1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2007 2014

91 463 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Với mục đích đo lường tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL, từ các lý thuyết kinh tế học và các nghiên cứu thực nghiệm trước, đặ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn "Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2007 – 2014'' là nghiên cứu do tôi thực hiện

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc và có độ chính xác cao trong phạm vi hiểu biết của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn

là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên thực hiện luận văn

Nguyễn Tấn Tài

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan Mục lục Danh mục bảng biểu Danh mục hình Danh sách các chữ viết tắt Tóm tắt CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

1.7 Cấu trúc luận văn 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4

2.1 Khái niệm và lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 4

2.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 4

2.1.2 Tổng luận các mô hình tăng trưởng kinh tế 4

2.1.3 Cách tính tăng trưởng kinh tế 100

Trang 5

2.2 Khái niệm và lý thuyết về vốn con người 11

2.2.1 Khái niệm vốn con người 11

2.2.2 Các thước đo vốn con người 12

2.2.3 Vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế 18

2.3 Hàm sản xuất Cobb – Douglas 21

2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 23

2.4.1 Nghiên cứu nước ngoài 23

2.4.2 Nghiên cứu trong nước 25

2.5 Khung phân tích 29

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 Mô hình kinh tế lượng 32

3.2 Mô tả các biến và giả thuyết nghiên cứu 33

3.3 Giả định của mô hình 38

3.4 Dữ liệu nghiên cứu 39

3.5 Phương pháp nghiên cứu 39

3.6 Quy trình nghiên cứu 43

CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47

4.1 Tổng quan về tình hình tăng trưởng kinh tế và lao động khu vực ĐBSCL 47

4.1.1 Tổng quan khu vực ĐBSCL 47

4.1.2 Tăng trưởng kinh tế khu vực ĐBSCL 49

4.1.3 Lao động khu vực ĐBSCL 49

Trang 6

4.2 Phân tích 51

4.2.1 Phân tích thống kê mô tả 51

4.2.2 Phân tích mối tương quan giữa các biến trong mô hình 54

4.2.3 Kiểm định lợi thế kinh tế theo quy mô của mô hình nghiên cứu 57

4.3 Kết quả kinh tế lượng 58

4.3.1 Kết quả hồi quy bằng 3 mô hình Pooled OLS, FEM và REM 58

4.3.2 Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp 59

4.3.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu 63

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 65

5.1 Khám phá của nghiên cứu 65

5.2 Một số đề xuất và khuyến nghị 66

5.3 Hạn chế của nghiên cứu 67

5.4 Hướng phát triển của đề tài 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 : Bảng tóm lược về kết quả nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trong và

ngoài nước 27

Bảng 3.1: Chi tiết tính toán biến vốn con người (H) 34

Bảng 3.2: Bảng tổng hợp các biến sử dụng trong luận văn và các dấu kỳ vọng 37

Bảng 4.1: Dân số trung bình phân theo khu vực của cả nước qua các năm 48

Bảng 4.2: Lực lượng lao động theo khu vực của cả nước qua các năm 50

Bảng 4.3: Bảng thống kê mô tả các biến trong mô hình giai đoạn 2007 – 2014 52

Bảng 4.4: Ma trận tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu chưa logarit hóa 56

Bảng 4.5: Ma trận tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu đã logarit hóa 56

Bảng 4.6: Kết quả ước lượng của mô hình Pooled – OLS, FEM và REM 59

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định Hausman 60

Bảng 4.8: Kết quả kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian multiplier cho mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) 61

Bảng 4.9: Kết quả hồi quy đa biến theo mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) điều chỉnh, đã khắc phục phương sai thay đổi 62

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Giới hạn của sự tăng trưởng 6

Hình 2.2: Khung phân tích 30

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 45

Hình 4.1: Bản đồ các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Cửu Long 48

Hình 4.2: Tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước và khu vực ĐBSCL giai đoạn 2007 – 2014 49

Hình 4.3: Lao động theo trình độ 51

Hình 4.4: Mối tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc 55

.

Trang 9

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT DNNN: Doanh nghiệp nhà nước

DNNQD: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)

FEM: Mô hình hiệu ứng cố định (Fixed Effect Model)

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

ICOR: Tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm (Incremental Capital – Output Ratio)

OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic

Cooperation and Development)

Pooled – OLS: Mô hình hệ số không thay đổi (Pooled Regression Model)

REM: Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effect Model)

TCTK: Tổng cục Thống kê

Trang 10

TÓM TẮT

Với mục đích đo lường tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), từ các lý thuyết kinh tế học và các nghiên cứu thực nghiệm trước, đặc biệt là của Ng và Leung (2004), đề tài sử dụng hàm sản xuất Cobb – Douglas mở rộng với biến phụ thuộc là sản lượng và các biến độc lập bao gồm: Vốn vật chất, lực lượng lao động, vốn con người, độ mở của nền kinh tế, tỷ trọng nông nghiệp, chi tiêu chính phủ, ảnh hưởng của doanh nghiệp nhà nước và ảnh hưởng của doanh nghiệp ngoài quốc doanh Trong đó, biến vốn con người được đo bằng số năm

đi học bình quân của lực lượng lao động

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cân đối của 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL giai đoạn 2007 – 2014 và đề cập ba mô hình ước lượng cơ bản như sau: Mô hình hệ số không thay đổi (Pooled OLS), mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) Trong đó, mỗi mô hình đều có những ưu và nhược điểm riêng Vì vậy, thông qua các kiểm định tác giả có thể lựa chọn được mô hình mang lại ước lượng vững và tính hiệu quả cao cho nghiên cứu

Kết quả cho thấy mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) là mô hình có thể đem lại ước lượng vững, tính hiệu quả cao nhất trong ba mô hình đề xuất của nghiên cứu và vốn con người có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế với ước lượng khoảng 0,29% trên mỗi phần trăm tăng thêm của số năm đi học bình quân Với kết quả đó, luận văn khuyến nghị chính sách để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là đầu tư và phát triển giáo dục, có nghĩa là tích lũy nâng cao vốn con người từ đó đem lại lợi ích cho xã hội thông qua nhiều kênh, góp phần nâng cao năng suất lao động Vì vậy, phát triển giáo dục chính là cách khả thi để nâng cao tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam nói chung

và vùng kinh tế ĐBSCL nói riêng

Từ khóa: Vốn con người, tăng trưởng kinh tế, dữ liệu bảng, hàm sản xuất Cobb –

Douglas

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Vốn con người được xem là một yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các vùng, quốc gia trên toàn thế giới Nghiên cứu của Mankiw và cộng sự (1992) chỉ ra rằng vốn con người là yếu tố tác động trực tiếp đến tăng trưởng Romer (1990) cũng khẳng định vai trò quan trọng của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế thông qua tác động gián tiếp đến công nghệ

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng kinh tế trọng điểm quốc gia, tập trung sản xuất hàng hóa nông nghiệp trong cả nước Theo Tổng cục Thống kê (2014), tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân giai đoạn 2007 – 2014 đạt 10,71%; Năm 2013 và 2014 tốc độ tăng trưởng kinh tế tương ứng là 8,72% và 9,02% Mức độ tăng trưởng này có tỷ lệ cao hơn ở các vùng trong nước

Theo Hayami (1998), trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, mô hình tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào vốn vật chất và khi chuyển sang giai đoạn phát triển khác thì yếu tố vốn con người chiếm vị trí quan trọng Có khá nhiều nghiên cứu

về mối quan hệ giữa vốn con người với tăng trưởng kinh tế, nghèo, thu nhập ở các nước trên thế giới Tuy nhiên, số lượng nghiên cứu về lĩnh vực này ở Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào đối với vùng ĐBSCL Bên cạnh đó, lực lượng lao động khu vực ĐBSCL có trình độ tương đối thấp, cụ thể theo Tổng cục Thống kê (2014) trong tổng lực lượng lao động của khu vực ĐBSCL thì lao động mù chữ chiếm 5%, chưa hoàn thành bậc tiểu học chiếm 25%, hoàn thành tiểu học chiếm 36%, tốt nghiệp trung học cơ sở chiếm 19% và lực lượng lao động tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên của khu vực ĐBSCL chỉ chiếm 15% Vì vậy, vấn đề đặt ra là tốc độ tăng trưởng kinh tế ở vùng ĐBSCL trong thời gian gần đây chịu sự tác động của vốn con người như thế nào? Nghiên cứu này nhằm kiểm chứng và đánh giá ảnh hưởng của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế vùng ĐBSCL giai đoạn 2007-2014 Đồng

Trang 12

thời, nghiên cứu cũng đưa ra những kết luận và gợi ý chính sách đối với vốn con người nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên số liệu phân tích

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này với mục tiêu là đánh giá tác động của yếu tố vốn con người đến tốc

độ tăng trưởng kinh tế của vùng ĐBSCL giai đoạn 2007-2014 Kết quả nghiên cứu về

sự đóng góp của yếu tố này sẽ giúp ích cho việc đưa ra các khuyến nghị chính sách

phát triển nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài tập trung trả lời câu hỏi như sau: Tác

động của yếu tố vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế vùng ĐBSCL như thế nào?

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng kết hợp hai phương pháp chính như sau:

(i) Phương pháp thống kê: Tổng hợp, phân tích số liệu về GDP, vốn vật chất, lực lượng lao động, vốn con người, độ mở nền kinh tế, tỷ trọng nông nghiệp, chi tiêu chính phủ, tỷ trọng sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tỷ trọng sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) trích từ Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê hàng năm của vùng;

(ii) Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Để lượng hóa tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế vùng ĐBSCL, đề tài thực hiện chạy các mô hình hồi quy trong dữ liệu bảng như: Mô hình hệ số không thay đổi (Pooled – OLS), mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) được sử dụng để ước lượng tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế Đồng thời, đề tài thực hiện các kiểm định cần thiết nhằm giảm thiểu hiện tượng ước lượng chệch Cụ thể phương pháp nghiên cứu sẽ được trình bày rõ ở chương 3

Trang 13

1.5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu trên, đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL giai đoạn 2007 – 2014 Phạm vi nội dung của đề tài tập trung nghiên cứu tác động của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế tại ĐBSCL, từ đó đưa ra những kết luận và khuyến nghị liên quan dựa trên kết quả nghiên cứu

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng để khuyến nghị các chính sách liên quan đến việc đầu tư vào vốn con người góp phần tăng trưởng kinh tế vùng ĐBSCL

1.7 Cấu trúc luận văn

Luận văn bao gồm 5 chương: Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu; Chương 2 trình bày về cơ sở lý thuyết và một số nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Dựa trên cơ sở lý thuyết và thực nghiệm này, tác giả xây dựng mô hình phân tích; Chương 3 tác giả tiến hành xây dựng phương pháp, quy trình và mô hình nghiên cứu Đồng thời, giới thiệu dữ liệu và mô tả các biến số cũng như đưa ra các giả thuyết trong nghiên cứu; Chương 4 giới thiệu tổng quan về tình hình tăng trưởng kinh tế và lao động khu vực ĐBSCL Bên cạnh đó, chương này trình bày kết quả thực nghiệm sau khi chạy hồi quy và giải thích kết quả xuất hiện trong mô hình; Cuối cùng là chương 5, tác giả tóm lược những vấn đề mà đề tài đã giải quyết Từ đó, đưa ra một số gợi ý chính sách đồng thời trình bày một số hạn chế của đề tài nhằm mở rộng cho những nghiên cứu tiếp theo

Trang 14

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Mục đích của chương 2 nhằm cung cấp cơ sở lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và vốn con người Chương này được chia làm ba phần: Phần đầu tiên của chương, trình bày các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, các lý thuyết về vốn con người và lý thuyết về hàm sản xuất Cobb – Douglas; Phần thứ hai cung cấp các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước liên quan đến đề tài; Phần cuối cùng của chương là xây dựng khung phân tích cho vấn đề nghiên cứu

2.1 Khái niệm và lý thuyết về tăng trưởng kinh tế

2.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế

Theo Soubbotina (2001) tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng hay mở rộng về sản lượng của một nền kinh tế Hay nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Trong đó, GDP là giá trị bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính)

2.1.2 Tổng luận các mô hình tăng trưởng kinh tế

Từ trước đến nay, qua mỗi thời kỳ kinh tế thay đổi đều hình thành những lý thuyết

và mô hình kinh tế đặc trưng tương ứng Các lý thuyết, mô hình đó đóng vai trò quan trọng diễn tả những quan điểm cơ bản nhất về sự phát triển kinh tế qua từng giai đoạn thông qua các biến số kinh tế và mối liên hệ giữa chúng Do đó, các lý thuyết cùng mô hình kinh tế cũng không ngừng phát triển và hoàn thiện dựa trên cơ sở kế thừa, phát triển các lý thuyết và mô hình trước đó để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế Sau đây, tác giả trình bày tóm tắt một số mô hình tăng trưởng kinh tế với những quan điểm về yếu tố nguồn lực và tác động của chúng tới tăng trưởng kinh tế như sau:

Trang 15

Mô hình tăng trưởng của David Ricardo (trường phái Cổ Điển)

Trường phái Cổ Điển xuất hiện vào những năm đầu của thế kỷ 17 và phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ 18 đến nữa cuối thế kỷ 19 với hai đại diện tiêu biểu là Adam Smith và David Ricardo Adam Smith (1723 – 1790) là một nhà kinh tế chính trị học, ông được coi là người mở đường cho phát triển lý luận kinh tế với tác phẩm tiêu biểu

là “của cải của đất nước”, theo ông chính lao động được sử dụng trong những hoạt động có ích, có hiệu quả là nguồn gốc tạo ra giá trị của xã hội Số công nhân “hữu ích

và hiệu quả” cũng như năng suất lao động của họ phụ thuộc vào lượng tư bản tích lũy, Adam Smith coi sự gia tăng tư bản là yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế Ông đưa ra hai học thuyết cơ bản là học thuyết về “Giá trị lao động” và học thuyết về “Bàn tay vô hình”

David Ricardo (1772 – 1823) ông được coi là tác giả xuất sắc nhất của trường phái

Cổ Điển Ông đã sử dụng ý tưởng của Adam Smith và của T.H Malthus để sáng lập ra học thuyết của riêng mình “Mô hình tăng trưởng của Ricardo”

Theo Ricardo có 3 yếu tố tác động tới tăng trưởng gồm lao động (L), vốn (K), và tài nguyên (R) Trong 3 yếu tố nêu trên thì tài nguyên (R) là yếu tố quan trọng nhất Tài nguyên chính là giới hạn của tăng trưởng bởi vì khi sản xuất nông nghiệp gia tăng trên những đất đai kém màu mỡ hơn thì giá lương thực, thực phẩm sẽ tăng lên Do đó, tiền lương danh nghĩa tăng lên, lợi nhuận của nhà tư bản giảm Khi tài nguyên đạt điểm dừng tại Ro và Y sẽ đạt sản lượng tối đa, thì điểm đó sẽ là giới hạn của tăng trưởng (hình 2.1), lúc này nền kinh tế chia làm hai khu vực, khu vực 1 là nông nghiệp trì trệ tuyệt đối, khu vực 2 là khu vực công nghiệp Như vậy, khi chưa đến điểm dừng Ro thì

R là yếu tố quyết định tăng trưởng, khi đạt điểm dừng Ro thì tích lũy cho khu vực công nghiệp mới là yếu tố quyết định tăng trưởng

Trang 16

Hình 2.1: Giới hạn của sự tăng trưởng

Nguồn: Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa (Ricardo, 2002)

Vậy, lý luận của Ricardo là: Tăng trưởng là hàm của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận lại phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí sản xuất lương thực phụ thuộc vào đất đai Do đó, đất đai là giới hạn đối với sự tăng trưởng

Mô hình tăng trưởng của trường phái Tân Cổ Điển (mô hình Cobb – Douglas)

Trường phái Tân Cổ Điển xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 là thời kỳ đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật với một loạt các phát minh khoa học và nguồn tài nguyên được khai thác phục vụ cho quá trình sản xuất Người đứng đầu của trường phái này là Marshall (1842 – 1924) với tác phẩm chính “các nguyên lý của kinh

tế học”

Theo mô hình của trường phái Tân Cổ Điển, các yếu tố tác động tới tăng trưởng gồm: Lao động (L), vốn (K), tài nguyên thiên nhiên (R) và khoa học – công nghệ (T) Trong mô hình này, các nhà kinh tế học Tân Cổ Điển đã chia các yếu tố nguồn lực ra làm 2 nhóm: Nhóm các yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng (gồm: K, L và R) và nhóm yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu (T)

R

Y

R0

K, L

Trang 17

Theo hàm sản xuất Cobb – Douglas, đã mô hình hóa sự phát triển qua số liệu của các nước và đã lượng hóa cụ thể sự đóng góp của các yếu tố nguồn lực tới tăng trưởng kinh tế Đồng thời, các nhà kinh tế của trường phái Tân Cổ Điển cũng cho rằng công nghệ có vai trò quan trọng nhất tới tăng trưởng kinh tế

Các nhà kinh tế học Tân Cổ Điển bác bỏ quan điểm sản xuất đòi hỏi tỷ lệ nhất định giữa lao động và vốn, do đưa yếu tố công nghệ vào họ cho rằng có nhiều cách kết hợp giữa lao động và vốn trong sản xuất và phát triển Do đó, có nhiều con đường để tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng các công nghệ khác nhau phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia

Trường phái Tân Cổ Điển đã kế thừa và phát triển mô hình tăng trưởng của trường phái Cổ Điển Đồng thời, cũng giống như mô hình tăng trưởng của trường phái Cổ Điển mô hình của trường phái Tân Cổ Điển cũng bao gồm các yếu tố: Lao động (L), vốn (K) và đất đai (R) là các nhân tố tăng trưởng kinh tế Cả hai mô hình đều phủ nhận vai trò của chính phủ trong việc điều tiết nền kinh tế, ủng hộ thị trường tự do chịu điều tiết của “Bàn tay vô hình”

Tóm lại, mô hình tăng trưởng của trường phái Tân Cổ Điển đã nhận ra vai trò của yếu tố công nghệ và cho rằng nó là yếu tố quan trọng nhất tác động tới tăng trưởng, nhờ có công nghệ mà có nhiều cách kết hợp đầu vào trong sản xuất

Mô hình tăng trưởng Harrod – Domar (mô hình tăng trưởng của trường phái Keynes)

Học thuyết kinh tế của trường phái Keynes ra đời vào những năm 30 của thế kỷ 20 sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933, khi mà các lý thuyết trước đó

đã không còn phù hợp với điều kiện mới Năm 1936, J.Maynard Keynes (1883 – 1946) cho ra đời tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” đã đánh dấu sự ra đời của trường phái Keynes

Trang 18

Mô hình tăng trưởng Harrod – Domar đã kế thừa và phát triển từ mô hình tăng trưởng của Ricardo Theo đó, đầu tiên các nhân tố tác động tới tăng trưởng chỉ gồm có lao động (L) và nguồn vốn (K) Tiếp đến, để tăng trưởng kinh tế cần đầu tư vào vốn dự trữ Nói cách khác tiết kiệm (S) và đầu tư (I) là yếu tố quyết định tăng trưởng trong mô hình Harrod – Domar Chính vì vậy ở đây đã có sự xuất hiện vai trò của chính phủ trong việc điều tiết các nguồn tiết kiệm, tích lũy và đầu tư

Mô hình cũng đưa ra cách tính hệ số ICOR có ý nghĩa thực tế trong việc đánh giá năng lực quản lý, giá cả của đầu tư trong hoàn cảnh yếu tố công nghệ như nhau, trình

độ công nghệ và mức độ khan hiếm của các yếu tố nguồn lực

Có thể nói mô hình Harrod – Domar được thể hiện bằng hàm sản xuất giản đơn nhất và nổi tiếng nhất được sử dụng trong nghiên cứu, phân định và phát triển kinh tế

Mô hình được sử dụng phổ biến trong các nước đang phát triển, được xem là một phương pháp đơn giản để xem xét mối quan hệ tăng trưởng và nhu cầu tư bản Đặc biệt, trong một số trường hợp nó tỏ ra rất hữu ích trong tăng trưởng của các quốc gia trên thế giới thông qua việc huy động vốn

Như vậy, mô hình cho thấy sự tiến bộ là đã khẳng định được vai trò quan trọng của chính phủ trong việc điều tiết, ổn định và tăng trưởng nền kinh tế Yếu tố nguồn lực R

ở đây không chỉ đơn thuần là đất đai mà được mở rộng lên thành tài nguyên thiên nhiên

Mô hình tăng trưởng của Solow (1956)

Năm 1956 dựa trên tư tưởng thị trường tự do của trường phái Tân Cổ Điển Robert Solow đã xây dựng mô hình tăng trưởng mới Ông chia các yếu tố nguồn lực ra làm hai nhóm: Lao động (L), nguồn vốn (K) là nhóm yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng Trong khi đó, công nghệ (T) là yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu và vẫn là yếu tố ngoại sinh Ông cho rằng công nghệ (T) mới là yếu tố quyết định tới tăng trưởng, các nhân tố

Trang 19

còn lại sẽ vấp phải điểm dừng tại giới hạn của nó, chỉ có công nghệ (T) mới tạo nên tăng trưởng liên tục

Mô hình này cho thấy tiết kiệm, tăng dân số và tiến bộ công nghệ có ảnh hưởng như thế nào tới sản lượng cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế Đặc biệt trong mô hình này Solow đã đưa những tính toán của mình dựa vào các con số bình quân trên đầu người, điều này đảm bảo cho sự tăng trưởng một cách hợp lý, công bằng hơn và đơn giản hóa tính toán Solow cũng giải thích được sự có khoảng cách của các nền kinh tế, các tính chất hội tụ của nền kinh tế hay sự san bằng cách biệt giàu nghèo giữa các quốc gia

Với các lý thuyết trong mô hình tăng trưởng của mình, Solow đã kế thừa và hoàn thiện mô hình tăng trưởng của Harrod – Domar, với việc thêm yếu tố công nghệ (T) vào mô hình tăng trưởng đã khắc phục được khiếm khuyết của mô hình Harrod – Domar Mặc dù là nhà kinh tế của trường phái Tân Cổ Điển ủng hộ thị trường tự do nhưng Solow cũng không phủ định hoàn toàn vai trò của chính phủ Như vậy, mô hình của Solow đã có sự kế thừa kết hợp cả hai mô hình tăng trưởng của hai trường phái Tân Cổ Điển và Keynes Đồng thời, Solow phát triển lên thành một mô hình tăng trưởng mới của mình

Mô hình tăng trưởng hiện đại của Samuelson (1948)

Sau một thời gian áp dụng lý thuyết của trường phái Keynes, các quốc gia có xu hướng quá nhấn mạnh vai trò của các chính sách kinh tế nên hạn chế mức độ tự điều chỉnh của thị trường và xuất hiện những trở ngại mới cho quá trình tăng trưởng Trong bối cảnh đó, một trường phái kinh tế mới ra đời vào những năm 40 của thế kỷ 20, lý thuyết kinh tế mới này ủng hộ xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp có sự kết hợp một cách hợp lý giữa “Bàn tay hữu hình” và “Bàn tay vô hình” Thực chất đó là sự xích lại gần nhau của học thuyết kinh tế Tân Cổ Điển và học thuyết kinh tế của Keynes Tuy

Trang 20

nhiên đó không chỉ là một phép cộng toán học đơn thuần mà là một sự kết hợp với những sự phát triển quan trọng

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại thống nhất với sự xác định mô hình kinh tế Tân Cổ Điển về các yếu tố nguồn lực là nguồn vốn (K), lao động (L), tài nguyên (R), công nghệ (T) và nâng tài nguyên (R) lên thành tài nguyên thiên nhiên chứ không phải chỉ là đất đai như trước Đồng thời, lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại cũng thống nhất kiểu phân tích của hàm Cobb – Douglas về sự tác động của các yếu tố nguồn lực Các nhà sản xuất kinh doanh có thể lựa chọn sử dụng công nghệ nhiều vốn hoặc nhiều lao động Do đó, mô hình cũng thống nhất với mô hình Harrod – Domar về vai trò của vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế

Samuelson cho rằng một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế hiện đại là

“kỹ thuật tiên tiến hiện đại dựa vào việc sử dụng vốn lớn” Do đó, vốn là yếu tố quan trọng để phát huy tác động của yếu tố khác, quy luật cận biên không bị chi phối bởi có hai loại đầu tư, đó là đầu tư vào tư bản cố định và đầu tư vào tri thức, giáo dục, công nghệ Vì vậy, trong tính toán kinh tế ngày nay hệ số ICOR vẫn được coi là cơ sở để xác định tỷ lệ đầu tư cần thiết phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tóm lại, lý thuyết kinh tế học hiện đại đã giải quyết các vướng mắc, khắc phục những nhược điểm của các mô hình kinh tế trước đó Hơn thế nữa, nó đã đánh giá một cách có hệ thống chính xác, đầy đủ, rõ ràng vai trò của các yếu tố nguồn lực là nguồn vốn (K), lao động (L), đất đai (R), công nghệ (T) và vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế, cũng như cho thấy được mối quan hệ giữa các yếu tố nguồn lực này

2.1.3 Cách tính tăng trưởng kinh tế

Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần so sánh

Trang 21

Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế

kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %

Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức: y = dY/Y × 100(%)

Trong đó Y là quy mô của nền kinh tế (được đo bằng GDP hoặc GNP) và y là tốc

độ tăng trưởng

Blanchard (2000) cho rằng có hai cách để định nghĩa về GDP: Thứ nhất, GDP là giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng (được tính bởi phần tiêu dùng cuối cùng) được sản xuất ra trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Thứ hai, GDP là tổng giá trị tăng thêm trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định GDP thường được tính bằng ba cách: Thứ nhất là phương pháp giá trị gia tăng (phương pháp sản xuất), thứ hai là phương pháp chi tiêu và cuối cùng là phương pháp thu nhập (phụ lục 1)

2.2 Khái niệm và lý thuyết về vốn con người

2.2.1 Khái niệm vốn con người

Theo OECD (1998), vốn con người (Human Capital) được hiểu là những gì liên quan đến tri thức, kỹ năng và những thuộc tính tiêu biểu khác của một cá nhân ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế Đây là một khái niệm phức tạp và có nhiều phương pháp đo lường khác nhau Có thể hiểu vốn con người là kết quả của các quá trình đầu

tư vào các hoạt động nhằm nâng cao năng suất lao động cá nhân như giáo dục, đào tạo,

y tế và các yếu tố khác

Cơ sở lý thuyết vốn con người đề cập đến sự đầu tư vào con người nhằm gia tăng năng suất lao động Becker (1993) cho rằng sự đầu tư này bao gồm đào tạo phổ cập trong nhà trường và đào tạo chuyên môn trong quá trình làm việc Đào tạo phổ cập là loại hình đào tạo có ích lợi như nhau (làm tăng năng suất) trong mọi doanh nghiệp

Trang 22

Đào tạo chuyên môn là loại hình đào tạo chỉ làm tăng năng suất tại những doanh nghiệp liên quan và giá trị đào tạo sẽ mất đi khi người lao động rời khỏi loại hình doanh nghiệp này Lý thuyết vốn con người nhấn mạnh đến khái niệm các cá nhân là những nhà đầu tư, cũng giống như các công ty trong các lý thuyết đầu tư vốn hữu hình

Lý thuyết này cho rằng các cá nhân sẽ đầu tư vào giáo dục để kiếm được lợi ích cao hơn vào những năm sau khi học Sự đầu tư này bao gồm các chi phí học tập và thu nhập bị giảm trong ngắn hạn do dành thời gian cho việc đi học Tuy nhiên, nhà đầu tư

hy vọng sẽ kiếm được thu nhập cao hơn trong tương lai Khác với vốn vật chất, vốn con người có khả năng tăng lên và tự sinh ra khi sử dụng (liên quan đến kinh nghiệm) Mặt khác, nó có khả năng di chuyển và chia sẻ do vậy không tuân theo quy luật “năng suất biên giảm dần” như vốn vật chất Lý thuyết vốn con người là nền tảng cho sự phát triển nhiều lý thuyết kinh tế Mincer (1989) đã tóm tắt những đóng góp như sau: “Vốn con người đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế: (i) Nó là các kỹ năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo, vốn con người là yếu tố của quá trình sản xuất kết hợp với vốn hữu hình và các lao động “thô” (không có kỹ năng) để tạo ra sản phẩm; (ii) Nó là kiến thức để tạo ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế”

Theo Laroche (1999), vốn con người có các đặc điểm như sau: (i) Vốn con người

có cả lượng và chất; (ii) Vốn con người là hàng hóa bất khả thương; (iii) Vốn con người vừa mang tính cá nhân và vừa mang tính cộng đồng

2.2.2 Các thước đo vốn con người

Các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách đã công nhận vốn con người là một loại tài sản cơ bản của các nền kinh tế tri thức, do đó việc đo lường loại tài sản này

vô cùng quan trọng Sau đây, tác giả trình bày một số thước đo cơ bản về vốn con người đã được vận dụng trong các nghiên cứu trước đây:

Trang 23

Thước đo vốn con người dựa trên số năm đi học bình quân

Trong các nghiên cứu thực nghiệm, người ta đã sử dụng nhiều thước đo vốn con người như tuổi thọ, tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ lệ nhập học ở các cấp, tỷ lệ học sinh – giáo viên, tỷ trọng chi tiêu cho giáo dục trong GDP và nhiều thước đó khác Những thước đo này phần nào cho biết mức vốn con người của mỗi quốc gia nhưng độ chính xác của thước đo phụ thuộc vào giả thiết chúng tương quan đến mức nào với vốn con người của quốc gia đó

Những nghiên cứu về tăng trưởng trong thời kỳ đầu thường sử dụng tỷ lệ biết chữ ở người trưởng thành và tỷ lệ nhập học để đo mức vốn con người của một quốc gia Ví dụ, Romer (1990) lấy tỷ lệ biết đọc biết viết làm thước đo vốn con người; Barro (1991)

sử dụng tỷ lệ nhập học ở bậc tiểu học; Mankiw, Romer và Weil (1992) sử dụng tỷ lệ nhập học ở bậc trung học cơ sở Tuy nhiên, khả năng biết đọc biết viết hay số lượng nhập học đều chỉ là bước đi đầu tiên trong quá trình tạo dựng nên vốn con người Những biến số này có sẵn ở nhiều quốc gia nhưng không thể đo mức vốn con người phục vụ cho sản xuất của các quốc gia đó một cách chính xác Tỷ lệ nhập học các cấp phản ánh một loại biến kỳ của giáo dục và tích lũy những biến kỳ này chỉ là một trong những nhân tố hình thành nên vốn con người trong tương lai Tỷ lệ biết chữ ở người trưởng thành đo được một yếu tố của mức vốn con người ở hiện tại, nhưng lại không bao gồm kiến thức và những kỹ năng mà con người có được sau khi đã trải qua các lớp học đầu tiên ở cấp tiểu học

Sau khi Barro và Lee (1993) tính toán được phân bố trình độ giáo dục cho nhiều quốc gia trong giai đoạn 1960-1990, thì thước đo mức vốn con người thông dụng nhất chính là số năm đi học bình quân của lực lượng lao động Số năm đi học bình quân được tính bằng tổng các tích giữa số năm đi học nhân với số người trong mỗi nhóm trình độ, rồi sau đó chia cho tổng số người Lợi thế của việc sử dụng số năm đi học bình quân so với tỷ lệ biết chữ ở chỗ là nó có thế phản ánh trực tiếp và toàn diện khái

Trang 24

niệm vốn con người có trong dân số của một quốc gia Hơn thế nữa, số liệu về tỷ lệ nhập học ở hiện tại phải được lấy trễ một kỳ (3-5 năm) nhằm đảm bảo học sinh hoàn thành cấp học và bước vào thị trường lao động Tuy nhiên, chưa kể đến những vấn đề

do sai số phép đo 1 gây ra, thì số năm đi học bình quân cũng chưa hẳn đã là thước đo vốn con người tốt nhất, bởi một số nguyên nhân sau: Đầu tiên, thước đo này giả định rằng mỗi người lao động trong mỗi nhóm trình độ giáo dục đều là sự thay thế hoàn hảo cho người lao động ở các nhóm trình độ khác Thứ hai, nó giả định rằng sự chênh lệch

về năng suất lao động giữa những người lao động có trình độ giáo dục khác nhau tỷ lệ thuận với số năm đi học của họ (ví dụ, theo Mulligan và Sala-i-Martin (1995, 1997) người lao động đã tốt nghiệp trung học phổ thông sẽ có năng suất làm việc cao gấp 12 lần so với người lao động mới trải qua 1 năm đi học) Thứ ba, độ co giãn thay thế giữa những người lao động thuộc các nhóm trình độ khác nhau được giả định là không thay đổi ở mọi nơi và tại mọi thời điểm, bất kể lĩnh vực học tập, chất lượng giáo viên hay hạ tầng cơ sở giáo dục luôn có sự khác nhau theo thời gian và không gian (Mulligan và Sala-i-Martin, 2000)

Ngoài ra, những chuỗi số liệu vốn con người được xây dựng dựa trên số năm đi học bình quân không xét đến chi phí thực tế tương đối cho một năm tiểu học so với một năm học ở các bậc cao hơn Bên cạnh đó, nguồn lực dành cho một năm học mỗi cấp có

sự thay đổi lớn theo thời gian và có sự khác biệt lớn giữa các nước Vì vậy, Judson (1995, 2002) cho rằng rất khó để so sánh số năm đi học với mức vốn vật chất, GDP hay những biến số kinh tế vĩ mô khác

Thước đo vốn con người dựa trên thu nhập

Theo Mulligan và Sala-i-Martin (1995, trang 2), “trình độ của một con người liên quan đến mức tiền lương người đó nhận được trên thị trường” Nếu hình thức giáo dục

1

Mặc dù có tầm quan trọng như vậy, nhưng số liệu về thời gian đi học trung bình của các quốc gia không đảm bảo độ chính xác, chủ yếu là vì chúng được tính toán dựa trên các tỷ lệ nhập học hàng năm (Krueger, 2001)

Trang 25

của một người nhận được là có ích, thì thị trường sẽ mang lại cho người đó mức lương cao Do đó, Mulligan và Sala-i-Martin (1997) đo vốn con người cho mỗi nền kinh tế bằng cách cộng gia quyền số người lao động của nền kinh tế đó với quyền số là tỷ lệ giữa tiền lương của họ với tiền lương của người lao động có mức vốn con người bằng 0 (tức là người lao động chưa trải qua năm đi học nào)

Mulligan và Sala-i-Martin (1997) cho rằng đối với thước đo vốn con người, việc cho những người lao động khác nhau có trọng số khác nhau là một ý tưởng hay vì hai nguyên nhân: Trước hết, giáo dục ở những nơi khác nhau và tại những thời điểm khác nhau có chất lượng khác nhau Thứ hai, những loại và lượng giáo dục khác nhau cũng thích hợp với những không gian và thời gian khác nhau Để thước đo vốn con người bao hàm được các khái niệm chất lượng giáo dục và mức độ phù hợp của giáo dục với thị trường lao động, thì việc áp những trọng số khả biến là điều cần thiết

Mulligan và Sala-i-Martin (1997) bắt đầu quá trình xây dựng chuỗi số liệu tổng vốn con người cho một nền kinh tế bằng tổng số lao động (đã được điều chỉnh dựa trên chất lượng – trình độ của người lao động) có trong dân số:

(2.6)

Trong đó biểu thị số lao động trong nền kinh tế i tại thời điểm t mà đã có s năm đi học Mỗi người lao động đóng góp vào tổng vốn con người của nền kinh tế thông qua tham số hiệu quả của người đó Những tham số hiệu quả này được đo bằng tỷ lệ tiền lương như đã nói ở trên:

(2.7)

Giả thiết cho cách tính này là mức tiền lương của một cá nhân chịu ảnh hưởng của hai yếu tố: Một là, khả năng của người lao động đó và hai là số lượng vốn con người

Trang 26

của cả nền kinh tế Với một mức trình độ nhất định của người lao động, sự gia tăng vốn vật chất làm tăng năng suất của người đó do tính chất bổ sung giữa vốn vật chất và vốn con người Tương tự như vậy, số lượng vốn con người tăng sẽ làm giảm năng suất do tính chất lợi suất giảm dần của vốn con người (ở đây được thể hiện ở mức tiền lương giảm bớt) Để xác định yếu tố cá nhân ở đây, chúng ta cần tách được yếu tố tổng hợp bằng cách chia tiền lương của của người lao động đang xét cho tiền lương của người lao động không có trình độ,

Thước đo vốn con người dựa trên thu nhập từ lao động này có ưu điểm là đảm bảo tính khả biến của độ co giãn thay thế giữa các loại trình độ lao động Ngoài ra, nó không áp đặt là mọi lao động có cùng số năm đi học nhất thiết phải có cùng kỹ năng làm việc (nghĩa là nếu họ học những ngành khác nhau thì năng suất làm việc của họ cũng có sự khác nhau) Điều đó cho phép năng suất lao động tương đối có thể thay đổi theo thời gian và giữa các nền kinh tế

Vấn đề chủ yếu với thước đo vốn con người dựa trên thu nhập từ lao động là cách xây dựng thước đo vốn con người như vậy có thể tạo ra độ chệch, bởi vì một mặt mức giáo dục có mối tương quan dương với khả năng của người lao động, nhưng mặt khác giá trị thị trường của giáo dục không bao hàm được những lợi ích ngoại sinh do vốn con người mang lại (Coulombe và Tremblay, 2001) Ngoài ra, nếu tiền lương tương đối giữa những người lao động thay đổi vì một nguyên nhân nào khác ngoài tiến bộ công nghệ hoặc sự thay đổi vốn con người, thì khi đó thước đo này không phản ánh đúng sự biến động mức vốn con người của mỗi nền kinh tế Trong những trường hợp giá cả thay đổi thất thường, thì thước đo vốn con người dựa trên thu nhập từ lao động cũng biến động theo (Mulligan và Sala-i-Martin, 2000) 2

2 Sau khi xây dựng thước đo vốn con người dựa trên thu nhập từ lao động, Mulligan và Sala-i-Martin (1995, 2000) đã cho ra đời một số thước đo vốn con người khác, cho phép có sự so sánh cả về không gian lẫn thời gian giữa các chuỗi số

Trang 27

Thước đo vốn con người dựa trên chi phí giáo dục

Một hướng đi mới do Judson (1995) đề xuất là tính chi phí giáo dục, lấy đó làm trọng số để tính mức vốn con người cho mỗi cấp tiểu học, trung học cơ sở và các cấp bậc giáo dục khác Giả thiết cơ bản trong nghiên cứu này là chi tiêu của chính phủ vào giáo dục là thước đo tốt cho chất lượng của giáo dục, hay ít nhất là cho giá trị của giáo dục được cung ứng

Từ tỷ lệ Sijt (tỷ lệ giữa mức chi cho giáo dục bình quân học sinh ở trình độ thứ j trên GDP/người) sẵn có trong số liệu thống kê của các quốc gia, Judson (1995) biến nó thành tổng chi phí cho giáo dục bằng cách nhân Sijt với Yijt (GDP/người thực tế):

d ijt =s ijt y ijt (2.8)

Trong đó i biểu thị quốc gia, t biểu thị thời gian và j biểu thị trình độ giáo dục Sau đó, Judson sử dụng dijt làm trọng số trong thước đo vốn con người của mỗi nền kinh tế Theo đó, vốn con người trung bình trên mỗi người lao động bằng:

(2.9)

Trong đó aijt là số năm đi học trung bình của lực lượng lao động ở mỗi mức trình

độ Khi đó, tổng vốn con người của cả nền kinh tế chính là:

H it =h it L it (2.10)

Theo cách làm này, thước đo vốn con người dựa trên chi phí giáo dục của Judson

có một số ưu điểm so với số năm đi học trung bình Thứ nhất, nó cho phép trọng số của thước đo (chi phí giáo dục) thay đổi theo thời gian, không gian và theo trình độ giáo dục Bên cạnh đó, theo cách xây dựng của Judson, sự tăng trưởng của chuỗi vốn con người cũng phản ánh sự chuyển dịch của quốc gia từ việc mở rộng giáo dục tiểu học (chi phí thấp) sang mở rộng giáo dục trung học (chi phí cao hơn) Ngoài ra, do thước

đo này được tính theo đơn vị tiền tệ nên chúng ta có thể so sánh vốn con người với các

Trang 28

biến số kinh tế vĩ mô khác như thu nhập quốc dân (GDP) hay vốn vật chất (Judson, 2002)

Tuy nhiên, thước đo này có một số nhược điểm Thứ nhất, nó đo chi phí để tạo ra vốn con người tại một thời điểm nhất định, nhưng vốn con người là sự tích lũy từ giáo dục trong một khoảng thời gian rất dài, do đó chi phí tại thời điểm hiện tại không phải

là chỉ số chính xác để đo giá trị vốn con người đã được tạo dựng từ lâu, nhất là khi chất lượng giáo dục của một quốc gia thay đổi theo thời gian (Judson, 1995) Thứ hai, cũng giống như vốn vật chất, số tiền được chi tiêu cho giáo dục chưa hẳn đã là chỉ số đáng tin cậy thể hiện chất lượng của giáo dục Có vô số ví dụ về những thành tựu giáo dục tốt với chi phí tối thiểu và ngược lại Thứ ba, chi phí giáo dục được sử dụng để đo vốn con người ở đây chỉ gồm chi tiêu chính phủ vào giáo dục chứ không có chi tiêu của khu vực tư nhân (Judson, 2002) Cuối cùng, theo một số nhà nghiên cứu, chi phí tạo ra vốn con người phải bao gồm cả phần thu nhập từ lao động bị đánh đổi

Tóm lại, mặc dù các thước đo vốn con người do Mulligan và Sala-i-Martin (1997), Judson (1995, 2002) đề xuất đều có nhiều ưu điểm so với thước đo số năm đi học bình quân, nhưng bản thân chúng vẫn có những nhược điểm nhất định Do vậy, thước đo vốn con người nào đúng đắn và thích hợp nhất vẫn là vấn đề gây tranh cãi

2.2.3 Vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế

Trong điều kiện nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá, yếu tố vốn hữu hình tuy còn giữ vai trò quan trọng nhưng không như trong giai đoạn công nghiệp hoá, thay vào đó vai trò của vốn vô hình mà đặc biệt là vốn con người ngày càng lớn hơn Đây là nguồn vốn rất quan trọng với các công ty vì được tính vào giá trị của họ và hình thành nên vốn vô hình của quốc gia Mincer (1989) cho rằng vốn con người đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế: (i) Đó là các kỹ năng được tạo

ra bởi giáo dục và đào tạo, vốn con người là yếu tố của quá trình sản xuất kết hợp với vốn hữu hình và các lao động “thô” (không có kỹ năng) để tạo ra sản phẩm; (ii) Đó là

Trang 29

kiến thức để tạo ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế Ngoài ra, người ta đã đưa vốn con người như một yếu tố đầu vào để phân tích tăng trưởng kinh tế

và đã chỉ ra ảnh hưởng tích cực của nó giống như vốn hữu hình nhưng mức độ ngày càng lớn hơn Tuy nhiên, nếu đầu tư hình thành vốn con người chưa tốt, không hiệu quả thì nguồn vốn này không tác động tích cực mà lại làm giảm tăng trưởng Theo cách tiếp cận thu nhập GDP của nền kinh tế bằng tổng thu nhập của mọi người trong nền kinh tế, khi thu nhập của mọi người tăng lên cũng làm tăng chỉ tiêu này Borjas, George (2005) thông qua mô hình giáo dục chỉ ra ảnh hưởng tích cực của giáo dục tới thu nhập Thực tế phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới đã cho thấy tầm quan trọng của vốn con người Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh, hay sự phục hồi kinh tế nhanh của Tây Âu nhờ vào nguồn nhân lực chất lượng cao chứ không phải tài nguyên Với các nước đang phát triển dù có nhiều tài nguyên nhưng thiếu lao động có chất lượng nên sự phát triển chậm (Waines, 1963) Mặt khác, các nước đang phát triển cố gắng thu hút thêm nguồn vốn hữu hình từ bên ngoài để tăng cường cơ sở vật chất cho sự phát triển, tuy nhiên do trình độ quản lý kém do thiếu nhân lực chất lượng cao nên hiệu quả sử dụng vốn huy động thấp đã không cho phép phát triển nhanh kinh tế ở đây Sự gia tăng vốn con người dẫn tới mức năng suất cao, ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế và do đó các nhà chính trị và hoạch định chính sách đều cố gắng hành động nhằm tạo ra vốn con người cho quốc gia

Lucas (1988) đưa ra giới thiệu phạm trù tăng trưởng nội sinh dựa vào tích luỹ vốn con người Cốt lõi của mô hình tăng trưởng nội sinh đó là lợi suất không đổi theo quy

mô gắn với việc tạo ra các yếu tố đầu vào, tư bản hữu hình và vốn con người Đầu tư vào tư bản hữu hình và vốn con người bắt buộc phải cân bằng giữa tiêu dùng hiện tại

và tương lai Tiêu dùng tối ưu được xác định từ mô hình tối đa hoá lợi ích của người tiêu dùng Trong mô hình này, sở thích người tiêu dùng và tích luỹ vốn con người cùng nhau xác định mức tăng trưởng dài hạn Do tăng trưởng kinh tế được xác định từ các biến cấu trúc trong mô hình nên tăng trưởng được gọi là tăng trưởng nội sinh Sự gia

Trang 30

tăng vốn con người thể hiện qua mức lương cao hơn và đó không phải là do các tác động bên ngoài Vì vậy, đó không phải là lý do cho sự can thiệp của chính phủ trong khuôn khổ này Các tranh luận cho rằng, chính phủ nên hỗ trợ nhiều cho giáo dục vì giáo dục tốt cho tăng trưởng

Lucas cho rằng vốn con người có đóng góp quan trọng trong nền kinh tế, thể hiện cụ thể như sau: (i) Vốn con người làm tăng năng suất lao động của mỗi cá nhân dẫn đến tăng năng suất chung và tăng trưởng kinh tế; (ii) Vốn con người của mỗi cá nhân cũng ảnh hưởng đến năng suất lao động của các nhân tố khác Mankiw và cộng sự (1992) khẳng định vốn con người là yếu tố đầu vào của tăng trưởng kinh tế Kết luận này cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu của Romer (1990), Barro và Sala-i-Martin (1995)

Như vậy, đầu tư vào vốn con người đem lại lợi ích cho mỗi cá nhân nói riêng và cho toàn xã hội nói chung Theo Lutz (2001), ở cấp độ khu vực và toàn nền kinh tế, lực lượng lao động có trình độ giáo dục tốt được xem là nhân tố đầu tiên tác động đến trình

độ phát triển công nghệ – kỹ thuật và phát triển kinh tế Trong khi đó, Schultz (1961)

đã dự báo về vốn con người và xem đây là yếu tố tạo nên sự chênh lệch đối với tăng trưởng kinh tế

Trong các lý thuyết kinh tế Cổ Điển, Schultz (1961) xem giáo dục là khoản đầu tư vào con người và được xem là một loại vốn – vốn con người Nghiên cứu chỉ ra các chính sách liên quan đến đầu tư vào vốn con người và cho rằng các rào cản đối với đầu

tư vào vốn con người sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và giảm lợi ích của toàn

xã hội Đây cũng là kết luận được rút ra từ nghiên cứu của Trần Thọ Đạt và cộng sự (2007)

Trong những thập kỷ gần đây, các nghiên cứu về vốn con người được quan tâm nhiều hơn, đặc biệt trong các lý thuyết tăng trưởng nội sinh Các lý thuyết này chỉ ra rằng những người có số năm đi học nhiều hơn sẽ có công việc tốt hơn và thu nhập cao

Trang 31

hơn Liu và các tác giả (1993) cũng cùng quan điểm trên, theo đó nếu chênh lệch thu nhập phản ánh chênh lệch năng suất lao động, trình độ học vấn của mỗi cá nhân thì một xã hội càng nhiều người có trình độ giáo dục cao sẽ đem lại năng suất kinh tế càng lớn cho toàn nền kinh tế, làm tăng trưởng kinh tế nhiều hơn

Như vậy, có thể khẳng định vai trò của vốn con người đóng góp vào nền kinh tế rất lớn Tuy nhiên, vốn con người đóng những vai trò khác nhau trong các lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại khác nhau Trong mô hình tăng trưởng Cổ Điển, vốn con người không được trực tiếp nhắc đến trong quá trình sản xuất mặc dù có đề cao vai trò của yếu tố công nghệ Ngược lại, trong các mô hình tăng trưởng nội sinh, yếu tố vốn con người đóng vai trò trọng tâm đối với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Theo Aghion và Howitt (1998), dựa vào vai trò vốn con người trong các mô hình thì có thể chia các mô hình nội sinh thành: (i) Khái niệm vốn bao gồm vốn con người Tăng trưởng kinh tế bền vững được tích lũy bởi vốn con người theo thời gian (Lucas, 1998); (ii) Vốn con người hiện có là nguồn gốc cho sự cải tiến công nghệ và tăng trưởng bền vững (Romer, 1990)

2.3 Hàm sản xuất Cobb – Douglas

Hàm sản xuất là một dạng hàm thể hiện mối quan hệ giữa một lượng đầu vào và lượng sản phẩm đầu ra Hàm sản xuất nói chung có dạng:

Trang 32

nhau Để tạo ra cùng một mức sản lượng, nếu một đầu vào nào đó được sử dụng nhiều

hơn, chắc chắn một loại đầu vào khác phải được sử dụng ít hơn

Trong kinh tế học, hàm sản xuất Cobb – Douglas được sử dụng rộng rãi và phổ biến

trong việc phân tích tăng trưởng và năng suất, nó thể hiện mối quan hệ giữa một lượng

đầu vào và một lượng đầu ra Nó được đề xuất bởi Knut Wicksell (1851 – 1926) và

được thử nghiệm với bằng chứng thống kê của Charles Cobb và Paul Douglas năm

1928 Cobb và Douglas (1928) công bố một nghiên cứu, trong đó họ mô phỏng sự phát

triển của nền kinh tế Mỹ trong thời gian 1899 – 1922 với quan điểm đơn giản hóa là

nền kinh tế, trong đó sản lượng sản xuất được xác định bởi số lượng lao động tham gia

và số vốn đầu tư Trong khi có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế mô

hình của họ được chứng minh là khá chính xác Hàm Cobb – Douglas có dạng như sau:

Y=AL α K β (2.12)

Trong đó: Y là tổng sản lượng được tính bằng giá trị bằng tiền của tất cả các hàng

hóa sản xuất trong một năm

L: Đầu vào lao động được tính bằng tổng số lao động làm việc trong một năm

K: Vốn đầu vào được tính bằng giá trị bằng tiền của tất cả máy móc, thiết bị và các

yếu tố khác

A: Một yếu tố trong năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP), có thể là khoa học công

nghệ α, β là độ co giãn của sản lượng theo lao động và vốn (0 < α < 1; 0 < β < 1)

Trong hàm sản xuất Cobb – Douglas, nếu lao động (L) cố định, sản lượng biên của

vốn tại một điểm nào đó (ở một mức K nào đó) là lượng đầu ra tăng thêm khi tăng

thêm một đơn vị vốn Sản lượng biên của vốn là:

(2.13)

Sản lượng biên của vốn thay đổi theo K được tính theo công thức:

Trang 33

(với 0 < < 1) (2.14)

Do đó, sự thay đổi sản lượng biên của vốn theo K luôn luôn âm vì (α-1) < 0 Điều

này cho thấy MPK luôn giảm dần theo K Tương tự, sản lượng biên của lao động là

lượng đầu ra tăng thêm khi sử dụng thêm một đơn vị lao động Sản lượng biên của lao

động là:

(2.15)

Sản lượng biên của lao động thay đổi theo L được tính theo công thức:

(với 0 < < 1) (2.16)

Do đó, sự thay đổi sản lượng biên của lao động theo L luôn luôn âm vì (β -1) < 0

Điều này cho thấy MPL luôn giảm dần theo L Có thể giải thích lý do sản phẩm biên

của một yếu tố sản xuất có xu hướng giảm dần như sau: Vì các yếu tố sản xuất khác

được giữ nguyên, nên khi tăng dần số lượng của riêng một loại yếu tố sản xuất, mỗi

đơn vị của nó ngày càng có ít hơn các yếu tố sản xuất khác để phối hợp Vì thế, chắc

chắn từ một điểm nào đó, sản phẩm tăng thêm từ mỗi đơn vị yếu tố sản xuất bổ sung

thêm sẽ ngày càng giảm dần Trường hợp cố định K, việc tăng thêm L thoạt tiên có thể

khiến cho tổng sản lượng tăng lên, song mức độ gia tăng có xu hướng chậm dần; Nếu

cứ tiếp tục tăng L, tổng sản lượng sẽ giảm, vì số lượng lao động quá nhiều có thể dẫn

đến sự ngáng trở lẫn nhau trong quá trình sản xuất Giải thích tương tự đối với sản

phẩm biên của vốn (cố định L)

2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm

2.4.1 Nghiên cứu nước ngoài

Ng và Leung (2004) – Nghiên cứu về các tỉnh của Trung Quốc: Trong nghiên cứu

của Ng và Leung (2004), họ sử dụng một dạng hàm sản xuất Cobb – Douglas mở rộng,

với GDP thực tế của tỉnh là biến phụ thuộc, còn biến độc lập bao gồm vốn vật chất,

Trang 34

vốn con người, số lao động và một tập hợp các biến số khác Để đo mức vốn con người của từng tỉnh, hai nhà khoa học đã dùng tỷ lệ nhập học bậc đại học và cao đẳng thể hiện số lượng và tỷ lệ giáo viên trên học sinh ở bậc trung học cơ sở thể hiện chất lượng của giáo dục Những biến số khác trong hàm hồi quy gồm có: Độ mở của nền kinh tế trong nước, tỷ trọng chi tiêu của chính phủ trong nền kinh tế, tỷ trọng của khu vực nhà nước trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp và tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong GDP Gộp số liệu của 29 tỉnh và các vùng tự trị trong giai đoạn 1986 và 1998, Ng và Leung (2004) thu được 377 quan sát để ước lượng các mô hình hiệu ứng cố định và hiệu ứng ngẫu nhiên Kết quả của nghiên cứu này cho thấy các hệ số của tỷ lệ nhập học bậc đại học, cao đẳng dương và có ý nghĩa thống kê tại các vùng miền Đông và miền Trung, nhưng lại không như vậy tại các vùng miền Tây Còn khi thước đo vốn con người là tỷ lệ giáo viên và học sinh thì hiệu ứng vốn con người có tầm ảnh hưởng lớn hơn tại khu vực miền Đông Từ đó, hai nhà nghiên cứu kết luận rằng việc mở rộng giáo dục các hệ đại học và cao đẳng, song song với việc nâng cao chất lượng giáo dục bậc phổ thông, là giải pháp nhằm phát triển kinh tế ở Trung Quốc, đặc biệt là với các vùng ven biển

Lau và cộng sự (1993) – Nghiên cứu về các bang của Brazil trong các năm 1970 – 1980: Nghiên cứu đo lường vốn con người bằng số năm giáo dục chính quy bình quân đầu người trong lực lượng lao động Họ cũng sử dụng xu thế thời gian để nắm bắt hiệu ứng của tiến bộ công nghệ Mọi sự biến đổi chất lượng đầu vào mà không do biến vốn con người tạo nên thì đều được phản ánh trong tiến bộ công nghệ Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trình độ giáo dục của lực lượng lao động có ảnh hưởng lớn, tích cực và có ý nghĩa thống kê đối với sản lượng Trong bốn nguồn tăng trưởng cơ bản, vốn con người giải thích được khoảng 25% tăng trưởng sản lượng ở Brazil trong những năm 1970 và

là nhân tố có tầm quan trọng thứ hai sau tiến bộ công nghệ Mặc dù kết quả ước lượng hiệu ứng của giáo dục rất cao cùng với phạm vi nghiên cứu chỉ bó gọn trong đất nước Brazil, nhưng công trình của Lau và cộng sự (1993) có nhiều điểm mới mẻ so với các

Trang 35

nghiên cứu cùng thời Kết quả đó thể hiện ở việc coi giáo dục là một nguồn của tăng trưởng, sử dụng như một thước đo tốt cho vốn con người và xây dựng được phương trình ước lượng từ một hàm tổng sản xuất

Martin và Herranz (2004) – Nghiên cứu về các vùng của Tây Ban Nha: Nghiên cứu

đo lường vốn con người dựa trên thước đo mà Mullingan và Sala-i-Martin (1997) đã xây dựng Theo Mulligan và Sala-i-Martin (1997) một người lao động làm việc không quá 20 năm mà chưa hề đi học hay chưa hoàn thành bậc tiểu học được gọi là một cá nhân không có vốn con người (tức là người lao động không có trình độ) Martin và Herranz (2004) sử dụng số liệu gộp, gồm 19 vùng lãnh thổ của Tây Ban Nha trong suốt giai đoạn 1995 – 2000 Để phục vụ việc phân tích, hai ông áp dụng phương pháp hiệu ứng cố định Kết quả cho thấy mọi biến số trong mô hình đều có mối tương quan dương đối với tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở các vùng của Tây Ban Nha Trong mọi kiểm định được thực hiện sau đó, vốn con người đều có ảnh hưởng quan trọng tới GDP và điều này càng đúng ở những vùng phát triển hơn

2.4.2 Nghiên cứu trong nước

Nguyễn Thị Tuệ Anh và Lê Xuân Bá (2005) – Nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam, nghiên cứu này phân tích một số yếu tố và khía cạnh nhằm đưa ra những đánh giá ban đầu về chất lượng tăng trưởng của tổng thể nền kinh tế Việt Nam Các phân tích tập trung vào ba vấn đề liên quan đến chất lượng tăng trưởng bao gồm: Hình thái đầu tư vào hình thái tài sản vốn vật chất và hình thái vốn con người; Nhận dạng mô hình tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 1990 – 2003, đặc biệt chú trọng tới đóng góp của vốn con người và phân tích diễn biến bất bình đẳng về phân phối thu nhập cũng như ảnh hưởng của tăng trưởng và bất bình đẳng tới giảm tỷ lệ nghèo Để đạt mục tiêu đề ra, nghiên cứu này xây dựng mô hình tăng trưởng Tân Cổ Điển sử dụng hàm sản xuất Cobb – Douglas mở rộng cho vốn con người Kết quả nghiên cứu cho thấy đóng góp của vốn con người vào tăng trưởng là khá cao, nghiên

Trang 36

cứu sử dụng phương pháp phổ biến trong các tài liệu phân tích định lượng về tăng trưởng Theo đó, tỷ lệ nhập học bậc phổ thông là cơ sở để tính toán vốn con người Trần Thọ Đạt và cộng sự (2007) – Nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố Việt Nam Tác giả sử dụng dữ liệu thu thập từ Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê của 61 tỉnh, thành phố trong giai đoạn 2001-

2005 Nghiên cứu đo lường vốn con người dựa trên ba thước đo: Số năm đi học bình quân, chi phí giáo dục bình quân và thu nhập bình quân Bên cạnh đó, Trần Thọ Đạt và cộng sự (2007) áp mô hình tăng trưởng Tân Cổ Điển dựa trên hàm sản xuất Cobb – Douglas với ba mô hình kinh tế lượng gồm: Mô hình hệ số không thay đổi (Pooled – OLS), mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng số năm đi học bình quân chính là thước đo vốn con người thích hợp nhất trong điều kiện các tỉnh, thành phố Việt Nam Với mô hình hiệu ứng cố định (FEM) là mô hình phù hợp nhất trong ba mô hình đề xuất, nghiên cứu chỉ

ra rằng có sự đóng góp của vốn con người trong tăng trưởng GDP của các tỉnh, thành phố Việt Nam tuy nhiên tỷ lệ không đồng đều

Thái Phúc Thành (2014) – Nghiên cứu về vai trò vốn con người đối với giảm nghèo bền vững tại Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2010 Dữ liệu thu thập từ hai nguồn: Nguồn dữ liệu sơ cấp (điều tra hộ gia đình với quy mô 270 hộ trên địa bàn 6 tỉnh Yên Bái, Hà Nội, Nghệ An, Kon Tum, Quảng Nam và Trà Vinh) và nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ TCTK (điều tra mức sống gia đình Việt Nam qua các năm 2002, 2004,

2006, 2008, 2010 và 2012) Phương pháp đo lường vốn con người dựa trên trình độ giáo dục phổ thông và chuyên môn kỹ thuật Kết luận của nghiên cứu cho thấy có sự ảnh hưởng của vốn con người đối với giảm nghèo bền vững ở Việt Nam, tuy nhiên tùy theo từng vùng và từng giai đoạn

Trang 37

Bảng 2.1 : Bảng tóm lược về kết quả nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả

trong và ngoài nước STT Tác giả Dữ liệu nghiên cứu Kết quả

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy các

hệ số của tỷ lệ nhập học bậc đại học và cao đẳng dương và có ý nghĩa thống kê tại các vùng miền Đông và miền Trung, nhưng lại không như vậy tại các vùng miền Tây Còn khi thước đo vốn con người là tỷ lệ giáo viên và học sinh thì hiệu ứng vốn con người có tầm ảnh hưởng lớn hơn tại khu vực miền Đông

1970, là nhân tố có tầm quan trọng thứ hai sau tiến bộ công nghệ

Trang 38

STT Tác giả Dữ liệu nghiên cứu Kết quả

Kết quả cho thấy mọi biến số trong mô hình đều có hiệu ứng dương đối với tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở các vùng của Tây Ban Nha Trong mọi kiểm định được thực hiện sau đó, vốn con người đều có ảnh hưởng quan trọng tới GDP, và điều này càng đúng ở những vùng phát triển hơn

2005

Nghiên cứu cho thấy rằng có sự đóng góp của vốn con người trong tăng trưởng GDP của các tỉnh, thành phố Việt Nam tuy nhiên tỷ lệ không đồng đều

Nguồn: Được tổng hợp bởi tác giả

Trang 39

2.5 Khung phân tích

Qua các bài nghiên cứu thực nghiệm trong nước và ngoài nước cho thấy các nhà kinh tế đã tìm kiếm các yếu tố ngoài vốn con người quyết định đến tăng trưởng kinh tế trong suốt thời gian dài như các nghiên cứu của Barro (1991), Mankiw và cộng sự (1992), Ng và Leung (2004), Trần Thọ Đạt và cộng sự (2007), Chen và Feng (2000) Một số yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng đến kinh tế các tỉnh, thành phố của một quốc gia như:

(i) Vốn đầu tư đại diện cho vốn vật chất của một nền kinh tế

(ii) Lực lượng lao động là yếu tố quan trọng không thể thiếu và có tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế

(iii) Mức độ hội nhập kinh tế quốc tế (độ mở của nền kinh tế) thường được đo lường bằng tỷ trọng vốn FDI trong tổng vốn đầu tư

(iv) Tỷ trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế

(v) Ảnh hưởng của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được tính bằng tỷ trọng giá trị công nghiệp của DNNN trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các tỉnh, thành phố

(vi) Ảnh hưởng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) được tính bằng tỷ trọng giá trị công nghiệp của DNNQD trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các tỉnh, thành phố

(vii) Chi tiêu của chính phủ

Với việc nghiên cứu tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế là trọng tâm và tác động của những yếu tố khác được đề cập đến với vai trò của các biến kiểm soát, từ các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm tóm lược ở trên, khung phân tích đề xuất như sau:

Ngày đăng: 13/03/2017, 19:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Bình, 2009. Vốn con người và đầu tư vào vốn con người. Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 2 (31), trang 1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn con người và đầu tư vào vốn con người
2. Hoàng Thị Chinh Thon và cộng sự, 2010. Tác động của chi tiêu công tới tăng trưởng kinh tế tại các địa phương ở VN. Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của chi tiêu công tới tăng trưởng kinh tế tại các địa phương ở VN
3. Ngô Minh Tuấn, 2007. Kinh nghiệm quốc tế về đo lường vốn con người. Tạp chí Quản lý Kinh Tế, số 15, trang 1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quốc tế về đo lường vốn con người
4. Nguy?n Th? Tu? Anh, V? Xuân Nguy?t H?ng, Tr?n Toàn Th?ng và Nguy?n M?nh H?i, 2006. Tác ??ng c?a ??u t? tr?c ti?p n??c ngoài t?i t?ng tr??ng kinh t? ? VN. Vi?n Kinh t? Trung ??ng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác ??ng c?a ??u t? tr?c ti?p n??c ngoài t?i t?ng tr??ng kinh t? ? VN
5. Nguyễn Thị Tuệ Anh và Lê Xuân Bá, 2005. Chất lượng tăng trưởng kinh tế - Một số đánh giá ban đầu cho VN. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng tăng trưởng kinh tế - Một số đánh giá ban đầu cho VN
6. Phạm Thế Anh, 2008. Chi tiêu của chính phủ và tăng trưởng kinh tế: Khảo sát lý luận tổng quan. Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi tiêu của chính phủ và tăng trưởng kinh tế
7. Phạm Thế Anh, 2008. Phân tích cơ cấu chi tiêu của chính phủ và tăng trưởng kinh tế ở VN. Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích cơ cấu chi tiêu của chính phủ và tăng trưởng kinh tế ở VN
8. Ricardo, D., 2002. Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa. Dịch từ tiếng anh. Người dịch Nguyễn Đức Thành và Nguyễn Hoàng Long, 2002. Hà Nội:Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
9. The World Bank, 2011. Báo cáo phát triển VN 2012. &lt;http://www- wds.worldbank.org/external/default/WDSContentServer/WDSP/IB/2011/12/13/000333037_20111213004140/Rendered/PDF/659800VIETNAME0elopment0Report02012.pdf&gt;. [Ngày truy cập 13 tháng 12 năm 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển VN 2012
11. Thái Phúc Thành, 2014. Vai trò của vốn con người trong việc giảm nghèo bền vững ở Việt Nam. Luận án Tiến sỹ, Đại học Kinh Tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của vốn con người trong việc giảm nghèo bền vững ở Việt Nam
12. Trần Thọ Đạt và cộng sự, 2007. Những nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh thành Việt Nam. NXB Kinh tế Quốc Dân, Đại học Kinh Tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh thành Việt Nam
Nhà XB: NXB Kinh tế Quốc Dân
1. Barro, R.J., 1991. Economic growth in a cross section of countries. Quarterly Journal of Economics, 106(2), pp. 407-443 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quarterly Journal of Economics
2. Barro, R.J., 1997. Determinants of economic growth: a cross-country empirical study. NBER Working Paper, (5698), pp. 1-118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: NBER Working Paper
3. Barro, R.J. and Lee, J.W., 1993. International Comparisons of Educational Attainment. NBER Working Paper Series, 32, pp. 363-394 Sách, tạp chí
Tiêu đề: NBER Working Paper Series
4. Barro, R.J. and Lee, J.W., 2010. A New Data Set of Educational Attainment in the World 1950-2010. NBER Working Paper Series, (15902) Sách, tạp chí
Tiêu đề: NBER Working Paper Series
5. Baro, R.J. and Sala-i-Martin, X., 1995. Endogenous Growth. Cambridge, MA:MIT Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Endogenous Growth
9. Chen and Feng, 2000. Determinants of economic growth in China: Private enterprise, education, and openness. China Economic Review, pp. 1 – 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: China Economic Review
10. Cobb, C.W. and Douglas, P.H., 1928. A Theory of Production. American Economic Review, pp.139-165 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Economic Review
11. Coulombe, S. and Tremblay, J.A., 2001). Human capital and regional convergence in Canada. Journal of Economic Studies, 28(3), pp. 154 - 180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Economic Studies
14. John Maynard Keynes, 1936. The General Theory of Employment, Interest and Money. Marxists.org, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marxists.org

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Giới hạn của sự tăng trưởng - Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2007   2014
Hình 2.1 Giới hạn của sự tăng trưởng (Trang 16)
Hình 2.2: Khung phân tích - Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2007   2014
Hình 2.2 Khung phân tích (Trang 40)
Bảng 3.1: Chi tiết tính toán biến vốn con người (H) - Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2007   2014
Bảng 3.1 Chi tiết tính toán biến vốn con người (H) (Trang 44)
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp các biến sử dụng trong luận văn và các dấu kỳ vọng - Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2007   2014
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp các biến sử dụng trong luận văn và các dấu kỳ vọng (Trang 47)
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu - Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2007   2014
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu (Trang 55)
Hình 4.1: Bản đồ các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Cửu Long - Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2007   2014
Hình 4.1 Bản đồ các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Cửu Long (Trang 58)
Hình 4.2: Tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước và khu vực ĐBSCL giai đoạn - Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2007   2014
Hình 4.2 Tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước và khu vực ĐBSCL giai đoạn (Trang 59)
Hình 4.3: Lao động theo trình độ - Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2007   2014
Hình 4.3 Lao động theo trình độ (Trang 61)
Bảng 4.3: Bảng thống kê mô tả các biến trong mô hình giai đoạn 2007 – 2014 - Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2007   2014
Bảng 4.3 Bảng thống kê mô tả các biến trong mô hình giai đoạn 2007 – 2014 (Trang 62)
Hình 4.4: Mối tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc - Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2007   2014
Hình 4.4 Mối tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc (Trang 65)
Bảng 4.5: Ma trận tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu đã logarit hóa - Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2007   2014
Bảng 4.5 Ma trận tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu đã logarit hóa (Trang 66)
Bảng 4.6: Kết quả ƣớc lƣợng của mô hình Pooled – OLS, FEM và REM - Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2007   2014
Bảng 4.6 Kết quả ƣớc lƣợng của mô hình Pooled – OLS, FEM và REM (Trang 69)
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định Hausman - Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2007   2014
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định Hausman (Trang 70)
Bảng 4.9: Kết quả hồi quy đa biến theo mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) - Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2007   2014
Bảng 4.9 Kết quả hồi quy đa biến theo mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w