Trong lĩnh vực sức khỏe, Bernstein 2009, Monheit và Vistnes 2006, Donni 2010 nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ đối với rủi ro và bảo hiểm y tế BHYT hay Anderson và Mellor 2008 nghiê
Trang 1NGUYỄN THỊ THẢO UYÊN
THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI RỦI RO ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT
ĐỊNH MUA BẢO HIỂM Y TẾ TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã ngành: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN HỮU DŨNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: Thái độ đối với rủi ro ảnh hưởng đến quyết
định mua bảo hiểm y tế tại Việt Nam là công trình nghiên cứu của tôi, có sự
hướng dẫn hỗ trợ từ người hướng dẫn khoa học là TS Nguyễn Hữu Dũng Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo
Nếu có bất kỳ sai sót, gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng cũng như kết quả luận văn của mình
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Thảo Uyên
Trang 3MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 3
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 3
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 3
1.5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN: 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 KHÁI NIỆM VỀ BẢO HIỂM Y TẾ 5
2.1.1 BHYT tư nhân: 5
2.1.2 BHYT nhà nước: 6
2.1.3 Sự khác nhau giữa BHYT nhà nước và BHYT tư nhân: 6
2.1.4 Quỹ BHYT: 8
2.1.5 Mô hình Bảo hiểm Y tế một số quốc gia: 9
2.2 RỦI RO 11
2.3 THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI RỦI RO 11
2.3.1 Lý thuyết về hữu dụng kỳ vọng 11
2.3.2 Lý thuyết triển vọng 14
2.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG QUYẾT ĐỊNH MUA BẢO HIỀM 15
2.5 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN: 16
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 KHUNG PHÂN TÍCH: 20
Trang 43.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU: 23
3.3 PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI RỦI RO 25
3.4 DỮ LIỆU 27
3.5 MÔ TẢ CÁC BIẾN SỐ TRONG MÔ HÌNH: 29
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.1 TỔNG QUAN VỀ BHYT TẠI VIỆT NAM: 36
4.1.1 Sự hình thành BHYT ở Việt Nam: 36
4.1.2 Hệ thống BHYT nhà nước ở Việt Nam: 38
4.1.3 Mức hưởng chi phí khám chữa bệnh bằng BHYT: 39
4.1.4 Thực trạng BHYT tại Việt Nam: 40
4.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
4.2.1 Đặc điểm mẫu khảo sát 45
4.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc mua BHYT: 48
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO………
PHỤ LỤC………
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VARHS Bộ dữ liệu điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông
thôn Việt Nam VHLSS Bộ dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam
NĐ 299/1992 Nghị định 299/HĐBT ngày 15 tháng 08 năm 1992của
Hội đồng Bộ trưởng ban hành điều lệ BHYT
NĐ 47/1994 Nghị định 47/1994/NĐ-CP ngày 06 tháng 06 năm
1994của Chính phủ về việc sửa đổi một số điều của điều
lệ của BHYT ban hành theo nghị định số 299/HĐBT ngày 15 tháng 08 năm 1992của Hội đồng Bộ trưởng
QĐ 538/QĐ-TTG Quyết định 538/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020
QĐ 1111/QĐ-BHXH Quyết định về việc ban hành quy định quản lý thu
BHXH, BHYT, quản lý số BHXH, thẻ BHYT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: So sánh BHYT nhà nước và BHYT tư nhân
Bảng 3.1: Đo lường hệ số rủi ro
Bảng 3.2: Giá trị kỳ vọng của mỗi lựa chọn
Bảng 3.3: Thống kê biến và dấu kỳ vọng của mô hình hồi quy
Bảng 4.1: Thống kê đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ
Bảng 4.2: Thống kê đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ tham gia BHYT
Bảng 4.3: Thống kê đặc điểm kinh tếxã hội của hộ không tham gia BHYT
Bảng 4.4: Thái độ đối với rủi ro và tỷ lệ tham gia BHYT của hộ
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định mức độ giải thích mô hình
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô hình
Bảng 4.7: Ma trận hệ số tương quan gồm biến risk1 và các biến khác
Bảng 4.8: Ma trận hệ số tương quan gồm biến risk2 và các biến khác
Bảng 4.9: Ma trận hệ số tương quan gồm biến risk3 và các biến khác
Bảng 4.10: Ma trận hệ số tương quan gồm biến risk4 và các biến khác
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi
Bảng 4.12: Kết quả hồi quy hệ số và sai số chuẩn
Bảng 4.13: Kết quả hồi quy tác động biên và sai số chuẩn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Thái độ sợ rủi ro
Hình2.2 : Thái độ yêu thích đối với rủi ro
Hình 2.3: Thái độ trung lập đối với rủi ro
Hình 2.4: Hàm giá trị giả thuyết (Hypothetical value funtion)
Hình 3.1 Khung phân tích đối với quyết định mua BHYT ( yếu tố thái độ đối với rủi
ro và các yếu tố khác)
Hình 4.1: Tỷ lệ dân số tham gia BHYT từ năm1993-2014
Trang 7CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Nội dung chương 1 giới thiệu tổng quát về đề tài: Đặt vấn đề vì sao cần thực hiện nghiên cứu, nêu rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp sử dụng giải quyết vấn đề nghiên cứu và trình bày bố cục
của luận văn
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Thái độ đối với rủi ro được xem là một trong những nhân tố tác động đến quá trình ra quyết định Trên thế giới, nhiều tác giả đã thực hiện các nghiên cứu ứng dụng liên quan đến vấn đề này Trong lĩnh vực tiêu dùng, Lusk và Coble (2005) đã nghiên cứu về thái độ với rủi ro tác động đến quyết định tiêu dùng các thực phẩm biến đổi gen Trong lĩnh vực sức khỏe, Bernstein (2009), Monheit và Vistnes (2006), Donni (2010) nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ đối với rủi ro và bảo hiểm y tế (BHYT) hay Anderson và Mellor (2008) nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ đối với rủi ro tác động đến việc hút thuốc, sử dụng chất uống có cồn Finkelstein và cộng sự (2006) nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ đối với rủi ro
và quyết định mua bảo hiểm
Tại Việt Nam, việc vận dụng thái độ đối với rủi ro như một trong những yếu tố
để giải thích cho quá trình ra quyết định của các cá nhân vẫn còn mới mẻ Có một
số ít tác giả nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này như Phạm Khánh Nam (2013), hay Brouwer và cộng sự (2012) liên quan đến bảo hiểm rủi ro lũ lụt ở nông thôn Bài nghiên cứu này tiếp tục mở rộng việc vận dụng thái độ đối với rủi ro như một yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của các nhân trong một lĩnh vực khác liên quan đến vấn đề sức khỏe, bảo hiểm y tế Sức khỏe luôn là vấn đề đáng quan tâm hàng đầu, dân số khỏe mạnh nâng cao chất lượng sống, tăng năng suất lao động, tạo điều kiện tốt cho giáo dục, và tăng sức mạnh cộng đồng Tại Việt Nam, BHYT được xem
là một trong những trụ cột quan trọng trong chính sách an sinh xã hội, không vì mục đích lợi nhuận, góp phần chăm sóc sức khỏe, giảm gánh nặng tài chính cho người
