Nhận thấy tầm quan trọng trong việc dự đoán sự biến động trong tỷ giá hối đoái tại Việt Nam, cùng với một phương pháp nghiên cứu vượt trội hơn so với trước đây khi không giả định sự thay
Trang 1- -
TÁC ĐỘNG BẤT CÂN XỨNG CỦA CÁC CÚ SỐC
TP.H ồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 2- -
TÁC ĐỘNG BẤT CÂN XỨNG CỦA CÁC CÚ SỐC
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng đề tài “TÁC ĐỘNG BẤT CÂN XỨNG CỦA CÁC CÚ
S ỐC THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM” là
công trình nghiên cứu độc lập của tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần
Ngọc Thơ Các nội dung và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào Tất cả các tài liệu tham khảo được sử dụng trong
luận văn này đều được trích dẫn đầy đủ và rõ ràng
TP.HCM, ngày 19 tháng 10 năm 2015
Tác gi ả luận văn
Nguy ễn Tiến Dũng
Trang 4Ụ BÌA
L ỜI CAM ĐOAN1
M ỤC LỤC4
DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT7
DANH M ỤC BẢNG BIỂU8
DANH M ỤC HÌNH VẼ9
TÓM T ẮT 1
CH ƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 2
1.1 Lý do chọn đề tài: 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu: 4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu: 5
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: 5
1.6 Kết cấu của luận văn: 6
CH ƯƠNG 2 NỀN TẢNG NGHIÊN CỨU 7
2.1 Cú sốc giá dầu và tỷ giá hối đoái: 7
2.1.1 Tổng kết lý thuyết: 7
2.1.2 Bằng chứng thực nghiệm: 9
2.2 Tác động bất cân xứng về dấu của cú sốc giá dầu: 16
CH ƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Dữ liệu nghiên cứu: 21
Trang 53.2.2 Kiểm định tính dừng: 24
3.2.3 Phân tách các cú sốc thị trường dầu thô bằng mô hình SVAR: 24
3.2.4 Kiểm định tác động bất cân xứng của các cú sốc thị trường dầu thô đến tỷ giá hối đoái: 26
3.2.5 Kiểm định phản ứng bất đối xứng của tỷ giá hối đoái với sự khác biệt về dấu của từng loại cú sốc thị trường dầu thô: 27
CH ƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
4.1 Thống kê mô tả các biến: 30
4.2 Kiểm định tính dừng: 31
4.3 Phân tách các cú sốc thị trường dầu thô bằng mô hình SVAR: 37
4.3.1 Lựa chọn độ trễ: 37
4.3.2 Kết quả từ mô hình SVAR: 38
4.3.3 Kiểm tra tính phù hợp của mô hình: 41
4.4 Lập luận về giả định ngoại sinh của các cú sốc thị trường dầu: 43
4.5 Hàm phản ứng xung dồn tích (CIRF): 47
4.6 Kiểm định tác động của các cú sốc thị trường dầu thô đến tỷ giá hối đoái: 48
4.6.1 Kết quả phân tích hàm phản ứng xung dồn tích (CIRF): 48
4.6.2 Kiểm tra tính phù hợp của các mô hình: 52
4.7 Kiểm định phản ứng bất đối xứng của tỷ giá hối đoái với sự khác biệt về dấu của từng loại cú sốc thị trường dầu thô: 54
4.7.1 Kết quả phân tích hàm phản ứng xung dồn tích (CIRF): 54
Trang 65.1 Kết luận chung: 60
5.2 Hạn chế của luận văn: 61
5.3 Gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo: 62
TÀI LI ỆU THAM KHẢO i
PH Ụ LỤC v
Phụ lục 1: Kết quả kiểm định tính dừng của các biến: v
Phụ lục 2: Kết quả mô hình SVAR – Phương trình (1) x
Phụ lục 3: Kết quả mô hình VAR – Phương trình (3) xi
Phụ lục 4: Kết quả mô hình VAR – Phương trình (4) xii
Phụ lục 5: Kết quả mô hình VAR – Phương trình (5) xiii
Phụ lục 6: Kết quả mô hình VAR – Phương trình (6) xv
Phụ lục 7: Kết quả mô hình VAR – Phương trình (7) và kiểm tra tính phù hợp xvii
Phụ lục 8: Kết quả mô hình VAR – Phương trình (8) và kiểm tra tính phù hợp xviii
Phụ lục 9: Kết quả tương quan cho giả định ngoại sinh trong Mô hình (7) và (8) xix
Trang 7ADF Augmented Dickey-Fuller
CIRF Cumulative Impulse Response Function
EIA U.S Energy Information Administration
IMF International Monetary Fund
LM Lagrange Multiplier
NEER Nominal Effective Exchange Rate
OPEC Organization of Petroleum Exporting Countries REER Real Effective Exchange Rate
SVAR Structural Vector Autoregressive model
VAR Vector Autoregressive model
Trang 8Bảng 2.1 Tình hình xuất khẩu dầu và nhập khẩu các sản phẩm dầu mỏ tại một số quốc
gia 15
Bảng 2.2 Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm 18
Bảng 3.1 Biến nghiên cứu 23
Bảng 4.1 Thống kê mô tả 30
Bảng 4.2 Tổng hợp kết quả kiểm định nghiệm đơn vị (1) 31
Bảng 4.3 Tổng hợp kết quả kiểm định nghiệm đơn vị (2) 34
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định LM đối với mô hình (1) 41
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định LM lần lượt đối với mô hình (3) và (4) 52
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định LM lần lượt đối với mô hình (5) và (6) 58
Trang 9Hình 1.1 Cơ cấu sử dụng năng lượng của thế giới từ 1989 đến 2014 2
Hình 4.1 Đồ thị biểu diễn dữ liệu chuỗi thời gian của các biến 37
Hình 4.2 Kết quả ma trận ràng buộc của mô hình SVAR 38
Hình 4.3 Diễn tiến cú sốc cung dầu theo thời gian 38
Hình 4.4 Diễn tiến cú sốc tổng cầu toàn cầu theo thời gian 39
Hình 4.5 Diễn tiến cú sốc cầu dầu theo thời gian 40
Hình 4.6 Kết quả kiểm định tính ổn định đối với mô hình (1) 42
Hình 4.7 Kết quả ma trận tương quan Pearson 44
Hình 4.8 Cơ cấu tiêu thụ năng lượng của Việt Nam từ năm 1994-2014 45
Hình 4.9 Khối lượng tiêu thụ dầu của Việt Nam từ năm 1994-2014 46
Hình 4.10 Tỉ trọng xuất nhập khẩu dầu của Việt Nam so với thế giới từ 1994-2012 47
Hình 4.11 Kết quả phản ứng của tỷ giá hối đoái đối với cú sốc cung dầu 49
Hình 4.12 Kết quả phản ứng của tỷ giá hối đoái đối với cú sốc tổng cầu toàn cầu 50
Hình 4.13 Kết quả phản ứng của tỷ giá hối đoái đối với cú sốc cầu dầu 51
Hình 4.14 Kết quả kiểm định tính ổn định lần lượt đối với mô hình (3) và (4) 53
Hình 4.15 Kết quả phản ứng của tỷ giá hối đoái đối với cú sốc cung dầu dương (phía trên) và âm (phía dưới) 54
Hình 4.16 Kết quả phản ứng của tỷ giá hối đoái đối vớicú sốc tổng cầu toàn cầu dương (phía trên) và âm (phía dưới) 55
Hình 4.17 Kết quả phản ứng của tỷ giá hối đoái đối với cú sốc cầu cầu dương (phía trên) và âm (phía dưới) 56
Hình 4.18 Kết quả kiểm định tính ổn định lần lượt đối với mô hình (5) và (6) 59
Trang 10TÓM T ẮT
Luận văn này tập trung nghiên cứu tác động bất cân xứng của các cú sốc thị trường
dầu đến tỷ giá hối đoái của Việt Nam Với giai đoạn nghiên cứu được thực hiện từ tháng 09/1994 đến tháng 12/2014, tác giả sử dụng phương pháp SVAR để phân tách các cú sốc thị trường dầu thành các cú sốc phía cung và phía cầu riêng biệt, sau đó sử
dụng hàm phản ứng xung dồn tích (CIRF) có được mô hình VAR để trình bày và diễn
giải các bằng chứng thực nghiệm Kết quả cho thấy cú sốc cầu dầu tác động nghịch chiều và có ý nghĩa thống kê đế tỷ giá hối đoái, trong khi tác động của cú sốc cung dầu
