1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô việt nam trong ngắn hạn

97 609 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do thực hiện đề tài Đã có nhiều nghiên cứu về tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô Việt nam, tuy nghiên, các nhiên cứu chỉ dừng tại một khía cạnh, hay nghiên cứu tá

Trang 1

-

TRẦN THỊ PHƯƠNG THI

ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN NỀN KINH TẾ VĨ

MÔ VIỆT NAM TRONG NGẮN HẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

-

TRẦN THỊ PHƯƠNG THI

ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN NỀN KINH TẾ VĨ

MÔ VIỆT NAM TRONG NGẮN HẠN

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN TẤN HOÀNG

TP.Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 3

Tôi xin cam đoan đề tài “Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế

vĩ mô Việt Nam trong ngắn hạn” là đề tài nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng

dẫn của người hướng dẫn khoa học Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Tôi xin cam đoan những lời nêu trên đây là hoàn toàn đúng sự thật

Tp.HCM, ngày 20 tháng 10 năm 2015

Tác giả

TRẦN THỊ PHƯƠNG THI

Trang 4

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng biểu

Danh mục hình vẽ

Tóm tắt

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU………1

1.1 Lý do thực hiện đề tài 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 4

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.3 Phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 5

1.5 Điểm mới của đề tài 5

1.6 Kết cấu của đề tài 5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY………7

2.1 Các lý thuyết tiền đề 7

2.1.1 Học thuyết của Keynes 8

2.1.2 Học thuyết của Trường phái Tân Cổ điển 9

2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 12

2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm đối với các quốc gia có nền kinh tế phát triển 12 2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm đối với các quốc gia có nền kinh tế “mới nổi”16 2.2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam 18

2.3 Tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây 19

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 22

Trang 5

3.2.1

3.2.2 Mô hình VAR đệ quy 23

3.3 Cơ sở dữ liệu 25

3.3.1 Mô tả biến 25

3.3.2 Biến động của các biến trong mô hình 30

3.4 Phương pháp kiểm định mô hình 32

3.4.1 Kiểm định tính dừng 32

3.4.2 Xác định độ trễ ưu của mô hình 33

3.4.3 Kiểm định nhân quả Granger 33

3.4.4 Kiểm tra tính ổn định của mô hình 34

3.4.5 Hàm phản ứng thúc đẩy (IRF) 34

3.4.6 Phân rã phương sai (Variance decomposition) 34

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU………35

4.1 Kiểm định nhân quả Granger 35

4.2 Hồi quy mô hình VAR đệ quy 38

4.2.1 Hồi quy mô hình VAR đệ quy 5 biến 38

4.2.1.1 Kiểm định tính dừng 38

4.2.1.2 Xác định độ trễ tối ưu của mô hình 41

4.2.1.3 Kiểm tra tính ổn định của mô hình 41

4.2.1.4 Phân tích hàm phản ứng thúc đẩy ( IRF) 42

4.2.1.5 Phân tích phân rã phương sai 46

4.2.2 Hồi quy mô hình VAR 6 biến 49

4.2.2.1 Kiểm định tính dừng của các biến mới 49

4.2.2.2 Hồi quy mô hình VAR 6 biến có bổ sung biến tiêu dùng cá nhân 51

4.2.2.3 Hồi quy mô hình VAR 6 biến có bổ sung biến đầu tư tư nhân 55

4.2.2.4 Hồi quy mô hình VAR 6 biến có bổ sung biến tỷ lệ thất nghiệp 58

Trang 6

5.1.1 Kết quả nghiên cứu 65

5.1.2 Kiến nghị chính sách 67

5.2 Hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 68

5.2.1 Hạn chế của đề tài 68

5.2.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 69

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

Từ viết

CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế IRF Impulse Reponse Funtion Hàm phản ứng thúc đẩy

OECD Organization for Economic

Cooperation and Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển

Kinh tế SVAR Structural Vector Auto Regression Tự hồi quy véctơ cấu trúc VAR Vector Auto Regression Tự hồi quy véctơ

Trang 8

Trang

Bảng 2.1.Tổng hợp các nghiên cứu trước đây 19

Bảng 3.1.Mô tả và đo lường các biến nghiên cứu 26

Bàng 3.2.Kết quả thống kê mô tả các biến sử dụng trong nghiên cứu 28

Bảng 4.1.Kết quả kiểm định nhân quả Granger 35

Bảng 4.2.Kết quả kiểm định tính dừng theo tiêu chuẩn ADF và PP 39

Bảng 4.3.Kết quả kiểm định tính dừng biến rt sau khi lấy sai phân bậc 1 theo ADF 40

Bảng 4.4.Kết quả kiểm định tính dừng biến rt sau khi lấy sai phân bậc 1 theo PP 40

Bảng 4.5.Kết quả kiểm định độ trễ tối ưu của mô hình 41

Bảng 4.6.Kết quả kiểm định tính ổn định của mô hình theo dạng bảng 42

Bảng 4.7.Phân rã phương sai GDP thực 47

Bảng 4.8.Phân rã phương sai lạm phát 47

Bảng 4.9.Phân rã phương sai lãi suất cho vay theo quý 48

Bảng 4.10.Kết quả kiểm định tính dừng của các biến mới 50

Bảng 4.11.Kết quả kiểm định tính dừng của biến tỷ lệ lao động sau khi đã lấy sai phân bậc 1 50

Bảng 4.12.Kết quả kiểm định độ trễ tối ưu của mô hình VAR khi thêm biến tiêu dùng cá nhân 51

Bảng 4.13 Kết quả kiểm định tính ổn định của mô hình theo dạng bảng 52

Bảng 4.14.Phân rã phương sai tiêu dùng cá nhân 54

Bảng 4.15.Kết quả kiểm định độ trễ tối ưu của mô hình VAR khi thêm biến đầu tư tư nhân 55

Bảng 4.16.Kết quả kiểm định tính ổn định của mô hình theo dạng bảng 56

Bảng 4.17.Phân rã phương sai đầu tư tư nhân 58

Bảng 4.18.Kết quả kiểm định độ trễ tối ưu của mô hình VAR khi thêm biến tỷ lệ thất nghiệp 59

Bảng 4.19.Kết quả kiểm định tính ổn định của mô hình theo dạng bảng 59

Bảng 4.20.Phân rã phương sai tỷ lệ thất nghiệp 61

Bảng 4.21.Tổng hợp các kết quả của đề tài 62

Trang 9

Hình 3.1.Biến động của các biến trong mô hình VAR đệ quy 5 biến 30

Hình 3.2.Biến động của các biến được thêm vào sau để tạo thành mô hình VAR 6 biến 31

Hình 4.1.Kết quả kiểm định tính ổn định của mô hình theo dạng biểu đồ 41

Hình 4.2.Tác động của cú sốc chi tiêu chính phủ 43

Hình 4.3.Tác động của cú sốc doanh thu thuế 45

Hình 4.4.Kết quả kiểm định tính ổn định của mô hình theo dạng biểu đồ 52

Hình 4.5.Tác động của cú sốc chi tiêu chính phủ 53

Hình 4.6.Tác động của cú sốc doanh thu thuế 53

Hình 4.7.Kết quả kiểm định tính ổn định của mô hình theo dạng biểu đồ 56

Hình 4.8.Tác động của cú sốc chi tiêu chính phủ 56

Hình 4.9.Tác động của cú sốc doanh thu thuế 57

Hình 4.10.Kết quả kiểm định tính ổn định của mô hình theo dạng biểu đồ 59

Hình 4.11.Tác động của cú sốc chi tiêu chính phủ 60

Hình 4.12.Tác động của cú sốc doanh thu thuế 61

Trang 10

Việt Nam trong ngắn hạn từ quý 1 năm 1996 đến quý 4 năm 2014 bằng mô hình VAR đệ quy năm biến, bao gồm GDP thực, chi tiêu chính phủ, doanh thu thuế, lạm phát và lãi suất cho vay theo quý Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng mô hình VAR sáu biến thêm lần lượt các biến tiêu dùng cá nhân, đầu tư tư nhân, tỷ lệ thất nghiệp để xem xét thêm tác động của chính sách tài khóa lên các biến vĩ mô trên theo cách tiếp cận của Ignacio Lozano và Karen Rodríguez (2011)

Thông qua chuỗi dữ liệu về các biến vĩ mô như GDP thực, lãi suất, lạm phát, tiêu dùng cá nhân, đầu tư tư nhân và tỷ lệ thất nghiệp được thu thập từ 1996-2014,