Trang 8dân do chi phí y tế mang lại (Luật BHYT 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT 2014)
Theo báo cáo giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), trong 4 năm từ 2009-2012, tỷ lệ dân số tham gia BHYT đã tăng từ 58,2% lên 66,8% (UBTVQH, 2013) Tuy nhiên, chỉ có nhóm đối tượng bắt buộc tham gia BHYT với
tỷ lệ cao nhất (gần 70%), còn nhóm đối tượng tự nguyện có tỷ lệ tham gia thấp (chỉ 21%), ngay cả người thuộc hộ cận nghèo được hỗ trợ kinh phí mua BHYT cũng chỉ đạt tỷ lệ 25% Từ đó có thể thấy BHYT tại Việt Nam chủ yếu chỉ phổ biến trong bộ phận cán bộ, công nhân viên được cơ quan, doanh nghiệp mua bảo hiểm bắt buộc hoặc đối tượng được cấp bảo hiểm miễn phí theo luật định Đại đa số người dân vẫn còn xa lạ với hình thức bảo hiểm y tế, họ chủ yếu dựa vào các thói quen truyền thống như tích góp, sự giúp đỡ qua lại trong gia đình, xóm giềng, các tổ chức đoàn thể để tự bảo vệ (Bùi Thế Cường, 1990; Quynh, 2003; Newman và cộng sự, 2012).Với những lợi ích thiết thực mà BHYT mang lại, việc tuyên truyền vận động người dân tham gia BHYT được xem là nhiệm vụ quan trọng để đạt được mục tiêu BHYT toàn dân Tăng tỷ lệ dân số tham gia BHYT là một trong những nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Đề án thực hiện tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020 (QĐ 538/QĐ-TTG)
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đã thực hiện kiểm định xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT như Jowett (2001), Ha và Leung (2010), Cuong (2011), Minh và cộng sự (2012), Nguyễn Văn Ngãi và Nguyễn Thị Cẩm Hồng (2012) Hầu hết các nghiên cứu này tập trung vào các yếu tố như tuổi, giới tính, thu nhập, tình trạng hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp, dân tộc, nơi ở, tình trạng sức khỏe Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực BHYT nhưng chưa có nghiên cứu nào thực hiện kiểm định thái độ đối với rủi ro có hay không ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT Vì thế, nghiên cứu về thái độ với rủi ro ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT tại Việt Nam thật sự là vấn đề đáng quan tâm, góp phần đưa
ra các giải pháp thiết thực giúp tăng tỷ lệ tham gia BHYT của người dân
Trang 91.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đo lường thái độ đối với rủi ro của các hộ gia đình và kiểm định mối quan hệ giữa yếu tố thái độ với rủi ro đến quyết định mua BHYT trong mô hình các yếu tố tác động đến quyết định mua BHYT
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đề tài nghiên cứu tác động thái độ đối với rủi ro ảnh hưởng như thế nào đến quyết định mua BHYT của hộ gia đình, sử dụng bộ dữ liệu được thu thập từ cuộc Điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam năm 2012 (VARHS 2012) được thực hiện trải dài khắp cả nước tại 12 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Phú Thọ, Điện Biên, Hà Tây, Nghệ An, Khánh Hòa, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng, Quảng Nam, Long An Đề tài tập trung phân tích yếu tố về thái độ đối với rủi ro và các yếu
tố thuộc về đặc điểm kinh tế xã hội như thu nhập, tuổi tác, giới tính, tình trạng sức khỏe và giáo dục, tổng số người trong hộ tác động đến quyết định mua BHYT
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Đề tài sử dụng kết hợp hai phương pháp chính sau: (i) Phương pháp phân tích thống kê các số liệu về tham gia BHYT ở các tỉnh thành (ii) Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm Đề tài sử dụng phương pháp hồi quy theo mô hình logit để xem xét yếu tố thái độ đối với rủi ro có tác động đến quyết định mua BHYT không và xác định yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT
1.5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN:
Chương 1: Giới thiệu những vấn đề cơ bản của luận văn bao gồm: Đặt vấn đề,
mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, tổng quan về phương pháp thực hiện của đề tài
Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết bao gồm: Các khái niệm liên quan đến
BHYT, rủi ro, phương pháp đo lường thái độ đối với rủi ro qua lý thuyết hữu dụng
Trang 10kỳ vọng (expected utility theory) và lý thuyết triển vọng (prospect theory), các yếu
tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm, các nghiên cứu liên quan về BHYT và thái độ đối với rủi ro
Chương 3: Trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu bao gồm: Khung phân
tích đề tài, mô hình nghiên cứu, phương pháp đo lường thái độ đối với rủi ro, dữ liệu thực hiện nghiên cứu, và mô tả các biến số được sử dụng trong mô hình
Chương 4: Giới thiệu tổng quan về BHYT tại Việt Nam bao gồm: Sự hình
thành BHYT tại Việt Nam, hệ thống BHYT nhà nước ở Việt Nam, thực trạng BHYT tại Việt Nam Phân tích đặc điểm của mẫu nghiên cứu qua các thống kê mô
tả và phân tích các kết quả hồi quy để đưa ra kết luận
Chương 5: Kết luận và đưa ra các hàm ý chính sách từ kết quả nghiên cứu Tóm lược chương 1:
Thái độ đối với rủi ro được xem là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định và đã được kiểm định trong các lĩnh vực khác nhau qua nhiều nghiên cứu trên thế giới Tại Việt Nam, mối quan hệ giữa thái độ đối với rủi ro và quyết định mua BHYT vẫn chưa có nghiên cứu nào thực hiện Nghiên cứu này nhằm kiểm định quyết định mua BHYT có phụ thuộc vào thái độ đối với rủi ro không và các yếu tố khác tác động đến quyết định mua BHYT
Trang 11CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Nội dung chương 2 trình bày về tổng quan cơ sở lý thuyết bao gồm các vấn đề liên quan đến BHYT và thái độ đối với rủi ro Chương 2 cũng khái quát một số nghiên cứu về BHYT và thái độ đối với rủi ro
2.1 KHÁI NIỆM VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của pháp luật (Luật BHYT, 2008) BHYT là hợp đồng giữa cơ quan bảo hiểm và người mua nhằm hoàn trả chi phí y tế khi xảy ra các rủi ro liên quan đến y tế được xác định rõ trong hợp đồng (Hồ Sĩ Hà, 2000; OECD, 2004) BHYT có hai hình thức chính là BHYT tư nhân và BHYT nhà nước
Đặc điểm của BHYT là vừa mang tính chất hoàn trả vừa mang tính chất không hoàn trả Khi mua BHYT, nếu xảy ra rủi ro y tế, người mua được hoàn trả toàn bộ hoặc một phần chi phí y tế Nếu không xảy ra rủi ro y tế, người mua sẽ mất khoản phí đã đóng cho cơ quan BHYT Thông thường, giá trị của BHYT là một năm
2.1.1 BHYT tư nhân:
BHYT tư nhân là hình thức bảo hiểm y tế tự nguyện do các công ty bảo hiểm
tư nhân thực hiện (OECD, 2004) Người mua BHYT sẽ được hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh tùy theo giá trị hợp đồng giữa người mua và công ty bảo hiểm.Vì BHYT
tư nhân là loại hình bảo hiểm hoạt động chủ yếu vì lợi nhuận,hoạt động theo quy luật số lớn và là sự chia sẻ rủi ro giữa những người cùng tham gia BHYT, vì vậy mỗi công ty bảo hiểm sẽ có sự tính toán linh hoạt trong thiết kế các hợp đồng khác nhau về mức đóng, mức chi trả nhằm đảm bảo được khả năng chi trảvà sự tồn tại phát triển của công ty Theo đó, các cá nhân có rủi ro cao về sức khỏe thường sẽbị
Trang 12từ chối được tham gia BHYT tư nhân hoặc sẽ phải ký kết các hợp đồng có mức đóng cao hơn các cá nhân có rủi ro thấp
2.1.2 BHYT nhà nước:
BHYT nhà nước hay còn gọi là BHYT xã hội là chính sách thuộc nội dung an sinh xã hội của mọi quốc gia trên thế giới do Chính phủ tổ chức thực hiện BHYT nhà nước là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận với mục đíchgiảm gánh nặng về tài chính cho người dân khi gặp rủi ro ốm đau, bệnh tật bằng hình thức đóng góp của cá nhân và của toàn xã hội, đề cao tính cộng đồng xã hội (OECD,2004) BHYT nhà nước thường có chung một mức giá được xác định dựa trên thu nhập mà không tính đến mức độ rủi ro về sức khỏe của người mua, có chung mức chi trả khi xảy ra ốm đau bệnh tật được áp dụng thống nhất cho tất cả mọi người trong cùng một đối tượng (Viện nghiên cứu lập pháp, 2013)
2.1.3 Sự khác nhau giữa BHYT nhà nước và BHYT tư nhân:
Sự khác biệt lớn nhất giữa BHYT nhà nước và tư nhân chính là mục tiêu phi lợi nhuận của BHYT nhà nước và mục tiêu lợi nhuận của BHYT tư nhân
Trang 13Bảng 2.1 So sánh BHYT nhà nước và BHYT tư nhân
Tiêu chí BHYT nhà nước BHYT tư nhân
Mức phí Theo khả năng đóng góp của cá
nhân ( dựa trên thu nhập)
Theo mức độ rủi ro về sức khỏe của người mua
Mức hưởng
Theo nhu cầu, chi phí KCB thực tế và không phụ thuộc vào mức đóng
Theo giá trị và những quy định trong hợp đồng khi mua
Vai trò của nhà nước Được nhà nước bảo đảm bằng
ngân sách
Không có sự hỗ trợ về tài chính của nhà nước Hình thức tham gia Bắt buộc và tự nguyện Tự nguyện
Mục tiêu hoạt động Vì lợi ích xã hội, phi lợi nhuận Vì mục tiêu lợi nhuận
Nguồn: Lê Mạnh Hùng, 2000
Các loại hình bảo hiểm y tế nhà nước:
Bảo hiểm y tế bắt buộc:
Là hình thức BHYT được thực hiện trên cơ sở bắt buộc của người tham gia Loại hình bảo hiểm này bắt buộc những người tham gia phải trích một phần từ thu nhập được trả từ đơn vị mà họ làm việc, hoặc được nhà nước hỗ trợ toàn bộ hay một phần chi phí bằng ngân sách nhà nước để mua thẻ BHYT Do đó, loại hình BHYT bắt buộc bao gồm cả người khỏe mạnh và người bệnh tham gia Mục tiêu của các quốc gia đều hướng đến BHYT bắt buộc toàn dân nhằm có thể đảm bảo mọi người đều được chăm sóc y tế khi bệnh tật (Hồ Sĩ Hà, 2000; OECD,2004)
Trang 14Bảo hiểm y tế tự nguyện:
Là hình thức BHYT được thực hiện dựa trên sự tự nguyện của người tham gia Người dân không thuộc đối tượng tham gia BHYT bắt buộc sẽ được mua BHYT tự nguyện theo mức phí quy định riêng cho loại hình này Mức phí loại hình này cũng được áp dụng như nhau cho các đối tượng mà không dựa trên các rủi ro về sức khỏe (OECD, 2004)
Tại một số nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, do hệ thống quản lý BHYT chưa chặt chẽ, cũng như trình độ nhận thức và thu nhập của người dân chưa cao nên chưa thể bắt buộc toàn dân tham gia BHYT, vì vậymột số đối tượng được phép lựa chọn mua hoặc không mua BHYT Sự khác biệt giữa việc bắt buộc phải mua BHYT và được quyền lựa chọn mua hoặc không mua hình thành nên tên gọi BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện Người có BHYT bắt buộc hoặc BHYT tự nguyện đều được gọi chung là có BHYT và được hưởng mọi quyền lợi như nhau khi khám chữa bệnh (Hồ Sĩ Hà, 2000)
2.1.4 Quỹ BHYT:
Tùy theo chính sách BHYT của mỗi quốc gia, nguồn quỹ dùng để chi trả các dịch vụ y tế cho người dân có thể được trích từ thuế, tiền lương hoặc do người dân trực tiếp mua thẻ BHYT theo một mức giá đã quy định Nguồn quỹ này được chuyển giao cho một cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, thực hiện chi trả khám chữa bệnh (OECD,2004)
Tại Việt Nam, quỹ bảo hiểm y tế là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng bảo hiểm y tế và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế, chi phí quản lý bộ máy của tổ chức bảo hiểm y tế và những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan đến bảo hiểm y tế(Luật BHYT, 2008)
Trang 152.1.5 Mô hình Bảo hiểm y tế một số quốc gia:
Nhật Bản là quốc gia châu Á đầu tiên ban hành Luật BHYT năm 1922 Việc thi hành bị trì hoãn cho tới năm 1927 vì đã xảy ra trận động đất Kanto khủng khiếp vào năm 1923 Tiếp đó, năm 1938 Nhật Bản ban hành Luật BHYT quốc gia, năm
1939 ban hành Luật BHYT cho người lao động, Luật BHYT cho ngư dân và đến năm 1961, Nhật Bản thực hiện BHYT cho toàn dân Đối tượng tham gia BHYT theo quy định của pháp luật Nhật Bản rất rộng, bao gồm những người làm công ăn lương, lao động tự do, nông dân và người không có nghề nghiệp Tuy nhiên, pháp luật BHYT có những quy định phù hợp dành riêng cho từng đối tượng BHYT cho người lao động được thực hiện theo nơi làm việc BHYT quốc gia được thực hiện theo vị trí địa lý.Nguồn quỹ BHYT được hình thành từ sự đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và tài trợ của Nhà nước Trách nhiệm đóng BHYT được thực hiện theo nguyên tắc mức phí đóng BHYT được chia đều, người lao động đóng 50%, chủ sử dụng lao động đóng 50% Luật BHYT Nhật Bản xác định riêng hai loại quỹ cho các đối tượng để có sự hỗ trợ cho những đối tượng yếu thế Quỹ BHYT quốc gia áp dụng cho lao động tự do, nông dân và người không có nghề nghiệp Nhà nước bảo trợ nhiều hơn cho loại quỹ này, vì đối tượng của quỹ thường
có thu nhập thấp và không ổn định Quỹ BHYT của người làm công ăn lương, đây
là đối tượng có thu nhập thường xuyên và ổn định.Luật BHYT Nhật Bản quy định bệnh nhân BHYT phải thực hiện trách nhiệm cùng chi trả Quy định này nhằm tăng thêm chi phí cho quỹ BHYT, đồng thời hạn chế sự lạm dụng quỹ từ phía người thụ hưởng Mức cùng chi trả phụ thuộc vào đối tượng hoặc nhóm đối tượng Cụ thể: người lao động tự do trả 30%, công chức trả 20%, người lao động hưởng lương trả
10% chi phí khám chữa bệnh (Viện nghiên cứu lập pháp, 2013)
Ở Hàn Quốc, tháng 12 năm 1963 Luật BHYT có hiệu lực và bắt đầu thực thi tại Hàn Quốc Đến tháng 12 năm 1976 Luật BHYT đã được sửa đổi gần như hoàn toàn Sau khi Luật BHYT được sửa đổi và áp dụng năm 1976, đối tượng tham gia BHYT được mở rộng nhanh chóng Nếu như năm 1977 chỉ triển khai đến các công
Trang 16ty, hãng lớn có từ 500 công nhân trở lên, thì đến năm 1988 đã mở rộng đến các công ty nhỏ và bước đầu thí điểm đến những người lao động tự do, sau đó mở rộng thêm các đối tượng Đến năm 1989, Hàn Quốc đã đạt độ bao phủ toàn dân với gần 100% người Hàn Quốc có BHYT Thực hiện chính sách BHYT toàn dân, Hàn Quốc
có điều kiện bao cấp y tế tốt hơn cho diện đối tượng dễ bị tổn thương.Mức đóng BHYT của người dân Hàn Quốc tính theo thu nhập hoặc tài sản cố định Thông thường người lao động đóng 2-8% thu nhập; công chức đóng 4,2% thu nhập, Chính phủ cùng nộp 4,2% Còn đối với lao động tự do, mức đóng được tính theo mức xếp loại thu nhập hoặc tài sản cố định Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 30% mức phí nhằm mục đích đảm bảo chi phí quản lý (Viện nghiên cứu lập pháp, 2013)
Ở Thái Lan, từ năm 1975 đến năm 2001, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện BHYT cho nhóm người nghèo và nhóm người bị thiệt thòi Đến năm 1981, Chính phủ triển khai chương trình cấp thẻ cho người có thu nhập thấp (LIC) đến những người có thu nhập hàng tháng dưới 1.000 baht/tháng Năm 1983, chương trình LIC
mở rộng đến những người già trên 60 tuổi Vào năm 1993, LIC được mở rộng đến trẻ em dưới 12 tuổi và các lãnh đạo tôn giáo Với việc ngày càng mở rộng đối tượng, đến tháng 4 năm 2002 Thái Lan đã thực hiện thành công BHYT toàn dân BHYT cho người lao động trong doanh nghiệp bao gồm người làm công ăn lương trong tất cả các doanh nghiệp có thuê mướn từ 1 lao động trở lên Mức đóng bằng 4,5% lương, trong đó Nhà nước đóng 1/3, chủ sử dụng đóng 1/3, người lao động đóng 1/3 (Viện nghiên cứu lập pháp, 2013)
Tại một số quốc gia phát triển khác như Anh, Canada, Chính phủ chi trả toàn
bộ chi phí chăm sóc y tế.Nguồn kinh phí y tế phần lớn do ngân sách chi trả thông qua việc đóng thuế của người dân và doanh nghiệp, người bệnh chỉ phải cùng chi trả ở một số dịch vụ đặc biệt Ở tại các quốc gia này vẫn tồn tại BHYT tư nhân, dù rằng chiếm một tỷ lệ nhỏ, dành cho các dịch vụ y tế mà BHYT của chính phủ không đảm nhận.Tại Đức, Nhật, Chính phủ không trực tiếp chi trả chi phí chăm sóc y tế
mà thông qua các công ty bảo hiểm được lập ra không vì mục đích lợi nhuận mà
Trang 17nhằm giúp người dân thanh toán chi phí y tế Người dân ở các nước này đều bắt buộc phải tham gia một trong các chương trình y tế với mức phí tính theo tỷ lệ quy định và cùng chi trả chi phí khi KCB (Viện nghiên cứu lập pháp, 2013)
Tuy khác nhau về cách thức tổ chức thực hiện BHYT, phương thức đóng góp,
tỷ lệ chi trả, hầu hết các quốc gia phát triển đều xem BHYT là bắt buộc toàn dân và đều áp dụng mô hình BHYT với sự tồn tại của cả BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện bổ sung và BHYT tư nhân Mọi người dân đều phải tham gia BHYT bắt buộc với các dịch vụ y tế cơ bản được quy định trước và được quyền lựa chọn mua hoặc không mua BHYT tự nguyện bổ sung và BHYT tư nhân với các gói lợi ích khám chữa bệnh cao hơn nằm ngoài danh mục cơ bản (OECD, 2004; Viện nghiên cứu lập pháp, 2013)
2.3 THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI RỦI RO
Liên quan đến vấn đề lựa chọn trong điều kiện không chắc chắn, hai lý thuyết được đề xuất là lý thuyết về hữu dụng kỳ vọng (expected utility theory) được khởi nguồn từBernoulli (1738) và lý thuyết triển vọng (prospect theory) được khởi nguồn
từ Kahneman và Tversky (1979)
2.3.1 Lý thuyết về hữu dụng kỳ vọng
Trang 18Bernoulli (1738) định nghĩa lợi ích kỳ vọng là giá trị bằng tiền kỳ vọng, bằng tổng của các tích xác suất và giá trị của mỗi phương án có thể.Newmann và Morgenster (1944)giải thích lại lợi ích kỳ vọng bằng tổng của các tích xác suất và
độ hữu dụng của mỗi phương án có thể, thay vì là giá trị của mỗi phương án
Lý thuyết tối đa hóa lợi ích kỳ vọng dựa trên sự tiếp cận chủ yếu đến độ hữu dụng có thể đo lường được Trong trường hợp tổng quát, sự tiếp cận này giả định hàm hữu dụng U là sự đo lường bằng định lượng độ hữu dụng có được do mỗi kết cục khác nhau của trò chơi
Nếu lợi ích kỳ vọng từ giá trị xổ số của một cá nhân lớn hơn lợi ích kỳ vọng từ kết quả xổ số thì cá nhân này là sợ rủi ro, những cá nhân này có hàm hữu dụng dạng lõm phản ánh hữu dụng biên giảm dần (hình 2.1) Nếu lợi ích kỳ vọng từ giá trị xổ
số của một cá nhân nhỏ hơn giá trị kỳ vọng từ trò đánh cuộc thì cá nhân này yêu thích rủi ro, những cá nhân này có hàm hữu dụng dạng lồi với hữu dụng biên tăng dần (hình 2.2) Cuối cùng, nếu lợi ích kỳ vọng từ giá trị xổ số bằng đúng với lợi ích
kỳ vọng từ trò đánh cuộc thì cá nhân này trung lập với rủi ro, hàm hữu dụng có dạng tuyến tính (hình 2.3)
Trang 19w
Nguồn: Pindyck và Rubinfeld ,1989
Hình2.2 : Thái độ yêu thích đối với rủi ro
Nguồn: Pindyck và Rubinfeld , 1989
Hình2.3: Thái độ trung lập đối với rủi ro
Nguồn: Pindyck và Rubinfeld, 1989
Trang 202.3.2 Lý thuyết triển vọng
Sự phát triển trong lĩnh vực tâm lý đã dẫn đường cho Kahneman và Tversky (1979) đến sự phát triển của lý thuyết triển vọng (Prospect Theory) Lý thuyết này dựa trên những triển vọng đơn giản, kết quả nhận được bằng tiền và xác suất Nó đánh giá điều kiện có liên quan đến rủi ro và chỉ ra rằng con người đưa ra những cách trả lời khác nhau đối với rủi ro phụ thuộc kết quả nhận được sẽ là một khoản lời hay thiệt hại
Công thức minh họa cho lý thuyết triển vọng:
U = ∑ 𝑤(𝑝𝑖)v(𝑥𝑖)
𝑛
𝑖=1
Với U là tổng hữu dụng kỳ vọng, v là hàm giá trị của kết quả nhận được x, w
là hàm trọng số xác suất Trong đó, hàm giá trị v đi qua một điểm tham chiếu, có dạng chữ S và không đối xứng Điều này minh họa cho ý tưởng rằng thiệt hại làm cho con người cảm thấy bị tổn thương nhiều hơn so với lợi tức nhận được, ví dụ con người sẽ cảm thấy đau đớn rất nhiều khi bị mất 10 đô la nhưng khi nhận lại được 10
đô la chỉ cảm thấy vui vẻ rất ít Hàm w chỉ ra các thông số trọng số của trọng số xác xuất là khác nhau, mọi người có xu hướng phản ứng thái quá đối với các sự kiện xác suất nhỏ và xem nhẹ các sự kiện xác suất lớn Đây là những phát hiện quan trọng của lý thuyết triển vọng và chỉ ra sự mâu thuẫn của lý thuyết này so với lý thuyết với hữu dụng kỳ vọng cổ điển (Vazquez và Cuilty, 2013)
Trang 21Hình 2.4: Hàm giá trị giả thuyết (Hypothetical value funtion)
Nguồn: Tversky và Kahneman, 1981
2.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG QUYẾT ĐỊNH MUA BẢO HIỀM
Việc tham gia bảo hiểm mang lại những chi phí và lợi ích mà các cá nhân phải cân nhắc trước khi lựa chọn.Pindyck và Rubinfeld (1989) cho rằng những người ghét rủi ro sẽ mong muốn bỏ bớt thu nhập để tránh được rủi ro Họ có xu hướng mua bảo hiểm để giảm tổn thất tài chính Việc mua bảo hiểm đảm bảo cho một người có thu nhập ổn định trong trường hợp có hay không có tổn thất Thông thường đối với một người ghét rủi ro, sự đảm bảo cho thu nhập như nhau dù hậu quả thế nào tạo ra tính hữu dụng cao hơn tính hữu dụng nhận được trong trường hợp
GAINS LOSSES
VALUE
Trang 22nếu có thu nhập cao mà không có tổn thất và có thu nhập thấp mà vẫn xảy ra tổn thất
Quyết định mua BH có thể giải thích liên quan với lý thuyết lựa chọn của người tiêu dùng Theo đó, lý thuyết về cầu dựa trên tiền đề là người tiêu dùng tối đa hóa hữu dụng theo ràng buộc ngân sách (Pindyck và Rubinfeld,1989)
Cá nhân có quyết định mua bảo hiểm để giảm thiểu rủi ro hay không phụ thuộc vào khả năng nhận thức xảy ra và mức độ nghiêm trọng xảy ra rủi ro, sự nhận thức này thường ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan như kinh nghiệm, độ tuổi, giới tính, thông tin hậu quả về rủi ro có thể xảy ra (Zweifel và Eisen, 2012) Patt và cộng
