến hành

điều tra hai lớp Vì điều kiện thời gian không cho phép nên chúng tôi chỉ tiến hành tìm hiểu lỗi phát âm của 75/85 trẻ lớp Mẫu giáo bé C3 trường Mầm non Hồng Kỳ, xã Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội và lớp Mẫu giáo bé 3A4 trường mầm non Hoa Sen, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh

Trang 37

Vĩnh Phúc Chúng tôi đã điều tra bằng cách quan sát trẻ trên lớp học, tạo tình

huống để trò chuyện với trẻ và ghi chép nhật kí Trước đó, chúng tôi có tìm hiểu

về gia đình trẻ gồm nơi cư trú, nghề nghiệp và khả năng phát âm của phụ huynh

và năng lực phát âm của giáo viên phụ trách lớp

b) Đặc điểm phát âm của phụ huynh:

Để tìm hiểu năng lực phát âm của phụ huynh chúng tôi đã thực hiện các công việc như sau:

- Trò chuyện trực tiếp với phụ huynh thông qua giờ đón và trả trẻ

- Nhờ phụ huynh đọc giúp một vài câu thơ trong lúc trò chuyện như:

+ “Lúa nếp là lúa nếp non Lúa lên lớp lớp lòng nàng nâng nâng”

+ “Ông Nỉnh ông Ninh

Ra đứng đầu làng lại gặp ông Lang Ông Lảng ông Lang

Ra đứng đầu đình lại gặp ông Ninh”

+ “Lúa nếp là lúa nếp non Lúa lên lớp lớp, lòng nàng lâng lâng”

+ “Buổi trưa ăn bưởi chua”

Trong khi phụ huynh làm các yêu cầu đó, để có được kết quả khảo sát chính xác và khách quan, chúng tôi không để họ biết mình đang được kiểm tra khả năng phát âm

Để xác định mức độ chuẩn phát âm, chúng tôi dựa vào chuẩn phát âm của

người Hà Nội bổ sung thêm ba âm s,tr, r và hai vần ưu, ươu Do điều kiện không

cho phép nên chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát được trên 50 phụ huynh, trong đó

có 25 phụ huynh của lớp mẫu giáo bé C3 trường Mầm non Hồng Kỳ và 25 phụ

Trang 38

huynh lớp mẫu giáo bé 3A4 trường Mầm non Hoa Sen Dưới đây bảng thống kê

số lượng phụ huynh trong các nghề tại hai lớp mẫu giáo bé của hai trường mầm non mà chúng tôi khảo sát

Bảng 2.1 Thống kê số lượng phụ huynh trong các nghề của hai lớp Mẫu giáo bé 3A4 trường Mầm non Hoa Sen và lớp Mẫu giáo bé C3 trường Mầm non Hồng Kỳ

non Hồng Kỳ

Trường Mầm non Hoa Sen

Trang 39

Bảng 2.2 Thực trạng phát âm của phụ huynh

Âm Nghề

nghiệp

(1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2)

Đ S Đ S Đ S Đ S Đ S Đ S Đ S Đ S Đ S Đ S Đ S Đ S Giáo viên 2 0 5 0 2 0 5 0 1 1 4 1 1 1 3 2 2 0 4 1 2 0 1 4

Bộ đội 1 0 1 2 0 1 0 3 0 1 2 1 0 1 2 1 0 1 2 1 1 0 0 3 Công an 0 0 2 0 0 0 2 0 0 0 2 0 0 0 2 0 0 0 2 0 0 0 0 2 Bác sỹ, y tá 2 0 1 0 2 0 1 0 0 2 0 1 2 0 0 1 0 2 1 0 2 0 0 1 Công nhân 5 0 2 0 5 0 2 0 0 5 1 1 2 3 2 0 0 5 0 2 5 0 0 2 Kinh doanh 5 0 3 2 5 0 5 0 0 5 0 5 0 5 0 5 0 5 0 5 5 0 0 5 Làm ruộng 5 0 0 1 0 5 1 0 1 4 1 0 0 5 0 1 0 5 0 1 5 0 0 1 Nội trợ 2 0 1 0 2 0 1 0 0 2 0 1 0 2 1 0 0 2 0 1 2 0 0 1 Cán bộ cơ quan 3 0 5 0 3 0 2 3 5 0 0 5 2 1 4 1 0 3 5 0 3 0 1 4

