68 CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH LONG AN THÔNG QUA CÁC NHÂN TỐ ẢNH
Trang 1TRƯƠNG THỊ THANH THÚY
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ VAY CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 2TRƯƠNG THỊ THANH THÚY
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ VAY
CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM - CHI NHÁNH LONG AN
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ MỘNG TUYẾT
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 3liệu trong đề tài này được thu thập và sử dụng một cách trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn nào khác
và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác trước đây
Tác giả luận văn
Trương Thị Thanh Thúy
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 3
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 3
1.5.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 3
1.5.2.2 Phương pháp chọn mẫu 3
1.5.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 4
1.6 Kết cấu đề tài 4
1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài 5
CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ VAY CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
2.1 Tổng quan về tín dụng và rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân 6
Trang 52.1.3 Khái niệm rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng
cá nhân 12
2.1.4 Tác động và hậu quả của rủi ro tín dụng khoản vay cá nhân 14
2.2 Khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân 16
2.2.1 Khái niệm khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân 16
2.2.2 Mối quan hệ giữa khả năng trả nợ vay và rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân 17
2.2.3 Sự cần thiết đo lường khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân 19
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân 20 2.3.1 Nhân tố từ phía khách hàng 20
2.3.2 Nhân tố liên quan đến đặc điểm sản phẩm vay 21
2.3.3 Nhân tố từ phía ngân hàng 22
2.3.4 Nhân tố từ nền kinh tế 23
2.4 Nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân 23
2.5 Mô hình, phương pháp đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân 28
2.5.1 Mô hình định tính 28
2.5.2 Mô hình định lượng 29
2.5.3 Mô hình nghiên cứu tác giả lựa chọn 32
2.6 Đóng góp mới của đề tài 33
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 34 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ VAY CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH LONG AN 35
Trang 63.1.2 Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh 37
3.2 Tình hình hoạt động cho vay 39
3.3 Thực trạng về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Long An 43
3.3.1 Cơ cấu dư nợ vay và nợ xấu 43
3.3.2 Tình hình nợ quá hạn 46
3.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Long An 47 3.3.3.1 Nhân tố từ phía khách hàng 47
3.3.3.2 Nhân tố liên quan đến đặc điểm sản phẩm vay 51
3.3.3.3 Nhân tố từ phía ngân hàng 56
3.3.3.4 Nhân tố từ nền kinh tế 57
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 57
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ VAY CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH LONG AN 58
4.1 Mô hình nghiên cứu 58
4.2 Phương pháp nghiên cứu 60
4.3 Thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu 61
4.3.1 Chọn mẫu 61
4.3.2 Thu thập dữ liệu 62
4.3.3 Thống kê mô tả dữ liệu 62
4.4 Phân tích biến, hồi quy Binary Logistic 63
Trang 7TÓM TẮT CHƯƠNG 4 68
CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH LONG AN THÔNG QUA CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ VAY 69
5.1 Chiến lược phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân đến năm 2020 69
5.1.1 Đối với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 69
5.1.2 Đối với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Long An 70
5.2 Giải pháp giảm thiểu rủi ro trong cho vay đối với KHCN tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Long An thông qua vận dụng tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay 71
5.2.1 Nhóm giải pháp liên quan đến đặc điểm khách hàng 71
5.2.2 Nhóm giải pháp liên quan đến đặc điểm sản phẩm vay 74
5.2.3 Nhóm giải pháp liên quan đến ngân hàng 75
5.2.4 Nhóm giải pháp liên quan đến đến nền kinh tế 79
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 79
KẾT LUẬN 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO
CÁC PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BIDV: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
BIDV Long An: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Long An
CBCNV: Cán bộ công nhân viên
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Mối quan hệ giữa KNTN vay và kết quả phân loại nợ KHCN 17
Bảng 2.2: Tổng hợp các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến KNTN vay của KHCN 26
Bảng 2.3: Cấu trúc dữ liệu các biến trong mô hình hồi quy Binary Logistics 31
Bảng 2.4: So sánh mô hình hồi quy binary logistic và hồi quy tuyến tính 33
Bảng 3.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV Long An 37
Bảng 3.2: Dư nợ vay và thị phần của BIDV Long An 39
Bảng 3.3: Cơ cấu dư nợ vay tại BIDV Long An 40
Bảng 3.4: Cơ cấu dư nợ vay KHCN tại BIDV Long An 43
Bảng 3.5: Nợ quá hạn của KHCN tại BIDV Long An 46
Bảng 3.6: Số lượng KHCN không có KNTN tại BIDV Long An phân theo giới tính 48
Bảng 3.7 : KHCN không có KNTN vay tại BIDV Long An theo độ tuổi 48
Bảng 3.8: Số lượng KHCN không có KNTN vay tại BIDV Long An phân theo khoảng cách 50
Bảng 3.9: Cơ cấu dư nợ vay không có KNTN vay của KHCN tại BIDV Long An phân theo hình thức vay 52
Bảng 3.10: Số lượng KHCN không có KNTN vay tại BIDV Long An phân theo hình thức vay 53
Bảng 3.11: Cơ cấu dư nợ vay không có KNTN vay của KHCN tại BIDV Long An phân theo mục đích vay 54
Bảng 3.12: Số lượng KHCN không có KNTN vay tại BIDV Long An phân theo mục đích vay 55
Bảng 4.1: Giá trị của biến phụ thuộc 59
Bảng 4.2: Biến độc lập sử dụng trong đề tài 59
Bảng 4.3: Dữ liệu thu thập theo KNTN vay và sản phẩm vay 62
Bảng 4.4: Thống kê mô tả các biến 63
Trang 11Bảng 4.5: Tổng quát mô hình - Model Summary 64
Bảng 4.6: Phân loại dự báo - Classification Tablea 64
Bảng 4.7: Omnibus Tests of Model Coefficients 65
Bảng 4.8: Variables in the Equation 65
Trang 13CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, sự cạnh tranh gay gắt và môi trường kinh doanh thường xuyên biến động làm cho các cá nhân, tổ chức khi kinh doanh đều phải đối mặt với rủi ro Vì vậy, trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ các ngân hàng thương mại (NHTM) luôn đối mặt với rủi ro và nguy cơ thất thoát tài sản Khủng hoảng tài chính năm 2008 làm cho hệ thống NHTM các nước trong đó
có Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nổi bật nhất là sự gia tăng nợ xấu, nợ quá hạn làm cho hiệu quả, lợi nhuận của các ngân hàng (NH) sụt giảm và tiềm ẩn rủi ro Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra đối với các NHTM ngoài mục tiêu tăng trưởng tín dụng phải đặt trọng tâm kiểm soát rủi ro tín dụng, hạn chế nợ quá hạn, nợ xấu mới phát sinh Do đó, việc nhận diện và đo lường khả năng trả nợ (KNTN) vay của khách hàng trở thành yếu tố then chốt trong quyết định cho vay giúp các NHTM có biện pháp ứng xử phù hợp với từng khách hàng và góp phần giảm thiểu, hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy ra
1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Đề án 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 của Thủ tướng chính phủ về vấn đề “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” đã được NH nhà nước Việt Nam triển khai thực hiện Với xu thế đó, hệ thống NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã xây dựng đề án tái cơ cấu hệ thống phù hợp với xu thế chung của ngành và có những đặc trưng riêng của BIDV Theo đó, BIDV tập trung hướng đến phát triển phân khúc khách hàng cá nhân (KHCN) nhằm đa dạng hóa rủi
ro, và tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh Với định hướng đó, BIDV cũng đối mặt với rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khi mà hệ thống xếp hạng tín dụng nội
bộ đối với KHCN mới được xây dựng còn nhiều bất cập Đồng thời, tại NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Long An (BIDV Long An) nợ quá hạn
và nợ xấu của các khoản vay KHCN không ngừng tăng cao làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, cũng như nguy cơ gây tổn thất cho NH Do đó, song song với việc thực hiện Đề án tái cơ cấu của NH nhà nước và hệ thống BIDV, tại BIDV Long An cần phải đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến KNTN vay của
Trang 14KHCN nhằm nhận diện các khách hàng không có KNTN vay, xây dựng định hướng cũng như kế hoạch tiếp thị phát triển phân khúc KHCN tiềm năng
Đó là động lực thúc đẩy tôi lựa chọn đề tài: “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Long An”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nền tảng các lý thuyết về đánh giá KNTN vay của KHCN, tác giả phân tích thực trạng và kiểm chứng các nhân tố có ảnh hưởng đến KNTN vay của KHCN tại BIDV Long An
Đề tài cũng phân tích tác động của từng nhân tố đến KNTN vay của KHCN tại BIDV Long An, để từ đó đưa ra các giải pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại BIDV Long An
- Đề ra các giải pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với KHCN tại BIDV Long An thông qua các nhân tố ảnh hưởng đến KNTN vay
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- KNTN vay có quan hệ với rủi ro tín dụng như thế nào?
- Nhân tố nào ảnh hưởng đến KNTN vay của KHCN tại NHTM nói chung, và BIDV Long An nói riêng?
- Mức độ tác động, ảnh hưởng của từng nhân tố đến KNTN vay của KHCN tại BIDV Long An như thế nào?
Trang 15- Giải pháp nào có thể vận dụng tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến KNTN vay nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng trong cho vay đối với KHCN tại BIDV Long An?
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các nhân tố ảnh hưởng đến KNTN vay của KHCN tại BIDV Long An trong
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê, mô tả, tổng hợp phân tích trên cơ
sở dữ liệu, thông tin thu thập được
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
1.5.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu được thu thập từ các báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối tài khoản, báo cáo phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng qua các năm của BIDV Long An, dữ liệu quản lý khách hàng của cán bộ quản lý khách hàng cá nhân tại chi nhánh, dữ liệu từ chương trình SIBS của BIDV, báo cáo hoạt động NH của NH nhà nước tỉnh Long An,…
1.5.2.2 Phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu: gồm 770 khách hàng, đáp ứng tiêu chuẩn có thời gian quan hệ tín dụng trên 1 năm, tương ứng 15% số lượng khách hàng vay tại BIDV Long An thời điểm 30/06/2015
Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên các khách hàng có KNTN theo từng sản phẩm vay: nhà ở, ô tô, sản xuất kinh doanh, tiêu dùng có tài sản bảo đảm khác và tiêu dùng không có tài sản bảo đảm bằng hàm rand() trong excel Thu thập
Trang 16các khách hàng không có KNTN vay theo từng quý trong giai đoạn từ 31/12/2012 – 30/06/2015
1.5.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 để xác định các yếu tố liên quan đến KNTN vay của KHCN tại BIDV Long An
- Dùng các đại lượng như tần số, giá trị trung bình để thống kê mô tả mẫu
- Phân tích nhân tố khám phá EFA để xem xét các yếu tố tác động đến KNTN vay của KHCN tại BIDV Long An
- Trước khi đưa vào phân tích, tiến hành kiểm tra độ tin cậy của thang đo Cronbach’s Alpha
- Tiến hành đưa biến phụ thuộc và các biến độc lập kỳ vọng vào phân tích hồi quy binary logistic, từng bước một loại bỏ dần các biến độc lập không có ý nghĩa thống kê đối với biến phụ thuộc cho tới khi thu được mô hình tối ưu (ở mức ý nghĩa lựa chọn, các biến độc lập trong mô hình đều có tác động tới biến phụ thuộc Y)
Mô hình binary logistic về KNTN vay của KHCN trong luận văn này có dạng:
i: Hệ số ước lượng của biến Xi, cho biết khi Xi tăng 1 đơn vị thì log của tỷ
lệ (Pi/1-Pi) tăng i đơn vị
Mô hình sẽ tính ra xác suất xảy ra theo nguyên tắc nếu xác suất >0,5 thì khách hàng có KNTN vay (Y=1); nếu xác suất xảy ra < 0,5 thì khách hàng không có KNTN vay (Y=0)
1.6 Kết cấu đề tài
Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Trang 17Chương 2: Lý luận tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại
Chương 3: Thực trạng về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Long An
Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Long An
Chương 5: Giải pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng trong cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Long An thông qua các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay
1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu sẽ đúc kết lại các nhân tố ảnh hưởng đến KNTN vay của KHCN tại các NHTM nói chung, BIDV Long An nói riêng và cho thấy thực trạng KNTN vay của KHCN tại BIDV Long An tạo tiền đề để xây dựng giải pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng trong hoạt động cho đối với KHCN tại BIDV Long An
Trang 18CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ VAY CỦA KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Sự phát triển nền kinh tế của các quốc gia gắn liền với sự hình thành và phát triển của hệ thống NHTM Các NHTM với chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, và tạo tiền đã tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển Trong
ba chức năng chính thì chức năng trung gian tín dụng luôn được các NHTM quan tâm trên hết do lợi nhuận của NHTM chủ yếu đến từ hoạt động tín dụng Tuy nhiên, hoạt động tín dụng tạo ra nhiều lợi nhuận, cũng mang đến nhiều rủi ro, trong đó tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra luôn lớn hơn so với các rủi ro khác Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng nguồn gốc chính là KNTN vay của khách hàng Chương này tập trung vào các nội dung chính sau: + Tổng quan về tín dụng, rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay và KNTN vay của KHCN;
+ Mối quan hệ giữa KNTN vay và rủi ro tín dụng trong cho vay, các tác động
và hậu quả của rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với KHCN;
+ Các nhân tố ảnh hưởng đến KNTN vay của KHCN;
+ Các phương pháp, mô hình đo lường KNTN vay của KHCN
2.1 Tổng quan về tín dụng và rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân
2.1.1 Khái niệm tín dụng và các hình thức cấp tín dụng
2.1.1.1 Khái niệm tín dụng
Theo tiếng la tinh: “Tín dụng - Credittum” - nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm, hay
là sự vay mượn vật tư, tiền mặt, hàng hoá
Theo Wikipedia “Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm
của nền kinh tế hàng hóa” Theo đó, tín dụng xuất hiện và tồn tại qua nhiều hình
thái kinh tế - xã hội, bắt đầu hình thành khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã, chế
độ tư hữu về tư liệu sản xuất và quan hệ trao đổi hàng hóa xuất hiện Khi mới hình thành, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa
Trang 19và về sau cùng với sự phát triển của xã hội và nền kinh tế tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ
Nguyễn Minh Nhàn (2012) đã diễn giải quan điểm tín dụng theo Kmax như
sau: “Tín dụng là quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở
hữu đến người sử dụng sau một thời gian nhất định thu hồi một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”
Từ các khái niệm trên ta có thể thấy: tín dụng ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tượng dư thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thường xuyên giữa các chủ thể trong nền kinh tế Tín dụng chứa đựng ba yếu tố:
+ Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng;
+ Sự chuyển nhượng có một thời hạn nhất định được thống nhất khi thực hiện giao dịch;
+ Ngoài trả vốn, người nhận chuyển nhượng còn phải trả lãi hoặc phí
2.1.1.2 Các hình thức cấp tín dụng
NH cung cấp rất nhiều loại tín dụng cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, việc phân loại tín dụng dựa trên một số tiêu chí nhất định tùy theo mục tiêu quản lý của NH, cụ thể gồm:
Căn cứ vào thời hạn
+ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng (1 năm) + Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm + Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
+ Tín dụng cho sản xuất, lưu thông hàng hóa: là loại tín dụng được cung cấp
nhằm phục vụ sản xuất và kinh doanh hàng hóa Với hình thức này KH thường chỉ trả lãi hàng tháng, nợ gốc được trả khi kết thúc thời hạn vay
Trang 20+ Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ đời sống và thường được thu hồi dần từ nguồn thu nhập của cá nhân vay vốn Đây còn được xem là hình thức cho vay trả góp
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
+ Tín dụng có bảo đảm: nghĩa vụ trả nợ của chủ thể vay vốn được bảo đảm bằng tài sản hoặc bảo đảm bằng uy tín
+ Tín dụng không có bảo đảm: theo đó NH chủ động lựa chọn khách hàng để cho vay trên cơ sở độ tín nhiệm, năng lực tài chính và KNTN vay
Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn
+ Tín dụng vốn lưu động: được cung cấp để bổ sung vốn lưu động cho các thành phần kinh tế có quan hệ tín dụng với NH
+ Tín dụng vốn cố định: hỗ trợ để hình thành nên tài sản cố định
Căn cứ theo phương thức cấp tín dụng
+ Cho vay: là việc NH đưa tiền cho KH với cam kết KH phải hoàn trả cả gốc
và lãi trong khoảng thời gian đã xác định
+ Chiết khấu thương phiếu: là việc NHTM sẽ đứng ra trả tiền trước cho KH + Bao thanh toán: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa
+ Bảo lãnh (tái bảo lãnh): là cam kết của NH dưới hình thức thư bảo lãnh về việc sẽ thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của NH khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết
+ Cho thuê tài chính: là việc NH bỏ tiền mua sắm tài sản cho KH thuê Sau một thời gian nhất định KH phải trả cả gốc lẫn lãi cho NH Khi kết thúc thời hạn thuê, KH được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đó theo các điều kiện hai bên đã thỏa thuận
Căn cứ theo đối tượng khách hàng
+ Cấp tín dụng cho doanh nghiệp: là cấp tín dụng cho doanh nghiệp để sử dụng vào mục đích kinh doanh
Trang 21+ Cấp tín dụng cho cá nhân: là cấp tín dụng cho đối tượng KNCN phục vụ hai mục đích chủ yếu là phục vụ đời sống, tiêu dùng và bổ sung vốn cho hoạt động buôn bán, sản xuất
Như vậy tín dụng NH rất đa đạng về hình thức và phương thức Cho vay là phương thức cấp tín dụng chính của NH vì doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong trong hoạt động mỗi NH Thông qua hoạt động cho vay NH thực hiện chức năng huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế phân phối lại cho người cần vốn; cho vay phản ánh mối quan hệ ràng buộc giữa bên cho vay - và bên vay thông qua các thỏa thuận về số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất vay,
Tại Khoản 1, Điều 3, Quy chế cho vay 1627/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 thì
“Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
Từ việc phân loại trên, để giới hạn nghiên cứu, tín dụng trong luận văn này tác giả tập trung vào hình thức cho vay đối với đối tượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình (gọi chung là KHCN) để đáp ứng các nhu cầu vốn: nhu cầu mua, sửa chữa, xây dựng nhà ở; mua sắm tiện nghi: ô tô, xe máy ; nhu cầu chi tiêu đào tạo, y tế, giáo dục và nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh
2.1.2 Đặc điểm hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân
Cho vay đối với KHCN là một loại hình tín dụng, do đó nó mang ba đặc điểm chung của tín dụng:
- Dựa trên cơ sở lòng tin: là yếu tố tiên quyết trong quyết định cho vay của
NH NH chỉ cho vay khi có lòng tin khách hàng sẽ sử dụng vốn vay hợp pháp, phương án kinh doanh khả thi, hiệu quả và có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
- Đảm bảo tính hoàn trả về thời gian và giá trị: Nguồn vốn cho vay của NH
chủ yếu từ nguồn vốn huy động do đó tất cả các khoản vay của NH cấp cho khách hàng đều phải có thời hạn, đảm bảo cho NH có thể hoàn trả lại vốn huy động Để
Trang 22xác định thời hạn cho vay hợp lý, NH căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và chu kỳ luân chuyển vốn của khách hàng Khi nguồn vốn ổn định thì NH có thể cho vay với thời hạn dài và ngược lại chỉ có thể cho vay với thời hạn ngắn Về phía khách hàng, nếu thời hạn cho vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của khách hàng thì khi đến kỳ trả nợ khách hàng chưa có nguồn để trả nợ, gây khó khăn cho khách hàng và việc thu hồi nợ đúng hạn cho NH, ngược lại thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luân chuyển vốn khách hàng rất có thể sử dụng vốn sai mục đích, gây nhiều rủi ro cho NH
- Cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc
có hoàn trả cả gốc và lãi: Đây là thuộc tính riêng của cho vay, phân biệt cho vay
với cho mượn Theo đó, trong thời gian vay hoặc kết thúc thời hạn vay người đi vay phải trả gốc và một khoản lãi theo lãi suất đã thỏa thuận khi ký kết hợp đồng tín dụng Khoản lãi này đối với người vay là chi phí của việc sử dụng vốn vay, đối với
NH là nguồn để trả lãi cho người gửi tiền, bù đắp chi phí hoạt động, cũng như tạo ra
lợi nhuận cho NH
Ngoài các đặc điểm chung của cho vay thông thường, cho vay đối với KHCN còn có các đặc điểm riêng như sau:
- Quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng vay lớn: Không chỉ tài trợ cho mục
đích vay sản xuất kinh doanh, đầu tư như đối với khách hàng doanh nghiệp, cho vay
cá nhân đa dạng hơn còn tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng (nhà ở, ô tô, giáo dục, y tế, mua sắm tiện nghi, ) Giá trị mỗi khoản vay cá nhân không lớn do giá trị hàng hoá dịch vụ tiêu dùng ở mức vừa phải, nhưng tổng quy mô cho vay KHCN của NH lại rất lớn, do số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn lớn
- Lãi suất vay của các khoản vay KHCN có trường hợp có tính linh hoạt thấp: Đối với các khoản vay tiêu dúng trả góp do giá trị khoản vay nhỏ, cùng với
tâm lý muốn biết chính xác số tiền phải đóng hàng tháng ngay khi ký kết hợp đồng tín dụng của KH , và khả năng tính toán mức lãi suất thực sự phải chịu của KHCN còn hạn chế; do đó, một số NH cho vay trung dài hạn nhưng ấn định lãi suất vay ngay thời điểm ban đầu và cố định trong suốt thời gian vay
Trang 23- Cho vay KHCN thường có chi phí và lợi nhuận cao hơn cho vay khách hàng doanh nghiệp: quy mô của mỗi khoản vay cá nhân thường nhỏ thậm chí
không đáng kể, trong khi NH cũng phải thực hiện các bước trong quy trình thu thập các thông tin liên quan đến quyết định cho vay bao gồm: tiếp nhận hồ sơ, thẩm định KH, giải ngân cho đến lúc thu hồi nợ Do đó, chi phí trong cho vay đối với KHCN cao hơn đối với KH doanh nghiệp
Chi phí và rủi ro của khoản cho vay cá nhân cao hơn khoản cho vay doanh nghiệp nên nguyên tắc chung trong ấn định lãi suất của các NH là lãi suất đối với các khoản cho vay cá nhân cao hơn các khoản cho vay doanh nghiệp Mức lợi nhuận trên mỗi khoản cho vay cá nhân cao, số lượng lớn, vì vậy toàn bộ lợi nhuận thu về từ hoạt động này là đáng kể trong tổng thu nhập của NHTM
- Trong một khoản cho vay cá nhân mức độ rủi ro có thể cao hơn cho vay doanh nghiệp: Điều này xuất phát từ 2 nguyên nhân sau:
+ Rủi ro về lãi suất: Đối với các khoản cho vay tiêu dùng trung dài hạn đối với KHCN một số NH cố định lãi suất vay, không thả nổi hoặc điều chỉnh khi lãi suất thị trường biến động trong suốt thời hạn vay Do đó, khi lãi suất huy động tăng cao
NH sẽ thu được lãi suất thực âm (lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát), tức là lãi thu về không đủ bù đắp lạm phát
+ Rủi ro đạo đức: xuất phát từ sự bất cân xứng thông tin Người vay có thông tin về KNTN của mình hơn là người cho vay, trong khi rủi ro tín dụng trong cho vay đối với KHCN có thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan Nguyên nhân chủ quan do khách hàng hiểu rõ sức khỏe tài chính của mình không có KNTN vay nhưng do có mong muốn tiêu dùng nên vẫn cứ đi vay hay biết chuẩn bị luân chuyển công tác, nghĩ việc nhưng vẫn muốn vay Các nhân tố khách quan như hạn hán, mất mùa, sự suy thoái của nền kinh tế, sức khỏe của người vay… cũng là nguy
cơ ảnh hưởng đến KNTN của KH
- Tổn thất khi xảy ra rủi ro: số tiền NH không thu được so với số tiền vay ban
đầu khi rủi ro tín dụng xảy ra trong hoạt động cho vay cá nhân có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với cho vay doanh nghiệp
Trang 24+ Đối với các khoản cho vay tín chấp đối với KHCN: nguồn trả nợ của khách hàng đôi khi phải dùng đến nguồn trả nợ từ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp Tuy nhiên, nguồn thu từ bảo hiểm trong nhiều trường hợp không đủ để thanh toán
nợ vay Hơn nữa do giá trị khoản vay nhỏ nên các NH thường chỉ tạo áp lực cho người vay trả nợ chứ không dùng các biện pháp như khởi kiện thu hồi nợ do chi phí của biện pháp cao, mất nhiều thời gian
+ Đối với các khoản cho vay có tài sản bảo đảm (TSBĐ): các NH yêu cầu tỷ lệ TSBĐ sau quy đổi trên dư nợ vay đối với khoản vay cá nhân phải đảm bảo tối thiểu 100%, trong khi đối với các doanh nghiệp được xếp hạng tín nhiệm cao thì tỷ lệ TSBĐ trên dư nợ vay không nhất thiết 100%, một số trường hợp chỉ cần 20% Đồng thời TSBĐ khoản vay KHCN thường NH chỉ chấp nhận bất động sản, xe ô tô, phương tiện vận tải trong khi đó cho vay doanh nghiệp NH có thể chấp nhận TSBĐ
là hàng tồn kho luân chuyển, quyền đòi nợ, Hơn nữa, giá trị khoản cho vay doanh nghiệp lớn hơn cho vay cá nhân
Như vậy, đối với các khoản cho vay tín chấp tổn thất tín dụng đối với cho vay KHCN cao hơn KH doanh nghiệp Đối với khoản vay có TSBĐ tổn thất tín dụng đối với cho vay KHCN là thấp hơn so với KH doanh nghiệp
2.1.3 Khái niệm rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân
Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu của NH thương mại, chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu nghiệp vụ và đem lại phần lớn lợi nhuận cho NH Tuy nhiên, hoạt động cho vay lại là hoạt động có nhiều rủi ro và phức tạp nhất trong các nghiệp vụ NH do hoạt động này có liên quan chặt chẽ đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế và rủi ro trong các lĩnh vực này dẫn đến rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động của NHTM
Trong từ điển Oxford (2010) “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị thiệt hại trong tương lai”
Theo Frank H.Knight (1964) “Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn có thể đo lường được”
Trang 25Theo Ngô Quang Huân (2007) diễn giải rủi ro theo C.Arthur William, Jr.Micheal, L.Smith (1995) “Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở kết quả Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết các hoạt động của con người Khi có rủi ro người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây ra sự bất định Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước được” Như vậy, cách lập luận này cho rằng rủi ro là sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng, lập luận này tạo ra cơ sở để đo lường rủi ro
Theo Christian Bluhm, Ludger Overbeck, Christoph Wagner (2010), các tác giả cho rằng “Rủi ro là sự không chắc chắn gây ra sự mất mát, tổn thất Rủi ro = nguy cơ bất ổn + thiệt hại”
Từ các khái niệm trên tác giả nhận thấy “Rủi ro là sự không chắc chắn có thể
đo lường được, gây ra các thiệt hại, tổn thất”
Rủi ro trong kinh doanh NH mang các đặc trưng chung của rủi ro, đặc trưng riêng của NH, được hiểu là những biến cố không mong đợi, có thể đo lường được
mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của NH, giảm sút lợi nhuận thực tế
so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh NH gồm nhiều loại: rủi ro tín dụng, rủi ro
tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tác nghiệp Tuy nhiên, trong luận văn này tác giả chỉ quan tâm đến rủi ro tín dụng trong cho vay đối với KHCN Trong tài liệu “Financial Instittutions Management – A Modern Perpective” –
A.Saunder và H.Lange (1995) định nghĩa “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi
NH cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của NH không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng
và thời hạn”
Trong tài liệu “Analyzing Banking Risk” - Henie Van Grenning & Sonja
Brajovic Bratanovic (2009) “Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người
đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định
Trang 26trong hợp đồng tín dụng” Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn hoặc tồi tệ
hơn là không chi trả được toàn bộ, điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của NH (The World bank)
Theo Darrell Duffie Kenneth J.Singleton (2003) “Rủi ro tín dụng là rủi ro do
sự thay đổi trong giá trị kết hợp với sự thay đổi không được mong đợi trong chất lượng tín dụng”
Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức
tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH
là tổn thất có khả năng xảy ra đối với NHTM do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Từ các khái niệm trên cho thấy “Rủi ro tín dụng là những rủi ro có thể phát sinh khi NH cấp tín dụng nhưng khách hàng thực hiện không đúng nghĩa vụ Cụ thể, khi NH cho vay là “khách hàng không trả được nợ hoặc không trả được một
phần nợ gốc hoặc một phần nợ lãi”
Từ các khái niệm trên, tác giả nhận thấy“Rủi ro tín dụng trong cho vay đối với
KHCN là khả năng xảy ra những tổn thất mà NH phải chịu do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.”
2.1.4 Tác động và hậu quả của rủi ro tín dụng khoản vay cá nhân
Đối với hoạt động kinh doanh NH
Hoạt động chủ yếu của NHTM là huy động vốn để cho vay Khi huy động vốn, các NHTM phải trả lãi và gốc đúng hạn cho khách hàng Khi rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay KHCN xảy ra NH không thu được hoặc thu chậm vốn tín dụng đã cấp thì NH có thể mất cân đối trong việc thu chi, đọng vốn, kinh doanh không hiệu quả Nếu một khoản vay bị mất khả năng thu hồi thì các nguồn vốn khác được NH sử dụng để trả cho người gửi tiền, khi đến một giới hạn NH không còn đủ vốn để trả cho người gửi tiền thì NH sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán,
Trang 27nguy cơ gặp rủi ro thanh khoản, năng lực tài chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm dẫn đến NH thua lỗ và hậu quả nghiêm trọng nhất là đi đến phá sản nếu không
có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời
Đối với nền kinh tế xã hội
NHTM với chức năng của một tổ chức trung gian tài chính, khi rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN xảy ra NH sẽ thiếu vốn để cho vay hoặc dè dặt hơn trong cho vay dẫn đến NH hạn chế cho vay làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của người vay Trường hợp rủi ro tín dụng làm một NH bị phá sản người gửi tiền có tâm lý sợ mất tiền sẽ đồng loạt rút tiền tại các NHTM, tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu đến các NH khác, khi đó nền kinh tế bị rối loạn hoạt động kinh tế mất ổn định và ngưng trệ, quan hệ cung cầu, lạm phát, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng, tình hình an ninh chính trị bất ổn
Ngoài ra, rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay KHCN cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay các quốc gia đều có mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư nên rủi ro tín dụng tại một nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước liên quan
Hệ thống NH giữ vai trò huyết mạch trong nền kinh tế, do đó khi rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay KHCN trong hệ thống NH gia tăng sẽ làm ảnh hưởng đến vị thế và hình ảnh của hệ thống NH – tài chính quốc gia cũng như toàn bộ nền kinh tế của quốc gia đó
Như vậy, mức độ ảnh hưởng của rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN là khác nhau: nhẹ nhất là NH bị sụt giảm lợi nhuận khi phải trích lập dự phòng, không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi NH không thu được vốn gốc và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao làm cho NH bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng kéo dài không khắc phục được NH sẽ bị phá sản, gây hiệu ứng dây chuyền tác động xấu đến hệ thống
NH nói chung và nền kinh tế nói riêng Do đó đòi hỏi các nhà quản trị NH phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay đối với KHCN
Trang 282.2 Khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân
2.2.1 Khái niệm khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân
Trong quá trình thẩm định và xét duyệt khoản vay của KHCN thì đánh giá KNTN vay của khách hàng là việc đánh giá khách hàng có khả năng thực hiện đầy
đủ và đúng hạn nghĩa vụ nợ của mình khi đến hạn hoặc trong một khoảng thời gian xác định
Trên thế giới và tại Việt Nam chưa có khái niệm thống nhất về “KNTN vay của khách hàng” mà chỉ tập trung vào các biểu hiện đánh giá khách hàng không có KNTN (hoặc “vỡ nợ”, “mất KNTN”, “xác suất không trả nợ cao”) Biểu hiện của
khách hàng không có KNTN vay theo Basel là “default - không có KNTN” và theo Nhóm chuyên gia tư vấn của Liên hợp quốc AEG là “ nonperfoming loan – nợ
xấu”
Trong Basel Committee on Banking Supervison - 2006 tại Điều 452, Ủy ban Basel cho rằng “default – không có KNTN vay” là những khách hàng có một hoặc
cả hai biểu hiện sau:
“- NH nhận thấy rằng khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ khi đến hạn, chưa tính đến việc NH bán tài sản (nếu có) để thu hồi nợ;
- Khách hàng có các khoản nợ vay đã quá hạn trên 90 ngày”
Ủy ban giám sát Basel đã nhấn mạnh tới khái niệm “mất mát có thể xảy ra trong tương lai” để giúp các NH định hướng nợ xấu Tuy nhiên, các NH thường dựa vào biểu hiện thứ 2 “khách hàng có các khoản nợ vay quá hạn trên 90 ngày” vì với biểu hiện thứ nhất (như khách hàng bị khởi kiện, vướng vòng lao lý) nhưng người nhà khách hàng trả nợ thay thì NH thường không coi là khoản nợ xấu Do đó, biểu hiện thứ hai định lượng số ngày trả nợ được NH ưu tiên lựa chọn
Nhóm chuyên gia tư vấn của liên hợp quốc AEG (Advising Expert Group
Meeting 2004) định nghĩa nợ xấu như sau “về cơ bản, một khoản nợ được coi là
xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc
Trang 29các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ” Hay nói cách khác: nợ
xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày; và (ii) khả năng thanh toán bị nghi ngờ
Như vậy, khái niệm KNTN vay của KHCN không có định nghĩa cụ thể Tuy nhiên, qua các khái niệm của Basel và của nhóm chuyên gia tư vấn AEG thì nợ xấu
và không có KNTN vay của KHCN được đánh giá thông qua hai biểu hiện :
(i) Khả năng thanh toán bị nghi ngờ (do khách hàng gặp rủi ro trong kinh doanh, khách hàng được gia hạn nợ, khách hàng bị khởi kiện )
(ii) Khách hàng có khoản vay bị quá hạn trên 90 ngày (gốc/lãi)
Bảng 2.1 cho thấy mối quan hệ giữa KNTN vay của khách hàng với quy định
về phân loại nợ đối với KHCN tại thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013
Bảng 2.1: Mối quan hệ giữa KNTN và kết quả phân loại nợ KHCN
Quá hạn từ 90 ngày trở lên;
Gia hạn nợ
(Nguồn: Thiết kế dựa trên tài liệu của Basel, AEG, và TT 02/TT-NHNN)
Trong luận văn này, tác giả đánh giá KNTN vay của KHCN dựa trên biểu hiện thứ 2 “khách hàng có khoản vay bị quá hạn gốc/lãi trên 90 ngày”, do biểu hiện thứ nhất khách hàng bị nợ xấu do nguyên nhân khách quan và xác suất xảy ra thấp, đồng thời khi NH nhận thấy biểu hiện thứ nhất của khách hàng thì thông thường biểu hiện thứ 2 đã xuất hiện kèm theo
2.2.2 Mối quan hệ giữa khả năng trả nợ vay và rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân
Về định tính, xuất phát từ khái niệm rủi ro tín dụng một phần nguyên nhân xảy
ra là do khách hàng “không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ
Trang 30của mình theo cam kết” Do đó, KNTN vay của khách hàng là nguồn gốc, nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Về định lượng, Theo quy định của Basel II, tổn thất tín dụng của một danh mục tín dụng có thể phân thành 02 loại: (i) Khoản tổn thất dự tính được (tổn thất trong dự tính) – EL và (ii) Khoản tổn thất không dự tính được (Tổn thất ngoài dự tính) – UL
Trong đó, Tổn thất dự tính được (EL) là mức tổn thất trung bình có thể tính được từ các số liệu trong quá khứ NH có thể sử dụng chỉ tiêu tổn thất trong dự tính làm chuẩn để ra quyết định cho vay, nếu tổn thất trong dự tính của một khách hàng vượt quá một tỷ lệ theo quy định của NH, NH tự động từ chối cho vay với khách hàng đó
Đối với mỗi khoản vay hay mỗi khách hàng:
+ Tỷ lệ tổn thất dự tính: EL = LGD* PD
+ Giá trị tổn thất dự kiến sẽ bằng: LGD*PD*EDA = EL*EDA
Trong đó:
* LGD: Tỷ trọng tổn thất của NH trong trường hợp khách hàng không trả
được nợ Đây là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ LGD không chỉ bao gồm tổn thất về khoản vay mà còn bao gồm các tổn thất khác phát sinh khi khách hàng không trả được nợ, đó là lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán và các chi phí có thể phát sinh như: chi phí
xử lý tài sản thế chấp, các chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan LGD có thể được tính bằng công thức: LGD=(EDA – Số tiền có thể thu hồi)/EDA
(i) EDA: Exposure at Default – Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ
(ii) Số tiền có thể thu hồi bao gồm các khoản tiền mà khách hàng trả và các khoản tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp, cầm cố
LGD cũng có thể được coi là: 100% - tỷ lệ vốn có thể thu hồi được Theo
thống kê của ủy ban Basel, tỷ lệ thu hồi vốn thường mang giá trị rất cao (70% -
Trang 3180%) hoặc rất thấp (20% - 30%) Theo nghiên cứu của Ủy ban Basel, yếu tố giữ vai trò quan trọng nhất quyết định khả năng thu hồi vốn của NH khi khách hàng không trả được nợ là TSBĐ của khoản vay và cơ cấu TSBĐ
* PD: Xác suất không trả được nợ của khách hàng
* EDA: Dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ
Như vậy, xét cả hai khía cạnh định tính và định lượng thì xác suất khách hàng không trả được nợ (KNTN vay của khách hàng) có mối quan hệ chặt chẽ đối với rủi
ro tín dụng và xác định mức độ tổn thất tín dụng
2.2.3 Sự cần thiết đo lường khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân
- Thứ nhất, tính hấp dẫn của phân khúc cho vay cá nhân: Đây là phân khúc
hấp dẫn do chênh lệch lãi suất giữa huy động và cho vay cao hơn khách hàng doanh nghiệp
Quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng tổng quy mô các khoản vay cá nhân cũng khá lớn do tài trợ các nhu cầu vốn đa dạng của cá nhân, hộ gia đình trong xã hội Tuy nhiên, các khoản vay cá nhân thường có độ rủi ro cao hơn đối với doanh nghiệp
do chất lượng thông tin do khách hàng cung cấp thường không cao và việc thu thập thông tin không dễ dàng Tư cách khách hàng là yếu tố quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay, song nó lại là yếu tố định tính, rất khó xác định Nguồn trả
nợ của KHCN chủ yếu từ thu nhập của người vay, có thể gặp những biến động lớn phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của khách hàng, đặc biệt nếu người vay chết, NH
sẽ khó có khả năng thu hồi nợ
- Thứ hai, yêu cầu quy định pháp lý trong lĩnh vực NH:
Các quốc gia trên thế giới đều yêu cầu các NH phải thực hiện phân loại tài sản
có KNTN trong danh mục kinh doanh của mình Tuy nhiên, có sự khác biệt trong quy định tiếp cận phân loại nợ: phân loại nợ là trách nhiệm của nhà quản lý hoặc chỉ
là vấn đề báo cáo giám sát Tại một số quốc gia như Mỹ, Đức, cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực NH đưa ra các tiêu chuẩn phân loại nợ, các NHTM thực hiện phân loại nợ theo quy định Trong khi đó, tại một số quốc gia như Anh, Hà Lan, Pháp, Italy thì các nhà quản lý NH có trách nhiệm phát triển các quy định và phân
Trang 32loại nợ nội bộ, các cơ quan giám sát NH chỉ giới hạn ở việc đưa ra ý kiến xem các quy định đã đầy đủ và có được thực hiện phù hợp, thống nhất hay chưa?
Tại Việt Nam, việc đánh giá khách hàng có KNTN là yêu cầu bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng và hiện tại việc thực hiện phân loại nợ tại các tổ chức tín dụng được thực hiện thống nhất theo hướng dẫn tại Thông tư 02/TT-NHNN ngày
21/01/2013
- Thứ ba, đo lường KNTN vay của khách hàng đồng thời với việc đo lường rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay Hậu quả của rủi ro tín dụng như đã trình
bày ở trên cho thấy khi rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay KHCN xảy ra sẽ gây
ra những tổn thất to lớn ảnh hưởng đến lợi nhuận, hoạt động kinh doanh của NH Thời gian xử lý, giải quyết một khoản nợ xấu trong nhiều trường hợp mất nhiều năm, NH phải phân công cán bộ xử lý khoản nợ xấu làm giảm nguồn lực hoạt động của NH Đồng thời, không phải khoản nợ nào cũng thu được đầy đủ gốc và lãi, nhiều trường hợp khi xử lý TSBĐ xong phần còn lại không đủ để thanh toán đầy đủ nghĩa vụ nợ gốc và lãi tại NH; NH phải xem xét miễn, giảm lãi
Do đó, để hạn chế rủi ro tín dụng phải làm tốt từ khâu phòng ngừa cho đến khâu giải quyết hậu quả do rủi ro gây ra, cụ thể như: dự báo, phát hiện rủi ro tiềm
ẩn, phát hiện những biến cố không có lợi, ngăn chặn các tình huống không có lợi đã
và đang xảy ra và có thể lan ra phạm vi rộng Trong đó, cụ thể nhất là đo lường KNTN vay của khách hàng
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân
Nhân tố ảnh hưởng đến KNTN của KHCN rất đa dạng, tập trung vào 04 nhóm nhân tố chính: nhân tố từ phía khách hàng, nhân tố liên quan đến đặc điểm sản phẩm vay, nhân tố từ phía ngân hàng và nhân tố từ nền kinh tế
2.3.1 Nhân tố từ phía khách hàng
Các nhân tố thuộc về đặc điểm của khách hàng có ảnh hưởng đến KNTN vay:
Nhân tố nhân thân: phản ánh các điều kiện cơ bản, nội tại ảnh hưởng đến
khả năng giải quyết khó khăn và thực hiện cam kết trả nợ của khách hàng Nhân tố nhân thân bao gồm: tuổi tác, giới tính, dân tộc, tình trạng hôn nhân, trình độ học
Trang 33vấn, ý thức trả nợ, hành vi vi phạm, gian lận trước đây của khách hàng, tình hình sức khỏe …
Nhân tố nghề nghiệp: các nhân tố liên quan đến nghề nghiệp của khách hàng
và người đồng trả nợ phản ánh tính ổn định trong công việc và nguồn thu nhập trả
nợ của khách hàng Các nhân tố liên quan yếu tố nghề nghiệp khách hàng bao gồm: thời gian công tác/số năm trong nghề, chức vụ hiện tại trong công việc, ngành nghề khách hàng đang làm việc, kinh doanh
Nhân tố về điều kiện sống của khách hàng: có tác động, chi phối đến
nguồn tài chính thanh toán nợ vay của khách hàng Các nhân tố liên quan bao gồm: quy mô hộ gia đình, số người phụ thuộc, khách hàng có sở hữu nhà, các tài sản khách hàng đang sở hữu (xe, bất động sản, tiền gửi tiết kiệm ), hình thức cư trú của khách hàng tại tỉnh, thành phố chi nhánh cho vay
Nhân tố về tình hình tài chính khách hàng: Các thông tin tài chính, các
mối liên hệ tài chính của khách hàng là cơ sở quan trọng nhất cho thấy KNTN vay của KHCN Các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: thu nhập ròng hàng tháng tổng, nợ phải trả hàng tháng, tổng dư nợ hiện tại, số lần vay nợ mới trong năm, khách hàng
có sử dụng vốn vay đúng mục đích,…
2.3.2 Nhân tố liên quan đến đặc điểm sản phẩm vay
- Lãi suất vay: là cái giá khách hàng phải trả cho NH khi sử dụng vốn vay Lãi suất vay càng cao thì khả năng khách hàng sắp xếp được nguồn trả nợ càng giảm
- Số tiền vay: có liên quan trực tiếp đến nguồn thu nhập trả nợ, thời gian công tác/số năm trong nghề, quy mô hoạt động kinh doanh của khách hàng hoặc mối quan hệ giữa khách hàng và NH, có thể là một chỉ báo cho rủi ro tín dụng Các khoản vay nhỏ thường liên quan đến khách hàng có thu nhập thấp, quy mô kinh doanh nhỏ nên có rủi ro lớn hơn, KNTN kém hơn Ngược lại các khoản vay có quy
mô lớn liên quan đến khách hàng có thu nhập cao, quy mô kinh doanh lớn nên tài chính đa số là bền vững, đồng thời NH giám sát nghiêm ngặt hơn nên rủi ro không trả được nợ thấp hơn
Trang 34- TSBĐ nợ vay: giúp giải quyết một phần trường hợp rủi ro đạo đức của khách hàng do sự bất cân xứng thông tin giữa khách hàng và NH Một số sản phẩm vay cá nhân, NH yêu cầu khách hàng phải có TSBĐ để đảm bảo khách hàng thực hiện đúng cam kết trả nợ trong hợp đồng
2.3.3 Nhân tố từ phía ngân hàng
- Kỳ hạn vay: Từ áp lực về nguồn vốn và lợi nhuận, NH hướng khách hàng vay sản xuất kinh doanh đến kỳ hạn vay ngắn, lãi suất thấp, dẫn đến kỳ hạn vay ngắn hơn với chu kỳ sản xuất kinh doanh và dòng tiền của khách hàng dẫn đến khách hàng quá hạn Trường hợp NH áp dụng kỳ hạn vay dài hơn chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng thì khách hàng có thể sử dụng vốn sai mục đích, hoặc bắt đầu vào chu kỳ sản xuất kinh doanh mới thay vì trả nợ NH Khách hàng mất KNTN vay do nhân tố này còn do NH luôn ấn định phí trả nợ trước hạn, hay thu hồi lãi suất ưu đãi trong trường hợp khách hàng trả nợ trước hạn
- Năng lực và phẩm chất đạo đức của CBTD: ảnh hưởng đến quyết định lựa
chọn đúng khách hàng có KNTN để cho vay Nếu CBTD có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt thì khả năng ra quyết định cho vay đối với khách hàng không có KNTN
sẽ thấp hơn so với CBTD không có năng lực và phẩm chất đạo đức
- Chính sách, quy trình, quy định cho vay đối với KHCN: nếu chính sách, quy trình, quy định cho vay của NH chặt chẽ thì CBTD có nhiều căn cứ để đánh giá KNTN vay của khách hàng, từ đó có quyết định cho vay đúng khách hàng có KNTN Đồng thời với quy trình, quy định cho vay chặt chẽ lãnh đạo NH dễ dàng phát hiện ra các trường hợp CBTD cho vay đối với KH không đủ điều kiện vay, hoặc không có KNTN vay Ngược lại, nếu chính sách, quy định, quy trình cho vay không chặt chẽ, sơ hở thì CBTD dễ sai lầm cho vay khách hàng không có KNTN, hoặc CBTD có điều kiện lợi dụng sơ hở trong quy định, quy trình cho vay để cho vay đối với khách hàng không có KNTN nhằm thu lợi ích riêng cho bản thân
- Sự cạnh tranh giành giật thị phần giữa các NH: với mục tiêu gia tăng thị phần, tăng trưởng dư nợ vay, các NH giao các chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ cho vay và
Trang 35phát triển khách hàng quá cao đối với các CBTD dẫn đến CBTD quá mong muốn hoàn thành chỉ tiêu mà gặp sai lầm quyết định cho vay đối với KH không có KNTN
- Hoạt động kiểm tra nội bộ: có đặc điểm giúp phát hiện nhanh chóng và kịp thời ngay khi phát sinh vấn đề Tuy nhiên nếu hệ thống kiểm tra nội bộ yếu dễ có sự
cả nể, cho qua các sai phạm dẫn đến rủi ro không phát hiện các khách hàng không
có KNTN hoặc không đáp ứng các điều kiện vay nhưng vẫn được cho vay
2.3.4 Nhân tố từ nền kinh tế
- Các yếu tố: thiên tai, dịch bệnh, sự thay đổi trong chính sách kinh tế, lạm phát, lãi suất, gia tăng trong giá nguyên vật liệu đầu vào có thể ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của khách hàng dẫn đến khó khăn về tài chính và mất KNTN vay
NH
- Nếu như nền kinh tế suy thoái, bị đình trệ có thể dẫn đến hoạt động kinh doanh của khách hàng không ổn định, người lao động trong các cơ quan, doanh nghiệp bị giảm lương, sa thải, giảm nguồn trả nợ NH
- Tình hình chính trị bất ổn định có thể dẫn tới sự bất ổn trong xã hội, KNTN vay của khách hàng sẽ bị ảnh hưởng theo
2.4 Nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân
Hệ thống điểm tín dụng đối với khoản vay KHCN đã được sử dụng rộng rãi bởi nhiều tổ chức tín dụng trên thế giới do hệ thống này giúp dự đoán khả năng xảy
ra rủi ro tín dụng khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng Hệ thống điểm tín dụng về
cơ bản được xây dựng dựa trên những nhân tố ảnh hưởng đến KNTN vay của KHCN
Tuy nhiên trên thế giới vẫn có một vài nghiên cứu sử dụng các mô hình toán học ước tính được một cách hiệu quả KNTN của khách hàng vay, các biến được lựa chọn và trọng số của từng biến trong các nghiên cứu này chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và phán đoán mà không có bất kỳ lý thuyết nào hỗ trợ Một số nghiên cứu điển hình cụ thể như sau:
Trang 36- Trong nghiên cứu của Sullivan and Fisher (1988), các tác giả đã ước tính
mối quan hệ giữa những biến kinh tế - xã hội và rủi ro tín dụng tiêu dùng bằng cách
sử dụng phương pháp phân tích đơn biến và đa biến của mẫu gồm 3.824 khách hàng trong khảo sát vào năm 1983 tại Mỹ Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: việc chậm trả
nợ của khách hàng có mối quan hệ nghịch biến với sự gia tăng trong thu nhập và tuổi tác của khách hàng Tỷ lệ khách hàng gặp khó khăn trong trả nợ rất cao (37%) đối với nhóm có thu nhập thấp, dưới 10,000 USD và rất thấp (7%) đối với nhóm có thu nhập cao từ 50,000 USD trở lên Khi tuổi tác của chủ hộ càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong trả nợ càng thấp Đồng thời, bất kể ở mức thu nhập nào, khách hàng không có hoặc có ít các tài sản có tính thanh khoản cao sẽ có khuynh hướng gặp khó khăn trong trả nợ
Trong nghiên cứu này, những người ở nhà thuê sẽ gặp khó khăn trong trả nợ
so với người sở hữu nhà riêng Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc chậm trả nợ thường xảy ra đối với khách hàng: là người da màu hoặc gốc Tây Ban Nha, người
có trình độ học vấn thấp, người có tỷ số tổng nợ phải trả/tổng thu nhập cao Có tồn tại mối quan hệ giữa KNTN vay đúng hạn với loại hình tổ chức tín dụng khách hàng quan hệ, cụ thể trong lịch sử khách hàng có quan hệ tín dụng NH có xác suất chậm trả nợ thấp hơn khách hàng có quan hệ với các các công ty tài chính
- Canner and Luckett (1990) đã dùng phương pháp phân tích logit đa nhân tố
để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến KNTN vay của KHCN trong mẫu gồm 1.534 khách hàng nghiên cứu từ năm 1990 - 1991 Kết quả cho thấy: lịch sử bị từ chối cấp tín dụng là dự đoán có ý nghĩa quan trọng nhất về việc khách hàng có khó khăn trong việc trả nợ, quy mô gia đình, chủng tộc có mối quan hệ khẳng định đối với việc khó khăn trong trả nợ Mặt khác, thu nhập của chủ nhà không có ý nghĩa thống kê đối với KNTN vay của khách hàng
- Nghiên cứu của Tongxiao (Catherine)Zhang and Sharon A.DeVaney (1999) sử dụng mô hình hồi quy logistic với dữ liệu nghiên cứu tại Mỹ vào năm
1995, mẫu dữ liệu gồm 2.715 hộ gia đình cho thấy rằng những người trẻ tuổi, thu nhập hàng năm thấp, có nhiều người phụ thuộc, ở nhà thuê, có tỷ số tổng nợ/tổng tài
Trang 37sản lớn thì hầu như khó khăn trong thanh toán nợ Các nhân tố: thái độ đối với khoản vay, trình độ học vấn, chức vụ trong công việc, tỷ số tổng tài sản có tính thanh khoản/tổng nợ thì không có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu của tác giả
- Nghiên cứu của Deborah D.Godwin (1999) về việc dự đoán khó khăn trong
trả nợ vay của KHCN tại Mỹ giai đoạn 1989 – 1993 với mẫu dữ liệu gồm 1.479 hộ gia đình Với phương pháp phân tích đa biến, kết quả nghiên cứu cho thấy những người có khó khăn trong trả nợ thường là khách hàng trẻ tuổi, người da trắng, sở hữu nhà lớn, có thái độ tích cực đối với tín dụng và đã từng có khoản vay quá hạn trước đây, có tài sản thế chấp, có khoản nợ mua sắm tài sản dài hạn, có sự hỗ trợ tài chính từ người thân thuộc, bạn bè và có bất động sản giao dịch trong khoảng thời gian từ 1986 - 1989
- Vương Hoàng Quân và ctg (2006) đã sử dụng phương pháp thống kê, và
mô hình hồi quy logit để đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến KNTN vay của KHCN tại NH Techcombank Mẫu dữ liệu nghiên cứu gồm 1.727 khách hàng Kết quả nghiên cứu:
+ Các nhân tố có quan hệ đồng biến với KNTN vay của khách hàng: Mức thu nhập hàng tháng, chênh lệch thu nhập và chi tiêu, giá trị tài sản khách hàng
+ Các nhân tố có quan hệ nghịch biến với KNTN vay của khách hàng: trình độ học vấn, loại hình công việc, thời gian công tác, tình trạng hôn nhân, nơi cư trú, thời gian cư trú, số người phụ thuộc, phương tiện đi lại, phương tiện thông tin, giá trị các khoản nợ, quan hệ với Techcombank, uy tín trong giao dịch
- Nghiên cứu Dinh Thi Huyen Thanh and Stefanie (2006) sử dụng dữ liệu
thu thập từ một NHTM tại Việt Nam vào năm 2005 đưa vào mô hình hồi quy logit mục tiêu xây dựng mô hình điểm tín dụng trong cho vay cá nhân, góp phần hỗ trợ cho quyết định cho vay của NH Thông qua xây dựng thang điểm cho từng nhân tố, tác giả cũng cho thấy các nhân tố có ảnh hưởng đến KNTN vay của KHCN tại Việt Nam Kết quả tìm thấy của tác giả như sau:
+ Các nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa đến KNTN vay của KHCN bao gồm: thời gian quan hệ tín dụng với NH, giới tính, số lượng khoản vay, thời hạn khoản vay,
Trang 38tài khoản tiền gửi tiết kiệm, vùng cư trú, tình trạng nhà ở, có tài khoản thanh toán, giá trị TSBĐ, số người phụ thuộc, thời gian cư trú ở chổ ở hiện tại, tình trạng hôn nhân, loại TSBĐ, có số điện thoại nhà – số điện thoại cố định, trình độ học vấn, mục đích vay
+ Các nhân tố không có ý nghĩa đến KNTN vay của KHCN bao gồm: thu nhập, nghề nghiệp, loại hình tổ chức làm việc, thâm niên công tác, tuổi tác, số điện thoại di động
Như vậy, qua các nghiên cứu cho thấy một số nhân tố sau có ảnh hưởng đến KNTN của KHCN:
Bảng 2.2: Tổng hợp các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến KNTN vay của
(1) Thu nhập, (2) Tuổi tác, (3) Tài sản có tính thanh khoản cao đang
sở hữu, (4) Hình thức sở hữu nhà, (5) Dân tộc, (6) Trình độ học vấn, (7) Tỷ số tổng nợ phải trả/tổng thu nhập, (8) Loại hình tổ chức tín dụng khách hàng đã từng quan hệ tín dụng
1990 - 1991
(1) Lịch sử bị từ chối cấp tín dụng, (2) Quy mô gia đình, (3) Chủng tộc
(1) Tuổi tác, (2) Thu nhập,(3) Số người phụ thuộc, (4) Hình thức sở hữu nhà, (5) Tỷ số tổng nợ/tổng tài sản
Trang 391989 – 1993
(1) Tuổi tác, (2) Chủng tộc, (3) Hình thức sở hữu nhà, (4) Thái độ đối với khoản vay và trước đây có từng bị quá hạn, (5) Tài sản thế chấp, (6) Có khoản nợ mua sắm tài sản dài hạn, (7) Có sự hỗ trợ tài chính từ người thân thuộc, bạn bè, (8) Có bất động sản giao dịch trong khoảng thời gian từ 1986 – 1989
độ học vấn, (5) Loại hình công việc, (6)Tthời gian công tác, (7) Tình trạng hôn nhân, (8) Nơi cư trú, (9) Thời gian cư trú, (10) Số người phụ thuộc, (11) Phương tiện đi lại, (12) Phương tiện thông tin, (13) Giá trị khoản nợ vay, (14) Quan hệ với Techcombank, (15) Uy tín trong giao dịch
(1) Thời gian quan hệ tín dụng với
NH, (2) Giới tính, (3) Số lượng khoản vay, (4) Thời hạn khoản vay, (5) Tài khoản tiền gửi tiết kiệm, (6) Vùng cư trú, (7) Tình trạng nhà ở, (8) Tài khoản thanh toán, (9) Giá trị TSBĐ, (10) Số người phụ thuộc, (11) Thời gian cư trú ở chổ ở hiện tại, (12) Tình trạng hôn nhân, (13) Loại TSBĐ, (14) Số điện thoại nhà – số điện thoại cố định, (15) Trình
độ học vấn, (16) Mục đích vay
(Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu)
Do có sự khác biệt về bối cảnh, mẫu thu thập và phương pháp thống kê nên kết quả của các nghiên cứu không có sự thống nhất Mối quan hệ thực sự giữa KNTN vay và các nhân tố kinh tế, xã hội thì vẫn chưa được biết đến, cùng với sự biến đổi trong các yếu tố kinh tế, xã hội nên việc nghiên cứu thực nghiệm đo lường KNTN vay của KHCN là không dư thừa
Trang 402.5 Mô hình, phương pháp đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân
2.5.1 Mô hình định tính
Khi xem xét hồ sơ đề nghị cấp tín dụng của KHCN, một số NH sử dụng mô hình “6C” để hỗ trợ Mô hình “6C” tập trung phân tích 06 nhóm yếu tố liên quan khách hàng:
Tư cách người vay (Character): các đặc điểm của người đi vay có ảnh hưởng
đến KNTN vay, bao gồm: độ tuổi, tình trạng hôn nhân, mục đích vay, lịch sử quan
hệ tín dụng,
Năng lực của người vay (Capacity): khách hàng có đủ năng lực pháp lý và
năng lực dân sự để NH có thể cấp tín dụng, bao gồm: người vay có giấy phép kinh doanh, giấy phép hành nghề trong cho vay sản xuất kinh doanh, có hợp đồng lao động, có quyết định vào biên chế nhà nước đối với cho vay tín chấp, thời gian công tác/hoạt động; vị trí công tác, độ tuổi nằm trong độ tuổi lao động
Thu nhập của người vay (Cash): Yếu tố chính quyết định KNTN của khách
hàng: nguồn trả nợ của khách hàng đến từ đâu (hoạt động sản xuất kinh doanh, lương, cho thuê, tiết kiệm, ) Nếu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, phương án kinh doanh có khả thi và hiệu quả, có khả năng tạo đủ nguồn trả nợ NH Nếu nguồn trả từ lương, thu nhập khác (cho thuê, tiết kiệm, nguồn trả nợ bên thứ ba) thì có ổn định, có đảm bảo trả nợ NH sau khi trừ các chi phí sinh hoạt, các khoản trả nợ khác
Bảo đảm tiền vay (Collateral): là nguồn thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho
NH sau thu nhập người vay Xét đến TSBĐ tiền vay các NH ngoài việc quan tâm đến yếu tố tính thanh khoản, giá trị thanh lý trong trường hợp phải xử lý TSBĐ, còn quan tâm đến tính pháp lý tài sản: tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của bên bảo đảm, tài sản được phép giao dịch, tài sản hiện không có tranh chấp, không thuộc đối tượng bị trưng thu, trưng dụng kê biên để thi hành án, không được thế chấp, cầm cố với bất kỳ hình thức nào khác tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm