Bài học rút ra cho tỉnh Cà Mau về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao từ nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và các địa phương trong nước...31 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
Trang 1NGUYỄN VIẾT QUÂN
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
TỈNH CÀ MAU ĐẾN NĂM 2025
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 2NGUYỄN VIẾT QUÂN
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỈNH CÀ MAU ĐẾN NĂM 2025
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số : 60310102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM THĂNG
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn: “PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỈNH CÀ MAU ĐẾN NĂM 2025”, là công trình nghiên cứu của chính tác giả Các kết quả số liệu nêu trong luận văn là trung thực, nội dung được đúc kết từ quá trình học tập và nghiên cứu thực tiễn, số liệu sử dụng
là chính xác và trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng của các cơ quan chức năng đã công
bố
Tác giả luận văn
NGUYỄN VIẾT QUÂN
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 11
1.1 Nhận thức chung về nguồn nhân lực chất lượng cao 11
1.1.1 Khái niệm và phân loại nguồn nhân lực chất lượng cao 11
1.1.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 15
1.1.3 Tiêu chí đánh giá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 16
1.1.3.1 Tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao……… 16
1.1.3.2 Tiêu chí đánh giá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao………17
1.2 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn 18
1.2.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn 18
1.2.1.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa……… 18
1.2.1.2 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn 20
1.2.2 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn 20
1.2.3 Các nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 23
1.2.3.1 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô………23
1.2.3.2 Nhóm nhân tố thuộc về nguồn nhân lực chất lượng cao……… 26
1.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của một số địa phương, khu vực trong và ngoài nước 27
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số nước 27
Trang 51.3.2 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số địa phương trong nước 29 1.4 Bài học rút ra cho tỉnh Cà Mau về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao từ nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và các địa phương trong nước 31
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2005 - 2014: KẾT QUẢ, HẠN CHẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 34
2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau 34 2.2 Kết quả và hạn chế trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lương cao ở tỉnh
Cà Mau giai đoạn 2005 - 2014 36 2.2.1 Những kết quả đạt được trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 40 2.2.2 Những hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 44 2.2.3 Những vấn đề đặt ra trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 49
Chương 3: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỈNH CÀ MAU ĐẾN NĂM 2025 56
3.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu chủ yếu của phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau đến năm 2025 56 3.1.1 Quan điểm của đảng ta về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao…… 56 3.1.2 Định hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau đến năm 2025………57 3.1.3 Mục tiêu chủ yếu của phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau đến năm 2025……… 59
Trang 63.2 Các nhóm giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau đến năm 2025 61 3.2.1 Nhóm giải pháp nhằm mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo 61 3.2.2 Nhóm giải pháp về đổi mới cơ bản và toàn diện cơ chế, chính sách thu hút,
sử dụng và quản lý đối với nguồn nhân lực chất lượng cao 64 3.2.3 Nhóm giải pháp phát triển khoa học công nghệ nhằm xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ cho tỉnh nhà ……… 67 3.2.4 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng để tăng cường thể lực cho nguồn nhân lực chất lượng cao 71 3.2.5 Nhóm giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các dự án phát triển các ngành kinh tế tạo việc làm cho người lao động 72 3.2.6 Chính sách phát triển thị trường sức lao động và hệ thống công cụ, thông tin
về thị trường sức lao động……… 73 3.2.7 Mở rộng, tăng cường sự phối hợp và hợp tác quốc tế để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao……… 75 3.2.8 Nhóm giải pháp về tăng cường, đổi mới sự quản lý nhà nước đối với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ……… ……… 75
3.2.8.1 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 75 3.2.8.2 Xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước, đội ngũ cán bộ phát triển cộng đồng, phát triển nông thôn 76
KIẾN NGHỊ……… 78 KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO (Xếp theo A, B, C họ của tác giả)
Trang 7Thứ tự Chữ viết tắt Ý nghĩa
1 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
8 UNDP Chương trình phát triển Liên hiệp quốc
9 UNESCO Tổ chức văn hóa khoa học giáo dục Liên hiệp quốc
Trang 8STT SỐ HIỆU TÊN BẢNG, BIỂU TRANG
1 Bảng 2.1 Cơ cấu lao động qua đào tạo hàng năm 37
2 Bảng 2.2 Trình độ lao động của tỉnh Cà Mau so với đồng bằng sông Cửu Long và cả nước 38
3 Bảng 2.3 So sánh cơ cấu sử dụng lao động giữa tỉnh Cà Mau với vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước 39
4 Bảng 2.4 Số lượng và cơ cấu lao động tham gia hoạt động kinh tế 40
5 Bảng 2.5 Kết quả điều tra về chính sách của tỉnh Cà Mau đối với nguồn nhân lực chất lượng cao 43
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguồn nhân lực là tài sản quý giá đối với mỗi quốc gia, vừa là mục tiêu vừa
là động lực để thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng
Thế kỷ XXI là thế kỷ của hội nhập và phát triển kinh tế toàn cầu, tri thức trở thành nguồn gốc và sức mạnh quan trọng nhất quyết định trình độ phát triển của mỗi quốc gia; Bởi vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quan trọng và là nhân tố quyết định đến sự phát triển và hưng thịnh của mỗi quốc gia Thực tế đã chứng minh rằng, các quốc gia công nghiệp hóa thành công đều có chính sách ưu tiên xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao
Việt Nam từng bước hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, tiếp cận với trình độ khoa học – công nghệ cao nên đòi hỏi một lực lượng lao động có trình
độ cao để đáp ứng yêu cầu làm việc trong môi trường mới là tất yếu, khách quan
Do đó, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có trình độ chuyên môn và đặc biệt là có khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất là yếu tố then chốt, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại và bền vững Vì thế, đầu tư vào nguồn lực con người là cơ sở vững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh hiện nay
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực song cho đến nay, đội ngũ nhân lực chất lượng cao vẫn chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Cà Mau là tỉnh cực Nam của Việt Nam có thế mạnh về lĩnh vực nông nghiệp đặc biệt là nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản; trong định hướng phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Cà Mau được Đảng và Nhà nước xác định là tỉnh trọng điểm trong việc phát triển kinh tế thủy, hải sản của Đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước
Cùng với xu thế đổi mới của cả nước, trong những năm qua tỉnh đã đạt được những thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội Nhưng nhìn chung so với