Tổng số 25 0 20 5 19 6 19 6 7 18 10 15 7 18 14 11 2 23 14 11 25 0 2 23

Trang 40

Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng lỗi phát âm

của phụ huynh hai trường mầm non

Kết quả tổng hợp

Thanh ngã

Thanh hỏi

0 20 24 24 78 60 78 44 92 44 0 8

Theo bảng trên cho ta thấy các phụ huynh kể cả người làm công nhân viên chức và người nội trợ, làm ruộng đều còn mắc nhiều lỗi phát âm Chỉ số phụ huynh làm nghề giáo viên và viên chức do yêu cầu công việc nên phát âm tương đối chuẩn Đa số các phụ huynh làm ruộng hay nội trợ, kinh doanh đều mắc các lỗi phát âm Theo thống kê thì có tới 92% phụ huynh trường mầm non Hồng Kỳ

và 44% phụ huynh trường mầm non Hoa Sen mắc lỗi phát âm l/n Phụ huynh trường mầm non Hồng Kỳ phát âm sai âm chính ươu là 78%, âm ưu là 78% Còn phụ huynh trường mầm non Hoa Sen phát âm sai với âm chính ươu là 60%, âm

ưu là 44% Đặc biệt với âm uyên, phụ huynh trường mầm non Hoa Sen đa số

phát âm sai Như vậy ta có thể nhận thấy được môi trường mà trẻ sinh sống khiến trẻ khó tránh khỏi việc trẻ phát âm sai

Ngày đăng: 13/03/2017, 21:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Thống kê số lượng phụ huynh trong các nghề của hai lớp Mẫu giáo bé 3A4  trường Mầm non Hoa Sen và lớp Mẫu giáo bé C3 trường Mầm non Hồng Kỳ - Dạy trẻ mẫu giáo phát âm đúng thông qua đồng dao
Bảng 2.1 Thống kê số lượng phụ huynh trong các nghề của hai lớp Mẫu giáo bé 3A4 trường Mầm non Hoa Sen và lớp Mẫu giáo bé C3 trường Mầm non Hồng Kỳ (Trang 38)
Bảng 2.2 Thực trạng phát âm của phụ huynh - Dạy trẻ mẫu giáo phát âm đúng thông qua đồng dao
Bảng 2.2 Thực trạng phát âm của phụ huynh (Trang 39)
Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng lỗi phát âm - Dạy trẻ mẫu giáo phát âm đúng thông qua đồng dao
Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng lỗi phát âm (Trang 40)
Bảng 2.4 Khảo sát khả năng phát âm của trẻ lớp Mẫu giáo bé C3 - Dạy trẻ mẫu giáo phát âm đúng thông qua đồng dao
Bảng 2.4 Khảo sát khả năng phát âm của trẻ lớp Mẫu giáo bé C3 (Trang 43)
Bảng 2.6 Tổng kết Bảng 2.4 và Bảng 2.5 - Dạy trẻ mẫu giáo phát âm đúng thông qua đồng dao
Bảng 2.6 Tổng kết Bảng 2.4 và Bảng 2.5 (Trang 45)
Bảng 3.5.1 Bảng kết quả thể nghiệm sư phạm số 1 - Dạy trẻ mẫu giáo phát âm đúng thông qua đồng dao
Bảng 3.5.1 Bảng kết quả thể nghiệm sư phạm số 1 (Trang 74)
Bảng 3.5.2 Bảng kết quả thể nghiệm sư phạm số 2 - Dạy trẻ mẫu giáo phát âm đúng thông qua đồng dao
Bảng 3.5.2 Bảng kết quả thể nghiệm sư phạm số 2 (Trang 75)
Bảng 3.5.3 Bảng kết quả thể nghiệm sư phạm số 3 - Dạy trẻ mẫu giáo phát âm đúng thông qua đồng dao
Bảng 3.5.3 Bảng kết quả thể nghiệm sư phạm số 3 (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w