Bài nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu tiếp cận nguồn lực hộ gia đình VARHS năm 2012, để giải quyết mục tiêu nghiên cứu đặt ra, bài viết sử dụng mô hình hồi quy tobit với ba biến phụ thuộc là
Trang 1-
NGUYỄN THỊ MINH HIỀN
TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI ĐẾN
ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP PHI NÔNG NGHIỆP
Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 2-
NGUYỄN THỊ MINH HIỀN
TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI ĐẾN
ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP PHI NÔNG NGHIỆP
Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
MÃ SỐ: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS ĐINH PHI HỔ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi nghiên cứu và thực hiện, các số liệu và thông tin sử dụng trong luận văn này có nguồn gốc trung thực và được phép công bố
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2015
Nguyễn Thị Minh Hiền
Trang 4MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT
Chương 1 - GIỚI THIỆU 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Phạm vi nghiên cứu 3
1.6 Kết cấu luận văn 4
Chương 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 5
2.1 Cơ sở lý thuyết 5
2.1.1 Sinh kế bền vững 5
2.1.2 Đo lường đa dạng hóa thu nhập 10
2.1.3 Lý thuyết về vốn xã hội 14
2.1.4 Đo lường vốn xã hội trong nghiên cứu 17
2.2 Lược khảo nghiên cứu thực nghiệm có liên quan 22
Chương 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
Trang 53.1 Khung phân tích 28
3.2 Đo lường các biến trong mô hình 31
3.2.1 Biến phụ thuộc 31
3.2.2 Biến độc lập 33
3.2.3 Biến kiểm soát 33
3.3 Mô hình nghiên cứu 37
3.4 Phương pháp kiểm định mô hình hồi quy 39
3.5 Dữ liệu 40
Chương 4 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
4.1 Phân tích thống kê mô tả 42
4.1.1 Thành phần thu nhập của hộ gia đình 42
4.1.2 Đặc điểm về vốn xã hội 46
4.1.3 Đặc điểm hộ gia đình 47
4.2 Kết quả mô hình hồi quy 49
4.3 Thảo luận kết quả 59
Chương 5 - KẾT LUẬN 62
5.1 Kết luận 62
5.2 Gợi ý chính sách 63
5.3 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo 64
5.3.1 Hạn chế của luận văn 64
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DFID Cơ quan Phát triển Quốc Tế Anh
IDS Viện nghiên cứu Phát triển thuộc trường Đại học Sussex
VARHS Điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình Việt Nam
UNCED Hội nghị Quốc Tế về Môi trường và Phát triển
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.1: Khung phân tích vốn xã hội của Anh Quốc 21
Bảng 2.2.1: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan 26
Bảng 3.2.1: Phân loại các nguồn thu nhập của hộ gia đình 32
Bảng 3.2.2: Tóm tắt và mô tả các biến 35
Bảng 3.5.1: Vùng phân bố mẫu điều tra 41
Bảng 4.1.1: Trình bày tỷ trọng các thành phần thu nhập của hộ gia đình theo từng vùng kinh tế 43
Bảng 4.1.2: Trình bày số nguồn thu nhập phi nông nghiệp theo từng vùng 45
Bảng 4.1.3: Vốn xã hội và hoạt động phi nông nghiệp 47
Bảng 4.1.4: Đặc điểm hộ gia đình 48
Bảng 4.2.1: Mô hình hồi quy đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp 50
Bảng 4.2.2: Mô hình hồi quy đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp (Tác động biên loại 2) 55
Bảng 4.2.3: Mô hình hồi quy đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp (Tác động biên loại 3) 57
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1.1: Khung phân tích sinh kế bền vững (DFID, 1999) 6
Hình 3.1.1: Khung phân tích đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp 31
Trang 8TÓM TẮT
Nghiên cứu này xem xét tác động của vốn xã hội đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp ở vùng nông thôn Việt Nam, dựa trên nền tảng từ lý thuyết khung sinh kế bền vững Bài nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu tiếp cận nguồn lực hộ gia đình (VARHS) năm 2012, để giải quyết mục tiêu nghiên cứu đặt ra, bài viết sử dụng mô hình hồi quy tobit với ba biến phụ thuộc là tỷ trọng từ tổng thu nhập phi nông nghiệp trên tổng thu nhập, tỷ trọng từ thu nhập phi nông nghiệp không được trả công và tỷ trọng từ thu nhập làm công, làm thuê, biến độc lập của mô hình là các nhóm biến về vốn xã hội như: Số lượng tổ chức, hiệp hội hộ gia đình tham gia, số lượng các sự kiện hộ gia đình
đã tham dự trong 12 tháng qua và số lượng người ngoài hộ sẵn sàng cho hộ mượn tiền
và các nhóm biến về đặc điểm hộ gia đình như: tuổi, giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ; tài sản của hộ gia đình; tiếp cận tín dụng; các khoản hỗ trợ; các nhóm biến về khu vực kinh tế
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng vốn xã hội tác động đến tỷ trọng thu nhập phi nông nghiệp cụ thể là số lượng người ngoài hộ sẵn sàng cho hô mượn tiền, số lượng các sự kiện hộ gia đình tham dự trong 12 tháng qua có tác động tích cực đến tỷ trọng từ các nguồn thu nhập phi nông nghiệp, số lượng các tổ chức, hiệp hội hộ gia đình tham gia
có tác động tiêu cực đến tỷ trọng từ thu nhập phi nông nghiệp do đặc điểm, tích chất của các tổ chức tại vùng nông thôn Việt Nam, kết quả còn cho thấy rằng đặc điểm hộ gia đình có vai trò quan trọng quyết định đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp hộ gia đình Hộ gia đình nằm ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long có tỷ trọng từ tổng thu nhập phi nông và tỷ trọng từ thu nhập là làm công, làm thuê thấp hơn các vùng kinh tế khác, trong khi đó tỷ trọng từ thu nhập phi nông nghiệp không được trả công cao hơn năm vùng kinh tế còn lại
Trang 9Chương 1 - GIỚI THIỆU
Khu vực nông thôn Việt Nam có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh
tế toàn diện nhưng thực trạng là đời sống người dân khu vực này đang gặp nhiều khó khăn và nghèo đói, mưu sinh của họ đa phần dựa vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp nhưng lại tồn tại nhiều rủi ro từ thiên nhiên và từ thị trường, vì vậy đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp là một chiến lược sinh kế giúp giảm thiểu rủi ro
từ nông nghiệp và gia tăng nguồn thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn Việt Nam Chương mở đầu sẽ trình bày khái quát lý do chọn đề tài nghiên cứu, từ
đó đưa ra các mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp và phạm vi nghiên cứu đồng thời cũng đưa ra ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
1.1 Giới thiệu
Ở các nước đang phát triển, phần lớn dân số sống tại nông thôn và có việc làm, thu nhập dựa vào nông nghiệp Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng nhiều hộ gia đình có thu nhập từ phi nông nghiệp đồng thời đây cũng là nguồn việc làm quan trọng ở nông thôn Theo Haggblade và cộng sự (2005), hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn chiếm một tỷ lệ việc làm đáng kể và thu nhập từ nguồn này chiếm từ 30 – 40% trong tổng thu nhập của hộ gia đình ở các nước đang phát triển trên thế giới Nghiên cứu của Reardon và cộng sự (1998) được điều tra từ giữa thập niên 1970 đến cuối
1990 cho thấy rằng thu nhập từ phi nông nghiệp chiếm trung bình khoảng 42% tổng thu nhập của hộ gia đình ở các nước Châu Phi, 32% ở các nước Châu Á, 40% ở các nước Châu Mỹ La Tinh Hoạt động phi nông nghiệp còn tạo ra công ăn việc làm cho 44% dân số của hộ gia đình ở Châu Á, 25% ở Châu Mỹ La Tinh Thị phần của thu nhập phi nông nghiệp đang gia tăng theo thời gian (Winters và cộng sự, 2006)
Từ kết quả điều tra hộ gia đình nông thôn Việt Nam (VARHS) năm 2012 cho thấy rằng các hoạt động phi nông nghiệp là rất quan trọng ở Việt Nam với tỷ trọng
là 43,61% trên tổng thu nhập hộ gia đình và tạo ra nhiều việc làm cho người lao động mặc dù nông nghiệp vẫn là hoạt động chính của hộ gia đình ở nông thôn Việt
Trang 10Nam Phần lớn dân số ở nông thôn nước ta đều tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhưng hoạt động sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam còn lạc hậu và gần như phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết, lượng mưa thay đổi thường xuyên, chịu nhiều thiệt hại từ thiên tai đặc biệt là ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu mà Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất và đặc biệt là đối với các tỉnh thành thuộc khu vực Miền trung của Việt Nam, ảnh hưởng còn bởi tính mùa vụ nông nghiệp, hệ thống thủy lợi kém phát triển và gần như sự vắng mặt của thị trường bảo hiểm, tín dụng tại khu vực nông thôn, ngoài ra còn tồn tại nhiều rủi
ro từ giá cả thị trường đặc biệt nước ta đang trong thời kỳ hội nhập vào nền kinh tế thế giới nên còn gặp nhiều khó khăn khi cạnh tranh với các cường quốc khác Vì vậy, để ổn định nguồn thu nhập, hạn chế rủi ro từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhiều hộ gia đình đã đa dạng hóa nguồn thu nhập hộ gia đình như tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp
Để phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hiện đại, các nước đang phát triển cần thiết phải giảm tỷ trọng trong nông nghiệp và tăng tỷ trọng đối với các ngành công nghiệp, dịch vụ Theo lộ trình này, chúng ta cần phải có kế hoạch cắt giảm chuyển dịch cơ cấu nền nông nghiệp của đất nước, như vậy các hoạt động phi nông nghiệp là một điều kiện cần và đủ để phục vụ cho lộ trình này Có thể thấy rằng, đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với sinh kế hộ gia đình đặc biệt ở khu vực nông thôn, nó giúp xóa đói giảm nghèo, giảm thiểu rủi
ro và giúp phát triển nông thôn bền vững Đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước chứng minh rằng đa dạng hóa thu nhập có tác động tích cực đến thu nhập của
hộ gia đình
Khu vực nông thôn Việt Nam có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của quốc gia, để ổn định đời sống cũng như phát triển kinh tế khu vực này, cần thiết phải giải quyết các vấn đề đang đặt ra hiện nay ở tại khu vực nông thôn Đề tài tiến
hành nghiên cứu: “Tác động của vốn xã hội đến đa dạng hóa thu nhập phi nông
nghiệp ở nông thôn Việt Nam” để tìm hiểu những nhân tố tác động đến đa dạng
Trang 11hóa thu nhập phi nông nghiệp ở khu vực này, từ đó tìm ra các giải pháp tốt nhất giúp cải thiện thu nhập của người dân ở khu vực nông thôn Việt Nam và đặc biệt tìm hiểu rõ hơn về vai trò của vốn xã hội cũng như phát huy những đặc tính của vốn xã hội, đề tài nghiên cứu đi sâu vào phân tích tác động của vốn xã hội đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp của khu vực nông thôn nước ta
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của bài viết là phân tích tác động của vốn xã hội đến đa dạng hóa thu
nhập phi nông nghiệp của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Vốn xã hội có ảnh hưởng đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam không?
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Đầu tiên, đề tài nghiên cứu đã kế thừa, chọn lọc từ những tài liệu nghiên cứu trước đó để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng hóa thu nhập, từ đó phân tích tác động của vốn xã hội đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam, bài viết sử dụng mô hình hồi quy tobit để tìm ra mức
độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến đa dạng hóa thu nhập và đặc biệt là biến vốn xã hội, với biến phụ thuộc là mức độ đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam, biến độc lập là nhóm biến về vốn xã hội và biến kiểm soát là nhóm biến về đặc điểm hộ gia đình như tuổi của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, trình
độ học vấn của chủ hộ, trình độ học vấn trung bình của hộ, số lượng lao động là nam trên 15 tuổi, số lượng lao động nữ trên 15 tuổi, diện tích đất đai, sở hữu vật nuôi, kiều hối, tiếp cận tín dụng của hộ gia đình
Trang 12Khoa học lao động và Nhóm nghiên cứu phát triển thuộc Trường Đại học tổng hợp Copenhagen (Đan Mạch) thực hiện Cuộc điều tra được thực hiện đối với 3.704 hộ gia đình nông thôn trên địa bàn 12 tỉnh, thành phố tại Việt Nam bao gồm Hà Tây, Lào Cai, Phú Thọ, Lai Châu, Điện Biên, Nghệ An, Quảng Nam, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng và Long An
1.6 Kết cấu luận văn
Kết cấu luận văn này bao gồm năm chương: Chương một giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu
và phạm vi nghiên cứu của đề tài Chương hai trình bày cơ sở lý thuyết của vốn xã hội cũng như cách đo lường của nó, khung phân tích về đa dạng hóa sinh kế và các nghiên cứu thực nghiệm về đa dạng hóa thu nhập tại Việt Nam cũng như các nước trên thế giới Chương ba giới thiệu về dữ liệu mà bài nghiên cứu sử dụng, khung phân tích đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp với biến phụ thuộc là tỷ trọng từ các nguồn thu nhập phi nông nghiệp trên tổng thu nhập, mô hình hồi quy và phương pháp nghiên cứu Chương thứ tư của đề tài này sẽ trình bày về kết quả và thảo luận của nghiên cứu, những phát hiện mà nghiên cứu tìm ra Và chương cuối cùng là chương năm, chương này là phần kết luận của đề tài nghiên cứu từ đó đưa ra các gợi ý chính sách về vấn đề nghiên cứu và hạn chế của đề tài
Trang 13Chương 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Chương hai trình bày nội dung cơ bản của lý thuyết về khung sinh kế bền vững, đa dạng hóa thu nhập cũng như cách đo lường đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp Chương này còn trình bày lý thuyết nền về vốn xã hội từ đó đưa ra cách đo lường
về vốn xã hội thông các chỉ số khác nhau từ đó áp dụng vào đề tài nghiên cứu của tác giả, phần cuối cùng của chương hai là lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm về
đa dạng hóa thu nhập được thực hiện ở nhiều quốc gia
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Sinh kế bền vững
Ý tưởng về sinh kế bền vững lần đầu tiên được đề cập bởi Ủy ban Môi trường và Phát triển Brundland với mục đích nhằm liên kết giữa kinh tế xã hội và sinh thái môi trường Hội nghị Quốc tế về Môi trường và Phát triển (UNCED) đã mở rộng khái niệm này và đặc biệt ủng hộ việc đạt được sinh kế bền vững với mục tiêu là xóa đói giảm nghèo Họ cho rằng: “Sinh kế bền vững có thể phục vụ như là một yếu
tố tích hợp cho phép các chính sách giải quyết các vấn đề về phát triển, quản lý tài nguyên bền vững và đồng thời xóa đói giảm nghèo” Hầu hết các cuộc thảo luận về sinh kế bền vững cho đến nay đều tập trung vào các khu vực nông thôn, Robert Chambers và Gordon Conway (1992) định nghĩa sinh kế bền vững: “Sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản (cửa hàng, các nguồn lực, khiếu nại và tiếp cận) và các hoạt động cần thiết cho cuộc sống, sinh kế bền vững là có thể đối phó và phục hồi
từ những áp lực và cú sốc, duy trì hoặc tăng cường năng lực, tài sản của mình, cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ tiếp theo và góp phần vì lợi ích cho các sinh kế khác ở địa phương và toàn cầu trong ngắn hạn và dài hạn” Nghiên cứu của Chambers và Conway đã góp phần lớn làm rõ khái niệm về sinh kế bền vững và các bộ phận cấu thành của nó, trên nền tảng này có thêm nhiều nghiên cứu nổ lực điều chỉnh và làm rõ ý tưởng sinh kế bền vững hơn nữa, như nghiên cứu của Viện nghiên cứu Phát triển thuộc trường đại học Sussex (IDS) đề xuất và sửa đổi sinh kế bền vững như sau: “Một sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản (bao gồm nguồn lực
Trang 14vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết cho đời sống Một sinh kế bền vững khi họ có thể đối phó với những áp lực và phục hồi từ những cú sốc, duy trì và tăng cường tài sản năng lực mà không bị mất mát cơ sở tài nguyên” Có sự khác biệt giữa định nghĩa này với định nghĩa của Chambers và Conway vì nó không bao gồm các yêu cầu sinh kế bền vững nên góp phần tạo lợi ích cho các sinh kế khác Trong ý nghĩa này phiên bản của IDS có ít yêu cầu hơn nhưng có lẽ lại thực tế hơn Còn định nghĩa sinh kế bền vững của Cơ Quan Phát triển Quốc Tế Anh (DFID) sau khi được phát triển bởi IDS và cũng được sửa đổi từ định nghĩa nền tảng ban đầu của Chambers và Conway: “Một sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản (bao gồm nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết cho đời sống Một sinh kế bền vững khi nó có thể đối phó với những áp lực và phục hồi từ các cú sốc, duy trì và tăng cường tài sản của mình trong hiện tại và tương lai mà không gây xói mòn tài nguyên thiên nhiên” Mục tiêu sinh kế bền vững của DFID là tăng cường hiệu quả của các cơ quan trong công tác xóa đói giảm nghèo bằng cách tìm kiếm để lồng ghép các nguyên tắc cốt lõi và các quan điểm toàn diện trong các chương trình hoạt động hỗ trợ liên quan trực tiếp đến cải thiện sinh kế cho người nghèo
H
Ảnh hưởng và Tiếp cận
Cấu trúc chuyển đổi
và quy trình
- Các cấp chính quyền
- Khu vực tư nhân
Chiến lược sinh kế
Hình 2.1.1: Khung phân tích sinh kế bền vững (DFID, 1999)
Trang 15Khung sinh kế bền vững được xây dựng từ năm loại tài sản sinh kế, được mô tả như hình ngũ giác để nhấn mạnh mối liên kết của nó, thực tế sinh kế phụ thuộc vào sự kết hợp của các loại tài sản khác nhau chứ không chỉ từ một loại Việc phân tích sẽ giúp cho người dân tiếp cận với các loại vốn (vật lý, con người, tài chính, tự nhiên
và xã hội) và khả năng của họ để đạt được những hiệu quả cao nhất
Vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, không khí, tài nguyên hóa thạch) đây là nguồn vốn nền tảng giúp tạo dựng sinh kế
Vốn tài chính bao gồm tiền mặt, tín dụng, tiết kiệm và các tài sản kinh tế khác, đây
là nguồn vốn cần thiết để theo đuổi bất kỳ chiến lược sinh kế nào
Vốn con người là những kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động, sức khỏe, nguồn vốn này quan trọng để theo đuổi các thành công khác nhau của chiến lược sinh kế
Vốn vật chất bao gồm các cơ sở hạ tầng, các thiết bị, sản phẩm, công nghệ mà con người sản xuất, nó là phần vốn quan trọng giúp con người phát triển sinh kế của mình
Vốn xã hội là các nguồn lực xã hội như mạng lưới, quan hệ, an sinh xã hội, các hiệp hội, tổ chức, nó cần thiết giúp cho con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau
Một vấn đề quan trọng trong phân tích các chiến lược sinh kế là quy mô sinh kế, vì
nó có thể diễn ra ở cấp độ cá nhân, hộ gia đình, thôn cũng như cấp khu vực hoặc thậm chí là quốc gia, nhưng sẽ có sự khác biệt rõ ở các cấp quy mô này chính là sinh kế ròng Đối với một cá nhân theo đuổi các chiến lược sinh kế sẽ tạo ra các tác động tích cực cũng như tiêu cực đến các thành viên khác trong gia đình hoặc có thể
là cộng đồng Ví dụ như chiến lược thâm canh nông nghiệp thành công sẽ mở ra cơ hội cho chế biến nông sản hoặc kinh doanh mua bán nông sản như vậy cũng mở ra một chiến lược đa dạng hóa sinh kế cho người khác Ngược lại, thâm canh nông nghiệp có thể làm giảm các chiến lược thâm canh của người khác do chuyển các yếu tố đất đai, lao động, tín dụng hay cạnh tranh thị trường Tương tự như vậy, đa
Trang 16dạng hóa sinh kế sẽ tác động đến cá nhân chuyên môn hóa, đa dạng hóa trong các
hộ gia đình, địa phương hay khu vực Như vậy khi đánh giá tính bền vững của sinh
kế, cần phải kiểm tra các vấn đề về quy mô
Mối quan hệ giữa vốn xã hội và sinh kế bền vững
Theo DFID (1999), vốn xã hội với ý tưởng là liên kết xã hội và chuẩn mực xã hội là một phần quan trọng của cơ sở sinh kế bền vững Thật vậy, vốn xã hội được công nhận như một trong năm tài sản quan trọng đối với việc duy trì sinh kế của người dân (cùng với thiên nhiên, con người, vật chất và vốn tài chính) Các lợi ích được tạo ra thông qua vốn xã hội có thể bao gồm tăng cường đời sống tinh thần, ý thức về bản sắc văn hóa dân tộc, danh dự, địa vị xã hội và uy tín Có rất nhiều quan điểm khác về vốn xã hội Ở đây, ba yếu tố cốt lõi được phân biệt:
Sự tin tưởng, hợp tác và trao đổi giữa các cá nhân mà tạo điều kiện hợp tác phát triển
Những quy định chung, định mức và chế tài các bên thỏa thuận trong xã hội
Quản lý rủi ro và bảo hiểm xã hội (sự hỗ trợ từ người thân - có thể hoạt động như một bộ đệm chống lại các tác động của các cú sốc và xu hướng bất lợi)
Quản lý tốt hơn các nguồn lực chung và được chia sẻ thông qua hoạt động nhóm
Trang 17 Giảm chi phí của hoạt động kinh doanh, bao gồm cả việc giảm chi phí giao dịch
và tăng khả năng khai thác quy mô kinh tế
Tăng cường năng lực để đổi mới (ví dụ như thông qua các thành viên của nhóm nghiên cứu của nông dân mà là cũng kết nối với các cơ quan nghiên cứu và để duy trì hoạt động vượt ra ngoài cuộc sống của các dự án)
Cải thiện tiếp cận thông tin và dịch vụ (bao gồm cả các liên kết tổng thể tốt hơn giữa bên ngoài các tổ chức và người nghèo, dẫn đến việc trao quyền nhiều hơn cho người nghèo)
Ảnh hưởng lớn hơn đến chính sách và pháp luật
Vốn xã hội là không phải luôn luôn được sử dụng cho mục đích tích cực: các mối quan hệ xã hội, mạng lưới và sự tin tưởng có thể hoạt động như một nền tảng cho những hành động tiêu cực và loại trừ hoặc thậm chí áp bức các nhóm xã hội cụ thể Một số hình thức của vốn xã hội cũng có thể có tác động xấu lên sự bền vững của các nguồn tài nguyên thiên nhiên Mặc dù khó có thể định lượng được vốn xã hội nhưng nó đóng một vai trò quan trọng trong sinh kế gia đình Các phương pháp tiếp cận vốn xã hội giúp xây dựng vốn xã hội và con người không chỉ để đạt được các sinh kế bền vững và kinh tế địa phương sôi động Nó cũng cần thiết phải có các chính sách diễn ra thuận lợi cho hoạt động nhóm Bài học kinh nghiệm về hoạt động phát triển với các nguồn vốn xã hội bao gồm: Trong bối cảnh tổ chức tương đối của địa phương: Bắt đầu trên một quy mô nhỏ và mở rộng khi kết quả là rõ ràng, sử dụng kiến thức đã có về các tổ chức địa phương ngay từ đầu, không ấn định trước các đơn vị của hiệp hội (gia đình, dòng họ, thôn, bản), đảm bảo có sự tham gia nhiều hơn là chỉ thụ động hoặc tư vấn Ở cấp độ chính sách cao hơn: Phân tích hành
vi các bên liên quan để xác định các lợi ích, khả năng và giá trị của các nhóm khác nhau, có một cách tiếp cận lồng ghép vào nhau hoặc đa chiều của các tổ chức địa phương, thành viên của các nhóm khác nhau ở mức độ khác nhau, quan tâm đúng mức đến chính sách môi trường, bao gồm các tác động của việc phân cấp
Trang 182.1.2 Đo lường đa dạng hóa thu nhập
Khái niệm về hoạt động kinh tế phi nông nghiệp
Thực tế có rất nhiều khái niệm và nhiều cách hiểu khác nhau về hoạt động phi nông nghiệp Tuy nhiên, hầu hết các khái niệm đều cho rằng hoạt động kinh tế phi nông nghiệp là một bộ phận của kinh tế ở nông thôn và tồn tại song song bên cạnh các hoạt động nông nghiệp Theo Lanjouw (2003) các hoạt động phi nông nghiệp là những hoạt động tạo thêm thu nhập trong khu vực nông thôn mà không phải là hoạt động nông nghiệp Steve Winggins (2003) cho rằng hoạt động kinh tế phi nông nghiệp là những hoạt động không thuộc các hoạt động nông nghiệp nguyên thủy như trồng trọt chăn nuôi, săn bắt là hoạt động tạo ra thu nhập không dựa vào các hoạt động nông nghiệp nguyên thủy Như vậy khái niệm hoạt động phi nông nghiệp
là khá rộng nó bao gồm các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ tại các cở sở kinh tế hoặc hộ gia đình ở nông thôn Như vậy hoạt động kinh
tế phi nông nghiệp là toàn bộ các hoạt động không liên quan trực tiếp đến vật nuôi
là cây trồng, nó bao gồm các hoạt động chế biến nông sản cũng như là hoạt động làm thuê Quyết định số 132/2000/QD-TTg của Chính phủ: “Các hoạt dộng phi nông nghiệp ở nông thôn được coi là tất cả các hoạt động công nghiệp, các ngành thủ công nghiệp nhỏ và vừa, các dịch vụ sản xuất và đời sống được thực hiện ở khu vực nông thôn, sử dụng các nguồn lực địa phương (lao động, đất đai, nguyên vật liệu) và có liên hệ mật thiết với việc phát triển đời sống nông thôn”
Dựa vào các khái niệm về hoạt động kinh tế phi nông nghiệp trên, đề tài nghiên cứu
về thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp bao gồm thu nhập từ làm công, làm thuê
và thu nhập từ các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp không được trả công
Phân biệt giữa việc làm công, làm thuê và việc làm tự tạo không được trả công Việc làm công, làm thuê là việc làm liên quan đến hợp đồng giữa người lao động và người sử dụng lao động về thu nhập, thời gian lao động và công việc của người lao động được thực hiện dưới sự giám sát của người sử dụng lao động Việc làm tự tạo
Trang 19không được trả công là các công việc tự quản lý và sở hữu cơ sở sản xuất các hàng hóa hay dịch vụ
Các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong đời sống của các hộ gia đình nói riêng và đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung Các hoạt động này cung cấp đầu vào và đầu ra cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, chia sẻ các rủi ro từ hoạt động nông nghiệp, vì hoạt động nông nghiệp phụ thuộc vào thời tiết, chịu ảnh hưởng từ giá cả thị trường
Vai trò của hoạt động kinh tế phi nông nghiệp:
Các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp cung cấp đầu vào và đầu ra cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong quá trình sản xuất nông nghiệp người dân cần các dịch vụ, các sản phẩm từ công nghiệp như cung cấp máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, phân bón, thuốc trừ sâu hay các hoạt động chế biến, đóng gói các sản phẩm từ nông nghiệp Ngược lại khu vực phi nông nghiệp cũng cần đầu vào là các sản phẩm nông nghiệp
Tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp nhằm chia sẻ rủi ro từ hoạt động nông nghiệp, do bản chất của nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, vì vậy chứa đựng rất nhiều các yếu tố rủi ro từ thiên nhiên như hạn hán, mưa lũ, dịch bệnh Ngoài ra còn yếu tố rủi ro về giá cả đầu ra của thị trường như là “được mùa thì mất giá”, sản xuất nông nghiệp luôn gặp nhiều khó khăn, chưa tính đến các nền nông nghiệp còn lạc hậu, chủ yếu dựa vào sức người là chính, nên năng suất lao động trong nông nghiệp còn thấp nên trên thị trường nông sản của Việt Nam khó cạnh tranh với nông sản của các nước có nền nông nghiệp phát triển khác Việt Nam là một đất nước nông nghiệp nhưng có diện tích đất đai phục vụ cho sản xuất nông nghiệp rất hạn chế và manh mún, diện tích đất bình quân đầu người để sản xuất nông nghiệp rất ít, vì vậy việc sản xuất nông nghiệp sẽ không đạt hiểu quả và không đồng nhất về chất lượng sản phẩm nông sản, khi đất nước trong trong thời kỳ hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, ta sẽ không cạnh tranh được với nguồn nông sản từ