Trang 10các tỉnh trong khu vực thì phát triển của Cà Mau vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, nguyên nhân sâu xa là do nguồn nhân lực còn mỏng, chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng được tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm gần đây tỉnh Cà Mau đã quy hoạch chiến lược phát triển nguồn nhân lực
và bước đầu đã đạt được một số thành tựu nhất định Tuy nhiên, quá trình thực hiện chiến lược này vẫn còn nhiều bất cập như chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng; cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, đời sống của một bộ phận lao động còn gặp không ít khó khăn Do đó, tình trạng thiếu cán bộ kỹ thuật lành nghề, cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn khác trong các cấp, các ngành nhất là trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn đang là vấn
đề phổ biến không chỉ của tỉnh Cà Mau mà còn trở thành vấn đề chung của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Do vậy, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm tìm ra những giải pháp khả quan để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trở thành nhiệm vụ cấp bách đối với tỉnh Cà Mau hiện
nay Với ý nghĩa đó, tác giả đã chọn đề tài “Phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau đến năm 2025” làm luận văn thạc sỹ kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận cơ bản về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn một số nước trên thế giới và các địa phương trong nước về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn;
- Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau giai đoạn
Trang 112005 – 2014 và từ đó chỉ ra những kết quả và hạn chế, những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết đối với nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau;
- Đề xuất quan điểm, định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau đến năm 2025
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau đến năm 2025
*Phạm vi nghiên cứu:
- Luận văn tập trung nghiên cứu nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh Cà Mau giới hạn trong đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh và một số cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu động thái của sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và các chính sách của tỉnh nhằm thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
- Thời gian nghiên cứu của luận văn từ 2005 – 2014 và định hướng đến năm
2025
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin cùng các phương pháp thống kê, phân tích - so sánh, tổng hợp để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề đặt ra
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh Cà Mau trong trạng thái vận động biến đổi của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Phương pháp thống kê: tập hợp dữ liệu theo các mốc thời gian, thành phần,
Trang 12yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Cà Mau
Phương pháp phân tích – so sánh: xử lý dữ liệu kết hợp với nghiên cứu những tài liệu tham khảo, các giáo trình liên quan để rút ra những kết luận phù hợp
Phương pháp tổng hợp: dựa trên cơ sở phân tích và đánh giá về thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Cà Mau giai đoạn 2005 - 2014, từ đó đưa
ra quan điểm, giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau đến năm 2025
Đặc biệt luận văn đã sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để có những đánh giá khách quan về chính sách phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Cà Mau và đồng thời luận văn tham khảo, kế thừa có chọn lọc các kết quả của những nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài để giải quyết, làm rõ các vấn đề luận văn đặt ra
5 Nguồn thông tin nghiên cứu
Ngoài nguồn thông tin do tác giả tự tìm hiểu, thu thập, đề tài còn dựa vào các nguồn thông tin trong các công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong và ngoài nước; thông tin và dữ liệu thống kê từ các báo cáo của các
cơ quan nghiên cứu và cơ quan quản lý nhà nước ở tỉnh Cà Mau và các ngành có liên quan
6 Ý nghĩa nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu góp thêm cơ sở khoa học cho việc định hướng và đưa
ra những giải pháp cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau;
- Luận văn có thể là một trong những tài liệu tham khảo cho các cơ quan có liên quan đến xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau
Trang 137 Tình hình nghiên cứu
Ngày nay, hầu như tất cả các nghiên cứu về nguồn nhân lực đều thống nhất với nhau ở một luận điểm là nguồn nhân lực ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội; tuy nhiên, vai trò quan trọng này được thể hiện như thế nào và quan trọng đến đâu thì vẫn là vấn đề còn tranh cải Đó chính là lý do khiến chủ đề vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội nhận được
sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức ở tất cả các quốc gia Ngân hàng thế giới đã tiến hành nhiều cuộc điều tra về nhân lực dưới nhiều góc
độ tại rất nhiều quốc gia trên thế giới; Tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) cũng rất quan tâm tới vấn đề nguồn nhân lực; Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) với những báo cáo hàng năm về tình hình phát triển con người, cung cấp một cách đầy đủ và cập nhật chỉ số phát triển con người của hầu hết các quốc gia trên thế giới được xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp;
tổ chức y tế thế giới cũng có những nghiên cứu quan tâm tới nguồn nhân lực từ khía cạnh sức khỏe; tổ chức lao động quốc tế (ILO) cũng phát hành những ấn phẩm về chủ đề nguồn nhân lực và vấn đề đào tạo…Ở Việt Nam, vai trò quyết định của nguồn nhân lực đã và đang được khẳng định trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, Đảng ta đã chọn phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một trong ba đột phá chiến lược quan trọng
Xoay quanh vấn đề "Phát triển nguồn nhân lực thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" đã có khá nhiều công trình khoa học đề cập đến ở những phương diện khác nhau
* Bàn về công nghiệp hóa có các tác giả:
Lê Ngọc Anh (2006), Quan điểm về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức - bước phát triển mới trong đường lối tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đảng ta Trong bài viết này,
Trang 14tác giả đã đưa ra những luận chứng để làm rõ chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng ta về đường lối tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức sẽ một mặt thúc đẩy nền kinh tế phát triển cao, một mặt thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Phạm Ngọc Dũng (2011), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn - Từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, đã đề cập tới vai trò quan trọng
của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong phát triển bền vững; tác giả
đã phân tích thực trạng kinh tế - xã hội ở nông thôn nước ta cũng như nguyên nhân nảy sinh vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hiện nay Từ đó đưa ra các giải pháp hợp lý có tính thực tiễn cao nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát và lâu dài: xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp … có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại
Lê Cao Đoàn (2008), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn - những vấn
đề lý luận và kinh nghiệm thế giới Trong đó, tác giả đã trình bày một số mô hình
công nghiệp hóa trên thế giới, đặc biệt là mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
“thần kỳ” ở các nước Đông Á (tiêu biểu là Nhật Bản và Trung Quốc) Phần sau, tác giả chủ yếu đề cập đến vấn đề phát triển và công nghiệp hóa thế hệ thứ nhất ở Việt Nam cũng như quá trình phát triển kinh tế và công nghiệp hóa thế hệ thứ hai - công nghiệp hóa trong quá trình đổi mới kinh tế
Trang 15Ngô Đình Giao (1996), Suy nghĩ về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam (một số vấn đề lý luận và thực tiễn) Ở cuốn sách này, tác giả đã bàn đến
khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tính tất yếu để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta cả về mặt lý luận và thực tiễn
Trần Đắc Hiến (2007), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam: một số vấn đề đặt ra và hướng giải quyết Trong bài viết
này, tác giả đã phân tích một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những biện pháp cần thiết để giải quyết, khắc phục những vấn đề nảy sinh nhằm nâng cao hiệu quả của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Nguyễn Thị Tố Quyên (2012), Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 – 2020 Trên cơ sở phân tích lý luận
và đánh giá khách quan thực tiễn nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam, tác giả đã chỉ ra những vấn đề còn tồn tại cũng như xu hướng phát triển của nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011-2020, đồng thời đề xuất một số chính sách nhằm giải quyết những vấn
đề tồn tại đang đặt ra trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn…
* Bàn về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có các tác giả:
Phạm Nguyễn Ngọc Anh (2014), Đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng bằng sông Cửu Long Với bài viết này, tác giả đã đề cập đến một khía cạnh quan trọng trong phát
triển nông nghiệp đó là đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với những số liệu được cập nhật ở khu vực phát triển nông nghiệp trọng yếu của cả nước: đồng bằng sông Cửu Long
Mai Quốc Chính (1999), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong đó, tác giả đã trình bày vai trò của
nguồn nhân lực - yếu tố động nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất đối với
Trang 16sự phát triển xã hội Từ đó chỉ ra tầm quan trọng của nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trần Thọ Đạt, Đỗ Tuyết Nhung (2008), Tác động của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố Việt Nam Công trình đã phân tích các tác
động của vốn con người đến quá trình tăng trưởng kinh tế thông qua việc xem xét các nền kinh tế cấp tỉnh, thành phố của Việt Nam; Mặc dù vốn con người bao gồm
cả giáo dục, sức khỏe cũng như nhiều khía cạnh khác của vốn xã hội nhưng nghiên cứu này chỉ tập trung vào giáo dục coi nó như là nhân tố cơ bản nhất của vốn con người Tác phẩm cũng cho thấy vốn con người là nhân tố quan trọng nhất khi giải thích sự tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố ở Việt Nam cũng như giải thích khoảng cách chênh lệch giữa các vùng kinh tế ở Việt Nam Tác giả cũng đưa ra những kiến nghị chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong
đó nhấn mạnh sự gia tăng đầu tư vào giáo dục, đồng thời, chú ý tới tác động khác nhau của vốn con người ở những vùng kinh tế khác nhau
Lê Thị Hồng Điệp (2010), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam; trong công trình này, tác giả đã trình bày
những khái niệm cơ bản như: nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc điểm nguồn nhân lực chất lượng cao của nước ta, vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; phân tích những vấn đề gia tăng dân số, cơ cấu nguồn nhân lực, tỷ
lệ nhân lực khoa học công nghệ, đặc điểm, yêu cầu của kinh tế tri thức đối với nguồn nhân lực chất lượng cao; đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam
Nguyễn Duy Hùng và Vũ Văn Phúc (2012), Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Trình bày một số
khái niệm cơ bản về nhân lực, nguồn nhân lực, phân tích đặc điểm của nguồn nhân lực Việt Nam, những vấn đề cơ bản để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Đây là cuốn sách có giá trị tham khảo trong nghiên cứu và trong chỉ đạo thực tiễn phát triển nguồn nhân lực đất nước hiện nay
Trang 17Đoàn Văn Khái (2005), Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam Công trình đã trình bày nội dung, đặc điểm và
tính tất yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam; phân tích vai trò của nguồn lực con người – yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
từ đó đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Lê Thị Mai (2005), Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre Với công trình này, tác giả đã làm rõ
khái niệm nguồn lực con người và vai trò quyết định của nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre Đồng thời, tác giả cũng đưa
ra thực trạng nguồn nhân lực tỉnh Bến Tre trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như đề xuất những giải pháp chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bến Tre thời kỳ mới
Lê Văn Phục (2010), Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của một số nước trên thế giới, đã trình bày kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao của các nước trên thế giới: Singapo, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Mỹ và các nước Tây Âu Các quốc gia đều coi trọng và phát triển nền giáo dục – đào tạo, có chính sách thu hút và sử dụng nhân tài, trên cơ sở những kinh nghiệm
đó, tác giả đã đưa ra một số ý kiến tham khảo cho Việt Nam
Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (1996), Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta Trong công trình này, các tác giả đã giới thiệu
khái quát về vai trò của nguồn nhân lực ở một số nước trên thế giới dưới tác động của giáo dục - đào tạo, đồng thời nêu bật vai trò của giáo dục - đào tạo trong việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
Các nhóm công trình trên đã nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng; trong đó, một số công trình đã phân tích cơ sở lý luận của nguồn nhân lực như khái niệm nguồn nhân lực, vai trò của nguồn nhân lực, các nhân tố - điều kiện ảnh hưởng, tác động đến số lượng, chất lượng nguồn nhân lực; một số công trình phân tích, đánh
Trang 18giá thực trạng, đóng góp của nguồn nhân lực đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia trên thế giới, nhất là một số nước đang phát triển ở Châu Á; đây
là những nguồn tài liệu có giá trị cho hướng nghiên cứu của đề tài
Mặc dù các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đã được công bố rất đa dạng
và đã đạt được những kết quả khác nhau nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở
tỉnh Cà Mau dưới dạng một luận văn khoa học Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau đến năm 2025” làm luận văn thạc sỹ
kinh tế
8 Kết cấu của nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau giai đoạn
2005 – 2014: kết quả, hạn chế và những vấn đề đặt ra
Chương 3: Quan điểm, định hướng, mục tiêu và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn tỉnh Cà Mau đến năm 2025
Trang 191.1.1 Khái niệm và phân loại nguồn nhân lực chất lượng cao
* Khái niệm: nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
- Khái niệm nguồn nhân lực:
Có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực, chẳng hạn theo ngân hàng thế giới thì nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên,… Do đó, đầu tư cho con người là đầu tư quan trọng nhất trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững
Theo Liên hiệp quốc thì nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ
Theo Phạm Minh Hạc thì nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức
độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH
Theo Nguyễn Hữu Dũng thì nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội Xem xét nguồn nhân lực
Trang 20dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người Con người với tiềm năng
vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn
Như vậy, do nhiều cách tiếp cận khác nhau nên đã có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực tuy nhiên có thể thấy, điểm thống nhất của các cách tiếp cận đó là: nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng và năng lực của con người được huy động vào trong quá trình lao động sản xuất và phát triển của một quốc gia hay địa phương