sự (2010) còn chỉ ra có sự tương quan giữa sự hiểu biết về sản phẩm bảo hiểm và mong muốn tham gia bảo hiểm
Ngoài ra, những cá nhân nào có tham gia vào các tổ chức xã hội ở địa phương,
cá tổ chức cho vay tiết kiệm cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng mua bảo hiểm của
họ (Clarke, 2011)
2.5 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN:
Nghiên cứu của Condliffe và Fiorentino (2014) tìm hiểu về ảnh hưởng của thái
độ đối với rủi ro tác động đến quyết định mua bảo hiểm sức khỏe và chi tiêu cho sức khỏe tại Mỹ Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu 8 năm trong cuộc điều tra về chi tiêu y tế của Mỹ với phương pháp hồi qui đa biến để định lượng vai trò của thái độ đối với rủi ro trong phương trình bảo hiểm và chi tiêu Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng rằng một người yêu thích rủi roít có khả năng mua bảo hiểm y tế và chi tiêu ít về chăm sóc sức khỏe so với người sợ rủi ro
Bernstein (2009) xem xét liệu các xu hướng thanh niên đi khám bệnh mà không có bảo hiểm y tế có liên quan đến sở thích rủi ro Bernstein phát triển một mô hình hồi quy logistic sử dụng dữ liệu từ những năm 2000 và 2006 trong điều tra về chi tiêu y tế Bởi vì những người trẻ rất ít khả năng phải trãi qua những cú sốc sức
Trang 23khỏe nghiêm trọng, Bernstein hạn chế mẫu ở nhóm người trẻ tuổi: độ tuổi từ 23-28,
và lứa tuổi 29- 34 Tác giả không khảo sát các cá nhân dưới 23 tuổi vì họ có xu hướng nhận được bảo hiểm hoặc từ cha mẹ hoặc từ các tổ chức giáo dục Cuối cùng, Bernstein kết luận rằng sự ưa thích rủi ro không là nguyên nhân gây ra tỷ lệ mua bảo hiểm tương đối thấp ở người lớn trẻ tuổi Thay vào đó, mô hình nghiên cứu cho thấy rằng người trẻ có xu hướng khám bệnh không có bảo hiểm y tế vì họ không có đủ khả năng mua bảo hiểm, hoặc bởi vì họ làm việc cho một nhà tuyển dụng không quan tâm đến lợi ích sức khỏe của nhân viên
Monheit và Vistnes (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của thái độ đối với rủi ro về bảo hiểm y tế qua bộ dữ liệu về chi tiêu y tế tại Mỹ Nghiên cứu của tác giả chỉ ra rằng các cá nhân với nhận thức yếu, cảm thấy sựkhông chắc chắn về giá trị của bảo hiểm hoặc ác cảm với rủi ro thấp thì ít có khả năng mua bảo hiểm sức khỏe và có nhiều khả năng chấp nhận việc làm từ nhà tuyển dụng không mua bảo hiểm y tế
Donni (2010) đã xem xét mối quan hệ giữa sở thích rủi ro không quan sát được và bốn quyết định mua bảo hiểm: bảo hiểm y tế, bảo hiểm dài hạn, bảo hiểm nhân thọ và thời gian duy trì hiệu lực Lý thuyết kinh tế chuẩn giả định rằng cá nhân đưa ra quyết định trên một tập các lĩnh vực rủi ro theo sở thích rủi ro của mình ổn định qua các bối cảnh quyết định Giả định này của sở thích rủi ro trong bối cảnh bất biến đã gây ra cuộc tranh luận trong các tài liệu liên quan đến giá trị của nó Sử dụng dữ liệu từ Nghiên cứu Sức khỏe và hưu trí, tác giảphân tích sự không đồng nhất trong sở thích rủi ro ảnh hưởng nhiều đến nhu cầu bảo hiểm Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng về sự tồn tại của sở thích rủi ro trong quyết định mua bảo hiểm
Petrolia và cộng sự (2013) nghiên cứu về sở thích rủi ro tác động đến quyết định mua bảo hiểm lũ lụt tại Mỹ Kết quả của nghiên cứu cho thấy sự khác biệt hệ thống giữa các hộ như nhận thức về nguy cơ lũ lụt, sở thích rủi ro, kinh nghiệm trong quá khứ với lũ lụt, và dự án giảm nhẹ rủi ro địa phương đã giải thích sự thay đổi trong việc lựa chọn mua bảo hiểm lũ lụt Cá nhân nhận thức được thiệt hại lũ lụt
Trang 24lớn hơn và những người đã có kinh nghiệm lũ lụt trong quá khứ có nhiều khả năng muốn được bảo hiểm Mức nhận thức nguy cơ rủi ro có thể bị ảnh hưởng bởi cung cấp thông tin, thâm nhập thị trường của Chương trình bảo hiểm lũ lụt quốc gia Tác giả thấy rằng các hoạt động giảm nhẹ rủi ro lũ lụt thường tăng cường sự thâm nhập thị trường của bảo hiểm lũ lụt, có lẽ do giảm giá phí bảo hiểm được thiết kế để giải quyết các vấn đề về rủi ro đạo đức
Finkelstein và cộng sự (2006) nghiên cứu thị trường bảo hiểm ở Mỹ sử dụng
dữ liệu thứ cấp Họ nhận thấy rằng nhu cầu về bảo hiểm có liên quan đáng kể đến
sự ác cảm rủi ro Đặc biệt, họ dùng các hoạt động chăm sóc phòng ngừa được thực hiện bởi một chủ thể và cá nhân luôn luôn đeo dây an toàn như một cách đại diện cho sự ưa thích rủi ro, và cho rằng những người mất nhiều thời gian cho những hành động này là những người ghét rủi ro Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quyết định mua bảo hiểm liên kết chặt chẽ với các dịch vụ dự phòng và sử dụng dây an toàn, sự lo ngại rủi ro là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhu cầu bảo hiểm Nghiên cứu Jowett (2001) thực hiện khảo sát 1.649 người ở 3 tỉnh Việt Nam gồm Ninh Bình, Hải Phòng và Đồng Tháp về chương trình BHYT tự nguyện Các câu hỏi được khảo sát liên quan đến sự đánh giá của cá nhân về tình trạng sức khỏe, đặc điểm kinh tế xã hội, nhân khẩu học, chi tiêu y tế Nghiên cứu chỉ ra rằng yếu tố tuổi, tình trạng sức khỏe, nghề nghiệp, dân tộc, khu vực sống có ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT Tác giả không tìm thấy tác động của yếu tố giới tính, tình trạng hôn nhân, thu nhập đến quyết định mua BHYT
Nguyễn Văn Ngãi và Nguyễn Thị Cẩm Hồng (2012) thực hiện nghiên cứu về BHYT tự nguyện tại Đồng Tháp Dữ liệu gồm 150 quan sát, khảo sát những người
đi khám bệnh tại bệnh viên đa khoa Đồng Tháp Các biến được sử dụng trong mô hình hồi quy để kết luận quyết định mua hay không mua BHYT bao gồm: Tình trạng sức khỏe, giới tính, thu nhập, tình trạng hôn nhân, mức độ tin tưởng vào chính sách BHYT, học vấn, nghề nghiệp Kết quả nghiên cứu tìm thấy tác động của biến
Trang 25tình trạng sức khỏe, giới tính, tuổi, thu nhập đến quyết định mua BHYT tự nguyện tại Đồng Tháp
Ha và Leung (2010) sử dụng bộ dữ liệu khảo sát mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2004 và 2006 để kiểm định quyết định tham gia BHYT và sự lựa chọn ngược trong thị trường BHYT Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, thu nhập, tổng số người trong hộ, dân tộc, khu vực sống, tình trạng sức khỏe có tác động đến quyết định mua BHYT Trong đó, trình
độ học vấn và thu nhập là 2 biến tác động mạnh đến quyết định gia nhập hoặc từ bỏ tham gia BHYT Nghiên cứu cũng chỉ ra có sự lựa chọn ngược trong thị trường BHYT tại Việt Nam khi số người tham gia BHYT đa phần là có sức khỏe kém
Tóm tắt chương 2:
Thái độ đối với rủi ro được đo lường thông qua lý thuyết về hữu dụng kỳ vọng (expected utility theory) hay lý thuyết triển vọng (prospect theory) Các nghiên cứu kiểm định thái độ đối với rủi ro như một yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của các nhân cho kết quả hỗn hợp Một số nghiên cứu tìm thấy tác động của yếu tố thái độ với rủi ro đến sự ra quyết định, một số nghiên cứu cũng không tìm thấy tác động của rủi ro đến quá trình ra quyết định Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu thực hiện về BHYT nhưng chưa có nghiên cứu nào kiểm định yếu tố thái độ đối với rủi ro tác động đến quyết định mua BHYT
Trang 26CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài Trong đó, tác giả trình bày cụ thể về khung phân tích, mô hình kinh tế lượng với các biến số, phương pháp
đo lường thái độ đối với rủi ro và các bước phân tích dữ liệu
3.1 KHUNG PHÂN TÍCH:
Để kiểm định mối quan hệ giữa thái độ đối với rủi ro và quyết định mua BHYT, nghiên cứu sử dụng mô hình các yếu tố tác động đến quyết định mua BHYT tương tự như nghiên cứu của Bernstein (2009), Condliffe và Fiorentino (2014) Các biến được sử dụng trong mô hình bao gồm: thái độ với rủi ro, giới tính, tình trạng sức khỏe, trình độ học vấn, tuổi, thu nhập, tổng số người trong hộ
Thái độ đối với rủi ro: Nhiều nghiên cứu đưa ra cách đo lường thái độ đối
vớirủi ro khác nhau Bernstein (2009), Condliffe và Fiorentino (2014) đo lường thái
độ đối với rủi ro thông qua 4 phát biểu: Thích rủi ro hơn so với người khác, không cần BHYT, BHYT thì không đáng giá với số tiền mua, có thể vượt qua bệnh tật mà không cần sự giúp đỡ từ những người có chuyên môn về y khoa Các cá nhân tự đánh giá với 5 mức độ từ 1 đến 5 là : Không đồng ý tuyệt đối, không đồng ý, không chắc chắn, đồng ý, đồng ý tuyệt đối Nghiên cứu Petrolia và cộng sự (2013) về thái
độ với rủi ro tác động đến quyết định mua bảo hiểm lũ lụt tại Mỹ sử dụng thí nghiệm bằng tiền thật theo thiết kế của Holt và Laury (2002) Nghiên cứu này đo lường thái độ với rủi ro qua thí nghiệm trò chơi được khảo sát trong bộ dữ liệu VARHS 2012 tương tự như nghiên cứu của Gächter và cộng sự, 2010
Giới tính: Hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng biến giới tính trong mô hình
các yếu tố tác động đến quyết định mua BHYT và cho các kết quả khác biệt Các nghiên cứu Jowett (2001), Wang và cộng sự (2006) không tìm thấy sự tác động của giới tính trong việc đăng ký mua BHYT Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của Tomislav và Danijel (2008), Nguyễn Văn Ngãi và Nguyễn Thị Cẩm Hồng (2012), Condliffe và Fiorentino (2014) cho thấy nữ có xác suất mua BHYT nhiều hơn nam
Trang 27Nghiên cứu này kỳ vọng tìm thấy tác động của giới tính đến quyết định mua BHYT như kết quả của Tomislav và Danijel (2008), Nguyễn Văn Ngãi và Nguyễn Thị Cẩm Hồng (2012), Condliffe và Fiorentino (2014)
Sức khỏe: Các nghiên cứu đưa ra nhiều cách khác nhau để đánh giá tình trạng
sức khỏe Jowett (2001) dựa vào sự tự đánh giá của cá nhân về tình trạng sức khỏe trong vòng 12 tháng với 3 mức sức khỏe: Tốt, trung bình, xấu Ha và Leung (2010) dựa vào câu hỏi có bệnh hay không trong vòng 12 tháng trước để phân loại tình trạng sức khỏe Minh và cộng sự (2012) sử dụng số lần nằm viện nội trú để đo lường yếu tố sức khỏe, hay sử dụng số ngày bị bệnh trong năm để đo lường sức khỏe trong một nghiên cứu khác Nghiên cứu này sử dụng câu hỏi “ Có bao nhiêu ngày ốm không hoạt động bình thường trong 12 tháng qua” để đo lường tình trạng sức khỏe tương tự như nghiên cứu của Minh và cộng sự (2012)
Trình độ học vấn: Trình độ học vấn được xem như đại diện cho nhận thức,
người có học vấn cao thường có nhận thức tốt về BHYT do họ có ý thức nhiều trong việc phòng chống rủi ro, hiểu được những lợi ích của BHYT khi xảy ra ốm đau bệnh tật (Kefeli và Jones, 2012) Nghiên cứu của Bernstein (2009), Kefeli và Jones (2012), Condliffe và Fiorentino (2014) đều chỉ ra rằng học vấn càng cao thì càng làm tăng xác xuất mua BHYT Tuy nghiên, nghiên cứu của Ha và Leung (2010) cho kết quả người có trình độ học vấn cao mua BHYT ít hơn, Nguyễn Văn Ngãi và Nguyễn Thị Cẩm Hồng (2012) thì không tìm thấy tác động có ý nghĩa của học vấn đến quyết định mua BHYT Nghiên cứu này kỳ vọng học vấn càng cao sẽ làm tăng xác suất mua BHYT
Tuổi: Hầu hết các nghiên cứu về các yếu tố tác động đến quyết định mua
BHYT (Jowett, 2001;Wang và cộng sự, 2006; Bernstein,2009 ; Ha và Leung, 2010; Nguyễn Văn Ngãi và Nguyễn Thị Cẩm Hồng, 2012) đều có sử dụng biến tuổi Nghiên cứu này kỳ vọng tuổi sẽ làm gia tăng xác suất mua BHYT
Trang 28Thu nhập: Hầu hết các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định
mua BHYT đều kết luận thu nhập đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua BHYT và thu nhập cao làm tăng xác suất mua BHYT (Bernstein, 2009; Ha và Leung, 2010; Kefeli và Jones, 2012; Condliffe và Fiorentino, 2014) Nghiên cứu này cũng kỳ vọng tìm thấy tác động thu nhập đến quyết định mua BHYT
Tổng số người hộ gia đình: Nghiên cứu của Wang và cộng sự (2006), Ha và
Leung (2010) cho thấy số người trong hộ gia đình có tác động làm tăng xác suất tham gia BHYT Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của Lammers và Warmerdam (2010) thì tổng số người trong hộ càng tăng càng làm giảm xác suất mua BHYT Nghiên cứu này kỳ vọng sẽ tìm thấy tác động của tổng số người trong hộ đến quyết định BHYT
Hình 3.1 Khung phân tích đối với quyết định mua BHYT ( yếu tố thái độ đối với rủi ro và các yếu tố khác)
Thái độ đối
với rủi ro hiểm y tếMua bảo Yếu tố kinh tế xã hội
Giới tínhSức khỏeGiáo dụcTuổi
Thu nhập
Số thành viên hộ gia đình
Trang 293.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU:
Mục tiêu của nghiên cứu là xem xét ảnh hưởng của thái độ đối với rủi ro tác động đến quyết định mua bảo hiểm y tế của hộ gia đình Bài nghiên cứu này áp dụng mô hình định lượng dựa trên nghiên cứu củaBernstein (2009),Condliffevà Fiorentino (2014) Mô hình được trình bày dưới dạng tổng quát như sau:
BHYT i = α 0 + βRisk i + 𝝋X i + ɛ i
Trong đó:
BHYT i là biến phụ thuộc cho biết hộ gia đình có mua bảo hiểm y tế hay không đại diện bằng câu hỏi: 9A Gia đình ông/bà có tham gia loại bảo hiểm nào không? Xin cho biết loại hình bảo hiểm gia đình tham gia
1 Bảo hiểm cho nông dân
2 Bảo hiểm cháy nổ
3 Bảo hiểm nhân thọ
4 Bảo hiểm xã hội tự nguyện
5 Bảo hiểm xã hội bắt buộc
6 Bảo hiểm y tế
7 BHYT miễn phí cho người nghèo
8 BHYT miễn phí cho trẻ em
9 Bảo hiểm học đường
10 Bảo hiểm phương tiện giao thông
Trang 30Mô hình logit:
Trong mô hình nghiên cứu, biến phụ thuộc có mua bảo hiểm y tế hay không là một biến định danh với giá trị bằng 0 hoặc 1 Do đó, nếu sử dụng mô hình xác suất tuyến tính (LPM) để ước lượng thì sẽ gặp một số giới hạn như: Giá trị ước tính của P(Y=1) có thể nhỏ hơn 0 hoặc lớn hơn 1, giả định phần dư có phân phối chuẩn không đúng trong thực tế, phần dư có phương sai thay đổi khiến các kiểm định quan trọng trở nên không đáng tin cậy (Gujarati, 2003) Vì thế, trong nhiều trường hợp nghiên cứu kinh tế lượng khi biến phụ thuộc là biến định danh mang tính chất đo lường nhị phân: có/ không, xảy ra/ không xảy ra, tham gia/ không tham gia thì mô hình được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng là logit hay probit Dựa vào phương pháp nghiên cứu của tác giả Bernstein (2009), Condliffe vàFiorentino (2014) cũng như tính đơn giản hơn trong quá trình tính toán của mô hình logit, bài nghiên cứu này sử dụng mô hình logit để ước lượng kết quả hồi qui
Phần này đề tài trình bày mô hình dựa trên tài liệu của tác giả Gujarati (2003)
Ví dụ: Xét trong trường hợp biến phụ thuộc là có mua bảo hiểm y tế hay không với Y=1 là có mua bảo hiểm y tế, Y= 0 là không mua bảo hiểm y tế phụ thuộc vào các biến độc lập Xi
Trang 31Xác suất mua bảo hiểm y tế:
3.3 PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI RỦI RO
Để đo lường thái độ đối với rủi ro, bài nghiên cứu sử dụng thí nghiệm được tiến hành thực hiện trong bộ dữ liệu VARHS 2012
Sự lo ngại rủi ro trong thí nghiệm các lựa chọn rủi ro có thể xác định qua lý thuyết triển vọng(Tversky và Kahneman, 1992) Hộ gia đình sẽ có thái độ như nhau
giữa việc từ chối hay chấp nhận một trò chơi nếu w + (0,5)v(G) = w -(0,5)λriskv(L) với
Trang 32L là khoản thiệt hại và G là khoản lời nhận được khi tham gia trò chơi, v(x) là hữu dụng thu nhập x thuộc tập hợp {G,L}, λrisk là hệ số ác cảm rủi ro trong lựa chọn,
w + (0,5) và w -(0,5) là trọng số xác suất của khoản lời và khoản thiệt hại Nếu giả định rằng hàm trọng số là như nhau đối với khoản thiệt hại và khoản lời theo cách
Prelec (1998), w + = w - thì tỉ lệ v(G)/v(L) = λrisk là hệ số lo ngại rủi ro Một giả định hay gặp khác là hàm v(x) là hàm tuyến tính với x khi x là khoản thu nhập nhỏ, có nghĩa là v(x)=x (Gächter và cộng sự, 2010) Vậy, hệ số ác cảm với rủi ro được đo lường đơn giản hơn là: λrisk= G/L
Trong bài nghiên cứu này, theo thiết kế thí nghiệm trò chơi, hệ số ác cảm rủi
ro được tính như sau: λrisk = w + (0,5)/w - (0,5)(v(G)/v(L))với w= w+(0,5)/w-(0,5), v(G)=Gα,v(L)= Lβ (Gächter và cộng sự, 2010) Có bốn giả định khác nhau về hàm trọng số xác suất và sự nhạy cảm về khoản thiệt hại và khoản lời Nguyên tắc cơ bản của mỗi mô hình là thay đổi các giả định về trọng số xác suất và sự nhạy cảm đối với những khoản lời và thiệt hại một cách hệ thống để xemảnh hưởng khác nhau của nó đến mức độ ác cảm rủi ro Mô hình 1 (mô hình chuẩn) với giả định rằng cả trọng số xác suất và sự nhạy cảm với khoản lời và thiệt hại là không quan trọng, do
đó λrisk = G/L Mô hình 2 với giả định rằng trọng số xác suất không quan trọng, có nghĩa w+(0,5) = w-(0,5) nhưng sự nhạy cảm đối với các khoản lời và thiệt hại là khác nhau, mô hình sử dụng giá trị ước lượng trung bình trong nghiên cứu của Booij và Kuilen (2009) với α = 0,95 β = 0,92, khi đó λrisk = G0,95/L0,92 Mô hình 3 với giả định rằng cả hai yếu tố trọng số xác suất và sự nhạy cảm với khoản lời và thiệt hại đều quan trọng, với trọng số xác suất là khác nhau, mô hình sử dụng giá trị ước lượng Abdellaoui (2000) với w+(0,5) = 0,394 và w-(0,5) = 0,456, khi đó w =
w+(0,5)/w-(0,5) = 0,86; do đó λrisk = 0,86* G0,95/L0,92.Mô hình 4 với giả định rằng sự nhạy cảm với khoản lời và thiệt hại là không quan trọng nhưng trọng số xác suất là khác nhau, khi đó λrisk = 0,86* G/L
Hệ số α và β lấy từ kết quả nghiên cứu của Booij và Kuilen (2009) trong một nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành để ước lượng hệ số hàm hữu dụng cho
Trang 33khoản thu nhập x Hệ số α và β thể hiện độ cong của hàm hữu dụng, α và β đều < 1 cho thấy rằng cá nhân giảm dần độ nhạy cảm với những thay đổi đi từ điểm tham chiếu Bên cạnh đó β < α cho thấy rằng con người trở nên ít nhạy cảm hơn đối với khoản lợi ích tăng thêm so với một khoản thiệt hại mất đi, phù hợp với phát hiện từ
lý thuyết triển vọng của Kahneman vàTversky (1979) Kết quả ước lượng của Booij
và Kuilen (2009) tương đồng với một số nghiên cứu các tác giả khác như Harrison
và Rutström (2009), Donkers (2001)
3.4 DỮ LIỆU
Dữ liệu cho nghiên cứu này là nguồn dữ liệu thứ cấp, thuộc loại dữ liệu chéo được thu thập từ cuộc Điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam (VARHS).Bộ dữ liệu được thực hiện tại 12 tỉnh trải dài khắp cả nước, Hà Tây ở khu vực đồng bằng sông Hồng, Lào Cai và Phú Thọ ở khu vực Đông Bắc, Lai Châu
và Điện Biên ở Tây Bắc, Nghệ An thuộc Bắc Trung Bộ, Khánh Hòa và Quảng Nam thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng thuộc vùng Tây Nguyên, Long An thuộc đồng bằng sông Cửu Long vào giữa tháng 6 và tháng 8 Bộ
dữ liệu này tập trung vào việc hộ gia đình tiếp cận các nguồn lực, các hộ gia đình đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận và những thách thức mà hộ gia đình nông thôn Việt Nam phải đối mặt trong phát triển VARHS phỏng vấn lại các hộ gia đình nông thôn với mô hình thu nhập và chi tiêu, những hộ này đã được lấy mẫu từ cuộc điều tra các năm trước trong bộ dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS), có bổ sung thêm một số hộ mới VARHS đã được thực hiện vào các năm
2002, 2006, 2008, 2010,2012 nhưng đến năm 2010 câu hỏi đo lường thái độ đối với rủi ro mới được khảo sát
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu đã được tổng hợp từ bộ VARHS năm 2012, mẫu được chọn lọc lại với các quan sát có trả lời đầy đủ các thông tin cho các biến của mô hình, bao gồm cả thông tin về nhân khẩu hộ gia đình như giới tính, tình trạng sức khỏe, tuổi tác, giáo dục, thu nhập và quy mô hộ gia đình
Trang 34Các câu hỏi được sử dụng để lấy dữ liệu bao gồm:
9A.1 Gia đình ông/bà có tham gia loại bảo hiểm nào không? Xin cho biết loại hình bảo hiểm gia đình tham gia
1 Bảo hiểm cho nông dân
2 Bảo hiểm cháy nổ
3 Bảo hiểm nhân thọ
4 Bảo hiểm xã hội tự nguyện
5 Bảo hiểm xã hội bắt buộc
6 Bảo hiểm y tế
7 BHYT miễn phí cho người nghèo
8 BHYT miễn phí cho trẻ em
9 Bảo hiểm học đường
10 Bảo hiểm phương tiện giao thông
11 Khác
Đây là câu hỏi dùng xác định giá trị biến phụ thuộc (BHYT), quan sát có chọn lựa chọn 6 ( loại hình bảo hiểm y tế) sẽ có giá trị = 1, không tham gia bảo hiểm hoặc không chọn lựa chọn 6 có giá trị = 0
Nghiên cứu loại các quan sát là hộ được cấp BHYT miễn phí và hộ có thành viên làm trong tổ chức, doanh nghiệp nhà nước, tư nhân có hợp đồng lao động thuộc diện mua BHYT bắt buộc theo luật định Do đó, những hộ có tham gia BHYT còn lại trong mẫu nghiên cứu là tham gia BHYT tự nguyện
12A.5 Ông/bà có cơ hội tham gia một trò chơi với khả năng thắng là 50:50, trong mỗi trường hợp dưới đây, ông/bà chấp nhận hay từ chối tham gia:
a Hoặc mất 2000 đồng hoặc thắng 6000 đồng
b Hoặc mất 3000 đồng hoặc thắng 6000 đồng
c Hoặc mất 4000 đồng hoặc thắng 6000 đồng
Trang 353.5 MÔ TẢ CÁC BIẾN SỐ TRONG MÔ HÌNH:
Biến phụ thuộc:
Mua bảo hiểm y tế: Xác định hộ gia đình có tham gia bảo hiểm y tế hay không thông qua câu hỏi Gia đình ông/bà có tham gia loại bảo hiểm nào không? Xin cho biết loại hình bảo hiểm gia đình tham gia Ở phần liệt kê trả lời, câu hỏi khảo sát đã phân chia cụ thể các loại bảo hiểm y tế bao gồm cả BHYT, BHYT miễn phí cho người nghèo, BHYT miễn phí cho trẻ em Do đó, dữ liệu thu thập được khi hộ gia đình có chọn lựa chọn 6 (BHYT) đã được loại trừ trường hợp hộ gia đình thuộc diện hiển nhiên được nhận miễn phí BHYT (người nghèo, trẻ em) mà không cần phải thực hiện các quyết định mua hay không mua bảo hiểm Bên cạnh đó, các hộ có thành viên thuộc đối tượng lao động phải mua BHYT bắt buộc do luật định, được trừ trực tiếp vào tiền lương cũng được loại khỏi mô hình bằng cách loại bỏ các hộ
có thành viên làm việc trong các tổ chức được ký kết hợp đồng lao động Ngoài ra, đối tượng học sinh, sinh viên với loại BHYT học đường cũng được loại khỏi mô hình do được nhà nước ưu đãi mức phí thấp hơn, tính tự nguyện không cao.Để đảm bảo hộ trong mẫu có tham gia BHYT là tự nguyện, nếu hộ vừa có tham gia BHYT
tự nguyện và có thành viên làm việc trong các tổ chức được mua BHYT theo luật định thì cũng bị loại khỏi mẫu nghiên cứu.Tổng số là 3704 hộ đã loại bỏ 72 hộ có
dữ liệu bị khuyết, 1471 hộ có BHYT miễn phí và BHYT theo luật định Trong số
Trang 362161 hộ còn lại trong mẫu thì có 338 hộ có người trả lời câu hỏi đo lường rủi ro là các thành viên khác trong gia đình không phải là chủ hộ
Biến độc lập:
Thái độ đối với rủi ro: Đo lường thái độ đối với rủi ro thông qua một đại diện thành viên của mỗi hộ, thông thường là chủ hộ, đây là người có vai trò quan trọng trong việc ra quyết định của hộ.Nghiên cứu đã loại các hộ có người trả lời phỏng vấn câu hỏi đo lường rủi ro là các thành viên khác không phải chủ hộ dựa vào mã thành viên của người được phỏng vấn câu hỏi đo lường rủi ro Kết quả lựa chọn được trình bày ở bảng 3.1
Trang 37Bảng 3.1: Đo lường hệ số rủi ro
Lựa chọn
Hệ số rủi ro λrisk với yếu tố trọng số xác suất và
sự nhạy cảm với khoản lời và thiệt hại khác nhau,
Nguồn: Gächter và cộng sự, 2010; Duc, 2012
Trong đó, risk1, risk2, risk3, risk4 được tính dựa trên bốn giả định khác nhau
về hàm trọng số xác suất và sự nhạy cảm về khoản lời và khoản thiệt hại Nguyên tắc cơ bản của mỗi mô hình là thay đổi các giả định về trọng số xác suất và sự nhạy cảm đối với những khoản lời và thiệt hại một cách hệ thống để xem ảnh hưởng khác nhau của nó đến mức độ ác cảm rủi ro Biến Risk1 được tính dựa trên mô hình
1 (mô hình chuẩn) với giả định rằng cả trọng số xác suất và sự nhạy cảm với khoản lời và thiệt hại là không quan trọng, do đó λrisk = G/L Biến Risk2 được tính dựa trên
Trang 38mô hình 2 với giả định rằng trọng số xác suất không quan trọng, có nghĩa w+(0,5) =
w-(0,5) nhưng sự nhạy cảm đối với các khoản lời và thiệt hại là khác nhau, mô hình
sử dụng giá trị ước lượng trung bình trong nghiên cứu của Booij và Kuilen (2009) với α = 0,95 β = 0,92, khi đó λrisk = G0,95/L0,92 Biến Risk3 được tính dựa theo mô hình 3 với giả định rằng cả hai yếu tố trọng số xác suất và sự nhạy cảm với khoản lời và thiệt hại đều quan trọng, với trọng số xác suất là khác nhau, mô hình sử dụng giá trị ước lượng Abdellaoui (2000) với w+(0,5) = 0,394 và w-(0,5) = 0,456, khi đó
w = w+(0,5)/w-(0,5) = 0,86; do đó λrisk = 0,86* G0,95/L0,92 Cuối cùng, biến Risk4 được tính dựa trên mô hình 4 với giả định rằng sự nhạy cảm với khoản lời và thiệt hại là không quan trọng nhưng trọng số xác suất là khác nhau, khi đó λrisk = 0,86* G/L
Bảng3.2: Giá trị kỳ vọng của mỗi lựa chọn
Lựa chọn Giá trị thấp
(Ngàn đồng)
Giá trị cao (Ngàn đồng)
Giá trị kỳ vọng (Ngàn đồng)
2000 đồng đến 7000 đồng trong sáu trường hợp Giá trị kỳ vọng của mỗi trò chơi giảm dần, trong đó trường hợp f giá trị kỳ vọng mang dấu âm Tính biến thiên của
Trang 39mỗi hậu quả trong từng trường hợp khác nhau, trong đó giá trị biến thiên (dựa vào
độ lệch chuẩn) tăng dần từ trường hợp a đến trường hợp f, báo hiệu rủi ro lớn hơn
Do đó, a là lựa chọn ít rủi ro nhất, f là lựa chọn có rủi ro cao nhất.Theo bảng 3.1, trường hợp lựa chọn 1 là từ chối tham gia trò chơi thể hiện thái độ ghét rủi ro, trường hợp 2-3-4 chấp nhận tham gia trò chơi từ a đến c thể hiện thái độ bàng quan hay trung lập với rủi ro, trường hợp 5-6-7 chấp nhận tham gia trò chơitừd đến f thể hiện sự yêu thích rủi ro
Thu nhập: Dữ liệu về thu nhập được thu thập rất chi tiết trong bộ dữ liệu
VARHS 2012 Tổng thu nhập của một hộ được tính tổng từ các nguồn thu: tiền lương của các thành viên trong hộ, các hoạt động sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, các hoạt động khai thác và đánh bắt tự nhiên, các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp không được trả công, thu nhập từ hoạt động cho thuê, bán tài sản, các khoản chuyển nhượng/hỗ trợ từ cá nhân, các khoản chuyển nhượng/hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức xã hội, lãi tiền gửi, lợi tức từ đóng góp cổ phần Thu nhập sẽ được tính bình quân đầu người theo hộ, theo hàm số ln(x) Dữ liệu được trích từ các mục 2B, 3B, 3C, 4A, 4B, 4C, 5C1 trong bảng câu hỏi
Tuổi tác:Biến tuổi được tính bằng năm 2012 trừ đi cho số năm sinh của chủ
hộ Dữ liệu được trích từ mục 1A trong bảng câu hỏi
Giới tính: Giới tính của chủ hộ Biến giả nhận giá trị 1 nếu là nam và 0 nếu là
nữ Dữ liệu được trích từ mục 1A trong bảng câu hỏi
Tình trạng sức khỏe:Đo bằng số ngày nghỉ làm do ốm trong năm trước đó
qua câu hỏi trong 12 tháng qua, có bao nhiêu ngày ốm không hoạt động bình thường của chủ hộ Dữ liệu được trích từ mục 1A trong bảng câu hỏi
Giáo dục: Được đo lường bằng số năm đi học của chủ hộ Dữ liệu được trích
từ mục 1A trong bảng câu hỏi Câu hỏi thực hiện khảo sát là: Đã học hết lớp mấy?
Tổng số người hộ gia đình: Số thành viên trong hộ gia đình
Trang 40Bảng 3.3: Thống kê biến và dấu kỳ vọng của mô hình hồi quy
Tên biến Kí hiệu Giá trị
Dấu
kỳ vọng
Bảo hiểm Y tế (biến phụ
Thu nhập bình quân hộ Lntnbq Ngànđồng/người/năm (lấy log) +
Thái độ với rủi ro (1) risk1 Được tính toán theo bảng 3.1 + Thái độ với rủi ro (2) risk2 Được tính toán theo bảng 3.1 + Thái độ với rủi ro (3) risk3 Được tính toán theo bảng 3.1 + Thái độ với rủi ro (4) risk4 Được tính toán theo bảng 3.1 +
Biến thái độ đối với rủi ro được đo lường thông qua đại diện của hộ là chủ hộ, đây là người có vai trò quan trọng nhất trong việc ra quyết định của hộ Theo đó các biến về đặc điểm nhân khẩu học như: giới tính, sức khỏe, giáo dục, tuổi cũng tương ứng là đặc điểm của chủ hộ
Như vậy, Bộ dữ liệu Điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam (VARHS) bao gồm 3704 hộ, sau khi loại trừ 72 quan sát códữ liệu khuyết, loại
bỏ 1471 hộ có BHYT miễn phí và BHYT theo luật định, mẫu còn lại 2161 quan sát Trong đó, 338 hộ có người trả lời câu hỏi đo lường rủi ro không phải là chủ hộ cũngbị loại khỏi mẫu Sau khi sàn lọc dữ liệu, cuối cùng mẫu nghiên cứu còn lại để thực hiện hồi quy gồm 1823 quan sát