Trang 20các quốc gia chuyên môn hóa nông nghiệp khác Đây cũng là một hạn chế, một khó khăn cho người dân tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp
Vì vậy, để chia sẻ rủi ro giữa hai khu vực người dân ở khu vực nông thôn nên đa dạng hóa nguồn thu nhập của mình từ các hoạt động phi nông nghiệp
Hoạt động kinh tế phi nông nghiệp góp phần tạo ra việc làm cho lao động ở nông thôn, cần thiết nên đẩy mạnh phát triển các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn, đây cũng là tiền đề để thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, các hoạt động này còn tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động đặc biệt là số lượng lớn lao động thường xuyên nhàn rỗi, lao động không có đất đai để canh tác, ngoài ra còn tận dụng được những lao động trên và dưới độ tuổi lao động vào những việc làm phi nông nghiệp phù hợp, ngoài ra còn giải quyết được số lượng lớn lao động mất việc làm ở thành phố đang trở về lại nông thôn, vì vậy vấn đề việc làm ở nông thôn rất quan trọng, số lượng lao động này nên thu hút vào các ngành nghề phi nông nghiệp
Hoạt động kinh tế phi nông nghiệp góp phần làm tăng thu nhập cho hộ gia đình ở nông thôn, các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp tạo ra một phần thu nhập của kinh
tế hộ gia đình, trừ các hộ chuyên môn hóa trong sản xuất nông nghiệp, thì nhiều hộ đều tham gia vào các hoạt động buôn bán nhỏ, lẻ, tiểu thủ công nghiệp, thủ công nghiệp, làm công ăn lương Các hoạt động đều góp phần tạo thêm thu nhập cho hộ Các hoạt động phi nông nghiệp này còn góp phần tạo ra giá trị trong kim ngạch xuất khẩu, góp phần phát triển đất nước
Các hoạt động phi nông nghiệp góp phần thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực khác trong nền kinh tế, khi các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp phát triển tất yếu kéo theo các hoạt động khác như các hoạt động dịch vụ tín dụng, bảo hiểm, phát triển khoa học kỹ thuật từ đó nâng cao nâng suất lao động, cải thiện và phát triển đời sống
Góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp,
Trang 21giảm tỷ trọng trong ngành nông nghiệp Để phát triển kinh tế nông thôn cũng vậy, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp chính là con đường chủ yếu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đó, chuyển đổi lao động nông nghiệp có năng suất thấp, thu nhập thấp sang những ngành nghề có năng suất lao động cao hơn, thu nhập cao hơn, cải thiện và phát triển các hệ thống ngành nghề phi nông nghiệp phát triển bên cạnh các ngành nông nghiệp truyền thống
Cách đo lường đa dạng hóa thu nhập
Để đo lường được đa dạng hóa thu nhập, nghiên cứu cần phải hiểu rõ được định nghĩa về đa dạng hóa thu nhập
Đa dạng hóa có thể được định nghĩa là việc duy trì và thay đổi một loạt các hoạt động và nghề nghiệp để giảm thiểu sự biến đổi về thu nhập của hộ gia đình, giảm thiểu những tác động bất lợi của thời vụ, cung cấp việc làm và tăng thêm thu nhập (Ellis, 2000), (Barrett và cộng sự, 2001) Đa dạng hóa có thể xảy ra hoặc như một chiến lược có chủ ý, có thể do một cách đối phó với khủng hoảng (Ellis, 1998)
Động lực cho các chiến lược đa dạng hóa là do thay đổi về đặc điểm của hộ gia đình, vị trí địa lý, nguồn tài sản, mức thu nhập, cơ hội hoặc do các tổ chức, các quan
hệ xã hội (Ellis, 2000) Sự đa dạng hóa trong thực tế có thể có những hậu quả tiêu cực hoặc tích cực cho các hộ gia đình ở nông thôn (Hart, 1994) Ví dụ một số loại chiến lược đa dạng hóa chỉ có tác động trong ngắn hạn, nó như mộ các bẫy đối với các hộ gia đình, mang lại lợi nhuận thấp mà đói nghèo vẫn dai dẳng như khai thác than, các loại tài nguyên không bền vững mà bỏ bê sản xuất nông nghiệp và có thể gây ô nhiễm môi trường, thiệt hại tài nguyên thiên nhiên Đa dạng hóa thu nhập được định nghĩa là một quá trình tạo ra nhiều nguồn thu nhập bởi một hộ gia đình (Minot và cộng sự, 2006)
Đa dạng hóa phi nông nghiệp là hoạt động mà không trực tiếp liên quan đến sản xuất nông nghiệp và có thể là tiền lương hoặc các việc làm tự tạo, tự kinh doanh (Weldegebriel, 2015)
Trang 22Có nhiều cách để đo lường đa dạng hóa thu nhập ở nông thôn, một số nghiên cứu đo lường đa dạng hóa thu nhập bằng tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp trong tổng thu nhập của hộ gia đình (Schwarze và Zeller, 2005), Nghiên cứu của Senadza (2012)
đo lường đa dạng thu nhập phi nông nghiệp bằng tỷ trọng từ thu nhập phi nông nghiệp trên tổng thu nhập của hộ gia đình
Một số nghiên cứu sử dụng chỉ số Herfindahl nghịch đảo để đo lường mức độ đa dạng hóa thu nhập, nghiên cứu của Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2014), nghiên cứu Sarah (2010) thực hiện đo lường đa dạng hóa thu nhập bằng chỉ số này
Ưu điểm khi đo lường bằng chỉ số này là nó xem xét cả về số lượng nguồn thu nhập
và sự đóng góp của mỗi nguồn thu nhập vào tổng thu nhập của hộ gia đình Chỉ số Herfindal nghịch đảo được tính bằng công thức sau:
Dựa vào chỉ số đo lường đa dạng hóa thu nhập này, hộ gia đình có chỉ số HHI càng cao thì mức độ đa dạng hóa thu nhập càng lớn, chỉ số HHI càng nhỏ thì đa dạng hóa thu nhập càng ít
Có nhiều cách đo để đo lường đa dạng hóa thu nhập, nghiên cứu của tác giả sử dụng phương pháp đo lường đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp bằng cách xác định tỷ trọng tương đối của các nguồn thu nhập từ phi nông nghiệp trong tổng thu nhập của
hộ gia đình
2.1.3 Lý thuyết về vốn xã hội
Trong quá trình tăng trưởng kinh tế thì nguồn vốn đóng vai trò quan trọng như vốn
tự nhiên, vốn vật chất, vốn con người bên cạnh đó còn có vốn xã hội Vốn xã hội là một phần không thể thiếu trong đóng góp của tăng trưởng và phát triển kinh tế Người đầu tiên đưa ra khái niệm vốn xã hội đó là Lyda Judson Hanifan vào năm
1916, theo ông vốn xã hội là tình thân hữu, sự thông cảm lẫn nhau cũng như sự tương tác giữa các cá nhân hay giữa các hộ gia đình trong xã hội Tiếp sau đó đã có nhiều nhà khoa học lần lượt đưa ra các khái niệm và cách giải thích về vốn xã hội
Trang 23Theo Bourdieu (1986) định nghĩa “Vốn xã hội là tập hợp những nguồn lực thực tế hoặc tiềm tàng gắn liền với việc nắm giữ một mạng lưới bền vững gồm các mối quan hệ quen biết và thừa nhận lẫn nhau ít nhiều được thể chế hoá”, định nghĩa của vốn xã hội của Bourdieu cho thấy rằng khái niệm này có hai yếu tố: Thứ nhất, các mối quan hệ riêng của mình cho phép các cá nhân để đòi quyền truy cập vào tài nguyên sở hữu của các thành viên khác của mạng và thứ hai về số lượng và chất lượng của những mạng lưới này Putnam (1996) có khái niệm phổ biến về vốn xã hội đó là các mạng lưới, quy tắc và sự tin tưởng, nó giúp nâng cao hiệu quả của xã hội bằng cách cho phép mọi người cùng tham gia và phối hợp hành động để theo đuổi các mục tiêu chung Mở rộng hơn khái niệm về vốn xã hội có khái niệm của World Bank (2001) đó là vốn xã hội đề cập đến các tổ chức, mối quan hệ, các chuẩn mực đã được định hình chất lượng và số lượng các tương tác của xã hội Vốn xã hội không chỉ là tổng các tổ chức mà còn là nền tảng của một xã hội, nó là chất keo gắn kết con người, các tổ chức lại với nhau Theo Cục Thống Kê Úc (ABS) định nghĩa vốn xã hội là mối quan hệ mang đến các lợi ích lẫn nhau được đặc trưng bởi các chuẩn mực của sự tin tưởng và đồng thuận và có sự hợp tác, có qua có lại lẫn nhau (ABS, 2000) Theo Spellerberg (2001) thì vốn xã hội là các nguồn lực xã hội được thể hiện trong các mối quan hệ giữa con người Nó bắt nguồn từ sự gắn kết, thông tin liên lạc, chia sẻ, hợp tác và sự tin tưởng lẫn nhau Tuy nhiên có một định nghĩa nhấn mạnh đến các mạng lưới xã hội và chỉ tiêu dân sự, vốn xã hội được coi là liên quan đến mạng lưới xã hội và cấu trúc xã hội, sự tham gia của cộng đồng dân sự vào chính trị, niềm tin của con người vào các tổ chức xã hội (Saill, 2001)
Theo quan niệm của James Coleman (1994) định nghĩa vốn xã hội là các nguồn lực cấu trúc xã hội mà cá nhân có thể sử dụng như là nguồn vốn tài sản Như vậy, vốn
xã hội có những đặc trưng cơ bản sau đây: thứ nhất nó là một chiều cạnh của cấu trúc xã hội và thứ hai nó hỗ trợ cho hành động nhất định của cá nhân trong phạm vi cấu trúc đó Một đặc trưng cơ bản của vốn xã hội là nơi trú ngụ của nó không phải ở trong cá nhân mà ở trong cấu trúc của các mối quan hệ giữa người này với người khác Vốn xã hội không phải là tài sản cá nhân của riêng một người bất kỳ nào mặc
Trang 24dù cá nhân có thể sử dụng như là tài sản cá nhân không trao đổi và chia sẻ cho người khác như đối với vốn tài chính
Vốn xã hội được xác định là nguồn lực được đặt trong các mạng lưới xã hội của một người, là nguồn tài nguyên có thể được truy cập hoặc huy động thông qua các mối quan hệ trong mạng lưới (Lin, 2001) Portes cho thấy rằng có một sự đồng thuận rằng vốn xã hội là "những thành viên tham gia vào mạng lưới luôn đảm bảo quyền lợi của các thành viên khác trong mạng lưới và cấu trúc xã hội khác” (Portes, 1998) Putnam (1993) coi nguồn vốn xã hội như một nguồn lực trong xã hội và định nghĩa các khái niệm như sau "tính năng của các tổ chức xã hội như sự tin tưởng, chuẩn tắc và mạng lưới có thể nâng cao hiệu quả của xã hội bằng cách tạo ra phối hợp hành động" (Putnam, 1993) Ông còn tuyên bố rằng vốn xã hội được tạo ra thông qua sự tham gia tích cực của các thành viên trong các tổ chức và các nhóm Niềm tin là trung tâm trong khái niệm Putnam về vốn xã hội và ông tuyên bố rằng một nhóm mà các thành viên tin cậy, tin tưởng vào nhau sẽ có thể có vốn xã hội tốt hơn một nhóm thiếu sự tin tưởng lẫn nhau giữa các thành viên
Blair và Carroll (2008) cho rằng vốn xã hội là một công cụ để phát triển cộng đồng
Họ cho rằng vốn xã hội được sử dụng để liên kết, đoàn kết các cá nhân trong một nhóm hay tổ chức nó khắc phục tình trạng bất bình đẳng xã hội Ngoài ra, nó còn mang lại nhiều lợi ích tích cực cho các cộng đồng ở địa phương như: giảm chi phí đàm phán, giám sát, nâng cao hiệu quả của các giao dịch do tăng sự tin tưởng trong các tổ chức xã hội, giảm thiểu tác động tiêu cực đối với các giao dịch kinh tế phi thị trường như là thiệt hại cho môi trường, ngoại tác tiêu cực Vốn xã hội sẽ làm tăng
sự tin tưởng, nó vai trò như một chất xúc tác khuyến khích cải tiến, cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm thiểu các xung đột do phát triển kinh tế gây ra, từ đó lấy lợi thế cạnh tranh của địa phương để cạnh tranh toàn cầu
So sánh vốn xã hội với các loại vốn khác
So sánh vốn con người và vốn xã hội Theo Coleman, vốn con người được tạo bởi những thay đổi để tạo ra những năng lực, kỹ năng hành động mới ở con người
Trang 25Tương tự như vậy, vốn xã hội được tạo bởi những thay đổi có khả năng thúc đẩy hành động trong cấu trúc của các mối quan hệ xã hội Trong mạng xã hội, vốn con người nằm ở các đầu mối và vốn xã hội nằm ở các đường liên hệ, quan hệ giữa các đầu mối Vốn xã hội là một khái niệm có thể sử dụng để phân tích định lượng và định tính cấu trúc xã hội, hệ thống xã hội và mạng xã hội
Vốn xã hội là những giá trị của những yếu tố của mối quan hệ xã hội mà chủ thể có thể sử dụng như là những nguồn lực để thực hiện mục đích nhất định
Theo Bourdieu (1986), vốn tồn tại dưới hình thức vật chất là vốn kinh tế được đo bằng tiền và tài sản, vốn tồn tại dưới hình thức phi vật chất là vốn văn hoá được đo bằng vốn người và vốn xã hội được đo bằng các mối quan hệ ràng buộc và các chức danh Bourdieu nêu một ví dụ cho thấy sự khác nhau giữa các loại vốn này: để sở hữu một chiếc máy ta cần vốn kinh tế ví dụ cần tiền để mua chiếc máy đó, nhưng để
sử dụng chiếc máy ta cần vốn văn hoá, ví dụ sự hiểu biết và kỹ năng tức là vốn người vận hành chiếc máy đó Có thể bổ sung thêm một ý nữa vào ví dụ này là: để trao đổi sản phẩm được làm ra từ chiếc máy đó ta cần quan hệ xã hội tức là cần có vốn xã hội Theo Bourdieu, các loại vốn này có thể chuyển hoá cho nhau, ví dụ vốn văn hoá có thể chuyển thành vốn người và chuyển thành vốn kinh tế và ngược lại
Quy mô của vốn xã hội phụ thuộc vào quy mô của mạng lưới quan hệ xã hội và quy
mô của mỗi một loại vốn kinh tế hay vốn văn hoá hoặc biểu tượng mà mỗi người nắm giữ khi quan hệ với nhau Điều này có nghĩa là mặc dù vốn xã hội không thể quy đổi hoàn toàn về vốn kinh tế, vốn xã hội khó có thể tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào các hình thức tồn tại khác của vốn Các chức danh, chức vụ mà một người nắm giữ là các hình thức được thể chế hoá của vốn xã hội Việc uỷ quyền, uỷ nhiệm là một cơ chế giao dịch vốn xã hội từ tổ chức sang cá nhân người được uỷ quyền, uỷ nhiệm
2.1.4 Đo lường vốn xã hội trong nghiên cứu
Từ lý thuyết, khái niệm về vốn xã hội đã được lược khảo từ các tác giả, ta thấy rằng tùy vào mỗi khái niệm mà có cách đo lường vốn xã hội một cách khác nhau dựa vào
Trang 26các khái niệm đó Với cách đo lường vốn xã hội của Ngân hàng Thế giới (2002) được chia thành sáu nhóm chính đó là:
- Tổ chức, mạng lưới: đây là nhóm được sử dụng phổ biến phổ biến nhất để đo lường vốn xã hội Các câu hỏi đo lường ở nhóm này phản ánh được tính chất, mức
độ, tần số tham gia của các thành viên trong hộ gia đình vào các tổ chức, mạng lưới
xã hội chính thức và phi chính thức và phạm vi, mức độ đóng góp và nhận được từ các tổ chức này, đồng thời nó cũng xem xét được các đặc điểm của các thành viên trong nhóm hay tổ chức Câu hỏi được đặt ra để đo lường biến này là: “Số lượng tổ chức mà hộ tham gia?” Hay đưa ra giả định là “Nếu bạn đột xuất cần một số tiền nhỏ sẽ có bao nhiêu người ngoài hộ sẵn sàng giúp đỡ bạn?”
- Niềm tin: Niềm tin được thiết lập trong các mối quan hệ và các mạng lưới xã hội
và niềm tin này còn được mở rộng ra đối với những người lạ (thường dựa vào sự mong đợi về một hành vi hay dựa vào cảm nhận của bản thân), sự tin tưởng vào thể chế chính trị (bao gồm cả sự công bằng của luật lệ các thủ tục chính thức, giải quyết tranh chấp và phân bổ nguồn lực) Niềm tin là một khái niệm trừu tượng rất khó đo lường trong bối cảnh phạm vi ở hộ gia đình, vì nó sẽ mang ý nghĩa khác với những nhóm người khác nhau Do đó, cách tiếp cận vốn xã hội tập trung cả về niềm tin nói chung và niềm tin ở từng nhóm người cụ thể Niềm tin cũng được xem xét trong từng bối cảnh cụ thể, chẳng hạn như lòng tin ở vai trò là người cho vay hay là người
đi vay Các câu hỏi để khảo sát sự tin tưởng đó là: “Nếu bạn đang chăm sóc một đứa trẻ và cần phải đi ra ngoài một lúc, bạn có nhờ người hàng xóm giúp đỡ?”,
“Bạn có cho rằng hầu hết mọi người đều có thể tin tưởng được hay bạn không thể quá cẩn thận trong việc đề phòng với mọi người?”
- Hoạt động tập thể và sự hợp tác: Hoạt động tập thể là loại hình cơ bản thứ ba để
đo lường vốn xã hội, sự hữu dụng của chỉ số này bắt nguồn từ thực tế là đa số các hoạt động tập thể đa phần đều có các nguồn vốn xã hội trong cộng đồng đó, trừ trường hợp độc tài, chính phủ có thể buộc mọi người làm việc với nhau hay tham gia vào các hoạt động chung Hoạt động tập thể là một khía cạnh quan trọng của đời
Trang 27sống cộng đồng ở nhiều quốc gia, mặc dù mục đích của các hành động có thể khác nhau rất nhiều Ở một số nước, các hoạt động tập thể bao gồm các hoạt động vì cộng đồng, hay các hoạt động liên quan đến dịch vụ công, cũng có một số quốc gia các hoạt động tập thể này mang định hướng chính trị Vì vậy, câu hỏi để đo lường vốn xã hội trong phần này là mức độ sẵn sàng hợp tác, tham gia vào các hoạt động tập thể, tần suất tham gia, số lượng các hoạt động đó: “Trong 12 tháng qua, hộ gia đình có tham gia các hoạt động với mọi người vì lợi ích cộng đồng? Có bao nhiêu lần như vậy?” hay “Nếu có một vấn đề về cung cấp nước trong địa phương, bạn nghĩ mọi người có cùng nhau giải quyết vấn đề?”
- Thông tin và truyền thông: Tiếp cận thông tin ngày càng có vai trò quan trọng vì
nó giúp các cộng đồng nghèo có tiếng nói mạnh hơn về phúc lợi của họ (Ngân hàng thế giới, 2002) Nó là cách thức và là phương tiện để để các hộ nghèo nhận được thông tin từ thị trường, dịch vụ công cộng, cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc Để duy trì và tăng cường nguồn vốn xã hội phụ thuộc vào khả năng giao tiếp, liên lạc với các thành viên khác trong cùng cộng đồng hay cộng đồng khác Câu hỏi đo lường trường hợp này là: “Các phương tiện thông tin truyền thông quan trọng mà bạn đang sử dụng: bưu điện, điện thoại, báo, đài và truyền hình”
- Sự gắn kết và hòa nhập xã hội: Các chủ đề liên quan đến phần này bao gồm các vấn đề về xã hội, xung đột và bạo lực Phần này sẽ được đo lường bằng nhận thức của cộng đồng về sự gắn kết lại với nhau, nó mang tính xã hội như các cuộc họp của người dân nơi công cộng, các sự kiện mà các thành viên trong hộ gia đình tham gia, thăm viếng những người khác hay các sự kiện tập thể, cộng đồng như tham gia thể thao, lễ hội Một chủ đề khác ở phần này là tính loại trừ từ các hoạt động của cộng đồng, xã hội Phần này sẽ xem xét những vấn đề đang tồn tại trên diện rộng như đặc điểm về giới tính hay chủng tộc hoặc những lý do bị loại trừ khác khi tham gia vào các hoạt động hay dịch vụ của cộng đồng, những thông tin này giúp đánh giá, xác định nguyên nhân gây ra các căng thẳng xã hội trong cộng đồng Câu hỏi ở phần
Trang 28này là: “Những dịch vụ mà bạn hay các thành viên trong gia đình đôi khi bị từ chối hoặc bị giới hạn cơ hội để sử dụng?”
- Quyền lợi và hoạt động chính trị: Đây là chủ đề cuối cùng để đo lường vốn xã hội, quyền lợi ở đây là cho phép người dân được tham gia, thương lượng, ảnh hưởng, kiểm soát các tổ chức có trách nhiệm và có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ ( Ngân hàng Thế giới, 2002) Trao quyền còn được mang lại các hành động như là các tổ chức nhà nước hỗ trợ giúp người dân xóa đói, giảm nghèo, xóa bỏ các rào cản xã hội, xây dựng và phát triển xã hội (Ngân hàng Thế giới, 2000) Các hoạt động chính trị như là bỏ phiếu bầu cử, tham gia vào các cuộc họp công cộng, tham gia vào các cuộc biểu tình, chiến dịch Dữ liệu ở phần này nên được tổng hợp ở mức độ hộ gia đình và cộng đồng vì các hộ gia đình khác nhau sẽ phụ thuộc rất nhiều vào tình hình kinh tế xã hội và đặc điểm nhân khẩu học, vì thế mà vấn đề trao quyền và hoạt động chính trị cũng sẽ khác nhau
Nói chung, vốn xã hội được công nhận là một khái niệm đa chiều vì vậy cũng có nhiều cách để đo lường vốn xã hội tùy vào mục đích nghiên cứu, phương pháp tiếp cận để phù hợp với chính sách khác nhau của chính phủ Nhưng các khuôn khổ được xây dựng cũng dựng trên sự thống nhất về khái niệm của nó Cách đo lường vốn xã hội theo khung phân tích của nước Anh được thực hiện bởi Harper và Kelly (2003) thuộc Văn phòng thống kê quốc gia Anh Quốc gồm có năm kích thước bao gồm các quan điểm của địa phương Các chỉ số để đo lường vốn xã hội được lựa chọn về cả hai mặt khách quan và chủ quan bao gồm cả hành vi và thái độ cá nhân Dưới đây là bảng tóm tắt khung phân tích về cách đo lường vốn xã hội của Anh Quốc
Trang 29Bảng 2.1.1: Khung phân tích vốn xã hội của Anh Quốc
Tham gia vào các tổ
- Liên hệ với công chức nhà nước, đại diện chính trị
- Tham gia vào các tổ chức ở địa phương
Mạng lưới xã hội, hỗ
trợ xã hội
- Tần suất gặp mặt, nói chuyện với người thân, họ hàng, bạn bè, hàng xóm
- Số lượng các mạng ảo, tần số liên hệ
- Số lượng bạn thân, người thân sinh sống gần nhà
- Mức độ trao đổi giúp đỡ
- Khả năng kiểm soát nhận thức và sự hài lòng với cuộc sống
Đặc điểm khu vực địa
phương
- Quan điểm về môi trường sống
- Các tiện ích ở khu vực này
- Hưởng thụ các sinh hoạt trong khu vực
- Lo ngại về vấn đề tội phạm
Nguồn: Kelly và Harper (2003)
Sự tham gia vào các tổ chức xã hội Điều này được định nghĩa là tham gia vào các
tổ chức, các nhóm hoạt động tình nguyện
Tham gia vào các tổ chức dân sự, được định nghĩa là sự tham gia của các cá nhân vào các sự kiện, vấn đề của địa phương và quốc gia
Mạng lưới xã hội và sự hỗ trợ xã hội: được định nghĩa là giúp đỡ, hỗ trợ từ gia đình
và bạn bè, đây được xem nguồn quan trọng của vốn xã hội Số lượng, tần suất gặp mặt, trao đổi giữa những người trong mạng lưới có thể ảnh hưởng đến chất lượng của các mối quan hệ, giúp họ nhận được nhiều sự hỗ trợ từ mạng lưới xã hội
Niềm tin và sự hợp tác: Niềm tin ở đây là sự tin tưởng của cá nhân vào những người khác, những người họ biết và không biết, cũng như là niềm tin vào thể chế nhà
Trang 30nước Niềm tin được xem như là gắn kết chặt chẽ với vốn xã hội Hợp tác đo lường bằng sự sẵn sàng hợp tác của người dân vì lợi ích chung, đây cũng là một nguồn vốn xã hội
Quan điểm đối với khu vực địa phương, khía cạnh này đo lường nhận thức của cá nhân đối với khu vực họ đang sinh sống, khu vực họ đang sinh sống có môi trường tốt đẹp sẽ ảnh hưởng tích cực đến thái độ của họ
Trên đây là hai cách đo lường về vốn xã hội theo ngân hàng thế giới và của Văn phòng thống kê Anh Quốc, cả hai cách đo lường này đều đưa cách đo lường vốn xã hội rõ ràng và đầy đủ Đề tài nghiên cứu của tác giả dựa vào hai cách đo lường này
để tiến hành đo lường vốn xã hội, nhưng do đề tài sử dụng bộ dữ liệu từ cuộc điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam (VARHS) năm 2012 nên sẽ hạn chế về các biến đo lường vốn xã hội
2.2 Lược khảo nghiên cứu thực nghiệm có liên quan
