L ỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ kinh tế “Tác động của kiều hối và giải ngân ODA lên chính sách tài khóa tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á” là công trình nghiên cứ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI
LÊN ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
Tp H ồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI VÀ GIẢI NGÂN ODA
LÊN CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ kinh tế “Tác động của kiều hối và giải ngân ODA
lên chính sách tài khóa tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi
Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Yến Nhi
Trang 4M ỤC LỤC
Trang ph ụ bìa
L ời cam đoan
M ục lục
Danh m ục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh m ục các bảng, biểu
Danh m ục các hình vẽ, đồ thị
L ỜI NÓI ĐẦU
Chương 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Phương pháp nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng nghiên cứu 6
1.5 Phạm vi nghiên cứu 7
1.6 Ý nghĩa thực tiễn đề tài 7
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm 8
2.1.1 Kiều hối 8
Trang 52.1.2 Nguồn vốn ODA và sự không thể dự báo tỷ lệ giải ngân 12
2.1.3 Điều chỉnh chính sách tài khóa 16
2.2 Các nghiên cứu trên thế giới 19
2.2.1 Các nghiên cứu trước về điều chỉnh chính sách tài khóa 19
2.2.2 Mối quan hệ giữa kiều hối và sự điều chỉnh chính sách tài khóa 21
2.2.3 Mối quan hệ giữa sự không thể dự báo tỷ lệ giải ngân ODA và sự điều chỉnh chính sách tài khóa 23
2.3 Khung lý thuyết 25
2.3.1 Biến phụ thuộc 25
2.3.2 Biến độc lập 26
Chương 3: THỰC TRẠNG, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Sơ lược tình hình kiều hối và hỗ trợ phát triển chính thức ODA tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á 36
3.1.1 Kiều hối 36
3.1.2 Sự không thể dự báo mức độ giải ngân ODA 39
3.1.3 Thâm hụt ngân sách tại các quốc gia đang phát triển 41
3.2 Giới thiệu mô hình 43
3.3 Phương pháp nghiên cứu 44
Trang 6Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Thống kê mô tả 47 4.2 Kết quả phân tích hồi quy 48
Chương 5: KẾT LUẬN
5.1 Kết luận 55 5.2 So sánh với kết quả các nghiên cứu trước đây 58 5.3 Đề xuất ý kiến 60
Tài li ệu tham khảo
Ph ụ lục
Trang 7DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH M ỤC BẢNG
B ảng 2.1: Mô tả và kỳ vọng biến 34
B ảng 4.1: Thống kê mô tả 47
B ảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan và nhân tử phóng đại phương sai VIF 48
B ảng 4.3: Kết quả mô hình 1 49
B ảng 4.4: Kết quả mô hình 2 51
B ảng 4.5: Kết quả mô hình 3 53
Trang 9DANH M ỤC HÌNH
Hình 3.1: Kiều hối và các dòng vốn khác qua các năm 37
Hình 3.2: Top 10 nước nhận kiều hối tại các quốc gia đang phát triển 38
Hình 3.3: ODA giải ngân ròng của các nước DAC so với GNI (1960 -2013) 39
Hình 3.4: ODA giải ngân của các nước DAC, tính theo % GNI (2013) 40
Hình 3.5: Thâm hụt ngân sách Việt Nam so với các nước (%GDP) 42
Trang 10L ỜI NÓI ĐẦU
Theo xu hướng quốc tế hóa kinh tế ngày nay, cùng với chính sách và cơ chế quản
lý kiều hối thông thoáng, tạo thuận lợi cho người gửi lẫn người nhận đã làm cho quy
mô của lượng kiều hối gửi về các quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam) tăng
gấp 3 lần so với thập kỷ 70, 80 của thế kỷ trước
Bên cạnh đó, thông qua Hiệp định Đối tác Toàn diện Khu vực (RCEP) được triển khai kể từ năm 2015, công nhân tại các nước ASEAN có thể tự do đi lại và làm việc ở trong vùng, các nhà chính sách kỳ vọng số lượng lao động xuất khẩu sẽ tăng lên trong
thời gian tới, dự báo nguồn kiều hối tăng lên đáng kể
Có thể nói, dòng kiều hối đã trở thành một trong những nguồn cung ngoại tệ lớn trong cán cân thanh toán, đồng thời tác động đáng kể đến kinh tế vĩ mô của các nước
đang phát triển, khiến cho các nhà hoạch định chính sách không thể không để tâm đến
Cùng với kiều hối, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là một kênh
vốn đầu tư phát triển quan trọng đối với tất cả các quốc gia đang phát triển Hiện nay,
lượng vốn ODA có xu hướng giảm trong khi nhu cầu về vốn của các nước đang phát triển tăng lên cùng với những vấn đề mới nảy sinh trên thế giới đòi hỏi được hỗ trợ để
giải quyết
viện trợ song hầu như chưa có nước nào thực hiện được, nhiều nhất cũng chỉ khoảng 0,35% (Mỹ, Nhật Bản)
Chính những vấn đề trên lý giải sự cạnh tranh thu hút ODA ngày càng tăng lên là điều khó tránh khỏi Thu hút nguồn vốn ODA đã khó, việc giải ngân các dự án ODA
lại càng khó hơn, nhất là hiện nay khi tỷ lệ giải ngân ODA so với cam kết ban đầu ở
Trang 11các nước đang phát triển là rất thấp do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan Chính vì vậy chênh lệch giữa mức độ giải ngân ODA so với cam kết ban đầu hay sự không thể dự báo tỷ lệ giải ngân ODA trở nên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với các
quốc gia đang phát triển
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn ODA và kiều hối, nhất là trong giai đoạn thâm hụt ngân sách triền miên trong những năm gần đây của các nước đang phát triển, tác giả đã thực hiện nghiên cứu “Mối quan hệ giữa kiều hối, mức độ giải ngân ODA và chính sách tài khóa tại các quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á”
Trang 12Thực tiễn tại Việt Nam, 15 năm gần đây, lượng kiều hối liên tục tăng Con số 12
tỉ USD kiều hối năm 2014 của cả nước được đánh giá là cao kỷ lục từ trước đến nay
Dự báo năm 2015, lượng kiều hối sẽ tiếp tục tăng khoảng 10% so với năm 2014 Phải nhìn nhận rằng, nguồn lực kiều hối đã và đang góp phần vào phát triển kinh tế xã hội
Về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, tương tự các quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam cũng trong tình trạng cạnh tranh gay gắt để thu hút nguồn vốn ODA và
mức độ giải ngân không như cam kết Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), 6 tháng đầu năm 2015, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết đạt trên 1,59 tỷ USD, bằng 70,54% so với cùng kỳ năm trước, trong khi đó tốc độ giải ngân
tổng số vốn ODA và vốn vay ưu đãi giải ngân trong 6 tháng đầu năm nay chỉ đạt khoảng 1,917 tỷ USD, thấp hơn 38% so với cùng kỳ năm 2014 Trong bối cảnh Việt Nam nhận được kiều hối và giải ngân ODA như vậy, một vấn đề đặt ra là đất nước đối
mặt với tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài
Trang 13Câu hỏi ở đây là liệu kiều hối và sự không thể dự báo tỷ lệ giải ngân ODA có tác động đến điều chỉnh chính sách tài khóa tại các quốc gia đang phát triển hay không
nhất là trong giai đoạn thâm hụt ngân sách triền miên đang diễn ra tại các quốc gia này
V ề mặt lý luận:
Tính đến thời điểm hiện tại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về điều chỉnh chính sách tài khóa nhưng phần lớn tập trung vào các nước phát triển, hơn nữa các nghiên cứu chủ yếu xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố vĩ mô với các biến đại diện cho chính sách tài khóa Ít có nghiên cứu về điều chỉnh tài khóa dành cho các quốc gia đang phát triển Các công trình xem xét vai trò của dòng vốn nước ngoài (kiều hối, ODA ) đối với điều chỉnh tài khóa càng ít hơn, trong khi các dòng vốn này có vai trò
vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội các quốc gia đang phát triển
Nhận thấy sự cần thiết khách quan phải nghiên cứu về lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa kiều hối và ODA với điều chỉnh tài khóa, tác giả lựa chọn đề tài để thực
hiện luận văn là: "Tác động của kiều hối và giải ngân ODA lên chính sách tài khóa tại các quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á"
Trang 141.2 M ục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau:
• Nhận diện và định lượng được tác động của kiều hối và sự không thể dự báo tỷ
lệ giải ngân ODA đến việc điều chỉnh chính sách tài khóa
• Đưa ra gợi ý cho việc cải thiện thâm hụt ngân sách nhà nước
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng dữ liệu bảng với mô hình nhị phân logit hiệu ứng cố định có điều kiện (conditional fixed- effects logit model) để kiểm định mối quan hệ giữa kiều
hối, sự không thể dự báo mức độ giải ngân ODA với việc điều chỉnh tài khóa
Bài kết hợp ba phương pháp khác nhau để phân tích, bao gồm:
• Hồi quy mô hình mô hình logit có điều kiện (conditional logit model) vớigiá trị
độ trễ của các biến nội sinh
• Hồi quy mô hình nghiên cứu bằng phương pháp 2SLS với biến công cụ là giá trị
độ trễ của các biến nội sinh, trong đó giá trị ước lượng của biến nội sinh trong giai đoạn đầu của phương pháp 2SLS sẽ được dùng làm biến giải thích trong phương trình hồi quy chính (mô hình logit có điều kiện) của giai đoạn hai
• Tương tự phương pháp (2) và sử dụng thêm giá trị phần dư của các biến nội sinh trong giai đoạn đầu để ước lượng trong phương trình giai đoạn hai nhằm mục đích đảm
bảo tính vững của các hệ số ước lượng
Trang 151.4 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa kiều hối và sự không thể dự báo
tỷ lệ giải ngân ODA với việc điều chỉnh chính sách tài khóa
Bi ến phụ thuộc:
• FCA: Điều chỉnh tài khóa nhanh
• FCH: Điều chỉnh tài khóa dần dần
Bi ến độc lập:
• LnRemit: Giá trị logarit của kiều hối
• Unpredictability: Sự không thể dự báo mức giải ngân ODA
• Lognetoda: Giá trị logarit của ODA ròng
• Primaryexpend: Chi tiêu cơ bản
• Capitalflight: thoái vốn
• Domestdebt: nợ trong nước
• Taxrevenue: Tỷ lệ nguồn thu thuế so với GDP
• Nontaxrevenue: Tỷ lệ nguồn thu phi thuế so với GDP
• LogReer: Giá trị logarit của tỷ giá hối đoái thực hiệu lực
• Inflation: Lạm phát
• Growth: Tốc độ tăng trưởng kinh tế
• Outputgap: Chênh lệch sản lượng thực và sản lượng tiềm năng
• Imf: Các chương trình hỗ trợ của quỹ tiền tệ quốc tế
• Quo: Chất lượng quản lý của chính phủ
Trang 16
1.5 Ph ạm vi nghiên cứu
• Phạm vi không gian: 18 quốc gia đang phát triển Châu Á (Armenia, Azerbaijan, Bangladesh, China, India, Indonesia, Iran, Kazakhstan, Lào, Malaysia, Maldives, Mông Cổ, Pakistan, Papua New Guinea, Phillipines, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam)
• Phạm vi thời gian: giai đoạn 2000-2013
1.6 Ý nghĩa thực tiễn đề tài
Nghiên cứu này nhằm phát hiện mối tương quan giữa kiều hối và sự không thể dự báo tỷ lệ giải ngân ODA đối với việc điều chỉnh chính sách tài khóa, qua đó giúp các nhà làm chính sách thấy rõ tác động của kiều hối và ODA để đưa ra những đề xuất phù hợp thúc đẩy nền kinh tế
Trang 17Chương 2:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Khái ni ệm
2.1.1 Ki ều hối
Khái ni ệm kiều hối:
Theo World Bank, kiều hối được định nghĩa là tổng lượng tiền có nguồn gốc từ nước ngoài, thể hiện qua cán cân thanh toán quốc tế, bao gồm thu nhập của người lao động, dân nhập cư ở nước ngoài và khoản tiền bồi thường cho người lao động
Quỹ tiền tệ quốc tế IMF định nghĩa kiều hối là khoản tiền của người lao động
nhập cư, đang cư trú tại nước chủ nhà từ một năm trở lên chuyển cho người thân đang
sống tại quốc gia của người lao động đó Nếu người nhập cư sống tại nước chủ nhà trong một năm hoặc lâu hơn, họ được xem là cư dân, bất kể họ đang ở tình trạng di trú
Nếu người nhập cư sống tại nước chủ nhà ít hơn một năm, toàn bộ thu nhập của họ được xem là khoản thưởng công cho người lao động
Theo Điều 4, Điều 5, Điều 6 quyết định 170/1999/QĐ – TTG của Thủ tướng chính phủ ngày 19/08/1999 có giải thích định nghĩa về kiều hối: Kiều hối là các loại ngoại tệ tự do chuyển đổi được chuyển vào Việt Nam theo các hình thức sau:
• Chuyển ngoại tệ thông qua các tổ chức tín dụng được phép
• Chuyển ngoại tệ thông qua các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính bưu chính quốc tế
• Cá nhân mang ngoại tệ theo người vào Việt Nam Cá nhân ở nước ngoài khi
nhập cảnh vào Việt Nam có mang theo ngoại tệ hộ cho người Việt Nam ở nước ngoài
Trang 18phải kê khai với Hải quan cửa khẩu số ngoại tệ mang hộ từ nước ngoài gửi về cho người thụ hưởng ở trong nước
Phân lo ại kiêu hối:
• Ki ều hối chuyển theo kênh chính thức:
Chuyển qua các tổ chức tín dụng, các tổ chức được Ngân hàng Nhà nước cho phép làm dịch vụ nhận và chi trả ngoại tệ hoặc tổ chức kinh tế làm đại lý cho các tổ
chức tín dụng thực hiện việc chi trả ngoại tệ, các tổ chức tín dụng làm đại lý cho các tổ
chức tín dụng được phép, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính bưu chính quốc
tế và các cá nhân mang theo ngoại tệ mang hộ từ nước ngoài gửi cho người thụ hưởng
ở trong nước
Hiện nay phương thức chuyển tiền thông qua con đường chính thức đã phổ biến
rộng rãi vì sự nhanh chóng, an toàn Tuy nhiên, cũng rất nhiều kiều bào e ngại vì phải
chứng minh tính pháp lý của món tiền, đồng thời phí dịch vụ của Ngân hàng còn cao Đặc điểm của phương thức này là:
Tiền nhận được ngay không phải chờ lâu (trong trường hợp khách hàng sử
dụng dịch vụ chuyển tiền ngay của các Tổ chức chuyển tiền nhanh có các đại lý đặt tại Ngân hàng, công ty kiều hối.)
An toàn
Khuyết điểm của phương thức này là:
Giá ngoại tệ mà ngân hàng bán ra cao hơn (mua vào thấp hơn) thị trường
tự do
Phải xuất trình nhiều giấy tờ
Trang 19• Ki ều hối chuyển theo kênh phi chính thức:
Là lượng kiều hối được chuyển vào một quốc gia do kiều bào nhập cảnh vào quốc gia đó mà không khai báo tại Hải Quan cửa khẩu hoặc qua đường dây ngầm của dịch
vụ chuyển tiền tư nhân không qua hệ thống ngân hàng và các công ty kiều hối được
cấp giấy phép nhận và chi trả ngoại tệ Loại hình này được thực hiện dựa trên cơ sở quen biết và tin tưởng lẫn nhau Phương thức chuyển tiền này đơn giản Chỉ cần điện hai lần điện thoại: một cho cá nhân làm dịch vụ chuyển tiền và một cuộc điện thoại cho thân nhân ở Việt Nam đến địa điểm chi trả hoặc đường dây chi trả sẽ đến tận nhà của
kiều quyến để thực hiện chi trả
Đặc điểm của phương thức này là:
Tiền nhận được ngay không phải chờ lâu
Giá ngoại tệ bán ra thấp hơn (mua vào cao hơn) tỷ giá bán ra và mua vào
của các ngân hàng thương mại
Không đòi hỏi xuất trình nhiều giấy tờ
Khuyết điểm của phương thức này:
Phí cao
Không an toàn
Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế Giới, quy mô của thị trường kiều hối được chuyển qua kênh phi chính thức xấp xỉ ngang bằng với thị trường kiều hối được chuyển qua kênh chính thức (Nguồn: www.vnmedia.vn)
Trang 20Từ các khái niệm và phân loại kiều hối, có thể rút ra kết luận: Về bản chất, kiều
hối là tiền bạc được di chuyển từ những người đang trú ngụ hay lao động nước ngoài đến thân nhân của họ tại quê hương Nhiều người nhìn vào kiều hội, cho rằng nó là lượng tiền mà quốc gia tự nhiên được nhận, không có rủi ro nào Tuy nhiên, giống như
bất cứ nguồn vốn nào, kiều hối cũng có những ưu & nhược điểm của riêng nó
Về ưu điểm, kiều hối là nguồn thu ngoại tệ ổn định, không hoàn lại & đặc biệt là,
kiều hối tạo ra nguồn vốn cho sự phát triển kinh tế nhưng không tạo gánh nặng nợ nước ngoài Vì rằng kiều hối được gửi về cho thân nhân ở quê hương nên kiều hối đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống người lao động; điều này được thể hiện rõ nét thông qua lượng kiều hối từ lao động xuất khẩu
gửi về Ngoài ra, vì kiều hối tạo nguồn ngoại tệ ổn định nên có vai trò hỗ trợ cán cân thanh toán
Về nhược điểm, kiều hối tạo áp lực gia tăng tổng phương tiện thanh toán trong toàn nền kinh tế, gây khó khăn cho Ngân hàng Trung ương trong kiểm soát tiền tệ Mặt khác, song song với việc cung cấp ngoại tệ ổn định cho nền kinh tế, kiều hối còn làm gia tăng tình trạng đô-la hóa nền kinh tế Ngoài ra, kiếu hối cũng là một trong những nguồn vốn thường được sử dụng để rửa tiền
Trang 212.1.2 Ngu ồn vốn ODA và sự không thể dự báo tỷ lệ giải ngân
Khái ni ệm nguồn vốn ODA:
Theo Tổ chức Hợp tác Kinh tế và phát triển (OECD): ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội cho các nước đang phát triển Điều kiện của giao dịch có tính chất ưu đãi và yếu tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%
Ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC) định nghĩa: ODA là nguồn vốn hỗ trợ chính thức bên ngoài, gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện ưu đãi, được các cơ quan chính thức của Chính phủ hoặc các Cơ quan thừa hành của Chính phủ, các Tổ
chức phi chính phủ tài trợ
Theo Nghị định Số 131/2006 của chính phủ hiệu lực ngày 09/11/2006: Hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt là ODA) trong Quy chế này được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ
Cũng theo nghị định này, ODA được chia thành ba hình thức khác nhau:
1 ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ
2 ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các điều
kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu tố không hoàn lại” (còn gọi là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng
buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc
Trang 22
3 ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính chung lại
có “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc.Tóm lại, một khoản tài trợ được coi là ODA
nếu đáp ứng đầy đủ 3 điều kiện
Nguyên tắc cơ bản trong quản lý và sử dụng ODA:
1 ODA là nguồn vốn quan trọng của ngân sách nhà nước, được sử dụng để hỗ trợ
thực hiện các chương trình, dự án ưu tiên về phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ
2 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA trên cơ sở tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp, gắn quyền hạn với trách nhiệm, đảm
bảo sự phối hợp quản lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ và phát huy tính chủ động của các
cấp, các cơ quan quản lý ngành, địa phương và các đơn vị thực hiện
3 Thu hút ODA đi đôi với việc nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo đảm khả năng
trả nợ nước ngoài, phù hợp với năng lực tiếp nhận và sử dụng ODA của các Bộ, ngành, địa phương và các đơn vị thực hiện
4 Bảo đảm tính đồng bộ và nhất quán của các quy định về quản lý và sử dụng ODA; bảo đảm sự tham gia rộng rãi của các bên có liên quan; hài hoà quy trình thủ tục
giữa Chính phủ và nhà tài trợ
5 Tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế về ODA mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Trong trường hợp điều ước quốc tế
về ODA mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với các quy định của pháp luật Việt Nam thì thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế
đó
Trang 23
Lĩnh vực ưu tiên sử dụng ODA:
Vốn ODA được ưu tiên sử dụng cho những chương trình, dự án thuộc các lĩnh
vực:
1 Phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm nông nghiệp, thuỷ lợi, lâm nghiệp, thủy sản) kết hợp xoá đói, giảm nghèo
2 Xây dựng hạ tầng kinh tế đồng bộ theo hướng hiện đại
3 Xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục đào tạo, dân số và phát triển và
một số lĩnh vực khác)
4 Bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên
5 Tăng cường năng lực thể chế và phát triển nguồn nhân lực; chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai
6 Một số lĩnh vực khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Ưu điểm và nhược điểm của nguồn vốn ODA:
• Ưu điểm:
Tầm quan trọng của ODA đối với các nước đang và kém phát triển là điều không
thể phủ nhận Điều này được thể hiện rõ qua những thành công mà các nước tiếp nhận ODA đã đạt được
Đầu tiên, trong khi các nước đang phát triển đa phần là trong tình trạng thiếu vốn trầm trọng nên thông qua ODA song phương có thêm vốn để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội ODA mang lại nguồn lực cho đất nước
Trang 24 Thứ nữa, theo các nhà kinh tế, việc sử dụng viện trợ ở các nước đang phát triển nhằm loại bỏ sự thiếu vốn và ngoại tệ, tăng đầu tư vốn đến điểm mà ở đó sự tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cho các nước này đạt được đến quá trình tự duy trì và phát triển
Tạo điều kiện để các nước tiếp nhận có thể vay thêm vốn của các tổ chức
quốc tế, thực hiện việc thanh toán nợ tới hạn qua sự giúp đỡ của ODA
ODA còn có thể giúp các nước đang lâm vào tình trạng phá giá đồng nội
tệ có thể phục hồi đồng tiền của nước mình thông qua những khoản hỗ trợ lớn của các
tổ chức tài chính quốc tế mang lại
ODA giúp các nước nhận hỗ trợ tạo ra những tiền đề đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển về lâu dài thông qua lĩnh vực đầu tư chính của nó là nâng cấp
cơ sở hạ tầng về kinh tế
ODA tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội của các địa phương
và vùng lãnh thổ, đặc biệt là ở các thành phố lớn: nguồn vốn này trực tiếp giúp cải thiện điều kiện về vệ sinh y tế, cung cấp nước sạch, bảo vệ môi trường Đồng thời nguồn ODA cũng góp phần tích cực trong việc phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, phát triển nông nghiệp, xoá đói giảm nghèo
ODA giúp các doanh nghiệp nhỏ trong nước có thêm vốn, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dần dần mở rộng qui mô doanh nghiệp
Ngoài ra ODA còn giúp các nước nhận viện trợ có cơ hội để nhập khẩu máy móc thiết bị cần thiết cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, từ các nước phát triển Thông qua nước cung cấp ODA nước nhận viện trợ có thêm nhiều
cơ hội mới để tham gia vào các tổ chức tài chính thế giới, đạt được sự giúp đỡ lớn hơn
về vốn từ các tổ chức này
Trang 25• Khuy ết điểm:
Bên cạnh những mặt tích cực, ODA cũng có không ít những mặt hạn chế Hạn
chế rõ nhất của viện trợ phát triển chính thức ODA là các nước nếu muốn nhận được nguồn vốn này phải đáp ứng các yêu cầu của bên cấp viện trợ Mức độ đáp ứng càng cao thì viện trợ tăng lên càng nhiều
Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh -
quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, khu
vực và trên thế giới).Ví dụ:
Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo
hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối
với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực
hạn chế, có khả năng sinh lời cao
thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp,
thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo Ví như các dự án ODA trong lĩnh
vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như
vậy trên thị trường lao động thế giới)
Trang 26 Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc
biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp
nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất
thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước
viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia
Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên
Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho
hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần
Ngay ở trong một nước, tình trạng tập trung ODA vào các thành phố
trọng điểm cũng tạo nên sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế - xã hội của quốc gia đó, làm cho hố ngăn cách giàu nghèo thành thị và nông thôn càng trở nên cách biệt
S ự không thể dự báo mức độ giải ngân ODA:
Khái niệm sự không thể dự báo của dòng viện trợ và sự biến động của dòng viện
trợ liên quan chặt chẽ và thường được sử dụng thay thế cho nhau trong nghiên cứu thực nghiệm Bài nghiên cứu này sẽ làm rõ sự khác biệt giữa hai khái niệm trên Bulı'r và Hamann (2001, 2003, 2008) cùng với Celasun và Walliser (2008) xác định rằng dòng
viện trợ được xem là có thế dự báo được nếu nước nhận viện trợ hầu như chắc chắn về
số tiền và thời gian được giải ngân Ngược lại, viện trợ được gọi là biến động nếu nó gia tăng hoặc sụt giảm nghiêm trọng giữa hai thời kỳ Biến động của dòng viện trợ có
Trang 27thể là nguyên nhân dẫn đến sự không bền vững trong nền kinh tế vĩ mô, từ đó gây tổn
hại cho nền kinh tế (IMF và World Bank, 2005)
Bulir và Hamann (2001, 2008) lập luận rằng những nước viện trợ sẽ chịu một áp
lực nhất định khi thực hiện cam kết ODA cho các nước tiếp nhận Bulir và Hamann (2001, 2003, 2008) cũng tìm ra bằng chứng cho thấy rằng việc giải ngân từ các nước
viện trợ thường không vượt quá cam kết ban đầu Vì vậy, các nước nhận viện trợ sẽ rất khó khăn và tốn kém chi phí cho việc dự đoán con số được viện trợ thực sự nhờ vào dữ
liệu cam kết ban đầu Hơn nữa, họ quan sát thấy rằng, trong một vài giai đoạn, việc cam kết tăng không làm mức độ giải ngân tăng theo