và cú sốc tổng cầu toàn cầu thì không Điều này thể hiện sự bất cân xứng trong tác động của các cú sốc thị trường dầu Ngoài ra, tác giả còn cho thấy cú sốc cung dầu âm
và cú sốc cầu dầu dương tác động nghịch chiều và có ý nghĩa thống kê đến tỷ giá hối đoái, trong khi các cú sốc trái dấu tương tự thì không Điều này làm bằng chứng cho tác động bất cân xứng về dấu của hai loại cú sốc này
T ừ khóa:cú sốc giá dầu, tỷ giá hối đoái, mô hình VAR
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Lý do ch ọn đề tài:
Dầu thô là một trong các loại năng lượng quan trọng nhất trong xã hội hiện đại Dầu thô chủ yếu dùng để sản xuất dầu hỏa, diezen và xăng nhiên liệu Ngoài ra, dầu thô còn
là nguyên liệu chủ yếu để sản xuất các sản phẩm của ngành hóa dầu như dung môi, phân bón hóa học, nhựa, thuốc trừ sâu… Theo BP (2015) – Báo cáo Thống kê về Năng lượng thế giới của hãng BP, cho đến nay, dầu vẫn là nguồn năng lượng trọng yếu của
thế giới:
Hình1.1 Cơ cấu sử dụng năng lượng của thế giới từ 1989 đến 2014
Hình 1.1 cho thấy dầu chiếm tỉ trọng lớn nhất trong sử dụng năng lượng của thế giới xuyên suốt trong giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2014 Tại năm 2014, dầu chiếm
Trang 1232,57%, than đá chiếm 30,03%, khí gas tự nhiên chiếm 23,71%, năng lượng thủy điện chiếm 6,80%, năng lượng hạt nhân chiếm 4,44% và năng lượng có thể tái tạo chiếm 2,45% Do sự phụ thuộc lớn vào dầu nên nó trở thành một yếu tố quyết định đến hoạt động kinh tế toàn cầu và giá dầu có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới nói chung
và các quốc gia lệ thuộc vào loại năng lượng này nói riêng.Chính vì thế, đã có rất nhiều nghiên cứu kiểm định tác động của cú sốc dầu đến các biến vĩ mô
Tiên phong trong chủ đề này là Hamilton (1983) khi cung cấp bằng chứng có ý nghĩa thống kê về việc giá dầu tăng là yếu tố góp phần làm suy thoái kinh tế của Mỹ trong giai đoạn 1948 – 1972, trong đó thay đổi trong giá dầu có thể được xem là ngoại sinh đối với nền kinh tế Mỹ Sau đó, có nhiều nghiên cứu cung cấp thêm các bằng
chứng tương tự về tác động của cú sốc dầu tới các biến khác như là GDP (Hamilton, 2003; Kilianvà Vigfusson, 2012), lạm phát (Kilian, 2008a; Kilian, 2008b); lãi suất (Cunado, 2015); thâm hụt tài khoản vãng lai (Van Wijnbergen, 1985); cán cân thương
mại và tỷ giá thương mại (Backus và Crucini, 2000); tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán (Kilian và Park, 2009; Kang và cộng sự, 2015)
Có thể thấy rằng, cú sốc dầu cũng có thể tác động đến tỷ giá hối đoái.Có thể kể đến
một số nghiên cứu về tác động của giá dầu đến tỷ giá hối đoái như Huang và Gou (2007), Ghosh (2011),Narayan (2013)… Tuy nhiên, các nghiên cứu này đều giả định giá dầu là ngoại sinh Atems và cộng sự (2015) cho rằng một hạn chế của các nghiên
cứu trước đây về mối quan hệ giữa cú sốc dầu và tỷ giá hối đoái là khi họ xem giá dầu
là ngoại sinh,nguyên do là các phản ứng được kỳ vọng của tỷ giá hối đoái sẽ khác nhau tùy thuộc vào việc giá dầu thay đổi là do cung dầu hay cầu dầu Do đó, Atems và cộng
sự (2015) đã dựa trên phương pháp của Kilian (2009) để phân rã các cú sốc thị trường
dầu thành các cú sốc phía cung và phía cầu để mô tả sự nội sinh của giá dầu, từ đó
kiểm tra các phản ứng khác nhau của tỷ giá hối đoái đối với các cú sốc này
Trang 13Nhận thấy tầm quan trọng trong việc dự đoán sự biến động trong tỷ giá hối đoái tại
Việt Nam, cùng với một phương pháp nghiên cứu vượt trội hơn so với trước đây khi không giả định sự thay đổi của giá dầu là ngoại sinh, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài:
“Tác động bất cân xứng của các cú sốc thị trường dầu thô đến tỷ giá hối đoái của
Vi ệt Nam” trong giai đoạn 09/1994 – 12/2014 cho Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của mình 1.2 M ục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn bao gồm 2 mục tiêu:
(1) Kiểm định tác động bất cân xứng của các cú sốc thị trường dầu đến tỷ giá hối đoái
của Việt Nam
(2) Kiểm định tác động bất cân xứng về dấu của từng cú sốc thị trường dầu đến tỷ giá
hối đoái của Việt Nam
Từ đó, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
(1) Liệu các cú sốc thị trường dầu có tác động đến tỷ giá hối đoái của Việt Nam hay không? Và nếu có thì các tác động này có khác nhau tùy thuộc vào loại cú sốc thị trường dầu hay không?
(2) Khi xem xét riêng rẽ từng loại cú sốc thị trường dầu, thì liệu cú sốc dương và cú
sốc âm của cùng một loại cú sốc có tác động khác nhau đến tỷ giá hối đoái của Việt Nam hay không?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: các loại cú sốc thị trường dầu, tỷ giá hối đoái
đa phương
Trang 14Phạm vi nghiên cứu của luận văn: nghiên cứu trong phạm vi nước Việt Nam, tập dữ
liệu có kỳ quan sát theo tháng và được lấy trong khoảng thời gian từ tháng 09/1994 đến tháng 12/2014
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Để trả lời cho hai câu hỏi nghiên cứu và thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn đưa vào mô hình nghiên cứu các biến sau: sản lượng dầu thô thế giới (pro), chỉ số
hoạt động kinh tế thực thế giới (rea), giá dầu thô thực (price), tỷ giá hối đoái đa phương
thực (reer) và danh nghĩa (neer)
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để kiểm định tác động của các
cú sốc thị trường dầu đến tỷ giá hối đoái của Việt Nam: thực hiện kiểm định tính dừng;
thực hiện một số phương pháp chuyển đổi biến;sử dụng mô hình SVAR để phân tách các cú sốc thị trường dầu; sử dụng mô hình VAR để kiểm định các tác động nêu trên;
thực hiện kiểm tra tự tương quan và tính ổn định của mô hình SVAR và VAR để kiểm định sự phù hợp của các mô hình này Tác giả sử dụng phần mềm Stata 13.1 (Windows) để hỗ trợ cho việc nghiên cứu
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Luận văn đã cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về tác động bất cân xứng giữa các cú sốc thị trường dầu đến tỷ giá hối đoái của Việt Nam Ngoài ra, luận văn còn tìm
thấy tác động bất cân xứng về dấu của cú sốc cung dầu và cú sốc cầu dầu đến tỷ giá hối đoái của Việt Nam
Đề tài nghiên cứu này vẫn còn khá mới mẻ và chưa từng có nghiên cứu thực nghiệm
tại Việt Nam trước đây Trong quá trình diễn giải kết quả từ ước lượng mô hình, đề tài
đã đưa ra hàm ý về sự tác động của thay đổi trong giá dầu đến tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào loại cú sốc nguồn
Trang 151.6 K ết cấu của luận văn:
Luận văn được trình bày theo thứ tự bao gồm:danh mục các từ viết tắt, danh mục
bảng biểu, danh mục hình, tóm tắt, nội dung chính, tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dung chính của luận văn được chia thành 5 chương như sau:
Chương 1 Giới thiệu
Chương 2 Nền tảng nghiên cứu
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu
Chương 5 Kết luận
Trang 16CHƯƠNG 2 NỀN TẢNG NGHIÊN CỨU 2.1 Cú s ốc giá dầu và tỷ giá hối đoái:
2.1.1 T ổng kết lý thuyết:
Từ góc độ lý thuyết, cú sốc dầu có thể được truyền dẫn tới tỷ giá thông qua nhiều kênh khác nhau như: tỷ giá thương mại, hiệu ứng tài sản, cán cân thương mại và tái phân bổ danh mục đầu tư (Atems và cộng sự, 2015)
Một số nghiên cứu đã xây dựng các mô hình lý thuyết về việc xác định chiều hướng
và cách thức tác động của giá dầu đến tỷ giá hối đoái, có thể kể đến như là Krugman (1983)và Golub (1983) Hai tác giả này phát triển các mô hình ba quốc gia (hai quốc
nhập khẩu dầu và một quốc gia xuất khẩu dầu) để phân tích cách mà giá dầu ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái giữa đồng USD với đồng Mark
Krugman (1983) xây dựng mô hình gồm ba quốc gia Mỹ, Đức và OPEC Trong đó,
Mỹ và Đức xuất khẩu hàng hóa sản xuất cho OPEC và cho nhau, còn OPEC chỉ xuất
khẩu dầu, giá các mặt hàng này giả định là bằng USD Từ các phân tích và lập luận của mình, tác giả đi đến kết quả là tác động của giá dầu tăng đến tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào ba tham số chính:tỉ trọng đồng Mark trong danh mục đầu tư của OPEC (𝛼𝛼);tỉ trọng hàng hóa của Đức trong nhập khẩu của OPEC (𝛾𝛾); và tỉ trọng của Đức trong xuất khẩu
dầu của OPEC (𝜎𝜎) Trong đó, tác động ngắn hạn tùy thuộc vào việc liệu 𝜎𝜎 lớn hơn hay
nhỏ hơn 𝛼𝛼; còn tác động dài hạn phụ thuộc vào việc liệu 𝛾𝛾 lớn hơn hay nhỏ hơn 𝜎𝜎 Điều này được Krugman lý giải như sau: vì OPEC chi tiêu trễ hơn so với nhận được thu nhập, giá dầu tăng ban đầu làm nước công nghiệp tăng hóa đơn nhập khẩu mà chưa tăng xuất khẩu tương ứng Tuy nhiên, trong lúc tài khoản vãng lai của Mỹ và Đức đang thâm hụt đi, thì có một sự cải thiện trong tài khoản vốn do OPEC đầu tư thặng dư thương mại của nó vào đồng USD và đồng Mark Ảnh hưởng ròng đến USD tích cực hay tiêu cực là tùy thuộc vào việc liệu OPEC đầu tư vào đồng USD nhiều hơn hay ít
Trang 17hơn tỉ trọng của Mỹ trong thâm hụt tài khoản vãng lai của nhóm nước công nghiệp Tuy nhiên, theo thời gian, chi tiêu của OPEC tăng khớp với thu nhập và làm giảm tốc
độ mua tài sản ngoại Do đó, ảnh hưởng của giá dầu tăng đến cán cân thanh toán phụ thuộc ít dần vào sở thích nắm giữ tài sản, và phụ thuộc tăng dần vào sở thích hàng hóa
của OPEC Trong dài hạn, OPEC ngưng đầu tư ra nước ngoài, khi đó vấn đề chỉ còn là
so sánh trong tỉ trọng nhập khẩu và xuất khẩu.Giả sử OPEC thích đầu tư vào đồng USD và thích hàng hóa Đức thì 𝛾𝛾 > 𝜎𝜎 > 𝛼𝛼 Khi đó, giá dầu tăng sẽ làmđồng USD tăng giá trong ngắn hạn nhưng giảm giá trong dài hạn
Golub (1983) cũng xây dựng một mô hình gồm ba quốc gia Mỹ, châu Âu và OPEC Tương tự với Krugman (1983), Golub cũng tập trung vào sở thích đầu tư của OPEC, phân tích tác động của giá dầu tăng đến tỷ giá hối đoái thông qua sự tái phân bổ tài sản Theo đó, sự gia tăng trong giá dầu làm tài khoản vãng lai của OPEC thặng dư và tài khoản vãng lai ở các quốc gia nhập khẩu dầu thâm hụt Giả sử, OPEC có xu hướng thích nắm giữ đồng Mark hơn là đồng USD trong danh mục đầu tư, thì sự tái phân bổ tài sản xảy ra theo hướng cầu đồng Mark tăng (và cung đồng USD tăng) Do đó, đồng Mark tăng giá so với đồng USD, làm tăng tỉ trọng của đồng Mark trong tài sản thế giới,
từ đó tái lập lại trạng thái cân bằng danh mục đầu tư
Nhìn chung, hai tác giả trên lập luận rằng giá dầu tăng sẽ làm tài sản chuyển giao từ
quốc gia nhập khẩu dầu sang quốc gia xuất khẩu dầu, dẫn đến thay đổi tài khoản vãng lai và tái phân bổ danh mục đầu tư Vì vậy, sự tăng giá dầu có thể sẽ làm cho đồng tiền
của nước nhập khẩu dầu giảm giá và đồng tiền của nước xuất khẩu dầu tăng giá
Tuy nhiên, nếu nước nhập khẩu dầu có tỉ trọng nhập khẩu từ nước xuất khẩu dầu
nhỏ hơn tỉ trọng xuất khẩu cho nước xuất khẩu dầu đó thì sự chuyển giao tài sản từ nước nhập khẩu dầu sang nước xuất khẩu dầu sẽ cải thiện cán cân thương mại của nước
nhập khẩu dầu, nghĩa là tác động dài hạn của giá dầu tăng có thể sẽ làm đồng tiền của nước nhập khẩu dầu này tăng giá (Narayan, 2013)
Trang 182.1.2 B ằng chứng thực nghiệm:
Khá nhiều các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của giá dầu đến tỷ giá hối đoái
Và thông thường, các nghiên cứu này có xem xét hai vấn đề: (1) quốc gia đang xét là
quốc gia nhập khẩu dầu ròng hay là quốc gia xuất khẩu dầu ròng; (2) chế độ tỷ giá hối đoái của quốc gia đang xét là gì (thả nổi hoàn toàn, thả nổi có quản lý hay cố định) Để
có cái nhìn tổng quan, tác giả sẽ trình bày hầu hết các kết hợp hai vấn đề trên qua một
số nghiên cứu thực nghiệm dưới đây:
Huang và Gou (2007) kiểm định tác động của cú sốc giá dầu và các cú sốc vĩ mô
của China (cú sốc tổng cung, tổng cầu, tiền tệ) đến tỷ giá hối đoái thực của China bằng cách xây dựng một mô hình SVAR Tập dữ liệu được thu thập từ 01/1990 đến 10/2005,
kỳ quan sát theo tháng.Từ tháng 07/2005, China đã bãi bỏ chế độ neo tỷ giá cố định theo đồng USD trong khoảng 11 năm trước đó (từ 1994 đến 2005) và áp dụng chế độ
dải băng tỷ giá, cho phép tỷ giá đối với một rổ ngoại tệ của các quốc gia giao thương chính (bao gồm US, Euro, Japan, Korea, Singapore, UK, Malaysia, Russia, Australia) dao động trong biên độ rất hẹp.Đối với sự gia tăng nhu cầu nhập khẩu dầu, bằng chứng
thực nghiệm cho rằng cú sốc giá dầu thực làm tăng nhẹ tỷ giá hối đoái thực trong dài
hạn Điều này được các tác giả giải thích là do sự phụ thuộc vào nhập khẩu dầu của China ít hơn các đối tác giao thương trong rổ tiền tệ được neo theo và do tồn tại sự không đồng nhất giữa giá dầu thực nội địa với các thị trường thế giới Một kết quả khác
của hai tác giả này đã củng cố lý thuyết về phản ứng của tỷ giá hối đoái thực đối với các cú sốc, đó là cú sốc cung thực dương sẽ làm đồng RMB giảm giá, trong khi cú sốc
cầu thực dương lại làm đồng RMB tăng giá Ngoài ra, phân tich phân rã phương sai chỉ
ra rằng cú sốc cầu thực có ảnh hưởng quan trọng và vững chắc nhất đến sự thay đổi của
tỷ giá hối đoái Trong khi đó, việc kiểm soát vốn tương đối chặt chẽ làm giới hạn vai trò của cú sốc tiền tệ trong China
