1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

88 665 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯƠNG THÙY DƯƠNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CÁC ĐẶC TÍNH CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN SỰ TRÌNH BÀY SAI SÓT SỐ LIỆU TRÊN BÁO C

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG THÙY DƯƠNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CÁC ĐẶC TÍNH CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN SỰ TRÌNH BÀY SAI SÓT SỐ LIỆU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT

TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG THÙY DƯƠNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CÁC ĐẶC TÍNH CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN SỰ TRÌNH BÀY SAI SÓT SỐ LIỆU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT

TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TP.Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc

tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là kết quả của

quá trình học tập, nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ của người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Trần Thị Giang Tân Các số liệu, thông tin sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy

TP.Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2015

Tác giả

Trương Thùy Dương

Trang 4

MỤC LỤC Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục biểu bảng

Danh mục biểu hình

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN 3

6 KẾT CẤU LUẬN VĂN 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ KHE HỔNG NGHIÊN CỨU 4

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC 4

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 4

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 7

1.2 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ KHE HỔNG NGHIÊN CỨU 9

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 10

2.1 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 10

2.1.1 Hội đồng quản trị 10

2.1.2 Sai sót báo cáo tài chính 14

2.2 CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG GIẢI THÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN SAI SÓT SỐ LIỆU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 17

2.2.1 Lý thuyết người đại diện (Agency theory) 17

2.2.2 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary Costs Theory) 17

Trang 5

3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 19

3.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 20

3.2.1 Giả thuyết nghiên cứu 20

3.2.2 Mô hình nghiên cứu 22

3.2.3 Các biến nghiên cứu 24

3.3 CHỌN MẪU VÀ THU THẬP DỮ LIỆU 27

3.3.1 Xác định mẫu nghiên cứu 27

3.3.2 Quy trình chọn mẫu nghiên cứu 29

3.4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 30

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

4.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ 32

4.2 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN 38

4.3 KIỂM ĐỊNH INDEPENDENT T-TEST VÀ MANN-WHITNEY 39

4.4 PHÂN TÍCH HỒI QUY LOGISTIC 40

4.5 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 48

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50

5.1 KẾT LUẬN 50

5.2 KIẾN NGHỊ 51

5.2.1 Về quản trị công ty 51

5.2.2 Về kiểm toán 52

5.3 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CAQ: Center for Audit Quality-Trung tâm chất lượng kiểm toán

CEO: Chief Executive Officer-Tổng Giám đốc điều hành

ICB: Industry Classification Benchmark

OECD: Organization for Economic Co-operation and Development-Tổ chức hợp

tác và phát triển kinh tế

ROA: Return on Assets-Tỷ số lợi nhuận trên tài sản

ROE: Return on Equity-Tỷ số lợi nhuận trên vốn

VACPA: Vietnam Association of Certified Public Accountants-Hiệp hội kiểm toán

viên hành nghề Việt Nam

VSA: Vietnamese Standards on Auditing-Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC BIỂU BẢNG

Bảng 2.1: Mô tả các biến và phương pháp tính 23

Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả 33

Bảng 4.2: Các cặp biến có tương quan có ý nghĩa thống kê 38

Bảng 4.3: Kết quả phân tích tương quan, Independent t-test, Mann-whitney 39

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 40

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô hình tổng thể 40

Bảng 4.6: Kết quả phân tích hồi quy Binary Logistic 41

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định mức độ dự báo tính chính xác của mô hình 48

Trang 8

DANH MỤC BIỂU HÌNH

Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu 22

Hình 4.1: Thống kê mẫu theo nhóm ngành 32

Hình 4.2: Quy mô Hội đồng quản trị 34

Hình 4.3: Tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị không điều hành 34

Hình 4.4: Thành viên Hội đồng quản trị có mối quan hệ thân tộc 35

Hình 4.5: Nhiệm kỳ trung bình của các thành viên không tham gia vào điều hành 36 Hình 4.6: Sự kiêm nhiệm của Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành 37 Hình 4.7: Số lượng thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn kê toán, tài chính 37

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Chênh lệch số liệu trước và sau kiểm toán tại Việt Nam đang là vấn đề nhức nhói Cụ thể, theo số liệu thống kê của Vietstock vào tháng 4/2014, sau kiểm toán

có đến 80% doanh nghiệp trong số 500 doanh nghiệp đã ra báo cáo tài chính kiểm toán hợp nhất phải điều chỉnh số liệu tại khoản mục lợi nhuận sau thuế năm 2013 Đến ngày 25/3/2015, nguồn này cho biết có 330 doanh nghiệp công bố báo cáo tài chính kiểm toán 2014 đầy đủ, trong đó có tới 196 đơn vị, tức 59% có số liệu chênh lệch so với trước kiểm toán Nhiều doanh nghiệp có lợi nhuận bị “bốc hơi”, thậm chí chuyển từ lãi sang lỗ và ngược lại với chênh lệch đến 70, 80 tỷ đồng Sự sai sót

số liệu quá lớn như vậy đã gây cho các nhà đầu tư thiệt hại vô cùng lớn, tạo cho họ tâm lý hoang mang, ngại đầu tư vào thị trường Việt Ngoài ra, sự chênh lệch số liệu này còn gây ra hàng loạt tác hại khác như làm giảm niềm tin vào thị trường vốn, làm cho thị trường vốn kém hiệu quả, phá vỡ hoạt động bình thường của thị trường, thiệt hại kinh tế,… và nhất là làm xấu đến sự tăng trưởng và thịnh vượng của một quốc gia Những sai sót số liệu này có thể do yếu kém về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ hoặc do cố ý vi phạm các nguyên tắc chuẩn mực kế toán khi lập và trình bày báo cáo tài chính Nếu không có cách khắc phục kịp thời, sự sai sót số liệu trên báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán có thể gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh

tế nước nhà

Vậy quản trị doanh nghiệp cần như thế nào để hạn chế những trường hợp sai lệch số liệu như trên Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về Ảnh hưởng của quản trị doanh nghiệp đến việc giảm thiểu sai sót số liệu báo cáo tài chính, các nghiên cứu này đã chứng minh được các bộ phận trong quản trị doanh nghiệp có vai trò lớn đối với giảm thiểu sai sót số liệu trên báo cáo tài chính và một trong các nhân tố, là hội đồng quản trị Ảnh hưởng của từng đặc điểm của Hội đồng quản trị với việc trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính được các tác giả nước ngoài nghiên cứu rất nhiều Tuy nhiên tại Việt Nam, vấn đề này chưa được quan tâm trong khi

tinh trạng của nó rất nghiêm trọng Do đó tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh

hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để

Trang 10

tìm hiểu mối quan hệ này ở Việt Nam đồng thời giúp người dùng báo cáo cũng như doanh nghiệp có cái nhìn và hành động đúng đắn

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu chung: Nghiên cứu này kiểm định nhằm đưa ra bằng chứng thực

nghiệm về tác động các đặc tính Hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó giúp người sử dụng báo cáo cũng như doanh nghiệp có cái nhìn đúng đắn hơn về báo cáo tài chính và dựa vào đó có quyết định đúng đắn trong các hoạt

động chuyên môn của họ

Từ mục tiêu cụ thể như trên, tác giả đề ra câu hỏi nghiên cứu như sau:

- Các đặc tính nào của Hội đồng quản trị có tương quan với sự sai sót số liệu trên báo cáo tài chính?

- Mức độ ảnh hưởng của các đặc tính đó lên sự sai sót số liệu trên báo cáo tài chính như thế nào?

