Như vậy, trên cơ sở phân tích và nghiên cứu về kinh tế tri thức, các tổ chức quốc tế đều thiết lập khung phân tích tương tự như nhau trong việc đo lường mức độ phát triển của một quốc gi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN CÔNG NAM
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2015-2025
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN CÔNG NAM
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2015-2025
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60310102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Nguyễn Văn Sáng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan rằng luận văn “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
của kinh tế tri thức trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015-2025”
là công trình nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Các kết quả nghiên cứu của người khác được sử dụng trong luận văn này đều được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
NGUYỄN CÔNG NAM
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC 11
1.1.KINH TẾ TRI THỨC 11
1.1.1 Khái niệm kinh tế tri thức 11
1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức 14
1.1.3 Những yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế tri thức 17
1.2.PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 22
1.2.1 Khái niệm về nguồn nhân lực 22
1.2.2 Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực 24
1.2.3 Nội dung phát triển nguồn nhân lực 25
1.2.4 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 27
1.3.VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỐI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC 29
1.4.CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC 31
Trang 51.5.KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC 34
1.5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 34
1.5.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ 35
1.5.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 36
1.5.4 Kinh nghiệm của Malaysia 37
1.5.5 Kinh nghiệm của Singapore 38
1.5.6 Kinh nghiệm của Thái Lan 39
1.6.KINH NGHIỆM TRONG NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 39
1.6.1 Kinh nghiệm của TP Hà Nội 39
1.6.2 Kinh nghiệm của TP Đà Nẵng 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM 44
2.1.ĐẶC ĐIỂM, ĐIỀU KIỆN ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA TPHCM 44
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 44
2.1.2 Tiềm năng kinh tế 45
2.1.3 Dân số 46
2.1.4 Lao động 47
2.1.5 Đánh giá chung về tình hình kinh tế – xã hội 48
2.2.THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM GIAI ĐOẠN 2009-2014 50
2.2.1 Thực trạng về tiếp nhận tri thức 50
Trang 62.2.2 Thực trạng về tạo ra tri thức 51
2.2.3 Thực trạng về phổ biến tri thức 53
2.2.4 Thực trạng về sử dụng tri thức 54
2.2.5 Thực trạng về đầu tư tri thức 56
2.3.ĐÁNH GIÁ VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM 57
2.3.1 Kết quả đạt được 57
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 62
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM GIAI ĐOẠN 2015-2025 67
3.1.CÁC QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG CỦA TPHCM 67
3.1.1 Quan điểm phát triển nhân lực 67
3.1.2 Mục tiêu phát triển 68
3.1.3 Luận chứng phát triển nhân lực TPHCM 69
3.2.XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC 69
3.2.1 Điểm mạnh 69
3.2.2 Điểm yếu 70
3.2.3 Thời cơ 71
3.2.4 Thách thức 72
3.2.5 Xu hướng chính về phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức 72
Trang 73.3.CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM GIAI ĐOẠN 2015-2025 743.3.1 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực 743.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phân tích, dự báo thị trường lao động 763.3.3 Giải pháp khai thác hiệu quả cơ sở hạ tầng ICT 773.3.4 Giải pháp phát triển đội ngũ công nhân tri thức 773.3.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách chi cho giáo dục đào tạo 793.3.6 Kiến nghị đối với chính quyền TPHCM 80
KẾT LUẬN 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 2.3: Kết quả đạt được về phát triển nguồn nhân lực TPHCM so với yêu cầu của kinh tế tri thức 61
Bảng 2.4: Đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP tại TPHCM 62
Hình 2.4: Chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục đào tạo của TPHCM 56Hình 2.5: Tỷ lệ chi sự nghiệp giáo dục đào tạo của TPHCM 57
Trang 9
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB: Ngân hàng Phát triển châu Á (Asian Development Bank)
APEC: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific Economic Cooperation)
GDP: Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product)
ICT: Công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication Technologies)
ILO: Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization)
R&D: Nghiên cứu và phát triển (Research and Development)
TFP: Năng suất các yếu tố tổng hợp (Total Factor Productivity)
TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
UBND: Ủy ban nhân dân
UNDP: Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (United Nations Development Programme)
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization)
WB: Ngân hàng Thế giới (World Bank)
WBI: Viện Ngân hàng Thế giới (World Bank Institute)
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do thực hiện đề tài
Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà sự phát triển của nó dựa chủ yếu vào tri thức – trí tuệ; trong đó, tri thức quyết định sự tồn tại và phát triển kinh tế Trong kinh tế tri thức, tri thức được tạo ra, lan tỏa trong nguồn nhân lực và tăng lên không ngừng khi được sử dụng Tại Việt Nam, xây dựng và phát triển kinh tế tri thức đã được đề cập đến từ rất sớm và chính thức được đưa vào Văn kiện Đại hội Đảng lần đầu tiên vào năm 2001 (Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX) Theo đó, Việt Nam chú trọng và từng bước xây dựng kinh tế tri thức để theo kịp đà phát triển của thế giới Quan điểm này tiếp tục được duy trì cho đến hiện nay
Để thúc đẩy và phát triển kinh tế tri thức, một trong những yếu tố quan trọng nhất, đó là phát triển nguồn nhân lực, chú trọng giáo dục, đào tạo kỹ năng nhằm nâng cao tri thức cho nguồn nhân lực Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chỉ số nền kinh tế tri thức (KEI) của Việt Nam năm 2012 là 3,4 điểm, xếp hạng 104/146; trong
đó, chỉ số về giáo dục và đào tạo, chỉ số thể hiện việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, chỉ đạt 2,99 điểm, xếp hạng 105, thấp và không có nhiều cải thiện qua nhiều năm Điều này cho thấy việc phát triển nguồn nhân lực tại Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế tri thức
Từ thực tế trên, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu vấn đề phát triển nguồn nhân lực như thế nào để hình thành và phát triển kinh tế tri thức trong điều kiện hiện nay của nước ta
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu vấn đề phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức trên địa bàn TPHCM
Để thực hiện mục tiêu này, đề tài đặt ra các mục tiêu cụ thể, bao gồm:
Trang 11- Tổng hợp cơ sở lý luận về kinh tế tri thức, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức;
- Thực trạng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức trên địa bàn TPHCM và nguyên nhân của thực trạng;
- Đưa ra các giải pháp để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh
tế tri thức trên địa bàn TPHCM giai đoạn 2015-2025
3 Tổng quan nghiên cứu
Kinh tế tri thức là xu thế phát triển của xã hội loài người trong thời đại ngày nay Để phân tích và tìm hiểu về hình thái kinh tế mới này, đã có nhiều nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân được thực hiện Trong số đó, những nghiên cứu về đặc trưng của kinh tế tri thức, các yếu tố thúc đẩy hình thành và phát triển kinh tế tri thức
có giá trị tham khảo rất lớn đối với những nước có nền kinh tế đang phát triển và có chiến lược phát triển hướng đến kinh tế tri thức như Việt Nam
Để xây dựng khung phân tích nhằm lượng hóa nền kinh tế tri thức, OECD bắt đầu biên soạn các chỉ số thống kê có liên quan từ năm 1996 Sau khi mở rộng và điều chỉnh, OECD (2001) đã đưa ra năm yếu tố cơ bản của nền kinh tế tri thức như sau:
- Một là môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và cởi mở tạo điều kiện cho thị trường hoạt động hiệu quả;
- Hai là sự phổ biến của công nghệ thông tin và truyền thông;
- Ba là thúc đẩy sự đổi mới;
- Bốn là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực (hoặc vốn con người);
- Năm là khuyến khích tạo lập doanh nghiệp mới
Ủy ban Kinh tế APEC (2000) lập luận rằng trong nền kinh tế tri thức, sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức là động lực chính của tăng trưởng, tạo ra của cải và việc làm Ý tưởng về một xã hội dựa trên tri thức không chỉ hoàn toàn là tri thức về công nghệ, mà còn bao gồm cả tri thức về văn hóa, xã hội và quản lý
Trang 12Từ đó, APEC đã đưa ra một khung phân tích được phát triển dưới dự án