đề tài tìm thấy rằng nền kinh tế vĩ mô Việt Nam phản ứng tiêu cực khi xảy ra cú sốc

tăng chi tiêu chính phủ Cụ thể là khi có sự mở rộng của chi tiêu chính phủ thì lập tức GDP phản ứng sụt giảm ngay trong ngắn hạn, đồng thời làm phát cũng gia tăng nhanh trong ngắn hạn và đạt mức cao trong dài hạn Cú sốc chi tiêu chính phủ cũng làm cho lãi suất cho vay theo quý tăng trong ngắn hạn, tuy nhiên chậm hơn một quý

và mức độ ảnh hưởng của cú sốc chi tiêu chính phủ đối với lãi suất cũng nhỏ hơn so với GDP thực và lạm phát Bên cạnh đó, qua kết quả phân tích của đề tài ta cũng có thể nhận thấy tác động chèn lấn của việc sử dụng chính sách tài khóa mở rộng bằng cách tăng chi tiêu chính phủ ra ngoài khu vực tư nhân thể hiện qua việc khi tăng chi tiêu chính phủ thì tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân đều giảm xuống

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tác động của cú sốc doanh thu thuế trong kỳ nghiên cứu là hết sức mờ nhạt và hầu như không tác động đến các biến kinh tế vĩ

mô (các kết quả đều không có ý nghĩa thống kê), ngoại trừ biến lạm phát

Ngoài ra, kết quả của đề tài cũng thể hiện việc sử dụng chính sách tài khóa để giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp tại Việt Nam là không có cơ sở thực nghiệm, do tác động của các cú sốc chính sách tài khóa đối với biến tỷ lệ thất nghiệp đều không có

ý nghĩa thống kê

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Lý do thực hiện đề tài

Đã có nhiều nghiên cứu về tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ

mô Việt nam, tuy nghiên, các nhiên cứu chỉ dừng tại một khía cạnh, hay nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa đến một biến vĩ mô như lạm phát, lao động hoặc chỉ giải thích trên sự biến động của các chỉ tiêu vĩ mô, mà chưa có một nghiên cứu nào thật sự tổng quát, cụ thể về tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ

mô có áp dụng mô hình kinh tế, phân tích định lượng Bên cạnh đó, trong các nghiên cứu tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu định lượng về những tác động của việc điều chỉnh chính sách thuế đến việc tiêu thụ và đầu tư; rất ít những nghiên cứu thực nghiệm về tác động của việc gia tăng chi tiêu chính phủ tới GDP, giá cả và lãi suất Chính sách tài khóa đã được thực hiện trên nhiều nước có nền kinh tế phát triển, là một công cụ được đánh giá là hiệu quả để thực hiện ổn định nền kinh tế vĩ

mô Như đối với Mỹ, nền kinh tế đứng đầu thế giới, trong suốt những năm 1970, vấn đề thâm hụt ngân sách đã từng là một mối quan tâm lớn của nền kinh tế Mỹ và đến thập niên 80, thâm hụt ngân sách lại tiếp tục gia tăng khi Tổng thống Ronald Reagan (1981 - 1989) theo đuổi một chương trình cắt giảm thuế và tăng chi tiêu quân sự Đặc biệt là năm 1986, thâm hụt ngân sách đã vọt lên đến 221 tỉ USD, chiếm hơn 22% tổng chi tiêu của liên bang Cuối những năm 90, các nhà hoạch định chính sách ít có khả năng hơn trong việc sử dụng chính sách tài khóa mở rộng để đạt được những mục tiêu kinh tế; do vậy, họ tập trung vào những thay đổi chính sách hẹp hơn với mục đích đưa nền kinh tế tăng tới cận biên Tổng thống Ronald Reagan và người kế nhiệm ông, George H W Bush (1989 - 1993) tìm cách giảm thuế lợi nhuận - tức là những khoản tài sản gia tăng từ kết quả đánh giá lại giá trị tài sản như bất động sản hoặc cổ phiếu, cho rằng sự thay đổi như vậy sẽ khuyến khích tiết kiệm và đầu tư nhiều hơn; kết quả là thâm hụt ngân sách đã được thu hẹp Tổng thống Bill Clinton(1993 - 2001) đã chấp thuận giảm mức thuế lợi nhuận cao nhất từ

Trang 12

28% xuống còn 20% vào năm 1996 Trong khi đó, Bill Clinton cũng tìm cách tác động vào nền kinh tế bằng việc xúc tiến các chương trình giáo dục và đào tạo nghề khác nhau nhằm phát triển lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao hơn, và do

đó cũng nâng cao hơn năng suất và tính cạnh tranh

Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 đã cho thấy sự thiếu thông tin thực nghiệm về các mối liên kết giữa chính sách tài khóa và nền kinh

tế vĩ mô đã dẫn đến các chính sách tài khóa được triển khai thực hiện bởi các nước công nghiệp (trong đó có cả Mỹ) và một số nước có nền kinh tế mới nổi nhằm bù đắp cho hậu quả của cuộc khủng hoảng là không hiệu quả, nhiều nền kinh tế đi vào giai đoạn khủng hoảng, nhiều doanh nghiệp, ngân hàng phải đi đến phá sản Do đó, sau cuộc khủng hoảng kinh tế, khi chu kỳ tăng trưởng toàn cầu thay đổi nhiều nước

ở khu vực Đông Á cũng điều chỉnh chính sách tài khóa và tiền tệ, nhiều nước đã

tránh áp dụng các gói kích cầu lớn để đạt tăng trưởng và một số nước đã bắt đầu giải quyết vấn đề bền vững tài khóa liên quan đến các chính sách tăng trưởng trước đây

Đối với Chính phủ Việt Nam, giai đoạn 1991 – 2007 chính sách tài khóa đã có

những thay đổi cơ bản như giảm mức huy động nguồn thu thuế thông qua chương trình cải cách thuế bước hai và ba; đặc biệt gia tăng chi đầu tư công thông qua các chương trình kích cầu từ nguồn vốn ngân sách và phát hành trái phiếu chính phủ Đến giai đoạn 2007 – 2008, Chính phủ nước ta thực hiện tăng cường công tác thu ngân sách để bảo đảm nhiệm vụ được giao, kết hợp với việc rà soát nợ đọng thuế, chống thất thu; tiếp tục rà soát lại chi ngân sách, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cắt giảm, đình hoãn các dự án đầu tư chưa thực sự cấp bách và dự án đầu tư không

có hiệu quả; không tăng chi ngoài dự toán, dành nguồn kinh phí cho bảo đảm an sinh xã hội; xem xét điều chỉnh giảm mức thuế xuất khẩu, nhập khẩu nhằm bình ổn thị trường Từ sau khủng hoảng kinh tế, một trong những giải pháp chủ yếu để khôi phục nền kinh tế và khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng là chính sách tài khóa

mở rộng, gồm các gói kích cầu Gói kích cầu thứ nhất đã được triển khai nhằm hỗ trợ lãi suất khoảng 17.000 tỉ đồng, gói kích cầu thứ hai, với tổng nguồn vốn khoảng

Trang 13

8 tỉ USD, hỗ trợ lãi suất trong trung và dài hạn nhằm kích cầu đầu tư, phát triển sản xuất Ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô và tạo việc làm, đây là hai điều quan trọng nhất thể hiện khá rõ vai trò của Nhà nước thông qua các gói kích cầu Việc thực hiện một cách linh hoạt và đồng bộ các chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác đã giúp nền kinh tế Việt Nam vượt qua khủng hoảng

Việc xác định ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô Việt Nam trong ngắn hạn sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn cụ thể, chi tiết hơn về việc thiết lập thời điểm áp dụng chính sách tài khóa, cũng như việc áp dụng các chính sách tài khóa phù hợp với từng thời điểm nhằm giúp ổn định và thúc đẩy nền kinh tế vĩ mô Việt Nam, giúp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các chính sách tài khóa trong thời gian tới

Trước đây, mô hình VAR đệ quy cũng đã được sử dụng để đánh giá tác động của các cú sốc chính sách tiền tệ, tại Việt Nam cũng đã có nhiều bài nghiên cứu sử dụng mô hình VAR đệ quy để nghiên cứu sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990, mô hình này đã được sử dụng để đánh giá tác động của những cú sốc chính sách tài khóa, đặc biệt là đối với Mỹ và các nước Châu Âu Đối với các nền kinh tế mới nổi việc sử dụng các mô hình VAR đệ quy để đánh giá các tác động của chính sách tài khóa đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô là rất khan hiếm, chủ yếu là do thiếu các dữ liệu chất lượng tốt vì mô hình đòi hỏi dữ liệu hàng quý trong khoảng thời gian đủ dài Bài nghiên cứu này sử dụng nguồn dữ liệu hàng quý

và hàng năm của Quỹ Tiền tệ quốc tế (gọi tắt là IMF: International Monetary Fund)

về Việt Nam Ảnh hưởng của những cú sốc tài khóa được đánh giá trên GDP, tiêu dùng cá nhân, đầu tư tư nhân, lạm phát, lãi suất cho vay theo quý và tỷ lệ thất nghiệp