Nghiên cứu đa dạng hóa thu nhập được nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển với nền nông nghiệp là chủ yếu Nghiên cứu của Bernardin Senadza (2012) chỉ ra rằng đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp thường chịu ảnh hưởng bởi các đặc điểm hộ gia đình (tuổi, giới tính, kích thước hộ, giáo dục), tài sản của hộ gia đình ( đất đai, quy mô trang trại, giá trị vật nuôi, thiết
bị nông nghiệp) và lợi thế về vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng ( tiếp cận thị trường, đường xá, điện, nước, tín dụng), bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu điều tra mức sống
hộ gia đình Ghana (GLSS) vào năm 2005 được tiến hành điều tra ở 580 địa bàn với
8700 hộ gia đình Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sinh kế hộ gia đình phụ thuộc vào các nguồn thu nhập phi nông nghiệp, hộ gia đình có nữ giới là chủ có xu hướng
đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp so với hộ gia đình nam giới làm chủ, lợi tức
từ việc làm tự tạo từ phi nông nghiệp lớn hơn so với từ thu nhập được trả công từ phi nông nghiệp Kết quả hồi quy còn cho thấy cơ cấu giới tính của các hộ gia đình, tuổi tác, giáo dục, tiếp cận tín dụng, điện và thị trường là các yếu tố quan trọng
Trang 31quyết định đến các hoạt động phi nông nghiệp cũng như thu nhập từ phi nông nghiệp
Nghiên cứu của Weldegebrial và cộng sự (2015) đã kiểm tra các yếu tố quyết định đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp của hộ gia đình ở nông thôn Ethiopia trong giai đoạn 1994 – 2009 được điều tra từ 1240 hộ gia đình Bài nghiên cứu sử dụng mô hình dữ liệu bảng để hồi quy với các biến độc lập như giới tính, tuổi, trình
độ học vấn của chủ hộ, quy mô hộ gia đình, các nhóm biến về tài sản như: đất đai, giá trị súc vật, tài sản khác Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhóm biến về tài sản, tuổi tác là tác động tiêu cực đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp, các biến như trình độ học vấn, quy mô hộ có tác động tích cực đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp Các phân tích cho thấy rằng mặc dù các hộ gia đình đang cố gắng đa dạng hóa nguồn thu nhập nhưng đóng góp của thu nhập phi nông nghiệp trong tổng thu nhập hộ gia đình còn rất thấp, điều này phản ánh sự khắc nghiệt, nghèo khổ tại khu vực nghiên cứu của tác giả
Nghiên cứu đa dạng hóa thu nhập của Sarah (2010) ở Senegal và Kenya, nghiên cứu này sử dụng mô hình tobit để ước lượng các yếu tố tác động đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp, với các biến độc lập là các nhóm biến vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội và vốn tự nhiên Kết quả hồi quy cho thấy các yếu tố liên quan đến giáo dục, tiềm năng trong nông nghiệp, tiếp cận thị trường là rất quan trọng trong việc xác định mức độ đa dạng hóa thu nhập, cụ thể trình độ học vấn càng cao càng làm tăng cơ hội đối với công việc hưởng lương từ phi nông nghiệp, tiếp cận tín dụng để có được nguồn vốn đầu tư là các yếu tố quan trọng để đa dạng hóa thu nhập từ nông nghiệp
Nghiên cứu của Malek (2009) ở Bangladesh sử dụng hệ số bất bình đẳng thu nhập Gini để phân tích vai trò của các khoản thu nhập phi nông nghiệp và sử dụng mô hình hồi quy tobit để ước lượng các yếu tố tác động đến đa dạng hóa thu nhập, với
dữ liệu điều tra là 214 hộ gia đình Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các hoạt động phi nông nghiệp có vai trò lớn trong đa dạng hóa thu nhập ở các khu vực phi nông
Trang 32nghiệp và tăng thu nhập của hộ gia đình, đa dạng hóa thu nhập không làm giảm bất bình đẳng thu nhập Các yếu tố như sở hữu đất đai, trình độ học vấn, giới tính tác động tích cực đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp, các yếu tố như tiếp cận tín dụng, vốn xã hội tác động không đáng kể, mặc dù thị trường tín dụng cũng phát triển
Một nghiên cứu khác về xác định các yếu tố tác động đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp ở nông thôn Peru được thực hiện bởi Escobal (2001) Đề tài sử dụng
dữ liệu từ cuộc khảo sát điều tra đo lường mức sống ở Peru (LSMS) thực hiện từ năm 1985 đến năm 1997 Nghiên cứu sử dụng mô hình dữ liệu bảng để hồi quy, các yếu tố tác động đến đa dạng hóa thu nhập đó là các biến: tuổi của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, trình độ học vấn trung bình của hộ, kinh nghiệm, tiếp cận tín dụng, tiếp cận điện, giá trị vật nuôi, diện tích đất đai, khoảng cách đến chợ, năng suất sản xuất nông nghiệp và vị trí khu vực địa lý (được đo lường bằng biến dummy), biến phụ thuộc của mô hình để đo lường đa dạng hóa thu nhập là tỷ lệ thu nhập từ các nguồn trên tổng thu nhập Kết quả nghiên cứu cho thấy số năm đi học trung bình của hộ, kinh nghiệm, tiếp cận điện, khoảng cách đến chợ, nâng suất sản xuất nông nghiệp
có tác động tiêu cực đến đa dạng hóa thu nhập, các yếu tố còn lại tác động tích cực đến đa dạng hóa thu nhập
Tại Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về đa dạng hóa thu nhập Nghiên cứu của Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2014), sử dụng bộ dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2010 do Tổng cục thống kê thực hiện cùng với sự giúp đỡ của Ngân hàng Thế giới và Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, bộ dữ liệu được khảo sát với khoảng 9000 hộ gia đình Nghiên cứu sử dụng
mô hình tobit với biến phụ thuộc là đa dạng hóa thu nhập được đo bằng chỉ số Herfindahl ngịch đảo, kết quả hồi quy cho thấy các biến về vốn con người, vốn tài chính, vốn xã hội có tác động tích cực đến đa dạng hóa thu nhập Nghiên cứu còn cho thấy cơ sở hạ tầng có tác động tích cực lên cả đa dạng hóa thu nhập và thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam, đặc tính khu vực có khả năng ảnh
Trang 33hưởng đến sự khác biệt về đầu tư cơ sở hạ tầng cho sự phát triển ở nông thôn Việt Nam Do đó, các biến chỉ rõ đặc điểm khu vực sẽ được sử dụng để cải thiện kết quả thực nghiệm Những phát hiện này sẽ tác động đến các chính sách cung cấp tốt hơn các dịch vụ giáo dục, y tế ở nông thôn là giải pháp để hỗ trợ đa dạng hóa thu nhập
và tăng thu nhập của hộ gia đình thông qua cải thiện vốn con người
Trang 34Bảng 2.2.1: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan
Stt Tác giả Quốc gia Dữ liệu, phương pháp
nghiên cứu
Các nhân tố tác động đến đa dạng hóa thu nhập
Kết quả nghiên cứu
1 Malek
(2009)
Bangladesh Dữ liệu được điều tra
từ 214 hộ gia đình, nghiên cứu sử dụng mô hình tobit để ước lượng các nhân tố tác động đến đa đạng hóa thu nhập
Các nhân tố đó là giới tính, tuổi tác, học vấn của chủ hộ, quy mô hộ, sở hữu đất đai, tiếp cận tín dụng, vốn xã hội (có tham gia vào các tổ chức chính thức, phi chính thức không?, có bạn thân, họ hàng, hàng xóm không?)