Theo tác giả luận văn quan niệm rằng, nguồn nhân lực là lực lượng lao động
xã hội của một quốc gia, của địa phương bao gồm những năng lực thể chất, tinh thần, trình độ tri thức, năng lực thực tế, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tác phong lao động của những người trong độ tuổi lao động đang làm việc hoặc đang thất nghiệp nhưng đang tích cực tìm việc làm
* Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao
Đến nay, khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đồng nhất do có nhiều cách tiếp cận khác nhau Dưới đây là một số khái niệm tiêu biểu về nguồn nhân lực chất lượng cao:
Theo Phạm Minh Hạc thì nguồn nhân lực chất lượng cao là đội ngũ nhân lực
có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, sử dụng có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa được mở rộng theo kiểu vết dầu loang bằng cách dẫn dắt những bộ phận có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh
Trang 21Theo Đỗ Văn Dạo thì nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận lao động xã hội có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao; có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất;
có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những
kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao
Theo Nguyễn Hữu Dũng thì nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn kỹ thuật nhất định (trên đại học, đại học, cao đẳng, công nhân kỹ thuật lành nghề)
Theo Nguyễn Huy Trung thì nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân lực đã qua đào tạo, có kiến thức tốt về một lĩnh vực công việc, thành thạo kỹ năng thực hiện công việc, có thể chất tốt và tiềm năng phát triển trong môi trường công việc
để đáp ứng được các yêu cầu công việc hiện tại cũng như tương lai của tổ chức, cơ quan, đơn vị…
Từ những quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao của các tác giả nêu trên có thể đưa ra khái niệm sau đây:
Nguồn nhân lực chất lượng cao là lực lượng lao động có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có khả năng sáng tạo và ứng dụng những thành tựu của khoa học – công nghệ vào hoạt động thực tiễn nhằm đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao Mặt khác, đây còn là những lao động có tác phong nghề nghiệp, tính
kỷ luật cao, có tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, có ý chí tự lập, tự cường và có phẩm chất đạo đức tốt; nó là bộ phận quan trọng nhất của nguồn nhân lực
* Phân loại nguồn nhân lực chất lượng cao
Có nhiều quan niệm khác nhau về phân loại nguồn nhân lực chất lượng cao,
có thể nêu ra một số cách cơ bản sau:
Một là, dựa vào chuyên môn nghề nghiệp, bao gồm:
Trang 22- Đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ: là đội ngũ trí thức trong tất cả các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu triển khai và ứng dụng những thành tựu của khoa học – công nghệ vào tất cả các lĩnh vực sản xuất, quản lý kinh tế - xã hội, y tế, văn hóa, thể thao… đây là lực lượng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có năng lực sáng tạo cả về lý thuyết và thực hành, có khả năng giải quyết được các vấn
đề mà quá trình công nghiệp hóa đặt ra, mà giai đoạn đầu là công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn; là lực lượng đi đầu trong việc tiếp nhận và chuyển giao công nghệ tiên tiến, ứng dụng các thành tựu của khoa học – công nghệ vào các lĩnh vực, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
- Đội ngũ giáo viên, giảng viên làm công tác đào tạo trong các cơ sở giáo dục
và các trường cao đẳng, đại học: họ có khả năng đào tạo, bồi dưỡng bộ phận có năng lực, trình độ thấp hơn bổ sung vào nguồn nhân lực chất lượng cao
- Đội ngũ cán bộ quản lý có năng lực hực hiện có hiệu quả công việc trong
bộ máy nhà nước và đảng cầm quyền các cấp từ trung ương đến địa phương
- Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp có trình độ tổ chức và điều hành kinh doanh có hiệu quả
- Lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề ở tất cả các lĩnh vực hoạt động sản xuất của đời sống kinh tế - xã hội; họ là lực lượng lao động trực tiếp sản xuất, ứng dụng và cung cấp các dịch vụ có hàm lượng trí tuệ đạt chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế để đáp ứng tiêu dùng và xuất khẩu Đồng thời, họ còn là lực lượng có năng lực trí tuệ tiếp thu được các công nghệ tiên tiến và bằng những tri thức khoa học kết hợp với những kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình lao động sản xuất
- Những nông dân có trình độ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm đi đầu trong ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ làm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại và hiệu quả cao
Hai là, phân loại theo bằng cấp đào tạo gồm:
- Những người có trình độ sau đại học: tiến sỹ khoa học và tiến sỹ, thạc sỹ và bác sỹ chuyên khoa I và II
Trang 23- Những người có trình độ đại học và cao đẳng
- Công nhân có tay nghề bậc cao và trình độ trung cấp
Ba là, phân loại theo học hàm: giáo sư và phó giáo sư
Có thể kết hợp phân loại cả ba cách trên (bằng cấp đào tạo, học vị và cả nghề nghiệp chuyên môn) chẳng hạn như chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp và tương đương, ngoài ra, khi nói về sự đóng góp và trình độ lành nghề của nguồn lực lao động chất lượng cao người ta còn gọi họ là những chuyên gia, công trình sư…
1.1.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
* Khái niệm phát triển nguồn nhân lực
Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực
Theo UNESCO thì phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước; Quan niệm này gắn phát triển nguồn nhân lực với phát triển sản xuất; do đó, phát triển nguồn nhân lực giới hạn phạm vi phát triển kỹ năng lao động và thích ứng với yêu cầu về việc làm
Theo Tổ chức lao động quốc tế thì phát triển nguồn nhân lực là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề và phát triển năng lực, sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân hay phát triển nguồn nhân lực là quá trình biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế - xã hội
Với cách tiếp cận trên, phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã
hội và sức sáng tạo con người, nền văn hóa, truyền thống lịch sử… Do đó, phát triển nguồn nhân lực đồng nghĩa với quá trình nâng cao năng lực xã hội và tính năng động xã hội của nguồn nhân lực về mọi mặt như thể lực, trí lực, nhân cách… đồng thời, phân bổ sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực đó để phát triển đất nước
* Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 24Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được nhiều tác giả bàn đến, cụ thể: Theo Nadler & Nadler thì phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc
Đứng trên quan điểm xem “con người là nguồn vốn - vốn nhân lực”, Yoshihara Kunio cho rằng, phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân
Trong luận văn này quan niệm rằng: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là quá trình làm tăng lên về số lượng và nâng cao về chất lượng của nguồn nhân lực chất lượng cao; nó là một bộ phận quan trọng đặc biệt của phát triển nguồn nhân lực
1.1.3 Yêu cầu, tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.1.3.1 Yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đối với nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế, tính cạnh tranh của lao động không dừng
ở phạm vi quốc gia mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực phải được nâng lên tiến tới đạt tiêu chuẩn khu vực và thế giới Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực cả về thể lực và trí lực; Thể lực nguồn nhân lực được thể hiện qua tình trạng sức khỏe của con người, của dân cư (thể lực, chiều cao, cân nặng, bệnh tật, tuổi thọ); Trí lực được biểu hiện ở trình độ học vấn, chuyên môn - kỹ thuật, tính thích ứng…của nguồn nhân lực