Do vậy, để có được sự đánh giá tổng quan về ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô Việt Nam trong ngắn hạn, trong đó sử dụng các phương pháp định lượng cụ thể đã được các nhà nghiên cứu áp dụng cho các nước trên thế giới, từ đó nhằm đưa ra những khuyến nghị cụ thể cho các nhà hoạch định chính

Trang 14

sách tài khóa tại Việt Nam giúp ước lượng được hiệu quả của các chính sách tài khóa trong thời gian qua, từ đó giảm thiểu rủi ro và có hướng đi đúng đắn hơn trong việc xây dựng các chính sách tài khóa trong tương lai Và đó cũng là lý do tác giả

chọn đề tài “Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô Việt

Nam trong ngắn hạn”

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu nhằm cung cấp bằng chứng về ảnh hưởng của chính sách tài khóa nên nền kinh tế vĩ mô Việt Nam trong ngắn hạn

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Chính sách tài khóa ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế vĩ mô Việt Nam trong ngắn hạn?

1.3 Phạm vi nghiên cứu

- Chính sách tài khóa bao gồm chi tiêu chính phủ và doanh thu thuế; các biến kinh tế vĩ mô bao gồm GDP thực, lãi suất, lạm phát, tiêu dùng cá nhân, đầu tư tư nhân, tỷ lệ thất nghiệp từ năm 1996 đến nay Lý do chọn kỳ nghiên cứu này là do năm 1996 Quốc hội thông qua Luật Ngân sách nhà nước trong đó quy định rõ các khoản thu, chi ngân sách nhà nước cũng như việc phân cấp thu chi được quy định chi tiết, cụ thể hơn so với giai đoạn trước Bên cạnh đó, năm 1996 là năm bắt đầu chính sách cải cách thuế giai đoạn 2 của Chính phủ; đồng thời, trong giai đoạn này Chính phủ cũng bắt đầu hoàn chỉnh các quy định về thuế, ban hành các Luật thuế mới (Luật thuế giá trị gia tăng thay thế cho Luật thuế doanh thu và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thay thế cho Luật thuế lợi tức) có thể coi là bước đột phá quan trọng nhất của công cuộc cải cách Thuế tại Việt Nam, cho thấy hệ thống thuế của Việt Nam trong giai đoạn này đã bắt đầu hoàn thiện hơn so với giai đoạn trước năm

1996

- Dữ liệu nghiên cứu được thu thập, xử lý từ năm 1996 đến năm 2014

Trang 15

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để phù hợp với nội dung, yêu cầu và mục tiêu nghiên cứu đề tài sử dụng hai phương pháp nghiên cứu khoa học phổ biến gồm:

- Phương pháp phân tích định tính: Đề tài thực hiện sưu tầm, thống kê và phân tích dữ liệu các biến để đánh giá sự biến động của chính sách tài khóa và các biến vĩ mô trong kỳ nghiên cứu

- Phương pháp phân tích định lượng: Đề tài sử dụng mô hình VAR đệ quy với phân tích Cholesky bằng phần mềm Eviews 6.0 cho việc xem xét sự tác động của cú sốc chính sách tài khóa đến các biến kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn

1.5 Điểm mới của đề tài

Hầu hết các nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ

mô Việt nam chỉ dừng tại một vài khía cạnh, hay nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa đến một biến vĩ mô như lạm phát, lao động hoặc chỉ giải thích trên sự biến động của các chỉ tiêu vĩ mô, mà chưa có một nghiên cứu nào thật sự tổng quát,

cụ thể về tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô có áp dụng mô hình kinh tế, phân tích định lượng Bên cạnh đó, trong các nghiên cứu tại Việt Nam

có rất ít nghiên cứu định lượng về những tác động của việc điều chỉnh chính sách thuế đến việc tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân; rất ít những nghiên cứu thực nghiệm về tác động của việc gia tăng chi tiêu chính phủ tới GDP, lạm phát và lãi suất

Trong phạm vi nghiên cứu của mình đề tài áp dụng phân tích định lượng để đánh giá tác động của việc điều chỉnh chi tiêu chính phủ và chính sách thuế đến sản lượng quốc gia, lãi suất, lạm phát, tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân, tỷ lệ thất nghiệp tại Việt Nam trong ngắn hạn

1.6 Kết cấu của đề tài

Nhằm để trả lời cho những vấn đề nêu trên, đề tài chia bố cục bài viết làm năm chương:

Trang 16

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận

Trang 17

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1 Các lý thuyết tiền đề

Chính sách tài khóa là hệ thống các chính sách của chính phủ về tài chính,

thường được hoạch định và thực hiện trọn vẹn trong một niên khóa tài chính, nhằm tác động đến các định hướng phát triển của nền kinh tế, thông qua những thay đổi trong kế hoạch chi tiêu chính phủ và chính sách thu ngân sách (chủ yếu là các khoản thu về thuế)

Chính sách tài khoá có thể tạm chia thành chính sách tài khoá cân bằng, chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tài khoá thắt chặt, cụ thể như sau:

- Chính sách tài khoá cân bằng là chính sách tài khoá mà theo đó, tổng chi tiêu của Chính phủ cân bằng với các nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu khác mà không phải vay nợ

- Chính sách tài khoá mở rộng (hay còn gọi là chính sách tài khóa thâm hụt) là chính sách nhằm tăng cường chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách: gia tăng mức độ chi tiêu chính phủ mà không tăng nguồn thu; hoặc giảm nguồn thu từ thuế mà không giảm chi tiêu; hoặc vừa gia tăng mức độ chi tiêu của chính phủ đồng thời giảm nguồn thu từ thuế

- Chính sách tài khoá thắt chặt (hay còn gọi là chính sách tài khóa thặng dư) là

chính sách hạn chế chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách: chi tiêu của chính phủ ít đi nhưng không tăng thu; hoặc không giảm chi tiêu nhưng tăng thu từ thuế; hoặc vừa giảm chi tiêu vừa tăng thu từ thuế

Thông qua việc thu thập và tìm hiểu các nghiên cứu trước đây, đề tài nhận thấy rằng khi nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô của một quốc gia, các nhà kinh tế thường tập trung chứng minh hai lý thuyết chính

là học thuyết của Keynes và học thuyết của Trường phái Tân cổ điển:

Trang 18

2.2.1 Học thuyết của Keynes

John Maynard Keynes (1883 - 1946) là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh Ông là giáo sư Trường Đại học Cambridge và là chủ bút tờ Tạp chí Kinh tế (Economic Journal) Ông là một chuyên gia về tài chính và tiền tệ trong Bộ tài chính Anh và giữ vai trò chủ chốt trong việc hình thành mọi chủ trương, chính sách của Hiệp hội Kinh tế Hoàng gia Anh Ông cũng là người có công trong việc sáng lập ra Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF

Học thuyết của trường phái Keynes khẳng định những cú sốc do tăng chi tiêu công và các cú sốc do giảm thuế có tác động lớn và tích cực đến GDP, tiêu dùng, đầu tư tư nhân và tỷ lệ thất nghiệp

Keynes giải thích tác động trên thông qua khái niệm số nhân của chính sách tài khóa, cụ thể:

Ta có Y = C + I + G + EX- IM

Trong đó:

Y: Tổng cầu của nền kinh tế (thu nhập quốc dân)

C: Tiêu dùng của hộ gia đình

I: Đầu tư

G: Chi tiêu của chính phủ

EX: Xuất khẩu

Trang 19

đổi trong chi tiêu của chính phủ làm dịch chuyển đường tổng cầu, tuy nhiên, độ lớn của sự dịch chuyển đường tổng cầu sẽ lớn hơn độ lớn của mức thay đổi chi tiêu chính phủ Trước hết, tăng chi tiêu chính phủ G làm tăng Y, dẫn tới mức tăng thu nhập khả dụng của hộ gia đình, vì vậy họ chi tiêu nhiều hơn và Y tiếp tục tăng nhiều hơn Đây chính là hiệu ứng số nhân của chính sách tài khóa