“Hướng đến các nền kinh tế tri thức trong APEC” (Towards Knowledge-based Economies in APEC) Mục đích của dự án là cung cấp cơ sở phân tích hữu ích cho việc thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả tri thức, việc tạo ra và phổ biến tri thức giữa các nền kinh tế APEC Theo đó, kinh tế tri thức được biểu hiện qua hai nhóm khía cạnh: Cường độ tri thức và Nền tảng tri thức Cường độ tri thức đo lường bằng tỷ lệ đóng góp vào GDP của các ngành công nghiệp tri thức và tỷ trọng của công nhân tri thức trong lực lượng lao động Nền tảng tri thức đo lường bằng các chỉ số đánh giá về Hệ thống đổi mới sáng tạo, Phát triển nguồn nhân lực, Cơ sở hạ tầng ICT, Môi trường kinh doanh Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức, nhu cầu về lao động trí
óc với kiến thức chuyên môn và tư duy sáng tạo tăng lên nhanh chóng Để thích nghi với xu hướng mới này trong thị trường lao động, yếu tố quan trọng là đầu tư và phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực sẽ giúp ổn định thị trường lao động thông qua việc giảm khoảng cách tri thức giữa những người lao động
WBI đã triển khai chương trình “Tri thức cho phát triển” (Knowledge for Development – K4D) WBI định nghĩa nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó việc sử dụng hiệu quả tri thức là động lực chính của tăng trưởng kinh tế Trong đó, tri thức được tiếp nhận, tạo ra, phổ biến và sử dụng có hiệu quả để thúc đẩy kinh tế phát triển Bốn trụ cột trong khung phân tích của WBI bao gồm: Một là Cơ chế kinh
tế và thể chế; Hai là Giáo dục và đào tạo; Ba là Cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông; Bốn là Hệ thống đổi mới sáng tạo (WB, 2007)
Tại Hội nghị thường niên lần thứ 39 vào năm 2006 của ADB, một hội thảo về kinh tế tri thức đã được tổ chức Thông điệp từ các diễn giả chỉ ra rằng những quốc gia đang phát triển mà không có sự chuyển đổi hiệu quả đến kinh tế tri thức sẽ càng tụt hậu so với các quốc gia tiên tiến, làm gia tăng thêm khoảng cách giữa các nền kinh
tế phát triển và đang phát triển Để thành công trong nền kinh tế ngày càng cạnh tranh
và toàn cầu hóa ngày nay, các quốc gia phải có cơ sở hạ tầng ICT tiên tiến, một lực lượng lao động có trình độ cao, những chương trình nghiên cứu và đổi mới một cách năng động và môi trường thể chế, pháp luật hỗ trợ hiệu quả Tổng kết hội thảo, ADB
Trang 13phát hành tài liệu “Tiến đến kinh tế tri thức: Kinh nghiệm của Châu Á” (Moving Toward Knowledge-Based Economies: Asian Experiences), trong đó xem xét và tổng kết sáng kiến của các quốc gia trong việc tiếp cận và thúc đẩy kinh tế tri thức tại Châu
Á
Tài liệu “Cách tân Châu Á: thúc đẩy kinh tế tri thức” (Innovative Asia: advancing the knowledge-based economy) được ADB phát hành năm 2014 khuyến nghị rằng để thúc đẩy kinh tế tri thức, cần giảm sự tụt hậu và khoảng cách giữa các nền kinh tế bằng cách thực hiện:
- Về đầu tư: Tăng cường R&D và đổi mới; Mở rộng cơ sở hạ tầng tri thức; Tăng cường hơn nữa nền tảng giáo dục và đào tạo
- Về chính sách: Cung cấp động lực kinh tế cho tri thức; Tạo điều kiện cho sự đổi mới phát triển mạnh mẽ; Giới thiệu những hệ thống giáo dục linh hoạt; Thúc đẩy
cơ chế thị trường cho ICT
Như vậy, trên cơ sở phân tích và nghiên cứu về kinh tế tri thức, các tổ chức quốc tế đều thiết lập khung phân tích tương tự như nhau trong việc đo lường mức độ phát triển của một quốc gia hướng đến nền kinh tế tri thức, có thể tóm tắt trong bốn khía cạnh chính sau đây: Một là phát triển nguồn nhân lực; Hai là ICT; Ba là hệ thống đổi mới sáng tạo; Bốn là môi trường kinh doanh
Ở một nền kinh tế tri thức, vốn con người cũng như nguồn nhân lực có chất lượng cao là nền tảng Vì vậy, việc phát triển nguồn nhân lực là yếu tố then chốt trong việc hình thành và phát triển của kinh tế tri thức
Tại Việt Nam, nghiên cứu về nguồn nhân lực đã được đưa giáo trình giảng dạy trình độ đại học (Quản trị nguồn nhân lực, Kinh tế nguồn nhân lực,…) Trong đó, những nội dung về quản trị nguồn nhân lực đề cập đến nguồn nhân lực trong các tổ chức, doanh nghiệp; nội dung về kinh tế nguồn nhân lực đề cập đến nguồn nhân lực của quốc gia, nền kinh tế Như vậy, nghiên cứu về kinh tế nguồn nhân lực là phù hợp nhất trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và kinh tế tri thức Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực xuất bản năm 2012 của Trường Đại học Kinh tế Quốc
Trang 14dân được sử dụng làm tài liệu tham khảo chính cho nội dung nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực của luận văn này
Đối với vấn đề phát triển nguồn nhân lực tại Việt Nam nói chung và tại TPHCM nói riêng, tác giả sử dụng tài liệu tham khảo từ chủ trương của Đảng bộ TPHCM, từ các chính sách của chính quyền thành phố về phát triển nguồn nhân lực
và từ các bài báo khoa học, luận văn thạc sỹ đã được thực hiện trong thời gian gần đây như:
“Quy hoạch phát triển nhân lực TPHCM giai đoạn 2011-2020” của UBND TPHCM (2012) đưa ra những quan điểm, mục tiêu, đồng thời phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức trong vấn đề phát triển nhân lực TPHCM Đây
là những luận cứ quan trọng để tác giả phân tích và xây dựng các nhóm giải pháp phù hợp với chủ trương của Đảng và chính sách của chính quyền thành phố, có như vậy mới đảm bảo tính khả thi của các giải pháp đề ra
“Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”, một trong sáu chương trình đột phá của Đại hội đại biểu Đảng bộ TPHCM lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015, tiếp tục là một trong bảy chương trình đột phá của Đại hội đại biểu Đảng bộ TPHCM lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020, phân tích kết quả thực hiện chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực TPHCM giai đoạn 2011-2015, đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cho giai đoạn 2015-2020 Chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quyết định, sẽ là tiền đề cho những bước đột phá trong phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội của thành phố Do đó, những vấn đề đặt ra trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là những vấn đề cốt lõi trong việc nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực nói chung, cũng như nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức nói riêng
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Thanh Hương (2013) đề tài “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh từ này đến năm 2009” Kết quả nghiên cứu chỉ ra thực trạng phát triển nguồn nhân lực về quy mô, cơ cấu, chất lượng, giáo dục – đào tạo; phân tích những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại, rút ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm
Trang 15trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đồng thời nêu lên được những vấn đề đặt ra hiện nay đối với nguồn nhân lực ở TPHCM, từ đó tác giả đưa ra những giải pháp cụ thể để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở TPHCM gồm có: Gắn đào tạo với sử dụng, thu hút người tài nhằm phát triển nguồn nhân lực của thành phố đảm bảo về số lượng, chất lượng, hướng tới một cơ cấu nhân lực hợp lý; gia tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo, chú trọng đào tạo nghề chất lượng cao; cải thiện trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực nhận thức của nhân lực, trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Công Danh (2012) đề tài “Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012-2020” Kết quả nghiên cứu đã phân tích thực trạng nguồn nhân lực trên địa bàn TPHCM trên cả mặt chất và lượng, đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế đồng thời đưa ra được nguyên nhân của những vấn đề, từ đó tấc giả đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực TPHCM gồm có: Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; Phát triển nguồn nhân lực nhằm hai mục tiêu là nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc
tế và giải quyết việc làm; Tập trung đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng các ngành công nghiệp mũi nhọn; Điều chỉnh, bổ sung chính sách và pháp luật nhằm tạo động lực, động viên sức dân tham gia xây dựng thành phố
Hai luận văn trên tuy nghiên cứu vấn đề phát triển nguồn nhân lực gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhưng tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực tại TPHCM là nguồn tài liệu có giá trị tham khảo rất lớn đối với những nghiên cứu tương tự về vấn đề phát triển nguồn nhân lực tại TPHCM
Các bài báo khoa học “Những đột phá của Đà Nẵng về thu hút, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao cho tái cơ cấu kinh tế” của Lê Hữu Ái và Nguyễn Phước Phúc (2012); “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho Thủ đô Hà Nội” của Trần Thị Hồng Việt (2012) cung cấp những bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cao trong việc đề xuất các giải pháp để phát triển nguồn nhân lực của TPHCM
Trang 16Đối với vấn đề phát triển nguồn nhân lực gắn với kinh tế tri thức, có thể kể đến những nghiên cứu sau:
Sách “Kinh tế tri thức Thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam” của Đặng Hữu (2004) tổng hợp cơ sở lý luận, đặc trưng của kinh tế tri thức Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm của một số nước đã đi vào kinh tế tri thức, tác giả nhận định kinh tế tri thức là cơ hội lớn để Việt Nam rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thông qua những giải pháp cụ thể đó là: Đổi mới doanh nghiệp; Bảo
vệ môi trường, phát triển bền vững; Phát triển nguồn nhân lực; Tăng cường năng lực khoa học và công nghệ; Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; Đổi mới cơ chế và chính sách Trong đó, đối với việc phát triển nguồn nhân lực, đòi hỏi nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài nhằm tạo nền tảng và động lực cho phát triển kinh
