1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại phường phúc thắng, thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc

57 478 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các thông báo chính tại Hội nghị quốc tế về nhiễm khuẩn hô hấp cấp cho biết hàng năm trên thế giới có khoảng 4,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp trong đó chủ y

Trang 2

LỜI CẢM ƠN!

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường ĐHSP Hà Nội

2, các thầy cô khoa GDMN và các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Bệnh Học Trẻ Em đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho

em thực hiện khóa luận tốt nghiệp này

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo -TS Trần Thị Phương Liên, giảng viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu, thực hiện khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phường Phúc Thắng và tập thể cán bộ Trạm y tế phường Phúc Thắng, các bà mẹ có con dưới 5 tuổi trong 4 tổ dân phố: Xuân Mai 2 Xuân Mai 3, Xuân Thượng 1, Xuân Bến, trong thời gian em thực hiện đề tài đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong việc cung cấp các số liệu, thông tin để em có thể hoàn thành khóa luận của mình

Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến gia đình, bạn bè đã động viên, ủng hộ, giúp đỡ em rất nhiều trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Vĩnh Phúc, ngày tháng năm

Sinh viên

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình Những

số liệu và kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào

Hà Nội, ngày tháng năm

Sinh viên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Mục đích nghiên cứu: 2

3 Đối tượng nghiên cứu: 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu: 3

5 Phương pháp nghiên cứu: 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trên thế giới và Việt Nam 4

1.1.1 Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trên thế giới 4

1.1.2 Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở Việt Nam 6

1.2 Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là gì? 8

1.2.1 Đặc điểm hệ hô hấp của trẻ 8

1.2.2 Khái niệm nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 9

1.2.3 Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 9

1.2.4 Phân loại nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 14

1.2.5 Điều trị một số nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 16

1.2.6 Các biện pháp phòng bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 18

1.3 Khái quát về phường Phúc Thắng 20

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 23

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.2.1 Phương pháp chọn mẫu 23

2.2.2 Phương pháp điều tra 23

2.2.3 Phương pháp thu thập, xử lí số liệu 23

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 24

Trang 5

3.1.Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 24

3.2 Thực trạng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại phường Phúc Thắng 29

3.3 Kết quả về các yếu tố nguy cơ dẫn đến nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 32

3.4 Bàn luận 36

3.4.1 Tình hình kinh tế- văn hóa- xã hội tại địa điểm nghiên cứu 36

3.4.2 Thực trạng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 36

3.3.3 Các yếu tố nguy cơ dẫn đến NKHHCT ở trẻ 37

KẾT LUẬN 40

KIẾN NGHỊ 41

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

NKHHCT : Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

THCS : Trung học cơ sở

THPT : Trung học phổ thông

WHO : World Health Oganizations : Tổ chức Y tế Thế giới

UNICEF : United Nations Children’s Fund: Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Số liệu tử vong ở trẻ em do NKHHCT tại một số nước trên thế giới Bảng 3.1 Phân bố trẻ theo tình hình kinh tế hộ gia đình

Bảng 3.2 Phân bố trẻ theo trình độ học vấn của mẹ

Bảng 3.3 Phân bố trẻ theo nghề nghiệp của các bà mẹ

Bảng 3.4 Phân bố trẻ theo tình trạng bếp đun bằng than, củi

Bảng 3.5 Phân bố trẻ theo tình trạng hút thuốc của người thân trong gia đình Bảng 3.6 Khoảng cách từ nhà của trẻ đến chuồng gia súc

Bảng 3.7 Tình trạng tiêm chủng của trẻ dưới 5 tuổi

Bảng 3.8 Tỷ lệ mắc NKHHCT của trẻ dưới 5 tuổi

Bảng 3.9 Tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi theo nhóm tuổi

Bảng 3.10 Tỷ lệ trẻ mắc NKHHCT theo nghề nghiệp của mẹ

Bảng 3.15 Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi mắc NKHHCT theo tình trạng nhà ở

Bảng 3.16 Thái độ của các bà mẹ với NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi

Bảng 3.17 Hiểu biết của các bà mẹ về cách phòng bệnh NKHHCT cho trẻ Bảng 3.18 Hiểu biết của bà mẹ về biện pháp xử trí NKHHCT cho trẻ

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Phân bố trẻ dưới 5 tuổi theo tình hình kinh tế hộ gia đình

Biểu đồ 3.2 Phân bố trẻ dưới 5 tuổi theo trình độ học vấn của mẹ

Biểu đồ 3.3 Phân bố trẻ dưới 5 tuổi theo nghề nghiệp của mẹ

Biểu đồ 3.4 Phân bố trẻ dưới 5 tuổi theo tình trạng tiêm chủng

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi

Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi mắc NKHHCT theo nhóm tuổi

Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi theo nghề nghiệp của mẹ

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước, là nguồn nhân lực mới cho xã hội Việc chăm sóc, giáo dục trẻ một cách toàn diện đã và đang nhận được rất nhiều sự quan tâm, chú ý của các gia đình, cộng đồng và toàn xã hội Sức khỏe trẻ con hay có những diễn biến bất thường gây ảnh hưởng cả về mặt thể chất, tinh thần lẫn trí tuệ nên trẻ luôn là tâm điểm của mọi người trong gia đình Việc quan tâm theo dõi sức khỏe cho trẻ là vô cùng cần thiết Bên cạnh

đó, các bậc cha mẹ cũng không ngừng trang bị cho mình những kiến thức về đặc điểm tâm sinh lý, các giai đoạn phát triển của trẻ để đảm bảo an toàn, chăm sóc sức khỏe cho trẻ, có những phòng ngừa và xử lí thích hợp

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là bệnh lý phổ biến ở trẻ em và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi Các thông báo chính tại Hội nghị quốc tế về nhiễm khuẩn hô hấp cấp cho biết hàng năm trên thế giới có khoảng 4,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp trong đó chủ yếu do viêm phổi, đáng chú ý là trên 90% số tử vong này tập trung ở các nước đang phát triển (số liệu đưa ra từ hội nghị Tham khảo Quốc

tế về chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp lần thứ 1 tổ chức tại Washington năm 1991)[10][21] Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính không những có tỉ lệ mắc cao

mà còn mắc nhiều lần trong năm, theo ước tính trung bình mỗi năm một đứa trẻ mắc 4-9 lần nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (theo WHO) gây ảnh hưởng đến ngày công lao động của bố mẹ và là gánh nặng của xã hội Do nhiễm khuẩn

hô hấp cấp có tầm quan trọng như vậy nên Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và UNICEF đã đưa ra chương trình phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ

em trên phạm vi toàn cầu với mục tiêu cụ thể là giảm tỉ lệ tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ dưới 5 tuổi