Trang 19Narayan và c ộng sự (2008) kiểm định tác động của giá dầu bằng đồng USD đến tỷ
giá hối đoái danh nghĩa giữa đồng Fijian và đồng USD Chế độ tỷ giá hối đoái của Fiji
là neo nội tệ với một rổ ngoại tệ của các quốc gia giao thương chính là Australia, Newzealand, US, UK, Germany và Japan.Bài nghiên cứu sử dụng mô hình GARCH, EGARCH và được thực hiện trong giai đoạn 2000 – 2006, kỳ quan sát theo ngày Họ
biến đổi giá dầu và tỷ giá hối đoái danh nghĩa dưới dạng tỷ suất (giá trị của kỳ này chia cho kỳ trước đó) do không có dữ liệu CPI theo ngày Việc quan sát diễn tiến của giá
dầu và tỷ giá hối đoái theo họ thì không đòi hỏi thông tin về giá trị thực Kết quả chính
của họ là giá dầu tăng làm tăng giá đồng Fijian, cụ thể là nếu giá dầu tăng 10% sẽ làm cho đồng Fijian tăng 0,2% giá trị Ngân hàng Trung ương của Fiji (RBF) đã tăng lãi
suất để phản ứng với sự dao động của giá dầu: tháng 10/2005, tăng lãi suất chính thức
và gần 06 tháng sau (24/02/2006) tiếp tục tăng lãi suất từ 2,25% lên 4,25% Trong giai đoạn này, lạm phát đã tăng từ 3% lên 6% và thâm hụt tài khoản vãng lai (một phần là
do giá dầu tăng) đã tăng lên khoảng 13% trên GDP
Ghosh (2011) cũng dùng mô hình GARCH và EGARCH để kiểm định mối quan hệ
giữa giá dầu Brent (bằng đồng USD) và tỷ giá hối đoái, đồng thời kiểm định tác động
bất cân xứng về dấu của cú sốc giá dầu thô (với cùng độ lớn) đến biến động tỷ giá hối đoái của India Giai đoạn nghiên cứu là từ 07/2007 đến 11/2008, kỳ quan sát theo ngày India theo chế độ cố định tỷ giá hối đoái đến tháng 03/1992, sau đó chuyển sang chế độ
thả nổi tỷ giá có quản lý Ghosh (2011) cho thấy rằng giá dầu tăng dẫn đến đồng rupee
giảm giá so với đồng USD Tác giả này diễn giải kết quả như sau: kết quả phù hợp với
lý thuyết về mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái đối với một nước nhập khẩu
dầu, nên một sự gia tăng hoặc kỳ vọng gia tăng trong giá dầu quốc tế sẽ làm cho các nhà máy lọc dầu của India tốn kém nhiều đồng USD hơn để nhập khẩu dầu, dẫn đến sự
sụt giảm giá trị đồng rupee Ngoài ra, bài nghiên cứu còn cho thấy cú sốc giá dầu có tác động cân xứng về dấu đến biến động tỷ giá hối đoái (trái ngược với một số nghiên cứu khác), và cú sốc giá dầu có tác động dai dẳng đến biến động tỷ giá hối đoái tại India
Trang 20Selmi và c ộng sự (2012) tập trung vào hai nền kinh tế nhỏ là Morocco (nước nhập
khẩu dầu ròng) và Tunisia (nước xuất khẩu dầu ròng) trong việc nghiên cứu tác động
của biến động trong giá dầu bằng đồng USD đến tỷ giá hối đoái Morocco ban đầu neo
tỷ giá cố định với đồng Franc cho đến năm 1996 thì chuyển sang chế độ dải băng tỷ giá Tunisia neo tỷ giá cố định với một rổ tiền tệ cho đến năm 1994, chuyển sang neo
có điều chỉnh đến năm 1999 và từ năm 2000 thì duy trì chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý (Syrichas, 2010) Các tác giả sử dụng các kỹ thuật mô hình GARCH để xem xét một vài dạng tác động (cân xứng, bất cân xứng, tuyến tính, phi tuyến tính, ngưỡng…) để đánh giá mối quan hệ thực nghiệm này Dữ liệu được thu thập trong khoảng thời gian
từ Q2/1972 đến Q4/2010, kỳ quan sát theo quý Kết quả chính đưa ra rằng ở cả hai nền kinh tế nhập khẩu dầu và xuất khẩu dầu này, giá dầu thực có mối tương quan nghịch chiều, có ý nghĩa thống kê với tỷ giá hối đoái thực Ngoài ra, sử dụng mô hình chuyển đổi cấu trúc để phản ánh hai cuộc khủng hoảng dầu và cuộc khủng hoảng châu Á, họ
đã cho thấy rằng mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái đã trở nên vững chắc và
mạnh mẽ hơn đối với nước nhập khẩu dầu, nhưng ít nhạy cảm hơn đối với nước xuất
khẩu dầu
Turhan và c ộng sự (2013) phát biểu rằnggiá dầu tăng sẽ ảnh hưởng đến tài sản
quốc gia do sự chuyển giao thu nhập từ nước nhập khẩu dầu sang nước xuất khẩu dầu thông qua tỷ giá thương mại, do đó chắc chắn là tỷ giá hối đoái cũng được kỳ vọng sẽ thay đổi Họ kiểm tra vai trò của giá dầu Brent (bằng đồng USD) trong việc giải thích tính động của tỷ giá của 13 nước mới nổiso với đồng USD (bao gồm Argentina, Brazil, Colombia, Indonesia, Mexico, Nigeria, Peru, Philippines, Russia, South Africa, South Korea và Turkey) Mẫu nghiên cứu được xét trong giai đoạn 01/03/2003 đến06/02/2010 và được chia làm ba phần dựa trên các điểm gãy xu hướng chính của giá dầu Sử dụng mô hình VAR để ước lượng và hàm phản ứng xung tổng quát để diễn
giải kết quả, họ cho thấy rằng mối quan hệ giữa giá dầu và giá trị của nội tệ các quốc gia này là cùng chiều Khi xemxét mẫu từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu
Trang 212008,mối quan hệ này trở nên mạnh mẽ hơn Kết quả này được lý giải như sau: vì các
quốc gia mới nổi này được các nhà đầu tư kỳ vọng tăng trưởng nhanh hơn các quốc gia
đã phát triển nên giá dầu tăng tạo ra tâm lý tích cực cho chúng, dẫn đến sự phục hồi sau
khủng hoảng nhanh hơn các quốc gia đã phát triển; còn sự sụt giảm giá dầu lại làm gia tăng sự lo ngại về viễn cảnh tăng trưởng kinh tế thế giới của các quốc gia mới nổi, khiến cho dòng tiền chảy ra khỏi các quốc gia này nhiều thêm
Aviral và c ộng sự (2013) kiểm định ảnh hưởng của giá dầu bằng USD đến tỷ giá
thực đa phương của Romania bằng mô hình biến đổi Wavelet để khắc phục vấn đề không dừng của dữ liệu chuỗi thời gian Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn từ 02/1986 đến03/2009, kỳ quan sát theo tháng Từ năm 1990 – 1991, Romania duy trì
chế độ neo tỷ giá với biên độ dao động rất hẹp Bắt đầu từ năm 1992, Romania áp dụng
chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý cho đến thời điểm nghiên cứu.Kết quả của Aviral (2013) tìm thấy rằng giá dầu có ảnh hưởng lớn đến tỷ giá thực đa phương trong ngắn
hạn và mạnh mẽ hơn trong dài hạn Mối quan hệ cùng chiều giữa hai biến này được tìm
thấy trong hầu hết các trường hợp, nghĩa là sự gia tăng giá dầu có liên quan đến sự gia tăng giá trị thực của đồng Leu, nhưng cũng có những giai đoạn mà mối quan hệ này nghịch chiều Ngoài ra, các tác giả còn phân tách cú sốc giá dầu thành cú sốc dương và
cú sốc âm để xem xét sự bất cân xứng trong tác động của cú sốc giá dầu đến tỷ giá hối đoái Họ đã tìm thấy rằng cú sốc dương (thể hiện giá dầu gia tăng) có tác động đến sự thay đổi tỷ giá hối đoái thực đa phương trong ngắn hạn mạnh hơn cú sốc âm Kết quả này nhất quán với kiểm định tính vững, chu kỳ 8 – 16 tháng của giá dầu gây ra chu kỳ
4 – 8 tháng của tỷ giá hối đoái, nhưng kiểm định tính vững không thể nêu lên chiều hướng tác động của cú sốc dương trong giá dầu là làm tăng hay làm giảm giá trị đồng Leu