Bằng các lý luận của mình J.M Keynes khẳng định để nâng cao tổng cầu Chính phủ phải tăng chi tiêu, hoặc giảm thuế cho doanh nghiệp, qua đó nâng cao mức tiêu dùng trong nền kinh tế và hiệu lực của cơ chế số nhân sẽ khiến cho sản lượng tăng và việc làm trong xã hội tăng lên Ông cho rằng khi chính phủ tăng chi tiêu (chuyển giao hoặc đầu tư công), thì sự chi tiêu tăng thêm này sẽ trở thành thu nhập khả dụng tăng thêm và được tiêu xài Khoản tiêu dùng tăng thêm này cũng chuyển đổi thành thu nhập khả dụng tăng thêm vòng thứ hai Cứ mỗi vòng tiếp theo thì tác động lên cầu sẽ giảm đi, nhưng tổng tác động là lớn hơn nhiều so với vòng chi tiêu đầu Keynes gọi tác động tích lũy của việc tăng chi tiêu là hệ số nhân, đây là

ý tưởng trọng tâm cho kết luận của ông rằng tăng chi tiêu của chính phủ trong thời

kỳ suy thoái có thể đẩy nền kinh tế đi đến toàn dụng lao động Các vòng tiêu dùng

kế tiếp nhau có nghĩa là tác động của đợt kích thích ngân sách là lớn hơn bản thân gói kích thích đó, có lẽ không được 5 lần vì sẽ có rò rỉ vào hàng nhập khẩu và thuế, nhưng Keynes tin rằng tác động này lớn hơn 1 Ông cho rằng hệ số nhân có thể lớn hơn khi thất nghiệp cao, nói cách khác khi nền kinh tế đang sản xuất thấp hơn nhiều

so với sản lượng tiềm năng

Ông cũng cho rằng, sự thay đổi trong chính sách thuế có thể tác động đến khuynh hướng tiêu dùng, thông qua thuế, chuyển giao ngân sách, hàng hóa, dịch vụ nhà nước tạo ra hiệu ứng kích thích tiêu dùng và đầu tư

2.2.2 Học thuyết của Trường phái Tân cổ điển

Học thuyết của Trường phái Tân cổ điển phản đối những khẳng định của học thuyết Keynes khi cho rằng những cú sốc do tăng chi tiêu công và các cú sốc do

Trang 20

giảm thuế có tác động tiêu cực đến GDP, tiêu dùng, đầu tư tư nhân, làm gia tăng lạm phát và không thể giải quyết các vấn đề về việc làm

Những nhà kinh tế theo Trường phái Tân cổ điển cho rằng khi chính phủ tăng chi tiêu thì sẽ phải thực hiện hai biện pháp tăng thuế hoặc đi vay để bù đắp phần chi tiêu tăng lên Việc chính phủ tăng nhu cầu vay mượn sẽ làm tăng lãi suất của nền kinh tế, lãi suất tăng lên sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp cũng như nhu cầu vay mượn cho tiêu dùng của khu vực hộ gia đình từ

đó làm giảm tiêu dùng và đầu tư tư nhân, trong dài hạn sẽ ảnh hưởng đến sản lượng quốc gia Đối với việc tăng thuế sẽ làm giảm hành vi sản xuất vì thuế đánh vào thu nhập từ lao động, tiết kiệm, đầu tư hay những hình thức khác Thuế thu nhập cá nhân làm giảm thu nhập khả dụng của người lao động, không khuyến khích họ làm việc nhiều và thậm chí còn làm nản chí trong việc tìm kiếm việc làm Lao động giảm dẫn đến giảm tổng cung trong khi thu nhập giảm dẫn đến giảm tổng cầu Thuế thu nhập doanh nghiệp làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp và dẫn đến tổng cung giảm Thuế đánh vào tiết kiệm làm giảm động

cơ tiết kiệm và do đó, tạo được ít nguồn vốn hơn cho đầu tư của các doanh nghiệp sản xuất Đồng thời, để thực hiện bù đắp cho nguồn ngân sách thiếu hụt khi tăng chi tiêu chính phủ quá mức là chính phủ có thể thực hiện phát hành thêm tiền bằng cách ngân hàng nhà nước thực hiện in tiền, điều này sẽ gây ra lạm phát, bất ổn kinh tế vĩ

Trang 21

Bên cạnh đó, một số nhà kinh tế cho rằng một số khoản chi tiêu chính phủ khuyến khích việc lựa chọn những hành vi tiêu cực Nhiều chương trình trợ cấp của chính phủ dẫn đã dẫn đến những quyết định không mong muốn về mặt kinh tế, các chương trình phúc lợi khuyến khích mọi người lựa chọn nghỉ ngơi thay vì lao động, các chương trình bảo hiểm thất nghiệp làm giảm động cơ tìm việc điều này cho thấy việc tăng chi tiêu của chính phủ có thể làm tăng tỷ lệ thất nghiệp và làm giảm sản lượng quốc gia bởi vì chúng thúc đẩy sự phân bổ và sử dụng nguồn lực một cách sai lầm

Đồng thời, các nhà kinh tế của Tân cổ điển cũng cho rằng chi tiêu tăng thêm của chính phủ sẽ không có tác động lên mức thu nhập vì người dân sẽ lập tức bắt đầu tiết kiệm nhiều hơn để trả thuế tăng lên trong tương lai hoặc bù lại lạm phát cao hơn do chính phủ tăng chi tiêu trong hiện tại

Ngoài ra, vào năm 1968, Friedman công bố lý thuyết về “thất nghiệp tự nhiên.” Lý thuyết này cho rằng không thể dùng chính sách kích thích kiểu Keynes

để đẩy nền kinh tế tới toàn dụng nhân công trong một thời gian dài Thường thì cái giá phải trả cho chính sách kích thích thích như thế là lạm phát và nếu cứ theo đuổi mong muốn giảm thiểu thất nghiệp, nền kinh tế sẽ rơi vào cảnh lạm phát triền miên

Và nguy hiểm hơn nữa, khi lạm phát đã thành kinh niên thì tất cả cùng chia sẻ một mức kỳ vọng về lạm phát và cùng đòi hỏi tăng giá theo cùng một mức đó, thì khi đó

tỷ lệ thất nghiệp sẽ trở nên ổn định như khi không có chính sách can thiệp Tóm lại, Friedman cho rằng cần thừa nhận và chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp “tự nhiên” trong nền kinh tế, các chính sách không nên cố cưỡng bức nền kinh tế giảm mức thất nghiệp xuống dưới mức này thông qua các chính sách kích thích, vì kết quả sẽ chỉ là lạm phát triền miên mà thôi

Trang 22

2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây

2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm đối với các quốc gia có nền kinh tế phát triển

Trong thời gian qua, trên thế giới đã có một số nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn và dài hạn nhưng chủ yếu là nghiên cứu dựa trên dữ liệu của các nước phát triển Trong đó, các tác giả đã sử dụng các mô hình định lượng để kiểm định các lý thuyết về sự tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô của quốc gia Kết quả là nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các ý kiến, nhận định khác nhau về sự tác động của chính sách tài khóa đến các biến vĩ mô của nền kinh tế, tuy nhiên, nhìn chung hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định: chính sách tài khóa có ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô của một quốc gia; đồng thời, tùy theo các điều kiện giả định, dữ liệu thu thập, các thể chế chính trị, xã hội của từng quốc gia và thời kỳ nghiên cứu mà các tác giả đã đưa ra những kết quả thực nghiệm chứng minh cho các lý thuyết trên

Đầu tiên, nghiên cứu Một thực nghiệm mô tả tác động thúc đẩy của sự thay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế đối với sản lượng đầu ra của Olivier Blanchard

và Roberto Perotti năm 2002 là một trong những nghiên cứu tiền đề về tác động của chính sách tài khóa đến biến vĩ mô có sử dụng mô hình định lượng và phương pháp Blanchard – Perotti cũng đã được nhiều tác giả áp dụng khi phân tích đề tài này Mục tiêu chính của các tác giả của bài nghiên cứu này là mô tả một cách chi tiết nhất sự biến động của sản lượng đầu ra đối với các cú sốc thuế và các cú sốc chi tiêu trong thời kỳ sau chiến tranh tại Mỹ Các tác giả đã sử dụng một mô hình VAR

ba biến trong đó bao gồm chi tiêu chính phủ, thuế ròng và GDP thực tế cho dữ liệu của Mỹ, từ đó đưa ra những kết luận sau: Thứ nhất, kết quả nghiên cứu là phù hợp

lý thuyết tiêu chuẩn: khi tăng chi tiêu chính phủ thì sản lượng tăng và khi tăng thuế thì sản lượng giảm Thứ hai, các tác giả tiếp tục phân tích chi tiết sự tác động của những cú sốc chi tiêu trên những thành phần khác nhau của sản lượng đầu ra Các tác giả đã chia sản lượng đầu ra thành hai thành phần là tiêu dùng cá nhân và đầu tư