2.1.3 Điều chỉnh chính sách tài khóa
Những nghiên cứu thực nghiệm về thâm hụt ngân sách hiện nay không thống nhất các tiêu chí để xác định các năm có điều chỉnh tài khóa Adam và Bevan (2003) đã đưa ra 2 cách tiếp cận như sau:
Theo cách tiếp cận thứ nhất, tất cả những quốc gia có mức thâm hụt nhỏ hơn một ngưỡng cụ thể được đặt ra trước được xem là có điều chỉnh tài khóa
Cách tiếp cận thứ 2 đánh giá mức thay đổi hàng năm trong thâm hụt, nếu mức độ thâm hụt được cải thiện, ít nhất bằng ngưỡng được đặt ra trước thì quốc gia đó có điều
chỉnh tài khóa
Trang 282.2 Các nghiên c ứu trên thế giới
2.2.1 Các nghiên c ứu trước về điều chỉnh chính sách tài khóa
Đến thời điểm hiện tại, đã có nhiều nghiên cứu về tác động của việc điều chỉnh chính sách tài khóa ảnh hưởng đến tăng trưởng, lãi suất, tỷ giá hối đoái thực, tài khoản vãng lai, tiêu thụ, tiết kiệm, …) đối với các quốc gia phát triển và đang phát triển Tuy nhiên, ở đây, bài luận văn tóm tắt một vài nghiên cứu về ảnh hưởng của điều chỉnh chính sách tài khóa đối với các quốc gia đang phát triển
Adams và Bevan (2003) đã nghiên cứu sự biến đổi của các giai đoạn tài chính ổn định và kết luận rằng: các nước OECD và các nước đang phát triển với các nước có thu
nhập thấp và thu nhập trung bình có sự khác biệt đáng kể về lập trường tài chính đối
với các yếu tố quyết định sự ổn định tài khóa, cũng theo lý thuyết của hai tác giả này,
mức thu nhập đóng một vai trò quan trọng trong việc giải thích sự ổn định tài khóa Ngoài ra, khả năng duy trì tài khóa bền vững của các quốc gia bị ảnh hưởng tiêu cực
bởi hệ lụy quản lý kém hiệu quả trong quá khứ, nhất là đối với các quốc gia thu nhập trung bình và các nước OECD Bên cạnh đó, đối với các quốc gia đang phát triển, việc
ổn định tài khóa được củng cố bởi nguồn thu hơn là cắt giảm chi tiêu
Gupta, Clements, Baldacci và Mulas-Granados (2004) đưa ra các bằng chứng cho
thấy rằng, thời gian điều chỉnh chính sách tài khóa ở các nước đang phát triển được xác định bởi quy mô của việc điều chỉnh tài khóa, tăng trưởng kinh tế, các thành phần của chi tiêu và kết quả điều chỉnh chính sách tài khóa trong quá khứ Ngoài ra, các nguồn tài trợ bên ngoài có thể làm giảm khả năng điều chỉnh chính sách tài khóa
Gupta, Baldacci, Clements và Tiongson (2005) đưa ra kết luận từ một nghiên cứu đối với hai mươi lăm nước trong thị trường mới nổi rằng: hậu quả của những thất bại tài khóa trước đó, quy mô thâm hụt tài khóa, các thành phần chi tiêu và tổng doanh thu
là những nhân tố chính ảnh hưởng đến kết quả chính sách tài khóa hiện tại Ngoài ra,
Trang 29việc điều chỉnh chính sách tài khóa còn bị ảnh hưởng bởi tỷ giá hối đoái, lạm phát và tỷ
lệ thất nghiệp
Mierau, Jong-A-Pin và de Haan (2007) tìm hiểu những yếu tố chính trị tác động đến chính sách điều chỉnh tài khóa trong một mẫu hai mươi quốc gia OECD trong giai đoạn 1970-2003 Họ phân biệt giữa điều chỉnh tài khóa nhanh và tài khóa dần dần Từ
đó, phát hiện ra rằng cả điều chỉnh tài khóa nhanh và dần dần đều được dẫn dắt bởi tình trạng ngân sách ban đầu (xác định bởi thâm hụt ngân sách và tỷ lệ nợ so với GDP) cũng như việc cải cách tài khóa sâu rộng Nghiên cứu cũng xác định chỉ có điều chỉnh
dần dần bị ảnh hưởng bởi lạm phát
Thornton và Mati (2008) sử dụng hai định nghĩa của điều chỉnh tài khóa để xem xét ảnh hưởng tỷ giá hối đoái lên sự thành công của điều chỉnh tài khóa trong hai mươi
ba quốc gia trong nền kinh tế thị trường mới nổi Kết quả thực nghiệm của họ cho thấy
rằng tỉ giá giảm đáng kể sẽ làm tăng khả năng thành công của việc điều chỉnh tài khóa Theo nghiên cứu của Larvigne (2010), ngân sách đóng vai trò quan trọng việc điều chỉnh tài khóa ở các nước phát triển Ngoài ra, nghiên cứu cũng làm rõ, đối với các nước đang phát triển, chất lượng thể chế là yếu tố quyết định đến những điều chỉnh chính sách tài khóa Chỉ số đo lường chất lượng thể chế cao giúp tránh được kiệt quệ tài chính ở một số nước, các nước có chỉ số kém sẽ phải thực hiện những điều chỉnh chính sách tài khóa mạnh mẽ hơn Nói cách khác, nghiên cứu của ông nhằm xác định vai trò của các yếu tố chính trị và thể chế để giải thích tại sao tài khóa nhiều nước trở nên kiệt quệ, tại sao cần thực hiện việc điều chỉnh tài khóa khi cần thiết và lý do tại sao không thể thể điều chỉnh mặc dù hiển nhiên cần phải làm như vậy
Trang 302.2.2 M ối quan hệ giữa kiều hối và sự điều chỉnh chính sách tài khóa
Trái ngược với các dòng viện trợ thường được tích lũy cho khu vực công, kiều
hối thường là khoản tiền chuyển giao cho các hộ tư nhân Theo Griffin, (1970), trong các thành phần của GDP, kiều hối có thể tác động làm tăng hoặc giảm nguồn tiết kiệm thông qua việc các hộ gia đình sử dụng nhiều hơn hay ít hơn nguồn kiều hối nhận được cho tiêu dùng hay tiết kiệm Do đó, tác động của kiều hối lên quyết định thực hiện các
biện pháp điều chỉnh chính sách tài khóa phụ thuộc vào việc sử dụng kiều hối như thế nào của các hộ gia đình Nếu các dòng kiều hối hoàn toàn dùng cho tiết kiệm, chúng sẽ không có tác động lên ngân sách của chính phủ và do đó không có tác động đến các
biện pháp điều chỉnh chính sách tài khóa
Theo Ratha và cộng sự (2011), giả sử các dòng kiều hối chuyển về không bị chính phủ đánh thuế trực tiếp và được dùng để tài trợ cho tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ
nội địa khi đó kiều hối có thể gián tiếp làm gia tăng thu nhập của chính phủ thông qua tính thuế thương mại Tuy nhiên, kết quả này còn phụ thuộc vào cấu trúc thuế ở nước