tế tri thức
Luận án tiến sỹ của Lê Thị Hồng Điệp (2009) đề tài “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam” kết luận rằng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một điều kiện cơ bản và quan trọng nhất trong quá trình từng bước tiếp cận và hình thành nền kinh tế tri thức của Việt Nam và cần được thực hiện cần được thực hiện toàn diện ở ba nội dung: gia tăng số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao tới để lực lượng này trở thành lực lượng đại chúng trong tổng lực lượng lao động; chuyển dịch cơ cấu nhân lực chất lượng cao theo hướng gia tăng lực lượng lao động chất lượng cao làm việc trong những ngành công nghiệp tri thức; hình thành và phát huy được những tố chất tiêu biểu, đó là tố chất dân tộc, tố chất thích ứng và tố chất sáng tạo
Báo cáo của APEC (2000) nhận định, trong quá trình chuyển sang kinh tế tri thức, nhu cầu về lao động trí óc với kiến thức chuyên môn và tư duy sáng tạo tăng lên nhanh chóng Để thích nghi với xu hướng mới này trong thị trường lao động, yếu
tố quan trọng là đầu tư và phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực sẽ giúp ổn định thị trường lao động thông qua việc giảm khoảng cách tri thức giữa những người lao động
Trang 17Sajit (2014) thông qua việc nghiên cứu vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các nền kinh tế tri thức tại Đông Á, cho rằng đối với đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, các yếu tố chính góp phần cho việc định hình và chuyển đổi sang kinh tế tri thức được xác định là: chất lượng của hệ thống giáo dục, chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục đại học, nhằm cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cho thị trường lao động; quản lý hiệu quả trong việc chuyển giao tri thức giữa các công
ty và các trường đại học
Như vậy, tổng hợp những công trình nghiên cứu trên, những vấn đề đã nghiên cứu về kinh tế tri thức, nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực là những tài liệu tham khảo quan trọng để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài Những nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực gắn với kinh tế tri thức đã đề cập đến ở trên giúp định hướng cho vấn đề nghiên cứu của đề tài Tuy nhiên, những nghiên cứu về vấn đề phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu kinh tế tri thức tại TPHCM, qua tìm hiểu của tác giả, trong thời gian gần đây, chưa được thực hiện, hoặc nếu có, đã được thực hiện cách nay khá lâu và đã lỗi thời Vì vậy, đề tài “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015-2025” là nghiên cứu mới và phù hợp với định hướng phát triển của địa phương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức trên địa bàn TPHCM
b Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại TPHCM
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn 2009-2014;
nghiên cứu giải pháp cho giai đoạn 2015-2025
5 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp luận
Trang 18Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận của triết học Mác – Lênin:
trên cơ sở xem xét mối liên hệ giữa chúng với nhau, sự tác động lẫn nhau trong một
quá trình không ngừng phát triển
đảm bảo tính logic thống nhất với lịch sử; đòi hỏi việc nghiên cứu vừa phải xem xét các đối tượng nghiên cứu trong các giai đoạn phát triển của chúng, vừa phải tìm ra
cái chung chi phối sự phát triển đó
b Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả: mô tả các vấn đề trong nghiên cứu, cung cấp cái nhìn tổng
quan về nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu lịch sử: nghiên cứu thực trạng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng
yêu cầu của kinh tế tri thức trên địa bàn TPHCM và xác định nguyên nhân
- Nghiên cứu tương quan: đúc kết kinh nghiệm trong và ngoài nước về phát
triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức để tham khảo khi xây dựng các nhóm giải pháp
- Nghiên cứu định tính: nghiên cứu trong điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và
điều kiện tự nhiên cụ thể của TPHCM
đề nghiên cứu, đưa ra được những giải pháp khả thi tác động trực tiếp vào những vấn
đề này nhằm thực hiện hóa mục tiêu nghiên cứu đặt ra
- Nguồn số liệu: để phân tích thực trạng, đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp từ Tổng
cục thống kê Việt Nam, Cục thống kê TPHCM, Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực
và thông tin thị trường lao động TPHCM, các báo cáo tình hình kinh tế – xã hội hàng năm của UBND TPHCM; để so sánh, xây dựng thang đo các chỉ số, đề tài sử dụng
dữ liệu thứ cấp từ WB, ADB, ILO; đề tài không sử dụng dữ liệu sơ cấp
Trang 19- Phương pháp thực hiện: hệ thống, tổng hợp cơ sở lý luận; thống kê – mô tả,
so sánh, phân tích dữ liệu
- Công cụ phân tích, xử lý dữ liệu: số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm
Microsoft Excel và thực hiện phân tích thông qua bảng biểu, đồ thị
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức
- Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức trên địa bàn TPHCM
- Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức trên địa bàn TPHCM giai đoạn 2015-2025
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC
1.1 KINH TẾ TRI THỨC
1.1.1 Khái niệm kinh tế tri thức
Thuật ngữ kinh tế tri thức (knowledge economy) được đề cập đầu tiên bởi Fritz Machlup và Peter Drucker vào đầu những năm 1960, dựa trên những nghiên cứu về đóng góp và vai trò của tri thức trong nền kinh tế Từ đó, thuật ngữ kinh tế tri thức ngày càng được chấp nhận rộng rãi và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện Nhiều nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân đã được thực hiện nhằm tìm hiểu và giải thích
cơ chế của nền kinh tế này Tùy theo cách thức tiếp cận mà có nhiều định nghĩa cho khái niệm này Để làm rõ nghĩa cho thuật ngữ kinh tế tri thức, có thể tiếp cận từ khái niệm của hai thuật ngữ kinh tế và tri thức
Kinh tế là toàn bộ các hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu thụ hàng
hóa và dịch vụ của một cộng đồng hay một quốc gia Các hoạt động kinh tế thường được chia ra và đánh giá theo ba ngành kinh tế cơ bản: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Một hệ thống kinh tế là một tập hợp các nguyên tắc, cách thức và yếu tố chi phối các hoạt động kinh tế Các hệ thống kinh tế thường được nói đến gồm kinh tế truyền thống, kinh tế kế hoạch, kinh tế thị trường, và kinh tế hỗn hợp
Tri thức là những hiểu biết và các kỹ năng mà con người tiếp nhận thông qua
nhận thức, kinh nghiệm, quan sát và học tập Tri thức được phân loại thành tri thức hiện (explicit knowledge) – tri thức ẩn (tacit knowledge), tri thức chủ quan – tri thức khách quan, tri thức biết – tri thức hành động; hoặc tri thức về sự vật, hiện tượng, tri thức về thế giới, xã hội, con người, tri thức về ai, khi nào, ở đâu, tri thức về kỹ năng
và thực tiễn… Tri thức, không như các nguồn lực kinh tế khác, thường được xem là hàng hóa công Công dụng của tri thức tăng lên theo quy mô trong hoạt động sản xuất, cho thấy đặc trưng và lợi thế của nó so với các nguồn lực khác
Trang 21Như vậy, kinh tế tri thức tiếp cận theo cách hiểu là nền kinh tế dựa trên tri thức (knowledge-based economy) hoặc nền kinh tế được điều hành bởi tri thức (knowledge-driven economy) là cách tiếp cận cơ bản nhất cho khái niệm này Kinh
tế tri thức nên được hiểu là một hệ thống kinh tế chứ không phải chỉ riêng là một ngành kinh tế cụ thể nào Các tổ chức quốc tế đã sớm đưa ra định nghĩa về kinh tế tri thức và cho đến ngày nay vẫn tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện
Theo OECD (1996), nền kinh tế tri thức là nền kinh tế ngày càng phụ thuộc trực tiếp vào việc sản xuất phân phối và sử dụng tri thức và thông tin
APEC (2000) định nghĩa: Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế
WB (1999) định nghĩa: Kinh tế tri thức là nền kinh tế sử dụng hiệu quả tri thức cho sự phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm việc thu nhận được tri thức bên ngoài cũng như thích ứng và tạo tri thức cho các nhu cầu riêng của mình
Powell & Snellman (2004) cho rằng nền kinh tế tri thức dựa trên những hoạt động có hàm lượng tri thức cao, từ đó thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, vì vậy những tri thức hiện hữu cũng nhanh chóng trở nên lỗi thời Đặc điểm chính của một nền kinh tế tri thức là tăng trưởng sẽ phụ thuộc nhiều vào tri thức của con người nhiều hơn là các yếu tố đầu vào vật chất hay tài nguyên thiên nhiên
Suh & Chen (2007) định nghĩa nền kinh tế tri thức là nền kinh tế sử dụng tri thức như là động lực chính của tăng trưởng kinh tế, trong đó tri thức được hấp thu, tạo ra, phổ biến, và sử dụng hiệu quả để thúc đẩy sự phát triển kinh tế Nền kinh tế tri thức không nhất thiết phải xoay quanh công nghệ cao và công nghệ thông tin Ví dụ, việc áp dụng những kĩ thuật mới trong canh tác nông nghiệp giúp nâng cao sản lượng, chất lượng nông phẩm; hoặc việc sử dụng những dịch vụ logistic hiện đại giúp mở rộng thị trường tiêu thụ đối với những ngành nghề thủ công truyền thống
Trang 22Theo Ngô Doãn Vịnh (2013), kinh tế tri thức là nền kinh tế mà sự phát triển của nó dựa chủ yếu vào tri thức – trí tuệ; tri thức quyết định sự tồn tại và phát triển kinh tế.”