Hiện nay, ở Việt Nam tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi nhập viện và tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp là rất cao, xếp hàng đầu trong các bệnh thường gặp ở

Trang 10

trẻ em Nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở thành thị phổ biến hơn ở khu vực nông thôn, tỉ lệ mắc tăng lên vào thời điểm giao mùa Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính có thể phân loại theo các cách khác nhau cùng với các biểu hiện đi kèm ở các mức độ khác nhau

Nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp nói chung và viêm phổi nói riêng là do virus, vi khuẩn, lao phổi trẻ em, nấm Bên cạnh đó còn có các yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của bệnh như: Môi trường sống (ô nhiễm, chật chội, đông đúc), ô nhiễm không khí (khói bụi, khí thải nhà máy, khói thuốc…), dinh dưỡng, yếu tố tuổi tác, hiểu biết của các bà mẹ, tiêm chủng,… đểu làm tăng nguy cơ mắc bệnh và mức độ nặng của bệnh ở trẻ Tích cực thực hiện chương trình phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em chính là góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng đời sống của người dân nói chung và trẻ em nói riêng, tham gia tích cực vào việc thực hiện Luật “Bảo vệ sức khỏe trẻ em”

Phúc Thắng là một phường thuộc thị xã Phúc Yên – nơi có trình độ dân trí khá phát triển, mật độ dân số đông Điều kiện kinh tế - xã hội đang từng bước đi lên, là nơi tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp nhất khu vực, kèm theo

sự phát triển đó là sự ô nhiễm không khí: khói bụi, khí thải từ các nhà máy Chính điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe của người dân đặc biệt là trẻ nhỏ, gây khó khăn trong công tác phòng chống và điều trị bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ dưới 5 tuổi

Với những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: nghiên cứu tình hình

nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại phường Phúc Thắng, thị

xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

2 Mục đích nghiên cứu:

- Tìm hiểu thực trạng nhiễm khuẩn hô hấp cấp của trẻ dưới 5 tuổi tại phường Phúc Thắng, thị xã Phúc Yên

Trang 11

- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại phường Phúc Thắng, thị xã Phúc Yên

3 Đối tượng nghiên cứu:

- Trẻ em dưới 5 tuổi và các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại phường Phúc Thắng, thị xã Phúc Yên

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tìm hiểu những vấn đề lý luận về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi

- Khảo sát thực trạng bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại phường Phúc Thắng, thị xã Phúc Yên

- Đề xuất một số biện pháp phòng chống bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ dưới 5 tuổi

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp chọn mẫu

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp thu thập và xử lí số liệu

Trang 12

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trên thế giới và Việt Nam

1.1.1 Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính được thống kê là bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất trong các bệnh nhiễm khuẩn ở trẻ dưới

5 tuổi Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO),mỗi trẻ trung bình trong một năm mắc NKHHCT từ 4- 9 lần, ước tính trên toàn cầu mỗi năm có khoảng 2 tỷ lượt trẻ mắc NKHHCT, trong đó có khoảng 40 triệu lượt là viêm phổi và cũng theo thống kê của WHO hàng năm có khoảng 15 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong, trong đó 4,3 triệu trẻ em chết do viêm phổi cấp tính Như vậy có khoảng trên 10.000 trẻ chết do viêm phổi mỗi ngày, trong đó hơn 90%

số tử vong tập trung ở các nước đang phát triển [3][21]

Theo Ruan I (2005), ước lượng tỉ lệ viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi trên toàn cầu trong các nghiên cứu dọc dựa vào cộng đồng cho thấy: Tỉ lệ mới mắc các đợt viêm phổi ở các nước đang phát triển là 0,29 đợt/ năm/ trẻ, ở các nước phát triển là 0,026 đợt/ năm/ trẻ và trên 90% các đợt viêm phổi ở trẻ em trên thế giới xảy ra ở các nước đang phát triển [17]

Năm 2004, Micheal Ostapchuk và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tình hình viêm phổi ở cộng đồng thuộc Châu Âu và Bắc Mĩ cho thấy viêm phổi mắc phải cộng đồng (Community Acquired Pneumonia – CAP) là một trong những nhiễm khuẩn phổ biến nhất ở trẻ em với số mới mắc phải hàng năm là

từ 30-40 ca/1000 trẻ Mặc dù tỉ lệ tử vong do viêm phổi mắc phải cộng đồng

là hiếm gặp nhưng lại phổ biến nhất ở trẻ dưới 5 tuổi [18]

Nghiên cứu về nguyên nhân tử vong ở trẻ em theo báo cáo của WHO (2005) cho thấy trên thể giới 73% các trường hợp tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi là

do 6 nguyên nhân chính trong đó: Viêm phổi (19%), tiêu chảy (18%), sốt rét (8%), viêm phổi sơ sinh (10%), đẻ non (10%) và tử vong do ngạt thở lúc sinh

Trang 13

là 8% Từ đó có thể thấy viêm phổi là nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở trẻ dưới 5 tuổi [14]

Trẻ càng nhỏ tuổi thì tử vong do NKHHCT càng cao Thống kê hàng năm tại các nước đang phát triển, tỷ lệ tử vong do NKHHCT xảy ra ở trẻ dưới

2 tháng tuổi dao động từ 20-25% chết, ở trẻ dưới 1 tháng tỷ lệ tử vong dao động từ 50-60%, rất ít tử vong xảy ra ở trẻ em trên 5 tuổi [3]

Báo cáo về tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi khu vực Đông Nam Á cho thấy:

tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp chiếm tỉ lệ cao nhất (25%) trong tổng số trẻ tử vong trong khu vực, tiếp đến là tiêu chảy 14%, còn lại là các nguyên nhân khác [1]