Hoạt động phi nông nghiệp có vai trò lớn đối với đa dạng hóa thu nhập hộ gia đình, đa dạng hóa thu nhập không làm giảm bất bình đẳng thu nhập Các yếu
tố như đất đai, học vấn, giới tính tác động tích cực đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp, các yếu tố như tiếp cận tín dụng, vốn xã hội không tác động tích cực mặc dù thị trường tín dung tương đối phát triển
2 Sarah
(2010)
Senegal và Kenya
Dữ liệu được điều tra
từ 8000 hộ gia đình ở
26 khu vực trên 7 quốc gia trong đó có 1770 hộ gia đình ở Senegal và Kenya, nghiên cứu sử dụng mô hình Tobit với biến phụ thuộc là
đa dạng hóa thu nhập được đo bằng chỉ số Herfindahl nghịch đảo
Biến độc lập của mô hình là các nhóm biến vốn vật chất, vốn con người, vốn tự nhiên, vốn tài chính và vốn xã hội
Kết quả hồi quy cho thấy rằng trình độ học vấn làm tăng cơ hội có được việc làm hưởng lương từ hoạt động phi nông nghiệp, tiếp cận tín dụng giúp hộ gia đình có nguồn vốn để đầu tư vào hoạt động để làm đa dạng hóa thu nhập
Trang 353 Senadza
(2012)
Ghana Dữ liệu từ cuộc điều tra
mức sống hộ gia đình (GLSS) năm 2005, trên
580 địa bàn với 8700
hộ gia đình, sử dụng
mô hình Tobit với biến phụ thuộc là tỷ trọng thu nhập phi nông nghiệp
Các nhóm biến về đặc điểm
hộ gia đình (tuổi, giới tính, học vấn của chủ hộ, kích thước hộ), tài sản của hộ (đất đai, vật nuôi, thiết bị nông nghiệp), tiếp cận điện, nước, đường xá, tín dụng, kiều hối
Hộ gia đình có nữ giới làm chủ có xu hướng đa dạng hóa thu nhập hơn so với nam giới, lợi tức từ việc làm phi nông nghiệp tự tạo lớn hơn so với việc làm được trả công từ phi nông nghiệp Các yếu tố như giới tính, tuổi tác, giáo dục, tín dụng, điện, vị trí địa lý có vai trò quan trọng đối với đa dạng hóa thu nhập từ phi nông nghiệp
Biến độc lập của mô hình là các nhóm biến vốn vật chất, vốn con người, vốn tự nhiên, vốn tài chính và vốn xã hội
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các biến số về vốn con người, vốn tài chính, vốn xã hội có tác động tích cực đến đa dạng hóa thu nhập, nghiên cứu còn chỉ
ra rằng cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng, dịch vụ y tế, giáo dục ở nông thôn là giải pháp để hỗ trợ đa dạng hóa thu nhập ở nông thôn Việt Nam
Nghiên cứu sử dụng
mô hình hồi quy là dữ liệu bảng
Yếu tố tác động đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp
là tuổi, giới tính của chủ hộ, trình độ học vấn cao nhất của
hộ, quy mô hộ, bệnh tật, chỉ
số tài sản, giá trị vật nuôi, diện tích đất, tiếp cận tín dụng, điện
Các nhóm biến về tài sản, tuổi tác tác động tiêu cực đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp Các yếu tố như giáo dục, quy mô hộ tác động tích cực đến
đa dạng hóa Nghiên cứu cho thấy rằng đóng góp của thu nhập phi nông nghiệp vào tổng thu nhập của hộ còn thấp, cần phải có các chính sách hỗ trợ, phát triển khu vực phi nông nghiệp đúng đắn
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu thực nghiệm
Trang 36Chương 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương ba của bài viết này xây dựng khung phân tích cho bài nghiên cứu từ hệ thống các cơ sở lý thuyết được trình bày ở chương hai, phần tiếp theo bài viết giới thiệu về dữ liệu mà nghiên cứu sử dụng, tiếp theo bài viết sẽ trình bày về cách xây dựng biến phụ thuộc và các nhóm biến về vốn xã hội, các biến về đặc điểm hộ gia đình Phần cuối cùng trình bày về mô hình kinh tế lượng của nghiên cứu
3.1 Khung phân tích
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã xác định các yếu tố quyết định sự tham gia của các hộ gia đình vào các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Nghiên cứu các quốc gia ở Châu Phi của Reardon và cộng sự (2001) kết luận rằng giáo dục có vai trò quan trọng, quyết định sự tham gia và thành công trong việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn Bên cạnh đó, nghiên cứu của Barrett và cộng sự (2001) cũng lập luận rằng trình độ học vấn là một yếu tố quyết định quan trọng nhất của thu nhập phi nông nghiệp, đặc biệt là đối với tạo việc làm Các nghiên cứu ở Châu Á cũng đã khẳng định mức độ tương quan thuận của trình độ học vấn đối với các hoạt động phi nông nghiệp Yang và An (2002) cho rằng giáo dục cải thiện việc phân bổ các nguồn lực hộ gia đình giữa các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn Trung Quốc Micevska và Rahut (2008) đã tiến hành cuộc điều tra về sự tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp tại khu vực Himalaya và cho thấy rằng giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp cận việc làm phi nông nghiệp Các nghiên cứu của Malek (2009), Sarah (2010), Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2014) cũng đưa ra kết quả tương tự Các nghiên cứu trên cho thấy bằng chứng thuyết phục về những tác động tích cực của giáo dục đối với sự tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp
Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây chỉ ra rằng giới tính của chủ hộ ảnh hưởng đến mức độ đa dạng thu nhập của hộ gia đình, nghiên cứu của Senadza (2012) chỉ ra rằng nếu chủ hộ là nữ giới sẽ tác động lớn hơn vào đa dạng hóa thu nhập hơn so với
Trang 37chủ hộ là nam giới, các nghiên cứu Weldegebrial và cộng sự (2015), Malek (2009), Senegal và Kenya (2010) cũng có kết quả tương tự
Tuổi của chủ hộ cũng tác động đến đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình, nghiên cứu của Senadza (2012), Weldegebrial và cộng sự (2015) phát hiện ra rằng tuổi của chủ hộ gia đình càng lớn sẽ càng giảm mức độ đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình, Escobal (2001) lại có kết quả nghiên cứu rằng tuổi của chủ hộ càng lớn càng tác động tích cực đến đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình
Số lượng lao động của hộ gia đình cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình, hộ có nhiều lao động sẽ thực hiện được nhiều hoạt động, việc làm tạo ra thu nhập của hộ gia đình Nghiên cứu của Taylor (2001), Senegal và Kenya (2010), Escobal (2001), Weldebriel và cộng sự (2015) cho rằng
số lượng lao động của hộ gia đình càng lớn càng tác động tích cực đến đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình, nghiên cứu của Senadza (2012) phân tích kỹ hơn về lao động của hộ gia đình, nghiên cứu chia ra số lượng lao động là nữ của hộ gia đình có
độ tuổi lớn hơn 15 tuổi, số lượng nam trong hộ có độ tuổi lớn hơn 15 tuổi, nhằm xem xét tác động của giới tính của lao động trong vấn đề đa dạng hóa thu nhập và kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hai biến số này đều tác động tích cực đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp
Một yếu tố góp phần ảnh hưởng đến đa dạng hóa thu nhập hộ gia đình đó là nhận được được tiền hỗ trợ, hộ gia đình có được nguồn hỗ trợ sẽ có điều kiện đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp hoặc có thể hộ gia đình khi có nguồn tiền hỗ trợ này lại không tham gia vào các hoạt động tạo thêm thu nhập Nghiên cứu của Senadza (2012) cho nhận được nguồn tiền hỗ trợ tác động tiêu cực đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tiếp cận tín dụng tác động đến đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình Khi hộ gia đình tiếp cận được nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng sẽ có điều kiện đầu tư vào các hoạt động làm đa dạng hóa nguồn thu nhập hộ gia đình Nghiên cứu của Senadza (2012), Weldegebriel và cộng sự (2015) cho thấy
Trang 38rằng tiếp cận tín dụng tác động tích cực đến đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp của hộ gia đình
Tài sản của hộ gia đình cũng được đưa vào phân tích như là một yếu tố tác động đến
đa dạng hóa các hoạt động phi nông nghiệp, nghiên cứu của Reardon và cộng sự (1992) đưa ra cả lý thuyết lẫn thực nghiệm là không rõ ràng về những tác động của tài sản đất đai đối với đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp Nghiên cứu của Weldegebriel và cộng sự (2015), Senadza (2012), Malek và cộng sự (2009) cho thấy tác động tiêu cực yếu tố tài sản là đất đai đối với đa dạng hóa thu nhập từ phi nông nghiệp
Nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng các yếu tố quyết định đến việc tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp tùy thuộc vào tài sản của hộ gia đình, nghiên cứu của Demisses và Workneh (2004) ở phía nam Ethiopia chỉ ra rằng quyền sở hữu tài sản, đặc biệt là vật nuôi, đóng vai trò quan trọng quyết định hộ gia đình có đa dạng hóa hoạt động phi nông nghiệp Các nghiên cứu của Senadza (2012), Weldegebrial
và cộng sự (2015) cũng cho thấy biến giá trị vật nuôi có tác động tiêu cực đến quyết định đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp của hộ gia đình
Vốn xã hội là một nhân tố quan trọng góp phần vào đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình, nghiên cứu của Malek (2009), Sarah (2010), Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2014) chỉ ra rằng vốn xã hội có tác động tích cực đến thu nhập của hộ gia đình
Bài nghiên cứu dựa vào khung phân tích của các nghiên cứu thực nghiệm trước đó
và khung sinh kế bền vững, các nhân tố tác động đến đa dạng hóa thu nhập cũng được rút ra từ các nghiên cứu này
Trang 39Đặc điểm của hộ gia đình:
- Giới tính của chủ hộ
- Tuổi của chủ hộ
- Trình độ học vấn của chủ hộ
- Trình độ học vấn trung bình của hộ
- Số lượng lao động nam của hộ
- Số lượng lao động nữ của hộ
(1) Thu nhập từ làm công, làm thuê
(2) Các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp không được trả công
(3) Thu nhập từ các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
(4) Thu nhập từ các hoạt động khai thác và đánh bắt tự nhiên
(5) Thu nhập từ hoạt động cho thuê
(6) Bán tài sản
(7) Các khoản chuyển nhượng/ hỗ trợ từ cá nhân
(8) Các khoản chuyển nhượng/hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức xã hội
(9) Khác (lãi tiền gửi, lợi tức từ đóng góp cổ phần,…)
Trang 40Từ chín nhóm thu nhập trên, đề tài nghiên cứu chia ra làm 3 loại thu nhập chính để thuận tiện cho việc phân tích Nhóm thứ nhất đó là thu nhập từ hoạt động nông nghiệp gồm có thu nhập từ các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các hoạt động khai thác, đánh bắt tự nhiên Nhóm thứ hai là thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp gồm có thu nhập từ làm công, làm thuê và thu nhập từ các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp không được trả công Nhóm thứ ba là nhóm các thu nhập còn lại trong chín loại thu nhập phía trên
Bảng 3.2.1: Phân loại các nguồn thu nhập của hộ gia đình
Thu nhập từ hoạt động
phi nông nghiệp
Thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp không được trả công
Thu nhập từ làm công, làm thuê
Khác (lãi tiền gửi, lợi tức từ đóng góp cổ phần,…)
Nguồn: VARHS 2012
Để phân tích mức độ đa dạng hóa thu nhập phi nông nghiệp, bài nghiên cứu sử dụng
ba biến phụ thuộc đó là:
(1) Tỷ trọng thu nhập phi nông nghiệp trong tổng thu nhập
(2) Tỷ trọng thu nhập từ làm công, làm thuê trong tổng thu nhập
(3) Tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp không được trả công trong tổng thu nhập