Turhan và c ộng sự (2014) nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá dầu thô (bằng đồng
USD) và tỷ giá so với USD của 20 quốc gia trong giai đoạn 2000 – 2013 Trong đó,
Trang 22loại trừ Argentina, China, Saudi Arabia do chế độ tỉ giá cố định Mẫu còn lại gồm 17
quốc gia: Russia, India và Indonesia có chế độ thả nổi có quản lý, và 14 nước còn lại là
chế độ thả nổi hoàn toàn Bài nghiên cứu này sử dụng mô hình mối quan hệ theo thời gian có tính động thuần nhất (cDCC) Khi xem xét hai sự kiện (1) cuộc xâm lược Irag
của US năm 2003 và (2) khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, họ đã đưa ra kết
luận rằng mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái là tương quan nghịch chiều mạnh
mẽ hơn trong thập kỷ vừa qua Đối với sự kiện (1), mức độ tương quan giữa giá dầu và
tỷ giá hối đoái chủ yếu đáng kể ở các nước đã phát triển Điều này được họ giải thích như sau: trong những năm 1990, các nền kinh tế mới nổi của G20 phải đối mặt với lạm phát cao, tỉ lệ nợ/GDP cao, và bất ổn kinh tế – chính trị dẫn đến các cuộc khủng hoảng nghiêm trọng Khi đó các nước này chưa có ảnh hưởng lớn đến kinh tế và hệ thống tài chính toàn cầu như lúc này Trong khi đến những năm đầu thế kỷ 21, các nước này
thực hiện hội nhập toàn cầu Do đó, mối quan hệ này được kỳ vọng là không rõ ràng Nhưng với sự kiện (2), mối quan hệ giá dầu và tỷ giá hối đoái trở nên mạnh mẽ so với trước đây Nguyên do được cho là do sự xuất hiện của các thị trường mới nổi khi hội
nhập làm gia tăng mạnh mẽ thị phần hàng hóa, dịch vụ và các dòng vốn tài chính giữa các quốc gia Lúc này, mối quan hệ trên được tìm thấy ở tất cả các thành viên G20, ngoại trừ Japan
Atems và c ộng sự (2015)nghiên cứu về giá dầu tác động đến tỷ giá hối đoái (đa
phương và song phương) của US thông quaviệc xem xét các nguồn gốc cơ bản làm thay đổi giá dầu Phương pháp nghiên cứu này thể hiện sự nổi trội hơn so với các nghiên cứu trước đây khi không giả định giá dầu là ngoại sinh Các tác giả nàygiải thích rằng phản ứng kỳ vọng của tỷ giá hối đoái sẽ khác nhau phụ thuộc vào việc giá
dầu tăng do loại cú sốc thị trường dầu nào.Để mô tả hành vi nội sinh của giá dầu, họ sử
dụng phương pháp của Kilian (2009) để phân rã các cú sốc thị trường dầu thành cú sốc cung dầu, cú sốc tổng cầu toàn cầu và cú sốc cầu dầu để kiểm định các tác động khác nhau của chúng đến tỷ giá hối đoái Họ đưa các biến thị trường dầu (bao gồm sản
Trang 23lượng dầu thô, chỉ số hoạt động kinh tế thế giới thực, giá dầu thô thực) vào mô hình SVAR, với ma trận ràng buộc có hàm ý rằng (1) cung dầu không bị cú sốc tổng cầu toàn cầu và cú sốc cầu dầu trong cùng kỳ tác động Điều này phản ánh luận điểm là:
bởi vì thay đổi sản lượng trong ngắn hạnrất tốn kém nên khi cầu thay đổi (do sự không
ổn định,dù là dai dẳng hay tạm thời, trong nguồn cầu cơ bản), các nước sản xuất dầu không sẵn lòng thay đổi sản lượng ngay lập tức (2) Tổng cầu thế giới bị tác động bởi
cú sốc cung dầu nhưng không bởi cú sốc cầu dầu (3) Giá dầu thực phản ứng với cú sốc cung dầu và cú sốc tổng cầu toàn cầu trong cùng kỳ Theo họ, các ràng buộc này phù
hợp với những lập luận trong các cuốn sách cổ điển về thay đổi trong giá hàng hóa là
kết quả của thay đổi trong phía cung và phía cầu hàng hóa Giai đoạn nghiên cứu là từ 01/1974 đến 06/2013, với kỳ quan sát theo tháng.Bằng phân tích hàm phản ứng xung
dồn tích, họ đưa ra các bằng chứng thực nghiệm cho thấy với các nguyên nhân gây ra
sự thay đổi trong giá dầu khác nhau sẽ làm cho tỷ giá hối đoái phản ứng khác nhau,cụ
thể là: cú sốc cung dầu không tác động có ý nghĩa thống kê đến tỷ giá hối đoái; cú sốc
tổng cầu toàn cầu có tác động nghịch chiều (trong một vài trường hợp có ý nghĩa thống kê) đến tỷ giá hối đoái; trong khi bằng chứng thống kê về tác động cú sốc cầu dầu tác động nghịch chiều đến tỷ giá hối đoái là rõ ràngở tất cả các trường hợp Từ đó, họ kết
luận rằng khi xem xét sự tác động của giá dầu đến tỷ giá hối đoái, sẽ là thiếu sót nếu không phân tách các cú sốc thị trường dầu thành các cú sốc phía cung và phía cầu riêng
biệt Ngoài ra, các tác giả còn kiểm định liệu tỷ giá hối đoái có phản ứng khác nhau
giữa cú sốc dương và cú sốc âm, giữa cú sốc lớn và cú sốc nhỏ của cùng một loại cú
sốc thị trường dầu hay không Nhìn chung, kết quả ủng hộ giả thuyết của họ: dù không tìm thấy bằng chứng về tác động bất cân xứng ở cú sốc cung dầu, nhưng ở cú sốc tổng
cầu toàn cầu và cú sốc cầu dầu có bằng chứng thống kê rõ ràng (bất cân xứng ở cả dấu
và mức độ)
Nhìn chung, mô hình lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm đều cho thấy giá
dầu có thể tác động đến tỷ giá hối đoái qua nhiều kênh với các chiều hướng đa dạng
Trang 24Các quốc gia khác nhau về chế độ tỷ giá hối đoái (thả nổi hoàn toàn, thả nổi có quản lý,
cố định tỷ giá) đều được tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về tác động của giá
dầu,ngay cả ở các nước có khối lượng xuất khẩu dầu và khối lượng chi tiêu dầukhông nhiều như Romania, Fiji, Morocco, Tunisia (Bảng 2.1) Do đó, tác giả kỳ vọng có sự tác động của cú sốc giá dầu đến tỷ giá hối đoái (đa phương) thực và danh nghĩa của
Việt Nam
B ảng 2.1 Tình hình xuất khẩu dầu và nhập khẩu các sản phẩm
d ầu mỏ tại một số quốc gia
STT Quốc gia
Khối lượng xuất khẩu dầu thô Khối lượng chi tiêu các sản phẩm dầu mỏ tinh chế
Thùng/ngày Năm ước
tính Thùng/ngày
Năm ước tính
Ngu ồn: Central Intelligence Agency (2013) và tổng hợp của tác giả
Ngoài ra, có mộtphương pháp nghiên cứu thể hiện lợi thế khi không giả định giá dầu
là ngoại sinh (Atems và cộng sự, 2015).Vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu Atems và
cộng sự (2015) làm nền tảng cơ sở để nghiên cứu về tác động bất cân xứng của các cú
sốc thị trường dầu đến tỷ giá hối đoái đa phương (thực và danh nghĩa) của Việt Nam
Trang 252.2 Tác động bất cân xứng về dấu của cú sốc giá dầu:
Mork (1989),dựa trên nghiên cứu của Hamilton (1983), mở rộng giai đoạn mẫu của nghiên cứu này để xem các kết quả vẫn còn giữ nguyên hay không khi xét đếnsự sụp
đổ thị trường chứng khoán và sự thay đổi cơ chế kiểm soát giá dầu Ngoài ra, Mork (1989) còn tập trung xem xét phản ứng bất cân xứng của tăng trưởng GNP đối với giá
dầu tăng và giảm Phương pháp được đưa ra là tách thay đổi trong giá dầu thành hai
biến chuỗi thời gian để kiểm định ý nghĩa thống kê của hai biến này, từ đó đưa ra các