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là các báo cáo tài chính có sai sót trọng yếu của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội

có thời gian niêm yết từ năm 2011-2014

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Với mục tiêu nghiên cứu như trên, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Bằng phương pháp phân tích tương quan (correlation analysis), kiểm định Independent t-test, kiểm định Mann-Whitney và phân tích hồi quy Logistic, tác giả kiểm định các giả thuyết đưa ra về ảnh hưởng của các đặc tính hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính

Trang 11

6 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu, kết cấu luận văn gồm 5 chương:

- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu trước

Chương này sẽ tổng quan và nhận xét nội dung của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã được thực hiện có liên quan đến Hội đồng quản trị và báo cáo tài chính; đồng thời xác định những kết quả đạt được và vấn đề cần tiếp tục

nghiên cứu

- Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trình bày khái niệm Hội đồng quản trị và sai sót số liệu trên báo cáo tài chính Nêu nội dung các lý thuyết, phương pháp, cách tiếp cận liên quan đến đề tài

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Từ phần tổng quan các nghiên cứu trước và cơ sở lý thuyết, chương này đề xuất phương pháp nghiên cứu, xây dựng mô hình nghiên cứu, mẫu, để giải quyết

cụ thể cho hai mục tiêu nghiên cứu đưa ra

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Trình bày kết quả nghiên cứu thu được theo hai mục tiêu đã đề ra về mối quan

hệ giữa Hội đồng quản trị và sự sai sót số liệu trên báo cáo tài chính

- Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt nghiên cứu, thảo luận các vấn đề xoay quanh kết quả đạt được, hạn chế nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ KHE HỔNG

NGHIÊN CỨU

Trong chương này, tác giả tổng quan về các nghiên cứu trước của trong và ngoài nước đã được thực hiện có liên quan đến ảnh hưởng của các đặc tính của Hội đồng quản trị đến sai sót số liệu trên báo cáo tài chính; đồng thời xác định những

kết quả đạt được cũng như khe hổng nghiên cứu, vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Quản trị công ty vả ảnh hưởng của nó đến sai sót trên BCTC là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm vì vai trò quan trọng của quản trị công ty trong việc phát triển của nền kinh tế Trong số những nghiên cứu về quản trị công ty, nghiên cứu về vai trò Hội đồng quản trị là một trong các đối tượng được quan tâm đáng kể

Shamsul Nahar Abdullah (2010): “Financial restatements and corporate governance among Malaysian listed companies” Mục tiêu của nghiên cứu là

xem xét các tác động của Bộ luật Malaysia về quản trị doanh nghiệp đến bản chất việc công bố lại báo cáo tài chính tại Malaysia Số liệu cho bài viết này được lấy từ các báo cáo hàng năm đã phải trình bày lại trong giai đoạn 2002-2005 Một nhóm mẫu đối ứng bao gồm các công ty không trình bày và tương đồng với nhóm trình bày lại về kích thước, ngành và năm tài chính Dữ liệu được phân tích bằng cách sử dụng thử nghiệm t-test, mối tương quan Pearson và hồi quy logistic Các kết quả cho thấy rằng lý do chính của sự sai sót báo cáo tài chính là để thổi phồng lợi nhuận Bài nghiên cứu không tìm thấy được mối liên hệ giữa sự kiêm nhiệm, sự độc lập và việc phải điều chỉnh lại báo cáo tài chính Cuối cùng, kết quả cho thấy các công ty có mức độ cao về các khoản nợ có nhiều khả năng có sai sót trọng yếu về tài chính

Agrawal, A and Chadha, S., (2005): Corporate governance and accounting scandals Bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của cơ chế quản trị doanh nghiệp đến xác

suất trình bày sai sót thu nhập trên báo cáo tài chính Tác giả thu thập dữ liệu của

318 công ty gồm 159 cặp công ty có và không có việc trình bày lại chỉ tiêu thu nhập

Trang 13

quản trị ảnh hưởng đến báo cáo tài chính như: thành viên độc lập có chuyên môn tài chính làm giảm rủi ro việc trình bày lại thu nhập trên báo cáo tài chính trong khi biến thành viên có mối quan hệ thân tộc làm tăng xác suất này Ngược lại, sự độc lập của Hội đồng không ảnh hưởng đến sự trình bày thu nhập

Efendi (2007) Why do corporate managers misstate financial statements? The role of option compensation and other factors Tác giả điều tra các nguyên

nhân dẫn đến sai sót báo cáo tài chính cuối giai đoạn bong bóng thị trường năm

1990 Kết quả cho thấy khi một CEO là chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ làm tăng khả năng có sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính Ngoài ra còn một số yếu tố khác ảnh hưởng đến khả năng sai sót trọng yếu như lượng cổ phần của CEO, chi phí đại diện Bên cạnh đó, chỉ số nợ cũng làm tăng khả năng sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính

Klein (2002) Audit committee, board of director characteristics, and earnings management Ở nghiên cứu này tác giả tìm xem liệu có mối quan hệ nào

giữa Ban kiểm toán và Hội đồng quản trị đến quản lý thu nhập không? Về các biến Hội đồng quản trị, tác giả tìm thấy ảnh hưởng nghịch giữa sự độc lập của Hội đồng quản trị - thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài – với sự điều chỉnh thu nhập Sự độc lập của Ban kiểm toán và các khoản trích trước bất thường cũng có mối quan hệ tương tự với sự điều chỉnh thu nhập

Smaili (2013): Corporate Governance and Financial Reporting Irregularities Nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của hội đồng quản trị, ban kiểm

toán, và kiểm toán viên (là cá nhân cơ chế quản trị doanh nghiệp) đến sự bất thường của báo cáo tài chính Báo cáo tài chính bất thường được chia làm 3 mức độ không tuân thủ các quy định liên quan Mẫu thu thập gồm 107 công ty có báo cáo tài chính vi phạm và 107 công ty kiểm soát tương đồng ngành, quy mô Kết quả cho thấy mức độ không tuân thủ của các doanh nghiệp thực sự cao hơn khi: (1) có ít thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị và các ủy ban kiểm toán, và không có cổ đông lớn hoặc cá nhân sở hữu một phần quan trọng của công ty cổ phần, (2) gần đây đã thay đổi kiểm toán viên, (3) có một giám đốc điều hành đồng thời là chủ tịch Hội đồng quản trị, và (4) có biểu hiện giao tiếp kém giữa ủy ban kiểm toán công ty

và kiểm toán viên bên ngoài

Trang 14

Uzun et al., (2004) Board Composition and Corporate Fraud Nghiên cứu

kiểm tra các đặc điểm khác nhau của Hội đồng quản trị và các tính năng quản trị khác ảnh hưởng như thế nào đến sự xuất hiện gian lận của công ty Mỹ trong giai đoạn 1978-2001 Các phát hiện cho thấy rằng thành phần hội đồng quản trị và cấu trúc của một ủy ban giám sát của hội đồng quản trị có tương quan đáng kể với tỷ lệ gian lận của công ty Kết quả cho thấy số lượng các giám đốc độc lập bên ngoài tăng lên làm giảm việc làm sai trái của công ty

Vafeas, N (2000): Board structure and the informativeness of earnings

Nghiên cứu này dựa trên nghiên cứu trước đó về quản trị doanh nghiệp và nghiên cứu xem liệu chất lượng thông tin về thu nhập, đại diện bởi các mối quan hệ thu nhập-lợi nhuận, có thay đổi theo tỷ lệ giám đốc bên ngoài phục vụ trong Hội đồng quản trị và quy mô Hội đồng quản trị không Kết quả cho thấy thu nhập của các công ty với quy mô Hội đồng nhỏ nhất trong mẫu (với tối thiểu của năm thành viên hội đồng quản trị) được coi như là thông tin tin cậy hơn của người tham gia thị trường Ngược lại, không có bằng chứng cho thấy thành phần hội đồng quản trị làm giảm nhẹ mối quan hệ thu nhập-lợi nhuận

Matousi (2011): Board independence and corporate fraud: the case of tunisian firms Nghiên cứu điều tra một mẫu của 64 công ty Tunisia Kết quả cho

thấy các thành viên Hội đồng quản trị có mối thân tộc và nhiệm kỳ của giám đốc bên ngoài làm tăng mạnh xác suất của gian lận Tuy nhiên, tác giả nhận thấy sự hiện diện của giám đốc bên ngoài không phải là một cơ chế hiệu quả để ngăn chặn gian lận báo cáo tài chính

Haniffa và Cooke, (2002): Culture, corporate governance and disclosure in Malaysian corporations Nghiên cứu này dùng phương pháp hồi quy để điều tra

liệu quản trị doanh nghiệp và các thuộc tính cá nhân ngoài đặc điểm đặc biệt của công ty có là yếu tố quyết định công bố thông tin tự nguyện ở Malaysia hay không Kết quả cho thấy tầm quan trọng tiềm năng của hai biến số quản trị công ty là vị trí thành viên Hội đồng không điều hành và tỷ lệ của các thành viên có mối quan hệ thân tộc trong Hội đồng quản trị

Trang 15

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Cao Nguyễn Lệ Thư, luận văn thạc sĩ Đại học Kinh Tế TP.HCM (2014):

“Đánh giá các nhân tố bên trong doanh nghiệp tác động đến chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết ở sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh” Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận về thông tin kế

toán, chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính; đánh giá thực trạng chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết; xác định những nhân tố ảnh hưởng đến thông tin tài chính trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh từ

đó đưa ra giải pháp cải thiện chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính Đề thực hiện các mục tiêu này, tác giả sử dụng các phương pháp định tính kết hợp với các phương pháp định lượng như: phương pháp hồi quy tuyến tính bội, phân tích tương quan, phân tích phương sai ANOVA Kết quả nghiên cứu đã tìm ra được các nhân

tố bên trong doanh nghiệp tác động đến chất lượng thông tin kế toán bao gồm quy

mô doanh nghiệp, thành viên Hội đồng quản trị không điều hành, kết cấu vốn nhà nước