Đặng Hữu (2004, trang 76) nhận định rằng “kinh tế tri thức là trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất xã hội loài người”, nói về kinh tế tri thức không có nghĩa nói về một hình thái kinh tế – xã hội nào, mà là nói về phương diện lực lượng sản xuất, nói về một xu thế mới: sự phát triển kinh tế đang dựa nhiều hơn vào tri thức
và thông tin
Như vậy, có thể hiểu kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó tri thức của nhân loại được tạo ra, phổ biến, hấp thu, vận dụng và không ngừng đổi mới Ngày nay, tri thức đang ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng và được sử dụng để tạo ra các giá trị hữu hình cũng như vô hình, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của quốc gia
Kinh tế tri thức là sản phẩm của cách mạng khoa học – công nghệ, biểu hiện cho sự phát triển lực lượng sản xuất ở trình độ cao Của cải, vật chất trong một nền kinh tế tri thức được tạo ra chủ yếu do công nhân tri thức và việc sử dụng công nghệ cao Tuy nhiên, tri thức không chỉ hoàn toàn là công nghệ; mà tri thức còn phải lan tỏa trong cả văn hóa, xã hội, quản lý và điều hành; phương thức sản xuất dựa trên tri thức thể hiện trong hầu hết các lĩnh vực của kinh tế tri thức
“Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì,
mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào Các tư liệu lao động không những là cái thước đo cho sự phát triển sức lao động của con người, mà còn là một chỉ tiêu của những quan hệ xã hội trong đó lao động được tiến hành.” (Các Mác, 1984, trang 233) Kinh tế tri thức cũng được xem là giai đoạn mới nhất của sự phát triển trong tái cấu trúc nền kinh tế toàn cầu Các nước phát triển trên thế giới đã chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp trong thời đại công nghiệp, tiếp đến là nền kinh tế hậu công nghiệp và sản xuất hàng loạt vào giữa những năm 1900 tập trung chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ, và cuối cùng là
Trang 23nền kinh tế tri thức vào cuối những năm 1900 đến đầu những năm 2000 với sự lớn mạnh của lĩnh vực công nghệ và sử dụng vốn con người Giai đoạn này được đánh dấu bởi sự thay đổi công nghệ một cách mạnh mẽ, nhu cầu cạnh tranh trong đổi mới sản phẩm trên quy mô toàn cầu và sự phát triển của các cộng đồng nghiên cứu (như các trường đại học, phòng thí nghiệm, các cơ sở giáo dục và các tổ chức R&D)
Cùng với sự phát triển của xã hội thông tin, tri thức ngày càng được hệ thống hóa và được lan truyền, phổ biến rộng rãi thông qua mạng lưới truyền thông và máy
vi tính Yêu cầu đối với thời đại này là tri thức ẩn, là tri thức mà một người có được một cách tự giác vô thức, bao gồm những kỹ năng để sử dụng và áp dụng những tri thức đã được hệ thống (Nonaka, 1991), và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học hỏi liên tục của cả cá nhân lẫn các tổ chức, doanh nghiệp Do đó, trong kinh tế tri thức, sự đổi mới được dẫn dắt bởi tác động lẫn nhau giữa nhà sản xuất và người dùng trong việc trao đổi cả về các tri thức được hệ thống lẫn các tri thức ẩn
Mức độ tri thức của nền kinh tế được đo lường thông qua tỷ lệ đóng góp vào GDP của các ngành công nghiệp dựa trên tri thức và tỷ lệ công nhân tri thức trong lực lượng lao động (APEC, 2000)
1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức
Đặng Hữu (2004, trang 100) chỉ ra rằng “Trong một nền kinh tế tri thức đích thực thì mọi lĩnh vực kinh tế đều trở thành ngành kinh tế dựa vào tri thức chứ không phải chỉ là các ngành công nghệ thông tin, các ngành công nghệ cao Một đặc trưng
quan trọng của kinh tế tri thức là độ tự do của thương mại, đó là sự phát triển các ý
tưởng mới, các doanh nghiệp mới, đó là những chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp, đó
là tầm quan trọng của việc học tập suốt đời, đó là vai trò động lực của ICT”
Trong nền kinh tế tri thức, lực lượng lao động đặc biệt được đặc trưng bởi khả năng sử dụng máy tính và kỹ năng được đào tạo tốt trong xử lý dữ liệu, phát triển thuật toán và mô hình mô phỏng, và đổi mới quy trình và hệ thống Do đó, nhu cầu
về công nhân tri thức bao gồm các nhà khoa học máy tính, kỹ sư, nhà hóa học, sinh học, toán học và nhà phát minh không ngừng gia tăng Ngoài ra, trong nền kinh tế
Trang 24toàn cầu, sự kết nối sẽ được xác định bởi các ngành công nghiệp, chế tạo và các chủ thể có liên quan với nhau thông qua kỹ năng, công nghệ cùng như các yếu tố đầu vào thông thường khác Do đó, tri thức là chất xúc tác và liên kết trong một nền kinh tế hiện đại
Cùng với nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng cạn kiệt, sự cần thiết cho cơ sở hạ tầng xanh, ngành công nghiệp logistic hướng tới giao hàng đúng lúc, nhu cầu phát triển toàn cầu, chính sách điều chỉnh theo kết quả thực hiện, và một loạt các vấn đề ưu tiên khác được đặt ra dựa trên tri thức; và nghiên cứu trở nên tối quan trọng Tri thức cung cấp chuyên môn kỹ thuật, khả năng giải quyết vấn đề, là thước
đo hiệu quả, có giá trị và khả năng quản lý dữ liệu cần thiết đối trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu xuyên biên giới và liên ngành hiện nay Thung lũng Silicon ở California, Mỹ; công nghệ hàng không vũ trụ và sản xuất ô tô ở Munich, Đức; công nghệ sinh học ở Hyderabas, Ấn Độ; thiết bị điện tử và truyền thông kỹ thuật số ở Seoul, Hàn Quốc; công nghệ hóa dầu và công nghiệp năng lượng ở Brazil là những
ví dụ cho khía cạnh toàn cầu hóa của kinh tế tri thức
Những khái niệm về kinh tế tri thức cho thấy sự khác biệt của kinh tế tri thức
so với các hình thái kinh tế truyền thống, việc phân tích các nền kinh tế tri thức phát triển cũng như các nền kinh tế đang trên đường trở thành kinh tế tri thức giúp chỉ ra những đặc trưng của kinh tế tri thức Tổng hợp nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, có thể nhận thấy kinh tế tri thức có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là, tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn và đầu vào của
quá trình sản xuất Vốn con người chiếm trên 70% trong cơ cấu tư bản Nguồn nhân lực có chất lượng cao là nền tảng đầu vào quan trọng của qua trình sản xuất Trình độ phổ biến là đại học hoặc thấp nhất từ tốt nghiệp phổ thông trung học cho đến trung cấp, cao đẳng (APEC, 2000) Giáo dục và đào tạo linh hoạt, hiệu quả là yếu tố then chốt của kinh tế tri thức, tạo điều kiện cho việc học tập suốt đời và hướng đến một xã hội học tập
Trang 25Hai là, cơ cấu sản xuất ngày càng dựa trên việc ứng dụng các thành tựu của
khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ cao và hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại
Tỷ lệ đóng góp vào vào GDP của các ngành công nghiệp dựa trên tri thức nên ở mức trên 40% (APEC, 2000) GDP trong các nền kinh tế tri thức phát triển phần lớn là từ các ngành kinh tế tri thức, trong đó, giá trị gia tăng được tạo ra nhờ tri thức và công nghệ cao là chủ yếu trong khi chi phí cho vật chất chỉ chiếm phần nhỏ và không tăng Điều này có nghĩa không chỉ riêng khu vực dịch vụ đóng góp cao cho GDP, mà ngay
cả trong khu vực nông nghiệp, công nghiệp và ngay cả dịch vụ, khi dựa vào tri thức, ứng dụng công nghệ hiện đại cũng đem lại giá trị gia tăng cao hơn so với các hình thức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ truyền thống Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại và có vai trò quan trọng trong việc truyền bá, khuếch tán tri thức trên cơ sở viễn thông tiên tiến phổ biến và rẻ đạt được từ sự đầu tư thỏa đáng của chính phủ
Ba là, cơ cấu lao động biến đổi theo hướng tăng tỷ trọng lao động dựa trên tri
thức và sáng tạo, công nhân tri thức chiếm trên 50% trong lực lượng lao động Trong một nền kinh tế tri thức, việc làm chiếm đa số là các công việc về tri thức và thông tin (APEC, 2000) Tiền lương trả cho công nhân tri thức ở mức cao và tăng theo trình
độ, kỹ năng và sự linh hoạt
Bốn là, nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền sở hữu đối với tri thức Không
như các nguồn lực tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt, nguồn lực tri thức không những không mất đi mà còn tăng lên không ngừng khi sử dụng Trong kinh tế tri thức, quyền
sở hữu đối với tri thức ngày càng quan trọng hơn so với các yếu tố đầu vào khác như tài nguyên, đất đai Quyền sở hữu trí tuệ được đảm bảo Các thể chế kinh tế khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên tri thức và công nghệ mới Môi trường kinh doanh thúc đẩy việc du nhập các ý tưởng mới cũng như chuyển giao các công nghệ mới, hiệu quả và hiện đại Hình thành các cụm kinh doanh xung quanh các trung tâm của tri thức (các trường đại học, học viện, các trung tâm nghiên cứu và phát triển)
Trang 26Năm là, mọi hoạt động kinh tế đều liên quan đến vấn đề hội nhập, toàn cầu
hóa và dân chủ hóa “Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hóa nối mạng, hoặc
là nền kinh tế toàn cầu dựa vào tri thức” (Đặng Hữu, 2004, trang 108) Khoảng cách địa lý bị thu hẹp cùng với sự ra đời của các hình thức kinh doanh, dịch vụ thông qua mạng internet cũng như mạng xã hội, tạo ra khả năng hoạt động kinh tế liên tục, cả ngày lẫn đêm và tiếp cận trên toàn cầu Trong các nền kinh tế phát triển, các ngành sản xuất, dịch vụ đều dựa trên nguồn cung ứng từ nhiều nước và sản phẩm được tiêu thụ trên toàn thế giới Phát triển bền vững, bảo vệ môi trường là ưu tiên hàng đầu của các quốc gia Kinh tế tri thức dựa trên việc sử dụng và phổ biến tri thức, thông tin, vì vậy, cần phải dễ dàng trong việc tiếp cận tri thức và thông tin một cách đầy đủ, chính xác Vai trò của chính phủ trong kinh tế tri thức chuyển từ chi phối thị trường sang điều phối thị trường, đảm bảo dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội
Kinh tế tri thức có thể xuất hiện trong những hình thức đa dạng khác nhau, nhưng những dấu hiệu đầu tiên là một nền kinh tế mở rộng triệt để và tạo ra một mô hình, trong đó, ngay cả những ý tưởng cũng được thừa nhận và xem như một loại hàng hóa Xét về bản chất của tri thức, đây chính là lực đẩy của hình thái kinh tế kinh
tế tri thức, mặc dù hiện nay, những ý tưởng, sáng kiến (ví dụ phương pháp tiếp cận mang tính cách mạng ở cấp độ lượng tử cùng với ứng dụng và giá trị thương mại của nó) vẫn nằm trong việc đầu cơ
Sự khác biệt giữa các nền kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức chính là sự khác biệt về các đặc trưng cơ bản ở mỗi nền kinh tế Điều này có thể tìm hiểu khái quát qua bảng so sánh các nền kinh tế của Đặng Hữu (2004) (xem phụ lục 1)
1.1.3 Những yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế tri thức
OECD (2001) đã đưa ra năm yếu tố cơ bản của kinh tế tri thức như sau: Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và cởi mở tạo điều kiện cho thị trường hoạt động hiệu quả; Sự phổ biến của ICT; Thúc đẩy sự đổi mới; Đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực; Khuyến khích tạo lập doanh nghiệp mới
Trang 27Khung phân tích nhằm hướng đến kinh tế tri thức của APEC (2000) bao gồm:
Hệ thống đổi mới sáng tạo; Phát triển nguồn nhân lực; Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin; và Môi trường kinh doanh
WB (2007) xây dựng khung phân tích bốn trụ cột của kinh tế tri thức như sau:
Trụ cột thứ nhất, thể chế khuyến khích kinh tế và xã hội pháp quyền, bao
gồm các chính sách kinh tế, xã hội tốt, khuyến khích phân phối hiệu quả tài nguyên, khuyến khích sự đổi mới và thúc đẩy sự sáng tạo, phổ biến và sử dụng tri thức
Trụ cột thứ hai, lực lượng lao động có học vấn được giáo dục và lành nghề,
bao gồm các yếu tố nâng cao năng lực tri thức của nguồn nhân lực, tăng cường tiềm năng tri thức của nền kinh tế thông qua xã hội học tập và việc học tập suốt đời
Trụ cột thứ ba, hệ thống đổi mới sáng tạo hiệu quả, trong đó, tri thức lỗi thời,
lạc hậu liên tục được thay thế bởi tri thức mới, phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế dựa trên sự cải cách, đổi mới của các cá nhân và tổ chức nghiên cứu (trường đại học, viện, trung tâm nghiên cứu, tập đoàn, chuyên gia…)
Trụ cột thứ tư, là hạ tầng thông tin hiện đại và đầy đủ, đáp ứng yêu cầu truyền
thông, phổ biến, xử lý thông tin và tri thức, đảm bảo hoạt động thu nhận, đổi mới, sáng tạo tri thức cũng như đảm bảo cho một xã hội học tập và việc học tập suốt đời
Đặng Hữu (2004) cho rằng các yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy phát triển kinh
tế tri thức là: Đổi mới chính sách kinh tế và thể chế; Giáo dục con người có kỹ năng
và có tính sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng, được giáo dục tốt; Xây dựng hệ thống đổi mới; Ứng dụng và phát triển ICT
Tổng hợp những phân tích và nghiên cứu trên, để phát triển kinh tế tri thức tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, những yếu tố sau cần được chú ý:
Một là, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp tự do kinh
doanh và đổi mới Điều này đòi hỏi chính sách cởi mở đối với những ý tưởng kinh doanh mới, đảm bảo cho sự phát triển và sử dụng có hiệu quả những tri thức mới một cách rộng rãi Đồng thời, khuyến khích mở rộng nghiên cứu phát triển tri thức một
Trang 28cách tổng quát với điều kiện các quyền sở hữu trí tuệ được đảm bảo và thực thi Cần thiết phải có một môi trường thể chế kinh tế với những chính sách thúc đẩy việc hợp tác giữa các nhà nghiên cứu trong các tổ chức, lĩnh vực và các ngành công nghiệp khác nhau
Kinh tế tri thức đòi hỏi môi trường kinh doanh thu hút được các nhà đầu tư trong tương lai, bao gồm môi trường pháp lý đảm bảo cho sự cạnh tranh công bằng,
sự minh bạch trong điều hành của chính phủ, tính chính xác trong các báo cáo của doanh nghiệp, những luật lệ có sự đồng thuận cao, mức lạm phát và lãi suất hợp lý duy trì ở mức thấp
Hai là, xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo Sự đổi mới là trung tâm của tổ
chức và việc quản lý vì đổi mới được tạo ra trong các tổ chức có sự trao đổi tri thức Đổi mới thường là kết quả của những hiểu biết thu nhận từ việc kết hợp tri thức từ các ngành, các hoạt động và các doanh nghiệp khác nhau Điều này có thể đem lại lợi ích to lớn từ những thỏa thuận tăng cường sự hợp tác và chuyển giao cả từ bên trong
tổ chức lẫn giữa các tổ chức với nhau Trong kinh tế tri thức, cần khuyến khích sự tương tác giữa các tổ chức, các nhà nghiên cứu và kỹ thuật hướng đến những phát minh mới Chính phủ cần hỗ trợ việc nghiên cứu và phát triển để thúc đẩy mối quan
hệ có lợi giữa nhà khoa học và công nhân kỹ thuật trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực
Tri thức và công nghệ cần được phổ biến và chuyển giao dễ dàng giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa các trung tâm nghiên cứu công cộng và các doanh nghiệp, vượt qua ranh giới và khoảng cách, cả trong và ngoài những tổ chức này Sự phổ biến công nghệ đòi hỏi tri thức phải được hấp thụ hoặc đồng hóa bởi người thu nhận hơn chỉ đơn giản là sự phổ biến của thông tin Những thông tin về công nghệ (đạt được từ việc tài trợ của chính phủ cho R&D, từ thông tin tổng quát từ nhiều nguồn như danh mục bằng sáng chế, các hội chợ thương mại hoặc phần tóm tắt của các tạp chí khoa học) cần phải sẵn có và dễ tiếp cận, tuy nhiên, như vậy vẫn chưa đủ
Để tri thức và thông tin được phổ biến và chuyển giao một cách hiệu quả, cần có một
Trang 29hệ thống các doanh nghiệp, tổ chức trong đó việc chủ động sử dụng thông tin trở thành văn hóa, thường xuyên được hỗ trợ bởi các tổ chức trung gian khác nhằm sắp xếp và chuyển giao đúng loại thông tin phù hợp đến tay người nhận Mô hình đổi mới chuyển từ mô hình tuyến tính, tuần tự sang mô hình mạng, đan xen
Ba là, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng phù hợp và có trình độ
tay nghề cao Ở cấp độ một quốc gia, nguồn nhân lực có kỹ năng phù hợp nhằm nắm bắt và sử dụng tri thức mới là điều kiện để tri thức được chuyển hóa hoàn toàn Điều này đòi hỏi phải có một tỷ lệ nhất định nguồn nhân lực tham gia vào việc tạo ra tri thức làm việc trong các lĩnh vực tương tự hoặc có liên quan để giữ cho kỹ năng và tri thức luôn mới và phù hợp Ngoài ra, điều kiện tự nhiên, văn hóa, kinh tế, xã hội, nền tảng giáo dục khác nhau giữa các quốc gia, hoặc giữa các vùng miền trong cùng một quốc gia đòi hỏi nguồn nhân lực phải có không chỉ những kiến thức chung mà còn cần những kiến thức riêng phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia hoặc mỗi địa phương
Các kiến thức cơ bản cần được duy trì ở một mức độ bao quát và không đơn giản là những thông tin về khoa học và công nghệ Văn hóa coi trọng tất cả mọi loại hình tri thức là văn hóa thể hiện sự tôn trọng đối với người học ở mọi cấp độ Tất cả các bộ phận quan trọng của cơ sở tri thức (khả năng biểu đạt, lịch sử, triết học,…) phải giúp con người nhận thức được bản thân, đồng thời phát triển tư duy phân tích,
là điều kiện quan trọng cần thiết để thúc đẩy xã hội phát triển
Bên cạnh chương trình giáo dục tiểu học, việc tiếp cận sớm với máy tính và
kỹ năng làm việc nhóm giúp con người dễ dàng tiếp cận và khai thác công nghệ thông tin trong xã hội hiện đại Việc học tập suốt đời là cần thiết để đảm bảo kiến thức và
kỹ năng không bị sai lệch trong một môi trường năng động, luôn đổi mới, trong đó tri thức hiện tại nhanh chóng trở nên lỗi thời và bị thay thế bởi tri thức mới liên tục phát sinh Trọng tâm của giáo dục cơ bản là giáo dục những kiến thức, kỹ năng để có thể ứng dụng rộng rãi, còn việc đào tạo nghề nghiệp sẽ do nhu cầu phát triển của ngành, lĩnh vực chuyên môn quyết định
Trang 30Công nhân tri thức (người lao động làm việc trong lĩnh vực thông tin) cần chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động Điều này đòi hỏi nguồn nhân lực được giáo dục và đạo tạo ở trình độ trên trung học, đặc biệt là nguồn nhân lực tiếp tục học tập ở các trình độ cao hơn
Sự đầu tư quốc gia cho tri thức là điều kiện tiên quyết của kinh tế tri thức Trong ngắn hạn, sự đầu tư này bao gồm phổ cập giáo dục, đầu tư cho đào tạo ở trình
độ trên trung học và cơ chế học tập suốt đời Trong dài hạn, đó là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, hay nói cách khác là đầu tư cho vốn trí tuệ Trách nhiệm của chính phủ là đảm bảo cho sự đầu tư này được thực hiện một cách có hiệu quả Vì vậy, giáo dục và đào tạo cần phải linh hoạt, không bị hạn chế (bởi chính quy hay không chính quy, bởi giới tính, bởi thu nhập hay bởi các yếu tố khác)
Bốn là, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông Xu
hướng phát triển kinh tế tri thức được thúc đẩy bởi sự phổ biến của công nghệ thông tin truyền thông hiện đại với dung lượng cao Trong nền kinh tế tri thức, ICT là một loại công nghệ tạo khả năng (enabling technology) – loại công nghệ mà tự nó hoặc khi kết hợp với những công nghệ liên quan sẽ cung cấp phương tiện để tạo ra bước nhảy vọt rất lớn trong hiệu suất và khả năng của người sử dụng (www.businessdictionary.com) Ví dụ: thương mại điện tử, sàn giao dịch qua mạng, chợ ảo, hội nghị trực tuyến…
Hệ thống thông tin tiên tiến làm giảm chi phí của thông tin, tạo điều kiện tiếp cận với nguồn thông tin rộng rãi và thúc đẩy sự lan tỏa các ý tưởng Kinh tế tri thức cần có một mạng lưới thông tin liên lạc tiên tiến cùng với một chính sách và khuôn khổ pháp lý hỗ trợ cho sự phát triển và sử dụng các thiết bị phần cứng cũng như các ứng dụng Sự xuất hiện của các trung tâm thông tin số hóa trong kinh tế tri thức đòi hỏi cơ sở hạ tầng viễn thông không những chỉ đáp ứng các loại hình truyền thông băng thông thấp (như hộp thư thoại và thư điện tử) mà còn cả các loại hình truyền thông băng thông cao (như video trực tuyến, các dịch vụ giáo dục và sức khỏe từ xa…)
Trang 31Việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông đáp ứng kinh tế tri thức là cần thiết, tuy nhiên chi phí cho việc đầu tư này là rất lớn Chính phủ cần có trách nhiệm đảm bảo cho việc đầu tư này và đảm bảo người dân có cơ hội tiếp cận toàn bộ cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông với chi phí hợp lý Bên cạnh đầu tư của chính phủ, cần mở rộng ngành viễn thông đến khu vực tư nhân nhằm tạo sự cạnh tranh trong đầu tư, xây dựng và khai thác, từ đó giúp giảm chi phí và tăng hiệu quả, chất lượng dịch vụ
1.2 PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
1.2.1 Khái niệm về nguồn nhân lực
John R Commons lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ nguồn nhân lực (human resource) trong cuốn sách “The Distribution of Wealth” xuất bản vào năm 1893, tuy nhiên, ông đã không tiếp tục xây dựng dựa trên đó nữa Trong suốt thập niên những năm 1910 và 1920, thuật ngữ nguồn nhân lực được sử dụng theo quan điểm cho rằng người lao động được xem như một loại tài sản vốn Một trong những học giả đầu tiên
sử dụng thuật ngữ nguồn nhân lực theo nghĩa hiện đại là nhà kinh tế học E Wight Bakke, trong một báo cáo năm 1958 của ông Theo cách hiểu hiện nay, nguồn nhân lực là tập hợp của những cá nhân, tạo nên lực lượng lao động của một tổ chức, doanh nghiệp, hoặc toàn bộ nền kinh tế Vốn con người đôi khi cũng được sử dụng đồng nghĩa với nguồn nhân lực, tuy nhiên, vốn con người thường đề cập đến khía cạnh hẹp hơn (chỉ bao gồm kiến thức của những cá nhân thể hiện và đóng góp cho tổ chức) Tương tự, một số thuật ngữ khác cũng được sử dụng để thay thế cho nguồn nhân lực như nhân lực, nhân tài, lao động, hoặc đơn giản là người
Theo Phạm Minh Hạc (2001), nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó
Trần Xuân Cầu (2012) định nghĩa nguồn nhân lực là nguồn lực con người, có quan hệ chặt chẽ với dân số, là bộ phận quan trọng trong dân số, đóng vai trò tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Theo cách tiếp cận dựa vào khả năng lao
Trang 32động của con người, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, cùa toàn bộ những người có cơ thể phát triển bình thường có khả năng lao động mà xã hội có thể thu hút tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, bao gồm những người trong
và ngoài độ tuổi
Theo đó, nguồn nhân lực được xem xét và nghiên cứu theo số lượng, chất lượng và cơ cấu Tùy theo cách tiếp cận, nguồn nhân lực có thể được phân ra các loại:
- Phân loại theo quy mô: nguồn nhân lực của từng vùng, lãnh thổ hay địa phương
và nguồn nhân lực trong một tổ chức, doanh nghiệp hoặc cơ quan
- Phân loại theo độ tuổi: nguồn nhân lực trong tuổi và nguồn nhân lực ngoài tuổi; nguồn nhân lực theo thế hệ
- Phân loại theo trình độ đào tạo: nguồn nhân lực trình độ cao và nguồn nhân lực trình độ thấp
Còn theo Ngô Doãn Vịnh (2013), nhân lực là tổng thể các yếu tố tạo nên con người về thể lực, trí lực và nhân cách để đáp ứng yêu cầu phát triển của bản thân con người và của xã hội
Như vậy, nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất
ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước Nguồn nhân lực chính là sức người bao gồm cả khả năng, kỹ năng, phẩm chất
và khả năng sáng tạo để tham gia vào quá trình lao động, tạo ra của cải vật chất Đó
là sự phong phú, sâu sắc của các năng lực trí tuệ, năng lực thực hành, tổ chức và quản
lý, sự tháo vát và phản ứng của con người trong mọi hoàn cảnh Những năng lực đó chỉ xuất hiện trên cơ sở của trình độ học vấn, kinh nghiệm, sự mở rộng các quan hệ
xã hội, sự tiếp thu tinh tế các ảnh hưởng văn hóa truyền thống từ gia đình tới xã hội,
từ cộng đồng quốc gia tới khu vực, quốc tế Đối với nguồn nhân lực, yếu tố quyết định chính là chất lượng, hàm lượng tri thức của nguồn nhân lực Trong xã hội ngày
Trang 33nay, vai trò của nguồn nhân lực ngày càng trở nên quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia
1.2.2 Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực
Hiện nay trên thế giới đang tồn tại khá nhiều định nghĩa về nguồn nhân lực Nadler &Nadler cho rằng phát triển nguồn nhân lực và giáo dục, đào tạo (theo nghĩa rộng) là những thuật ngữ có cùng nội hàm Hai tác giả này định nghĩa phát triển nguồn nhân lực là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc
Theo UNESCO, phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp yêu cầu phát triển của đất nước Quan niệm này gắn phát triển nguồn nhân lực với phát triển sản xuất; phát triển nguồn nhân lực giới hạn trong phạm vi phát triển kỹ năng lao động và thích ứng với yêu cầu về việc làm
Liên hiệp quốc đưa ra khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng, bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống
Còn theo ILO, phát triển nguồn nhân lực là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề
và phát triển năng lực, sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân Phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế – xã hội
Ngô Doãn Vịnh (2013) xác định phát triển nhân lực là thay đổi một cách có tiến bộ về số lượng và chất lượng nhân lực trên cơ sở phát triển có chất lượng giáo dục, y tế, dinh dưỡng, văn hóa, thể dục, thể thao… và được bảo đảm bởi pháp luật tiến bộ Phát triển nhân lực là phát triển về thể lực, trí lực và nhân cách cho người dân Trong quá trình phát triển đất nước, phát triển nhân lực có mục đích là hình thành nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao, hướng tới chuẩn quốc tế
Trang 34Trần Xuân Cầu (2012) nhận định phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng quy mô nguồn nhân lực, nâng cao về chất lượng nguồn nhân lực và tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý
Tóm lại, có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia chính là sự biến đổi về quy mô và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là
quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế – xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người Như vậy, phát triển nguồn nhân lực với nội hàm trên đây thực chất là đề cập đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội của nguồn nhân lực của một quốc gia
1.2.3 Nội dung phát triển nguồn nhân lực
1.2.3.1 Quy mô nguồn nhân lực
Theo Trần Xuân Cầu (2012), quy mô, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chịu ảnh hưởng của quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số Không chỉ quy mô mà tốc
độ tăng dân số cũng quyết định đến tốc độ và quy mô tăng nguồn nhân lực Nước nào
có quy mô dân số lớn thì quy mô nguồn nhân lực cũng lớn và ngược lại Mặt khác,
cơ cấu tuổi của dân số có ảnh hưởng quyết định đến quy mô và cơ cấu nguồn lao động Mặc dù dân số là cơ sở hình thành nguồn lao động nhưng mối quan hệ giữa dân
số và nguồn lao động không phụ thuộc trực tiếp vào nhau trong cùng một thời gian,
mà việc tăng hoặc giảm dân số thời kỳ này sẽ làm tăng hoặc giảm nguồn lao động của thời kỳ sau đó từ 15 đến 16 năm (do độ tuổi lao động của con người thông thường
là từ 15 đến 16 tuổi) Tốc độ tăng dân số và tốc độ tăng nguồn nhân lực trong cùng thời kỳ có thể không giống nhau
Nguồn lao động thường chiếm một tỷ lệ nhất định trong dân số (55-65%) Do
đó có thể dựa vào tỷ lệ nguồn lao động trong dân số và quy mô dân số để biết được quy mô nguồn lao động
Trang 35Giữa dân số và nguồn nhân lực có mối quan hệ tác động lẫn nhau Quy mô dân số quyết định quy mô nguồn nhân lực Quy mô nguồn nhân lực tác động trở lại đối với quy mô dân số Một quốc gia có quy mô nguồn nhân lực lớn cũng có nghĩa là quy mô của những người có khả năng sinh sản lớn, do đó làm cho quy mô dân số có thể tăng nhanh hay làm gia tăng dân số
1.2.3.2 Cơ cấu nguồn nhân lực
Trần Xuân Cầu (2012) chỉ ra rằng cơ cấu dân số (theo giới tính, theo tuổi, theo nghề nghiệp, trình độ) quyết định cơ cấu nguồn nhân lực Cơ cấu dân số trẻ thì cơ cấu nguồn nhân lực cũng trẻ và ngược lại, còn cơ cấu dân số có tỷ lệ nữ lớn thì cơ cấu nguồn nhân lực cũng thường có tỷ lệ nữ lớn Cơ cấu dân số các nước được phân bổ tương ứng với 3 tháp dân số sau:
- Tháp dân số trẻ: Tỷ lệ người dưới tuổi lao động rất cao, khoảng 40%; số người hết tuổi lao động chỉ chiếm khoảng 10%; nền kinh tế chậm phát triển và đang phát triển, mức sống thấp Những nước này thường có số lượng nguồn nhân lực dồi dào, mức sinh cao nhưng chất lượng nguồn nhân lực thấp Cung nhân lực về số lượng lớn tạo ra sức ép việc làm và thường thừa nhân lực, thiếu việc làm và thất nghiệp
- Tháp dân số ổn định: Tỷ lệ người dưới tuổi lao động không cao trong khi tỷ lệ người cao tuổi cũng không lớn Những nước này thường đã bước vào thời kỳ phát triển kinh tế ổn định, mức sống dân số được đảm bảo và nhìn chung không gặp khó khăn về sự khan hiếm hoặc thừa nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được khai thác có hiệu quả vào phát triển kinh tế của đất nước
- Tháp dân số già: Tỷ lệ người dưới tuổi lao động trong dân số thấp trong khi tỷ
lệ người già trên tuổi lao động chiếm khá cao trong dân số Những nước này có mức sinh thấp, mức sống cao Yếu tố nguồn nhân lực trở nên khan hiếm cho sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế – thiếu nguồn nhân lực
Trang 361.2.3.3 Chất lượng nguồn nhân lực
Trần Xuân Cầu (2012) đưa ra các tiêu thức đánh giá chất lượng nguồn nhân lực như sau:
- Sức khỏe: thể lực và trí lực Thể lực thể hiện ở khả năng vận dụng cơ bắp trong quá trình lao động Thông qua chiều cao, cân nặng và tình trạng bệnh tật để đánh giá thể lực Thể lực có được nhờ quá trình rèn luyện, chế độ ăn uống, làm việc nghỉ ngơi hợp lý Trí lực được biểu hiện thông qua khả năng vận dụng trí óc trong quá trình lao động Trí lực có được là nhờ các khả năng bẩm sinh vốn có, nhờ quá trình học tập, rèn luyện bản thân, nhờ chế độ ăn uống khoa học
- Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn; trình độ lành nghề phù hợp yêu cầu công việc Việc đánh giá trình độ chuyên môn, nghề nghiệp hiện nay chủ yếu thông qua các bằng cấp đạt được Tuy nhiên, trong thực tế, bằng cấp đạt được và năng lực thực tế thực hiện công việc tương ứng với bằng cấp còn cách biệt nhau, cần có đánh giá thực tế để đánh giá đúng trình độ học vấn nghề nghiệp
Sức khỏe và trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghề nghiệp là những yếu
tố cứng, có thể dễ dàng phân biệt và đánh giá
- Phẩm chất cá nhân (ý thức kỷ luật, tính hợp tác, tính chủ động, ý thức trách nhiệm, sự chuyên tâm, sự trung thành, tận tụy, gắn bó,…) phù hợp với yêu cầu công việc Phẩm chất cá nhân được coi là yếu tố mềm, là tiêu thức rất quan trọng nhưng lại rất khó lượng hóa để đánh giá
1.2.4 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Theo Trần Xuân Cầu (2012), đào tạo là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kiến thức và những kỹ năng cần thiết để người học thực hiện các công việc, nghề nghiệp chuyên môn trong tương lai Đào tạo có thể thông qua giảng dạy và học tập hoặc thông qua việc tự học tập, tìm hiểu từ sách báo và các phương tiện hỗ trợ khác Đào tạo gắn liền với giáo dục và nằm trong giáo dục Theo Luật Giáo dục hiện hành, hệ thống giáo dục của Việt Nam bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo
Trang 37dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Theo nghĩa hẹp, đào tạo là quá trình tiếp nối sau giáo dục (giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông, sau đó là đào tạo nghề và đào tạo trình độ đại học, sau đại học)
Đào tạo nguồn nhân lực giúp hình thành và phát triển vốn con người, là tập hợp các kiến thức, kỹ năng mà con người tích lũy trong quá trình đào tạo hoặc thông qua quá trình làm việc Đây là nguồn lực quan trọng, hơn cả nguồn lực vốn và tài nguyên quyết định cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia Người lao động càng có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, càng có khả năng cao trong việc sản xuất ra của cải vật chất Từ đó, đem lại lợi ích to lớn cho doanh nghiệp, tổ chức
và là động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội cho quốc gia Cơ cấu đào tạo nhân lực trình độ đại học, trung cấp và đào tạo nghề ở các nước phát triển
là 1:4:14 hoặc 1:5:10
Giữa đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau Cùng với sự phát triển của kinh tế, kỹ thuật công nghệ hiện đại, yêu cầu nguồn nhân lực cần có chất lượng ngày càng cao Đào tạo nguồn nhân lực là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển nguồn nhân lực, nhất là trong bối cảnh cách mạng khoa học – kỹ thuật bùng nổ như hiện nay Đến lượt mình, nguồn nhân lực ngày càng phát triển lại đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với đào tạo Quá trình này diễn ra liên tục sẽ thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển không ngừng
Tóm lại, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực sẽ giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh, nâng cao năng suất lao động, tạo điều kiện thuận để sử dụng những công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, là những tiền đề cần thiết để hình thành và phát triển kinh tế tri thức Đặc biệt, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có năng lực sử dụng các phương tiện công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại Muốn như vậy phải coi trọng việc đầu tư cho giáo dục, đào tạo trở thành quốc sách hàng đầu nhằm “tạo ra một cơ cấu nhân lực đồng bộ bao gồm các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý, nghiệp
Trang 38vụ kinh tế, cán bộ trong các ngành kinh doanh, công nhân kỹ thuật.” (Hội đồng Trung ương, 2014)
1.3 VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỐI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
Kinh tế tri thức là một hình thái kinh tế – xã hội mới nổi lên trong thế kỷ 21
và xu hướng sẽ dần thay thế các hình thái kinh tế – xã hội công nghiệp hiện tại Trong hình thái mới này, các thực thể kinh tế sẽ tăng cường năng lực sáng tạo của mình bằng cách mua lại, áp dụng và mở rộng những tri thức mới, đóng góp ngày càng nhiều vào sự tăng trưởng và phát triển Trong một nền kinh tế tri thức, những phương tiện sản xuất truyền thống là vốn tư bản và sức lao động sẽ bị thay thế bằng vốn trí tuệ và
tư duy sáng tạo, loại tài sản vô hình mà sẽ quyết định khả năng cạnh tranh của quốc gia trong nền kinh tế quốc tế, năng suất lao động và vị trí của người lao động trên thị trường lao động
Khi một nền kinh tế hướng đến kinh tế tri thức, tỷ trọng các ngành kinh tế tri thức ngày càng lớn, và tri thức cũng không ngừng được gia tăng trong bản thân những ngành kinh tế hiện có Khi đó, nhu cầu về lao động trí óc được trang bị kiến thức chuyên ngành và khả năng sáng tạo sẽ ngày càng gia tăng Tăng trưởng việc làm trong thị trường lao động chủ yếu từ các ngành dịch vụ và các ngành kinh tế tri thức Tri thức, yếu tố đầu vào cốt lõi của kinh tế tri thức, khác với các yếu tố đầu vào truyền thống khác, không những không giảm đi mà còn không ngừng được gia tăng khi sử dụng, do đó khuyến khích sự sáng tạo ra tri thức mới Điều này đòi hỏi một hệ thống chính sách nhằm khuyến khích nâng cao trình độ giáo dục, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển Sự lan tỏa và sử dụng tri thức như một loại tài sản công sẽ đảm bảo phân phối một cách hiệu quả nguồn vốn trí tuệ Phát triển kinh tế tri thức đặt ra yêu cầu phát triển nguồn nhân lực
Vai trò của phát triển nguồn nhân lực đối với việc hình thành và phát triển kinh
tế tri thức đã được tìm hiểu và phân tích như sau:
Trang 39APEC (2002) nhận định, trong quá trình chuyển sang kinh tế tri thức, nhu cầu
về lao động trí óc với kiến thức chuyên môn và tư duy sáng tạo tăng lên nhanh chóng
Để thích nghi với xu hướng mới này trong thị trường lao động, yếu tố quan trọng là đầu tư và phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực sẽ giúp ổn định thị trường lao động thông qua việc giảm khoảng cách tri thức giữa những người lao động
Một trong những giải pháp để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam đó là “phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, tạo nền tảng và động lực cho phát triển kinh tế tri thức.” (Đặng Hữu, 2004, trang 237)
Nguyễn Trọng Hoài (2013) đề xuất để thúc đẩy hơn nữa quá trình phát triển nền kinh tế tri thức tại Việt Nam, đối với giáo dục và đào tạo, cần phải đổi mới toàn diện, sâu sắc, mạnh mẽ, nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các bậc học, đặc biệt
là giáo dục đại học; phát triển hệ thống giáo dục đại học theo chuẩn mực thế giới về quản lí, đào tạo, đánh giá, và nghiên cứu khoa học; tạo điều kiện cho các trường đại học trọng điểm góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế tri thức; có cơ chế thu hút những giáo sư, chuyên gia giỏi trên thế giới tham gia giảng dạy và nghiên cứu
Sajit (2014) thông qua việc nghiên cứu vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các nền kinh tế tri thức tại Đông Á, cho rằng đối với đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, các yếu tố chính góp phần cho việc định hình và chuyển đổi sang kinh tế tri thức được xác định là: chất lượng của hệ thống giáo dục, chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục đại học, nhằm cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cho thị trường lao động; quản lý hiệu quả trong việc chuyển giao tri thức giữa các công
ty và các trường đại học
Cheong (2012), trong một nghiên cứu tại Macao nhận thấy có xu hướng tăng khả năng thất nghiệp ở những người có trình độ thấp, là một dấu hiệu cho sự chuyển hóa nền kinh tế hướng đến kinh tế tri thức; thị trường, ở một mức độ nhất định, đã thúc đẩy giáo dục, hướng nền kinh tế Macao tiến đến kinh tế tri thức; tăng tỷ lệ công
Trang 40nhân tri thức cũng góp phần giải quyết vấn đề phân phối thu nhập, một vấn đề ngày càng trở nên đáng quan ngại trong nền kinh tế tăng trưởng nhanh tại Macao
Như vậy, để đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức cũng như xu thế phát triển chung, các quốc gia cần phải chú trọng phát triển nguồn nhân lực theo hướng nâng cao năng lực làm việc của người lao động Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu kinh tế tri thức cần được xem như một chương trình phúc lợi xã hội hướng đến việc ổn định thị trường lao động bằng cách giảm khoảng cách về tri thức giữa các thành phần trong nền kinh tế, giữa các khu vực kinh tế và giữa các nền kinh tế trong
xu thế hội nhập quốc tế hiện nay Cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua việc nâng cao trình độ giáo dục và kỹ năng của lực lượng lao động, tạo khả năng để người lao động tiếp nhận, nắm bắt, sử dụng và tạo ra tri thức Trong chiến lược phát triển kinh tế tri thức, cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực, xây dựng và đầu tư cho hệ thống giáo dục và đào tạo một cách toàn diện, sâu rộng, đảm bảo làm chủ được khoa học – công nghệ hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển ở trình độ cao của lực lượng sản xuất
1.4 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI THỨC
Để xây dựng khung phân tích cho khái niệm về kinh tế tri thức, APEC (2000) phân loại các nền kinh tế APEC thành bốn nhóm chính, căn cứ theo GDP bình quân đầu người, vị trí địa lý hoặc lịch sử kinh tế:
(i) Nhóm các nền kinh tế phát triển nhất: Nhật Bản, Mỹ, New Zealand, Úc, Canada;
(ii) Nhóm các nền kinh tế Châu Á có hiệu quả cao: Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông;
(iii) Nhóm các nền kinh tế Châu Á tăng trưởng nhanh: Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam;
(iv) Nhóm các nền kinh tế Châu Mỹ Latinh: Chile, Mexico, Peru