Trang 23

tư nhân; kết quả thu được là sau cú sốc chi tiêu, trong khi tiêu dùng cá nhân tăng lên thì đầu tư tư nhân lại giảm xuống một mức đáng kể, cả xuất khẩu và nhập khẩu cũng giảm

Kết quả của nghiên cứu này là phù hợp với khẳng định của Keynes về những

cú sốc do tăng chi tiêu công và các cú sốc do giảm thuế có tác động lớn và tích cực đến GDP và tiêu dùng Tuy nhiên, khi chi tiêu công tăng thì phản ứng của đầu tư tư nhân là giảm (và giảm thuế là tăng), phù hợp hơn với lý thuyết của trường phái tân

cổ điển

Một phương pháp nghiên cứu tương tự đã được sử dụng bởi Perotti (2004) và Galí và các cộng sự (2006) nhưng với các thông số kỹ thuật trong mô hình VAR khác nhau Trong nghiên cứu của Perotti, một mô hình VAR năm biến được sử dụng đối với năm nước thuộc OECD, bao gồm cả đánh giá tác động của chính sách tài khóa đến lãi suất ngắn hạn và giá cả Kết quả chính của nghiên cứu này cho thấy những tác động của chính sách tài khóa đối với GDP có xu hướng nhỏ hơn và yếu hơn đáng kể theo thời gian và chỉ có trong các kỳ sau năm 1980, có một số bằng chứng (nhỏ) về tác động tích cực của chi tiêu chính phủ đối với lãi suất Trong trường hợp của Galí và các cộng sự, các tác giả đã sử dụng một mô hình VAR bốn biến, bao gồm việc làm và lãi suất thực tế được đánh giá dựa trên dữ liệu của Mỹ Kết quả của họ cho thấy GDP và tiêu dùng gia tăng để đáp ứng với một cú sốc tăng chi tiêu công; các biến việc làm phản ứng tương tự

Một kỹ thuật nghiên cứu khác được sử dụng bởi Fata và Mihov (2001), các tác giả đã sử dụng một mô hình VAR năm biến cho dữ liệu của Mỹ và tập trung vào tác động của chi tiêu công Kết quả nghiên cứu cho thấy sự gia tăng trong chi tiêu là nhân tố thúc đẩy dẫn đến sự gia tăng liên tục trong đầu ra của tiêu dùng tư nhân và đầu tư nhà ở Chính sách nới lỏng tài khóa gắn liền với tăng tiền lương sản xuất và tăng tổng số việc làm tư nhân Ngoài ra, phản ứng của lãi suất thực luôn là tích cực

và đáng kể

Trang 24

Ngoài ra, đối với Mỹ năm 2008 đã có nghiên cứu Những ảnh hưởng nào từ những cú shock tài khóa? Một phân tích so sánh dựa trên phương pháp VAR của

Dario Caldara và Christophe Kamps; trong đó, tác giả đã thử nghiệm những phương pháp tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu những cú sốc tài khóa như phương pháp

đệ quy, phương pháp Blanchard-Perotti, phương pháp giới hạn dấu hiệu và phương pháp nghiên cứu tình huống, theo số liệu hàng quý của Mỹ trong giai đoạn 1995-

2006, các phương pháp trên đều cho những kết quả tương tự nhau Nghiên cứu đã tách biệt cú sốc tài khóa thành hai loại sốc về thuế và cú sốc về chi tiêu chính phủ Nghiên cứu này đã cung cấp những phương pháp đánh giá tác động khác nhau của các cú sốc tài khóa lên các biến số vĩ mô trên cơ sở sử dụng hai mô hình VAR năm biến và sáu biến để tính toán những thay đổi trong những chỉ số vĩ mô (như GDP, chi tiêu của chính phủ, thuế thuần, lạm phát, lãi suất, việc làm và tiền lương) Nghiên cứu nhân thấy cú sốc chi tiêu chính phủ tăng thì GDP thực, tiêu dùng cá nhân và tiền lương thực tế đều phản ứng tăng lên một cách đáng kể, trong khi đó việc làm không phản ứng Trong khi đó cú sốc thuế phản ứng tùy thuộc vào phương pháp phân tích và ước lượng với kết quả phản ứng là từ không ảnh hưởng đến các biến kinh tế vĩ mô đến có ảnh hưởng mạnh lên các biến kinh tế vĩ mô

Trong bối cảnh của các nước EU, Marcellino (2002) đã áp đặt các hạn chế đương thời để xác định một mô hình VAR cho Pháp, Đức, Ý và Tây Ban Nha Tác giả đã tìm thấy kết quả không đồng nhất từ các quốc gia trên, cùng với một số hiệu ứng không mong muốn Giordano và các cộng sự (2005) đã thực hiện nghiên cứu đối với Ý, Biau và Girard (2005) đối với Pháp, De Castro (2006) đối với Tây Ban Nha và Perotti (2005) và Heppke-Falk và cộng sự (2006) đối với Đức; các tác giả

đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tương tự nhau Các kết quả cho nền kinh tế EU

là rất nhiều nhưng nhìn chung bao gồm các vấn đề sau: Một là, tác động ngắn hạn của những cú sốc chi tiêu là rộng và đối với phần lớn các trường hợp nghiên cứu, số nhân đầu ra là lớn hơn một Hai là, tác động tích cực đối với tiêu dùng cá nhân tương tự như các kết quả trước đó Ba là, những cú sốc của thuế ròng có tác động không đáng kể trên phần lớn các biến số kinh tế vĩ mô và trong một số trường hợp

Trang 25

nghiên cứu, các dấu hiệu này trái ngược với lý thuyết của Keynes Bốn là, phản ứng của lạm phát và lãi suất đối với các chính sách tài khóa mở rộng là tích cực Và cuối cùng là không có kết luận về tác động lên đầu tư tư nhân

Đối với Bồ Đào Nha, gần đây đã có nghiên cứu của António Afonso và

Ricardo M Sousa, 2010 về Những tác động kinh tế vĩ mô đến chính sách tài khóa tại Bồ Đào Nha: một phân tích SVAR kiểu Bayes Trong đó, bài viết đã đánh giá

những tác động của chính sách tài khóa đến kinh tế vĩ mô ở Bồ Đào Nha trong thời gian từ quý 1 năm 1979 đến quý 4 năm 2007, dựa trên dữ liệu hàng quý mới được xây dựng từ dữ liệu hàng tháng của Chính quyền trung ương Bằng chứng thực nghiệm của nghiên cứu này cho thấy rằng, những cú sốc chi tiêu chính phủ: nói chung, tác động tiêu cực trên GDP; dẫn đến sự sụt giảm của cả tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân; làm tăng mức giá liên tục; đồng thời, cũng có tác dụng hỗn hợp trên chi phí trung bình của việc tái cấp vốn cho các khoản nợ Cụ thể hơn, một cú sốc tăng 1% chi tiêu chính phủ có tác động tăng tối đa 0,1% GDP, trong khi tác động đến cả tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân với mức giảm tương ứng là 0,12% và 0,2% Ngoài ra, các cú sốc thuế có tác động tiêu cực đến GDP, cả tiêu dùng cá nhân

và đầu tư tư nhân, mặc dù phản ứng xuất hiện với độ trễ khoảng bốn quý Trong thực tế, ở giai đoạn đầu, một cú sốc tăng 1% thuế của chính phủ có thể tạo ra một phản ứng tăng của 0,06% GDP, làm tăng cả tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân tương ứng là 0,04% và 0,14% Sau đó, những tác động của cú sốc thuế làm cho các biến vĩ mô bị giảm xuống và thậm chí trở thành tiêu cực Những kết quả này cho thấy sự mở rộng của chi tiêu chính phủ có liên quan đến một đợt suy thoái tài chính Tương tự như vậy, sự gia tăng thuế của chính phủ được theo sau bởi một chính sách tài khóa phần nào ít tuân theo các quy tắc Khi chúng ta xem xét một cách rõ ràng các phản ứng trước cú sốc từ nợ chính phủ, lãi suất (dài hạn) trở nên nhạy cảm hơn, phản ứng của GDP là nhẹ và ít đáp ứng, và những tác động của chính sách tài khóa trên các biến này cũng trở nên dai dẳng hơn Ngoài ra, các kết quả cung cấp bằng chứng yếu nhưng ổn định về tác động của mức nợ trên cán cân ngân sách cơ bản

Trang 26

Mặt khác, và từ một quan điểm về kiểm soát lạm phát, chi tiêu chính phủ cũng sẽ tạo áp lực lên trên mức giá

2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm đối với các quốc gia có nền kinh tế mới

là các tác động của hiệu ứng mở rộng chi tiêu (và giảm thuế) đã có các thông số kỹ thuật không đáng kể và những ảnh hưởng đối với giá cả và lãi suất là không thuyết phục

Trong một nghiên cứu so sánh giữa Chile và Colombia, Restrepo và Rincón (2006) đã sử dụng mô hình tiêu chuẩn SVAR ba biến cho giai đoạn 1990-2005 Kết quả cho thấy, đối với trường hợp Chile, sự gia tăng trong doanh thu thuế (chi tiêu)

có tác dụng tạm thời tiêu cực (tích cực) đối với GDP; tuy nhiên, đối với Colombia, kết quả là trái ngược vì một cú sốc thuế không có tác động đến GDP và ảnh hưởng của một cú sốc chi tiêu hầu như không đáng kể

Nghiên cứu nền tảng cho luận văn: Tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô Colombia của Ignacio Lozano và Karen Rodríguez năm 2011

Qua nghiên cứu tác động ngắn hạn của chính sách tài khóa ở Colombia lên nền kinh tế vĩ mô giai đoạn từ năm 1980 – 2007, nghiên cứu của các tác giả trên đã thu được những kết quả nhất định như sau: trong được nghiên cứu sử dụng mô hình VAR đệ quy đã được khuyến cáo rộng rãi bởi một số bài báo thực nghiệm trước đó Trong suốt thời gian nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách cho đất nước đã

Trang 27

tiến hành một loạt các cải cách sâu rộng về kinh tế và chính trị để hiện đại hóa nhà nước và tăng cường hoạt động sản xuất Chính sách tài khóa đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt được những mục tiêu này

Ban đầu, các hiệu ứng kinh tế vĩ mô của cú sốc tài khóa được đánh giá bằng

mô hình đơn giản (SVAR ba biến) Hoặc tăng chi tiêu chính phủ hoặc giảm thuế có tác động làm tăng GDP đáng kể trong sáu tháng đầu; sau đó, những tác động có xu hướng biến mất dần trong trung hạn Những phát hiện này tương phản với kết quả không đáng kể được tìm thấy trước đây đối với Colombia Ngược lại, mô hình tiêu chuẩn của bài nghiên cứu này là một mô hình VAR đệ quy năm biến trong đó có bổ sung thêm CPI - lạm phát và lãi suất danh nghĩa ngắn hạn Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng thêm mô hình VAR sáu biến, thêm lần lượt tiêu dùng cá nhân, đầu tư tư nhân,

tỷ lệ thất nghiệp và mức lương tối thiểu thực tế Tác giả cũng chia doanh thu thuế và chi tiêu chính phủ thành các thành phần để phân biệt các tác động riêng biệt của chúng Kết quả cho thấy những tác động sau đây của một cú sốc tăng chi tiêu chính phủ; thứ nhất, GDP phản ứng tăng và đáng kể trong sáu tháng đầu và cho thấy một hình bướu hình điển đỉnh điểm trong quý thứ ba Sau đó, nó giảm dần và đạt đến không sau bốn năm Thứ hai, cả lạm phát và lãi suất danh nghĩa cũng phản ứng tích cực và đáng kể, đặc biệt là sau năm thứ hai Thứ ba, các phân tích cho thấy một phản ứng tăng đáng kể của cả tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân mặc dù phản ứng của đầu tư tư nhân là lớn hơn và ngắn hơn Thứ tư, liên quan đến tác động bởi các thành phần của chi tiêu công, ta thấy sản lượng và đầu tư tư nhân phản ứng mạnh

mẽ với một cú sốc đầu tư công, đồng thời, phản ứng với cú sốc chi tiêu công của chính phủ là yếu và không có ý nghĩa đáng kể Và thứ năm, tỷ lệ thất nghiệp phản ứng giảm đáng kể cho một cú sốc tăng trong chi tiêu chính phủ

Tác động đến các biến kinh tế vĩ mô của một cú sốc thuế ròng tăng là không đáng kể mặc dù các tác giả tìm thấy một số kết quả đáng ghi nhận Trong một trường hợp, lạm phát và đặc biệt là lãi suất danh nghĩa ngắn hạn giảm xuống đáng

kể Tuy nhiên, phản ứng của các biến này không tiếp tục sau năm thứ hai Trong trường hợp khác, các cú sốc về thuế thu nhập ở Colombia dường như rõ ràng gây ra

Trang 28

sự biến động nhiều hơn, bởi vì chúng chủ yếu ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân, trong khi những cú sốc về thuế tiêu thụ dường như không ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sản xuất trong ngắn hạn

2.2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam

Đối với những nghiên cứu tại Việt Nam, trong thời gian qua vẫn chưa có nghiên cứu áp dụng mô hình VAR đệ quy để nghiên cứu về tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô mà chỉ chủ yếu sử dụng các mô hình đơn giản để thống kê, đánh giá tác động của một số riêng lẻ biến như thuế, chi tiêu công đến lạm

phát, GDP Theo đánh giá của TS Vũ Thị Minh Luận (2012) tại nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã khẳng định chi

thường xuyên của Chính phủ tác động tới tăng trưởng kinh tế trong dài hạn là rất

lớn Đồng thời, qua nghiên cứu tác động h c ra trong kinh tế vĩ mô, Th.S Nguyễn

Thị Ngọc Dung (2010) cũng đã khẳng định việc sử dụng chính sách tài khóa mở rộng của chính phủ đã làm tăng lãi suất, dẫn đến giảm đầu tư tư nhân, từ đó giảm hiệu quả của chính sách khóa Ngoài ra, đối với tác động của chi tiêu chính phủ đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn thì theo đánh giá của Th.S Đặng Văn Cường và

Bùi Thanh Hoài (2014) khi nghiên cứu Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế: Minh chứng dữ liệu chuỗi tại TP Hồ Chí Minh thì tác động này là nghịch

chiều, tuy nhiên, chỉ đối với dữ liệu của TP Hồ Chí Minh thì kết quả nghiên cứu của các tác giả trên vẫn chưa thể bao quát hết về nền kinh tế Việt Nam

Bên cạnh các nghiên cứu trên, cũng có nghiên cứu của PGS.TS Sử Đình Thành (2011) đã sử dụng phương pháp kiểm định nhân quả Granger trong mô hình VAR

đa biến để xem xét tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam; kết quả của nghiên cứu trên chỉ ra rằng chi tiêu chính phủ có tác động tích cực lên GDP, đồng thời không phát hiện mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và đầu tư tư nhân

Trang 29

2.3 Tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước đây

Nhằm cung cấp một cái nhìn mang tính tổng quát các nghiên cứu thực nghiệm đã được trình bày, đề tài tổng hợp tất cả các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến kinh tế vĩ mô thông qua các mô hình định lượng như sau:

Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước đây

Tác giả các

nghiên cứu Mô hình Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu thực nghiệm ở các nước phát triển

Olivier

Blanchard và

Roberto Perotti

(2002)

VAR ba biến - Khi tăng chi tiêu chính phủ thì sản lượng

tăng và khi tăng thuế thì sản lượng giảm

- Sau cú sốc chi tiêu, trong khi tiêu dùng cá nhân tăng lên thì đầu tư tư nhân lại giảm xuống một mức đáng kể, cả xuất khẩu và nhập khẩu cũng giảm

Perotti (2004) VAR năm biến Tác động của chính sách tài khóa đối với GDP

có xu hướng nhỏ hơn và yếu hơn đáng kể theo thời gian, chi tiêu chính phủ tác động tích cực đến lãi suất

Galí và các cộng

sự (2006)

VAR bốn biến GDP, tiêu dùng và việc làm gia tăng để đáp

ứng với một cú sốc tăng chi tiêu công

Fata và Mihov

(2001)

VAR năm biến Sự gia tăng trong chi tiêu dẫn đến sự gia tăng

liên tục trong tiêu dùng tư nhân và đầu tư nhà

ở, tăng tiền lương sản xuất và tăng tổng số việc làm tư nhân, lãi suất thực luôn phản ứng

Trang 30

Chi tiêu chính phủ tăng thì GDP thực, tiêu dùng cá nhân và tiền lương thực tế đều tăng một cách đáng kể, tuy nhiên, việc làm không phản ứng

Mô hình VAR - Tác động của cú sốc chi tiêu trong ngắn hạn

là rộng, làm cho tiêu dùng cá nhân tăng

- Cú sốc của thuế ròng có tác động không đáng

kể trên phần lớn các biến số kinh tế vĩ mô

- Đối với các chính sách tài khóa mở rộng, lạm phát và lãi suất phản ứng tăng Và cuối cùng là không có kết luận về tác động lên đầu tư tư nhân

António Afonso

và Ricardo M

Sousa (2010)