Nghiên cứu ở 19 điểm tại 16 nước đang phát triển đã cho thấy tỷ lệ tử vong do NKHHCT chiếm khoảng 1/3 so với tử vong chung ở trẻ dưới 5 tuổi, dao động từ 21%- 62% và như vậy trung bình có khoảng 7- 20 trẻ chết/ 1000 trẻ/ năm là do NKHHCT Nghiên cứu tại Bangladesh cho thấy tỷ lệ tử vong

do viêm phổi chiếm 75,4% trong tổng số tử vong; tại Nepal, tỷ lệ này là rất cao 79,8% [3]

Bảng 1.1 Số liệu tử vong ở trẻ em do NKHHCT tại một số nước trên thế giới [21]

Địa điểm nghiên

cứu

Tử vong NKHHCT/1000 trẻ đẻ

Trang 14

Từ đó có thể thấy tỷ lệ trẻ tử vong do NKHHCT trên thế giới chiếm tỷ lệ khá cao so với tỷ lệ tử vong chung ở trẻ dưới 5 tuổi, tiêu biểu là ở Nepal và Bangladesh tỷ lệ này chiếm tới > 50 %

Như vậy NKHHCT thực sự là vấn đề thời sự của nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

1.1.2 Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam là một nước đang phát triển mạnh mẽ, đi lên về mọi mặt: kinh tế, văn hóa, xã hội Trong đó phải kể đến hệ thống y tế; các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; các dự án, chương trình y tế được triển khai trong đó có chính sách chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trẻ em nói chung đã đạt kết quả tương đối tích cực Tuy nhiên, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính vẫn là bệnh lí phổ biến

và là nguyên nhân gây tử vong cao ở trẻ dưới 5 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh tăng lên ở thời điểm giao mùa

Theo Niên giám thống kê Y tế 2007 cho thấy: viêm phổi đứng đầu trong

10 bệnh mắc cao nhất trên toàn quốc [4]

Báo cáo “Đánh giá hoạt động y tế cơ sở” năm 2006 của dự án NKHHCT trẻ em cho biết: hiện nay, viêm phổi vẫn là nguyên nhân gây tử vong cao nhất (31,3%) trong số các nguyên nhân gây tử vong ở trẻ, cao gấp 6 lần so với tử vong do tiêu chảy (5,1%) Trong số trẻ chết do viêm phổi chỉ có 52% trẻ được chăm sóc trước khi tử vong [3]

Theo số liệu của Bộ y tế năm 2006 cho thấy tình hình mắc bệnh và tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em tại một số bệnh viện như sau: Tại bệnh viện Nhi Trung ương, tỉ lệ nhập viện do NKHHCT là 32,5%, tỉ

lệ tử vong 20,2% trong tổng số trẻ, tỉ lệ nhập viện cao gấp 2 lần so với bệnh tiêu chảy cấp (17,7%) đứng đầu trong các nguyên nhân nhập viện ở trẻ [3] Số trẻ mắc NKHHCT vào điều trị tại khoa nhi bệnh viện đa khoa thành phố Đà Nẵng là 45,6%, số trẻ chết do viêm phổi là 32,5% Bệnh viện đa khoa Sơn La

tử vong do viêm phổi ở trẻ em chiếm 63,2% trong tổng số tử vong ở trẻ dưới

Trang 15

5 tuổi Tại Bệnh viện Chiêm Hóa, Tuyên Quang tỷ lệ mắc bệnh vào điều trị là 92,8%, trong đó tử vong do viêm phổi 88,9% trong tổng số trẻ [3][10][15] Qua đó có thể thấy tỷ lệ trẻ nhập viện do NKHHCT tại các bệnh viện nói trên

là khá cao và tỷ lệ trẻ tử vong trong số đó lại chiếm tới hơn 50%

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính vẫn là bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất (40-50%) trong tổng số trẻ đến khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế Hiện nay tại các

cơ sở chữa bệnh từ tuyến Trung ương, tuyến tỉnh đến tuyến huyện đều quá tải

do trẻ mắc NKHHCT vào điều trị [3]

Tác giả Nguyễn Thu Nhạn (2001) cũng nhận thấy tình hình tử vong của trẻ em tại các khoa Nhi bệnh viện tỉnh trong 2 năm 1998-1999 tập trung vào

10 nhóm bệnh và đứng đầu vẫn là nhóm bệnh nhiễm khuẩn hô hấp Trong khi

tỷ lệ tử vong chung ngày một giảm thấp, thì tỷ lệ tử vong do viêm phổi chưa giảm nhiều (năm 1970 là 37%, năm 1990 là 42%, năm 1995 là 35% và 2000

là 40%) Như vậy tỷ lệ tử vong do viêm phổi hầu như không giảm trong suốt

30 năm qua [17][18]

Năm 2007, Bệnh viện Lao và Bệnh viện Phổi Trung ương, Dự án nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em đã tổ chức Hội thảo “Triển khai kế hoạch hoạt động dự án nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em các tỉnh trọng điểm trong năm 2007 và giai đoạn 2007- 2010” cho thấy tình hình mắc ở trẻ miền núi cao nhất (62,8%), sau đó là các tỉnh miền Trung (42,9%), đồng bằng tỉ lệ mắc bệnh ít hơn (34,8%) Đối với tình hình tử vong ở trẻ do nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở miền núi (0,28%) cao hơn so với đồng bằng (0,06%) [5]

Như vậy, qua một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cho thấy tình hình mắc và tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp của trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng còn cao Do đó, đây là vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứu và đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm giảm tình trạng nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ, đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi

Trang 16

1.2 Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là gì?