Phan Minh Nguyệt, luận văn thạc sĩ Đại học Kinh Tế TP.HCM (2014): “Xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin

kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở Việt Nam”

Mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính; đánh giá thực trạng các đối tượng sử dụng; xác định các nhân tố ảnh hưởng và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của công ty niêm yết ở Việt Nam Tác giả sử dụng phương pháp thiết kế, khám phá thăm dò, xây dựng bảng câu hỏi khảo sát và hồi quy tuyến tính Kết quả cho rằng rủi ro kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty kiểm toán đối với các công ty niêm yết, nhà quản trị công ty, lập và trình bày báo cáo tài chính, chi phí và lợi ích khi lập báo cáo tài chính và thuế là năm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính

Hồ Phan Khánh Linh, luận văn thạc sĩ Đại học Kinh Tế TP.HCM (2015):

“Mối liên hệ giữa cấu trúc Hội đồng quản trị và thành quả hoạt động của doanh nghiệp - bằng chứng tại các công ty phi tài chính đang niêm yết trên thị

Trang 16

trường chứng khoán Việt Nam Nam” Bằng bốn phương pháp hồi quy phổ biến

được các nhà nghiên cứu lựa chọn là phương pháp bình quân bé nhất (OLS), phương pháp mô hình tác động cố định (FEM), phương pháp mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) và phương pháp moment tổng quát (GMM), nghiên cứu không tìm ra mối quan hệ nào giữa cấu trúc Hội đồng quản trị và thành quản hoạt động doanh nghiệp, trong khi đó thành quả hoạt động một năm về trước của công ty có tác động thuận chiều với thành quả trong năm hiện tại của công ty

Hồ Mỹ Hòa, luận văn thạc sĩ Đại học Kinh Tế TP.HCM (2013): “Nghiên cứu ảnh hưởng của đặc tính Hội đồng quản trị và cấu trúc sở hữu đến thành quả tài chính của các công ty Việt Nam” Với mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của đặc

tính Hội đồng quản trị và cấu trúc sở hữu đến thành quả tài chính của công ty cổ phần được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng và cho nhiều kết quả, trong đó có việc khẳng định rằng tỷ

lệ thành viên Hội đồng quản trị càng độc lập thì càng làm ROE và ROA sụt giảm Tuy nhiên quy mô dữ liệu của bài nghiên cứu này còn chưa đủ lớn để khái quát hóa

và làm đại diện cho tất cả các công ty cổ phần niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội

Huỳnh Thị Ánh Tuyết, luận văn thạc sĩ Đại học Kinh Tế TP.HCM (2013):

“Ảnh hưởng của quy mô Hội đồng quản trị và sự kiêm nhiệm Giám đốc điều hành đến đến giá trị thị trường của các doanh nghiệp bằng chứng tại Việt Nam” Luận văn này được tác giả thực hiện nhằm mục tiêu xem xét mức độ ảnh

hưởng của quy mô Hội đồng quản trị và sự kiêm nhiệm Giám đốc điều hành đến giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2008-2012 Bằng phương pháp hồi quy trong dữ liệu bảng, tác giả thực hiện được mục tiêu đề ra Thứ nhất, quy mô Hội đồng quản trị có

ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa 1% và có ảnh hưởng ngược chiều đến giá trị thị trường Thứ hai, sự kiêm nhiệm Giám đốc điều hành sẽ làm tăng giá trị công ty Tuy nhiên, với bài nghiên cứu này, tác giả chỉ thu thập mẫu với 130 doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE, và tác giả chỉ xem xét 2 đặc tính của Hội đồng quản trị là quy mô Hội đồng quản trị và sự kiêm nhiêm Giám đốc điều hành

Trang 17

1.2 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ KHE HỔNG NGHIÊN CỨU

Phần tổng quan nghiên cứu bên trên đã trình bày được các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và sai sót trên báo cáo tài chính Các nghiên cứu này phần nào phác họa được vai trò của Hội đồng quản trị đến sự sai sót số liệu trên báo cáo tài chính thông qua sáu đặc tính: Quy mô Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị không điều hành, thành viên Hội đồng có mối quan hệ thân tộc, nhiệm kỳ thành viên không điều hành và thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn kế toán tài chính

Tuy nhiên, ở phạm vi trong nước, các nghiên cứu chỉ tập trung đến mối quan

hệ giữa Hội đồng quản trị và chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính, chưa đi cụ thể, thực tiễn vào hiện tượng sai sót số liệu nghiêm trọng hiện nay Ở phạm vi thế giới, các nghiên cứu tập trung vào sự ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính lại xuất phát từ nhiều yếu tố dàn trải, không tập trung nghiên cứu sâu vào các đặc tính Hội đồng quản trị Trong khi đó, các nghiên cứu về ảnh hưởng của các đặc tính Hội đồng quản trị lại chỉ hướng vào yếu tố là gian lận – một phần của sai sót báo cáo tài chính

Xác định được khe hổng này, tác giả thực hiện nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của các đặc tính Hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính, một vấn đề ngày càng nghiêm trọng, thấy rõ nhất tại thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 18

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương này gồm 2 phần: phần đầu tiên đề cập các khái niệm liên quan đến Hội đồng quản trị và sai sót số liệu trên báo cáo tài chính Phần tiếp theo trình bày các lý thuyết nền tảng giải thích ảnh hưởng của hội đổng quản trị đến sai sót trên

BCTC

2.1 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

2.1.1 Hội đồng quản trị

Căn cứ quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014:

2.1.1.1 Khái niệm Hội đồng quản trị

Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công

ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông

Ở mỗi công ty có một Hội đồng quản trị với những đặc tính khác nhau, tùy thuộc vào quy mô công ty, ngành nghề kinh doanh, cổ đông,… Trong bài này, yếu

tố Hội đồng quản trị được tác giả phân tích trên 6 đặc tính, bao gồm:

- Quy mô Hội đồng quản trị;

- Thành viên Hội đồng quản trị không điều hành;

- Thành viên Hội đồng quản trị có mối quan hệ thân tộc;

- Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không điều hành;

- Sự kiêm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành;

- Thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn kế toán, tài chính cao

Quyền và nghĩa vụ Hội đồng quản trị

a) Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty;

b) Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại;

c) Quyết định bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác;

d) Quyết định giá bán cổ phần và trái phiếu của công ty;

đ) Quyết định mua lại cổ phần theo quy định tại khoản 1 Điều 130 của Luật

Trang 19

e) Quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới hạn theo quy định của pháp luật;

g) Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;

h) Thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc giá trị khác Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng và giao dịch quy định, tại điểm d khoản 2 Điều 135, khoản 1 và khoản 3 Điều 162 của Luật này;

i) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị; bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định; quyết định, tiền lương

và quyền lợi khác của những người quản lý đó; cử người đại diện theo ủy quyền tham gia Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông ở công ty khác, quyết định mức thù lao và quyền lợi khác của những người đó;

k) Giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác trong điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty;

l) Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty, quyết định thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác;

m) Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp Đại hội đồng cổ đông, triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến để Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định;

n) Trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên Đại hội đồng cổ đông; o) Kiến nghị mức cổ tức được trả; quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc xử lý lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh;

p) Kiến nghị việc tổ chức lại, giải thể, yêu cầu phá sản công ty;

q) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty

2.1.1.2 Nhiệm kỳ và số lượng thành viên Hội đồng quản trị

1 Hội đồng quản trị có từ 03 đến 11 thành viên Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng thành viên Hội đồng quản trị

Trang 20

2 Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên độc lập Hội đồng quản trị không quá 05 năm và có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế

Số lượng, thời hạn cụ thể của nhiệm kỳ, số thành viên Hội đồng quản trị phải thường trú ở Việt Nam do Điều lệ công ty quy định

3 Trường hợp tất cả thành viên Hội đồng quản trị cùng kết thúc nhiệm kỳ thì các thành viên đó tiếp tục là thành viên Hội đồng quản trị cho đến khi có thành viên mới được bầu thay thế và tiếp quản công việc, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác

4 Trường hợp công ty cổ phần được tổ chức quản lý theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 134 của Luật này thì các giấy tờ, giao dịch của công ty phải ghi rõ

“thành viên độc lập” trước họ, tên của thành viên Hội đồng quản trị tương ứng

5 Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, quyền, nghĩa vụ, cách thức tổ chức và phối hợp hoạt động của các thành viên độc lập Hội đồng quản trị

2.1.1.3 Cơ cấu, tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Hội đồng quản trị

1 Thành viên Hội đồng quản trị phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây: a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc đối tượng không được quản lý doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 18 của Luật này;

b) Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh của công ty

và không nhất thiết phải là cổ đông của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác

c) Thành viên Hội đồng quản trị công ty có thể đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị của công ty khác

d) Đối với công ty con mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thì thành viên Hội đồng quản trị không được là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty; không được là người có liên quan của người quản lý, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ

2 Thành viên độc lập Hội đồng quản trị theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 134 của Luật này có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây, trừ trường hợp pháp

Trang 21

a) Không phải là người đang làm việc cho công ty, công ty con của công ty; không phải là người đã từng làm việc cho công ty, công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước đó

b) Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên Hội đồng quản trị được hưởng theo quy định;

c) Không phải là người có vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của công ty; là người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty;

d) Không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty;

đ) Không phải là người đã từng làm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát của công ty ít nhất trong 05 năm liền trước đó

3 Thành viên độc lập Hội đồng quản trị phải thông báo với Hội đồng quản trị

về việc không còn đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều này và đương nhiên không còn là thành viên độc lập Hội đồng quản trị kể từ ngày không đáp ứng đủ điều kiện Hội đồng quản trị phải thông báo trường hợp thành viên độc lập Hội đồng quản trị không còn đáp ứng đủ điều kiện tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông gần nhất hoặc triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông để bầu bổ sung hoặc thay thế thành viên độc lập Hội đồng quản trị đó trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày nhận được thông báo của thành viên độc lập Hội đồng quản trị có liên quan

2.1.1.4 Chủ tịch Hội đồng quản trị

1 Hội đồng quản trị bầu một thành viên của Hội đồng quản trị làm Chủ tịch Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này và Điều lệ công ty, pháp luật về chứng khoán không có quy định khác

2 Công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số phiếu biểu quyết thì Chủ tịch Hội đồng quản trị không được kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

3 Chủ tịch Hội đồng quản trị có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Lập chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng quản trị;

b) Chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu phục vụ cuộc họp; triệu tập và chủ tọa cuộc họp Hội đồng quản trị;

Trang 22

c) Tổ chức việc thông qua nghị quyết của Hội đồng quản trị;

d) Giám sát quá trình tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng quản trị; đ) Chủ tọa cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, cuộc họp Hội đồng quản trị;

e) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty

4 Trường hợp Chủ tịch Hội đồng quản trị vắng mặt hoặc không thể thực hiện được nhiệm vụ của mình thì ủy quyền bằng văn bản cho một thành viên khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch Hội đồng quản trị theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty.Trường hợp không có người được ủy quyền thì các thành viên còn lại bầu một người trong số các thành viên tạm thời giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị theo nguyên tắc đa số

5 Khi xét thấy cần thiết, Chủ tịch Hội đồng quản trị tuyển dụng thư ký công ty

để hỗ trợHội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị thực hiện các nghĩa vụ thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty Thư ký công ty

có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Hỗ trợ tổ chức triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị; ghi chép các biên bản họp;

b) Hỗ trợ thành viên Hội đồng quản trị trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao;

c) Hỗ trợ Hội đồng quản trị trong áp dụng và thực hiện nguyên tắc quản trị công ty;

d) Hỗ trợ công ty trong xây dựng quan hệ cổ đông và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông;

đ) Hỗ trợ công ty trong việc tuân thủ đúng các nghĩa vụ cung cấp thông tin, công khai hóa thông tin và thủ tục hành chính;

e) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định tại Điều lệ công ty

6 Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể bị bãi miễn theo quyết định của Hội đồng quản trị

2.1.2 Sai sót báo cáo tài chính

Theo Trung tâm chất lượng kiểm toán (CAQ), sai sót báo cáo tài chính là khi

có sai sót so với chuẩn mực kế toán chung được chấp nhận trong báo cáo tài chính

Trang 23

nộp cho ủy ban chứng khoán do lỗi cố ý hoặc vô ý Sai sót được điều chỉnh thông qua việc báo cáo lại

Theo Chuẩn mực kiểm toán 240 (VSA 240), sai sót trênbáo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn Để phân biệt giữa gian lận và nhầm lẫn, cần phải xem xét xem hành vi dẫn đến sai sót trong báo cáo tài chính là cố ý hay không

cố ý

Gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp

Bỏ sót hoặc sai sót trọng yếu: Việc bỏ sót hoặc sai sót được coi là trọng yếu nếu chúng có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Mức độ trọng yếu phụ thuộc vào quy mô và tính chất của các bỏ sót hoặc sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Quy mô, tính chất của khoản mục là nhân tố quyết định đến tính trọng yếu Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) 320, các thuật ngữ liên quan đến tính trọng yếu được hiểu như sau:

- Trọng yếu: Là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính;

- Mức trọng yếu: Là một mức giá trị do kiểm toán viên xác định tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh

cụ thể Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính;

- Mức trọng yếu thực hiện: Là một mức giá trị hoặc các mức giá trị do kiểm toán viên xác định ở mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính nhằm giảm khả năng sai sót tới một mức độ thấp hợp lý để tổng hợp ảnh hưởng của các sai sót không được điều chỉnh và không được phát hiện không vượt quá mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính Trong một số trường hợp, “mức trọng

Trang 24

yếu thực hiện” có thể hiểu là mức giá trị hoặc các mức giá trị do kiểm toán viên xác định thấp hơn mức hoặc các mức trọng yếu của một nhóm các giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh trên báo cáo tài chính

- Những sai sót, bao gồm cả việc bỏ sót, được coi là trọng yếu nếu những sai sót này, khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại, được xem xét ở mức độ hợp lý, có thể gây ảnh hưởng tới quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính;

- Những xét đoán về mức trọng yếu được thực hiện trong từng trường hợp cụ thể và bị ảnh hưởng bởi quy mô hay bản chất của sai sót, hoặc được tổng hợp của cả hai yếu tố trên;

- Những xét đoán về các vấn đề trọng yếu đối với người sử dụng báo cáo tài chính phải dựa trên việc xem xét các nhu cầu chung về thông tin tài chính của nhóm người sử dụng, như các nhà đầu tư, ngân hàng, chủ nợ, Những ảnh hưởng có thể

có của các sai sót đến một số ít người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính mà nhu cầu của họ có nhiều khác biệt so với phần lớn những người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính sẽ không được xét đến

Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (1999) cảnh báo các kiểm toán viên rằng nhân

tố định tính cần được xem xét cùng với nhân tố định lượng Các nhân tố giúp kiểm toán viên xác định tính trọng yếu định tính có thể kể gồm: ban quản lý doanh nghiệp; tình trạng kiểm soát nội bộ, nhóm người sử dụng BCTC, và các chính sách

kế toán(Krogstad; 1984) Các nhân tố giúp kiểm toán viên xác định tính trọng yếu định lượng thường có: thu nhập thuần, doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu,… Kiểm toán viên thường dựa vào mục đích người sử dụng báo cáo tài chính, đặc điểm kinh doanh, đặc điểm ngành, môi trường hoạt động,…

Trong bài, sai sót số liệu trên báo cáo tài chính được hiểu là chênh lệch số liệu giữa báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán Sai sót bao gồm cả gian lận và nhầm lẫn (theo chuẩn mực Kiểm toán VN VSA 200)

Trang 25

2.2 CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG GIẢI THÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN SAI SÓT SỐ LIỆU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

2.2.1 Lý thuyết người đại diện (Agency theory)

Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế, được phát triển bởi Alchian và Demsetz năm 1972, sau đó được Jensen và Meckling phát triển thêm vào năm 1976 Theo lý thuyết này, trong các công ty cổ phần, các cổ đông thông qua Hội đồng quản trị đã ủy thác việc điều hành cho người đại diện để thực hiện việc quản lý công ty mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty Lý thuyết về đại diện cho rằng, cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình Do vậy, trong nhiều trường hợp người đại diện – người quản lý công ty - sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông Mối quan hệ đại diện còn thể hiện trong mối quan hệ giữa nhà quản lý cấp cao với nhà quản lý các cấp thấp hơn trong hệ thống phân quyền, giữa nhà quản lý với người trực tiếp sử dụng các nguồn lực của tổ chức Do sự xung đột lợi ích này, Hội đồng quản trị sẽ giám sát hoạt động của ban giám đốc, trong đó giám sát việc lập và trình bày báo cáo tài chính là một nội dung quan trọng Nói cách khác, hội đồng quản trị

sẽ có tác động đến các sai sót trên báo cáo tài chính

Lý thuyết này củng cố thêm vai trò quan trọng của Hội đồng quản trị từ việc giám sát hoạt động của Ban Giám đốc cũng như sự ảnh hưởng gián tiếp của Hội đồng quản trị đến sai sót số liệu trên báo cáo tài chính

