TÓM TẮT Đề tài nghiên cứu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và tăng trưởng kinh tế đã không còn xa lạ, tuy nhiên với mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển đổi mới thì đề tài này luôn t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
TRỊNH THỊ NGỌC THỦY
VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ QUỐC GIA
ĐẾN QUÁ TRÌNH HẤP THỤ FDI VÀO CÁC NỀN KINH TẾ ĐANG PHÁT TRIỂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
TRỊNH THỊ NGỌC THỦY
VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ QUỐC GIA
ĐẾN QUÁ TRÌNH HẤP THỤ FDI VÀO CÁC NỀN KINH TẾ ĐANG PHÁT TRIỂN
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ ĐẠT CHÍ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài luận văn ―VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ QUỐC GIA ĐẾN
QUÁ TRÌNH HẤP THỤ FDI VÀO NỀN KINH TẾ ĐANG PHÁT TRIỂN‖ là
công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Lê Đạt Chí
Các số liệu trong bài nghiên cứu được thu thập và xử lí trung thực, khách quan
Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của bài luận văn này
TP.HCM ngày 02 tháng 11 năm 2015
Trịnh Thị Ngọc Thủy
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA……… ……
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT
1 Giới Thiệu 1
1.1 Lí do chọn đề tài 2
1.2 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu 3
1.5 Kết cấu luận văn 3
2 Các nghiên cứu trước đây 4
2.1 Khả năng hấp thụ 4
2.2 Hiệu ứng lan toả 5
2.3 FDI và khả năng hấp thụ 6
2.4 Lý thuyết tăng trưởng – mô hình tăng trưởng nội sinh 7
2.5 Nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế 13
2.5.1 Tác động tích cực của FDI đến tăng trưởng kinh tế 13
2.5.1.1 FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế 14
2.5.1.2 FDI tạo bước phát triển cho công nghệ 15
2.5.1.3 FDI giúp phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm 16
2.5.1.4 FDI giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu 17
2.5.1.5 FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 18
Trang 52.5.2 Tác động tiêu cực của FDI đến tăng trưởng kinh tế 19
2.5.2.1 Tác động lấn át của FDI đối với doanh nghiệp trong nước 19
2.5.2.2 Chuyển giao công nghệ lạc hậu 19
2.5.2.3 Đầu tư không cân xứng giữa các ngành 19
2.5.2.4 Vấn đề chuyển giá và hạch toán lỗ của một số doanh nghiệp FDI 20
2.6 Nhân tố hấp thụ - yếu tố địa phương 21
2.6.1 Giáo dục 21
2.6.2 Môi trường kinh tế vĩ mô 23
2.6.3 Thể chế 24
2.6.4 Chất lượng cơ sở hạ tầng 25
3 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 27
3.1 Mô hình nghiên cứu: 27
3.2 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 33
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu 33
3.2.2 Dữ liệu 36
4 Kết quả nghiên cứu 37
4.1 Ma trận hệ số tương quan 37
4.2 Kết quả hồi quy trên toàn mẫu 38
4.3 Kết quả hồi quy trên mẫu các quốc gia có thu nhập trung bình cao 42
4.4 Kết quả hồi quy trên mẫu các quốc gia có thu nhập trung bình thấp 48
5 Kết luận và gợi ý chính sách 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Gợi ý chính sách 53
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
FDI Foreign Direct Investment - Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội
WB World Bank - Ngân hàng Thế Giới
SGMM System Generalized Method of Moments - Phương pháp ước lượng hệ
thống Moment tổng quát
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu đồ 1.1: Diễn biến tăng trưởng thương mại quốc tế và vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 1970- 2014 tính trên toàn thế giới (%) 1Bảng 3.1: Tổng hợp và giả định các biến trong mô hình (1) 32Bảng 3.2: Thống kê mô tả dữ liệu 78 quốc gia đang phát triển (1990 – 2014) 36Bảng 4.1: Hệ số tương quan giữa các biến (mẫu 78 quốc gia giai đoạn 1990-2014) 37Bảng 4.2: Kết quả hồi quy Tốc độ tăng trưởng GDP - Mẫu: 78 Quốc gia đang phát triển (1990 - 2014) 39Bảng 4.3: Hệ số tương quan các biến (mẫu 39 quốc gia có thu nhập cao hơn) 42Bảng 4.4: Kết quả hồi quy Tốc độ tăng trưởng GDP - Mẫu: 39 Quốc gia đang phát triển với GDP/người thuộc nhóm trên trung bình (1990 - 2014) 43Bảng 4.5: Hệ số tương quan các biến (mẫu 39 quốc gia có thu nhập thấp) 48Bảng 4.6: Kết quả hồi quy Tốc độ tăng trưởng GDP - Mẫu: 39 Quốc gia đang phát triển thuộc nhóm GDP/người thấp (1990 - 2014) 49
Trang 8TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tăng trưởng kinh tế đã không còn xa lạ, tuy nhiên với mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển đổi mới thì đề tài này luôn tồn tại những vấn đề mà các nhà lãnh đạo quốc gia, các nhà đầu tư đa quốc gia, các chuyên gia phân tích và các nhà nghiên cứu cần câu trả lời Liệu mối quan hệ FDI và tăng trưởng luôn luôn là một hướng? Một quốc gia muốn thu hút FDI thì phải cải thiện những vấn đề gì? FDI phát huy hiệu quả tối đa đối với quốc gia có đặc điểm như thế nào?…Bài nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm câu trả lời những tranh luận về vai trò của các nhân tố hấp thụ trong việc khai thác và sử dụng FDI đối với những nền kinh tế đang phát triển Các nhân tố trong bài nghiên cứu được cho là có khả năng giúp nền kinh tế hấp thụ lợi ích từ FDI là đặc điểm kinh tế vĩ mô, thể chế, giáo dục Bằng phương pháp System Generalized Method of Moments (SGMM) khắc phục những hạn chế về dữ liệu và phát huy hiệu quả đối với dữ liệu bảng và sử dụng các biến tương tác để thể thiện tính hấp thụ, đồng thời nhờ sự phân chia mẫu đem lại cho tác giả những kết quả khác biệt Kết quả nghiên cứu các quốc gia đang phát triển giai đoạn 1990 – 2014 cho thấy tầm quan trọng của các yếu tố môi trường kinh tế vĩ
mô và thể chế Phát hiện của tác giả cung cấp những bằng chứng mâu thuẫn về tác động của FDI lên tăng trưởng ở các nền kinh tế đang phát triển Thứ nhất, nghiên cứu này cho thấy tầm quan trọng của sự ổn định kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước cũng như chất lượng thể chế khi đánh giá tác động kinh tế của dòng vốn FDI Trong mọi trường hợp, các biến này góp phần trực tiếp vào hoạt động kinh tế, đồng thời cũng tác động đến khả năng FDI hấp thụ vào nền kinh tế Thứ hai, các kết quả thu được về tác động của FDI đến nền kinh tế khác nhau ở các quốc gia có mức thu nhập khác nhau
Cụ thể, khi tác giả chia mẫu dựa vào GDP/người, đối với các quốc gia có mức cao hơn trung bình, FDI thể hiện tích cực đến nền kinh tế, đồng thời các yếu tố vĩ mô và thể chế cũng cho thấy khả năng hấp thụ FDI của chúng, từ đó phát huy hiệu quả FDI đến nền kinh tế tốt hơn Nhưng ngược lại, ở mẫu các quốc gia có GDP/người thấp hơn trung
Trang 9bình không cho kết quả có ý nghĩa thông kê về mối tương quan FDI và tăng trưởng Các tác động của FDI vào các nền kinh tế có thể liên quan với những khó khăn mà các nước đang phải đối mặt như là về môi trường kinh tế vĩ mô, chất lượng thể chế kém Những lợi ích trong việc nâng cao tỷ lệ tích lũy vốn và trình độ công nghệ của các dòng vốn này cho các nước có thu nhập cao hơn phụ thuộc vào môi trường kinh tế vĩ
mô và thể chế thúc đẩy các quốc gia tạo ra một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và chính sách thể chế hoàn thiện, chặt chẽ cho phép chính quốc gia đó phát huy tối đa tác động lan tỏa từ các nguồn vốn nước ngoài cũng như là một chính sách thu hút đầu tư nước ngoài Do đó, các quốc gia cần xây dựng một tập hợp các chính sách không chỉ tập trung vào bên trong xúc tiến thu hút FDI mà còn cải thiện khuôn khổ chính trị và kinh tế của họ để nguồn lợi FDI phát huy hiệu quả tốt nhất
Trang 101 Giới Thiệu
Các dòng vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt FDI là thành phần quan trọng của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đến các nền kinh tế đang phát triển Trong khi thương mại quốc tế đã tăng gấp đôi, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng gấp 10 lần tính trên khắp thế giới (Yeyati, Panizza, và Stein, 2007) Trong hai thập kỷ qua, những tranh luận về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế được nghiên cứu khá phổ biến Xét trên cơ sở lý thuyết, có hai quan điểm trái ngược nhau, một là cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể kích thích sự thay đổi công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ nước ngoài và nhờ tính lan tỏa thúc đẩy phát triền nền kinh tế Số bi quan khác tin rằng FDI có thể lấn át đến đầu tư trong nước, làm cho nền kinh tế trong nước
dễ bị tổn thương, phụ thuộc, cạnh tranh phá hoại của các chi nhánh nước ngoài với doanh nghiệp nội địa và ―hiệu ứng đánh cắp thị trường‖ là kết quả của khả năng hấp thụ kém
Biểu đồ 1.1: Diễn biến tăng trưởng thương mại quốc tế và vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 1970- 2014 tính trên toàn thế giới (%)
10
(Lấy năm 1970 làm năm gốc = 100%) Nguồn dữ liệu: World Bank
Trang 11Nhiều bằng chứng thực nghiệm chứng minh là FDI có tác động đồng thời cả tích cực lẫn tiêu cực đến tăng trưởng, trong khi nhiều nghiên cứu không tìm thấy mối tương quan Nghiên cứu cấp độ doanh nghiệp thường cho ra kết luận FDI không thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Görg và Greenaway, 2004) Ngược lại, nhiều nghiên cứu kinh tế
vĩ mô xác định vai trò tích cực của FDI đến tăng trưởng kinh tế, mặc dù có một số trường hợp ngoại lệ như Akinlo (2004), Herzer, Klasen, và Nowak-Lehmann (2008) và Carkovic và Levine (2005) đã đưa ra những phát hiện cho thấy rằng dòng vốn nước ngoài không có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với tăng trưởng kinh tế Xu hướng phát triển của luồng vốn này đã góp phần thúc đẩy những tranh luận, nghiên cứu về các yếu tố thu hút FDI và những lợi ích kỳ vọng mà FDI Về lý thuyết, FDI dường như mang lại nhiều lợi ích hơn so với các dòng tài chính khác (các khoản viện trợ, vốn vay, đầu tư gián tiếp), ngoài việc làm tăng vốn cổ phần trong nước, nó có một tác động tích cực đến tăng trưởng năng suất thông qua chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý (De Mello, 1997) FDI được cho là có xu hướng ổn định hơn so với các dòng vốn khác,
kể cả tính dễ tổn thương khi có sự biến động đột ngột làm thay đổi dòng chảy vốn
1.1 Lí do chọn đề tài
Đề tài nghiên cứu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tăng trưởng kinh tế đã không còn xa lạ, tuy nhiên với mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển đổi mới thì đề tài này luôn tồn tại những vấn đề mà các nhà lãnh đạo quốc gia, các nhà đầu tư đa quốc gia, các chuyên gia phân tích và các nhà nghiên cứu cần câu trả lời Liệu mối quan hệ FDI và tăng trưởng luôn luôn là một hướng? Một quốc gia muốn thu hút FDI thì phải cải thiện những vấn đề gì? FDI phát huy hiệu quả tối đa đối với quốc gia có đặc điểm như thế nào?…Bài nghiên cứu này góp một phần trả lời cho những câu hỏi trên
1.2 Câu hỏi nghiên cứu
Những yếu tố riêng biệt của mỗi quốc gia có tác động như thế nào đến quá trình hấp thụ nguồn vốn FDI
Trang 121.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là bổ sung bằng chứng về ―yếu tố hấp thụ‖ FDI đối với các nền kinh tế đang phát triển, mà FDI chính là nguồn vốn bên ngoài quan trọng mà các quốc gia này đã, đang và sẽ đẩy mạnh thu hút Và liệu họ có đủ điều kiện phát huy được lợi ích mà họ thu hút được Mục tiêu bài nghiên cứu là đưa ra được bằng chứng rằng việc thu hút FDI bây giờ không phải là điều tất yếu cho sự tăng trưởng kinh tế nữa, mà là đưa ra phương hướng, chính sách để sử dụng và phát huy tối đa nguồn FDI đó Mà yếu
tố giúp hấp thụ lợi ích FDI, phát huy sự tăng trưởng đó chính là điều kiện nội tại của chính các nền kinh tế của các quốc gia này
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu
Đưa ra bằng chứng về ―yếu tố hấp thụ‖ có liên quan đến mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng, các yếu tố này là giáo dục, điều kiện kinh tế vĩ mô, thể chế Từ đó, kết luận được rằng, tầm quan trọng của chính sách tăng trưởng kinh tế bền vững là dựa trên sự củng cố và hoàn thiện hệ thống thể chế, dựa trên nguồn lực vô tần quý giá là tăng cương đẩy mạnh vốn con người cả lượng lẫn chất, và cuối cùng là ổn định môi trường
vĩ mô
1.5 Kết cấu luận văn
Luận văn được chia làm 5 phần
Phần 1: Giới thiệu
Phần 2: Các nghiên cứu trước đây
Phần 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Phần 5 : Kết luận và kiến nghị
Trang 132 Các nghiên cứu trước đây
Điều quan trọng là phải hiểu được các thành phần của khả năng hấp thụ nếu chúng ta
để hiểu làm thế nào nó ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, khả năng hấp thụ là quan trọng cho sự phát triển vì nó cho phép nội hoá các nguồn lực bên ngoài Mặc dù không phải là phương thức duy nhất, nhưng hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI được coi là một trong những phương thức hiệu quả nhất mà qua đó có thể phát triển công nghệ và đầu tư nghiên cứu có thể được xúc tiến (Narula và Dunning 2000) Các điểm đang phải chú ý nuôi ở đây là đối với bất kỳ loại ngoại tác lan truyền để đạt được hiệu quả thì nội tại nền kinh tế trong nước phải có trình độ phát triển phù hợp, tóm lại, hai điều kiện cần và đủ là đầu tiên, hiệu ứng lan truyền phải tồn tại, và thứ hai là quốc phải có sự phù
Trang 14hợp trong mức độ khả năng hấp thụ Vì vậy, ngay cả khi tài sản công nghệ có sẵn, các nguồn lực có sẵn, nhưng các quốc gia vẫn không thể nội hoá được các nguồn lực này Borensztein cùng cộng sự (1998) và Xu (2000) đã chỉ ra rằng FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế chỉ ở những nước đang phát triển đã đạt được một mức độ tối thiểu nhất định trong khả năng hấp thụ và có thể tích lũy nhiều kiến thức hơn một cách nhanh chóng một khi đã tồn tại mức ngưỡng ban đầu của khả năng hấp thụ Đơn giản
là tiếp thu công nghệ sẽ dễ dàng hơn một khi quốc gia đó ―học để hiểu‖ (Criscuolo và Narula 2002) Và khả năng hấp thụ giảm dần tương tự như lý thuyết cận biên trong tài chính doanh nghiệp Việc giải thích của đường biên công nghệ tổng hợp được sử dụng
ở đây là xem như là khái niệm danh nghĩa, vì trong thực tế không thể định lượng và quy ước được, cố định đường biên công nghệ trên cơ sở lý thuyết
2.2 Hiệu ứng lan toả
Các nghiên cứu trước đây đã xác định những lợi ích mà FDI có thể mang lại cho nước chủ nhà Đồng thời với vốn vật chất là công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý, và khả năng cạnh tranh Thật vậy, De Mello (1997) cho rằng FDI thường được coi là ―một gói tổng hợp‖ của cổ phiếu vốn, bí quyết và công nghệ, và do đó tác động của nó đối với tăng trưởng dự kiến sẽ đa dạng Cùng hướng nghiên cứu đó, Borensztein (1998) đã làm một so sánh giữa FDI và đầu tư trong nước góp phần như thế nào đến tăng trưởng
và công nhận rằng FDI là một phương thức quan trọng cho việc chuyển giao công nghệ tiên tiến cho các nước đang phát triển Ngoài ra, tác giả thấy rằng FDI góp phần vào tăng trưởng kinh tế bằng cách nâng cao trình độ của nguồn nhân lực ở nước sở tại Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển OECD (2002a) báo cáo rằng ―FDI gây tác động lan tỏa công nghệ, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, góp phần hội nhập thương mại quốc tế, giúp tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn và tăng cường phát triển doanh nghiệp‖ Trong báo cáo này, họ cũng đề cập đến công nghệ ―sạch‖ chuyển giao bởi FDI có thể dẫn cải thiện điều kiện môi trường và xã hội ở nước sở tại
Trang 15Mặc dù, những lợi ích của FDI thường vô hình nhưng có thể đo bằng các kênh trong đó FDI chuyển lợi ích của mình cho các nước tiếp nhận Kokko (1992) chỉ ra bốn cách mà FDI có thể chuyển giao công nghệ cho các công ty khác như: hiệu ứng bầy đàn (khả năng bắt chước), hiệu ứng cạnh tranh, hiệu quả liên kết nước ngoài, và hiệu quả đào tạo Cụ thể hơn, Damijan, Kell, Majcen và Rojec (2003) cung cấp các kênh khác nhau của việc chuyển giao công nghệ quốc tế cho các doanh nghiệp địa phương ở các nước đang chuyển đổi Một kênh đến từ công ty mẹ cho các chi nhánh địa phương và một là
từ các chi nhánh nước ngoài cho các doanh nghiệp trong nước Bằng cách đánh giá các
lý thuyết về năng suất, tiền lương, xuất khẩu, tăng trưởng và các nền kinh tế đang chuyển đổi, Görg & Greenaway (2004) xác định một loạt các kênh lan truyền có thể tác động đến tăng trưởng đến nước sở tại Bốn kênh được liệt kê: bắt chước, mua lại công nghệ, cạnh tranh và xuất khẩu Nunemkamp (2004) hỗ trợ ý tưởng rằng các công
ty địa phương có thể được hưởng lợi của người lao động thuê được đào tạo trước đó tại các công ty đa quốc gia, các tập đoàn Tóm lại, các lợi ích từ FDI có thể được chuyển giao cho nước tiếp nhận thông qua hai cấp độ: các yếu tố kinh tế vĩ mô (quốc gia) và kinh tế vi mô (công ty) Ở cấp độ vĩ mô, lợi ích của FDI sẽ được chuyển giao bởi một
số kênh Đầu tiên là công nghệ thông qua hiệu ứng cạnh tranh, bắt chước, liên kết nước ngoài và kinh doanh với công ty địa phương Thứ hai là lực lượng lao động đã qua đào tạo, vừa học vừa làm, và tích lũy kinh nghiệm ở các công ty, chi nhánh công ty nước ngoài Ở cấp độ vi mô, công ty trong nước được tính như một kênh chính để nhận được những lợi ích của FDI liên quan đến các tác động lan truyền theo chiều ngang và theo chiều dọc, và hiệu quả đào tạo, chuyển giao kiến thức, và lao động
2.3 FDI và khả năng hấp thụ
Như đề cập trước đó, FDI tự nhiên có nhiều lợi ích Tuy nhiên, những lợi ích này cần phải đi qua một quá trình chuyển đổi trước khi trở thành tác động lan tỏa của nước chủ nhà Quá trình này đòi hỏi quốc gia chủ nhà phải có đủ khả năng hấp thụ ―Hấp thụ‖ FDI có nghĩa là sự đồng hóa của FDI trong một nền kinh tế nước chủ nhà nhất định
Trang 16Như vậy, ―khả năng hấp thụ‖ biểu thị lượng tối đa của FDI mà một nền kinh tế chủ có thể đồng hóa hoặc hòa nhập vào nền kinh tế một cách có hiệu quả (Kalotay, 2000) Cụ thể, có hai giai đoạn khả năng hấp thụ Một là tiến hành các dự án FDI vào thực tế và tiếp theo là chuyển đổi các lợi ích của FDI vào nền kinh tế nước chủ nhà, trở thành nguồn lực của đất nước Trong một ý nghĩa khác, Cohen & Levinthal (1990) đã chỉ rằng các tổ chức cần có kiến thức có liên quan trước để có thể đồng hóa và sử dụng kiến thức mới Nói ngắn gọn, để tiếp thu kiến thức mới và tận dụng những lợi ích của FDI càng nhiều càng tốt, nước chủ nhà cần phải có sự nền tảng ban đầu của kiến thức
và năng lực có liên quan Năng lực nhắc đến nhiều nhất trong các nghiên cứu trước đó
là yếu tố công nghệ của cả hai cấp độ công ty và quốc gia, yếu tố được đề cập thứ hai
là lực lượng lao động mô tả bởi nguồn nhân lực và giáo dục, được tìm thấy là cần thiết
để tiếp thu và áp dụng công nghệ nước ngoài, và để tạo ra tăng trưởng dài hạn bền vững (Cohen & Levinthal (1990) Bên cạnh đó, nước chủ nhà có thể cần các yếu tố khác như một hệ thống tài chính Một hệ thống tài chính phát triển tốt hơn tích cực góp phần vào quá trình phổ biến công nghệ liên quan đến FDI (Hermes và Lensink, 2003) Cuối cùng, sự phát triển thể chế dường như đóng một vai trò khá quan trọng Kalotay (2000) định nghĩa các tổ chức như một chính sách đầu tư thân thiện và khuôn khổ hành chính, trong khi Durham (2004) sử dụng các quy định về kinh doanh, bảo vệ quyền sở hữu và tham nhũng là chỉ số thể chế
2.4 Lý thuyết tăng trưởng – mô hình tăng trưởng nội sinh
Hiểu biết về nguồn tăng trưởng kinh tế đã được phát triển như thế nào? Tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng nhất, quyết định phúc lợi kinh tế của mỗi quốc gia và việc tìm hiểu yếu tố nào tạo nên tăng trưởng từ lâu đã trở thành một trong những câu hỏi trung tâm của kinh tế học Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế truyền thống (Smith, Ricardo,…) đã đề cao vai trò của vốn, coi đó là yếu tố quan trọng quyết định sự tăng trưởng Tuy nhiên, phải đến mô hình Harrod-Domar của trường phái Keynes thì mối quan hệ tiết kiệm, tích lũy vốn và tăng trưởng kinh tế mới được lượng hoá và mặc dù
Trang 17mô hình này còn quá đơn giản, nhưng nó đã trở thành cơ sở của chiến lược tích lũy vốn nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước sau chiến tranh thế giới thứ thứ hai Thất bại của chiến lược tăng trưởng chỉ dựa vào huy động tiết kiệm cao theo khuyến nghị của chính phủ đã phủ một bóng mây nghi ngờ lên quan điểm truyền thống cho rằng tích luỹ vốn là chìa khoá của tăng trưởng kinh tế Đến đây, lý thuyết tăng trưởng
đã phát triển lên một bước mới, với việc phân tách tăng trưởng về mặt sản lượng thành: tăng trưởng thông qua tăng các đầu vào (lao động, vốn) và tăng trưởng thông qua tăng năng suất (chẳng hạn, công nghệ mới) Trong dài hạn, một nền kinh tế cần tiến bộ công nghệ để có thể nâng cao mức sống người dân, bởi nền kinh tế đó không thể tăng mãi đầu vào lao động, đồng thời cũng gặp phải lợi tức cận biên giảm dần nếu tiếp tục tăng thêm vốn vào quá trình sản xuất
Mô hình tăng trưởng tân cổ điển (thường gọi là mô hình tăng trưởng Solow) được coi
là mô hình chuẩn đầu tiên, hội tụ được khá nhiều các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế dài hạn Thế nhưng, mô hình tăng trưởng tân cổ điển vừa là một thành công lớn, lại vừa là một thất bại lớn Một hạn chế lớn nhất của mô hình tăng trưởng tân cổ điển là trong dài hạn, nguồn tác động đến tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người duy nhất trong mô hình này là tốc độ tăng hiệu quả lao động lại được xác định một cách ngoại sinh Những hạn chế của mô hình tăng trưởng tân cổ điển đã thúc đẩy nhiều hướng nghiên cứu mở rộng mô hình để phù hợp hơn với thực tế của các nước đang phát triển và đã đưa đến sự ra đời của các mô hình tăng trưởng nội sinh
Một thế hệ mô hình mới đã cất cánh ở nơi mà Solow còn để lại, vượt lên trên những giả định về tỉ lệ tiết kiệm, tỉ lệ tăng trưởng cung lao động, trình độ kỹ năng lao động,
và nhịp độ thay đổi công nghệ cố định một cách ngoại sinh Trên thực tế, giá trị của các thông số này không được cho trước mà được xác định một phần thông qua các chính sách chính phủ, cơ cấu kinh tế, và nhịp độ phát triển Các nhà kinh tế học đã bắt đầu triển khai những mô hình mới, trong đó một hay nhiều biến này được xác định ngay trong mô hình (nghĩa là các biến này trở thành biến nội sinh của mô hình) Các mô
Trang 18hình này khác với mô hình Solow ở chỗ giả định rằng nền kinh tế quốc gia phụ thuộc vào sinh lợi tăng dần theo qui mô, chứ không phải sinh lợi không đổi theo qui mô Việc tăng gấp đôi vốn, lao động, và các yếu tố sản xuất khác sẽ dẫn đến tăng hơn gấp đôi sản lượng Khi điều này xảy ra, tác động của đầu tư đối với vốn nhân lực và vốn vật lực sẽ mạnh hơn so với thể hiện qua mô hình Solow
Tương tự, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) dẫn đến những tri thức mới chẳng những cho những người thực hiện việc đầu tư mà cả cho những người khác cuối cùng được tiếp cận với tri thức đó Lợi ích từ giáo dục không chỉ được xác định bởi năng suất của một nhà khoa học hay một nhà quản lý được gia tăng bao nhiêu thông qua đầu tư vào việc giáo dục đào tạo riêng người đó Nếu nhiều nhà khoa học và nhà quản lý đầu tư vào tri thức của riêng họ, thì sẽ có nhiều người có trình độ học hỏi lẫn nhau, làm tăng lợi ích của giáo dục
Một ý nghĩa quan trọng khác là, những nền kinh tế có sinh lợi tăng dần theo qui mô không nhất thiết sẽ đạt đến mức thu nhập ở trạng thái dừng như trong mô hình Solow Khi các yếu tố ngoại tác nhờ đầu tư mới có tác động lớn, sinh lợi giảm dần theo vốn sẽ không nhất thiết phát huy tác dụng, vì thế tỉ lệ tăng trưởng sẽ không bị chậm lại, và nền kinh tế không nhất thiết đi đến trạng thái dừng Vì thế, gia tăng tỉ lệ tiết kiệm có thể dẫn đến sự gia tăng lâu dài của tỉ lệ tăng trưởng kinh tế Do đó, các mô hình này có thể giải thích cho sự kiện mà quan sát được là, tăng trưởng trên đầu người vẫn tiếp tục tại các nước mà không dựa vào thay đổi công nghệ ngoại sinh Hơn nữa, cũng không nhất thiết dẫn đến kết luận rằng các nước nghèo sẽ tăng trưởng nhanh hơn các nước giàu, vì tăng trưởng không nhất thiết chậm đi khi thu nhập tăng, cho nên không có kỳ vọng về
sự hội tụ thu nhập Sự chênh lệch ban đầu về thu nhập có thể vẫn còn, hoặc thậm chí còn lớn hơn, nếu các nước giàu thực hiện những việc đầu tư có các yếu tố ngoại tác to lớn Vì tăng trưởng có thể kéo dài mãi mãi trong các mô hình này mà không dựa vào giả định thay đổi công nghệ ngoại sinh, nên chúng thường được gọi là mô hình tăng trưởng nội sinh Chúng có tiềm năng quan trọng giúp giải thích được sự tăng trưởng
Trang 19tiếp diễn tại những quốc gia công nghiệp không bao giờ đi đến trạng thái dừng, đặc biệt
là những nước tham gia vào hoạt động nghiên cứu và phát triển những ý tưởng mới dựa vào những công nghệ tiên tiến Đối với các nước đang phát triển, các mô hình mới củng cố một số thông điệp chính của các mô hình Solow và Harrod Domar Cũng như những mô hình trước, các mô hình này cũng cho thấy tầm quan trọng của sự tích luỹ yếu tố sản xuất và gia tăng năng suất trong quá trình tăng trưởng
Thật ra, lợi ích tiềm tàng của hai nguồn tăng trưởng này trong các mô hình tăng trưởng nội sinh thậm chí còn lớn hơn do các yếu tố ngoại tác tiềm năng Vì thế, giữa các mô hình này vẫn có những thông điệp chính, nhất quán với nhau về tiết kiệm, đầu tư vào y
tế và giáo dục, sử dụng các yếu tố sản xuất một cách hết sức hiệu quả và năng suất cao,
và tìm ra những công nghệ mới phù hợp Tuy nhiên, khả năng áp dụng các mô hình tăng trưởng nội sinh vào các nước đang phát triển vẫn còn là một đề tài gây tranh luận,
vì nhiều nước thu nhập thấp có thể đạt được tăng trưởng nhanh thông qua ứng dụng thích nghi công nghệ mới được xây dựng ở những nước có năng lực nghiên cứu tiên tiến hơn, thay vì tự đầu tư vào nghiên cứu và phát triển Đối với nhiều nước thu nhập thấp, giả định của mô hình Solow về thay đổi công nghệ ngoại sinh và sinh lợi không đổi theo qui mô trong hàm tổng sản xuất có lẽ phù hợp hơn Gọi là mô hình tăng trưởng nội sinh là bởi các mô hình tăng trưởng mới này cố gắng nội hoá sự tăng trưởng, nghĩa là giải thích tăng trưởng bên trong một mô hình của nền kinh tế Trong
mô hình tăng trưởng nội sinh, tăng năng suất có được từ tích luỹ vốn con người hay các hoạt động phát minh sáng chế là yếu tố tạo nên tăng trưởng dài hạn của thu nhập bình quân đầu người
Bởi thế, ý nghĩa to lớn của các mô hình tăng trưởng nội sinh là: tốc độ tăng trưởng dài hạn có thể phụ thuộc vào hành động chính sách của chính phủ (đánh thuế, cung ứng cơ
sở hạ tầng, bảo hộ sở hữu trí tuệ, cung cấp các dịch vụ công liên quan đến giáo dục, y tế…), vì các chính sách này có thể tác động tới các hoạt động sáng chế, phát minh và tích lũy vốn con người Câu hỏi cuối cùng là phải chăng các mô hình tăng trưởng nội
Trang 20sinh là những mô hình tốt nhất cho nền kinh tế? Chẳng hạn, các mô hình tăng trưởng nội sinh còn bỏ qua những yếu tố như sự yếu kém về cấu trúc hạ tầng, cấu trúc thể chế
ở các nước đang phát triển, mà đây cũng là những yếu tố kìm hãm tăng trưởng, giống như mức tiết kiệm và tích luỹ vốn con người thấp Từ lâu các nhà kinh tế đã nhận ra rằng các nhân tố phi kinh tế có mối tương tác với quá trình tăng trưởng Tuy nhiên, trong các mô hình tân cổ điển và tăng trưởng nội sinh, lịch sử và thể chế không có vai trò gì Ý tưởng chính của lý thuyết tăng trưởng nội sinh là thay đổi công nghệ ngăn chặn suất sinh lợi theo vốn giảm dần xảy ra khi trữ lượng vốn tăng lên Không có suất sinh lợi giảm dần thì không có trạng thái dừng, và do đó không còn kỳ vọng sự hội tụ thu nhập giữa nước giàu và nước nghèo Có nhiều mô hình đã được đề xuất để trình bày về khái niệm cơ bản này
Romer (1986) dựa mô hình của mình vào quan sát cho rằng một số loại tri thức là không có tính tranh giành, nghĩa là chúng không thể bị sử dụng hết như hàng hóa và dịch vụ thông thường Tri thức lan tỏa từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác đều có giá trị kinh tế, thực tế là rất nhiều giá trị vì mặc dù suất sinh lợi trên vốn có thể giảm dần cho mỗi doanh nghiệp, nhưng tính tổng nền kinh tế thì nó lại không đổi hoặc tăng dần Việc tích lũy các phát minh sẽ tốn kém thời gian và tiền bạc, nhưng những đổi mới sáng tạo này mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, không chỉ cho những người đưa ra ý tưởng ban đầu Do đó phát minh là một dạng ngoại tác tích cực Khi tri thức lan tỏa, các công ty và cá nhân phát minh sẽ tận dụng để tạo ra sản phẩm mới, cải thiện sản phẩm cũ, hoặc nâng hiệu quả sản xuất Giả định suất sinh lợi không đổi theo qui
mô của mô hình Solow có thể không phải là mô tả chính xác các mối quan hệ giữa lượng vốn và lao động sử dụng với năng suất lao động Hơn nữa khác với mô hình Solow, tốc độ thay đổi công nghệ tác động lên tốc độ tăng trưởng, không chỉ mức thu nhập ở trạng thái dừng
Chính thức thì Romer giả định rằng năng suất lao động do trữ lượng tri thức (Ξ) quyết định, sao cho sản lượng gộp được xác định bởi:
Trang 21Lucas (1988): Vốn con người hay vốn nhân lực có hiệu suất tăng dần theo qui mô, và tăng trưởng phụ thuộc vào mức độ đầu tư cho từng loại vốn
Một cách tiếp cận khác là bỏ hẵn lao động ra khỏi mô hình và giả định rằng vốn, gồm vốn vật chất và vốn con người, nhận tất cả thu nhập quốc gia Điều này có thể là những chi phí cho yếu tố sản xuất được trả cho công nghệ bao hàm trong vốn và cho kỹ năng bao hàm trong lao động, chứ không phải bản thân lao động Mô hình ―AK‖ (Rebelo 1992) giả định rằng tiến bộ công nghệ là suất sinh lợi không đổi theo vốn vật chất và vốn con người (α =1) và không có tăng trưởng dân số, trong đó:
Y = AF(K) = AK
Miễn là đầu tư lớn hơn khấu hao, thì tăng trưởng là một hàm tăng dần theo tốc độ đầu
tư Tăng trưởng dài hạn là nội sinh trong mô hình này vì nó không còn phụ thuộc vào
số dư không xác định Đầu tư tác động trực tiếp lên tăng trưởng, không chỉ mức thu nhập dài hạn như trong mô hình Solow Hàm ý chính sách quan trọng từ mô hình này
là bất kỳ điều gì làm giảm tốc độ tích tụ vốn thì sẽ có tác động trực tiếp và lớn lên tốc
độ tăng trưởng Ví dụ, chính sách thuế không khuyến khích đầu tư sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng và mức thu nhập trong dài hạn
Trang 22Những phiên bản khác cũng được đề xuất, nhưng không có cách nào để kiểm chứng những mô hình này về mặt thực nghiệm vì chúng dựa nhiều vào những biến số mơ hồ, không quan sát được như tổng tri thức và tiến bộ công nghệ Nhớ lại rằng mô hình Solow không bao giờ đo lường thay đổi công nghệ, nhưng thay vào đó giả định rằng số
dư không giải thích được (nghĩa là những thứ khác ngoài vốn và lao động) là thước đo khái quát về sự tiến bộ
2.5 Nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế
Nhiều nước đang phát triển khó được hưởng lợi từ hiệu quả tối đa từ tài nguyên thiên nhiên do thiếu nhân lực, vốn và công nghệ Hơn nữa, các chính trị, thể chế của quốc gia này chưa hoàn thiện có thể cản trở sự tích lũy vốn hoặc trở ngại đến việc sử dụng các nguồn lực hiện có Do đó, những quốc gia này tập trung vào nguồn vốn quốc tế như các khoản viện trợ nước ngoài, các khoản vay, đầu tư trực tiếp và gián tiếp So với các nguồn vốn khác quốc tế, FDI được xem là đem lại nhiều lợi ích, chủ yếu bởi vì nó
là một dòng vốn tương đối ổn, giúp tăng cường năng lực sản xuất, tạo việc làm và đẩy mạnh thương mại Cũng có thể lập luận rằng FDI tạo ra ngoại tác tích cực thông qua chuyển giao công nghệ, kỹ năng tổ chức, quy trình sản xuất, đào tạo lao động…, và mở rộng cửa cho doanh nghiệp trong nước tiếp cận với thị trường nước ngoài Ngược lại, các quốc gia này cung cấp cho công ty nước ngoài thị trường mới tương đối chưa được khai thác, lao động khá rẻ và các nguồn tài nguyên thiên nhiên Với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của dòng vốn FDI toàn cầu cũng như những tác động đến nền kinh tế đang phát triển chính là động lực nghiên cứu cho hàng loạt tác giả nhằm trả lời những câu hỏi về mối tương quan giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, những yếu tố thu hút FDI
và liệu FDI có tác động tiêu cực đến một số nền kinh tế đặc biệt không? Có hai cơ chế, hai cách giải thích cho sự tác động của FDI đến tăng trưởng Đầu tiên, FDI được dự kiến sẽ đẩy mạnh tăng trưởng bằng cách tăng năng suất ở các nước chủ thông qua
Trang 23chuyển giao công nghệ FDI có vẻ là cách trực tiếp và hiệu quả nhất của tiếp thu công nghệ từ các nền kinh tế tiên tiến, do đó nó là một cơ chế quan trọng của hội nhập kinh
tế Lập luận này đã được hỗ trợ bởi các nghiên cứu tăng trưởng nội sinh, trong đó nhấn mạnh rằng dòng vốn FDI có khả năng tác động tích cực đến tăng trưởng dài hạn thông qua việc cải thiện trình độ, tay nghề của lao động qua đào tạo, truyền đạt kỹ năng quản
lý cũng như kỹ thuật, và công nghệ mới (Blomstrom và Kokko, 1998) Thứ hai, tăng trưởng FDI có thể liên quan đến sự tích lũy vốn (Alguacil, Cuadros và Ort, 2008; Bosworth và Collins, 1999) Trong trường hợp này, tác động của FDI chỉ phụ thuộc vào ảnh hưởng của nó đối với đầu tư trong nước FDI có khuynh hướng bổ sung vào đầu tư tư nhân và khu vực mậu dịch và làm gia tăng đầu tư trong khu vực tư nhân, trong khi đó viện trợ hoặc các khoản vay từ ngân hàng nước ngoài có khuynh hướng
bổ sung vào khu vực công và sản xuất hàng hóa phi mậu dịch Khan và Reinhart (1990) cho rằng tác động của đầu tư tư nhân lên tăng trưởng kinh tế mạnh hơn so với đầu tư chính phủ Tuy nhiên, vẫn có những bằng chứng chứng minh mối quan hệ tiêu cực của FDI đến tăng trưởng khi cho rằng FDI lấn át đầu tư tư nhân
2.5.1.1 FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế
Từ thế kỷ trước, nhà kinh tế học Paul Samuelson đã đưa ra lý thuyết ―vòng luẩn quẩn của sự chậm tiến và cú huých từ bên ngoài‖ Theo lý thuyết này, đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, do khả năng tích luỹ vốn hạn chế ―Những nước dẫn đầu trong chạy đua tăng trưởng phải đầu tư ít nhất 20% thu nhập quốc dân vào việc tạo vốn Trái lại, những nước nông nghiệp lạc hậu thường chỉ có thể tiết kiệm được 5% thu nhập quốc dân Hơn nữa, phần nhiều trong khoản tiết kiệm nhỏ bé này phải dùng để cung cấp nhà cửa và những công trình giản đơn cho số dân đang tăng lên‖
Trong sách ―Những vấn đề hình thành vốn ở các nước chậm phát triển‖, R.Nurkes đã trình bày hệ thống phương pháp giải quyết vấn đề vốn Theo ông, xét về lượng cung, thấy khả năng tiết kiệm ít ỏi, tình hình đó là do mức độ thấp của thu nhập thực tế Mức thu nhập thực tế phản ánh năng suất lao động thấp, năng suất lao động thấp phần lớn
Trang 24do tình trạng thiếu tư bản gây ra Thiếu tư bản lại là kết quả của khả năng tiết kiệm ít
ỏi Và thế là cái vòng được khép kín Trong cái ―vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói‖, nguyên nhân cơ bản là thiếu vốn Do vậy, mở cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài được ông xem là giải pháp thực tế nhất đối với các nước đang phát triển
FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển mà còn là một luồng vốn ổn định hơn so với các luồng vốn đầu tư quốc tế khác, bởi FDI dựa trên quan điểm dài hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng và không tạo ra nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, do vậy, ít có khuynh hướng thay đổi khi có tình huống bất lợi
2.5.1.2 FDI tạo bước phát triển cho công nghệ
Có thể nói công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của mọi quốc gia, đối với các nước đang phát triển thì vai trò này càng được khẳng định Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ luôn là một trong những mục tiêu ưu tiên phát triển hàng đầu của mọi quốc gia Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ cần nhiều vốn mà còn phải có một trình độ phát triển nhất định của khoa học - kỹ thuật Đặc biệt, FDI được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ cho nước chủ nhà Vai trò này được thể hiện qua hai khía cạnh chính là chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và sự phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà Đây là những mục tiêu quan trọng được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài Helleiner (1989) cho rằng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không chỉ ảnh hưởng đến tổng nguồn vốn đầu tư, mà còn ảnh hưởng đến tốc độ thay đổi tính hiệu quả của đầu tư Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ là sự dịch chuyển các qũy đầu tư, mà còn là sự chuyển giao hàng loạt các nhân tố: công nghệ mới, kỹ năng quản lý, kênh phân phối quốc tế, bí quyết sản xuất và kinh doanh và các nhân tố khác Tóm lại, FDI có thể đóng góp trong việc chuyển giao công nghệ và tăng năng suất tổng hợp các nhân tố mặc dù những tác động này đo lường rất khó khăn
Trang 25Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiện chủ yếu bởi các đa quốc gia, dưới các hình thức chuyển giao trong nội bộ giữa các chi nhánh của
nó Bên cạnh việc chuyển giao các công nghệ sẵn có, thông qua FDI, các công ty đa quốc gia còn góp phần làm tăng năng lực ngiên cứu và phát triển công nghệ của nước chủ nhà Mặt khác, trong quá trình sử dụng các công nghệ nước ngoài (nhất là ở các doanh nghiệp liên doanh) các doanh nghiệp trong nước học được cách thiết kế, chế tạo
từ công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp với điều kiện sử dụng của mình Đây
là một trong những tác động tích cực quan trọng của FDI đối với việc phát triển công nghệ ở các nước đang phát triển
2.5.1.3 FDI giúp phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài là thu được lợi nhuận tối đa, củng cố chỗ đứng và duy trì thế cạnh tranh trên thị trường thế giới Do đó, họ đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu tư Số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI ngày càng tăng nhanh ở các nước đang phát triển Ngoài ra, các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công cho các dự án FDI cũng tạo ra thêm nhiều cơ hội việc làm Trên thực tế, ở các nước đang phát triển, các dự án FDI sử dụng nhiều lao động đã tạo nhiều việc làm FDI cũng có tác động tích cực trong phát triển nguồn nhân lực của nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đào tạo Các cá nhân làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có
cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ và kỹ năng quản
lý tiên tiến Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải thiện nguồn nhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là các công ty bạn hàng Những cải thiện về nguồn nhân lực ở các nước tiếp nhận đầu tư còn có thể đạt hiệu quả lớn hơn khi những người làm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp trong nước hoặc tự mình thành lập doanh nghiệp mới Đầu tư nước ngoài còn có vai trò đáng kể đối với tăng cường sức khoẻ và dinh dưỡng cho
Trang 26người dân nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào ngành y tế, dược phẩm, công nghệ sinh học và chế biến thực phẩm
2.5.1.4 FDI giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu Vài bài nghiên cứu đã đưa ra mối quan hệ dương tích cực giữa FDI và tăng trưởng Chẳng hạn, khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI, xuất khẩu và phát triển, với dữ liệu thời kì từ 1970 đến 2005 của India, Pakistan, Malaysia, Thailand, Chilê và Mexico bằng mô hình VECM và kiểm định quan hệ nhân quả Granger, Miankhel, Thangavelu (2009) cho thấy mối quan hệ trong dài hạn giữa FDI với tốc độ tăng trưởng ở các nước
Ấn độ, Malaysia, Chi lê Cùng quan điểm, Chakraborty và Basu (2002) khi khám phá tác động hai chiều giữa FDI và tốc độ tăng trưởng của Ấn Độ bằng mô hình VECM, sử dụng dữ liệu 1974-1996 phát hiện trong dài hạn FDI có tương quan dương với GDP và
độ mở của thương mại, tuy nhiên lại không đáng kể trong ngắn hạn Dua và Rashid (1998) cũng cho ra kết quả tương tự Archanun Kohpaiboon trong nghiên cứu tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế trong quá trình chuyển đổi thể chế của Thái Lan từ thể chế ―thay thế nhập khẩu‖ sang ―khuyến khích xuất khẩu‖cũng tranh luận rằng tốc độ tăng trưởng phụ thuộc vào dòng FDI và có quan hệ đồng biến trong giai đoạn ―khuyến khích xuất khẩu‖ Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng Nhờ có đẩy mạnh xuất khẩu, những lợi thế so sánh của yếu tố sản xuất ở nước chủ nhà được khai thác có hiệu quả hơn trong phân công lao động quốc tế Các nước đang phát triển tuy có khả năng sản xuất với mức chi phí có thể cạnh tranh được nhưng vẫn rất khó khăn trong việc thâm nhập thị trường quốc tế Bởi thế, khuyến khích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu luôn là ưu đãi đặc biệt trong chính sách thu hút FDI của các nước này Thông qua FDI các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới, vì hầu hết các hoạt động FDI đều do công ty đa quốc gia thực hiện ở tất cả các nước đang phát triển, và đều đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu do vị thế và uy tín của chúng trong hệ thống sản xuất và thương mại quốc tế Đối với công ty đa quốc gia, xuất khẩu cũng đem lại nhiều lợi ích cho họ thông qua sử dụng các yếu tố đầu vào
Trang 27rẻ, khai thác được hiệu quả theo quy mô sản xuất (không bị hạn chế bởi quy mô thị trường của nước chủ nhà) và thực hiện chuyên môn hoá sâu từng chi tiết sản phẩm ở những nới có lợi thế nhất, sau đó lắp ráp thành phẩm
2.5.1.5 FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát triển nội tại nền kinh tế mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn
ra FDI là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại, thông qua đó các quốc gia sẽ tham gia vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI Ngược lại, chính FDI lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước chủ nhà, vì nó làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành nghề kinh tế mới và góp phần nâng cao nhanh chóng trình độ kỹ thuật và công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, phát triển năng suất lao động của các ngành này Mặt khác, dưới tác động của FDI, một số ngành nghề được kích thích phát triển, nhưng cũng có một số ngành nghề bị mai một và dần
bị xoá bỏ
Trong các mô hình tân cổ điển, tăng trưởng dài hạn chỉ có thể là kết quả của tiến bộ công nghệ hoặc lực lượng lao động Do đó, FDI chỉ có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế nếu nó ảnh hưởng tích cực công nghệ kỹ thuật Việc đầu tư phát triển đơn thuần vào chứng khoán vốn sẽ dẫn đến hiệu ứng mức độ lâu dài, nhưng chỉ có tác dụng tăng trưởng quá độ Trong các mô hình tăng trưởng nội sinh, FDI góp phần vào sự tăng trưởng trực tiếp thông qua cổ phiếu cao hơn vốn và công nghệ mới hơn, cũng như gián tiếp thông qua việc cải thiện nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, thể chế và tác động lan tỏa Ngoại tác tích cực có thể mang hình thức kỹ năng mới quản lý, sắp xếp tổ chức và đào tạo lao động ở nước sở tại FDI cũng có thể hỗ trợ các nền kinh tế chủ với việc tiếp cận thị trường thế giới Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tác động tích cực của FDI đối
Trang 28với tăng trưởng bao gồm, trong số những người khác, De Gregorio (1992), Zhang (2001), và Baldwin cùng cộng sự (2005)
Mặc dù có nhiều tác động tích cực tới kinh tế và sự phát triển bền, vốn FDI cũng có những tác động tiêu cực trên nhiều lĩnh vực
2.5.2.1 Tác động lấn át của FDI đối với doanh nghiệp trong nước Thông qua việc cạnh tranh, những doanh nghiệp FDI, nhất là những công ty xuyên quốc gia có ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, quản lý sản xuất gây sức ép cạnh tranh đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của những doanh nghiệp trong nước Nhiều trường hợp, hàng hóa và dịch vụ của công ty xuyên quốc gia lấn át, dẫn đến doanh nghiệp trong nước mất dần thị trường, dễ lâm vào tình trạng phá sản Nhiều ngành sản xuất mới trong nước khó có thể cạnh tranh được với các công ty xuyên quốc gia
2.5.2.2 Chuyển giao công nghệ lạc hậu Nước tiếp nhận đầu tư có thể sẽ nhận nhiều kỹ thuật không thích hợp Các công ty nước ngoài thường chuyển giao những công nghệ kỹ thuật lạc hậu và máy móc thiết bị
cũ Gây tổn hại môi trường sinh thái Việc chuyển giao công nghệ của các dự án FDI cũng có mặt hạn chế Đó là bất kỳ một tổ chức nào muốn thay thế kỹ thuật công nghệ mới thì phải tìm được nơi thải những kỹ thuật công nghệ cũ Việc thải các công nghệ
cũ này dễ dàng được nhiều nơi chấp nhận Tuy nhiên, các nước phát triển xem các nước đang phát triển như nơi thải các may móc lạc hậu Bởi vậy, các nước đang phát triển có thể dễ dàng bị biến thành bãi rác công nghiệp
2.5.2.3 Đầu tư không cân xứng giữa các ngành Trong tổng các dự án FDI đăng ký, nhiều dự án đầu tư vào các ngành khai thác tài nguyên, công nghiệp gây ô nhiễm và bất động sản Đây là cơ cấu không mong đợi bởi
vì vốn đầu tư vào khai thác tài nguyên thì không có tác dụng lan tỏa, vốn đầu tư vào
Trang 29các ngành công nghiệp gây ô nhiễm thì lợi nhuận họ hưởng, còn hậu quả và chi phí khắc phục thì chính quốc gia nhạn đầu tư chịu; vốn đầu tư vào bất động sản, chứng
khoán thì có thể làm căng thêm ―bong bóng‖, dễ gây ra bất ổn
2.5.2.4 Vấn đề chuyển giá và hạch toán lỗ của một số doanh nghiệp FDI
Đối với một số doanh nghiệp FDI theo hình thức liên doanh, phía đối tác nước ngoài dùng nhiều thủ đoạn nâng cao giá thành sản phẩm thông qua các hoạt động như quảng cáo, mua nguyên vật liệu từ nước ngoài, dẫn đến tình trạng thua lỗ giả Vấn đề này còn gọi là chuyển giá (transfering price)
Chuyển giá là những giao dịch về giá ẩn bên trong giao dịch giữa các công ty mẹ và các chi nhánh công ty con Những giao dịch về giá này được thực hiện dựa trên những tính toán bên trong của các công ty xuyên quốc gia và giá của những giao dịch này không phản ánh đúng giá trị thị trường Các công ty xuyên quốc gia thường sử dụng chuyển giá như là một biện pháp để hạch toán lãi thành lỗ, lãi nhiều thành lãi ít, nhằm mục đích cuối cùng là thôn tính sở hữu đối với bên liên doanh trong nước, tránh đánh thuế chuyển lợi nhuận, thuế nhập khẩu và kiểm soát tỷ giá Tác hại của lợi dụng chuyển giá không chỉ thiệt hại về mặt kinh tế mà còn tạo ra cạnh tranh bất bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI
Tất cả đang cần có một cái nhìn đầy đủ hơn về chuyển giá, về phạm vi tác động của giá thị trường được định ra trong các phương pháp xác định giá để từ đó chuyển các giao dịch liên kết về đúng với bản chất tự nhiên của nó là một giao dịch bình đẳng Ở đây là một sự bình đẳng theo đúng nghĩa thị trường không vì lợi ích cục bộ của riêng một chủ thể nào Làm được điều này không chỉ bảo vệ lợi ích của quốc gia mà tính đến lợi ích của những chủ thể khác nhằm duy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trong xã hội có nhiều quan hệ đa chiều như hiện nay
Trang 30Thực trạng này đặt ra cho các nước đang phát triển những bài toán lớn từ vấn đề luật pháp, chính sách, quy hoạch lãnh thổ, ngành nghề, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, công tác giải phóng mặt bằng, phân cấp trong quản lý FDI, môi trường,… để khai thác lợi thế cũng như hạn chế những tác động tiêu cực của FDI trong giai đoạn hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới
2.6 Nhân tố hấp thụ - yếu tố địa phương
Các tài liệu tăng trưởng nội sinh cũng đã nhấn mạnh việc thúc đẩy tăng trưởng đóng góp bởi các cơ chế khác như chất lượng nguồn nhân lực, thương mại và phát triển tài chính, cơ sở hạ tầng, nền tảng thể chế và điều kiện kinh tế vĩ mô Ngoài những đóng góp tích cực đến tăng trưởng kinh tế, các yếu tố này cũng ảnh hưởng đến năng lực thu hút FDI của các quốc gia và khả năng hấp thụ vào nền kinh tế của FDI Trong thực tế, các bằng chứng khác nhau về mối tương quan giữa FDI và tăng trưởng có thể thiếu sót một số yếu tố địa phương (còn gọi là năng lực hấp thụ) Một số tác giả còn cho rằng nó
là sự tương tác giữa FDI và tập hợp các năng lực để xác định kết quả tăng trưởng (Kose cùng cộng sự, 2006)
Tóm lại, đặc điểm quốc gia không chỉ có thể thu hút dòng vốn nước ngoài, chúng cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả tăng trưởng của FDI trong nền kinh tế đang phát triển Hơn nữa, việc cải thiện những yếu tố này có thể trực tiếp ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Như vậy, những nghiên cứu thực nghiệm trước đây không bao gồm các yếu tố địa phương có thể không thích hợp để ước tính tác động của dòng vốn FDI
Các nhà kinh tế nhận thấy rằng vốn con người đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và giáo dục chính là cách thức cơ bản để tích lũy vốn con người Nhiều nghiên cứu đã khám phá mối quan hệ giữa giáo dục và tăng trưởng, tuy nhiên khi chỉ tiêu đo lường giáo dục khác nhau, thì kết quả cũng khác nhau Ở thập niên 1950,
Trang 31Solow – Swan xem lao động là nhân tố sản xuất và tiếp thu khoa học kỹ thuật Đến những năm 1960, Nelson và Phelps đưa ra khái niệm lao động hiệu quả, ứng với mỗi trình độ thì người lao động được gắn một trọng số khác nhau, cũng cho rằng giáo dục
có thể tác động tới tăng trưởng kinh tế nếu giáo dục kích thích được đổi mới Kể từ năm 1970, các nghiên cứu định lượng về giáo dục phát triển dựa trên khung lý thuyết của các nghiên cứu trước Các tác giả cổ điển trước đây như Adam Smith, Afred Marshall và nhiều tác giả khác đã có một số quan điểm về khái niệm ―vốn con người‖, nhưng tầm quan trọng của nó đối với tăng trưởng kinh tế chưa được rõ ràng Sau đó, Pigou đã nghiên cứu về vốn nhân lực và tìm hiểu vấn đề ―Liệu tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế và các nền kinh tế nên đầu tư vào giáo dục hay không?‖
Mặt khác, cũng có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra vai trò khá lu mờ của giáo dục so với các yếu tố đầu vào khác Các nghiên cứu trong các thập niên 1980 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của định hướng xuất khẩu, tự do hóa thương mại và kiểm soát tỉ giá hối đoái trong thành công kinh tế của Hồng Kông (Chen, 1997), và giáo dục chỉ được coi là một nhân tố tiền đề cho tăng trưởng kinh tế dài hạn Ngoài ra, giáo dục giúp cải thiện chất lượng lao động, xóa bỏ các rào cản xã hội và thể chế (Lim, 1996), giáo dục giúp nâng cao tư duy khoa học, kỹ năng toán và thành thạo ngôn ngữ (Benavot, 1992) Kang (2006) đã lập luận rằng ―phép màu về tăng trưởng kinh tế‖ không xảy ra ở Hàn Quốc,
do lợi suất bị giảm dần theo quy mô công nghệ và tăng trưởng có được phần lớn là do tốc độ tích lũy tư bản nhanh chóng Mặc dù Malaysia mở rộng giáo dục trên quy mô lớn, nhưng các nhà nghiên cứu không tìm thấy một gia tăng mạnh mẽ trong tỉ lệ thu hồi của giáo dục trong giai đoạn 1984-1997, và do đó không có đủ minh chứng để lập luận rằng giáo dục là nhân tố chính cho tăng trưởng ở Malaysia (Milanovic, 2006) Blomstrom, Globerman, và Kokko (2001) lập luận rằng FDI góp phần vào tăng trưởng kinh tế chỉ khi trình độ lao động đạt mức độ nào đó Ngược lại, Carkovic và Levine (2005) và Blomstrom và Wolf (1994) không tìm thấy bằng chứng cho vai trò quan
Trang 32trọng của giáo dục Hơn nữa, phổ biến kiến thức chỉ xảy ra nếu các doanh nghiệp địa phương có khả năng đầu tư tiếp thu công nghệ nước ngoài
Tóm lại, dựa vào kết quả nghiên cứu trước đây giáo dục có tương quan tích cực đến tăng trưởng kinh tế dài hạn, tuy nhiên một số nghiên cứu thấy rằng mối quan hệ này khá lu mờ và thiếu chắc chắn
Hiệu quả của nền kinh tế vĩ mô thu hút các dòng vốn nước ngoài đã được nghiên cứu Tình hình bất ổn ở cấp vĩ mô có vẻ là không có lợi cho sự tích lũy vốn và tăng trưởng kinh tế Lạm phát cao và tỷ lệ nợ nước ngoài cũng như thâm hụt ngân sách được giả định biến động mạnh, làm xấu đi môi trường kinh doanh và do đó làm giảm sự tăng trưởng (Demekas, Horváth, Ribakova và Wu, 2007) Bên cạnh những đóng góp trực tiếp của họ để phát triển, điều kiện bất lợi kinh tế vĩ mô có thể tạo ra sự không chắc chắn rằng không chỉ có thể làm nản lòng các lối vào của vốn nước ngoài nhưng cũng làm giảm hiệu quả năng suất của FDI Điểm cuối cùng này đã được xác nhận bởi Prufer và Tondl (2008) Trong Báo cáo phát triển năm 1987 của Ngân hàng Thế giới đã đưa ra nhận định ―lạm phát cao làm tăng sự không chắc chắn, giảm đầu tư và phát triển công nghệ, làm méo mó giá cả tương đối, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng bền vững‖ Theo quan điểm của trường phái kinh tế mới (lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh), Mankiw (1992), King và Levine (1993) nhấn mạnh rằng một khu vực tài chính vững mạnh có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn, đổi mới công nghệ, nghiên cứu
và phát triển Hơn thế, một khu vực tài chính vững mạnh không chỉ giới hạn chức năng huy động các nguồn vốn trong nước mà còn phải chú ý thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn bên ngoài nền kinh tế như vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
và vốn đầu tư gián tiếp (FPI)
Trang 33Kết lại, một môi trường vĩ mô ổn định và phát triển sẽ ảnh hưởng tích cực đến nền kinh
tế, tạo điều kiện thuận lời thu hút vốn đầu tư Ngược lại, đối với nền kinh tế vĩ mô bất
ổn, lạm phát cao sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hoặc động kinh tế
Về mặt lý thuyết, thể chế tác động lên tăng trưởng trên nhiều khía cạnh Các tác động quan trọng là: Thứ nhất, giảm chi phí giao dịch, hai là giảm sự không chắc chắn trong hoạt động kinh tế, cuối cùng là ảnh hưởng lên cấu trúc của nền kinh tế do những chính sách khuyến khích Thể chế gồm khung pháp lý, quy trình giải quyết thủ tục hành chính, chính sách, môi trường đầu tư Điểm cần nhấn mạnh là thể chế ngày càng đóng vai trò quan trọng như bộ máy quản lý có minh bạch, chuyên nghiệp và có khả năng giải trình hay không, cơ chế chính sách có bình đẳng không và điều đó còn quan trọng hơn so với các ưu đãi thuế Nghiên cứu thực nghiệm gần đây cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của thể chế, cải cách thể chế có thể ảnh hưởng đáng kể tăng trưởng kinh tế Đây là kết luận được rút ra bởi Rodrik, Subramanian, và Trebbi (2004), Acemoglu và Johnson (2005) và Adams (2009) Easterly (2005) cho rằng hệ thống thể chế phản ánh
―sự sắp xếp xã hội sâu sắc như quyền sở hữu, quy định của pháp luật, truyền thống pháp lý, sự tin tưởng giữa các cá nhân, trách nhiệm của các chính phủ dân chủ, và nhân quyền‖ Ngoài đóng góp trực tiếp của nó đến sự phát triển, hệ thống thể chế có vai trò như một yếu tố thu hút FDI Thể chế tốt dẫn đến gia tăng đầu tư nước ngoài vì liên quan đến chi phí giao dịch (tham nhũng) Hơn nữa, FDI (đặc biệt là FDI Greenfield – đầu tư mới) liên quan đến chi phí chìm cao và bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn định và tính hiệu quả của hệ thống pháp lý và chính trị (Demekas cùng cộng sự, 2007) cho nên tăng trưởng FDI đi kèm với một khuôn khổ pháp lý tốt Phù hợp với lập luận đó, một môi trường thể chế ổn định có thể làm tăng tác động lan tỏa từ FDI vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến tăng trưởng (Bengoa và Sanchez-Robles, 2005; Prufer và Tondl, 2008) North (1990) đã nghiên cứu thực tế ở những thể chế dân chủ phát triển và đã đi đến kết luận là thể chế dân chủ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì một chính quyền tốt,
Trang 34hạn chế tham nhũng, thúc đẩy phát triển kinh tế hiệu quả, đảm bảo môi trường kinh tế
tự do hơn Những thể chế tiến bộ này đã tạo ra điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, tạo ra những sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng và cũng tạo nên thương hiệu quốc gia Và chính giá trị của thương hiệu quốc gia đã làm tăng giá trị GDP của quốc gia Với các quốc gia có thể chế yếu, hợp tác kinh tế có thể phải dựa vào ―sự tin tưởng‖, những cú sốc có thể làm cho sự hợp tác không thể duy trì, và dẫn đến sự sụp
đổ Hay là các doanh nghiệp FDI có thể chọn ngành hoạt động mà từ đó họ có thể rút vốn của mình một cách nhanh chóng hơn Tác giả muốn nhấn mạnh rằng là có nguyên nhân sâu xa từ thể chế dẫn đến bất ổn kinh tế
Như vậy, một quốc gia có chất lượng thể chế càng vững mạnh thì sẽ tác động tích cực đến đầu tư và hiệu quả hoạt động động kinh tế Tuy nhiên, đối với một quốc gia có nền thể chế yếu kém, sẽ ảnh hưởng đến tâm lí các nhà đầu tư
Phát triển cơ sở hạ tầng của một quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Một nền kinh tế phát triển nhanh phải bảo đảm sự phát triển nhanh hơn các cơ sở hạ tầng Các mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và tăng trưởng kinh tế trở thành một trong những chủ đề kinh tế quan trọng Những nghiên cứu quốc tế đầu tiên là Aschauer (1989a, 1989b, 1989c) và Munnell (1990) tìm thấy một mối quan hệ tích cực mạnh mẽ giữa cơ sở hạ tầng và tăng trưởng Tuy nhiên, phát hiện của họ đã bị chỉ trích rộng rãi như là kỹ thuật không phù hợp (Gramlich, 1994) Một trọng tâm trong những nghiên cứu trước đây là góp sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế (Willoughby, 2002; Hulten, 1997; Canning và Pedroni, 1999) nhấn mạnh hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng là quan trọng Họ cho rằng có thể có một mức độ tối ưu của cơ sở
hạ tầng để tối đa hóa tốc độ tăng trưởng (tức là nếu cơ sở hạ tầng quá cao, nó chuyển hướng đầu tư tác động tiêu cực đến mức tăng trưởng thu nhập) Hulten (1997) cho rằng
cơ sở hạ tầng kém không chỉ có tác động hạn chế đối với tăng trưởng kinh tế, nó có thể
có một ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển Chất
Trang 35lượng của cơ sở hạ tầng địa phương, đặc biệt là giao thông vận tải là một yếu tố liên quan tăng trưởng (Easterly, 2001; Li và Liu, 2004) Ngoài ra, tăng đầu tư cơ sở hạ tầng
sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giảm bớt sự gia tăng nợ công
Tóm lại, đầu tư tối ưu vào cơ sở hạ tầng là cách tối đa hóa tốc độ tăng trưởng và thu hút đầu tư nước ngoài
Trang 363 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Mô hình nghiên cứu:
Để trả lời câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra, bài viết xây dựng mô hình nghiên cứu kế thừa
từ bài nghiên cứu của M.Alguacil, A.Cuadros, VOrts (2010) thể hiện vai trò của các nhân tố hấp thụ FDI vào nền kinh tế
( )
( )
∑ ( )
∑ (1) Theo các mô hình truyền thống nghiên cứu tăng trưởng kinh tế, thì biến phụ thuộc là tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người, được giải thích bởi logarit cơ số tự nhiên của GDP bình quân đầu người năm trước đó
Nhóm biến độc lập (X j ) bao gồm:
di : Tỷ số giữa dòng vốn đầu tư trong nước trên GDP,
pop : Tốc độ tăng trưởng dân số
infrast : Số lượng thuê bao internet/100 người
Tỷ lệ giữa dòng vốn cố định và GDP (The gross fixed capital formation) – di: đo
lường mức đầu tư vào hạ tầng, từ đó xác định tiềm năng tăng trưởng của một nền kinh
tế Tỷ số này bao hàm sự đầu tư vào nhà ở và các yếu tố khác như đường sá, dinh thự,
Trang 37cầu cống, đường sắt, mạng lưới điện, trang bị máy móc cho nền kinh tế Kết quả của việc so sánh sự hình thành vốn cố định có ý nghĩa như một lời cảnh báo cho các nước nghèo, chậm phát triển nhưng lại không quan tâm đầu tư cho tương lai
Kỳ vọng của tác giả: Vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng sẽ tương quan dương với tăng trưởng kinh tế
Tốc độ gia tăng dân số (Population growth) – pop: Dân số vừa là lực lượng sản
xuất, vừa là thị trường tiêu thụ Bởi vậy, số lượng, cơ cấu dân số có ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu sản xuất, tiêu dùng và tích luỹ, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của
xã hội Trên thế giới có một thực tế là ở các nước chậm phát triển, trong khi mức bình quân GDP đầu người rất thấp thì tỷ lệ gia tăng dân số lại cao, ngược lại, ở các nước phát triển có mức GDP đầu người rất cao thì lại có tỷ lệ gia tăng dân số rất thấp Vì thế, khoảng cách giữa các nước đang phát triển với các nước phát triển (về chỉ tiêu GDP/ người) càng ngày càng xa Nguyên nhân của tình trạng này là do: Dân số tăng nhanh sẽ hạn chế việc tích luỹ vốn, hạn chế tăng năng suất lao động do phải đầu tư cho nhu cầu sống và sinh hoạt tăng lên nhanh hơn số sản phẩm làm ra được Khi lực lượng lao động tăng thêm thì máy móc thiết bị cũng phải được đầu tư, chia sẻ cho lực lượng lao động mới Vì vậy, năng suất lao động chung không thể tăng lên được Trong những năm gần đây,yêu cầu tìm hiểu và đánh giá cụ thể hơn mối quan hệ giữa biến động dân số với tăng trưởng kinh tế ngày càng cấp thiết hơn Đặc biệt các nước đang phát triển, đang trải nghiệm những biến động dân số mạnh mẽ do tác động của các chính sách dân số thì nhu cầu này lại càng cấp thiết hơn bao giờ hết Cho đến nay, lịch sử dân số học đã trải qua ba quan điểm lý thuyết cơ bản về mối quan hệ giữa dân số và tăng trưởng kinh
tế với những lý luận và bằng chứng khác nhau: (1) Lý thuyết dân số học ―bi quan‖ với lập luận chủ yếu là tăng dân số tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế; (2) Lý thuyết dân số học ―lạc quan‖ lại cho rằng tăng dân số có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế; và (3) Lý thuyết dân số học ―trung dung‖ cho rằng dân số tác động đến tăng
Trang 38trưởng kinh tế theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện khác.Trong nghiên cứu, nhiều nhà nhân khẩu học Ấn Ðộ đã đưa ra học thuyết giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ phát triển dân số có mối tương quan nghịch:
―Để đảm bảo ổn định kinh tế xã hội như hiện tại cũng như mức sống hiện tại thì nếu tốc độ phát triển dân số 1% thì tốc độ phát triển tổng sản phẩm xã hội tương đương phải là 4%, thu nhập quốc dân là 2,5%‖
Kỳ vọng tác giả: tăng trưởng dân số cao đối với các nước đang phát triển sẽ là yếu tố tác động tiêu cực, vì tác giả tin rằng đối với các nước đang phát triển, những lợi ích nhận được từ tăng trưởng dân số quá mức sẽ không bù được những bất lợi mà chúng gây ra
Ngoài ra, mô hình còn được bổ sung nhóm biến độc lập khác (Zj) với mục đích đo lường tác động của các nhân tố đặc trưng cho từng quốc gia tiếp nhận đầu tư đến quan
hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, bao gồm biến liên quan đến giáo dục, chất lượng thể chế, điều kiện kinh tế vĩ mô
Giáo dục (Labor force with tertiary education) – tertiary: Một số chỉ tiêu trước đây
được dùng để đo lường giáo dục có thể là số năm đi học trung bình (Carkovic và Levine, 2005; A Hanushek và Wößmann, 2007), tỷ lệ dân số có trình độ phổ thông trở lên (Li và Liu, 2005) Nghiên cứu của Brist và Caplan (1999) cho thấy không thể giải thích được sự khác biệt tăng trưởng GDP giữa các quốc gia bằng biến số người đi học Nghiên cứu khác của Hanushek và Kimko (2000) lại đưa ra một kết luận là chất lượng của nguồn lao động có mối quan hệ nhân quả, bền vững và lâu dài với tăng trưởng kinh
tế Tuy nhiên, chất lượng lao động mà Hanushek và Kimko đã đề cập đến trong nghiên cứu này lại không liên quan đến giáo dục Như vậy, việc tham gia đi học theo hệ thống giáo dục quốc dân chưa rõ ràng trong việc quyết định chất lượng lao động Khi giáo dục được chọn làm biến đại diện cho vốn con người thì việc chọn lựa biến đại diện cho giáo dục cũng không hề đơn giản và việc lựa chọn này cũng sẽ có ảnh hưởng kết quả
Trang 39nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn con người (cũng như giáo dục) đối với tăng trưởng kinh tế Các biến thường được đề nghị là các biến thuộc nhóm biến số đại diện cho quá trình tham gia giáo dục chính thức của một cá nhân như: tỷ lệ tham gia giáo dục, tỷ lệ biết chữ, số năm đào tạo chính quy trung bình Trong ba biến trên thì biến được sử dụng phổ biến nhất là số năm đào tạo chính quy trung bình (Benhabid và Spiegel 1994; Islam, 1995) Ngoài ra, cũng có một số biến khác được các nhà nghiên cứu đề nghị như: Tỷ lệ sinh viên/giáo viên; tỷ lệ ngân sách chi tiêu cho giáo dục; học tập thông qua làm việc; cấu trúc chương trình giáo dục (Lee, 2000).Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tranh cãi giữa nhiều nhà nghiên cứu về lựa chọn này vì mỗi biến đều có những hạn chế riêng Việc lựa chọn chỉ tiêu của giáo dục để liên quan đến sự tăng trưởng trưởng kinh tế, nó cần phản ánh được trình độ lao động Khác với đa số các nghiên cứu trước đây, tác giả lựa chọn tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng đại học để làm biến đại diện cho giáo dục, tác giả tin rẳng chỉ tiêu này thực sự đo lường được trình độ lao động, khả năng tiếp thu công nghệ mới (M.Alguacil, A.Cuadros, VOrts , 2010)
Kỳ vọng tác giả: Sẽ tồn tại mối quan hệ tích cực giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế
Thể chế (Index of Economic Freedom) – ecfree: Chỉ số tự do kinh tế này đại diện
cho chất lượng thể chế và được The Heritage Foundation tổng hợp, tính toán dựa trên nhiều chỉ tiêu khác nhau: quy mô và chính sách chính phủ, hệ thống pháp luật và quyển
sở hữu, độ sâu tài chính, tự do thương mại quốc tế, chính sách tài chính Như vậy chỉ
số này đã bao hàm những mảng lớn liên quân đến thể chế và ảnh hưởng đến mối quan
hệ giữa FDI và tăng trưởng (như độ mở thương mại, độ mở tài chính và độ sâu tài chính) Chỉ số này cũng được sử dụng trong các nghiên cứu về tăng trưởng trước đây, một số tác giả giải thích chỉ số này như một điều kiện của một quốc gia để thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài Bengoa và Sanchez-Robles (2005) lập luận rằng chỉ số này càng lớn sẽ chứng tỏ được đó là một nền kinh tế hướng ngoại, ít bị ảnh hưởng bởi chính phủ