SVAR kiểu Bayes

- Cú sốc chi tiêu chính phủ tác động tiêu cực trên GDP; làm giảm tiêu dùng cá nhân và đầu

tư tư nhân; làm tăng mức giá liên tục

- Cú sốc thuế có tác động tiêu cực đến GDP, tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân, phản ứng xuất hiện với độ trễ khoảng bốn quý

Nghiên cứu thực nghiệm ở các nước có nền kinh tế mới nổi

Cerda và các

cộng sự (2005)

VAR ba biến Một cú sốc chi phí (thuế) tăng đã có một tác

động tiêu cực (và biên tế) trên sản lượng trong quý đầu tiên và sau đó hiệu ứng mất đi

Trang 31

Stikova (2006) SVAR ba biến

và SVAR năm biến

Tác động của hiệu ứng mở rộng chi tiêu (và giảm thuế) đã có các thông số kỹ thuật không đáng kể và những ảnh hưởng đối với giá cả và lãi suất là không thuyết phục

Restrepo và

Rincón (2006)

SVAR ba biến - Đối với Chile, sự gia tăng trong doanh thu

thuế (chi tiêu) có tác dụng tạm thời tiêu cực (tích cực) đối với GDP

- Đối với Colombia, cú sốc thuế không có tác động đến GDP và ảnh hưởng của một cú sốc chi tiêu hầu như không đáng kể

- Đối với cú sốc tăng chi tiêu chính phủ: GDP phản ứng tăng trong ngắn hạn, lạm phát và lãi suất danh nghĩa cũng phản ứng tăng đáng kể, tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân cũng tăng,

tỷ lệ thất nghiệp giảm Trong đó, GDP và đầu

tư tư nhân phản ứng mạnh với một cú sốc đầu

tư công, phản ứng với cú sốc chi tiêu công là yếu và không có ý nghĩa

- Tác động của một cú sốc thuế ròng tăng là không đáng kể

Trang 32

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Cơ sở chọn mô hình nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu của đề tài sẽ dựa trên mô hình nghiên cứu của Ignacio Lozano và Karen Rodríguez (2011) Do ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về chủ đề này sử dụng các phương pháp định lượng, sử dụng mô hình VAR nên chưa

có một mô hình chuẩn cho việc nghiên cứu Vì vậy, đề tài sẽ sử dụng mô hình nghiên cứu ở nước có nền kinh tế mới nổi như Colombia làm nền tảng cho nghiên cứu của mình

3.2 Mô hình nghiên cứu

3.2.1 Mô hình cơ sở

Nghiên cứu này áp dụng mô hình cơ sở được Ignacio Lozano và Karen Rodríguez (2011) sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởng của các cú sốc chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô tại Colombia, đây là một mô hình VAR đệ quy năm biến với phân rã Cholesky, trong đó, các biến bao gồm: dữ liệu hàng quý

về GDP thực (yt), chi tiêu chính phủ (gt), doanh thu thuế (tt), lạm phát (cpit) được đo bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và lãi suất cho vay theo quý (rt) Kết hợp phương pháp tiếp cận của Blanchard-Perotti (2002) đồng thời kết hợp với phương pháp tiếp cận đệ quy đã được Caldara và Kamps sử dụng trong nghiên cứu năm 2008, tác giả

đã xây dựng được một mô hình VAR đệ quy như sau:

Trang 33

Thứ tự được đề xuất bởi những tác giả trong bài nghiên cứu của Ignacio Lozano và Karen Rodríguez (2011) đối với một mô hình VAR đệ quy năm biến dựa trên phỏng đoán sau đây:

- Chi tiêu chính phủ được đặt đầu tiên (gt), do chi tiêu chính phủ là cú sốc cho các biến khác trong hệ thống và không chịu tác động của các biến khác trong mô hình

- GDP thực được đặt thứ hai (yt), có nghĩa là nó không chịu tác động thuế, lạm phát và lãi suất nhưng lại bị ảnh hưởng bởi những cú sốc chi tiêu chính phủ

- Lạm phát là biến thứ ba trong thứ tự (cpit) có nghĩa là lạm phát không chịu tác động của thuế và lãi suất nhưng lại bị ảnh hưởng bởi những cú sốc chi tiêu chính phủ và GDP thực

- Doanh thu thuế là vị trí thứ tư (tt), có nghĩa là nó không chịu tác động của lãi suất nhưng lại bị ảnh hưởng bởi chi tiêu chính phủ, GDP thực và các cú sốc lạm phát

- Lãi suất là cuối cùng (rt) bởi vì các nhà nghiên cứu trước đây cho rằng nó bị ảnh hưởng bởi tất cả những cú sốc của các biến khác trong mô hình

Ngoài ra, các tác giả Ignacio Lozano và Karen Rodríguez (2011) còn sử dụng mô hình VAR 6 biến phát triển dựa vào mô hình cơ sở trên bằng cách lần lượt thêm các biến tiêu dùng cá nhân, đầu tư tư nhân và tỷ lệ thất nghiệp vào mô hình để phân tích thêm việc tác động của chính sách tài khóa đến các biến vĩ mô trên

3.2.2 Mô hình VAR đệ quy

Mô hình VAR được giới thiệu đầu tiên bởi Sims (1980), so với các mô hình truyền thống trước đó thì các biến được chia thành biến nội sinh và biến ngoại sinh Tuy nhiên theo Sims thì tất cả các biến trong mô hình đều được xem là biến nội sinh, điều này là phù hợp khi đánh giá tác động của các biến vĩ mô

Trong mô hình VAR một biến không chỉ chịu tác động của các biến khác

Trang 34

trong mô hình mà còn chịu ảnh hưởng bởi biến trễ của chính nó Mô hình VAR về cấu trúc là gồm hệ phương trình, là một mô hình động của một biến số thời gian

Mô hình VAR của 2 biến Y1, Y2 với độ trễ p được viết như sau:

Trong đó: Y1t và Y2t là chuỗi dừng và là biến nội sinh, ε1t và ε2t là các sai số phần dư

Bernanke và Mihov (1998) là các nhà kinh tế đầu tiên đề xuất ra mô hình VAR đệ quy bởi theo họ mô hình này được xây dựng sao cho các phần dư không tương quan với các phần dư trong phương trình hồi quy trước đó Phương pháp

phân rã Cholesky được sử dụng trong mô hình này

Tuy nhiên phương pháp phân rã Cholesky lại phụ thuộc vào việc sắp xếp thứ

tự các biến theo Sarno và Thornton (2004) Cụ thể:

- Các biến sắp xếp theo một thứ tự giả định, khi đó biến đứng trước được giả định sẽ gây ra tác động cho những biến ở sau nó, trong khi các biến sau không gây

ra tác động tới biến đứng trước nó mà chỉ chịu tác động của các biến trễ của chính

- Với thứ tự sắp xếp khác nhau sẽ cho ra kết quả khác nhau Do vậy đề tài thực hiện thống nhất cách sắp xếp thứ tự các biến theo Ignacio Lozano và Karen Rodríguez (2011)

Trang 35

3.3 Cơ sở dữ liệu

Việc thu thập dữ liệu của bài nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn, nguyên nhân

là do việc công bố các dữ liệu về ngân sách quốc gia và việc thống kê các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Việt Nam chưa được phổ biến, liên tục và công khai trên mạng thông tin điện tử Đối với các số liệu về ngân sách, Chính phủ chỉ thực hiện công bố công khai từ năm 2006, tuy nhiên phần lớn là các số liệu dự toán ngân sách hàng năm; đồng thời, đối với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô thì Tổng Cục thống kê Việt Nam

đã thực hiện thống kê và công khai trên trang thông tin điện tử, nhưng các dữ liệu này không liên tục, kỳ thống kê của từng loại dữ liệu là khác nhau và chỉ được công

bố dưới dạng tháng hoặc năm Vì vậy, trong bài viết này ta thống nhất sử dụng nguồn dữ liệu được công bố trên trang thông tin điện tử của Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF từ năm 1996 đến năm 2014

Một số biến không được công bố với số liệu hàng quý, do vậy, số liệu được sử dụng trong bài viết này đa số được thu thập từ nguồn dữ liệu của IMF thống kê theo hàng năm sau đó dùng chương trình Eview 6.0 để thực hiện chuyển đổi sang số liệu hàng quý, cụ thể:

- Dữ liệu của các biến như chi tiêu chính phủ, GDP thực, doanh thu thuế, tiêu dùng cá nhân, đầu tư tư nhân, tỷ lệ thất nghiệp được thu thập từ dữ liệu hàng năm của Việt Nam do IMF công bố và được thực hiện chuyển đổi qua chương trình Eview để có được dữ liệu hàng quý

- Dữ liệu của biến lạm phát (thể hiện bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI) và biến lãi suất cho vay theo quý được lấy từ bộ dữ liệu của IMF

3.3.1 Mô tả biến

Trong phần này đề tài sẽ trình bày cách đo lường các biến nghiên cứu, cụ thể như sau:

Trang 36

Bảng 3.1: Mô tả và đo lường các biến nghiên cứu

Chi tiêu chính

phủ

Là chi tiêu trực tiếp của chính phủ vào hàng hoá và dịch vụ công cộng, bao gồm chi thường xuyên và chi đầu tư của chính phủ

Chi thường xuyên của chính phủ bao gồm chi lương, văn phòng phẩm trong các ngành hành chính, giáo dục,

y tế, văn hoá, quốc phòng

Còn chi cho đầu tư của chính phủ là khoản chi của chính phủ mang tính chất đầu tư như đầu tư vào cơ sở hạ tầng và hàng hoá công cộng cho xã hội (đường xá, công viên, bến bãi, bệnh viện, trường học, và phòng làm việc của chính phủ trung ương và địa phương )

Chi tiêu chính phủ = tổng chi thường xuyên + đầu tư công

Doanh thu thuế Doanh thu thuế của chính phủ bao

gồm hai khoản thuế gián thu và thuế trực thu:

Thuế gián thu là loại thuế gián tiếp

đánh vào thu nhập xã hội, thông qua giá cả hàng hoá, người nộp thuế là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nhưng người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng

Thuế trực thu là loại thuế trực tiếp đánh vào thu nhập xã hội, nó không được phản ảnh vào giá cả hàng hoá, ở đây người nộp thuế cũng chính là người chịu thuế và đó là những người

có thu nhập

Doanh thu thuế = doanh thu thuế gián thu + doanh thu thuế trực thu

GDP thực là giá trị sản lượng hàng hoá và dịch

vụ năm hiện hành của nền kinh tế được tính theo mức giá cố định của năm cơ sở (năm gốc)

Trang 37

Trong đó: po

i là giá hàng hóa và dịch vụ năm cơ

sở

Qti là sản lượng hàng hóa

và dịch vụ năm hiện hành

CPI (lạm phát) là chỉ tiêu phản ánh tốc độ thay đổi giá

cả của một giỏ hàng hoá, dịch vụ ở một thời điểm nào đó so với thời điểm gốc Trong đó:

pit là giá của sản phẩm loại i trong giỏ hàng hoá thời kỳ t

pi0 là giá của của sản phẩm loại i trong giỏ

hàng hoá kỳ gốc

qit là số lượng hàng hóa loại i trong giỏ hàng hoá

kỳ gốc

Lãi suất cho vay

theo quý

là giá phải trả cho việc sử dụng vốn

và là tỷ lệ giữa số tiền lãi và số tiền cho vay

được đo lường từ lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam kỳ hạn 3 tháng

Tiêu dùng cá

nhân

phản ánh toàn bộ mức tiêu dùng về hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng của cá nhân và hộ dân cư (quy ước là hộ gia đình) trong một thời kỳ nhất định

Tiêu dùng cá nhân (tiêu dùng của một hộ dân cư) (Tiêu dùng do mua trên thị trường bình quân một hộ hoặc nhân khẩu trong năm) x (Tổng số

hộ hoặc số nhân khẩu bình quân trong năm) Đầu tư tư nhân là tổng số vốn đầu tư của cá nhân,

doanh nghiệp không sử dụng ngân sách nhà nước trong một thời kỳ nhất

It = Sp + Fp (1)

Sp = Yp - Cp (2) Trong đó:

Trang 38

định Sp là tiết kiệm của khu

vực phi tài chính và của khu vực hộ gia đình

Fp là nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

Yp là thu nhập khả dụng

Cp là tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình

Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm của số người thất

nghiệp so với dân số hoạt động kinh tế (lực lượng lao động)

Để có cái nhìn tổng quát hơn về các biến sử dụng trong mô hình, ta thực hiện thống kê mô tả các biến bằng phần mềm Eview như sau:

Bảng 3.2: Kết quả thống kê mô tả các biến sử dụng trong nghiên cứu

G Y CPI T R Mean 21134.89 413813.8 75.59250 69090.75 12.19461 Median 12488.00 397161.5 59.96500 47931.25 11.18000 Maximum 61677.75 673922.5 144.4800 170275.0 21.00000 Minimum 5680.500 217877.5 42.18000 12764.50 8.160000 Std Dev 17653.88 141883.5 33.89820 56590.05 3.127447 Skewness 1.088726 0.301535 0.858492 0.677647 1.137555 Kurtosis 2.817597 1.822798 2.253123 1.936252 3.707783

Jarque-Bera 15.11948 5.540076 11.10189 9.399867 17.97742 Probability 0.000521 0.062660 0.003884 0.009096 0.000125

Sum 1606252 31449852 5745.030 5250897 926.7900 Sum Sq Dev 2.34E+10 1.51E+12 86181.60 2.40E+11 733.5693 Observations 76 76 76 76 76

Trang 39

CT I N Mean 230503.6 43149.33 5.070158 Median 149641.8 32599.50 5.316250 Maximum 626387.0 117125.0 6.957188 Minimum 50627.25 5450.000 2.269688 Std Dev 189123.4 36504.66 1.305662 Skewness 0.882896 0.637354 -0.658210 Kurtosis 2.364103 2.042209 2.513386

Jarque-Bera 11.15422 8.050432 6.237556 Probability 0.003783 0.017860 0.044211

Sum 17518271 3279349 385.3320 Sum Sq Dev 2.68E+12 9.99E+10 127.8566 Observations 76 76 76 Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu từ phần mềm Eview

Trang 40

3.3.2 Biến động của các biến trong mô hình

Hình 3.1: Biến động của các biến trong mô hình VAR đệ quy 5 biến

Ngày đăng: 13/03/2017, 19:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Mô tả và đo lường các biến nghiên cứu - Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô việt nam trong ngắn hạn
Bảng 3.1 Mô tả và đo lường các biến nghiên cứu (Trang 36)
Bảng 3.2: Kết quả thống kê mô tả các biến sử dụng trong nghiên cứu - Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô việt nam trong ngắn hạn
Bảng 3.2 Kết quả thống kê mô tả các biến sử dụng trong nghiên cứu (Trang 38)
Hình 3.1: Biến động của các biến trong mô hình VAR đệ quy 5 biến - Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô việt nam trong ngắn hạn
Hình 3.1 Biến động của các biến trong mô hình VAR đệ quy 5 biến (Trang 40)
Hình 3.2: Biến động của các biến được thêm vào sau để tạo thành - Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô việt nam trong ngắn hạn
Hình 3.2 Biến động của các biến được thêm vào sau để tạo thành (Trang 41)
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định độ trễ tối ưu của mô hình - Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô việt nam trong ngắn hạn
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định độ trễ tối ưu của mô hình (Trang 51)
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định tính ổn định của mô hình theo dạng bảng - Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô việt nam trong ngắn hạn
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định tính ổn định của mô hình theo dạng bảng (Trang 52)
Hình 4.2: Tác động của cú sốc chi tiêu chính phủ - Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô việt nam trong ngắn hạn
Hình 4.2 Tác động của cú sốc chi tiêu chính phủ (Trang 53)
Bảng 4.7: Phân rã phương sai GDP thực - Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô việt nam trong ngắn hạn
Bảng 4.7 Phân rã phương sai GDP thực (Trang 57)
Bảng 4.9: Phân rã phương sai lãi suất cho vay theo quý - Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô việt nam trong ngắn hạn
Bảng 4.9 Phân rã phương sai lãi suất cho vay theo quý (Trang 58)
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định tính dừng của các biến mới - Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô việt nam trong ngắn hạn
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định tính dừng của các biến mới (Trang 60)
Hình 4.5: Tác động của cú sốc chi tiêu chính phủ - Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô việt nam trong ngắn hạn
Hình 4.5 Tác động của cú sốc chi tiêu chính phủ (Trang 63)
Hình 4.6: Tác động của cú sốc doanh thu thuế - Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô việt nam trong ngắn hạn
Hình 4.6 Tác động của cú sốc doanh thu thuế (Trang 63)
Bảng 4.16: Kết quả kiểm định tính ổn - Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô việt nam trong ngắn hạn
Bảng 4.16 Kết quả kiểm định tính ổn (Trang 66)
Hình 4.12: Tác động của cú sốc doanh thu thuế - Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô việt nam trong ngắn hạn
Hình 4.12 Tác động của cú sốc doanh thu thuế (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w