PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẶC TRƯNG NGÂN HÀNG VÀ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM .... Kết luận về kết qu
Trang 1DIỆP PHONG NIÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẶC TRƯNG NGÂN HÀNG VÀ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 2DIỆP PHONG NIÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẶC TRƯNG NGÂN HÀNG VÀ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng Mã số : 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ: “Ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là
trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ
Tác giả
Diệp Phong Niên
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu 2
1.6 Kết cấu của đề tài 3
1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài 4
Kết luận chương 1 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẶC TRƯNG NGÂN HÀNG VÀ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
2.1 Nền tảng lý thuyết về rủi ro tín dụng ngân hàng 5
2.1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng 5
2.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng 6
2.1.3 Đánh giá rủi ro tín dụng 8
2.1.3.1 Tỷ lệ nợ quá hạn: 8
2.1.3.2 Tỷ lệ nợ xấu: 8
2.1.3.3 Hệ số rủi ro tín dụng 8
2.1.3.4 Tỷ lệ xóa nợ 9
2.1.3.5 Tỷ lệ khả năng bù đắp rủi ro tín dụng 9
2.1.4 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng 9
2.1.4.1 Nguyên nhân khách quan 9
2.1.4.2 Nguyên nhân chủ quan 11
Trang 52.1.5 Hậu quả của rủi ro tín dụng 13
2.1.5.1 Đối với ngân hàng 13
2.1.5.2 Đối với nền kinh tế 13
2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại 14
2.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại 14
2.2.1.1 Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng 14
2.2.1.2 Tỷ số hiệu quả hoạt động 15
2.2.1.3 Tác động đòn bẩy 17
2.2.1.4 Tỷ số khả năng thanh toán 17
2.2.1.5 Thu nhập ngoài lãi 18
2.2.1.6 Quy mô 18
2.2.1.7 Khả năng sinh lợi 19
2.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại 19
2.2.2.1 Tốc độ tăng trưởng GDP thực 19
2.2.2.2 Tỷ lệ lạm phát 21
2.2.2.3 Lãi suất thực 22
2.2.2.4 Tỷ lệ thất nghiệp 22
2.2.2.5 Tỷ giá hối đoái 23
Kết luận chương 2 25
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẶC TRƯNG NGÂN HÀNG VÀ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 26
3.1 Thực trạng nền kinh tế vĩ mô Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2014 26
3.1.1 Tốc độ tăng trưởng GDP thực 26
3.1.2 Tỷ lệ lạm phát 28
3.1.3 Lãi suất thực 30
3.1.4 Tỷ lệ thất nghiệp 31
3.1.5 Tỷ giá hối đoái 32
Trang 63.2 Thực trạng rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam 34
3.2.1 Tăng trưởng tín dụng 34
3.2.2 Nợ xấu 37
3.2.3 Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng 40
3.3 Đánh giá về tình hình rủi ro tín dụng: 41
3.4 Nguyên nhân dẫn đến việc rủi ro tín dụng gia tăng 42
3.5 Ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2014 43
3.5.1 Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng 43
3.5.2 Tỷ số hiệu quả hoạt động 44
3.5.3 Tác động đòn bẩy 45
3.5.4 Tỷ số khả năng thanh toán 45
3.5.5 Thu nhập ngoài lãi 46
3.5.6 Quy mô 47
3.5.7 Khả năng sinh lợi 48
3.6 Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2014 49
3.6.1 Tốc độ tăng trưởng GDP thực 49
3.6.2 Tỷ lệ lạm phát 50
3.6.3 Lãi suất thực 51
3.6.4 Tỷ lệ thất nghiệp 51
3.6.5 Tỷ giá hối đoái 52
Kết luận chương 3 53
CHƯƠNG 4 PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẶC TRƯNG NGÂN HÀNG VÀ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 54
4.1 Mô hình nghiên cứu 54
4.2 Phương pháp nghiên cứu 56
4.3 Thu thập và xử lý dữ liệu 56
4.4 Thống kê mô tả dữ liệu 57
4.5 Mối quan hệ kỳ vọng giữa các biến độc lập với tỷ lệ nợ xấu 61
Trang 74.5.1 Tỷ lệ nợ xấu của năm trước (NPLi,t-1) 61
4.5.2 Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLPit) 62
4.5.3 Tỷ số hiệu quả hoạt động (INEFit) 62
4.5.4 Tác động đòn bẩy (LEVit) 62
4.5.5 Thu nhập ngoài lãi (NIIit) 63
4.5.6 Khả năng sinh lợi (ROEit) 63
4.5.7 Tốc độ tăng trưởng GDP thực của năm trước (GDPi,t-1) 63
4.5.8 Tỷ lệ lạm phát (INFit) 64
4.5.9 Tỷ lệ thất nghiệp (UNit) 64
4.5.10 Tỷ giá hối đoái (ERit) 65
4.6 Kết quả nghiên cứu 65
Kết luận chương 4 68
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 69
5.1 Kết luận về kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam 69
5.1.1 Ảnh hưởng của các biến đặc trưng ngân hàng đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam 69
5.1.1.1 Tỷ lệ nợ xấu của năm trước 69
5.1.1.2 Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng 69
5.1.1.3 Tỷ số hiệu quả hoạt động 70
5.1.1.4 Tác động đòn bẩy 70
5.1.1.5 Thu nhập ngoài lãi 70
5.1.1.6 Khả năng sinh lợi 71
5.1.2 Ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam 71
5.1.2.1 Tốc độ tăng trưởng GDP thực của năm trước 71
5.1.2.2 Tỷ lệ lạm phát 72
5.1.2.3 Tỷ lệ thất nghiệp 72
5.1.2.4 Tỷ giá hối đoái 73
Trang 85.2 Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng
thương mại Việt Nam 73
5.2.1 Nhóm các giải pháp thuộc về các yếu tố đặc trưng ngân hàng 73
5.2.1.1 Tuân thủ các quy định về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 73
5.2.1.2 Kiểm soát chi phí hợp lý 74
5.2.1.3 Hoàn thiện quy trình quản lý rủi ro tín dụng, quy trình cấp tín dụng, chính sách cấp tín dụng đối với từng đối tượng khách hàng 75
5.2.1.4 Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ tín dụng 77
5.2.1.5 Nâng cao công tác thẩm định tài sản bảo đảm 78
5.2.1.6 Kiểm tra giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định, quy trình trong việc cấp tín dụng 79
5.2.2 Nhóm các giải pháp thuộc về các yếu tố kinh tế vĩ mô 80
5.2.2.1 Về tăng trưởng kinh tế 80
5.2.2.2 Ổn định tỷ giá hối đoái 80
5.2.2.3 Kiềm chế lạm phát, giữ vững ổn định nền kinh tế thị trường81 5.2.2.4 Hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại 81
5.2.2.5 Xây dựng và phát triển thị trường mua bán nợ 82
5.2.2.6 Đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng thương mại 83
5.2.2.7 Xây dựng cơ chế điều hành lãi suất hợp lý 83
5.3 Đóng góp mới của đề tài, hạn chế của đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo 84
5.3.1 Đóng góp mới của đề tài 84
5.3.2 Hạn chế của đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo 85
Kết luận chương 5 86
KẾT LUẬN CHUNG 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADB : Asian Development Bank
(Ngân hàng Phát triển Châu Á)
AMC : Asset Management Company
(Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản ngân hàng)
BCTC : Báo cáo tài chính
CIC : Credit Information Center
(Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam)
DATC : Debt and Asset Trading Corporation
(Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp)
FEM : Fixed Effects Model
(Mô hình tác động cố định)
GDP : Gross Domestic Product
(Tổng sản phẩm quốc nội)
GMM : Generalized Method of Moments
(Phương pháp moment tổng quát)
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
REM : Random Effects Model
(Mô hình tác động ngẫu nhiên)
ROA : Return On Assets
(Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản)
ROE : Return On Equity
(Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu)
RRTD : Rủi ro tín dụng
TCTD : Tổ chức tín dụng
Trang 10VAMC : Vietnam Asset Management Company
(Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý tài sản của các Tổ chức tín dụng Việt Nam)
(Ngân hàng thế giới)
WTO : World Trade Organization
(Tổ chức Thương mại Thế giới)
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp kết quả thực nghiệm 24
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu về tình hình nền kinh tế vĩ mô Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2014 26