Trong điều kiện thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay nguồn nhân lực không thể không có trạng thái thể chất tốt; Sức khoẻ tốt là cơ sở,
là nền tảng để sáng tạo, hăng say học tập, không ngừng nâng cao hiểu biết, trình
độ chuyên môn, tiến quân vào khoa học – công nghệ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển mạnh
Trang 25đặt ra yêu cầu mở rộng quy mô nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn - kỹ thuật (công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học trở lên); Đối với các vùng có tiềm năng phát triển mạnh nông nghiệp, việc đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong tình trạng sản xuất còn lạc hậu, năng suất lao động thấp, tỷ suất hàng hoá nông sản còn hạn chế, việc cung ứng đầy đủ, kịp thời nhân lực chuyên môn - kỹ thuật cho phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ,…trong khu vực nông nghiệp, nông thôn là một vấn
đề cần được quan tâm Bên cạnh đó, quá trình CNH, HĐH trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, trong bối cảnh quốc tế còn “diễn biến hết sức phức tạp, chứa đựng những yếu tố khó lường”, nó đòi hỏi nguồn nhân lực cần có những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, sự nhanh nhạy, năng động, thích ứng để vượt qua những khó khăn thử thách, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, dám nghĩ, dám làm, dám hội nhập quốc tế Nó đòi hỏi nguồn nhân lực phải có tinh thần lao động chăm chỉ,
có kỹ thuật, sáng tạo và có hiệu quả kinh tế - xã hội cao
1.1.3.2 Tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Có thể nêu lên các tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao như sau:
Một là, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có đạo đức
nghề nghiệp, có tinh thần yêu nước, đây được xem như tiêu chí mang tính chất cơ bản trong việc xây dựng các tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao
Hai là, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao; khả năng thích ứng tốt với công việc phức tạp và luôn thay đổi trong thời đại ngày nay, khả năng học hỏi những cái mới và luôn ham muốn học hỏi một cách tự giác
Ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có khả năng
sáng tạo trong công việc, đây là yêu cầu có tính quyết định để phát triển kinh tế tri thức Tiêu chí này nhằm xác định nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung nhưng đặc biệt nhấn mạnh tới một lực lượng tinh túy nhất, đó là những nhà quản lý, chủ doanh nghiệp và các nhà khoa học
Trang 26Bốn là, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có thể lực
tốt: các chỉ số về thể lực như cân nặng, chiều cao trung bình, tuổi thọ, tỷ lệ mắc các bệnh tật … Thể lực tốt là điều kiện để phát triển trí tuệ; thể lực và tinh thần, trí tuệ thống nhất trong mỗi con người cấu thành nguồn nhân lực
1.2 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
1.2.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.2.1.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
* Khái niệm công nghiệp hóa (CNH)
Công nghiệp hóa là quá trình tạo ra năng lực sản xuất cho ngành công
nghiệp, các nhà hoạch định chính sách đề cập đến khái niệm này vì hai lý do: Một
là, thuật ngữ công nghiệp hóa đề cập đến cuộc cách mạng công nghiệp như là điểm khởi đầu của các nền kinh tế phát triển Hai là, công nghiệp hóa cho phép tạo ra của
cải vật chất cho xã hội để nâng cao mức sống, mặc dù ai là người hưởng lợi từ quá trình này là vấn đề còn đang tranh luận
Theo Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc thì CNH là một quá trình phát triển kinh tế, trong đó một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế đa ngành trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế
xã hội
CNH là một quá trình chuyển nền sản xuất từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng lao động có kỹ thuật cùng với công nghệ tiên tiến tạo ra năng suất lao động xã hội ngày càng cao; là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp và khai thác tài nguyên là chủ yếu sang cơ cấu mới mà ngành công nghiệp đóng vai trò chủ đạo, tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ngày càng tăng, tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm, thu hẹp khoảng cách về trình
Trang 27độ phát triển giữa thành thị và nông thôn trên cơ sở khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và các lợi thế của từng vùng, từng miền và của quốc gia
* Khái niệm hiện đại hóa (HĐH)
HĐH là một quá trình, nhờ đó các nước đang phát triển tìm cách đạt được sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, tiến hành cải cách chính trị và củng cố cơ cấu xã hội nhằm đạt tới một trình độ phát triển cao về khoa học – công nghệ, sự thịnh vượng kinh tế và công bằng xã hội
Hiện đại hóa, xét trên góc độ kinh tế - kỹ thuật là cái đích cần vươn tới trong quá trình công nghiệp hóa nhưng sự vươn lên về trình độ công nghệ này lại bị ràng buộc bởi yêu cầu bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội
Hiện đại hóa vừa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một xã hội theo hướng tăng dần các ngành có hàm lượng công nghệ cao vừa là quá trình đổi mới cách thức tổ chức sản xuất các ngành sẵn có của quốc gia theo hướng áp dụng ngày càng nhiều các công nghệ sản xuất và quản lý tiên tiến Kết quả của hiện đại hóa là năng suất lao động tăng, trình độ sản xuất nâng cao, HĐH là một quá trình lâu dài, phức tạp, trong đó diễn ra các bước đi cải biến một xã hội truyền thống thành xã hội hiện đại, có trình độ văn minh cao hơn, thể hiện đầy đủ hơn những giá trị chung mà nhân loại vươn tới; Cũng giống như công nghiệp hóa, các nước khác nhau ở những thời điểm khác nhau có thể và cần phải tiến hành HĐH dưới những hình thức khác nhau và bằng những con đường hoàn toàn không giống nhau
Tóm lại, CNH và HĐH đất nước là một quá trình phát triển cân đối, hài hòa
về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa nhằm đảm bảo được sự phát triển năng động,
có hiệu quả và bền vững CNH là một quá trình tất yếu có tính lịch sử nhằm tạo nên những chuyển biến căn bản về kinh tế - xã hội trên cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, xây dựng cơ cấu kinh tế đa ngành với trình độ khoa học – công nghệ ngày càng cao
Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại về CNH và căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam là một nước đi sau đang
trong quá trình phát triển, Đảng ta nêu quan niệm: CNH, HĐH là quá trình chuyển
Trang 28đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh
tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên
sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao
1.2.1.2 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn là quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại, gắn nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ, cho phép phát huy có hiệu quả cao mọi nguồn lực và lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới, mở rộng giao lưu trong nước
và quốc tế nhằm nâng cao năng suất lao động xã hội trong nông nghiệp và nông thôn, xây dựng nông thôn mới giàu có, công bằng, dân chủ, văn minh và xã hội chủ nghĩa Thực chất CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn là quá trình phát triển nông thôn theo hướng tiến bộ kinh tế - xã hội của một nước công nghiệp Điều đó có nghĩa là không chỉ phát triển công nghiệp nông thôn mà bao gồm cả việc phát triển toàn bộ các hoạt động, các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, và đời sống văn hóa, tinh thần ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp ở nông thôn và cả nước nói chung
Như vậy, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển biến quy trình kỹ thuật sản xuất từ trình độ thủ công sang một nền sản xuất tiên tiến, hướng tới một nền sản xuất hàng hóa lớn, gắn kết với công nghệ chế biến và thị trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp
1.2.2 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Thời đại ngày nay, khoa học – công nghệ phát triển vượt bậc cùng với làn sóng toàn cầu hóa đã tạo ra một bước ngoặt lịch sử: nền kinh tế thế giới bước vào giai đoạn quá độ từ nền kinh tế dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật là đại công nghiệp,
Trang 29cơ khí hóa sang nền kinh tế dựa trên tri thức; khi tri thức đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì việc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao của mỗi quốc gia đóng vai trò sống còn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội; điều này được thể hiện rõ qua vai trò to lớn của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà giai đoạn đầu là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của mọi quốc gia như sau:
* Đối với phát triển bền vững về kinh tế
- Nguồn nhân lực chất lượng cao quyết định chất lượng tăng trưởng và tăng trưởng kinh tế bền vững
Tăng trưởng kinh tế của một quốc gia có mối tương quan chặt chẽ với vốn vật chất và vốn con người Theo kết quả phân tích bởi hàm số sản xuất của các nền kinh tế Đông Nam Á thì 60% tốc độ tăng trưởng thực của nền kinh tế là do đóng góp của tích lũy vốn vật chất và vốn con người Hơn nữa, trong 60% đó, vốn vật chất đóng góp từ 33-49%, còn lại 51-67% là phần đóng góp của vốn con người (thông qua chỉ số về trình độ giáo dục)
Hơn nữa, khi nghiên cứu về mối quan hệ tương hỗ giữa đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với đầu tư vốn vật chất, các lý thuyết tăng trưởng kinh tế đều thống nhất rằng, chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao sẽ tăng cường khả năng sinh lợi của máy móc thiết bị hay nói cách khác, nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và nâng cao chất lượng tăng trưởng
- Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận quan trọng để đẩy nhanh tốc độ ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào các ngành sản xuất, đây chính là tiền đề cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đến lượt
nó, cơ cấu kinh tế càng tiến bộ, càng hiện đại, càng đòi hỏi khả năng thích ứng cao hơn của nguồn nhân lực cả về trình độ học vấn, trí tuệ, năng lực sáng tạo, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, thể lực cũng như phẩm chất tâm sinh
Trang 30lý, ý thức, lối sống, đạo đức Như vậy, quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
là quan hệ qua lại, thúc đẩy lẫn nhau
- Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố nâng cao năng suất lao động và tăng thu nhập cho người lao động
Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, vốn nhân lực được nâng lên gắn với giáo dục – đào tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn; nó đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân trên đầu người thông qua nâng cao kỹ năng và khả năng sản xuất của người lao động
Người có học vấn cao có cơ hội tìm được việc làm tốt hơn và ít có nguy cơ thất nghiệp; nghiên cứu của Krueger và Lindahl cho thấy, nếu trình độ học vấn cao hơn thì thu nhập trung bình một năm tăng từ 5-15% Nghiên cứu của Becker trước
đó cũng công bố kết quả tương tự nhưng ông nhấn mạnh thêm giữa những người có cùng trình độ, thu nhập trung bình cũng khác nhau tùy thuộc vào giới tính và chủng tộc
* Đối với phát triển bền vững xã hội
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trước hết tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội tìm việc làm và nâng cao thu nhập cho gia đình và bản thân là nền tảng của ổn định xã hội; thực tế cho thấy, thất nghiệp cao ở hầu hết các quốc gia là nguyên nhân quan trọng của biểu tình, bạo loạn gây mất ổn định chính trị - xã hội Mặt khác, nguồn nhân lực chất lượng cao càng phát triển, trình độ văn minh, văn hóa càng cao thì con người sống càng lịch thiệp, tin tưởng và hợp tác với nhau chặt chẽ hơn, sống có trách nhiệm hơn với chính mình và cộng đồng; người có trí thức thường cởi mở hơn, quan tâm đến sức khỏe và vì vậy sống khỏe hơn và hạnh phúc hơn Tuy nhiên, nếu một quốc gia, một địa phương chỉ chú trọng đến việc phát triển một bộ phận nguồn nhân lực chất lượng cao mà không đồng thời phát triển nguồn nhân lực nói chung lên một cách tương đối thì sẽ gây ra phân tầng xã hội quá chênh lệch điều này có thể dẫn đến bất bình đẳng ngày càng cao hơn, có thể gây mất ổn
Trang 31định chính trị - xã hội Do vậy, để phát triển xã hội bền vững cần phải phát huy tác động lan tỏa của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với toàn cộng đồng, xã hội
* Đối với phát triển bền vững về môi trường
Các ngành, các doanh nghiệp có đội ngũ lao động có trình độ cao sẽ thường xuyên đổi mới công nghệ để giảm mức độ tiêu hao nguyên, nhiên liệu trong quá trình sản xuất, đây là điều kiện để giảm mức khai thác tài nguyên thiên nhiên và mức độ rác thải ra môi trường, điều này có tác động kép đối với bảo vệ môi trường
Ngày nay, biến đổi khí hậu và những vấn đề về môi trường đang đặt ra yêu cầu phải xây dựng các mô hình tăng trưởng xanh, để làm được điều đó, cần phải có những nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng được đưa vào thực tiễn, đòi hỏi phải có các nhà khoa học, chuyên gia có đủ phẩm chất về trí tuệ, sức khỏe, đạo đức
Do vậy, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vừa là yêu cầu vừa là động lực của phát triển bền vững ở phạm vi toàn cầu, quốc gia và ở một địa phương
Từ những phân tích trên đây có thể khẳng định rằng, nhân tố đóng vai trò quyết định cho sự phát triển bền vững của các quốc gia hay một địa phương nào đó chính là nguồn nhân lực chất lượng cao, chứ không chỉ là nguồn của cải vật chất;
để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường các quốc gia, địa phương cần có chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
1.2.3 Các nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Có rất nhiều nhân tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và có thể nhóm thành hai nhóm cơ bản sau đây:
1.2.3.1 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô
Một là, trình độ phát triển kinh tế - xã hội
Thực tế cho thấy, khi nền kinh tế tăng trưởng và phát triển đạt trình độ cao, đời sống chung của nhân dân ổn định ở mức cao sẽ có điều kiện thuận lợi và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời cũng là điều kiện đầu tư cho giáo dục – đào tạo, khi giáo dục – đào tạo phát triển lại góp phần quyết định trực tiếp vào việc tạo ra chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội Ở các nước phát triển và các địa phương có trình
Trang 32độ phát triển cao thì điều kiện đầu tư cho giáo dục – đào tạo và chăm sóc sức khỏe
cả của nhà nước và gia đình thường là cao nên rất thuận lợi cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; ngoài ra, trình độ phát triển kinh tế còn thể hiện ở cơ cấu ngành kinh tế cao hay thấp và chủ yếu thể hiện trình độ tiến bộ của công nghệ các ngành sản xuất Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng hiện đại đặt ra nhu cầu ngày càng cao đối với nguồn nhân lực có trình độ cao và đây chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của nguồn nhân lực chất lượng cao
Hai là, chất lượng của hệ thống giáo dục, kế hoạch hóa dân số, y tế và chăm sóc sức khỏe của quốc gia, địa phương
- Chất lượng giáo dục – đào tạo có vai trò trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngày nay sự lạc hậu về giáo dục sẽ phải trả giá đắt trong cuộc chạy đua ở thế kỷ XXI mà thực chất là chạy đua về trí tuệ và phát triển giáo dục – đào tạo trong cách mạng khoa học – công nghệ
- Quy mô và tốc độ gia tăng dân số có ảnh hưởng trực tiếp đến đào tạo cả về