nhận kiều hối Theo Gordon và Li, (2006) cùng với nghiên cứu của Abdih, Chami, Gapen và Mati (2009), đối với trường hợp phần lớn thu nhập của chính phủ các nước đang phát triển đến từ thuế tiêu dùng và thuế sản xuất, một lượng kiều hối cao hơn có
thể dẫn đến một sự gia tăng nguồn thu thuế và do đó làm gia tăng thu nhập của chính
phủ Từ đó suy ra, khi các yếu tố khác như nhau, tăng cơ sở tính thuế một mức độ nhất định sẽ làm giảm khả năng thực hiện điều chỉnh chính sách tài khóa, ngược lại, giảm thuế cơ bản sẽ làm tăng khả năng điều chỉnh tài khóa Trường hợp còn lại, khi nguồn thu của chính phủ chủ yếu từ thuế trực tiếp, khi đó lượng kiều hối sụt giảm sẽ không có ảnh hưởng đến ngân sách, do đó không ảnh hưởng đến việc điều chỉnh tài khóa
Kiều hối được sử dụng vào mục đích tiêu dùng và vay mượn có thể tạo ra những thuận lợi cho chính phủ về tài khóa, từ đó làm giảm động lực để chính phủ duy trì kỷ
luật tài khóa (Chami và cộng sự, 2008) Vì vậy, khi lượng kiều hối tăng lên, chính phủ
Trang 31có thể cam kết nhiều hơn đối với tình trạng thâm hụt tài khóa, từ đó thực hiện những
biện pháp điều chỉnh chính sách tài khóa để ra hiệu cho thị trường tài chính (nhà đầu tư) và những người cho vay (các nước cho vay song phương) rằng tài khóa quốc gia
vẫn đang bền vững
Dòng kiều hối không chỉ được sử dụng cho tiêu dùng mà còn để tài trợ cho giáo
dục và y tế Theo Ziesemer (2008), nếu kiều hối của người lao động được các hộ gia đình sử dụng để tài trợ cho giáo dục của chính họ, bản thân họ sẽ tự đầu tư cho mình được tốt hơn, từ đó chính phủ có thể giảm chi tiêu công ở lĩnh vực giáo dục Tác giả cũng nhận định rằng, nền giáo dục ở các nước nghèo sẽ được cải thiện hơn nếu tiền của
cả hai khu vực tư và khu vực công cùng hỗ trợ lĩnh lực này, chứ không phải chỉ một trong hai Lý do này cũng phù hợp với lĩnh vực y tế Do đó, nếu các yếu tố khác như nhau, chúng ta có thể kỳ vọng rằng kiều hối sẽ làm giảm chi tiêu công trên lĩnh vực y
tế và giáo dục, sự gia tăng của kiều hối dẫn đến giảm khả năng điều chỉnh chính sách tài khóa Ngược lại, nếu kiều hối được chi tiêu trong lĩnh vực y tế và giáo dục mà khu
vực công cùng hỗ trợ, nó sẽ không có tác động đến ngân sách của chính phủ và những
biện pháp điều chỉnh chính sách tài khóa
Tóm lại, từ những kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong những năm gần đây, có
thể kỳ vọng kiều hối có tác động tích cực lên sự thành công của điều chỉnh chính sách tài khóa
Trang 322.2.3 M ối quan hệ giữa sự không thể dự báo tỷ lệ giải ngân ODA và sự điều
ch ỉnh chính sách tài khóa
Theo Celasun và Walliser (2008), những dòng ODA giải ngân có thể dự báo được
sẽ làm tăng khả năng lập kế hoạch của các nước tiếp nhận và cho phép họ thực hiện các
hoạt động tài khóa hiệu quả hơn Ngược lại, nếu dòng ODA có khả năng dự báo thấp, chính phủ sẽ rất tốn kém do phải thực hiện các điều chỉnh đầu tư và chi tiêu trong trường hợp không nhận được viện trợ hoặc nhận được nhưng tỷ lệ giải ngân thấp Hơn
nữa, Gemmell và McGillivray (1998) có nhấn mạnh rằng, sự giảm sút bất thường của dòng viện trợ sẽ kéo theo sự giảm sút trong chi tiêu và sự gia tăng thuế của chính phủ Theo nghiên cứu của Foster (2003), chi phí phát sinh do dòng viện trợ bị giảm sút
phụ thuộc vào mối liên hệ giữa khoản viện trợ và mục đích chi tiêu của chính phủ
Thực tế, khi một quốc gia nhận được dòng viện trợ, chính phủ quốc gia đó phải quyết định xem nên làm gì với khoản tiền này Chính phủ sẽ có rất nhiều lựa chọn, có thể tiết
kiệm, gia tăng chi tiêu công, chuyển trực tiếp đến khu vực tư thông qua cắt giảm thuế
hoặc thông qua chuyển giao trực tiếp, nguồn viện trợ cũng có thể được sử dụng để thay
thế tài trợ thâm hụt ngân sách trong nước hoặc kết hợp các yếu tố trên (Adam, 2006)
Giả sử chính phủ quyết định tiết kiệm hoàn toàn phần viện trợ nhận được Trong trường hợp này, dòng vốn chảy vào sẽ không ảnh hưởng đến ngân sách chính phủ và
sự không thể dự báo của chúng sẽ không có ảnh hưởng đến quyết định điều chỉnh chính sách tài khóa
Nếu nguồn giải ngân dùng để cung cấp hàng hóa và dịch vụ, một sự sụt giảm viện
trợ có thể dẫn đến thắt chặt tài khóa
Giả sử chính phủ quyết định chuyển dòng viện trợ trực tiếp đến khu vực tư Nếu thuế thương mại và thuế nội địa trong nền kinh tế đủ rộng, việc khu vực tư sử dụng khoản chuyển giao này cho tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trong nước hoặc hàng nhập
Trang 33khẩu, sẽ làm gia tăng thu nhập từ thuế của chính phủ (chủ yếu thông qua thuế nhập
khẩu, thuế giá trị gia tăng, và thuế môn bài) Kết quả là sự không thể dự báo tỷ lệ giải ngân ODA, nếu không được lường trước bởi chính phủ, sẽ dẫn đến những điều chỉnh chính sách tài khóa Ngược lại, nếu thuế nội địa trong nền kinh tế không đủ rộng để có
thể đánh thuế vào tiêu thụ hàng hóa và nếu thành phần thuế tiêu dùng trong tổng thu
nhập thuế là không lớn, khoản viện trợ trực tiếp cho việc tiêu dùng hàng hóa trong nước và hàng hóa nhập khẩu bởi sẽ không ảnh hưởng đến ngân sách Kết quả sự không
thể dự báo tỷ lệ giải ngân ODA không tác động đến ngân sách chính phủ và những quyết định để thực hiện những biện pháp điều chỉnh chính sách tài khóa
Trong trường hợp chính phủ chuyển giao cho khu vực tư nhân thông qua cắt giảm thuế, sự không thể dự báo tỷ lệ giải ngân ODA không phải là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định điều chỉnh chính sách tài khóa
Nếu chính phủ sử dụng dòng nguông ODA giải ngân để tài trợ thâm hụt trong nước, sự sụt giảm bất ngờ trong dòng viện trợ sẽ dẫn đến những biện pháp điều chỉnh chính sách tài khóa
Nếu chính phủ kết hợp những phương án khác nhau ở trên, ảnh hưởng của sự không thể dự báo lên điều chỉnh chính sách tài khóa sẽ phụ thuộc vào lựa chọn nào của chính phủ đang chiếm ưu thế