Bảng 3.2 Dư nợ tín dụng bình quân của các NHTM từ năm 2007 đến năm 2014 34
Bảng 3.3 Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2014 37
Bảng 3.4 Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Việt Nam và một số quốc gia 39
Bảng 3.5 Chi phí dự phòng RRTD của các NHTM Việt Nam từ năm 2007 đến 2014 40
Bảng 4.1 Định nghĩa các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu 57
Bảng 4.2 Thống kê mô tả các biến 58
Bảng 4.3 Kết quả hồi quy từ mô hình dạng bảng động 65
Bảng 4.4 Tổng hợp kết quả hồi quy 66
Bảng 4.5 Tổng hợp kết quả từ bốn mô hình hồi quy 67
Trang 12DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Biểu đồ 3.1 Tốc độ tăng trưởng GDP thực từ năm 2007 đến năm 2014 26
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2014 28
Biểu đồ 3.3 Lãi suất thực của Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2014 30
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2014 31
Biểu đồ 3.5 Tỷ giá hối đoái của Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2014 32
Biểu đồ 3.6 Dư nợ tín dụng bình quân của các NHTM từ năm 2007 đến năm 2014 37
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2014 37
Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Việt Nam và một số quốc gia 40
Biểu đồ 3.9 Chi phí dự phòng RRTD của các NHTM Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2014 41
Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ dự phòng RRTD và tỷ lệ nợ xấu 43
Biểu đồ 3.11 Tỷ số hiệu quả hoạt động và tỷ lệ nợ xấu 44
Biểu đồ 3.12 Tác động đòn bẩy và tỷ lệ nợ xấu 45
Biểu đồ 3.13 Tỷ số khả năng thanh toán và tỷ lệ nợ xấu 45
Biểu đồ 3.14 Thu nhập ngoài lãi và tỷ lệ nợ xấu 46
Biểu đồ 3.15 Tổng tài sản bình quân và tỷ lệ nợ xấu 47
Biểu đồ 3.16 Khả năng sinh lợi và tỷ lệ nợ xấu 48
Biểu đồ 3.17 Tốc độ tăng trưởng GDP thực và tỷ lệ nợ xấu tại Việt Nam 49
Biểu đồ 3.18 Tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ nợ xấu tại Việt Nam 50
Biểu đồ 3.19 Lãi suất thực và tỷ lệ nợ xấu tại Việt Nam 51
Biểu đồ 3.20 Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ nợ xấu 52
Biểu đồ 3.21 Tỷ giá hối đoái và tỷ lệ nợ xấu 52
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Dưới tác động mạnh mẽ và có sức ảnh hưởng sâu rộng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nền kinh tế thế giới đã gặp không ít khó khăn Việt Nam đang trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế cũng gặp phải những bất ổn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này, các chỉ tiêu tài chính phản ánh sức khỏe của nền kinh tế không khả quan, hoạt động ngân hàng – trung gian tài chính cung ứng vốn cho nền kinh tế cũng đang đối mặt với nhiều rủi ro và trong đó RRTD là loại rủi ro tiềm ẩn nguy cơ cao nhất, ảnh hưởng mạnh nhất và quyết định đến sự tồn tại của
một Ngân hàng Việc phân tích RRTD là cần thiết bởi vì nó cung cấp một dấu hiệu
cảnh báo khi mà lĩnh vực tài chính trở nên dễ bị tổn thương đối với các cú sốc, điều này giúp cho các nhà làm chính sách đưa ra được các giải pháp để ngăn ngừa một cuộc khủng hoảng có thể xảy ra (Agnello và Sousa, 2011) Có nhiều công trình
nghiên cứu trên thế giới đã tìm hiểu các yếu tố nào trong nền kinh tế cũng như các yếu tố đặc trưng nào của ngành có tác động đến RRTD trong hoạt động Ngân hàng, yếu tố nào tác động mạnh hơn hay yếu hơn Do đó, trên cơ sở tìm hiểu và vận dụng
những mô hình nghiên cứu trên thế giới, tác giả đã chọn đề tài: “Ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam” để tìm hiểu một vấn đề: Liệu rằng sức chịu đựng
RRTD của các NHTM Việt Nam bị ảnh hưởng bởi những yếu tố đặc trưng cũng như những yếu tố kinh tế vĩ mô nào để từ đó tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế RRTD trong hoạt động của các NHTM Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 14- Thực trạng RRTD của các NHTM Việt Nam thông qua đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng và kinh tế vĩ mô;
- Đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ
mô đến RRTD tại các NHTM Việt Nam;
- Gợi ý giải pháp nhằm hạn chế RRTD tại các NHTM Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
RRTD của các NHTM Việt Nam chịu ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô nào?
Thực trạng RRTD của các NHTM Việt Nam như thế nào dưới tác động của các yếu tố đặc trưng và kinh tế vĩ mô?
Đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ
mô đến RRTD như thế nào?
Những giải pháp nào để hạn chế RRTD trong hoạt động ngân hàng?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế
vĩ mô đến RRTD tại 25 NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2014 Theo báo cáo của NHNN năm 2014, quy mô tổng tài sản của hệ thống NHTM Việt Nam vào thời điểm 31/12/2014 là hơn 5.600 nghìn tỷ đồng; do đó việc lựa chọn mẫu bao gồm 25 NHTM Việt Nam (với quy mô tổng tài sản chiếm trên 70%) để thực hiện việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng
và kinh tế vĩ mô đến RRTD sẽ có tính đại diện cao
1.5 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả: Phân tích thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng và kinh tế vĩ mô đến RRTD tại các NHTM Việt Nam
- Sử dụng phương pháp so sánh: Đánh giá, so sánh các yếu tố tác động đến RRTD của các NHTM Việt Nam qua các năm
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng: Ứng dụng mô hình hồi quy dạng bảng động để kiểm định sự ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng và kinh tế vĩ mô đến RRTD tại các NHTM Việt Nam Dữ liệu thứ cấp của các
Trang 15biến đặc trưng ngân hàng như: Tỷ lệ dự phòng RRTD, tỷ số hiệu quả hoạt động, tác động đòn bẩy, tỷ số khả năng thanh toán, thu nhập ngoài lãi, quy
mô, khả năng sinh lợi được thu thập từ các báo cáo thường niên của các NHTM Việt Nam Dữ liệu thứ cấp của các biến kinh tế vĩ mô như: tốc độ tăng trưởng GDP thực, tỷ lệ lạm phát, lãi suất thực, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá hối đoái được thu thập từ các trang web của WB, ADB và vietstock trong
khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2014
1.6 Kết cấu của đề tài
Đề tài nghiên cứu bao gồm các chương sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình
bày những nội dung cốt lõi của đề tài cần nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Trong
chương này, tác giả trình bày lý thuyết có liên quan và những kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng và kinh tế vĩ mô đến RRTD tại các NHTM
Chương 3: Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam Trong
chương này, tác giả trình bày thực trạng nền kinh tế vĩ mô Việt Nam và thực trạng RRTD của các NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm
2014 Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích tác động của các yếu tố như tỷ lệ dự phòng RRTD, tỷ số hiệu quả hoạt động, tác động đòn bẩy, tỷ số khả năng thanh toán, thu nhập ngoài lãi, quy mô, khả năng sinh lợi, tốc độ tăng trưởng GDP thực, tỷ
lệ lạm phát, lãi suất thực, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ giá hối đoái đến RRTD trong hoạt động của các NHTM Việt Nam
Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến rủi ro tín dụng tại các Ngân
Trang 16hàng thương mại Việt Nam Trong chương này, tác giả phân tích mối quan hệ và
đưa ra kết quả hồi quy về ảnh hưởng của các biến đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ
mô đến RRTD tại các NHTM Việt Nam bằng việc sử dụng mô hình hồi quy dạng bảng động
Chương 5: Kết luận và giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam Trong chương này, tác giả đưa ra những kết
luận về mô hình nghiên cứu được sử dụng trong Chương 4 Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế RRTD trong hoạt động của các NHTM Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả đưa ra những hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm hoàn thiện hơn về vấn đề phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến RRTD tại các NHTM Việt Nam
1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy RRTD trong hệ thống NHTM Việt Nam chịu sự tác động của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và các yếu
tố kinh tế vĩ mô Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa các biến thông qua mô hình hồi quy, đề tài cho thấy đối với bất kỳ sự thay đổi nào trong các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đều có tác động đến RRTD ngân hàng Kết quả này giúp cho các NHTM Việt Nam nhận dạng được RRTD cũng như có những giải pháp thích hợp nhằm hạn chế RRTD trong hoạt động ngân hàng
Kết luận chương 1
Hoạt động của các NHTM luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro và rủi ro tín dụng là loại rủi ro tiềm ẩn nguy cơ cao nhất và quyết định đến sự tồn tại của một ngân hàng Để đánh giá về rủi ro tín dụng ngân hàng, tác giả đã trình bày tổng quan các nội dung
về ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam như: Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu của đề tài nghiên cứu và ý nghĩa khoa học của đề tài
Trang 17CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẶC TRƯNG NGÂN HÀNG VÀ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trong chương này, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết liên quan cũng như những kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến RRTD tại các NHTM
2.1 Nền tảng lý thuyết về rủi ro tín dụng ngân hàng
2.1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng
Theo Fitch (1997): Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người đi vay
không thanh toán nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ Là loại rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Theo Santomero (1997): Rủi ro tín dụng phát sinh từ việc không thực hiện
nghĩa vụ của người đi vay Nó phát sinh từ việc không có khả năng hoặc không có thiện chí để thực hiện các điều khoản trong hợp đồng đã được cam kết trước
Theo Heffernan (2004): Rủi ro tín dụng là loại rủi ro mà người đi vay mất
khả năng chi trả các khoản vay ngân hàng Hầu hết các ngân hàng rơi vào tình trạng phá sản là do việc tăng quá cao tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
Theo Gup, Kolari, Wiley & Sons (2005): Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi
khách hàng mất khả năng chi trả trong hoạt động tín dụng, từ đó gây ra tổn thất cho ngân hàng Rủi ro tín dụng áp dụng cho cả các khoản vay, phái sinh, các giao dịch
về tỷ giá hối đoái, danh mục đầu tư và các hoạt động tài chính khác Đối với các khoản cho vay, thì rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay mất khả năng chi trả các khoản vay, gây tổn thất cho người cho vay
Theo Gestel và Baesens (2008): Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi người
vay bị vỡ nợ và không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình Rủi ro này xảy ra khi người vay không có khả năng trả nợ hoặc không trả nợ đúng hạn
Tại Việt Nam, theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín
Trang 18dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho rằng: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Từ các quan điểm trên có thể kết luận: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát
sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng
2.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Nếu căn cứ vào khả năng giảm thiểu rủi ro, RRTD được chia ra thành hai loại là rủi ro có hệ thống và không hệ thống
Theo Yurdakul (2013) thì RRTD mà ngân hàng đối mặt có hai thành phần chính, đó là RRTD có hệ thống và không hệ thống Rủi ro hệ thống bắt nguồn từ
những thay đổi của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và ảnh hưởng đến tất cả các thị trường tài chính (tiền tệ và vốn) và tất cả các chứng khoán (tài sản tài chính) được giao dịch trên thị trường Mặt khác, RRTD không hệ thống là loại rủi ro được tạo ra bởi một công ty hay các đặc điểm của ngành mà công ty đó hoạt động Các yếu tố như khả năng quản lý yếu kém, phát triển công nghệ, phát minh mới và những thay đổi trong thị hiếu của người tiêu dùng có thể dẫn đến biến động không
hệ thống Rủi ro tài chính, quản lý, hoạt động và công nghiệp là những rủi ro không
hệ thống (Tuna, 2009) Rủi ro hệ thống có thể được phân loại như rủi ro thị trường,
rủi ro chính trị, rủi ro lạm phát, rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động và rủi ro tỷ giá Rủi
ro tỷ giá liên quan đến những thay đổi có thể xảy ra trong các tài sản hoặc nợ phải trả là kết quả của những thay đổi trong tỷ giá hối đoái Rủi ro lãi suất được định nghĩa như là khả năng gia tăng nói chung trong lãi suất thị trường Những thay đổi trong lãi suất thị trường ảnh hưởng đến giá chứng khoán (tài sản tài chính) Rủi ro lạm phát liên quan đến sự không chắc chắn của lợi nhuận kỳ vọng từ các khoản đầu
tư trong quá trình lạm phát (Dağlı, 2004) Rủi ro chính trị là những thay đổi xảy ra
trong giá tài sản tài chính và lợi nhuận do những thay đổi trong điều kiện chính trị Rủi ro hoạt động biểu thị nguy cơ tổn thất phát sinh từ những quy trình nội bộ
Trang 19không đầy đủ hoặc thất bại, con người, và các hệ thống hoặc các yếu tố bên ngoài Rủi ro thị trường là loại rủi ro mất mát do những thay đổi trong giá trị tài sản tài chính và bao gồm các thành phần như: rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và rủi ro hoạt
động, mà những rủi ro này nằm ngoài sự kiểm soát của nhà đầu tư (Demireli, 2007)
Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được chia ra thành hai loại là rủi ro giao dịch (transaction risk) và rủi ro danh mục (portfolio risk) (Theo
Trần Huy Hoàng (2011))
Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là
do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi
ro nghiệp vụ
Về rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay
Về rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo
Về rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật
xử lý các khoản cho vay có vấn đề
Rủi ro danh mục: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là
do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: rủi ro nội tại (intrinsic risk) và rủi ro tập trung (concentration risk)
Về rủi ro nội tại: rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
Về rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng
Trang 20một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
2.1.3 Đánh giá rủi ro tín dụng
Việc đo lường chất lượng tín dụng là rất cần thiết trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và mức độ an toàn của các NHTM Việc đánh giá RRTD giúp các NHTM kiểm soát tốt hoạt động cấp tín dụng và đề ra các giải pháp thích hợp nhằm hạn chế những tổn thất khi rủi ro xảy ra Các chỉ số thường được sử dụng
để đánh giá RRTD là (theo Trần Huy Hoàng (2011)):
Trang 21Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng xấu: Là những khoản cho
vay có mức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao cho ngân hàng Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng tốt: Là những khoản cho
vay có mức độ rủi ro thấp nhưng có thể mang lại thu nhập không cao cho ngân hàng Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình: Là những
khoản cho vay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và thu nhập mang lại cho ngân hàng là vừa phải Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng dư
nợ cho vay của ngân hàng nên hệ số rủi ro tín dụng thường được viết như sau:
𝐇ệ 𝐬ố 𝐫ủ𝐢 𝐫𝐨 𝐭í𝐧 𝐝ụ𝐧𝐠 =
𝐓ổ𝐧𝐠 𝐝ư 𝐧ợ 𝐜ủ𝐚 𝐜á𝐜 𝐤𝐡𝐨ả𝐧 𝐜𝐡𝐨𝐯𝐚𝐲 𝐜ó 𝐜𝐡ấ𝐭 𝐥ượ𝐧𝐠 𝐭𝐫𝐮𝐧𝐠 𝐛ì𝐧𝐡
𝐓ổ𝐧𝐠 𝐭à𝐢 𝐬ả𝐧 𝐜ó × 𝟏𝟎𝟎%
2.1.3.4 Tỷ lệ xóa nợ
𝐓ỷ 𝐥ệ 𝐱ó𝐚 𝐧ợ = 𝐂á𝐜 𝐤𝐡𝐨ả𝐧 𝐱ó𝐚 𝐧ợ 𝐫ò𝐧𝐠
𝐓ổ𝐧𝐠 𝐝ư 𝐧ợ 𝐜𝐡𝐨 𝐯𝐚𝐲 × 𝟏𝟎𝟎%
Theo Rose (2001), các khoản cho vay được xóa nợ là những khoản cho vay
được ngân hàng tuyên bố là không còn giá trị và được xóa khỏi sổ sách Nếu một trong những khoản cho vay này cuối cùng cũng tạo ra thu nhập cho ngân hàng thì tổng số thu sẽ được khấu trừ khỏi tổng các khoản xóa nợ tạo thành các khoản xóa
nợ ròng
2.1.3.5 Tỷ lệ khả năng bù đắp rủi ro tín dụng
𝐓ỷ 𝐥ệ 𝐤𝐡ả 𝐧ă𝐧𝐠 𝐛ù đắ𝐩 𝐑𝐑𝐓𝐃 =𝐃ự 𝐩𝐡ò𝐧𝐠 𝐑𝐑𝐓𝐃 đượ𝐜 𝐭𝐫í𝐜𝐡 𝐥ậ𝐩
𝐍ợ 𝐪𝐮á 𝐡ạ𝐧 𝐤𝐡ó đò𝐢 × 𝟏𝟎𝟎% 2.1.4 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
2.1.4.1 Nguyên nhân khách quan
Theo giả thuyết “kém may mắn” của Berger và DeYoung (1995) thì hoạt
động ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro từ môi trường kinh tế nằm ngoài tầm
Trang 22kiểm soát của ngân hàng, có thể kể đến một số yếu tố ảnh hưởng như: chu kỳ kinh
tế, sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất, chính sách pháp luật của Nhà nước,… Theo thời gian, các yếu tố này sẽ thay đổi một cách thường xuyên và liên tục, từ đó có ảnh hưởng đến RRTD của ngân hàng Có yếu tố thay đổi sẽ tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động ngân hàng nhưng cũng có thể có những thay đổi làm xấu đi chất lượng tín dụng, từ đó làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và gia tăng nợ xấu cũng như RRTD cho ngân hàng
Chu kỳ kinh tế
Khi nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu đầu tư vào các sản phẩm, dịch vụ tăng cao, điều này làm cho tín dụng tăng trưởng nhanh Trong giai đoạn này, do điều kiện kinh tế thuận lợi nên người đi vay thường có những khoản thu nhập đủ để trang trải tất cả các chi phí đi vay, RRTD vì thế được hạn chế Mặt khác, trong giai đoạn suy thoái, nền kinh tế trì trệ, hiệu quả hoạt động cho vay giảm sút, thu nhập của người đi vay không ổn định, chính điều này sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tín dụng ngân hàng Đặc biệt là đối với các khoản vay trung dài hạn được quyết định cho vay dễ dàng trong giai đoạn nền kinh tế phát triển, thì khả năng trả nợ của khách hàng trong giai đoạn suy thoái là một vấn đề rất đáng quan tâm
Lạm phát, lãi suất
Khi lạm phát gia tăng, NHNN bắt buộc phải có sự điều chỉnh, và điều này sẽ kéo theo sự gia tăng trong lãi suất Chính sự gia tăng lãi suất trong nền kinh tế làm cho ngân hàng phải điều chỉnh lãi suất sao cho phù hợp với yêu cầu khách quan cũng như đảm bảo có lời trong kinh doanh Lãi suất cho vay này sẽ cản trở khả năng trả nợ của người đi vay do trong giai đoạn lạm phát tăng cao như vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh của khách hàng sẽ thấp đi và bắt buộc khách hàng phải có những tính toán nhất định khi đi vay hoặc thực hiện những phương án kinh doanh mạo hiểm Chính điều này đã làm cho RRTD ngân hàng tăng cao
Môi trường pháp lý
Trang 23Hoạt động ngân hàng luôn phải chịu sự điều tiết của khuôn khổ pháp lý do tính chất đặc biệt của ngành là kinh doanh tiền tệ Một môi trường pháp lý vững chắc sẽ tạo tiền đề cho tăng trưởng tín dụng lành mạnh, hạn chế được rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng, mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng và góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế Mặt khác, khi hành lang pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng
bộ sẽ tạo ra những khe hở pháp luật cho cả người cho vay và người đi vay và vô hình chung đã đẩy hoạt động ngân hàng rơi vào những rủi ro và nhiều khả năng sẽ
đi đến phá sản
2.1.4.2 Nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân từ phía khách hàng
Khách hàng trong hoạt động ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng vì chính khách hàng đem lại hiệu quả hoạt động cho ngân hàng Tuy nhiên, việc thẩm định khách hàng vay luôn là vấn đề mà hầu hết các ngân hàng đang quan tâm, bởi vì RRTD ngân hàng một phần là do năng lực tài chính, năng lực quản trị kinh doanh yếu kém của khách hàng vay, có thể kể đến một số nguyên nhân như sau:
Năng lực quản trị kinh doanh
Năng lực quản trị kinh doanh đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của khách hàng Việc phản ứng chậm với những thay đổi của môi trường kinh tế, đối thủ cạnh tranh,… cũng như những yếu kém trong quản lý sẽ làm cho hoạt động kinh doanh của khách hàng gặp nhiều khó khăn, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng Một doanh nghiệp có đội ngũ quản lý tốt, luôn biết thích ứng với môi trường sẽ tìm ra những biện pháp tốt nhất cho mình, từ đó sẽ đáp ứng được những cam kết và nghĩa vụ với ngân hàng
Năng lực tài chính
Khả năng tài chính của khách hàng là yếu tố cốt lõi quyết định khả năng trả
nợ ngân hàng Một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh sẽ không gặp khó khăn
gì khi vay vốn ở ngân hàng Do đó, việc thẩm định khả năng trả nợ của khách hàng
là vấn đề hàng đầu của ngân hàng trước khi ra quyết định cấp tín dụng Liệu ngân hàng có thu hồi được đầy đủ nợ hay không là do khâu thẩm định năng lực tài chính
Trang 24Chính vì thế, RRTD có thể hạn chế được là do việc xem xét dòng tiền từ khách hàng
Đạo đức
Đạo đức của khách hàng tác động đến khả năng thu hồi nợ của ngân hàng Khách hàng hoạt động kinh doanh hiệu quả nhưng cố tình dùng nhiều thủ đoạn để không trả nợ ngân hàng, lừa đảo vốn ngân hàng,… Với mục đích của mình, khách hàng sẽ tìm mọi cách để chiếm dụng vốn của ngân hàng cũng như sử dụng vốn sai mục đích, chẳng hạn như: sử dụng vốn vào các hoạt động có rủi ro cao dẫn đến thua
lỗ không có khả năng trả nợ, sử dụng vốn ngắn hạn để đầu tư vào tài sản dài hạn không có tính thanh khoản cao,… Chính những hành động này đã góp phần làm cho việc trả nợ ngân hàng gặp khó khăn hoặc ngân hàng đứng trước nguy cơ mất vốn, không kiểm soát được dòng vốn đã cho vay
Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Chính sách và quy trình cấp tín dụng
Hoạt động tín dụng ngân hàng luôn có những văn bản, quy định hướng dẫn
cụ thể Chính những văn bản này sẽ giúp cán bộ tín dụng định hướng được những công việc cần phải làm, từ khâu tiếp xúc khách hàng, thẩm định hồ sơ, giải ngân,
…Tuy nhiên, khi chính sách, văn bản, quy định này thiếu nhất quán, lỏng lẻo, không phù hợp với thực tế tình hình nền kinh tế và đặc điểm ngân hàng sẽ gây ra nhiều hậu quả khôn lường Hiện nay, các quy định của ngân hàng vẫn chưa chặt chẽ, có khi một cán bộ làm hết tất cả các khâu trong quá trình cấp tín dụng mà không phân công theo từng mảng nghiệp vụ Chính điều này đã tạo nhiều khe hở cho những đối tượng lừa đảo vốn ngân hàng dễ dàng thực hiện
Năng lực, đạo đức của nhân viên
Con người luôn là vấn đề quyết định đến sự tồn tại của một tổ chức Ngân hàng là tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ nên ẩn chứa nhiều rủi ro, do đó vấn đề năng lực và đạo đức con người rất quan trọng Cán bộ tín dụng không chấp hành đúng quy chế cho vay, không đánh giá đầy đủ năng lực khách hàng, cho vay khống, không có tài sản bảo đảm, hoặc cho vay vượt tỷ lệ an
Trang 25toàn của ngân hàng, sẽ làm cho RRTD của ngân hàng gia tăng, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng Bên cạnh đó, năng lực của cán bộ tín dụng cũng có nhiều ảnh hưởng đến RRTD Chẳng hạn: Ngân hàng đánh giá khách hàng sơ sài, thiếu kiến thức thẩm định có thể dẫn đến việc cho vay nhưng phương án/dự án vay không hiệu quả
2.1.5 Hậu quả của rủi ro tín dụng
Khi RRTD xảy ra sẽ gây nên nhiều hậu quả nghiêm trọng, không chỉ đối với bản thân ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế
2.1.5.1 Đối với ngân hàng Khi RRTD xảy ra, ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thất thoát vốn, hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn do việc chậm thu hồi được nợ gốc và lãi tiền vay Ngân hàng là trung gian tài chính, huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để cung cấp vốn tín dụng cho các đối tượng bị thiếu hụt vốn Hoạt động tín dụng gặp khó khăn do phải đối mặt với RRTD nhưng ngân hàng vẫn phải chi trả các khoản lãi tiền gửi khi đến hạn cho khách hàng, chính điều này đe dọa đến khả năng thanh khoản của ngân hàng cũng như niềm tin của khách hàng vào tiềm lực tài chính của ngân hàng bị sụt giảm Bên cạnh đó, việc RRTD cao đồng nghĩa với việc ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro nhiều hơn nhằm hạn chế những tổn thất có thể xảy ra, chính việc trích lập dự phòng này làm gia tăng chi phí hoạt động, làm giảm sút lợi nhuận của ngân hàng Nếu lợi nhuận không đủ thì bản thân ngân hàng phải sử dụng đến vốn tự có để bù đắp chi phí và các thiệt hại do RRTD gây ra
2.1.5.2 Đối với nền kinh tế Hoạt động của hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, bởi vì ngân hàng là một kênh thu hút nguồn vốn và cung ứng tín dụng cho các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế Do đó RRTD có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của nền kinh tế RRTD xảy ra ở mức độ thấp sẽ gây khó khăn cho các cá nhân, doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, từ
đó làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế RRTD ở mức độ cao hơn sẽ
Trang 26làm cho ngân hàng thất thoát vốn, lợi nhuận sụt giảm do phải tăng trích lập dự phòng rủi ro, khách hàng không còn đặt niềm tin vào hoạt động ngân hàng Chính điều này làm cho ngân hàng rơi vào bờ vực phá sản và với hiệu ứng lan truyền, toàn
bộ hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế rơi vào tình trạng khó khăn, gây khủng hoảng cho toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước
Tóm lại, RRTD xảy ra sẽ gây nên nhiều hệ lụy không chỉ cho bản thân ngân hàng mà còn cho cả nền kinh tế Chính vì thế, những nhà làm chính sách và các cơ quan giám sát ngân hàng cần có những biện pháp tích cực để theo dõi hoạt động ngân hàng và có những giải pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất RRTD xảy ra
2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến rủi
ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại
Có rất nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu sự tác động của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến RRTD Có nhiều tranh luận khác nhau giữa các tác giả về ảnh hưởng của các yếu tố này đến RRTD, có yếu tố tác động dương, có yếu tố tác động âm đến RRTD Trong phạm vi của đề tài này, tác giả tổng hợp lại và đưa ra một số yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô có tác động đến RRTD
2.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng đến rủi ro tín dụng tại
các Ngân hàng thương mại
2.2.1.1 Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng
Dự phòng RRTD được xem là một cách kiểm soát những tổn thất cho vay dự kiến và có khả năng phát hiện và xử lý được những tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Do đó, các ngân hàng dự kiến mức độ mất vốn càng cao sẽ thực hiện việc trích lập dự phòng cao hơn, điều này làm giảm thu nhập của ngân hàng Vì vậy, tỷ lệ dự phòng RRTD và RRTD ngân hàng có mối quan hệ cùng
chiều (Hasan và Wall (2003))
Dự phòng RRTD được sử dụng để dự phòng xử lý những khoản có thể bị tổn
thất trong tương lai trong các danh mục cho vay (Ahmed và cộng sự (1998)) Các
Trang 27tác giả cũng cho rằng, tỷ lệ dự phòng RRTD có mối quan hệ cùng chiều với RRTD Một sự gia tăng trong tỷ lệ dự phòng RRTD đồng nghĩa với một sự gia tăng trong RRTD ngân hàng và làm suy giảm chất lượng tín dụng
Ngân hàng trong hoạt động cho vay luôn ẩn chứa nhiều rủi ro và rủi ro quan trọng nhất, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng chính là RRTD Do đó, ngân hàng luôn trích lập dự phòng hàng năm và hạch toán vào chi phí hoạt động để
dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (theo quy định tại thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì dự phòng rủi ro được chia thành dự phòng chung và dự phòng cụ thể1 Trong đó, tỷ lệ trích lập dự phòng chung là 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4; tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể là: nhóm 1: 0%, nhóm 2: 5%, nhóm 3: 20%, nhóm 4: 50% và nhóm 5: 100%) Do đó, khi ngân hàng có RRTD càng cao, đồng nghĩa với việc trích lập dự phòng càng cao để dự phòng cho những mất mát xảy ra Vì vậy, RRTD ngân hàng và tỷ lệ dự phòng RRTD có mối quan hệ cùng chiều
2.2.1.2 Tỷ số hiệu quả hoạt động
Rose (2001) cho rằng với chiến lược tối đa hóa lợi nhuận và giá trị ròng,
nhiều ngân hàng đã nhận ra sự cần thiết của việc nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động ngân hàng Điều này có nghĩa là làm giảm các chi phí hoạt động và tăng năng suất lao động trên cơ sở tự động hóa và nâng cao trình độ nhân viên Việc xóa bỏ một số quy định đã buộc các ngân hàng phải chấp nhận chi phí trả lãi cao hơn, do
đó ngân hàng đã không ngừng cắt giảm các chi phí khác mà đặc biệt là tiền lương
và phúc lợi cho nhân viên Thước đo phản ánh rõ nhất tính hiệu quả hay không hiệu
quả trong hoạt động ngân hàng là Tỷ số hiệu quả hoạt động (Tổng chi phí hoạt
động/Tổng thu từ hoạt động)
1
Dự phòng chung: là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng
chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể Dự phòng cụ thể: là số tiền được trích lập để dự
phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể
Trang 28Berger và DeYoung (1995) phát triển giả thuyết về rủi ro hiệu quả
(effiency-risk) Các tác giả phân tích nhiều tình huống mà RRTD có liên quan đến hiệu quả
và tìm thấy rằng có một mối quan hệ ngược chiều giữa hiệu quả chi phí và rủi ro trong các ngân hàng bị phá sản Các tác giả cho rằng những ngân hàng không có hiệu quả chi phí thường sẽ có những vấn đề trong hoạt động cho vay bởi nhiều lý
do Thứ nhất, những ngân hàng không hiệu quả, cũng như những vấn đề trong kinh nghiệm giám sát các chi phí nội bộ, không theo dõi đầy đủ danh mục cho vay hoặc không phân bổ đầy đủ nguồn lực để giám sát khoản vay sẽ có những sai lầm trong việc đánh giá các khoản nợ xấu Do đó, quản lý kém chi phí có liên quan đến sự gia tăng trong RRTD trong tương lai Các tác giả gọi đây là giả thuyết “quản lý kém” (bad management) Thứ hai, những khoản nợ xấu có thể xảy ra do các sự kiện nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng Do đó, ngân hàng phải sử dụng nhiều nguồn lực để xử lý những khoản vay có vấn đề, cũng như phải chịu những chi phí hoạt động để đối phó với những khoản vay này vì thế tạo ra hiệu quả chi phí thấp cũng
như hiệu quả hoạt động ngân hàng kém Các tác giả gọi đây là giả thuyết “kém may
mắn” (bad luck) Các tác giả cũng cho rằng có một mối quan hệ ngược chiều giữa RRTD và hiệu quả chi phí và gọi đây là giả thuyết “hà tiện” (skimping) Giả thuyết này xem nguồn lực phân phối để kiểm soát khoản vay tác động đến cả nợ xấu và hiệu quả hoạt động của ngân hàng Các nhà quản lý ngân hàng phải đối mặt với việc cân bằng giữa chi phí hoạt động trong ngắn hạn và nợ xấu trong dài hạn Vì vậy, nếu nhà quản lý đặc biệt chú trọng đến lợi nhuận trong ngắn hạn thì sẽ có xu hướng giảm chi phí hoạt động trong ngắn hạn bằng việc giảm nguồn lực phân phối để giám sát khoản vay, cho dù việc này có thể dẫn đến gia tăng nợ xấu trong tương lai Hoạt động “hà tiện” vì thế nhấn mạnh hiệu quả sử dụng chi phí trong ngắn hạn, bởi vì đầu vào ít đi nhưng sản xuất ra cùng một sản lượng như nhau, trong khi nợ xấu có
xu hướng tăng lên Theo lý thuyết này, hiệu quả sử dụng chi phí càng cao, nợ xấu càng tăng Vì vậy, theo các tác giả mối quan hệ giữa tỷ số hiệu quả hoạt động và RRTD có thể là cùng chiều hoặc ngược chiều
Trang 29Podpiera và Weill (2007) đề cập đến mối quan hệ nhân quả giữa tỷ lệ nợ xấu
và hiệu quả chi phí để xem xét các yếu tố nào có ảnh hưởng đến việc sụp đổ của các
ngân hàng Các tác giả mở rộng mô hình nhân quả Granger mà Berger and
DeYoung (1997) đã sử dụng bằng cách sử dụng phương pháp GMM để hồi quy mô
hình dạng bảng động được thực hiện trên dữ liệu của các NHTM ở Cộng hòa Séc trong khoảng thời gian từ năm 1994 đến năm 2005 Kết quả nghiên cứu của các tác giả đã ủng hộ giả thuyết “quản lý kém”, điều này đồng nghĩa với việc quản lý kém chi phí trong hoạt động ngân hàng sẽ làm RRTD gia tăng Tuy nhiên kết quả nghiên cứu này cũng đã bác bỏ giả thuyết “kém may mắn”
2.2.1.3 Tác động đòn bẩy Tác động đòn bẩy có ảnh hưởng đến RRTD Cấu trúc vốn có tác động đòn bẩy cao có khuynh hướng chấp nhận rủi ro cao hơn bởi vì nhu cầu sản xuất ra lợi nhuận cao hơn với nguồn vốn thấp hơn Bởi vì rủi ro tài chính gia tăng với tác động đòn bẩy, mối quan hệ giữa RRTD ngân hàng và tác động đòn bẩy là cùng chiều
(Chaibi và Ftiti (2014)) Chaibi và Ftiti (2014) nghiên cứu sự ảnh hưởng của các
yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến RRTD ở 147 NHTM ở Pháp và
133 NHTM ở Đức trong cùng khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2011 đã tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa tác động đòn bẩy và RRTD ở các NHTM ở Đức, còn đối với các NHTM ở Pháp, mối quan hệ này không có ý nghĩa thống kê
2.2.1.4 Tỷ số khả năng thanh toán
Theo Rose (2001), tỷ số khả năng thanh toán này được xác định bằng tỷ số
giữa vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản của ngân hàng, việc tài trợ cho tài sản bằng vốn chủ sở hữu giảm có thể phản ánh mức rủi ro lớn hơn mà cổ đông ngân hàng và các trái chủ phải đối mặt Các ngân hàng phải quan tâm trực tiếp tới rủi ro đối với khả năng tồn tại lâu dài của mình, đây thường được gọi là rủi ro phá sản Nếu quy
mô nợ khó đòi quá lớn hay giá trị thị trường của phần lớn khoản mục đầu tư chứng khoán giảm, vốn chủ sở hữu có thể giảm sút đáng kể Nếu các nhà đầu tư và người gửi tiền nhận biết được tín hiệu này và rút tiền, ngân hàng có thể không còn cách lựa chọn nào khác ngoài việc tuyên bố mất khả năng thanh toán và đóng cửa
Trang 30Ngoài ra, theo giả thuyết “rủi ro đạo đức” của Berger và DeYoung (1995)
thất bại trong hoạt động ngân hàng là do sự sụt giảm trong cấu trúc vốn Giả thuyết này ngụ ý rằng các cơ quan giám sát ngân hàng cần theo dõi cấu trúc vốn cẩn thận
và đưa ra các biện pháp nhằm gia tăng tỷ lệ này một cách nhanh chóng khi chúng trở nên thấp đi Các cơ quan giám sát ngân hàng và các nhà nghiên cứu nên tập trung kỹ càng vào ảnh hưởng của cấu trúc vốn, đo lường ảnh hưởng của cấu trúc vốn như thế nào cũng như thiết lập và thực thi cấu trúc vốn ra sao Bởi vì giả thuyết
“rủi ro đạo đức” không phải giả thuyết về mối quan hệ giữa các khoản vay có vấn
đề và đo lường hiệu quả chi phí mà giả thuyết này chính là giả thuyết về mối quan
hệ giữa RRTD và tỷ lệ cấu trúc vốn ngân hàng Các tác giả cho rằng, giả thuyết về
rủi ro đạo đức cung cấp một lời giải thích thay thế cho các khoản nợ xấu, vì vậy những ảnh hưởng của việc kiểm soát hiệu quả chi phí đến nợ xấu sẽ không phù hợp nếu như những ảnh hưởng của cấu trúc vốn bị sao lãng
2.2.1.5 Thu nhập ngoài lãi
Theo Louzis và cộng sự (2010) cần xem xét chỉ số thu nhập ngoài lãi trong
phân tích mối quan hệ với RRTD Các tác giả cho rằng, tỷ lệ này phản ánh các ngân hàng cũng dựa trên các loại thu nhập thay thế khác chứ không chỉ là thu nhập từ lãi, chính điều này đã làm cho nguồn thu nhập của ngân hàng đa dạng hơn Do đó, thu nhập ngoài lãi và RRTD có mối quan hệ ngược chiều
2.2.1.6 Quy mô Các ngân hàng lớn hơn thường có rủi ro thấp hơn bởi vì các ngân hàng có khả năng nắm giữ các danh mục sản phẩm đa dạng hóa Ngoài ra, khả năng quản lý
rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng lớn cũng tốt hơn (Zribi và Boujelbène
(2011))
Tuy nhiên, Stern và Feldman (2004) lại cho rằng, vấn đề “càng lớn thì dễ
thất bại” (too big to fail) là đúng Theo các tác giả, vấn đề “càng lớn thì dễ thất bại” đóng một vai trò rất quan trọng trong các cuộc khủng hoảng ngân hàng trên thế giới trong một vài thập kỷ gần đây Các tác giả cho rằng, các ngân hàng lớn hơn có thể chấp nhận các rủi ro vượt mức bởi vì quy luật thị trường không bị áp đặt bởi những
Trang 31người cho vay mà những người này thì thường mong đợi một sự bảo vệ của Chính phủ khi ngân hàng rơi vào bờ vực phá sản Do đó, các ngân hàng này thường đẩy mạnh gia tăng đòn bẩy, gia tăng khoản vay kể cả đối với những người cho vay có chất lượng không tốt và do đó làm gia tăng nợ xấu và RRTD
2.2.1.7 Khả năng sinh lợi
Chaibi và Ftiti (2014) trong bài nghiên cứu của mình đã phân tích được mối
quan hệ ngược chiều giữa khả năng sinh lợi và RRTD ngân hàng ở các ngân hàng ở nước Đức và Pháp Kết quả mang ý nghĩa thống kê cao và theo tác giả, kết quả này
là hoàn toàn phù hợp với giả thuyết “quản lý kém” của Berger và DeYoung (1995) Theo Chaibi và Ftiti (2014), khả năng quản lý ngân hàng càng tốt sẽ đem lại khả
năng sinh lợi cao và kiểm soát được RRTD
Đồng quan điểm với Chaibi và Ftiti (2014), Louzis và cộng sự (2010) cũng
cho rằng có một mối quan hệ ngược chiều và có ý nghĩa giữa khả năng sinh lợi (đặc trưng bởi biến ROA và ROE) và RRTD ngân hàng, kết quả này có được từ việc thực hiện nghiên cứu ở 9 NHTM lớn nhất ở Hy Lạp trong khoảng thời gian từ Quý
1 năm 2003 đến Quý 3 năm 2009
2.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến rủi ro tín dụng tại các ngân
hàng thương mại
2.2.2.1 Tốc độ tăng trưởng GDP thực
Theo Chaibi và Ftiti (2014), việc phân tích mối quan hệ giữa tốc độ tăng
trưởng GDP thực và RRTD của các ngân hàng được dựa trên các giai đoạn của chu
kỳ kinh tế Cụ thể là, trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế, các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp có đầy đủ nguồn vốn và các quỹ để thanh toán các khoản nợ, nhưng trong giai đoạn suy thoái, khả năng trả nợ bị sụt giảm Do đó, việc cấp tín dụng của ngân hàng thường xảy ra đối với những người đi vay có chất lượng thấp, kết quả là
nợ xấu gia tăng Chaibi và Ftiti (2014) sử dụng mô hình dynamic panel data với
phương pháp ước lượng GMM để nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến RRTD Bài nghiên cứu thực hiện trên 147 NHTM ở Pháp (hệ thống tài chính của Pháp chủ yếu dựa vào nền kinh tế thị trường)
Trang 32và 133 NHTM ở Đức (hệ thống tài chính của Đức chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng) trong cùng khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2011 Tác giả sử dụng nhóm các biến đặc trưng ngân hàng đại diện bởi: Tỷ lệ dự phòng RRTD, tỷ số hiệu quả hoạt động, tác động đòn bẩy, tỷ số khả năng thanh toán, thu nhập ngoài lãi, quy
mô, khả năng sinh lời và nhóm các biến kinh tế vĩ mô đại diện bởi: Tốc độ tăng trưởng GDP thực, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá hối đoái và lãi suất thực Kết quả hồi quy của nhóm tác giả cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP thực có ý nghĩa thống kê và có mối tương quan ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu
Việc phân tích môi trường kinh tế vĩ mô là cần thiết, đặc biệt là phân tích mức độ ảnh hưởng của GDP đối với sự biến động của RRTD Việc phân tích tác động của GDP đối với RRTD cũng được đặt trong các giai đoạn của chu kỳ kinh tế
(Louzis và cộng sự (2010)) Theo các tác giả, các giai đoạn tăng trưởng kinh tế
thường được đặc trưng bởi một tỷ lệ tương đối thấp của các khoản nợ xấu, bởi vì cả người tiêu dùng và các doanh nghiệp đều có một dòng thu nhập và các khoản thu đầy đủ để chi trả các khoản nợ của họ Tuy nhiên, nếu thời kỳ bùng nổ kinh tế vẫn tiếp tục diễn ra, tín dụng sẽ được mở rộng đến những người đi vay có chất lượng tín dụng thấp hơn và kết quả là khi nền kinh tế rơi vào giai đoạn suy thoái, nợ xấu ngân
hàng sẽ có xu hướng gia tăng Do đó, theo Louzis và cộng sự (2010) thì RRTD ngân
hàng và tốc độ tăng trưởng GDP thực có mối quan hệ ngược chiều, nghĩa là một sự gia tăng trong tốc độ tăng trưởng GDP thực sẽ làm RRTD ngân hàng sụt giảm và ngược lại
Các nghiên cứu thực nghiệm khác của Castro (2013) sử dụng kết hợp các mô
hình: Mô hình pooled regression, mô hình FEM, mô hình REM và mô hình dynamic panel data để phân tích mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và RRTD
ở 5 ngân hàng châu Âu (Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Ý) trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến năm 2011, kết quả cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP thực và tỷ lệ nợ xấu có mối quan hệ ngược chiều nhau
Zribi và Boujelbène (2011) nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ
mô và các yếu tố bên trong ngân hàng đến RRTD của 10 NHTM ở Tunisian trong
Trang 33khoảng thời gian từ năm 1995 đến năm 2008 và kết quả hồi quy dữ liệu bảng với
mô hình FEM và REM cũng cho thấy mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng GDP thực và tỷ lệ nợ xấu là ngược chiều
2.2.2.2 Tỷ lệ lạm phát Lạm phát ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của người đi vay thông qua các kênh khác nhau và mối quan hệ với nợ xấu có thể là cùng chiều hoặc ngược chiều Lạm phát cao có thể làm cho việc trả nợ dễ dàng hơn do việc giảm giá trị thực của các khoản vay nợ hoặc đơn giản là bởi vì lạm phát cao sẽ làm cho tỷ lệ thất nghiệp giảm do tác động của đường cong Phillips Tuy nhiên, lạm phát cao cũng có thể là giảm khả năng trả nợ của người vay do việc giảm thu nhập thực tế của khách hàng Hơn nữa, khi xem xét đến lãi suất cho vay, lạm phát có thể làm giảm khả năng trả
nợ của người vay bởi vì người cho vay sẽ điều chỉnh lãi suất để duy trì thu nhập thực tế hoặc đơn giản là để vượt qua sự gia tăng trong lãi suất chính sách là kết quả
của việc thực thi chính sách tiền tệ để chống lại lạm phát (Nkusu (2011)) Trong bối
cảnh này, mối quan hệ giữa nợ xấu và lạm phát có thể là cùng chiều hoặc ngược chiều Bằng nghiên cứu thực nghiệm ở 26 quốc gia phát triển từ năm 1998 đến năm
2009 và kết quả hồi quy từ việc sử dụng mô hình vectơ tự hồi quy, Nkusu (2011)
tìm thấy giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ nợ xấu có mối quan hệ cùng chiều
Castro (2013) cũng cho rằng, lạm phát có ảnh hưởng hai chiều đối với
RRTD Lạm phát cao có thể làm cho việc trả nợ dễ dàng hơn do việc giảm giá trị thực của các khoản vay Tuy nhiên, lạm phát cao cũng làm suy yếu khả năng trả nợ của người vay do việc giảm thu nhập thực tế Do đó, mối quan hệ giữa lạm phát và RRTD có thể cùng chiều hoặc ngược chiều
Các nghiên cứu thực nghiệm khác của Ahmad và Bashir (2013) nghiên cứu
sự tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô và trong đó có biến tỷ lệ lạm phát lên RRTD ở các NHTM Pakistan từ năm 1990 đến năm 2011 Bằng mô hình pooled regression, các tác giả đã cho rằng giữa tỷ lệ lạm phát và RRTD có mối quan hệ
ngược chiều Kết quả này cũng được ủng hộ bởi nghiên cứu của các tác giả Chaibi
và Ftiti (2014)
Trang 342.2.2.3 Lãi suất thực Lãi suất là một yếu tố quan trọng trong việc phân tích mối quan hệ với RRTD bởi vì nó ảnh hưởng đến gánh nặng nợ nần của người đi vay Điều này có nghĩa là mối quan hệ giữa lãi suất và RRTD là cùng chiều Sự thật là, sự gia tăng gánh nặng nợ là kết quả của sự gia tăng trong lãi suất dẫn đến sự gia tăng trong
RRTD ngân hàng (Castro (2013))
Đồng quan điểm với Castro (2013), cả Louzis và cộng sự (2010) và Nkusu
(2011) đều cho rằng, lãi suất và RRTD có mối quan hệ cùng chiều Louzis và cộng
sự (2010) và Nkusu (2011) còn phân tích thêm rằng, lãi suất thả nổi sẽ tác động rõ
nét nhất đến RRTD, vì họ cho rằng, chính sự thả nổi lãi suất này sẽ tạo nên nhiều áp lực hơn cho người đi vay trong việc trả nợ theo quy định
2.2.2.4 Tỷ lệ thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp cung cấp thêm thông tin về tác động của các điều kiện kinh
tế Một sự gia tăng trong tỷ lệ thất nghiệp làm ảnh hưởng tiêu cực đến dòng tiền của các hộ gia đình và làm gia tăng gánh nặng nợ nần Còn đối với các doanh nghiệp, sự gia tăng trong tỷ lệ thất nghiệp có thể báo hiệu một sự sụt giảm trong sản xuất là hệ quả của sự sụt giảm nhu cầu tiêu dùng Điều này có thể dẫn đến một sự sụt giảm
trong doanh thu và tình trạng nợ ngân hàng rất mong manh (Castro (2013)) Trong bài nghiên cứu về tỷ lệ nợ xấu ở 5 NHTM ở châu Âu, Castro (2013) cũng tìm thấy
mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ nợ xấu
Liên quan đến tỷ lệ thất nghiệp, Messai và Jouini (2013) cho rằng những
khách hàng thất nghiệp không thể đáp ứng các cam kết của họ và hoàn trả các khoản vay cho ngân hàng, điều này làm cho RRTD gia tăng Một sự gia tăng trong
tỷ lệ thất nghiệp làm giới hạn sức mua hàng hóa trong hiện tại và tương lai và điều này cũng thường gắn liền với việc sụt giảm trong năng lực sản xuất hàng hóa và
dịch vụ Cũng đồng quan điểm với Castro (2013), hai tác giả này cho rằng, tỷ lệ
thất nghiệp ảnh hưởng tiêu cực đến dòng tiền của các hộ gia đình và làm gia tăng
gánh nặng nợ nần Do đó, theo Messai và Jouini (2013) tỷ lệ thất nghiệp và RRTD
có mối quan hệ cùng chiều Messai và Jouini (2013) nghiên cứu sự tác động của các
Trang 35yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến RRTD ở 85 NHTM ở 03 nước Ý,
Hy Lạp và Tây Ban Nha trong khoảng thời gian từ năm 2004 đến năm 2008 Tác giả lựa chọn 03 quốc gia này bởi vì các quốc gia này đại diện cho các nước rơi vào khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 và nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng của nền kinh tế Trong bài nghiên cứu, các tác giả đã sử dụng mô hình pooled regression để hồi quy biến phụ thuộc (tỷ lệ nợ xấu) theo các biến độc lập (tốc độ tăng trưởng GDP thực của năm trước; tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất thực, tỷ lệ dự phòng RRTD và tốc độ tăng trưởng tín dụng) và kết quả hồi quy này cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp có mối tương quan cùng chiều với tỷ lệ
nợ xấu Kết quả này cũng giống như các nghiên cứu của Louzis và cộng sự (2010) trong các nghiên cứu ở các NHTM Hy Lạp và Bofondi và Ropele (2011) trong các
nghiên cứu ở các NHTM Ý
2.2.2.5 Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái có những tác động hỗn hợp Một mặt, tỷ giá hối đoái làm suy yếu khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp định hướng xuất khẩu và ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ Mặt khác, nó có thể cải thiện khả năng trả nợ của những
người đi vay với các khoản vay bằng đồng ngoại tệ (Nkusu (2011)) Các dấu hiệu
về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và RRTD là không xác định
Cũng đồng quan điểm trên, Castro (2013) sử dụng biến tỷ giá hối đoái để
phân tích năng lực cạnh tranh bên ngoài Một sự gia tăng trong tỷ giá hối đoái có nghĩa là đồng tiền trong nước đang được định giá cao, làm cho hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong quốc gia đó rẻ hơn một cách tương đối Tác giả sử dụng tỷ giá hối đoái thực đa phương làm thước đo tỷ giá hối đoái, và theo kết quả hồi quy từ việc nghiên cứu tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến RRTD ở nhóm 5 NHTM Châu Âu, tác giả tìm thấy tỷ giá hối đoái và RRTD có mối quan hệ cùng chiều
Kết quả nghiên cứu của hai tác giả Chaibi và Ftiti (2014) cho rằng tỷ giá hối
đoái và RRTD có mối quan hệ hỗn hợp Cụ thể, mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và RRTD là cùng chiều trong trường hợp nghiên cứu ở Pháp và kết quả trên hoàn toàn ngược lại cho các nghiên cứu ở Đức
Trang 36Tổng hợp kết quả thực nghiệm về những ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng
ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến RRTD của các NHTM Bảng 2.1 Bảng tổng hợp kết quả thực nghiệm
STT Các biến số Diễn giải
Tác động cùng chiều (+)/ngược chiều (-)
Ahmed và cộng sự (1998) Hasan và Wall (2003);
7 Khả năng sinh lợi Lợi nhuận sau thuế/Vốn
Louzis và cộng sự (2010); Chaibi và Ftiti (2014)
II Các biến số kinh tế vĩ mô
Castro (2013)
4 Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp hàng
Bofondi và Ropele (2011); Castro (2013);
Messai và Jouini (2013)
5 Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái hàng năm +/- Nkusu (2011);
Castro (2013) (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Trang 37Kết luận chương 2
RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng RRTD xảy ra sẽ để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng không chỉ cho bản thân ngân hàng mà còn cho nền kinh tế Thông qua việc định nghĩa, phân loại, phân tích nguyên nhân xảy ra RRTD và hậu quả của RRTD sẽ giúp cho việc tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến RRTD được dễ dàng hơn để từ đó giúp cho các nhà làm chính sách và cơ quan giám sát ngân hàng đưa ra được những giải pháp nhằm hạn chế RRTD Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đã phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến RRTD ngân hàng nhưng tựu trung lại có hai
nhóm yếu tố như sau: Nhóm các yếu tố đặc trưng ngân hàng: Tỷ lệ dự phòng RRTD,
tỷ số hiệu quả hoạt động, tác động đòn bẩy, tỷ số khả năng thanh toán, thu nhập ngoài lãi, quy mô, khả năng sinh lợi và nhóm các yếu tố kinh tế vĩ mô: tốc độ tăng trưởng GDP thực, tỷ lệ lạm phát, lãi suất thực, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá hối đoái
Trang 38CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẶC TRƯNG NGÂN HÀNG VÀ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
3.1 Thực trạng nền kinh tế vĩ mô Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2014
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu về tình hình nền kinh tế vĩ mô Việt Nam từ năm 2007 đến
Tỷ lệ thất nghiệp (%) 2,30 2,40 2,60 2,60 2,00 1,80 2,00 2,40
Tỷ giá hối đoái
USD/VND 16.105 16.302 17.065 18.613 20.510 20.828 20.935 21.159
(Nguồn: http://www.adb.org/publications/series/asian-development-outlook ; http://data.worldbank.org/indicator ; http://finance.vietstock.vn/du-lieu-vi-mo )
Trang 39Tốc độ tăng trưởng GDP thực trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm
2014 biến động không nhiều, mức cao nhất đạt 8,50% vào năm 2007 và mức thấp nhất đạt 5,20% vào năm 2012 Năm 2007, sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO là kết quả minh chứng cho những nổ lực không ngừng trong hoạt động kinh tế của Việt Nam nhiều năm qua theo hướng mở cửa hội nhập với thị trường thế giới và thành tựu này thể hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP thực cao và đạt 8,50% Trong thời kỳ này, nền kinh tế thế giới có những biến chuyển tích cực, các đối tác chính của Việt Nam như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, các quốc gia châu
Âu và đặc biệt là khu vực châu Á có tốc độ tăng trưởng cao, giá hàng hóa trên thị trường thế giới tương đối thấp, các rào cản thương mại tại các nước được gỡ bỏ nhờ hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn Chính điều này đã thúc đẩy cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng, mở rộng thị phần và tăng kim ngạch xuất khẩu Nhờ đó, sản phẩm Việt Nam cạnh tranh được với thế giới và chất lượng cũng như sản lượng tăng nhiều hơn so với trước đây Ngoài ra, trong năm 2007 này, trên tinh thần hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã thực thi nhiều cam kết trong khuôn khổ WTO và các hiệp định song phương và đa phương đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động sản xuất kinh doanh Những điều kiện thuận lợi này đi đôi với môi trường chính trị và pháp luật ổn định đã thu hút nhiều dòng chảy vốn từ các quốc gia trên thế giới vào Việt Nam; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Kể từ năm 2008 đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chậm lại
và không sôi nổi bằng năm 2007 – năm đánh dấu cột mốc Việt Nam gia nhập WTO (điển hình là tốc độ tăng trưởng GDP thực có chiều hướng suy giảm qua các năm) Dưới tác động của cuộc khủng hoảng và suy thoái toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu những ảnh hưởng nặng nề Hội nhập kinh tế quốc tế tuy rất có lợi cho Việt Nam những cũng từ đó nền kinh tế Việt Nam cũng phụ thuộc ít nhiều vào các nước trên thế giới Trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2011, giá nguyên nhiên liệu thế giới tăng cao đã gây sức ép không nhỏ cho nền kinh tế Việt Nam, điều này cũng tạo áp lực lạm phát và tăng trưởng kinh tế Trong thời kỳ này, dòng vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam cũng ít đi do tác động của cuộc khủng
Trang 40hoảng tài chính toàn cầu Để hạn chế những ảnh hưởng không nhỏ từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, trong khoảng thời gian này, các chính sách của Chính phủ được đưa ra một cách linh hoạt: khi xuất hiện áp lực lạm phát và bất ổn kinh tế thì chính sách đưa ra là thắt chặt tài khóa và tiền tệ; ngược lại khi lạm phát có dấu hiệu giảm thì thực hiện chính sách nới lỏng để chống lại hiện tượng suy giảm kinh tế 3.1.2 Tỷ lệ lạm phát
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2014
(Nguồn: http://www.adb.org/publications/series/asian-development-outlook )
Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam biến động mạnh trong khoảng thời gian từ năm
2007 đến năm 2012 và có xu hướng giảm dần đến năm 2014 Năm 2007, Việt Nam vẫn giữ được tỷ lệ lạm phát ở mức vừa phải và đạt dưới 2 con số (tỷ lệ lạm phát là 8,30%) Tuy nhiên con số này gia tăng rất nhanh và cán mốc 23,00% vào năm 2008 Trong khoảng thời gian này, nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn dưới tác động lan truyền của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Trong giai đoạn này, giá dầu và giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào của sản xuất liên tục gia tăng điều này đã khiến cho chi phí sản xuất tăng cao Mặt khác, vấn đề quản lý chính sách của nhà nước còn khá lỏng lẻo và bất cập đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới Chính điều này đã khiến cho Việt Nam đối mặt với nguy cơ lạm phát cao Trong thời kỳ mở cửa hội nhập này, nhiều dòng vốn quốc tế đã ồ ạt