số lượng và chất lượng nguồn nhân lực Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam nếu có chính sách dân số và tốc độ tăng dân số hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển số lượng và chất lượng nguồn nhân lực
- Chất lượng của hệ thống y tế là chăm sóc sức khỏe cho người lao động có ảnh hưởng đến thể lực và trí lực của nguồn nhân lực trong đó, việc cải thiện sức khỏe cho tầng lớp trẻ sẽ dẫn đến một thế hệ khỏe mạnh trong tương lai để có một lực lượng lao động có chất lượng cao cho đất nước
Ba là, chính sách của nhà nước đối với các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
- Quan điểm, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng cầm quyền chi phối chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, do vậy, ảnh hưởng đến chiến lược, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đặc biệt là định hướng phát triển ngành công nghệ cao của quốc gia trực tiếp chi phối quy hoạch đào tạo của địa phương
Trang 33- Chính sách đối với lĩnh vực giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ của quốc gia: thực tế cho thấy, các nước công nghiệp phát triển trên thế giới không nước nào không quan tâm đến công tác giáo dục, ngược lại, họ rất chú trọng và đầu
tư rất nhiều cho nền giáo dục, nâng cao trình độ dân trí và đội ngũ cán bộ khoa học
- Chính sách thu hút và sử dụng nhân tài: thông qua cơ chế tuyển dụng lao động, chính sách tiền lương, thu nhập và các kích thích về tinh thần có tác động rất lớn đến sự quy tụ và khả năng cống hiến của nguồn nhân lực chất lượng cao; động lực để nhân tài và những người có năng lực say mê làm việc, cống hiến không chỉ là thu nhập (các điều kiện về vật chất) mà quan trọng hơn cả là để cho họ được giải phóng về mặt tư tưởng, họ phải được tự do suy nghĩ và hành động với tư duy sáng tạo, thẳng thắn phát biểu chính kiến của bản thân và cùng nhau trao đổi để tạo ra sự hợp tác trong lĩnh vực chuyên môn và nâng cao nhận thức của tập thể và mỗi người
Cạnh tranh về thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao có xu hướng ngày càng trở nên quyết liệt hơn, thêm vào đó do tính đặc thù của nguồn nhân lực chất lượng cao có tính “quốc tế hóa cao” nên nguy cơ chảy máu chất xám từ các nước, các địa phương ra ngoài nước khác, địa phương khác là tất yếu bởi vậy, chính sách giữ chân nguồn lực này là hết sức quan trọng trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc
tế
- Chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình trực tiếp tác động đến quy mô tốc độ tăng dân số và do đó ảnh hưởng đến chất lượng dân số và nguồn lực lao động; đối với các nước đang phát triển, chính sách này rất quan trọng bởi vì nguồn lực đầu tư cho giáo dục – đào tạo, y tế/người sẽ càng nhỏ nếu tốc độ và quy mô dân
số tăng nhanh
- Trình độ, năng lực của chính phủ trong hội nhập quốc tế cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển của nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua những đàm phán, ký kết về hợp tác trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo và giữ chân người tài trong hội nhập, hợp tác quốc tế
Bốn là, trình độ phát triển thị trường nguồn nhân lực chất lượng cao và thị trường khoa học – công nghệ
Trang 34Cũng giống như các nguồn lực khác, trong cơ chế kinh tế thị trường nguồn nhân lực chất lượng cao nếu được phân bổ một cách có hiệu quả sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của nó; trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày nay, với đặc thù là nguồn lực có tính quốc tế hóa cao, do đó thị trường sức lao động càng mang tính cạnh tranh, càng có điều kiện để thu hút những người tài, đây cũng là lý do vì sao Hoa Kỳ có thể thu hút được các nhà khoa học, chuyên gia từ các nước khác kể cả từ các quốc gia phát triển; mặt khác, phát triển thị trường khoa học – công nghệ và đẩy nhanh tốc độ ứng dụng công nghệ vào các ngành, lĩnh vực để tăng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao
1.2.3.2 Nhóm nhân tố thuộc về nguồn nhân lực chất lượng cao
Một là, cá nhân người lao động là nhân tố đầu tiên có vai trò quan trọng đối
với sự phát triển của nguồn lực lao động chất lượng cao
- Cha mẹ và dòng tộc được đặc trưng bằng gen di truyền bẩm sinh, là cơ sở đầu tiên cho sự phát triển trí tuệ, thể lực và đạo đức nghề nghiệp của cá nhân Có những dòng họ có gen thông minh phù hợp với công việc nghiên cứu, sáng tạo nhưng cũng có những dòng họ lại có năng lực thực hành vì kỹ năng khéo léo, yếu tố này rất quan trọng cho việc định hướng nghề nghiệp và chính sách phát hiện nuôi dưỡng nhân tài của gia đình, địa phương và quốc gia Sức khỏe và đạo đức của người lao động cũng chịu ảnh hưởng của nguồn gốc sinh ra., khi xây dựng các chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhất là phát triển nhân tài cần phải chú ý đến đặc điểm này bởi vì chế độ dinh dưỡng và giáo dục cho phù hợp là điều kiện để kích thích sự phát triển của trí tuệ và thể lực của họ
- Mức độ nỗ lực của mỗi cá nhân: phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
là một quá trình liên tục và được tích lũy một cách có ý thức, vì vậy, sự phấn đấu của chính bản thân mỗi cá nhân là hết sức quan trọng
Hai là, tính chất nghề nghiệp và tinh thần hợp tác của nguồn lực lao động
chất lượng cao
Thông thường, những người giỏi thường có tính độc lập và tự chủ cao nên để phát huy tính sáng tạo cần có môi trường làm việc thoải mải để sáng tạo và cống
Trang 35hiến, những tri thức được nhân lên nhờ tinh thần hợp tác của các cá nhân trong tổ chức; điều này chịu ảnh hưởng của tính chất nghề nghiệp, văn hóa của tổ chức Do
đó, không chỉ ở một số lĩnh vực đòi hỏi phải có sự hợp tác trong công việc như hoạt động quản lý, nghiên cứu khoa học… mà ở các lĩnh vực khác sự chia sẻ, hợp tác trong công việc cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của nguồn nhân lực chất lượng cao nhất là giữa các thế hệ trong tổ chức
1.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của một số địa phương, khu vực trong và ngoài nước
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số nước
* Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Hàn Quốc tập trung chủ yếu vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua hai nội dung chính:
Một là, coi giáo dục đào tạo, sử dụng hợp lý nguồn nhân lực chất lượng cao
là nhân tố quan trọng hàng đầu phát triển nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức, cũng giống như các nền kinh tế phát triển khác
Hàn Quốc chủ trương tuyển chọn bồi dưỡng người tài giỏi rất rõ ràng và từ rất sớm, chính sách này được thực hiện một cách có hệ thống; các học sinh có năng khiếu, có năng lực đặc biệt được tuyển chọn vào các lớp năng khiếu Tốt nghiệp Trung học phổ thông, những học sinh xuất sắc được đưa ra nước ngoài học tập, tiếp thu khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của những nước phát triển; có nhiều du học sinh trình độ cao học đã góp phần quan trọng nâng cao trình độ khoa học – công nghệ Hàn Quốc
Việc sử dụng lao động có trình độ cao của Hàn Quốc không áp dụng hình thức thuê lao động làm việc đến suốt đời như Nhật Bản Lao động làm việc không tốt sẽ bị sa thải ngay hoặc người làm công cũng dễ dàng chuyển tới làm việc cho những công ty trả lương cao hơn, điều kiện lao động tốt hơn Điều này tạo ra một áp lực cạnh tranh nâng cao trình độ rất cao giữa các nhân viên cũng như sự cạnh tranh giữa chính sách đãi ngộ nhân tài của người sử dụng lao động
Trang 36Chính sách thu hút nhân tài từ nước ngoài trở về Hàn Quốc làm việc cũng rất
có hiệu quả Ngay từ năm 1968, Hàn Quốc đã bắt đầu thực hiện chính sách: “kế hoạch hóa đưa nhân tài về nước”, theo đó có rất nhiều ưu đãi đi kèm như: nhà ở, môi trường làm việc hiện đại, trả lương cao …
Hai là, coi việc ứng dụng thành tựu khoa họ kỹ thuật hiện đại, công nghệ
mới vào việc sản xuất kinh doanh như một biện pháp quan trọng để phát triển tay nghề, trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc ứng dụng khoa học – công nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh đòi hỏi nguồn nhân lực phải có một trình độ khoa học – kỹ thuật tương ứng mới có thể tiếp nhận và quản lý công nghệ; khi trình độ của người lao động phát triển đến một trình độ nhất định, từ đó lại là cơ sở cho việc tiếp thu công nghệ mới cao hơn, hiện đại hơn Đây cũng là một trong những kinh nghiệm của Hàn Quốc để phát triển một đội ngũ nhân lực làm chủ các ngành công nghiệp quan trọng như: sản xuất thép, xe hơi, đóng tàu, điện tử … ngang bằng những quốc gia công nghiệp phát triển, đó cũng là kết quả của chính sách quan tâm đầu tư thích đáng cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) của Hàn Quốc, hiện nay, mức đầu tư cho R&D của Hàn Quốc ở mức cao, chiếm 3% GNP
* Kinh nghiệm của Thái Lan
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Thái Lan được thực hiện theo hai hướng: phần lớn được đào tạo kỹ năng khoa học – công nghệ có tính phổ cập để tiếp nhận được các công nghệ nhập từ nước ngoài đang áp dụng rất rộng rãi trong các ngành kinh tế quốc dân, một bộ phận được đào tạo cơ bản và nâng cao để làm các nhiệm vụ nghiên cứu sáng tạo khoa học – công nghệ, các trường đại học và viện nghiên cứu được đầu tư kinh phí khá nhiều cho thực hiện nghiên cứu khoa học – công nghệ (khoảng 400 triệu USD vào năm 2010) Những đóng góp lớn nhất của nhân lực khoa học – công nghệ là ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp, công nghệ chế biến nông sản, hải sản, công nghệ dệt may, công nghệ điện
tử và máy tính, công nghệ vật liệu và kim loại So với các nước ở trình độ phát triển tương tự thì nguồn nhân lực chất lượng cao của Thái Lan không mạnh, đầu tư cho
Trang 37khoa học – công nghệ không nhiều, nhưng khoa học – công nghệ đã góp phần quan trọng vào chuyển hướng phát triển kinh tế Thái Lan trong 2-3 chục năm qua, đặc biệt trong thập niên đầu của thế kỷ XXI là nhờ Thái Lan có nguồn nhân lực cao có khả năng ứng dụng công nghệ tiên tiến của nước ngoài
Thái Lan ưu tiên nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của đất nước Mục tiêu tổng quát của Thái Lan nhằm ưu tiên nâng cao chất lượng dân số: tất cả công dân Thái Lan khi sinh ra được hỗ trợ phát triển ở mọi lứa tuổi nhằm đáp ứng nhu cầu gia tăng lực lượng lao động có chất lượng tốt Gia đình và cộng đồng có trách nhiệm tham gia để đảm bảo an sinh cho người cao tuổi, phù hợp với khả năng của hệ thống phúc lợi xã hội
Chính sách dân số mới của Thái Lan đã đề ra 3 nhiệm vụ chính: tăng cường chăm sóc sức khỏe sinh sản ở tất cả các lứa tuổi nhằm bảo đảm trẻ sinh ra có tố chất tốt, tạo điều kiện hỗ trợ sinh sản cho các cặp vợ chồng; cung cấp các khả năng phù hợp nhằm phát triển ở mọi lứa tuổi Đẩy mạnh khả năng tự lực sau khi về hưu cho tất cả mọi người nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đồng thời chính phủ Thái Lan đảm bảo cung cấp tất cả các dịch vụ xã hội với chất lượng tốt cho mọi người dân
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số địa phương trong nước
* Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng
Từ quá trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố Đà Nẵng có thể rút ra những kinh nghiệm bổ ích sau đây:
Một là, khai thác lợi thế của thành phố về vị trí địa lý, tiềm năng du lịch và
các tiềm năng khác, tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ ngành dịch vụ và công nghiệp chế biến (công nghiệp thực phẩm, đồ uống), đầu tư mạnh để phát triển các ngành này
Từ năm 1997 đến năm 2002, thành phố đã đầu tư cho ngành dịch vụ tăng từ 41,5% (1997) lên 70,7% (2002); đầu tư cho ngành công nghiệp đồ uống chiếm 27,8% tổng số vốn đầu tư cho ngành công nghiệp chế biến
Trang 38Hai là, đẩy mạnh thu hút đầu tư, thành lập Quỹ khoa học – công nghệ thành
phố, xây dựng và thực hiện Đề án Phát triển khu công nghệ cao gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Đà Nẵng đã cải cách một cách cơ bản môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh nên đã được các nhà đầu tư Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản … rất quan tâm
Ủy ban nhân dân thành phố đã ra quyết định số 3652/QĐ-UBND ngày 19 tháng 5 năm 2009 về việc thành lập Trung tâm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố, phục vụ việc thực hiện Đề án Phát triển khu công nghệ cao trong đó có
Đề án số 393 về đào tạo 100 tiến sĩ, thạc sĩ ở các cơ sở đào tạo của nước ngoài, tạo những “hạt giống” để phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố; trung tâm có nhiệm vụ phát hiện những người có khả năng để gửi đi đào tạo ở nước ngoài và phát hiện học sinh ở các cấp có khả năng thực sự để định hướng gửi
đi đào tạo
Ba là, tận dụng năng lực của các trường đại học và các cơ sở đào tạo trên địa
bàn thành phố để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Các trường đại học như Đại học Đà Nẵng, Đại học Bách khoa Đà Nẵng và các cơ sở đào tạo trên địa bàn thành phố đã được cấp ủy, chính quyền thành phố tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ; đồng thời phối hợp chặt chẽ với thành phố trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Đại học
Đà Nẵng cùng với Đại học Bách khoa Đà Nẵng đã và đang cung cấp một nguồn nhân lực chất lượng cao cho nhà máy lọc dầu Dung Quất, cho các tỉnh, thành phố phía Nam và đã xuất khẩu “kỹ sư” sang Nhật Bản
* Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Nai
Trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tỉnh Đồng Nai có một số kinh nghiệm đáng tham khảo như sau:
Một là, củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục – đào tạo
và xem đây là khâu đột phá đồng thời phối hợp chặt chẽ với các trường Đại học trên địa bàn tỉnh và thành phố Hồ Chí Minh để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 39phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu sớm đưa tỉnh Đồng Nai trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại Bên cạnh đó, tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với các trường trên địa bàn và ngoại tỉnh để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho địa phương và tỉnh cũng đã mở Văn phòng đại diện Sở khoa học – công nghệ tại thành phố Hồ Chí Minh để trực tiếp, kịp thời huy động nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh
Hai là, triển khai mạnh mẽ các hoạt động nghiên cứu khoa học, trọng tâm là
các đề tài phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp, nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ hiện đại nhất là công nghệ sinh học và các đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn
Ba là, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của Liên hiệp các Hội khoa
học – kỹ thuật tỉnh nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra cho những năm tiếp theo
1.4 Bài học rút ra cho tỉnh Cà Mau về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao từ nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và các địa phương trong nước
Từ phân tích kinh nghiệm của các địa phương và các nước Châu Á đã nêu trên, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho tỉnh Cà Mau trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao như sau:
Một là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải bắt nguồn và gắn liền với quá trình giáo dục – đào tạo
Hai là, chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có mối quan hệ nhân quả với chính sách phát triển khoa học – công nghệ và chính sách giáo dục – đào tạo
Ba là, chính sách sử dụng nguồn nhân lực hợp lý sẽ tạo động lực cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Bốn là, huy động sự đóng góp của toàn xã hội là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện thành công chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 40Năm là, chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình và y tế có ảnh hưởng đáng
kể đến chất lượng dân số và chất lượng nguồn lực lao động chất lượng cao