Tóm lại, tác động của sự không thể dự báo tỷ lệ giải ngân ODA lên ngân sách của chính phủ thì không chắc chắn, phụ thuộc vào mục đích sử dụng dòng ODA giải ngân này
Trang 342.3 Khung lý thuy ết
Dựa trên việc lược khảo các nghiên cứu tước, bài nghiên cứu rút ra khung lý thuyết về tác động của kiều hối và sự không thể dự báo mức giải ngân đối với sự điều
chỉnh tài khóa thông qua các biến phụ thuộc và các biến độc lập sau:
2.3.1 Bi ến phụ thuộc FCAlesina và FCHeylen
Bài nghiên cứu này sử dụng biến phụ thuộc là biến nhị phân để xác định năm có
xảy ra sự điều chỉnh tại khóa tại các nước đang phát triển Biến nhận giá trị là 1 nếu có
sự điều chỉnh tài khóa trong 1 năm cụ thể, ngược lại nhận giá trị 0 Như đã giới thiệu trong phần cơ sở lý thuyết, có 2 cách tiếp cận để xác định năm có điều chỉnh tài khóa
Theo cách tiếp cận thứ nhất, tất cả những quốc gia có mức thâm hụt nhỏ hơn một ngưỡng cụ thể được đặt ra trước được xem là có điều chỉnh tài khóa Cách tiếp cận thứ
2 đánh giá mức thay đổi hàng năm trong thâm hụt, nếu mức độ thâm hụt được cải thiện, ít nhất bằng ngưỡng được đặt ra trước thì quốc gia đó có điều chỉnh tài khóa Bài nghiên cứu này đi sâu vào cách tiếp cận thứ 2 và xem đó như định nghĩa của điều chỉnh tài khóa Theo đó, có 2 xu hướng điều chỉnh như sau:
• Biến FCA (điều chỉnh tài khóa nhanh) được đề xuất bởi Alesina và Ardragna (2010) Biến này nhận giá trị là 1 khi cán cân ngân sách cơ bản trong năm cải thiện ít
nhất 1,5% GDP Ngược lại, nhận giá trị 0
• Biến FCH (điều chỉnh dần dần) được đề xuất bởi Heylen và Everaert (2000)
Biến này nhận giá trị là 1 khi có sự cải thiện ít nhất 0,25% GDP trong cán cân ngân sách cơ bản ở năm đầu tiên, liên tục trong ít nhất 2 năm và tổng mức cải thiện của cán cân ngân sách trong giai đoạn này tối thiểu 2% GDP
Trong đó, Cán cân ngân sách (%GDP) = Tổng nguồn thu của CP – Tổng chi tiêu
của CP (Dữ liệu được thu thập từ IMF-IFS)
Trang 352.3.2 Bi ến độc lập
2.3.2.1 S ự không thể dự đoán tỉ lệ giải ngân ODA (Unpredictability)
Vargas (2005) đưa ra kết luận rằng không thể dự đoán mức độ viện trợ đối với
những quốc gia kém phát triển trong mẫu nghiên cứu của mình, mức cam kết gần như luôn vượt quá con số giải ngân thực tế và việc dự đoán mức giải ngân thực sự dựa trên cam kết ban đầu sẽ không có độ chính xác cao
Trong các tài liệu nghiên cứu thực nghiệm của Pallage và Robe (2011) về vấn đề
viện trợ đối với các nước đang phát triển, họ cũng quan sát thấy rằng tất cả các nguồn cam kết thường lớn hơn so với mức giải ngân
Celasun và Walliser (2008) đưa ra những quan sát cho thấy nhiều quốc gia nhận được mức giải ngân lớn hơn cam kết viện trợ ban đầu Điều này trái ngược với các một vài kết luận rằng mức giải ngân thường nhỏ hơn cam kết viện trợ ban đầu Đặc biệt, nó cũng mâu thuẫn với kết quả thu được từ nghiên cứu của Bulir và Hamann (2001, 2008); Pallage và Robe (2001)
Trong bài nghiên cứu này, việc đo lường khả năng không thể dự báo mức độ giải ngân ODA được dựa trên phương trình dự báo theo nghiên cứu của Levy (1987) Theo
đó, việc đo lường sự không thể dự báo mức độ giải ngân ODA được tính dựa trên chênh lệch giữa giá trị giải ngân ròng và mức cam kết viện trợ Theo Levy (1987) các
mức cam kết viện trợ trong tương lai là kết quả của quá trình đàm phán giữa nước tài
trợ và nhận viện trợ trong quá khứ Vì vậy, khoảng tiền nhận được trong thời gian t sẽ
phản ánh số tiền cam kết trong quá khứ, trừ những cam kết bị hủy bỏ và cộng thêm vào
những dòng viện trợ bất thường Cũng theo Levy (1987), nước nhận viện trợ có thể ước tính tổng giá trị giải ngân ròng có thể xảy ra của các dòng viện trợ này một khi có cam kết ODA giữa các nước
Trang 36Bài nghiên cứu này dựa trên cách tiếp cận của Levy (1987) về việc ước tính dòng
viện trợ xảy ra giữa các nước Theo đó, với một quốc gia cụ thể, bài nghiên cứu trình bày dòng viện trợ được dự đoán theo phân phối trễ của các cam kết trong quá khứ:
𝐴𝐴𝑡𝑡 = 𝛼𝛼0 + 𝛼𝛼1𝐴𝐴𝑡𝑡−1𝐶𝐶 + 𝛼𝛼2𝐴𝐴𝐶𝐶𝑡𝑡−2+ 𝛼𝛼3𝐴𝐴𝑡𝑡−3𝐶𝐶 + 𝛼𝛼4𝐴𝐴𝑡𝑡−4𝐶𝐶 + 𝑒𝑒𝑡𝑡
Trong đó:
• ACt : tổng mức cam kết giải ngân ODA ban đầu của một nước trong thời gian t
• t = 2000, … , 2013: giai đoạn nghiên cứu
• At : tổng mức giải ngân ODA ròng theo %GDP ở năm t
• 𝑒𝑒𝑡𝑡: sai số
Từ phương trình trên, có thể đo lường mức giải ngân ODA không thể dự đoán: Unpredictability = et = At− ACt
Việc ước tính công thức trên được áp dụng cho từng quốc gia trong mẫu nghiên
cứu, các giá trị phân phối trễ của cam kết giải ngân ODA được lấy độ trễ từ 1 đến 4 năm bởi vì sau 4 năm việc lấy độ trễ sẽ không mang lại ý nghĩa thống kê cho bài nghiên cứu
Trang 372.3.2.2 Ki ều hối
Biến độc lập thứ 2 mà bài nghiên cứu quan tâm đến là kiều hối Theo lý thuyết
thực nghiệm trong nghiên cứu của Ratha (2003), kiều hối được định nghĩa là một khoản tiền phi lợi nhuận của cá nhân được chuyển từ nước ngoài vào trong nước Có 3
loại kiều hối: tiền do người Việt Nam xuất khẩu lao động gửi về gia đình, họ hàng trong nước; khoản tiền bồi thường cho người lao động hoặc lương thưởng dưới dạng
tiền hoặc tương đương trả cho cá nhân làm việc ở người nước ngoài; tiền do Việt Kiều sinh sống tại các quốc gia họ nhập cư gửi về
Theo Chami và cộng sự (2008), việc lựa chọn phương pháp đo lường kiều hối là
rất quan trọng khi nghiên cứu tác động kinh tế vĩ mô của nó, họ cũng thấy rằng trong
số 3 loại kiều hối trên, tiền do người Việt Nam xuất khẩu lao động gửi về gia đình, họ hàng trong nước là phù hợp nhất với quan điểm của các nhà nghiên cứu và nhà hoạch định chính sách về dòng kiều hối Khi tranh luận về tác động của 3 loại kiều hối trên, nhiều tác giả cũng đã tìm ra những bằng chứng cho rằng kiều hối từ công nhân xuất