1.2.1 Đặc điểm hệ hô hấp của trẻ

Bộ máy hô hấp của trẻ em khác với người lớn, nhỏ hơn về kích thước và

có những đặc điểm riêng biệt về giải phẫu và sinh lý, các tổ chức tế bào của

bộ phận hô hấp nói chung và phổi nói riêng chưa hoàn toàn biệt hóa và đang ở giai đoạn phát triển Hệ hô hấp bao gồm từ mũi, họng đến thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản, phổi, màng phổi Dựa vào vị trí các đoạn của

bộ máy hô hấp, người ta phân chia thành hai phần: đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới Ranh giới phân chia là nắp thanh quản

Ở trẻ nhỏ, khoang mũi tương đối nhỏ và ngắn nên không khí vào mũi không được lọc sạch, sưởi ấm một cách đầy đủ Niêm mạc mũi mềm mại, có nhiều mạch máu dẫn đến khả năng bảo vệ của lớp niêm mạc yếu

Họng, hầu trẻ em tương đối hẹp và ngắn, có hình phễu hẹp, sụn mềm và nhẵn Ở họng có hệ thống limpho bao gồm các amidan vòm họng (VA), vòi nhĩ, đáy lưỡi, khẩu cái và nhiều tổ chức limpho rải rác ở niêm mạc họng, đó là

hệ thống miễn dịch, vai trò làm tăng khả năng miễn dịch cho cơ thể mỗi khi

va chạm với virus và vi khuẩn Khi VA bị viêm gây xuất tiết, phù nề vùng họng, làm trẻ phải thở bằng miệng Thở bằng miệng không được sâu, không khí không được sưởi ấm, số lượng khí trao đổi ít hơn lâu dần gây rối loạn toàn thân do thiếu khí kéo dài

Thanh, khí, phế quản thường có đường kính nhỏ, tổ chức đàn hồi ít phát triển, vòng sụn mềm, dễ biến dạng, có nhiều mạch máu, do đó, khi bị viêm nhiễm dễ bị khó thở, giãn phế quản

Phổi ở trẻ em lớn dần theo độ tuổi Ở trẻ nhỏ phổi có nhiều mạch máu, các mạch bạch huyết và sợi cơ nhẵn cũng nhiều hơn nhưng lại ít tổ chức đàn hồi Các cơ quan ở lồng ngực chưa phát triển đầy đủ nên lồng ngực di động kém, trẻ dễ bị xẹp phổi, dãn các phế nang khi bị viêm phổi, đồng thời màng

Trang 17

phổi mỏng, dễ bị giãn khi hít vào sâu, hoặc khi bị tràn khí, tràn dịch màng phổi [10]

Quá trình trao đổi khí ở phổi của trẻ em mạnh hơn người lớn Ở trẻ dưới

3 tuổi, lượng không khí hít vào trong 1 phút (theo đơn vị trọng lượng của trẻ) nhiều gấp đôi so với người lớn Sự trao đổi O2 và CO2 giữa phế nang và máu cũng được thực hiện mạnh hơn Nhưng sự cân bằng về trao đổi rất dễ biến đổi theo ngoại cảnh, nên trẻ dễ bị rối loạn hô hấp Mặt khác, khi trẻ bị những tổn thương ở phổi thường kèm theo rối loạn tuần hoàn phổi và giảm khả năng trao đổi khí ở phổi Do những đặc điểm giải phẫu, sinh lý bộ phận hô hấp ở trẻ em như đã mô tả ở trên mà trẻ em, nhất là trẻ nhỏ dễ mắc các bệnh đường hô hấp, đặc biệt là viêm phổi [10][21]

1.2.2 Khái niệm nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

Bộ máy hô hấp đóng vai trò quan trọng trong cơ thể sống Người ta có thể nhịn ăn trong nhiều ngày, nhưng không thể nhịn thở trong vài phút Hệ hô hấp bao gồm từ mũi xuống họng, thanh quản, khí quản, phế quản và phổi - có chức năng thu nhận không khí từ bên ngoài vào để cung cấp O2 cho cơ thể, đồng thời thải khí CO2 ra bên ngoài

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là một nhóm bệnh do virus hoặc vi khuẩn gây nên viêm nhiễm cấp tính của đường thở nghĩa là từ tai, mũi, họng, đường dẫn khí (thanh quản, khí quản, phế quản) cho đến phổi Thời gian trị bệnh không quá 30 ngày Đây là bệnh phổ biến nhất, nguyên nhân nhập viện và tử vong hàng đầu ở trẻ em, nhất là trẻ dưới 5 tuổi [13] Nếu được chăm sóc tốt,

đa số trẻ sẽ tự khỏi trong vòng 10-14 ngày Tuy nhiên, khoảng 20-25% trẻ bị NKHHCT sẽ tiến triển thành viêm phổi, cần điều trị kháng sinh để tránh biến chứng và tử vong

1.2.3 Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi

1.2.3.1 Nguyên nhân

Trang 18

- Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em là do virus và vi khuẩn gây nên, nhưng phần lớn do virus vì đa số virus có ái lực với đường hô hấp, khả năng lây lan của virus dễ dàng, tỉ lệ người lành mang virus cao, khả năng miễn dịch với virus yếu và ngắn Các virus thường gặp:

+ Virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncitial virus)

+ Virus cúm (Influenzae virus)

+ Phế cầu (Streptococus pneumoniae)

+ Tụ cầu (Streptococus auerus)

Đặc biệt là liên cầu khuẩn β tan huyết nhóm A gây nhiều biến chứng nguy hiểm

- Một số trường hợp do nhiễm kí sinh trùng hoặc do nấm Candida albicans gây nên

- Các vi khuẩn và virus sống ở mũi, họng gặp điều kiện thuận lợi sẽ gây bệnh

1.2.3.2 Yếu tố thuận lợi

Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rất nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến NKHHCT ở trẻ em Các yếu tố nguy cơ có thể được xếp vào một số nhóm như sau: Yếu tố dinh dưỡng, tuổi và cân nặng, môi trường, hiểu biết về NKHHCT của các bà mẹ, tiêm chủng

- Yếu tố dinh dưỡng:

Trang 19

+ Các yếu tố dinh dưỡng có thể ảnh hưởng đến NKHHCT bao gồm: Tình trạng dinh dưỡng, sữa mẹ, nồng độ vitamin A và các vi chất dinh dưỡng khác Thiếu vitamin A làm giảm đáp ứng miễn dịch của cơ thể và giảm khả năng biệt hóa của các tổ chức biểu mô dễ gây sừng hóa niêm mạc, đặc biệt là niêm mạc đường hô hấp, do đó trẻ dễ mắc NKHHCT

Trẻ em suy dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng kém và dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn hơn các trẻ không bị suy dinh dưỡng Và nhiễm khuẩn lại là nguyên nhân chính gây suy dinh dưỡng Do đó, dinh dưỡng không hợp lý và nhiễm trùng là một vòng khép kín làm tăng tỉ lệ tử vong ở trẻ Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà về suy dinh dưỡng với NKHHCT kết luận rằng suy dinh dưỡng ở trẻ là yếu tố có nguy cơ cao gây NKHHCT Sau khi can thiệp vào vấn đề dinh dưỡng, số đợt mắc NKHHCT trung bình ở nhóm trẻ can thiệp đã giảm xuống 2,24 lần so với nhóm không được can thiệp [11]

+ Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, sữa mẹ có thể giúp trẻ tăng sức đề kháng, bảo vệ trẻ khỏi NKHHCT vì trong sữa mẹ có các chất kháng khuẩn và kháng virus, tế bào hoạt tính miễn dịch và các chất kích thích hệ thống miễn dịch của trẻ Nguy cơ tử vong do viêm phổi ở trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ cao hơn so với trẻ được nuôi bằng sữa mẹ Một nghiên cứu ở Brazin (1985) cho thấy: Nếu nguy cơ tương đối (RR) của tử vong do viêm phổi ở trẻ được nuôi bằng sữa mẹ là 1 thì ở trẻ được nuôi bằng sữa mẹ + sữa bò là 1,2 và trẻ chỉ được nuôi bằng sữa bò là 3,3

- Yếu tố tuổi và cân nặng:

Trẻ càng nhỏ càng dễ mắc bệnh do sức đề kháng còn non yếu Trẻ đẻ non, đẻ thiếu cân, suy dinh dưỡng có nguy cơ mắc bệnh, khi mắc thường rất nặng, dễ dẫn đến tử vong

Trẻ em có cân nặng sơ sinh thấp hoặc một số trường hợp giảm cân do viêm phổi hay tiêu chảy đều có nguy cơ vào viện gấp 2 lần khi so sánh với trẻ bình thường Điều này giải thích là do đáp ứng miễn dịch kém, chức năng

Trang 20

phổi bị tổn thương do đường kính của đường hô hấp trên nhỏ hơn và có khuynh hướng tắc nghẽn đường thở ngoại vi [11]

- Yếu tố môi trường:

Yếu tố nguy cơ môi trường thường được nghiên cứu nhiều nhất bao gồm phơi nhiễm với khói bếp, khói thuốc lá, khói bụi, nhà ở chật chội , đông đúc, phơi nhiễm với lạnh và ẩm ướt [11]

+ Ô nhiễm không khí: Không khí có nhiều khói bụi dễ gây bệnh Trong các hộ gia đình đặc biệt ở vùng nông thôn khói đun bếp rạ, bếp than, bếp củi cũng là nguy cơ làm tăng nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em, quá trình này ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ niêm mạc hô hấp, các lông rung, quá trình tiết chất nhầy globulin miễn dịch do đó trẻ dễ bị NKHHCT

Khói thuốc lá là một tác nhân nguy hiểm gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp vì trong khói thuốc có nhiều chất gây ô nhiễm tác động không tốt đến hệ hô hấp đặc biệt là khi hít phải khói thuốc thụ động Người ta đã phát hiện hơn 30 chất độc hại có trong khói thuốc, trong đó hai chất được biết đến rõ nhất là CO và Nicotin là những chất gây hại đến hô hấp, tim mạch

Mai Anh Tuấn (2008) khảo sát 552 trẻ dưới 5 tuổi ở các xã miền núi Bắc Cạn cho thấy nhóm trẻ sống trong các hộ gia đình có người lớn hút thuốc trong nhà có nguy cơ mắc NKHHCT cao hơn 1,39 lần nhóm trẻ sống trong gia đình không có người lớn hút thuốc trong nhà [14]

+ Chật chội, đông đúc: Điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, gia đình có đông người, nhà ở tối tăm, chật chội, điều kiện vệ sinh kém Ở các vùng đông dân

cư, các vùng đô thị, trường học, nhà trẻ là những nơi dễ lây lan bệnh.Yếu tố nhân khẩu cũng góp phần ảnh hưởng tới tình trạng NKHHCT ở trẻ: Gia đình

có từ 5 con trở lên có nguy cơ mắc NKHHCT cao hơn 2,47% gia đình có một con và 2,06 lần gia đình có 2 con (Bùi Đức Dương, Tô Anh Toán, 2001) + Phơi nhiễm với lạnh và ẩm ướt cũng là một yếu tố nguy cơ làm tăng NKHHCT ở trẻ Thời tiết khí hậu lạnh, đặc biệt là khi thời tiết thay đổi đột

Trang 21

ngột làm mất nhiệt độ trên da gây phản ứng co mạch, lần lượt là bàn chân, bàn tay, mặt, toàn thân Ở trẻ em, diện tích da so với cơ thể lớn hơn ở người lớn cho nên trẻ dễ bị nhiễm lạnh hơn, dẫn đến dễ bị NKHHCT Ở Việt Nam, qua nghiên cứu của Viện Lao và viện Phổi (1984) cho thấy trẻ dễ mắc bệnh không phải vào thời điểm lạnh nhất mà vào thời điểm giao mùa thời tiết là tháng 4, 5 và tháng 9,10 hàng năm Điều tra tại Tripura (Ấn Độ) cho thấy tử vong do viêm phổi cao một cách đáng kể vào những tháng mùa đông và có liên quan đến số trẻ sống trong nhà tạm, nền nhà chưa được lát (nền đất) và trẻ phải ngủ dưới nền nhà [17]

- Hiểu biết về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của mẹ:

Nghiên cứu của WHO đã chỉ ra rằng nếu bà mẹ biết dấu hiệu của viêm phổi và đưa đến cơ sở y tế kịp thời, đồng thời nếu trẻ được xử lý đúng thì sẽ giảm được tỉ lệ mắc và tử vong do viêm phổi ở trẻ [3] Nhưng phần lớn hiểu biết về các dấu hiệu, cách chăm sóc NKHHCT trẻ em của cộng đồng nói chung và bà mẹ có con dưới 5 tuổi nói riêng còn nhiều hạn chế Do đó, hầu hết trẻ được phát hiện bệnh và đưa đến cơ sở y tế khi tình trạng đã nặng

Vì thế cần đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khỏe về NKHHCT cho các bà mẹ đặc biệt là cách nhận biết các biểu hiện của viêm phổi và viêm phổi nặng

- Tiêm chủng:

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính hàng năm có khoảng 10 triệu trẻ em chết do 6 bệnh truyền nhiễm: Lao, ho gà, uốn ván, sởi, bại liệt Tình trạng tiêm chủng có ảnh hưởng rõ rệt tới tỉ lệ mắc NKHHCT Nghiên cứu của Mai Anh Tuấn (2008) cho biết các trẻ được tiêm chủng không đủ hoặc đủ nhưng không đúng lịch có nguy cơ mắc cao hơn hẳn (gấp 7,92 lần) các trẻ được tiêm chủng đủ và đúng lịch [14] Tiêm chủng là hoạt động quan trọng trong chiến lược chăm sóc sức khỏe trẻ em Trẻ được tiêm chủng đủ, đúng lịch sẽ tạo được miễn dịch bền vững cho trẻ chống lại 6 bệnh truyền

Trang 22

nhiễm nguy hiểm [8] Trẻ không được tiêm phòng đầy đủ hoặc đủ nhưng không đúng lịch sẽ không có kháng thể chống lại các bệnh truyền nhiễm và là các yếu tố làm gia tăng tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ nhỏ

1.2.4 Phân loại nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi

- Dựa trên tác nhân gây bệnh:

+ Do virus: Có tiên lượng khả quan, ngoại trừ một số bệnh nặng như viêm tiểu phế quản cấp, viêm phổi do adenovirus ở trẻ nhỏ, có thể dẫn đến tử vong, đa số các trường hợp này không cần đến kháng sinh

+ Do vi khuẩn: Phần lớn đều nguy hiểm và cần dùng đến kháng sinh Đặc biệt là viêm phổi do tụ cầu vàng, viêm nắp thanh quản do H.influenzae

- Dựa theo mức độ của bệnh:

+ Thể bệnh nhẹ:

Trẻ có các triệu chứng ho, hắt hơi, xổ mũi, khò khè Có thể sốt hoặc không (không có nhịp thở nhanh, không co rút lõm lồng ngực, không có dấu hiệu của bệnh nặng)

+ Thể vừa [22]

Trẻ có 2 triệu chứng: Ho, nhịp thở nhanh

Ngoài ra, trẻ có thể sốt hoặc không, không co rút lõm lồng ngực, không

có dấu hiệu của bệnh nặng

Muốn xác định nhịp thở nhanh phải dựa vào đếm nhịp thở Có 2 nguyên tắc đếm nhịp thở trẻ em:

Đếm khi trẻ yên tĩnh

Đếm trọn trong một phút

Cách đếm nhịp thở: Dùng đồng hồ có kim giây hoặc đồng hồ cát Đếm nhịp thở lúc trẻ nằm yên hoặc đang ngủ Quan sát lồng ngực và đếm nhịp thở trong vòng 1 phút

Ngưỡng nhịp thở nhanh theo tuổi:

- Trẻ < 2 tháng tuổi: Nhịp thở 60l/ phút trở lên

Trang 23

Đối với trẻ từ 2- 5 tháng tuổi

Thể viêm phổi nặng: Khi trẻ có 2 triệu chứng ho, rút lõm lồng ngực Ngoài ra có thể sốt, nhịp thở nhanh hoặc không

Thể bệnh rất nặng: Có thể do nhiều nguyên nhân gây nên, hoặc là hậu quả của nhiều bệnh, trong đó phần lớn là do nhiễm khuẩn đường hô hấp gây nên Trẻ được phân loại vào thể bệnh này khi có 1 trong các dấu hiệu sau: li

bì, khó đánh thức, co giật, không uống được, thở rít khi nằm yên, suy dinh dưỡng nặng

Đối với trẻ < 2 tháng tuổi

Thể viêm phổi nặng khi có hai dấu hiệu chính là: ho, nhịp thở nhanh hoặc rút lõm lồng ngực

Lứa tuổi này khác với trẻ từ 2 tháng – 5 tuổi chỉ cần nhịp thở nhanh đã phân loại là viêm phổi nặng

Thể bệnh rất nặng:

Khi có một trong các dấu hiệu sau: Bú kém hoặc bỏ bú, co giật, li bì khó đánh thức, khò khè, thở rít khi nằm yên, sốt cao hoặc hạ nhiệt độ

-Dựa trên vị trí giải phẫu học của tổn thương:

Người ta phân chia bộ máy hô hấp thành hai phần: đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới Ranh giới phân chia là nắp thanh quản Đoạn trên nắp thanh quản là đường hô hấp trên, đoạn dưới nắp thanh quản là đường hô hấp dưới [22]

Trang 24

+ NKHHCT trên (phần lớn trẻ mắc phải): Là viêm nhiễm vùng tai- mũi- họng, thường do virus, nếu chăm sóc tốt đa số bệnh sẽ tự khỏi Một số bệnh thường gặp:

 Viêm mũi họng cấp

 Viêm họng cấp và viêm họng- amidan cấp

 Viêm xoang cấp

 Viêm tai giữa cấp

+ NKHHCT dưới (ít gặp hơn nhưng thường là nặng và dễ tử vong) : Bao gồm những bệnh lý viêm nhiễm từ thanh quản trở xuống như:

 Viêm thanh quản do virus hoặc bạch cầu

 Viêm nắp thanh quản do H.influenzae

 Viêm thanh khí phế quản cấp

 Viêm phế quản cấp

 Viêm phổi các loại

 Viêm tiểu phế quản cấp

Trong đó, viêm phổi là nguyên nhân nhập viện và tử vong hàng đầu ở trẻ dưới 5 tuổi Vì vậy, trẻ cần được phát hiện sớm viêm phổi để được điều trị kịp thời tránh biến chứng và tử vong

1.2.5 Điều trị một số nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi

- Thể nhẹ:

+ Không cần dùng kháng sinh, chăm sóc tại nhà và điều trị triệu chứng cho trẻ

+ Ăn đủ chất, uống đủ nước

+ Thông thoáng mũi họng cho trẻ dễ thở

- Thể vừa và nặng:

Khi thấy trẻ ho, sốt cao > 38,50, nhịp thở nhanh, rút lõm lồng ngực, tím tái cần chuyển trẻ tới ngay cơ sở y tế gần nhất

Trang 25

Xử trí một trẻ từ 2- 5 tháng tuổi bị ho hoặc khó thở (theo phác đồ điều trị của WHO)

- Bệnh rất nặng:

+ Dấu hiệu:

Trẻ được xếp vào loại này nếu có 1 trong 5 dấu hiệu nguy kịch:

Trẻ không uống được hoặc bỏ bú

Gửi đi cấp cứu bệnh viện

Cho liều kháng sinh đầu trước khi gửi đi bệnh viện

Điều trị sốt (nếu có): Cho trẻ nằm thoáng mát; nới rộng quần áo, tã lót; cho trẻ uống nhiều nước; chườm mát

Trang 26

Cho liều kháng sinh đầu trước khi gửi đi bệnh viện

- Đảm bảo việc nuôi con bằng sữa mẹ:

Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, do đó việc đảm bảo cho trẻ được bú sữa mẹ ngay từ khi mới chào đời là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa quan trọng Đặc biệt, việc cho trẻ bú sớm để tận dụng lượng kháng thể rất cao có từ nguồn sữa non, giúp trẻ phòng chống một số nhiễm khuẩn ngay

từ khi mới ra đời- khi mà sức đề kháng của trẻ còn rất kém Hướng dẫn các bà

mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, bú mẹ theo nhu cầu và bú kéo dài cho đến 18 hoặc 24 tháng có thể lâu hơn giúp trẻ tiếp nhận đầy đủ dinh dưỡng từ sữa mẹ để phát triển tốt về thể chất, trí tuệ, tăng cường sức đề kháng

để chống lại bệnh tật

- Đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ trong thời kì ăn dặm:

Đúng nguyên tắc: Cho ăn từ ít đến nhiều, loãng đến đặc để trẻ thích nghi dần với thức ăn mới lạ

 Hợp lý về thời gian, về chế độ: Phải thực hiện cho trẻ ăn đầy đủ các thành phần như trong ô vuông thức ăn, thực hiện phương pháp tô màu bát bột

để trẻ được nuôi dưỡng một cách hợp lý, trẻ sẽ lớn nhanh, khỏe mạnh không

ốm đau, bệnh tật

- Đảm bảo vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sạch sẽ;

Không nên đun bếp gần phòng trẻ, hút thuốc lá trong phòng nuôi dưỡng

và chăm sóc trẻ; luôn giữ cho nhà cửa, lớp học thoáng mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông

Trang 27

Khí thải nhà máy cần được xử lí nghiêm ngặt trước khi thải ra môi trường, rác và nước thải sinh hoạt cần xử lí triệt để, không thải bừa bãi ra môi trường

- Giữ ấm:

Giữ ấm cho trẻ về mùa đông, khi thay đổi thời tiết để trẻ không bị nhiễm lạnh Về mùa hè nên để trẻ thoáng mát, tránh ra nhiều mồ hôi sẽ nhiễm lạnh trở lại Đó là yếu tố thuận lợi gây NKHHCT

- Phát hiện sớm và xử lý đúng các trường hợp mắc NKHCT theo phác đồ điều trị của WHO

- Tiêm chủng:

Đảm bảo tiêm chủng cho trẻ đầy đủ và đúng lịch để phòng những bệnh truyền nhiễm nhất là các bệnh lây qua đường hô hấp nhằm giảm tỉ lệ mắc bệnh đồng thời giảm tỉ lệ tử vong do các bệnh đường hô hấp gây nên

- Tuyên truyền giáo dục:

+ Tuyên truyền, giáo dục cho các bà mẹ và cộng đồng một cách thường xuyên, liên tục cách phát hiện sớm trẻ bị NKHHCT để đưa đi khám và có những xử lý, chăm sóc kịp thời Đào tạo, huấn luyện cho cán bộ y tế nhất là cán bộ y tế tham gia công tác khám và chữa bệnh về đánh giá, phân loại và xử

lý đúng theo phác đồ NKHHCT tại địa phương, tính ra tỉ lệ % và báo cáo hoạt động hàng tháng

+ Hướng dẫn các bà mẹ cách chăm sóc trẻ tại nhà khi trẻ mắc NKHHCT

Chăm sóc trẻ dưới 2 tháng- 5 tuổi:

Nuôi dưỡng:

Cho trẻ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, bồi dưỡng hơn khi ốm

Cho trẻ uống nhiều nước

Giảm ho, làm dịu đau họng bằng thuốc đông y

Lau sạch làm thông mũi

Trang 28

Đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay khi có các dấu hiệu: thở nhanh hơn, khó thở hơn, không uống được nước, trẻ mệt hơn

Chăm sóc trẻ dưới 2 tháng tuổi:

Cho bú mẹ nhiều hơn

Lau sạch làm thông mũi

Giữ ấm cho trẻ nhất là mùa lạnh

Theo dõi và đưa đến cơ sở y tế khi thấy các dấu hiệu: thở nhanh hơn, khó thở hơn, bú kém hơn, trẻ mệt hơn

1.3 Khái quát về phường Phúc Thắng

- Vị trí, địa lý:

Phúc Thắng là một phường thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi

có đường quốc lộ 2 chạy qua, gần trục đường xuyên á Hà Nội- Lào Cai Đây

là một phường có nhiều nhà máy, xí nghiệp đóng trên địa bàn, với diện tích đất tự nhiên khoảng 6,37 km2

trong đó có khoảng 531,593 ha diện tích đất trồng lúa, hoa màu và cây trồng khác Phường có tổng số dân khoảng 8800 người, hơn 2000 hộ dân (2008), và 13 tổ dân phố nằm tách biệt nhau

- Đặc điểm khí hậu:

Phường nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình

23o C, có nét đặc trưng là nóng ẩm, mưa nhiều vào mùa hè, hanh khô và lạnh kéo dài vào mùa đông thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

Tuy nhiên, vào thời điểm giao mùa thời tiết giữa lạnh khô và nóng ẩm là điều kiện thuận lợi để dịch bệnh phát triển, đặc biệt là các bệnh về đường hô hấp gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của mọi người nhất là trẻ nhỏ

- Về kinh tế:

Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 là khoảng 11 triệu/ người/ năm, năm 2015 khoảng 23 triệu/ người/ năm, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010- 2015 đạt 7%/ năm

Ngày đăng: 13/03/2017, 20:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ y tế (2006), Hội thảo định hướng xây dựng kế hoạch hoạt động 2006 và giai đoạn 2006-2010, Dự án NKHHCT trẻ em, tr 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo định hướng xây dựng kế hoạch hoạt động 2006 và giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2006
5. Bệnh viện Lao và bệnh viện Phổi Trung ương- Dự án NKHHCT trẻ em (2007), Hội thảo triển khai kế hoạch hoạt động dự án NKHHCT trẻ em các tỉnh trọng điểm 2007 và giai đoạn 2007- 2010, Bệnh viện Lao và Bệnh viện Phổi Trung ương, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo triển khai kế hoạch hoạt động dự án NKHHCT trẻ em các tỉnh trọng điểm 2007 và giai đoạn 2007- 2010
Tác giả: Bệnh viện Lao và bệnh viện Phổi Trung ương- Dự án NKHHCT trẻ em
Năm: 2007
7. Dự án NKHHCT ở trẻ em (2006), “Hội thảo định hướng xây dựng kế hoạch hoạt động”, Bộ Y tế, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo định hướng xây dựng kế hoạch hoạt động
Tác giả: Dự án NKHHCT ở trẻ em
Năm: 2006
8. Đại học Thái Nguyên, trường Đai học Y khoa (2007), “Thực trạng sức khỏe trre em Việt Nam. Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trẻ em”, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em, tài liệu sau Đại học, NXB Y học, tr3-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sức khỏe trre em Việt Nam. Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trẻ em"”, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em
Tác giả: Đại học Thái Nguyên, trường Đai học Y khoa
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2007
10. Hà Trung Điền (2002), Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 1 tuổi tại cộng đồng và tác động của truyền thông giáo dục sức khỏe, Luận án tiến sĩ y học, tr.26-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 1 tuổi tại cộng đồng và tác động của truyền thông giáo dục sức khỏe, Luận án tiến sĩ y học
Tác giả: Hà Trung Điền
Năm: 2002
11. Nguyễn Thanh Hà (2002), “Nguy cơ dinh dưỡng liên quan đến NKHHCT ở trẻ em dưới 1 tuổi và một số giải pháp can thiệp”, Luận án tiến sĩ y học, tr.28, 50- 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguy cơ dinh dưỡng liên quan đến NKHHCT ở trẻ em dưới 1 tuổi và một số giải pháp can thiệp”, "Luận án tiến sĩ y học
Tác giả: Nguyễn Thanh Hà
Năm: 2002
12. Lê Thị Mai Hoa (2010), Giáo trình “Bệnh học trẻ em”, nxb Đại học Sư Phạm, tr.64-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học trẻ em
Tác giả: Lê Thị Mai Hoa
Nhà XB: nxb Đại học Sư Phạm
Năm: 2010
13. Lê Thị Mai Hoa - Trần Văn Dần (2009), Giáo trình “Phòng bệnh và đảm bảo an toàn cho trẻ Mầm non”, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng bệnh và đảm bảo an toàn cho trẻ Mầm non
Tác giả: Lê Thị Mai Hoa - Trần Văn Dần
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
14. Nguyễn Đình Học và CS (2006), “Đặc điểm lâm sàng của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi và giá trị của xét nghiệm CRP trong xác định căn nguyên vi khuẩn”, Tạp chí y học thực hành, (4), tr.185 - 191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi và giá trị của xét nghiệm CRP trong xác định căn nguyên vi khuẩn
Tác giả: Nguyễn Đình Học và CS
Năm: 2006
15. Phạm Thị Minh Hồng (2004), “Đặc điểm lâm sàng và vi sinh trong NKHHCT trẻ em dưới 2 tuổi”. Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập 8, Phụ bản số 1, tr.116-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng và vi sinh trong NKHHCT trẻ em dưới 2 tuổi
Tác giả: Phạm Thị Minh Hồng
Năm: 2004
16. Luận văn: “Thực trạng một số yếu tố nguy cơ về NKHHCT của trẻ &lt; 5 tuổi tại một số xã miền núi tỉnh Bắc Cạn”, Mai Anh Tuấn, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng một số yếu tố nguy cơ về NKHHCT của trẻ < 5 tuổi tại một số xã miền núi tỉnh Bắc Cạn
17. Nguyễn Thu Nhạn (2001), “Nghiên cứu thực trạng sức khỏe và mô hình bệnh tật trẻ em Việt Nam, đề xuất các biện pháp khắc phục”, Đề tài khoa học cấp nhà nước, Bộ khoa học Công nghệ môi trường. NXB Bộ y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng sức khỏe và mô hình bệnh tật trẻ em Việt Nam, đề xuất các biện pháp khắc phục”, "Đề tài khoa học cấp nhà nước, Bộ khoa học Công nghệ môi trường
Tác giả: Nguyễn Thu Nhạn
Nhà XB: NXB Bộ y tế
Năm: 2001
18. Nguyễn Thu Nhạn và CS (2007), “Tình hình bệnh tật trẻ em tại bệnh viện qua khảo sát 20 bệnh viện tại Việt Nam”, Tạp chí Y học Việt Nam số 3-2007, tr 27-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh tật trẻ em tại bệnh viện qua khảo sát 20 bệnh viện tại Việt Nam”, "Tạp chí Y học Việt Nam số 3-2007
Tác giả: Nguyễn Thu Nhạn và CS
Năm: 2007
20. Trần Quỵ, “Đặc điểm giải phẫu sinh lý bộ phận hô hấp trẻ em”, Bài giảng Nhi khoa tập 1, NXB Y học Hà Nội, tr.274 – 279 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm giải phẫu sinh lý bộ phận hô hấp trẻ em
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
21. Trần Quỵ (2003), “Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính”, Bài giảng Nhị khoa tập 1, NXB y học HN, tr231-329 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
Tác giả: Trần Quỵ
Nhà XB: NXB y học HN
Năm: 2003
1. Bộ Y tế - Dự án NKHHCT trẻ em (2006), Hội thảo định hướng xây dựng kế hoạch hoạt động, Bộ Y tế, HN Khác
2. Bộ Y tế - Viện dinh dưỡng- Dự án Fao: GCP/ VIE/ 018/ FRA (1998), Hướng dẫn đánh giá tình hình dinh dưỡng và thực phẩm ở một cộng đồng, nxb Y học HN Khác
4. Bộ Y tế (2007), Niên giám thống kê y tế, Xưởng in Tin học và Đời sống, HN Khác
6. Chương trình phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, Bộ Y tế, 1984 Khác
9. Đại hội Đại biểu Đảng bộ phường Phúc Thắng, lần thứ 23, nhiệm kỳ 2015- 2020 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w