bằng chứng về tác động bất cân xứng Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 1949:1 – 1988:2, kỳ quan sát theo quý Bằng cách định nghĩa biến giá dầu tăng là bằng giá trị của biến thay đổi giá dầu khi nó dương, và bằng 0 khi nó âm Tương tự, biến giá
dầu giảm là bằng giá trị của biến thay đổi giá dầu khi nó âm, và bằng 0 khi nó dương
Kết quả cho thấy giá dầu tăng tác động nghịch chiều và mạnh mẽ đến tăng trưởng GNP, trong khi tác động của giá dầu giảm thì nhỏ và chiều hướng không rõ ràng Với
việc kỹ thuật phân tích bất cân xứng đáp ứng kiểm định tính ổn định, tác giả này kết
luận rằng phản ứng bất cân xứng của tăng trưởng GNP đối với sự thay đổi giá dầu là khá rõ ràng
Davis và Haltiwanger (2001) nghiên cứu về ảnh hưởng của cú sốc giá dầu đến sự tăng giảm lao động trong ngành sản xuất tại US từ năm 1972 đến năm 1988 Trong đó, các tác giả thực hiện xem xét phản ứng bất cân xứng của tăng trưởng việc làm đối với giá dầu tăng và giảm Bằng việc sử dụng mô hình VAR, họ đã đưa ra bằng chứng về
phản ứng bất cân xứng này Sử dụng hàm phản ứng xung dồn tích, họ cho thấy tác động dồn tích của cú sốc giá dầu âm đến tăng trưởng ròng của việc làm trong 7 quý đầu là rất nhỏ (ít hơn 0,2%), trong khi cú sốc giá dầu dương với độ lớn tương tự làm số lượng việc làm giảm hơn 2% Xét cả giai đoạn phân tích là 15 quý, một đơn vị sốc dương làm tăng hơn 3% lượng việc làm trong khi một đơn vị sốc âm chỉ làm giảm 1,4%
Trang 26Bachmeier (2008) cũng xem xét các tác động bất cân xứng của giá dầu thay đổi đến
chỉ số chứng khoán US bằng hai phương pháp từ Hamilton (1996) và từ Mork (1989)
Cả hai phương pháp này đều được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 01/1986 đến tháng 10/2003, dữ liệu được thu thập theo ngày Dựa theo Hamilton (1996), Bachmeier giả định rằng chỉ giá dầu tăng ròng (giá dầu cao hơn so với năm trước đó)
có tác động đến nền kinh tế Tác giả này định nghĩa biến “giá dầu tăng ròng” là bằng
phần trăm thay đổi của giá dầu WTI khi giá dầu WTI trung bình cao hơn giá dầu trung bình trong 12 tháng trước, ngược lại là bằng 0 Tương tự, định nghĩa biến “giá dầu
giảm ròng” là bằng phần trăm thay đổi của giá dầu khi giá dầu WTI trung bình thấp hơn giá dầu trung bình trong 12 tháng trước, ngược lại là bằng 0 Kết quả cho thấy tác động của cú sốc “giá dầu tăng ròng” mạnh hơn “giá dầu giảm ròng” và có ý nghĩa
thống kê, trong khi cú sốc “giá dầu giảm ròng” không có ý nghĩa thống kê Dựa theo Mork (1989), tác giả này tách biến giá dầu thay đổi thành biến giá dầu tăng và biến giá
dầu giảm Mặc dù kết quả cũng cho thấy sự bất cân xứng khi mà giá dầu giảm tác động
mạnh hơn giá dầu tăng (vì cho rằng các nhà giao dịch chứng khoán xem giá dầu giảm
là tin tốt), nhưng các tác động này không có ý nghĩa thống kê, ngay cả mức 10%
Nhìn chung, có một số bằng chứng thực nghiệm về tác động bất cân xứng về dấu
của cú sốc giá dầu đến các biến kinh tế vĩ mô Điển hình trong đó, Atems và cộng sự (2015) đã đưa ra các bằng chứng về tác động bất cân xứng này đến tỷ giá hối đoái của
US Điều này tạo nên động lực thúc đẩy tác giả xem xét liệu tỷ giá hối đoái của Việt Nam có phản ứng bất cân xứng đối với các cú sốc thị trường dầu khác nhau về dấu hay không Với giả thuyết đặt ra là tồn tại tác động bất cân xứng về dấu của các cú sốc thị trường dầu đến tỷ giá hối đoái của Việt Nam
Trang 27B ảng 2.2 Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm
Tác gi ả Năm Phương pháp nghiên c ứu N ội dung chính
I Cú s ốc giá dầu và tỷ giá hối đoái
Giá dầu tăng làm tăng giá đồng Fijian, cụ thể là
nếu giá dầu tăng 10% sẽ làm cho đồng Fijian tăng 0,2% giá trị
Ghosh 2011 GARCH,
EGARCH
Giá dầu tăng dẫn đến đồng rupee (India) giảm giá so với đồng USD Kết quả phù hợp với lý thuyết về mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái đối với một nước nhập khẩu dầu, một sự gia tăng hoặc kỳ vọng gia tăng trong giá dầu
quốc tế sẽ làm cho các nhà máy lọc dầu của India tốn kém nhiều đồng USD hơn để nhập
khẩu dầu, dẫn đến sụt giảm giá trị đồng rupee
Mối quan hệ giữa giá dầu và giá trị nội tệ của
13 quốc gia mới nổi là cùng chiều và trở nên
mạnh mẽ hơn sau khủng hoảng tài chính 2008
Aviral và
cộng sự 2013 Wavelet biđổi ến
Giá dầu có ảnh hưởng lớn đến tỷ giá thực đa phương trong ngắn hạn và mạnh mẽ hơn trong dài hạn Mối quan hệ cùng chiều giữa hai biến này được tìm thấy trong hầu hết các trường hợp, nghĩa là sự gia tăng giá dầu có liên quan đến sự gia tăng giá trị thực của đồng Leu, nhưng cũng
có những giai đoạn mà mối quan hệ này nghịch chiều
Trang 28Turhan và
cộng sự 2014 cDCC
Khi xem xét hai sự kiện (1) cuộc xâm lược Irag
của US năm 2003 và (2) khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, họ đã đưa ra kết luận rằng
mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái là tương quan nghịch chiều mạnh mẽ hơn trong
thập kỷ vừa qua Đối với sự kiện (1), mức độ tương quan giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái chủ
yếu đáng kể ở các nước đã phát triển Nhưng
với sự kiện (2), mối quan hệ giá dầu và tỷ giá
hối đoái trở nên mạnh mẽ so với trước đây
cú sốc phía cung và phía cầu riêng biệt
II Tác động bất cấn xứng về dấu của cú sốc giá dầu
Mork 1989
Tách biến thay đổi giá dầu thành hai biến giá dầu tăng và giá dầu giảm
Kết quả cho thấy giá dầu tăng tác động nghịch chiều và mạnh mẽ đến tăng trưởng GNP, trong khi tác động của giá dầu giảm thì nhỏ và chiều hướng không rõ ràng Phản ứng bất cân xứng
của tăng trưởng GNP đối với sự thay đổi giá
dầu là khá rõ ràng khi kỹ thuật phân tích bất cân
là rất nhỏ (ít hơn 0,2%), trong khi cú sốc giá
dầu dương với độ lớn tương tự làm số lượng
Trang 29việc làm giảm hơn 2% Xét cả giai đoạn phân tích là 15 quý, một đơn vị sốc dương làm tăng hơn 3% lượng việc làm trong khi một đơn vị
sốc âm chỉ làm giảm 1,4%
Bachmeier 2008
Tách biến dựa theo Hamilton (1996) và Mork (1989)
Dựa theo Hamilton (1996), kết quả cho thấy tác động của cú sốc “giá dầu tăng ròng” mạnh hơn
“giá dầu giảm ròng” và có ý nghĩa thống kê, trong khi cú sốc “giá dầu giảm ròng” không có
ý nghĩa thống kê Dựa theo Mork (1989), kết
quả cũng cho thấy sự bất cân xứng khi mà giá
dầu giảm tác động mạnh hơn giá dầu tăng (vì cho rằng các nhà giao dịch chứng khoán xem giá dầu giảm là tin tốt), nhưng các tác động này không có ý nghĩa thống kê, ngay cả mức 10%
tổng cầu toàn cầu và cú sốc cầu dầu có bằng
chứng thống kê rõ ràng (bất cân xứng ở cả dấu
và mức độ)
Ngu ồn: Tổng hợp của tác giả