khẩu lao động nên được sử dụng khi thực hiện những phân tích về thống kê hay kinh
tế
Vì vậy, để thực hiện phân tích và rút ra kết luận về tác động của kiều hối đến điều
chỉnh chính sách tài khóa, bài này dựa theo nghiên cứu của Chami và cộng sự (2008),
chọn biến kiều hối dùng để đo lường tổng sản phẩm trong nước là kiều hối từ công nhân xuất khẩu lao động
Trang 382.3.2.3 ODA gi ải ngân ròng
Trong bài nghiên cứu này, biến ODA giải ngân ròng được kì vọng rằng sự đóng góp của dòng ODA giải ngân ròng vào nguồn thu chính phủ sẽ có ảnh hưởng đến việc
cắt giảm tài khóa trong quốc gia đó Những ảnh hưởng này có thể dương hay âm tùy thuộc vào việc liệu dòng viện trợ có làm tăng nguồn thu thuế và tăng chi chính phủ hay không Tuy nhiên, lý thuyết thực nghiệm không ủng hộ về việc giải ngân ODA ảnh hưởng lên nguồn thu thuế Ngoài ra, theo nghiên cứu của Chambas, Brun và Laporte (2008) bằng việc cải thiện hiệu quả chi tiêu công, nguồn giải ngân ODA có thể làm tăng việc cung cấp các dịch vụ công, từ đó làm tăng ý thức người dân trong việc đóng thuế Cũng trong giai đoạn này, Kaldor (1963) nhấn mạnh rằng một dòng giải ngân ODA quan trọng có thể làm giảm nỗ lực thu thuế của những quốc gia nhận viện trợ nếu
những chi phí xã hội liên quan là không quá lớn
Tóm lại những tác động của giải ngân ODA lên nguồn thu chính phủ vẫn chưa rõ ràng Theo đó, những tác động này lên quyết định có hay không sự điều chỉnh ngâ sách
của chính phủ vẫn còn rất mơ hồ
2.3.2.4 T ỷ giá hối đoái thực (REER)
Mục đích của việc cắt giảm tài khóa là để loại bỏ thâm hụt trong tài khoản vãng lai, điều này có thể dẫn đến các hậu quả trong nước như thất nghiệp và tăng trưởng
chậm Vì vậy, sự ổn định tài khóa nên được đi kèm với những chính sách góp phần làm tăng tỷ giá hối đoái thực (tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu)
Việc tăng tỷ giá hối đoái thực có thể tác động tích cực hay tiêu cực lên cán cân ngân sách cơ bản và vì vậy tác động lên quyết định nhằm cải thiện ngân sách tùy thuộc
cơ cấu ngân sách Mặt khác, cũng có thể có 1 tác động ngược chiều từ sự ổn định tài
Trang 39khóa đến việc tăng hay giảm tỉ giá hối đoái thực Điều này sẽ tác động đến tình hình kinh tế quốc gia đó, đặc biệt với những quốc gia đang phát triển có nguồn vốn bị giới
hạn có xu hướng giữ mức thâm hụt tài khóa nhiều hơn những nước phát triển Để tránh
mối quan hệ nhân quả từ cắt giảm tài khóa đến tỷ giá hối đoái thực Bài nghiên cứu thay biến tỷ giá hối đoái thực bằng biến tỷ giá hối đoái thực hiệu lực, lấy giá trị độ trễ 1 năm
2.3.2.5 Thâm h ụt ngân sách cơ bản, thoái vốn và nợ công trong nước
Khi một quốc gia rơi vào tình trạng thâm hụt ngân sách cơ bản, thì việc đưa ra
những điều chỉnh thích hợp để cải thiện cán cân ngân sách là rất cần thiết Tuy nhiên, thay vì sử dụng thâm hụt ngân sách cơ bản như là 1 biến trong mô hình, bài nghiên cứu
sử dụng các thành phần của nó bao gồm: nguồn thu thuế (thuế trực tiếp, thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế thương mại), nguồn thu phi thuế và chi phí cơ bản của chính phủ Bài nghiên cứu sẽ tìm hiểu xem các thành phần trên có ảnh hưởng đến sự điều chỉnh tài khóa của một quốc gia hay không Cuối cùng đưa ra kì vọng rằng khi nguồn thu từ các thành phần trên của chính phủ tăng lên sẽ làm giảm khả năng điều chỉnh chính sách tài khóa của quốc gia đó (bao gồm điều chỉnh tài khóa dần dần và điều chỉnh tài khóa nhanh)
Bên cạnh đó, kì vọng khi sự thoái vốn càng gia tăng sẽ làm tăng khả năng điều
chỉnh chính sách tài khóa của quốc gia đó Ngoài ra, việc suy giảm nguồn vốn của một
quốc gia phần lớn sẽ liên quan tới vấn đề nợ công trong nước, vì vậy bài nghiên cứu này bên cạnh việc xét sự ảnh hưởng của thoái vốn đến sự điều chỉnh tài khóa, mô hình nghiên cứu còn thêm vào biến nợ công trong nước và kì vọng rằng khi nợ công trong nước tăng lên sẽ làm tăng khả năng điều chỉnh tài khóa ở những nước đang phát triển
Trang 402.3.2.6 L ạm phát
Theo nghiên cứu của Meliz (1997) và Wyplosz (1999), có một mối quan hệ tồn
tại giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Một sự nới lỏng tiền tệ sẽ làm lạm phát tăng lên và tăng thâm hụt ngân sách, điều này sẽ làm tăng khả năng cắt giảm tài khóa của quốc gia đó Hơn nữa, sự kết hợp giữa hai chính sách trên sẽ tác động đáng
kể đến mức sản lượng (GDP), giá cả, lãi suất trong nền kinh tế Nghiên cứu của Meliz (1997) và Wyplosz (1999) cung cấp những bằng chứng rằng chính sách tài khóa mở
rộng sẽ đi cùng với chính sách tiền tệ thắt chặt vì một vài lí do sau:
• Sự mở rộng tài khóa sẽ bù đắp cho mức sản lượng bị giảm do chính sách tiền tệ
thắt chặt
• Lãi suất tăng cao do chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ làm cho những khoản nợ công của chính phủ hấp dẫn hơn những kênh đầu tư nhân Vì vậy, chính phủ sẽ dễ dàng
có được nguồn thu từ khu vực tư nhân
Trong bối cảnh đó, Von Hagen và Strauch (2001) chỉ ra rằng chính sách tiền tệ
mở rộng trong năm t làm tăng khả năng điều chỉnh chính sách tài khóa trong năm t + 1
Do đó, trong mô hình, biến lạm phát có giá trị độ trễ 1 năm
2.3.2.7 T ốc độ tăng trưởng GDP và chu kỳ kinh tế
Theo lý thuyết thực nghiệm, bài nghiên cứu kỳ vọng sự điều chỉnh tài khóa sẽ được thực hiện dưới một nên kinh tế tăng trưởng (tăng trưởng GDP cao) Tuy nhiên,
một số quốc gia buộc cắt giảm ngân sách trong điều kiện kinh tế không thuận lợi, cụ
thể là khi kinh tế tăng trưởng thấp và thiếu tài trợ Một lần nữa, để tránh tác động đồng
thời, bài nghiên cứu sử dụng biến tốc độ tăng trưởng GDP với giá trị trễ một năm