2.2.2 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary Costs Theory)

Lý thuyết chi phí sở hữu (Verrecchia, 1983, 1990; Wagenhofer, 1990) đề cập các lợi ích và chi phí công bố thông tin Theo đó, các nhà quản lý doanh nghiệp luôn cân nhắc đến chi phí công bố thông tin, họ cho rằng việc công bố những thông tin không nên công bố hoặc công bố quá chi tiết sẽ ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của công ty, do các đối tác bên ngoài, các nhóm lợi ích, đối thủ cạnh tranh có thể tận dụng thông tin này để gây hại cho công ty Vì vậy, các nhà quản lý có xu hướng công bô thiếu thông tin hoặc công bố thông tin không đúng sự thật (Singhvi và

Trang 26

Desai, 1971, Giner, 1995) Do vậy, cần có sự kiểm soát của người chủ sở hữu mà đại diện là Hội đồng quản trị

Lý thuyết chi phí sở hữu một lần nữa khẳng định Ban Giám đốc có động cơ gây ra sự sai sót số liệu trên báo cáo tài chính Do đó rất cần có một Hội đồng quản trị hiệu quả để giám sát hoạt động của Ban Giám đốc

Trang 27

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để kiểm định lý thuyết khoa học đề ra Quy trình định lượng kiểm định lý thuyết khoa học của bài nghiên cứu được xây dựng như sau:

Bước 1: Xác định khe hổng nghiên cứu => Xây dựng câu hỏi nghiên cứu

Bước này, sau khi thực hiện tổng quan nghiên cứu, tác giả xác định vấn đề nghiên cứu đã đạt được, khe hổng nghiên cứu từ đó xác định vấn đề cần nghiên cứu, phần này tác giả thực hiện ở chương 1 Có được vấn đề nghiên cứu, tác giả xây dựng mục tiêu cụ thể và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu cụ thể và câu hỏi nghiên cứu được trình bày tại phần mở đầu

Bước 2: Tổng hợp lý thuyết => Xây dựng mô hình, giả thuyết nghiên cứu

Dựa vào phần tổng quan các nghiên cứu trước, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của các đặc tính Hội đồng quản trị đến sự sai sót số liệu trên báo cáo tài chính và các giả thuyết nghiên cứu

Bước 3: Xây dựng và kiểm định thang đo

Thang đo được xây dựng dựa vào các nghiên cứu trước về Hội đồng quản trị

và sai sót số liệu trên báo cáo tài chính

Bước 4: Kiểm định mô hình, giả thuyết

Tác giả kiểm định mô hình, giả thuyết bằng phân tích tương quan (correlation analysis), kiểm định Independent t-test và kiểm định Mann-Whitney, phân tích hồi quy Logistic

Khe hổng => Câu hỏi nghiên cứu

Lý thuyết => Mô hình, giả thuyết

Xây dựng thang đo

Kiểm định thang đo

Kiểm định mô hình, giả thuyết

Trang 28

3.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

3.2.1 Giả thuyết nghiên cứu

Thông qua tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước đã trình bày tại phần trên, tác giả tiến hành xây dựng giả thuyết cho nghiên cứu

3.2.1.1 Sai sót trên báo cáo tài chính và quy mô Hội đồng quản trị

Một số ít nghiên cứu được trình bày tại phần tổng quan nghiên cứu trước cho rằng Hội đồng quản trị có quy mô quá nhỏ sẽ tác động không tốt cho việc kiểm soát Ngược lại với kết luận trên, nhiều tác giả như Jensen (1993), Yermack (1996), Eisenberg et al (1998), Vafeas (2000), Abbott et al (2004) cho rằng Hội đồng quản trị có quy mô quá lớn sẽ gây ra việc khó khăn trong giao tiếp, giảm tính trách nhiệm gây ra việc kiểm soát không tốt Một số nghiên cứu trong nước cũng cho kết quả tương tự như Đỗ Thị Như Quỳnh (2012), Hồ Mỹ Hòa (2013) Huỳnh Thị Ánh Tuyết (2013) Dựa vào các nghiên cứu này, tác giả phát triển giả thuyết H1 như sau:

Giả thuyết H1: Các doanh nghiệp có quy mô Hội đồng quản trị càng lớn càng

có nhiều khả năng dẫn đến sai sót số liệu trên báo cáo tài chính

3.2.1.2 Sai sót trên báo cáo tài chính và tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị

Giả thuyết H2: Các doanh nghiệp có tỷ lệ phần trăm các thành viên Hội đồng

quản trị không điều hành càng cao thì càng ít có khả năng dẫn đến sai sót số liệu trên báo cáo tài chính

Trang 29

3.2.1.3 Sai sót trên báo cáo tài chính và số lượng thành viên có quan hệ thân

tộc trong Hội đồng quản trị

Dựa vào tổng quan nghiên cứu mối quan hệ này ở phần trên, tác giả nhận thấy

có nhiều nghiên cứu cho rằng mối quan hệ thân tộc của các thành viên trong Hội đồng quản trị sẽ gây ra sự thiếu minh bạch của thông tin tài chính được công bố như: Ghazali và Weetman (2006), Haniffa và Cooke (2002), Matousi (2011) Từ đó, tác giả xây dựng giả thuyết H3 như sau:

Giả thuyết H3: Các doanh nghiệp càng có nhiều thành viên có quan hệ thân

tộc trong Hội đồng quản trị càng có nhiều khả năng sai sót số liệu trên báo cáo tài chính

3.2.1.4 Sai sót trên báo cáo tài chính và nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng

quản trị không điều hành

Các tác giả Del Guercio, Dann và Partch (2003), Matousi (2011), Nikos Vafeas (2003) cho rằng nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị càng lớn càng làm giảm tính độc lập của họ, do đó dễ dàng dẫn đến sự sai sót số liệu trên báo cáo tài chính Dựa vào các nghiên cứu này, tác giả xây dựng giả thuyết H4 về mối quan

hệ giữa nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không điều hành với khả năng sai sót số liệu trên báo cáo tài chính như sau:

Giả thuyết H4: Một nhiệm kỳ càng dài của thành viên Hội đồng quản trị

không điều hành càng làm tăng khả năng sai sót số liệu trên báo cáo tài chính

3.2.1.5 Sai sót trên báo cáo tài chính và sự kiêm nhiệm của Chủ tịch Hội

đồng quản trị và giám đốc điều hành

Dựa vào các nghiên cứu của Jensen (1993), Agrawal và Chadha (2005), Efendi (2007), Smaili (2013) Đỗ Thị Như Quỳnh (2012) Hồ Mỹ Hòa (2013)… tác giả chọn ảnh hưởng của sự kiêm nhiệm giữa giám đốc điều hành và thành viên Hội đồng quản trị lên sai sót báo cáo tài chính là ảnh hưởng thuận Giả thuyết H5 được xây dựng như sau:

Giả thuyết H5: Sự kiêm nhiệm của Giám đốc điều hành và Chủ tịch Hội đồng

quản trị làm tăng khả năng sai sót số liệu trên báo cáo tài chính

3.2.1.6 Sai sót trên báo cáo tài chính và thành viên Hội đồng quản trị có

chuyên môn Kế toán, Tài chính

Trang 30

Tất cả các nghiên cứu trên nhận ra rằng ban giám đốc có kiến thức tài chính rất hữu ích trong việc quản lý giám sát như: Carcello et al (2002), Chtourou et al (2001), Xie et al (2003) Việc có chuyên môn tài chính có lợi cho thành viên Hội đồng quản trị để hiểu báo cáo tài chính và các vấn đề báo cáo tài chính tốt hơn Vì vậy, giả thuyết H6 được phát triển như sau:

Giả thuyết H6: Hội đồng quản trị càng có nhiều thành viên có chuyên môn tài

chính thì khả năng sai sót số liệu trên báo cáo tài chính càng thấp

Các yếu tố trong giả thuyết nghiên cứu sẽ trình bày ở phần sau

3.2.2 Mô hình nghiên cứu

Dựa vào các giả thuyết đã có, tác giả tiến hành xây dựng mô hình được như sau:

Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu của đề tài này khắc phục được khe hổng của các mô hình các đề tài trước-tác giả đã trình bày tại phần khe hổng nghiên cứu Cụ thể, biến phụ thuộc là yếu tố sai sót số liệu trên báo cáo tài chính, đi thẳng vào thực trạng nghiêm trọng nhìn thấy rõ của chất lượng báo cáo tài chính Biến độc lập là các đặc tính Hội

H3 (+)

H4 (+) H5 (+)

H6 (-)

Trang 31

Bảng 2.1: Mô tả các biến và phương pháp tính

tính Cách thức đo lường Kỳ vọng Biến độc lập

Board size Quy mô Hội đồng

quản trị

Định lượng

Số lượng thành viên trong Hội đồng quản

trị

(+)

Outside

Tỷ lệ thành viên không điều hành trong Hội đồng quản

trị

Định

lượng

Số thành viên Hội đồng quản trị không điều hành trên tổng số thành viên

(-)

Family

Thành viên Hội đồng quản trị có mối

quan hệ thân tộc

Định

lượng

Số thành viên Hội đồng quản trị có mối quan hệ thân tộc

(+)

Out tenure

Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản

trị không điều hành

Định

lượng

Trung bình nhiệm kỳ của các thành viên Hội đồng quản trị không điều hành

Là biến nhị phân, nhận giá trị bằng 1 nếu có kiêm nhiệm và giá trị 0

nếu ngược lại

(+)

Expertise

Thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn tài

chính

Định

lượng

Số lượng thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn tài chính

có sai sót số liệu trọng yếu được phát hiện bởi kiểm toán viên và giá

trị 0 nếu ngược lại

Biến kiểm soát

Gowth Tốc độ phát triển Định

lượng

Tỷ lệ phần trăm thay đổi tổng tài sản năm trước năm thu thập dữ liệu

Trang 32

3.2.3 Các biến nghiên cứu

3.2.3.1 Biến phụ thuộc

- Sai sót số liệu trên báo cáo tài chính (Misstatement)

Biến phụ thuộc được xem xét ở đây là Sai sót số liệu trên báo cáo tài chính

(Misstatement) Misstatement được xem là biến định tính Giá trị sai sót được xác định riêng cho hai nhóm như sau:

- Nhóm doanh nghiệp sai sót: là những doanh nghiệp có số liệu trên báo cáo tài chính sau kiểm toán chênh lệch với số liệu trên báo cáo tài chính trước kiểm toán tại một năm bất kỳ từ 2011 đến 2014 và chênh lệch bất kỳ khoản mục nào dưới đây:

 Lợi nhuận trước thuế: tỷ lệ chênh lệch ≥ 7,5%;

 Doanh thu: tỷ lệ chênh lệch ≥ 1,75%;

Vốn chủ sở hữu: tỷ lệ chênh lệch ≥ 3%;

 Tổng tài sản: tỷ lệ chênh lệch ≥ 1,5%;

Nhóm này Misstatement có giá trị là 1

- Nhóm doanh nghiệp đối ứng: là những doanh nghiệp cùng ngành với nhóm doanh nghiệp có sai sót, nhưng không phải là doanh nghiệp sai sót trọng yếu (tất cả

4 khoản mục được liệt kê phía trên đều không có chênh lệch hoặc chênh lệch với tỷ

lệ nhỏ hơn đã nêu ở cả 4 năm 2011-2014) Nhóm này Misstatement có giá trị là 0 Tác giả sử dụng bốn tiêu chí tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, doanh thu và lợi nhuận trước thuế dựa vào các xác định mức trọng yếu trong chương trình kiểm toán mẫu Các mức tỷ lệ áp dụng cho từng tiêu chí được lấy từ trung bình của mức cao nhất và thấp nhất trong gợi ý xác định mức trọng yếu trong chương trình kiểm toán mẫu Áp dụng tỷ lệ này sẽ thu được số lượng doanh nghiệp ở 2 nhóm tương đối cân bằng

3.2.3.2 Biến độc lập

Trong bài này, các yếu tố trong giả thuyết nghiên cứu cũng là các biến độc lập

Do đó, có 6 biến độc lập được xem xét, bao gồm:

- Quy mô Hội đồng quản trị (Board size):

Dựa trên tất cả các nghiên cứu có liên quan đến quy mô Hội đồng quản trị được nêu đến trong bài, biến độc lập Board size được đo bằng số lượng thành viên

Trang 33

đối với nhóm doanh nghiệp sai sót T là năm đầu tiên xảy ra sai sót trong giai đoạn 2011-2014)

- Thành viên Hội đồng quản trị không điều hành (Outside):

Căn cứ thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 của Bộ Tài chính Quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng và các nghiên cứu liên quan đến thành viên Hội đồng quản trị không điều hành, tác giả đo khái niệm Outside bằng số lượng thành viên Hội đồng quản trị không giữ các chức vụ Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc), Kế toán trưởng trên tổng số thành viên Hội đồng quản trị tại năm T

- Thành viên Hội đồng quản trị có mối quan hệ thân tộc (Family)

Dựa trên tất cả các nghiên cứu có liên quan đến nhân tố mối quan hệ thân tộc của thành viên Hội đồng quản trị đã trình bày trong bài, biến độc lập Family được

đo bằng số lượng thành viên Hội đồng quản trị có mối quan hệ thân tộc (gia đình) tại năm T Luật hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10 năm 2000 quy định Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau Thông tin về mối quan hệ thân tộc của các thành viên Hội đồng quản trị được thu thập trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp

- Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không điều hành (Out tenure)

Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không điều hành trong bài này được tính từ lúc thành viên Hội đồng quản trị không điều hành được bổ nhiệm đến năm T Biến Outtenure được đo bằng trung bình nhiệm kỳ của tất cả các thành viên không điều hành trong Hội đồng quản trị

- Sự kiêm nhiệm giữa Giám đốc điều hành và Chủ tịch Hội đồng quản trị (Duality)

Dựa trên các nghiên cứu có liên quan đến Sự kiêm nhiệm giữa Giám đốc điều hành với Chủ tịch Hội đồng quản trị được nêu ở phần tổng quan, khái niệm Sự kiêm nhiệm giữa Giám đốc điều hành và Chủ tịch Hội đồng quản trị (Duality) nhận giá trị

1 nếu tại năm T, có sự kiệm nhiệm 2 vị trí này, và nhận giá trị 0 nếu không có sự

Trang 34

kiêm nhiệm Trường hợp trong doanh nghiệp có chức vụ Tổng giám đốc, Tổng giám đốc được thay cho Giám đốc điều hành khi xét khái niệm này

- Thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn kế toán, tài chính cao (Expertise)

Dựa theo Quyết định số 06/2007/QĐ-BNV về việc ban hành thành phần hồ sơ cán bộ, công chức và mẫu biểu quản lý hồ sơ cán bộ, công chức, tác giả xác định nếu các thành viên Hội đồng quản trị có học vị liên quan đến tài chính như sau: Tiến sĩ khoa học, Tiến sĩ, Thạc sĩ, Cử nhân, Cao đẳng, Trung cấp, Sơ cấp được gọi

là có chuyên môn tài chính Ngoài ra, các thành viên Hội đồng quản trị có các bằng cấp liên quan đến tài chính, kế toán như CPA, ACCA, CIMA, CMA… cũng được tính là có chuyên môn tài chính, kế toán Khái niệm Thành viên Hội đồng quản trị

có chuyên môn tài chính (Expertise) đo bằng số lượng Thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn tài chính

3.2.3.3 Biến kiểm soát

Sai sót số liệu trên báo cáo tài chính là một kết quả do nhiều nguyên nhân, trong đó có yếu tố Hội đồng quản trị Ở đề tài này, tác giả chỉ kiểm định ảnh hưởng của các đặc tính Hội đồng quản trị đến sai sót số liệu trên báo cáo tài chính, do đó cần kiểm soát những ảnh hưởng ngoại lai trong nghiên cứu bằng cách đưa vào mô hình các biến kiểm soát Các biến kiểm soát giúp xác định mức độ khái quát hóa có thể rút ra từ kết quả nghiên cứu Dựa vào Klai (2011), tác giả tiến hành đưa vào mô hình ba biến kiểm soát có thể ảnh hưởng đến sai sót số liệu trên báo cáo tài chính: Tốc độ phát triển, tỷ số nợ và quy mô doanh nghiệp Ba

- Tốc độ phát triển (Gowth)

Loebbecke et al (1989) và Bell et al (1991) đề cập rằng nếu các công ty có một

sự tăng trưởng nhanh chóng, người quản lý sẽ làm sai lệch tình hình tài chính trong giai đoạn suy giảm để đánh lừa mọi người rằng sự tăng trưởng vẫn ổn định Abbott (2002) đo tốc độ phát triển của doanh nghiệp bằng tỷ lệ phần trăm thay đổi của tổng tài sản năm trước năm sai sót Dựa vào nghiên cứu của Abbott (2002), tác giả xây dựng thang đo cho khái niệm Tốc độ phát triển của doanh nghiệp (Gowth) bằng tỷ

lệ phần trăm thay đổi của tổng tài sản đã kiểm toán năm T-1 với năm T-2

Trang 35

- Tỷ số nợ (Debts)

Công ty có tỷ số nợ cao có nhiều khả năng vi phạm hợp đồng giao ước nợ của

họ Hơn nữa, những khó khăn tài chính làm tăng rủi ro điều chỉnh báo cáo tài chính,

và do đó xác suất sai sót báo cáo tài chính tăng (Chen et al 2006; và Johnson et al 2009) Nghiên cứu của Klai (2011) cho thấy tỷ số nợ trên tổng tài sản tác động tích cực đến chất lượng báo cáo tài chính, ông giải thích rằng để cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và đảm bảo khả năng chi trả các khoản nợ đó, các chủ nợ yêu cầu doanh nghiệp phải có báo cáo tài chính chất lượng Dựa vào nghiên cứu của Klai (2011) tác giả đo lường khái niệm Tỷ số nợ (Debt) bằng tỷ số tổng nợ đã kiểm toán trên tổng tài sản đã kiểm toán năm T

- Quy mô doanh nghiệp (Size)

Theo Jensen và Meckling (1976), các công ty lớn có chi phí đại diện cao hơn Hơn nữa, các công ty lớn rất phức tạp và được tiếp xúc với các vấn đề về truyền thông và điều phối (Daboub, Rasheed, Priem, và Gray 1995) Finney và Lesieur (1982) khẳng định rằng các cấu trúc kiểm soát khó thực hiện trong các công ty lớn Ngoài ra, số lượng giao dịch lớn nếu kích thước công ty tăng lên Kết quả là, xác suất của gian lận tăng Ngược lại Klai (2011) cho rằng quy mô doanh nghiệp sẽ tỷ lệ nghịch với chất lượng báo cáo tài chính vì lý do quy mô doanh nghiệp sẽ làm tăng rủi ro hoạt động dẫn đến các hoạt động đánh lừa nhà đầu tư Trong mô hình của mình, Klai đã đưa tỷ số nợ và quy mô doanh nghiệp làm biến kiểm soát Klai đã đo quy mô doanh nghiệp bằng logarit tổng tài sản Khái niệm Quy mô doanh nghiệp (Size) trong bài này được tác giả đo bằng logarit tổng tài sản sau kiểm toán năm T dựa theo Klai (2011)

3.3 CHỌN MẪU VÀ THU THẬP DỮ LIỆU

3.3.1 Xác định mẫu nghiên cứu

Tương tự như cách xác định mẫu trong nghiên cứu của Abbott (2002) khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sai sót báo cáo tài chính, mẫu của bài nghiên cứu này là các cặp công ty có và không có báo cáo tài chính có sai sót trọng yếu được phát hiện bởi kiểm toán viên và được trình bày lại trên báo cáo tài chính sau kiểm toán Để xác định mức sai sót trọng yếu, tác giả dựa trên mẫu A710-Xác định mức trọng yếu kế hoạch-thực tế trong Hệ thống chương trình kiểm toán mẫu

Trang 36

(VACPA; 2013) Tuy nhiên, để đảm bảo tính tổng quát, tác giả không dựa vào một tiêu chí mà dựa vào cả bốn tiêu chí: lợi nhuận trước thuế, doanh thu, vốn chủ sở hữu, tổng tài sản để xác định mức trọng yếu Cụ thể, tỷ lệ sai sót được xem là trọng yếu: 7,5% LN trước thuế; 1,75% Doanh thu; 3% Vốn chủ sở hữu; 1,5% Tổng tài sản trở lên Các tỷ lệ này được lấy từ trung bình mức cao nhất và thấp nhất trong hướng dẫn xác định mức trọng yếu (VACPA; 2013) Sử dụng các tỷ lệ này giúp tác giả có số lượng doanh nghiệp ở hai nhóm ngành tương đương nhau Nếu các doanh nghiệp có báo cáo tài chính trước kiểm toán được kiểm toán viên xác định có sai sót trọng yếu dựa vào bất kỳ tiêu chí nào trong bốn tiêu chí này sẽ được xếp vào nhóm

có sai sót trọng yếu Các công ty nằm thuộc nhóm đối ứng tương đồng với nhóm sai sót về nhóm ngành Như vậy ta có:

- Nhóm doanh nghiệp sai sót (trọng yếu): là những doanh nghiệp có số liệu trên báo cáo tài chính sau kiểm toán chênh lệch với số liệu trên báo cáo tài chính trước kiểm toán tại một năm bất kỳ từ 2011 đến 2014 và chênh lệch bất kỳ khoản mục nào dưới đây:

 Lợi nhuận trước thuế: tỷ lệ chênh lệch ≥ 7,5%;

 Doanh thu: tỷ lệ chênh lệch ≥ 1,75%;

Vốn chủ sở hữu: tỷ lệ chênh lệch ≥ 3%;

 Tổng tài sản: tỷ lệ chênh lệch ≥ 1,5%;

- Nhóm doanh nghiệp đối ứng: là những doanh nghiệp cùng ngành với nhóm doanh nghiệp sai sót, nhưng không phải là doanh nghiệp sai sót (tất cả 4 khoản mục được liệt kê phía trên đều không có chênh lệch hoặc chênh lệch với tỷ lệ nhỏ hơn đã nêu ở cả 4 năm 2011-2014)

Tác giả sử dụng cấu trúc phân ngành 4 cấp theo chuẩn ICB-Industry Classification Benchmark, đã được Stockbiz dùng để sắp xếp các doanh nghiệp niêm yết trên các sàn chứng khoán nhằm tạo ra sự đồng bộ giữa các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội

Các dữ liệu về mẫu nghiên cứu được thu thập tại các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các doanh nghiệp được cung cấp bởi các website như: CafeF (http://cafef.vn/), Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (http://www.hsx.vn/), Sở giao

Trang 37

3.3.2 Quy trình chọn mẫu nghiên cứu

Để chọn được mẫu nghiên cứu (gồm mẫu gian lận và mẫu đối ứng), tác giả thực hiện theo quy trình sau:

- Bước 1: Đầu tiên tác giả xác định đám đông nghiên cứu, bao gồm tất cả các

công ty có niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh và Hà Nội trong bốn năm liên tiếp 2011-2014

- Bước 2: Thu thập dữ liệu về tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, doanh thu, lợi

nhuận trước thuế trước kiểm toán và sau kiểm toán của các công ty có niêm yết tại HOSE và HNX trong bốn năm 2011-2014

- Bước 3: Tính toán chênh lệch các tiêu chí trước và sau kiểm toán theo công

Lợi nhuân trước thuế

Chênh lệch lợi nhuận trước thuế

=|𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑡𝑟ướ𝑐 𝑡ℎ𝑢ế 𝑡𝑟ướ𝑐 𝑘𝑖ể𝑚 𝑡𝑜á𝑛 − 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑡𝑟ướ𝑐 𝑡ℎ𝑢ế 𝑠𝑎𝑢 𝑘𝑖ể𝑚 𝑡𝑜á𝑛|

𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑡𝑟ướ𝑐 𝑡ℎ𝑢ế 𝑠𝑎𝑢 𝑘𝑖ể𝑚 𝑡𝑜á𝑛

- Bước 4: Xác định nhóm mẫu sai sót và nhóm mẫu đối ứng dựa trên nguyên

tắc đã trình bày phần trên Trước khi chọn mẫu đối ứng, tác giả tiến hành phân ngành theo phân ngành của Stockbiz

-Bước 5: Thu thập các dữ liệu liên quan của mẫu gian lận và mẫu đối ứng cần

thiết bao gồm tổng nợ, quy mô Hội đồng quản trị, tốc độ phát triển,…

Trang 38

- Bước 6: Loại bỏ các doanh nghiệp không đủ dữ liệu để thực hiện bước phân

tích tiếp theo và chốt lại mẫu

Kết quả chọn mẫu

Số lượng niêm yết trên HOSE và HNX đến 15/8/2015 678

Trừ: Số lượng công ty bị loại khi đối chiếu 2 nhóm mẫu 80

Tính đến thời điểm 15/8/2015, trên hai sàn giao dịch này có 678 công ty niêm yết cổ phiếu Sau đó loại 78 công ty niêm yết sau năm 2011 và 88 công ty thiếu dữ liệu, danh sách còn lại 512 công ty bao gồm 280 công ty có và 232 công ty không

có sai sót trọng yếu Tác giả tiến hành đối chiếu 2 nhóm công ty này với từng nhóm ngành và thu được mẫu gồm 216 công ty thuộc nhóm công bố báo cáo tài chính trước kiểm toán có sai sót trọng yếu và 216 công ty thuộc nhóm đối ứng (Xem bảng chọn mẫu theo nhóm ngành tại Phụ lục 1)

- Bước 2: Kiểm định Independent t-test và kiểm định Mann-Whitney

- Bước 3: Phân tích hồi quy Logistic

Tác giả sử dụng mô hình hồi quy Binary logistic để phân tích những đặc tính Hội đồng quản trị ảnh hưởng đến sự sai sót số liệu trên báo cáo tài chính Hồi quy Binary Logistic sử dụng biến phụ thuộc dạng nhị phân để ước lượng xác suất một

sự kiện sẽ xảy ra với những thông tin của biến độc lập mà ta có được Khi biến phụ

Trang 39

thuộc ở dạng nhị phân (hai biểu hiện 0 và 1) thì không thể phân tích với dạng hồi quy thông thường mà phải sử dụng hồi quy Binary Logistic (Xem thêm về mô hình Binary logistic tại phụ lục 2)

Dựa vào những nội dung đã trình bày, tác giả xây dựng phương trình hồi quy

Binary Logistic như sau:

𝐿𝑛𝑃(𝑀𝑖𝑠𝑠𝑡𝑎𝑡𝑒𝑚𝑒𝑛𝑡=1)

𝑃(𝑀𝑖𝑠𝑠𝑡𝑎𝑡𝑒𝑚𝑒𝑛𝑡=0)= β0+ β1Board size + β2Outside + β3Family + β4Out tenure

+ β5Duality + β6 Expertise + β7 Growth + β8Debts + β9Size

Trong đó:

- Board size, Outside, Family, Out tenure, Duality, Expertise là các biến độc lập;

- Growth, Debts, Size là các biến kiểm soát;

Trang 40

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ

Mẫu bao gồm 432 quan sát của 432 công ty được niêm yết trên hai sàn chứng khoán Hồ Chí Minh và Hà Nội trong bốn năm 2011-2014, được chia làm 2 nhóm: nhóm (1) có báo cáo tài chính trước kiểm toán sai sót trọng yếu so với sau kiểm toán và nhóm (2) là nhóm đối ứng, không có sai sót trọng yếu

Hình 4.1: Thống kê mẫu theo nhóm ngành

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, năm 2015)

Hình 4.1 cho ta thấy số lượng công ty thuộc nhóm ngành công nghiệp chiếm

tỷ trọng lớn nhất trong mẫu với 174 công ty (40,28%), tiếp đến là hai nhóm ngành hàng tiêu dùng và tài chính cùng số lượng 64 công ty (14,81%) Ngược lại với ba nhóm ngành trên, nhóm ngành viễn thông và dầu khí là hai nhóm chiếm tỷ trọng thấp nhất với số lượng công ty lần lượt là 0 (0,00%) và 2 (0,46%)

Bảng 4.1 thể hiện kết quả thống kê mô tả, bao gồm các giá trị nhỏ nhất, lớn nhất, trung bình, mốt và độ lệch chuẩn của 10 biến quan sát

5000-Dịch vụ tiêu dùng 6000-Viễn thông 7000-Các dịch vụ hạ tầng 8000-Tài chính

9000-Công nghệ

Ngày đăng: 13/03/2017, 21:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Gul và Leung, 2004. Board Leadership, Outside Directors Expertise and Voluntary Corporate Disclosures. Journal of Accounting and Public Policy, 23:351 – 379 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting and Public Policy
20. Haniffa và Cooke, 2002. Culture, corporate governance and disclosure in Malaysian corporations. Abacus, 38 (3):317–349 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Abacus
21. Jensen, 1993. The modern industrial revolution, exit, and the failure of internal control systems. The Journal of Finance, 48:831– 880 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Journal of Finance
22. Jensen, M.C. and Meckling, W, 1976. Theory of the firm: managerial behavior, agency costs and ownership structure. Journal of Financial Economics, Vol. 3, pp. 305-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Financial Economics
23. John Lintner, 1956. Distribution of Incomes of Corporations Among Dividends, Retained Earnings, and Taxes. The American Economic Review, Vol. 46, No. 2, Papers and Proceedings of the Sixty-eighth Annual Meeting of the American Economic Association (May, 1956), pp. 97-113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The American Economic Review
24. Klai, 2011. Corporate Governance and Financial Reporting Quality: The Case of Tunisian Firms. International Business Research, Vol. 4, No. 1; January 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Business Research
25. Klein, 2002. Audit committee, board of director characteristics, and earnings management. Journal of Accounting and Economics, Volume 33, Issue 3, August 2002, Pages 375–400 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting and Economics
26. Loebbecke, J. K., M. M. Eining, and J. J. Willingham, 1989. Auditors’ experience with material irregularities: Frequency, nature, and detectability.Auditing: A Journal of Practice and Theory, 9: 1-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Auditing: A Journal of Practice and Theory
27. Matousi, 2011. Board independence and corporate fraud: the case of tunisian firms. Working Paper, 620 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Working Paper
28. Merton H. Miller and Franco Modigliani, 1961. Dividend Policy, Growth, and the Valuation of Shares. The Journal of Business, Vol. 34, No. 4 (Oct., 1961), pp. 411-433 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Journal of Business
30. Peyer và Perry, 2005. Board Seat Accumulation by Executives: A shareholder’s perspective. Journal of Finance, 60:2083 –2123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Finance
31. Robert E. Verrecchia, 1983. Discretionary disclosure. Journal of Accounting and Economics, Volume 5, 1983, Pages 179–194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting and Economics
32. Robert E. Verrecchia, 1990. Information quality and discretionary disclosure. Journal of Accounting and Economics, Volume 12, Issue 4, March 1990, Pages 365–380 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting and Economics
34. Singhvi, and Desai, 1971. An empirical analysis of the quality of corporate financial disclosure. Accounting Review, 46(1), 129–138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accounting Review
35. Smaili, 2013. Corporate Governance and Financial Reporting Irregularities 36. Uzun et al., 2004. Board Composition and Corporate Fraud. May/June 2004,Volume 60 Issue 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: May/June 2004
37. Vafeas, 2003. Length of Board Tenure and Outside Director Independence. Journal of Business Finance & Accounting, 30(7-8):1043–1064 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Business Finance & Accounting
38. Vafeas, N. 2000. Board structure and the informativeness of earnings. Journal of Accounting and Public Policy, Volume 19, Issue 2, 30 June 2000, Pages 139–160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting and Public Policy
39. Xie, B., Davidson III, W. N., & DaDalt, P. J, 2003. Earnings management and corporate governance: the role of the board and the audit committee. Journal of Corporate Finance, 9(3), 295-316 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Corporate Finance
40. Yermack, 2004. Remuneration, retention, and reputation incentives for outside directors. The Journal of Finance, 59:2281-2308 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Journal of Finance
41. Yermack, D, 1996. Higher market valuation of companies with a small board of directors. Journal of Financial Economics, 40(2), 185-211.Các trang web 1. CafeF: http://cafef.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Financial Economics", 40(2), 185-211. "Các trang web

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1:  Mô hình nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu (Trang 30)
Hình 4.1:  Thống kê mẫu theo nhóm ngành - Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 4.1 Thống kê mẫu theo nhóm ngành (Trang 40)
Bảng 4.1:  Kết quả thống kê mô tả - Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.1 Kết quả thống kê mô tả (Trang 41)
Hình 4.3:  Tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị không điều hành - Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 4.3 Tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị không điều hành (Trang 42)
Hình 4.2:  Quy mô Hội đồng quản trị - Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 4.2 Quy mô Hội đồng quản trị (Trang 42)
Hình 4.4:  Thành viên Hội đồng quản trị có mối quan hệ thân tộc - Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 4.4 Thành viên Hội đồng quản trị có mối quan hệ thân tộc (Trang 43)
Hình 4.5:  Nhiệm kỳ trung bình của các thành viên không tham gia vào điều - Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 4.5 Nhiệm kỳ trung bình của các thành viên không tham gia vào điều (Trang 44)
Hình 4.7:  Số lượng thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn kê toán, tài - Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 4.7 Số lượng thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn kê toán, tài (Trang 45)
Hình 4.6:  Sự kiêm nhiệm của Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc điều - Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 4.6 Sự kiêm nhiệm của Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc điều (Trang 45)
Bảng 4.3:  Kết quả phân tích tương quan, Independent t-test, Mann-whitney - Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.3 Kết quả phân tích tương quan, Independent t-test, Mann-whitney (Trang 47)
Bảng 4.4:  Kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô hình - Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (Trang 48)
Bảng 4.6:  Kết quả phân tích hồi quy Binary Logistic - Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.6 Kết quả phân tích hồi quy Binary Logistic (Trang 49)
Bảng 4.7:  Kết quả kiểm định mức độ dự báo tính chính xác của mô hình - Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định mức độ dự báo tính chính xác của mô hình (Trang 56)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w