Trang 30CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 D ữ liệu nghiên cứu:
Với mục đích phân tích tác động của các cú sốc thị trường dầu thô đến tỷ giá hối đoái, đầu tiên, tác giả phân tách các cú sốc thị trường dầu thô thành các cú sốc phía cung và phía cầu
Cú sốc phía cung trong bài nghiên cứu này là cú sốc cung dầu Để đo lường cú sốc cung dầu, tác giả sử dụng sản lượng dầu thô thế giới vì chỉ số này thể hiện khả năng cung ứng dầu thô của thế giới Trong đó, cú sốc cung dầu là phần thay đổi ngoài kỳ
vọng trong cung dầu thô, tức là sản lượng dầu thô thế giới
Cú sốc phía cầu trong bài nghiên cứu này bao gồm cú sốc tổng cầu toàn cầu và cú
sốc cầu dầu Để đo lường cú sốc tổng cầu toàn cầu, tác giả dùng chỉ số hoạt động kinh
tế thực vì chỉ số này phản ánh nhu cầu hàng hóa công nghiệp của thế giới Có thể nhận
thấy rằng sự thay đổi ngoài kỳ vọng trong nhu cầu hàng hóa công nghiệp của thế giới (tức là cú sốc tổng cầu toàn cầu) sẽ ảnh hưởng đến phía cầu của thị trường dầu thô thế
giới Đối với việc đo lường cú sốc cầu dầu, một yếu tố rất quan trọng phản ánh trực
tiếp nhu cầu dầu thô của thế giới là giá dầu thô thực Do đó, tác giả dùng sự thay đổi ngoài kỳ vọng trong giá dầu thô thực để phản ánh cú sốc cầu dầu
Thứ hai, để đo lường chỉ tiêu tỷ giá hối đoái của Việt Nam, tác giả chọn tỷ giá hối đoái đa phương Lý do là vì loại chỉ số này được tính toán dựa trên một rổ tiền tệ của nhiều quốc gia khi so với đồng VNĐ, nên nó sẽ phản ánh được sự thay đổi giá trị của đồng VNĐ tổng quát hơn so vớitỷ giá hối đoái song phương.Trong đó,tỷ giá hối đoái
đa phương danh nghĩa phản ánh giá trị của đồng VNĐ so với rổ ngoại tệ, nhưng chưa xem xét đến sự khác biệt trong sức mua của đồng VNĐ so với sức mua của rổ ngoại tệ cũng như năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam so với các nước bạn Do đó, tác
giả xem xét cả tỷ giá hối đoái đa phương thực để phản ánh sự thay đổi sức mua của đồng VNĐ so với sức mua của rổ ngoại tệ
Trang 31Vì vậy, dữ liệu nghiên cứu bao gồm năm biến: sản lượng dầu thô thế giới (pro), chỉ
số hoạt động kinh tế thực thế giới (rea), giá dầu thô thực (price), tỷ giá thực đa phương (reer), tỷ giá danh nghĩa đa phương (neer)
Dữ liệu được thu thập theo tháng từ tháng 09/1994 đến tháng 12/2014, tổng cộng
- Giá dầu thô thực (price): được tính bằng cách lấy giá dầu thô danh nghĩa giảm phát
bằng CPI US Tương tự như Atems và cộng sự (2015), tác giả chọn chi phí nhập khẩu
dầu thô của các nhà máy lọc dầu (USD/thùng) là giá dầu thô danh nghĩa, được thu thập
từ EIA
- Tỷ giá hối đoái đa phương thực và danh nghĩa (reer, neer): trong bài nghiên cứu này,
tỷ giá được yết giá gián tiếp, tức là một sự gia tăng trong tỷ giá cho thấy đồng nội tệ tăng giá so với rổ tiền tệ của các đối tác, và ngược lại Cơ sở dữ liệu được lấy từ website http://bruegel.org/ Bruegel là một cố vấn chuyên về kinh tế của châu Âu, độc
lập và phi tôn giáo Thành viên của Bruegel bao gồm các quốc gia châu Âu, các doanh nghiệp và tổ chức quốc tế Một trong những mục tiêu của Bruegel là cung cấp dữ liệu
để phục vụ cho nghiên cứu kinh tế và phân tích tài chính Tác giả thu thập dữ liệu từ trang webhttp://bruegel.org/publications/datasets/real-effective-exchange-rates-for-178-countries-a-new-database/ Trong đó, tỷ giá đa phương được tính theo Darvas (2012a) như sau:
Trang 32REERt = NEERt CPIt
∏ CPI(i)N tw (i) i=1
NEERt = � S(i)tw(i)
N i=1
Với CPIt là chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam; CPI(i)t là chỉ số giá tiêu dùng của đối tác thứ i; S(i) là tỷ giá danh nghĩa song phương giữa Việt Nam với đối tác i (yết giá gián tiếp); w(i) là tỉ trọng của đối tác thứ i Darvas (2012a) sử dụng ma trận tỉ trọng
giống với cách tính của IMF và World Bank cho giai đoạn 1990-2012 Rổ tiền tệ bao
gồm 41 quốc gia: Argentina, Australia, Austria, Belgium, Bolivia, Canada, Chile, Colombia, Denmark, Ecuador, Finland, France, Germany, Ghana, Greece, Hungary, Iceland, India, Indonesia, Ireland, Israel, Italy, Japan, Korea, Luxembourg, Mexico, Netherlands, New Zealand, Norway, Philippines, Portugal, South Africa, Spain, Sweden, Switzerland, Taiwan, Turkey, United Kingdom, United States, Uruguay, Venezuela
B ảng 3.1 Biến nghiên cứu
pro Sản lượng dầu thô thế giới EIA (n.d.) – Monthly Energy Review
rea Chỉ số hoạt động kinh tế
thực thế giới Kilian (n.d.)
price Giá dầu thô thực EIA (n.d.) – Monthly Energy Review
reer Tỷ giá hối đoái thực đa
phương Bruegel (n.d.)
neer Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
đa phương Bruegel (n.d.)
Trang 333.2 Phương pháp nghiên cứu:
Bài nghiên cứu đi vào phân tích tác động bất cân xứng của các cú sốc trong thị trường dầu thô đến tỷ giá hối đoái Đồng thời, đối với từng loại cú sốc trong thị trường
dầu, tác giả cũng xem xét liệu cú sốc dương và cú sốc âm có tác động bất cân xứng đến
tỷ giá hối đoái hay không
Bài nghiên cứu sử dụng phần mềm Stata 13.1 (Windows) để nghiên cứu các mối quan hệ tác động này Các bước tiến hành nghiên cứu được thực hiện như sau:
3.2.1 Th ống kê mô tả:
Tác giả thực hiện thống kê mô tả để thể hiện các đặc điểm của dữ liệu như giá trị trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất
3.2.2 Ki ểm định tính dừng:
Để tránh trường hợp hồi quy giả mạo khi tồn tại biến không dừng trong mô hình, tác
giả sử dụng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị Dickey-Fuller mở rộng (ADF) để xem xét tính dừng của các biến chuỗi thời gian
Đối với trường hợp các biến không dừng, tác giả sử dụng phương pháp chuyển đổi
biến theo Kilian (2009), Atems và cộng sự (2015) để có các chuỗi thời gian dừng Việc chuyển đổi này cũng nhằm mục tiêu thông đạt kết quả bằng hàm phản ứng xung dồn tích (CIRF) sau khi ước lượng VAR
3.2.3 Phân tách các cú s ốc thị trường dầu thô bằng mô hình SVAR:
Dựa theo Kilian (2009), Atems và cộng sự (2015), tác giả xây dựng mô hình VAR như sau:
Trang 34price_pert−i+ e_pricet
Trong đó, pro_per là phần trăm thay đổi trong sản lượng dầu thô thế giới; rea_log là
chỉ số hoạt động kinh tế thực thế giới (ở dạng logarit tự nhiên); price_per là phần trăm thay đổi trong giá dầu thực
Đầu tiên, xác định độ trễ tối ưu để đạt được mô hình dự báo tốt nhất Sau đó, để tạo thành mô hình SVAR, sử dụng phương pháp phân rã Cholesky, đưa vào ma trận ràng
buộc:
� e_proe_reae_price� = �
a11 0 0
a21 a22 0
a31 a32 a33� �
u_prou_reau_price� (2)
Ma trận ràng buộc trên cũng được Kilian (2009), Atemsvà cộng sự (2015) sử dụng Phương trình (2) hàm ý rằng: (i) cú sốc tổng cầu toàn cầu và cú sốc cầu dầu không tác động đến cung dầu trong cùng thời kỳ; (ii) tổng cầu thế giới bị cú sốc cung dầu tác động nhưng không bị cú sốc cầu dầu tác động; (iii) giá dầu thực phản ứng với cú sốc cung dầu và cú sốc tổng cầu toàn cầu
Từ đó tính toán được các phần dư từ mô hình SVAR thông qua phần dư từ mô hình VAR và ma trận ràng buộc Cholesky.Theo Kilian (2009), các phần dư từ mô hình
Trang 35SVAR chính là các cú sốc thị trường dầu thô: u_pro là cú sốc cung dầu, u_rea là cú sốc
tổng cầu toàn cầu, u_price là cú sốc cầu dầu
Và sau khi hồi quy, để kiểm tra tính phù hợp của mô hình, tác giả kiểm định tính ổn định của mô hình và kiểm định tự tương quan của các phần dư trong mô hình
3.2.4 Ki ểm định tác động bất cân xứng của các cú sốc thị trường dầu thô đến tỷ giá h ối đoái:
Tác động bất cân xứng của các cú sốc thị trường dầu thô đến tỷ giá hối đoái được
hiểu như sau: khi giá dầu thô thay đổi do các nguyên nhân khác nhau (cú sốc cung dầu,
cú sốc tổng cầu toàn cầu và cú sốc cầu dầu) thì sẽ làm tỷ giá hối đoái thay đổi theo chiều hướng và độ lớn khác nhau Atems và cộng sự (2015) đưa ra bằng chứng về bất cân xứng khi cú sốc cung dầu có tác động không có ý nghĩa thống kê đến tỷ giá hối đoái và tác động của cú sốc tổng cầu toàn cầu là nghịch chiều, có nghĩa thống kê đối
với một số tỷ giá hối đoái,trong khi tác động của cú sốc cầu dầu là nghịch chiều, có ý nghĩa thống kê đối với tất cả các tỷ giá hối đoái được xem xét Kilian (2009)thì cho
thấy rằng cú sốc cầu dầu có tác động đến GDP mạnh hơn cú sốc cung dầu
Dựa theo Kilian (2008a), Kilian (2008b), tác giả hồi quy từng loại tỷ giá hối đoái
với các cú sốc đó theo các phương trình sau:
Trang 36Trong đó,xt và yt là các phần dư không bị tương quan chuỗi;
Giả định u_pro, u_rea, u_price là biến ngoại sinh
Cấu trúc độ trễ được chọn tương tự với Kilian (2008a), Kilian (2008b) Theo Kilian (2008a), phương pháp này cung cấp một cách đo lường trực tiếp các tác động có tính động của các cú sốc ngoại sinh đến các biến kinh tế vĩ mô
Sau khi hồi quy, tác giả sử dụng hàm phản ứng xung dồn tích (CIRF) để thông đạt
kết quả Cách làm này giống với Kilian (2008a), Kilian (2008b), Kilian (2009), Atems
và cộng sự (2015)
Bên cạnh đó, tác giả kiểm định tính ổn định của mô hình và kiểm định tự tương quan của các phần dư trong mô hình để xác minh tính phù hợp của mô hình VAR này
3.2.5 Ki ểm định phản ứng bất đối xứng của tỷ giá hối đoái với sự khác biệt về dấu
c ủa từng loại cú sốc thị trường dầu thô:
Tác động bất cân xứng về dấu của từng cú sốc thị trường dầu thô đến tỷ giá hối đoái được hiểu như sau: giá dầu thô tăng (do cú sốc cung dầu âm, cú sốc tổng cầu toàn cầu dương hoặc cú sốc cầu dầu dương) sẽ tác động đến tỷ giá hối đoái khác nhau về chiều hướng và độ lớn so với giá dầu thô giảm (do cú sốc cung dầu dương, cú sốc tổng cầu toàn cầu âm hoặc cú sốc cầu dầu âm) Atems và cộng sự (2015) cho thấy rằng nếu do
cú sốc tổng cầu toàn cầu dương thì giá dầu thô tăng tác động nghịch chiều, có ý nghĩa
thống kê đối với một số tỷ giá hối đoái và nếu do cú sốc cầu dầu dương thì giá dầu thô tăng tác động nghịch chiều, có ý nghĩa thống kê đối với tất cả các tỷ giá hối đoái được
xem xét Trong khi đó, giá dầu giảm do cả cú sốc tổng cầu toàn cầu âm hay cú sốc cầu
dầu âm đều không tìm thấy tác động có ý nghĩa thống kê đến tỷ giá hối đoái Mork (1989) cũng tìm thấy bất cân xứng về dấu khi GDP phản ứng có ý nghĩa thống kê đối
với giá dầu tăng nhưng không có ý nghĩa thống kê đối với giá dầu giảm Davis và
Trang 37Haltiwanger (2001) thì cho thấy giá dầu tăng tác động đến tăng trưởng việc làm mạnh hơn so với giá dầu giảm
Dựa theo Mork (1989), tách từng loại cú sốc thành cú sốc dương và cú sốc âm Tác
giả đo lường các phương trình sau:
Trong đó, xt và yt là các phần dư không bị tương quan chuỗi;
Giả địnhu_prot+/−,u_rea+/−t và u_pricet+/− là biến ngoại sinh
Với u_prot+,u_rea+t và u_pricet+ là giá trị tương ứng của các cú sốc khi các cú sốc này
là dương, và ngược lại bằng 0 Tương tự, u_prot−,u_reat− và u_pricet−là giá trị tương ứng
của các cú sốc khi các cú sốc này là âm, và ngược lại bằng 0
Sau khi hồi quy, tác giả tiếp tục sử dụng hàm phản ứng xung dồn tích (CIRF) để thông đạt kết quả
Trang 38Tương tự như các mô hình VAR trước, tác giả xác minh tính phù hợp của mô hình thông qua việc kiểm định tính ổn định và kiểm định tự tương quan của các phần dưtrong mô hình
Trang 39CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Th ống kê mô tả các biến:
xuống nhưng vẫn mang xu hướng gia tăng theo thời gian
Biến rea lớn nhất là 60,67 (tháng 10/2007), nhỏ nhất là -48,40 (tháng 02/2012) và trung bình cho cả giai đoạn là 2,64
Biến price lớn nhất là 126,66 (tháng 07/2008), nhỏ nhất là 12,49 (tháng 12/1998) và trung bình cho cả giai đoạn là 52,99 Có thể thấy trước khi khủng hoảng tài chính toàn
cầu năm 2008 xảy ra, hoạt động kinh tế toàn cầu phát triển mạnh mẽ, đẩy giá dầu thực lên cao nhất trong khoảng thời gian nghiên cứu (nhưng đến tháng 12/2008 chỉ còn 36,95)
Biến reer lớn nhất là 146,35 (tháng 12/2014), nhỏ nhất là 84,86 (tháng 01/2004) và trung bình cho cả giai đoạn là 105,79 Biến neer lớn nhất là 159,80 (tháng 01/1998),
nhỏ nhất là 72,29 (tháng 08/2011) và trung bình cho cả giai đoạn là 112,89
Trang 40reer 0.533 -0.510 neer -0.596 -2.480
*, **, *** là d ừngtại mức ý nghĩa lần lượt là 10%, 5%, 1%
Ngu ồn: Tổng hợp của tác giả
Từ kết quả kiểm định nghiệm đơn vị tại Bảng 4.2 cho thấy,không có biến nàođạt tính dừng trong cả hai điều kiện làhệ số chặn hoặc cả hệ số chặn và xu hướng Do đó,
dựa theo Kilian (2009), Atems và cộng sự (2015), tác giả chuyển đổi các biến để tạo chuỗi dừng Các biến pro, price, reer và neer được chuyển đổi dưới dạng phần trăm thay đổi và ký hiệu sau khi chuyển đổi lần lượt là pro_per, price_per, reer_per, neer_per:
variable_pert = log(variablet) − log(variablet−1) (I) Công thức (I) biểu diễn cách tính toán phần trăm thay đổi ở kỳ t bằng giá trị của các
biến ban đầu ở kỳ t so với kỳ t-1 Phương pháp phần trăm thay đổi này được hiểu theo cách lấy sai phân cho logarit tự nhiên của biến đang xét
Biến rea được chuyển đổi dưới dạng logarit tự nhiên, do dữ liệu ban đầu chứa giá trị
âm nên cộng thêm số dương khi tính toán logarit, ký hiệu sau khi chuyển đổi là rea_log
Kết quả kiểm định tính dừng sau khi chuyển đổi các biến như sau: