Như vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi dựa vào sự thay đổi trong ngũ phân vị về thu nhập của hộ gia đình để xác định những hộ nghèo nhanh và giàu nhanh.. 1.4 Cấu trúc của luận văn Ngoà
Trang 1LÊ LỰC QUANG
GIẢI THÍCH VIỆC GIÀU NHANH VÀ NGHÈO NHANH Ở VIỆT NAM,
GIAI ĐOẠN 2010 – 2012 Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN HOÀNG BẢO
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2015
Trang 2của TS Nguyễn Hoàng Bảo Mọi tham khảo trong luận văn được trích dẫn rõ ràng
và có độ chính xác trong phạm vi hiểu biết của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trước đây
Tác giả luận văn
Lê Lực Quang
Trang 3Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Tóm tắt
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 Các khái niệm 5
2.2 Khung sinh kế 11
2.3 Của cải và nghèo 15
2.4 Các yếu tố tác động đến thu nhập hộ gia đình 16
2.4.1 Đặc điểm về vùng 17
2.4.2 Đặc điểm địa phương 18
2.4.3 Đặc điểm hộ gia đình và cá nhân 19
2.5 Kỹ thuật phân tích hồi quy 21
2.6 Khung phân tích 22
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Dữ liệu 25
3.2 Phương pháp nghiên cứu 25
3.3 Danh sách các biến 28
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
Trang 44.1.2 Sự khác biệt về đặc điểm hộ gia đình 32
4.1.3 Sự khác biệt về đặc điểm vùng 38
4.1.4 Sự khác biệt về đặc điểm địa phương 41
4.2 Kết quả phân tích hồi quy tác động của các nhân tố lên khả năng giàu nhanh và nghèo nhanh 44
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 52
5.1 Khám phá 52
5.2 Khuyến nghị chính sách 54
5.3 Hạn chế của nghiên cứu 54 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 5Bảng 3.1: Danh sách các biến giải thích 29 Bảng 4.1: Thay đổi trong thu nhập và các thành phần của thu nhập 32
Bảng 4.2: Sự khác biệt về thay đổi quy mô hộ giữa những hộ giàu nhanh với phần
còn lại 33 Bảng 4.3: Sự khác biệt về thay đổi quy mô hộ giữa những hộ nghèo nhanh với phần
còn lại 33 Bảng 4.4: Sự khác biệt về tỷ lệ thành viên phụ thuộc giữa những hộ giàu nhanh với
phần còn lại 34
Bảng 4.5: Sự khác biệt về tỷ lệ thành viên phụ thuộc giữa những hộ nghèo nhanh
với phần còn lại 34
Bảng 4.6: Sự khác biệt về thay đổi số năm đi học bình quân của thành viên đi làm
giữa những hộ giàu nhanh với phần còn lại 35 Bảng 4.7: Sự khác biệt về thay đổi số năm đi học bình quân của thành viên đi làm
giữa những hộ nghèo nhanh với phần còn lại 36
Bảng 4.8: Sự khác biệt về tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp giữa những hộ giàu
nhanh với phần còn lại 37
Bảng 4.9: Sự khác biệt về tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp giữa những hộ nghèo
nhanh với phần còn lại 37
Bảng 4.10: Sự khác biệt về tỷ trọng thu nhập từ phi nông nghiệp giữa những hộ giàu
nhanh với phần còn lại 38 Bảng 4.11: Sự khác biệt về vị trí địa lý vùng Đồng bằng sông Hồng giữa những hộ
giàu nhanh với phần còn lại 39
Trang 6Bảng 4.13: Sự khác biệt về vị trí địa lý vùng Trung du và miền núi phía Bắc giữa
những hộ nghèo nhanh với phần còn lại 40
Bảng 4.14: Sự khác biệt về vị trí địa lý vùng Đông Nam Bộ giữa những hộ nghèo
nhanh với phần còn lại 40 Bảng 4.15: Sự khác biệt về thiên tai giữa những hộ giàu nhanh và phần còn lại 41
Bảng 4.16: Sự khác biệt về cơ sở sản xuất kinh doanh giữa những hộ giàu nhanh và
phần còn lại 42
Bảng 4.17: Sự khác biệt về trường mầm non giữa những hộ giàu nhanh và phần còn
lại 42 Bảng 4.18: Sự khác biệt về cơ sở sản xuất kinh doanh giữa những hộ nghèo nhanh
và phần còn lại 43 Bảng 4.19: Sự khác biệt về trường mầm non giữa những hộ nghèo nhanh và phần
còn lại 43 Bảng 4.20: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy 45
Bảng 4.21: Tác động của các yếu tố lên khả năng giàu nhanh/nghèo nhanh của hộ
gia đình 49 Bảng 4.22: Tác động của các yếu tố lên khả năng giàu nhanh/nghèo nhanh của hộ
gia đình ở khu vực nông thôn 50
Trang 72000 – 2012 1
Hình 1.2: Tỷ lệ nghèo tính theo chuẩn 1,90 USD 2
Hình 2.1: Phân loại các nguồn thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn 9
Hình 2.2: Phân loại nguồn thu nhập hộ gia đình theo VHLSS 2010 10
Hình 2.3: Khung phân tích sinh kế 14
Hình 2.4a: Khung phân tích (a) 23
Hình 2.4b: Khung phân tích (b) 24
Trang 8hai năm thì được gọi là giàu nhanh và ngược lại Kết quả thống kê từ 4173 hộ gia đình từ Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam VHLSS 2010 và VHLSS 2012 cho thấy, có 12% hộ gia đình giàu nhanh và có 12% hộ gia đình nghèo nhanh Nghiên cứu này khảo sát tác động của các nhân tố đến khả năng giàu nhanh và nghèo nhanh Kết quả nghiên cứu chỉ ra các nhân tố vừa tác động đến khả năng giàu nhanh và nghèo nhanh như: Quy mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc, số năm đi học trung bình, diện tích đất sản xuất, tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp, phi nông nghiệp, dân tộc
và vùng Một số yếu tố chỉ tác động lên khả năng giàu nhanh của hộ là giới tính chủ
hộ, số thiên tai và số cơ sở sản xuất kinh doanh ở địa phương
Từ khóa: Giàu nhanh, nghèo nhanh, thu nhập hộ, hồi quy binary logit
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo (hình 1.1 và hình 1.2) Tổng sản phẩm quốc nội tăng gần 400% trong giai đoạn
1990 – 2014 Tỷ lệ người nghèo đã giảm từ 49,21% năm 1992 xuống còn 3,23% năm 2012 Từng là một trong số những quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người thấp nhất thế giới, đến nay Việt Nam đã trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp với mức thu nhập đầu người hơn 2000 đô la năm 2014 Song song với việc mở cửa thị trường, nhiều cơ hội kinh doanh cũng như việc làm mới được tạo ra giúp gia tăng thu nhập cho người dân Tuy nhiên, từ cuối năm 2007, dưới ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những vấn đề nội tại của nền kinh tế trong nước, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bắt đầu chậm lại kèm với đó là sự bất
ổn của thị trường vĩ mô, chẳng hạn như suy thoái, thất nghiệp và lạm phát Bất bình đẳng thu nhập có xu hướng gia tăng, sự chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng tăng, tốc độ tạo việc làm giảm sút, nghèo đói tập trung nhiều hơn vào các nhóm dân tộc thiểu số
Nguồn: World Bank (2015)
Hình 1.1: Tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp của Việt Nam
Trang 10Nguồn: World Bank (2015)
Hình 1.2: Tỷ lệ nghèo theo chuẩn 1,90 USD (tính theo giá ngang bằng sức mua năm 2011, tính bằng phần trăm)
Trong giai đoạn 2010 – 2012, tăng trưởng kinh tế giảm từ 6,24% xuống 5,25%, mức thấp nhất kể từ năm 2000 Tỷ lệ lạm phát tăng cao trong giai đoạn này với đỉnh điểm 18,6% năm 2011 Số doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể có xu hướng gia tăng trong khi số doanh nghiệp thành lập có xu hướng giảm Việc thu hẹp hoạt động và giải thể của hàng loạt doanh nghiệp khiến nhiều lao động mất việc làm Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm còn 1,8% sau giai đoạn tăng từ năm
2008 Với diễn biến kinh tế vĩ mô như trên, đã có nhiều thay đổi trong thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình trong giai đoạn này
Trong bộ dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2012, gồm 9399 hộ lấy thông tin về thu nhập và chi tiêu, có 4173 hộ được khảo sát lại từ năm 2010 Các hộ gia đình này được phân nhóm theo ngũ phân vị về thu nhập và sắp xếp lại trên ma trận chuyển đổi như bảng 1.1 Kết quả thống kê từ bảng 1.1 cho thấy trong hai năm từ
2010 đến 2012, có 501 hộ gia đình, chiếm 12%, gia tăng ít nhất hai phân vị, tập trung ở góc phải phía trên của ma trận Haughton và các cộng sự (2001) xem những
hộ này là những ngôi sao mới nổi Trong nghiên cứu này, chúng tôi gọi đây là những hộ giàu nhanh Kết quả thống kê cũng chỉ ra 504 hộ gia đình, chiếm 12%,
Trang 11giảm ít nhất hai phân vị, tập trung ở góc trái phía dưới của ma trận Những hộ này được gọi là hộ nghèo nhanh Như vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi dựa vào sự thay đổi trong ngũ phân vị về thu nhập của hộ gia đình để xác định những hộ nghèo nhanh và giàu nhanh Đây là hướng tiếp cận nghèo (giàu) một cách tương đối Vấn đề đặt ra là điều gì đã làm cho những hộ gia đình trở nên giàu nhanh trong khi những hộ khác trở nên nghèo nhanh trong khoảng thời gian 2 năm này? Giải thích được việc giàu nhanh và nghèo nhanh giúp chúng ta hiểu được nguyên nhân dẫn đến nghèo cũng như giàu ở Việt Nam trong giai đoạn này và giúp các nhà hoạch định chính sách có những biện pháp nhằm gia tăng thu nhập, cải thiện phúc lợi cho người dân
Bảng 1.1: Ma trận chuyển đổi nhóm của các hộ gia đình giai đoạn 2010 – 2012
Số hộ gia đình chia theo ngũ phân vị về thu nhập năm 2012
Nguồn: dựa vào bộ dữ liệu bảng VHLSS 2010 và VHLSS 2012
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào phân tích tác động của ba nhóm nhân tố lên khả năng giàu nhanh và nghèo nhanh gồm: (1) những đặc điểm của hộ gia đình; (2) những đặc điểm về vị trí địa lý; và (3) những đặc điểm địa phương Những đặc điểm hộ gia đình được chia thành ba nhóm nhỏ là những đặc điểm chung của hộ; những đặc điểm riêng của chủ hộ và những đặc điểm về kinh tế hộ Những đặc điểm về vị trí địa lý bao gồm khu vực thành thị - nông thôn và các vùng địa lý của cả nước Những đặc điểm thuộc địa phương bao gồm các nhân tố về thiên tai, cở sở sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng, trường học và y tế của địa phương
Trang 12Do đó, mục tiêu nghiên cứu của luận văn là khảo sát tác động của các nhân tố sau lên khả năng giàu nhanh và nghèo nhanh của hộ gia đình giai đoạn 2010 – 2012: (1) đặc điểm hộ gia đình; (2) đặc điểm vị trí địa lý; và (3) đặc điểm địa phương
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này trả lời các câu hỏi: (1) Đặc điểm hộ gia đình; (2) đặc điểm vị trí địa lý; và (3) đặc điểm địa phương tác động như thế nào đến khả năng giàu nhanh và nghèo nhanh của hộ gia đình giai đoạn 2010 – 2012
1.4 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần giới thiệu, cấu trúc của luận văn này gồm những phần sau: phần thứ hai trình bày cơ sở lý thuyết về hộ gia đình, thu nhập hộ gia đình, các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của các đặc điểm hộ, đặc điểm vị trí địa lý, địa phương lên hộ gia đình và khung phân tích của nghiên cứu; phần thứ ba trình bày phương pháp nghiên cứu bao gồm giới thiệu về dữ liệu, mô hình nghiên cứu, và các giả thuyết về chiều tác động của các biến giải thích; phần thứ tư trình bày kết quả nghiên cứu; và phần thứ năm trình bày các khám phá, khuyến nghị chính sách và hạn chế của nghiên cứu
Trang 13CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này bắt đầu với việc làm rõ các khái niệm về hộ gia đình và thu nhập hộ gia đình Khung sinh kế và cách tiếp cận về nghèo cũng được trình bày trong phần này Tiếp theo, bài viết trình bày các nhân tố tác động đến thu nhập hộ gia đình và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan Cuối cùng, chúng tôi xây dựng khung phân tích của nghiên cứu dựa trên các cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm đã khảo lượt
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Hộ gia đình
Việc phân tích dữ liệu trong nghiên cứu này dựa vào thông tin lấy từ các hộ gia đình Mỗi hộ gia đình được xem như là một quan sát trong bộ dữ liệu Do vậy, trước tiên bài viết cần làm rõ khái niệm hộ gia đình một cách phù hợp với bối cảnh của luận
văn Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc (2008): “Một hộ gia đình được định
nghĩa là một nhóm người chia sẽ cùng nơi sinh sống, đóng góp một phần hoặc toàn
bộ thu nhập và tài sản của họ và tiêu dùng chung một số loại hàng hóa và dịch vụ,
mà chủ yếu là nhà ở và thức ăn.”
Nhìn chung, mỗi thành viên trong hộ đều có một số quyền đối với những tài sản chung của hộ gia đình Ít nhất, một số quyết định về tiêu dùng hoặc các hoạt động kinh tế khác của hộ phải được đưa ra như một quyết định thống nhất Những thành viên trong cùng hộ không nhất thiết phải cùng thuộc một gia đình Quy mô của hộ gia đình là không giới hạn Quy mô của hộ phụ thuộc vào các đặc điểm về truyền thống, tôn giáo, giáo dục, khí hậu, địa lý, lịch sử và các nhân tố kinh tế - xã hội khác Những công nhân, người giúp việc sống chung trong trong gia đình mà không được người chủ của họ xem như một phần của hộ, mặc dù vẫn chia sẽ chung nơi sinh sống và sử dụng chung một số hàng hóa, thì vẫn không được xem như là thành viên trong hộ gia đình Mặc khác, những người ở trong bệnh viện, viện dưỡng lão, hoặc
ở các tổ chức tương tự trong thời gian ngắn, những người đi làm, đi học xa ở các
Trang 14trường trung học, cao đẳng, đại học, những người ở tù trong khoản thời gian ngắn hạn vẫn được xem là những thành viên trong hộ gia đình mà họ thường sinh sống Theo định nghĩa này, mỗi hộ gia đình được xem như một đơn vị tiêu dùng hàng hóa trên thị trường
Một khái niệm khác về hộ gia đình được Liên Hiệp Quốc (1998) phát triển phục vụ
hoạt động điều tra dân số như sau: “Khái niệm hộ gia đình dựa vào sự thỏa thuận
được thực hiện bởi con người, là cá nhân hoặc nhóm tập thể, về việc cung cấp cho chính họ thức ăn và những tài sản thiết yếu khác phục vụ cho cuộc sống Một hộ gia đình có thể là: (a) một hộ gia đình một người, có nghĩa là một người tự cung cấp cho anh ta (hoặc cô ta) thức ăn và những tài sản thiết yếu khác cho cuôc sống mà không kết hợp với bất kỳ người nào khác; hoặc (b) một hộ gia đình nhiều thành viên,
có nghĩa là một nhóm từ hai người trở lên sống chung với nhau, cung cấp chung thức ăn và những tài sản thiết yếu khác cho cuộc sống Một thành viên trong nhóm
có thể đóng góp vào nguồn tài nguyên chung hoặc ngân sách chung của họ, họ có thể là những người thân hoặc không hoặc là sự kết hợp cả hai.”
Định nghĩa này không đồng nhất hai khái niệm hộ gia đình với khái niệm nơi ở Hay nói một cách khác, có thể có nhiều hộ gia đình sống chung trong một nơi ở hay một hộ gia đình có thể có những thành viên sống ở những nơi ở khác nhau Tuy nhiên, vẫn có những quốc gia đồng nhất hai khái niệm này, có nghĩa là tất cả những người sống trong một đơn vị nơi ở đều được xem là thành viên của hộ gia đình Hay nói cách khác, mỗi nơi ở tương ứng với một hộ gia đình
Theo các khái niệm ở trên có thể thấy việc xác định các thành viên của một hộ gia đình chỉ mang tính tương đối Việc xác định này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có yếu tố mục đích nghiên cứu của các nhà phân tích thống kê Theo
Tổng Cục Thống Kê Việt Nam: “Hộ gia đình là một hoặc một nhóm người ăn
chung, ở chung trong một chỗ ở từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và có chung quỹ thu chi Thời gian 12 tháng qua tính từ thời điểm tiến hành cuộc phỏng vấn trở
về trước.” Những người được coi là thành viên của hộ phải có hai điều kiện sau: (1)
Trang 15Cùng ăn, ở chung trong hộ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua; (2) Có chung quỹ thu chi, nghĩa là mọi khoản thu nhập của thành viên đều được đóng góp vào ngân sách chung của hộ và mọi khoản chi tiêu của hộ đều lấy từ ngân sách đó
Tuy nhiên, có 7 trường hợp ngoại lệ dưới đây khi xác định một người nào đó có phải là thành viên của hộ hay không: (1) Người được xác định là chủ hộ luôn được coi là thành viên của hộ gia đình, ngay cả khi người đó không ăn, ở trong hộ gia đình hơn 6 tháng; (2) Những người tuy mới ở trong hộ chưa đủ 6 tháng nhưng tương lai sẽ ở lâu dài trong hộ, kể cả có/chưa có giấy chứng nhận Những người này bao gồm: Con dâu về nhà chồng, con rể về nhà vợ, người đi làm việc, học tập, lao động ở nước ngoài, hoặc các cơ quan xí nghiệp trong nước trở về hộ, người từ lực lượng vũ trang trở về, về nghỉ hưu, nghỉ mất sức, hay các trường hợp tương tự vẫn được coi là thành viên của hộ; (3) Học sinh, sinh viên, cán bộ đi học ở nơi khác trong nước và những người đi chữa bệnh trong ngoài/nước trên 6 tháng nhưng hộ gia đình phải nuôi thì vẫn được coi là thành viên của hộ; (4) Khách, họ hàng đến chơi đã ở trong hộ gia đình 6 tháng trở lên và hộ gia đình phải nuôi toàn bộ thì được coi là thành viên của hộ; (5) Những người ở nhờ, ở trọ, người làm thuê, người giúp việc có gia đình riêng sống ở nơi khác thì mặc dầu ở chung trong một mái nhà và góp tiền ăn chung với hộ nhưng không được tính là thành viên của hộ; (6) Những người chuyển khỏi hộ có tính chất lâu dài trong 12 tháng qua không tính là thành viên của
hộ, mặc dầu họ đã sống trong hộ hơn 6 tháng; (7) Trẻ em sinh ra chưa đầy 6 tháng vẫn được coi là thành viên của hộ
Cũng theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, có nhiều kiểu hộ gia đình: (1) Hộ gia đình 2 thế hệ, gồm bố mẹ và các con của họ; (2) Hộ gia đình gồm hai ba cặp vợ chồng và không có con cái; (3) Hộ độc thân; (4) Hộ gia đình nhiều thế hệ, cấu thành
từ chủ hộ, vợ và các con của chủ hộ; bố/mẹ chủ hộ, cháu và những người khác, mà
họ có thể có quan hệ huyết thống hoặc không, cùng ăn ở chung trong một chỗ ở với thời gian 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua kể từ ngày phỏng vấn trở về trước
Trang 16Nhìn chung, hộ gia đình được xem như một đơn vị cơ bản trong xã hội Các định nghĩa ở trên cho thấy hộ gia đình là một đơn vị tiêu dùng trên thị trường Ngoài ra,
hộ gia đình còn đóng vai trò như một đơn vị sản xuất trong thị trường (Becker, 1965) Điều này có thể nhận thấy rõ nhất ở các hộ hoạt động trong khu vực nông nghiệp Hộ gia đình là đơn vị nghiên cứu đặc biệt quan trọng trong các phân tích thuộc lĩnh vực kinh tế Các mô hình kinh tế hộ gia đình có thể được chia ra làm hai loại: mô hình hộ gia đình đơn nhất và mô hình hộ gia đình tập thể (Alderman và các cộng sự, 1995) Trong mô hình hộ đơn nhất, hộ gia đình được xem như một cá thể thống nhất với sở thích riêng hoặc hai cá thể (mô hình của Becker, 1965) với các sở thích riêng trong đó có một thành viên mang sở thích chủ đạo Trong khi đó đối với
mô hình hộ tập thể, hộ gia đình gồm nhiều thành viên với những sở thích riêng biệt Quá trình đưa ra quyết định của hộ gia đình phụ thuộc vào các giả định của mỗi mô hình Trong nhiều nghiên cứu, giả định được đưa ra là các thành viên trong hộ có cùng sở thích giống nhau Như vậy, hộ gia đình được xem như một cá thể đơn nhất đưa ra quyết một cách độc lập Một số khác giả định rằng sở thích của người chủ hộ đại diện cho cả hộ Theo đó, người chủ hộ là người đưa ra quyết cuối cùng
2.1.2 Thu nhập hộ gia đình
Thu nhập của hộ gia đình là thu nhập gộp lại của các thành viên trong hộ từ các nguồn khác nhau chẳng hạn tiền lương, lợi nhuận từ đầu tư kinh doanh, tiền cho thuê cho vay, tiền lãi gửi ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định Hầu hết các nghiên cứu sử dụng thu nhập theo năm ở mức độ vi mô như khảo sát hộ gia đình hay mức độ vĩ mô như tính các tài khoản quốc gia Nắm được các nguồn thu nhập, cũng như các thành phần của thu nhập là cần thiết đối với hoạt động nghiên cứu hộ gia đình Theo Davis và Pearce (2000), đặc biệt đối với những hộ nông thôn, thu nhập hộ gia đình có thể được chia làm ba nguồn:
(1) Thu nhập nông nghiệp
(2) Thu nhập phi nông nghiệp
Trang 17(3) Thu nhập khác
Trong đó, thu nhập nông nghiệp bao gồm các nguồn thu nhập từ sản xuất và làm công ăn lương trong khu vực nông nghiệp Thu nhập phi nông nghiệp bao gồm các nguồn: (i) thu nhập từ tiền lương phi nông nghiệp, (ii) thu nhập ròng của các doanh nghiệp trong khu vực phi nông nghiệp, và (iii) thu nhập từ tiền gửi Nguồn thu nhập thứ ba bao gồm tiền lãi, tiền trợ cấp, lương hưu, tiền cổ tức
Nguồn: Davis và Pearce (2000)
Hình 2.1: Phân loại các nguồn thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn
Theo Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2014), nguồn thu nhập của hộ từ bộ
dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2010 có thể được chia làm bốn loại Thứ nhất là nguồn thu nhập từ việc tự làm chủ Nguồn thu nhập này bao
Thu nhập hộ
Thu nhập từ nông nghiệp
Thu nhập từ phi nông nghiệp
Thu nhập khác
Hoạt động sản xuất nông nghiệp
Hoạt động làm công ăn lương trong nông nghiệp
Hoạt động làm công ăn lương trong phi nông nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp
Tiền gửi
Tiền trợ cấp; tiền cổ tức;
tiền lãi gửi tiết kiệm
t
Trang 18gồm tự làm chủ ngoài nông trại và tự làm chủ tại nông trại Việc tự làm chủ ngoài nông trại gồm những hoạt động tạo thu nhập như chế biến hàng hóa để bán hoặc cung cấp dịch vụ nông nghiệp Việc tự làm chủ tại nông trại gồm những hoạt động tạo thu nhập liên quan tới vụ mùa, chăn nuôi, trồng thủy hải sản Thứ hai là việc làm công ăn lương gồm những việc liên quan tới sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp trong khu vực công nghiệp và dịch vụ Hai loại còn lại là tiền gửi và các nguồn khác
Nguồn: dựa theo Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2014)
Hình 2.2: Phân loại nguồn thu nhập hộ gia đình theo VHLSS 2010
Nguồn thu
nhập
Tự làm chủ
Tiền gửi
Nguồn khác
Làm công
ăn lương
Việc tự làm chủ ngoài nông trại
Việc làm tự chủ tại nông trại
Trang 19Trong nghiên cứu này, dựa vào bộ dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2012 của Tổng Cục Thống Kê, thu nhập hộ gia đình được chúng tôi chia làm bốn thành phần: (1) thu nhập từ tiền lương, tiền công của các thành viên; (2) thu nhập từ hoạt động nông nghiệp bao gồm thu từ trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, săn bắt thuần dưỡng chim, thú; (3) thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp bao gồm thu
từ ngành nghề sản xuất kinh doanh, dịch vụ phi nông, lâm nghiệp, thủy sản; chế biến; và (4) thu nhập từ hoạt động khác như từ cho thuê nhà ở, đất nông, lâm nghiệp, mặt nước thủy sản, và các nguồn khác như trợ cấp, tiền lãi gửi tiết kiệm
Thu nhập là một nhân tố quan trọng đo lường mức sống của hộ gia đình Việc đo lường mức sống hộ gia đình có thể dựa vào các khoản tiêu dùng hoặc dựa vào các khoản thu nhập của hộ Theo lý thuyết của Keynes (1936), khi thu nhập tăng lên, tiêu dùng cũng tăng theo nhưng với tốc độ thấp hơn so với thu nhập Trong khi đó, theo giả thuyết thu nhập dài hạn của Friedman (1957), sự gia tăng mạnh thu nhập sẽ tạo ra sự gia tăng tiêu dùng với tỉ lệ thấp hơn trong ngắn hạn Nhưng sau một giai đoạn dài hơn, tiêu dùng sẽ dần dần đạt được mức gia tăng như thu nhập Như vậy, tiêu dùng có thể phản ánh thu nhập trong dài hạn Đo lường dựa vào tiêu dùng được đánh giá là phù hợp và thuận tiện hơn để lấy thông tin trong việc khảo sát hộ gia đình Cách tiếp cận này thường dùng trong phân tích phúc lợi hộ gia đình Đo lường dựa vào thu nhập khó khăn hơn trong việc lấy chính xác thông tin, đặc biệt đối với
đo lường các thành phần chi tiết Tuy nhiên đo lường dựa vào thu nhập cho phép các phân tích một cách toàn diện về điều kiện nghèo đói và các chiến lược sinh kế của hộ gia đình
2.2 Khung sinh kế
Khung sinh kế là một công cụ giúp chúng ta hiểu được các vấn đề về sinh kế, đặc biệt là sinh kế của người nghèo Phân tích khung sinh kế làm rõ các vấn đề khác nhau của kinh kế, các chiến lược và mục tiêu theo đuổi, sự kết hợp các nhân tố cũng như sự ràng buộc giữa chúng Theo cách tiếp cận của Ellis (2000), sinh kế được xác định như những tài sản, những hoạt động và khả năng tiếp cận đến các nhân tố này
Trang 20mà quyết định cuộc sống của một cá nhân hoặc một hộ gia đình Theo đó, các tài sản và các hoạt động là những công cụ hỗ trợ và việc vận dụng các cách thức tiếp cận đến các nhân tố này giúp đạt được sinh kế Ngoài ra, các nhân tố về kinh tế, xã hội, thể chế, chính sách can thiệp của chính phủ cũng có thể tác động làm tăng hoặc giảm phúc lợi của hộ gia đình Tương tự, việc gia tăng khả năng tiếp cận với các dịch vụ công và dịch vụ xã hội cũng có thể làm gia tăng phúc lợi của hộ gia đình DFID (2004) phát triển khung phân tích sinh kế bền vững lấy con người làm trung tâm với các định nghĩa về năm loại tài sản sinh kế gồm: vốn tự nhiên; vốn vật chất; vốn con người; vốn tài chính và vốn xã hội
Vốn tự nhiên gồm các yếu tố tự nhiên như không khí, ánh sáng mặt trời, mưa, loại đất Vốn tự nhiên có mối quan hệ chặc chẽ với mức độ dễ bị tổn thương của hộ gia đình Nhiều cú sốc làm phá hũy sinh kế của người nghèo đến từ việc phá hủy nguồn vốn tự nhiên như cháy rừng, lũ lụt, động đất Tính thời vụ cũng phần lớn do yếu tố vốn tự nhiên gây ra Rõ ràng vốn tự nhiên đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sinh kế của những hộ gia đình hoạt động sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản
Vốn vật chất là sự kết hợp của cơ sở hạ tầng cơ bản và những công cụ sản xuất cần thiết để hỗ trợ cho các hoạt động sinh kế Cơ sở hạ tầng bao gồm những thay đổi trong môi trường vật chất giúp con người đáp ứng được các nhu cầu cơ bản và để có thể hoạt động hiệu quả hơn như nhà cửa, cơ sở sản xuất, đất Những công cụ sản xuất là những trang thiết bị mà con người sử dụng để làm việc với năng suất cao hơn như máy móc Sự thiếu thốn về cơ sở hạ tầng cũng như các công cụ phục vụ sản xuất có thể ngăn cản việc tiếp cận với các dịch vụ cơ bản cũng như giảm năng suất lao động và thu nhập nói chung
Vốn con người được thể hiện thông qua những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm, khả năng lao động và sức khỏe Sự kết hợp các nhân tố này giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế và đạt được mục tiêu sinh kế của họ Ở mức độ hộ gia đình, vốn con người là một nhân tố phản ánh số lượng và chất lượng lao động sẵn
Trang 21có của hộ Sự phản ánh này khác nhau tùy thuộc vào quy mô hộ, mức độ kỹ năng, khả năng lãnh đạo hay tình trạng sức khỏe của các thành viên Cũng như các nguồn lực trên, vốn con người đóng vai trò quan trọng trong sinh kế hộ gia đình
Vốn tài chính phản ánh nguồn lực tài chính mà con người sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế của họ Có hai loại vốn tài chính là nguồn dự trữ sẵn có và các dòng tiền định kỳ Các nguồn dự trữ sẵn có chẳng hạn như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các tài sản thanh khoản cao, trang sức Các dòng tiền định kỳ thường là tiền lương, tiền trợ cấp hay tiền gửi Vốn tài chính là nguồn vốn linh hoạt nhất so với những nguồn vốn còn lại Vốn tài chính có thể được chuyển đổi thành các loại nguồn vốn khác, mặc dù với các mức độ dễ dàng khác nhau tùy thuộc vào sự chuyển đổi cấu trúc và tiến trình Vốn tài chính còn được xem như là kết quả đầu ra của sinh kế Tuy vậy, đây là tài sản sinh kế thường có xu hướng ít sẵn có nhất đối với người nghèo
Vốn xã hội được đánh giá thông qua ba chỉ tiêu: Thứ nhất là mạng lưới và sự kết nối xã hội, điều mà làm tăng sự tin tưởng và khả năng làm việc cùng nhau của con người; Thứ hai là mối quan hệ của những nhóm trên mức hình thức mà thường đòi hỏi đôi bên phải cùng tuân thủ, cùng đồng ý hoặc chấp nhận các quy định và chế tài; Thứ ba là các mối quan hệ tin cậy làm giảm chi phí giao dịch Sự tin cậy lẫn nhau giúp giảm chi phí làm việc cùng nhau Điều này chỉ ra vốn xã hội có tác động trực tiếp lên các loại vốn khác Chẳng hạn, bằng cách cải thiện hiệu quả của quan hệ kinh tế, vốn xã hội giúp tăng thu nhập và tiết kiệm
Trong khi đó, các hoạt động của hộ gia đình được định nghĩa là những cách thức mà các hộ gia đình phân bổ thời gian của các thành viên để đạt được những sinh kế theo
kỳ vọng Những cách thức này có thể là: làm công ăn lương hoặc là tự làm chủ Các hoạt động có thể tại nông trại hay ngoài nông trại, trong lĩnh vực nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp Hàng hóa tạo ra dành cho thương mại mua bán, tự tiêu dùng hoặc trao đổi Các hộ gia đình sẽ dựa vào những tài sản sinh kế mà họ có để lựa chọn ra cách thức hoạt động phù hợp để đạt được chiến lược sinh kế của họ Càng có nhiều
Trang 22tài sản, cũng như nhiều loại tài sản khác nhau, hộ gia đình càng dễ dàng trong việc làm gia tăng của cải hay mức sống của họ
Vốn con người: giáo dục,
kỹ năng, kinh nghiệm
Vốn tài chính: tiền tiết
Nông nghiệp / phi nông nghiệp
Thương mại mua bán /
tự tiêu dùng, quà tặng hay trao đổi
Sự chuyển đổi cấu trúc và
tiến trình
Cấu trúc:
Mức độ can thiệp của nhà nước khu vực tư nhân tiến trình:
luật chính sách
hỗ trợ thể chế
Của cải
Được phản ảnh trong: thu nhập, tài sản tiêu dùng, chi tiêu
Trang 23Một thành phần cũng không thể bỏ qua là sự chuyển đổi trong cấu trúc và tiến trình
Sự chuyển đổi trong cấu trúc và tiến trình là các thể chế, tổ chức, các chính sách và luật pháp mà có ảnh hưởng đến sinh kế Các đặc điểm này có mặt ở tất cả các mức
độ, từ hộ gia đình cho tới khu vực quốc tế và trong tất cả các phạm vi, từ cái riêng nhất cho tới cái chung nhất Sự chuyển đổi cấu trúc và tiến trình này tác động lên khả năng tiếp cận với các loại nguồn vốn khác nhau, tác động lên chiến lược sinh kế của hộ Chúng cũng tác động đến việc chuyển đổi giữa các loại nguồn vốn cũng như hiệu quả của bất kỳ chiến lược sinh kế nào được đưa ra Chẳng hạn, một chính sách
hỗ trợ tín dụng đối với hộ nghèo có thể giúp những hộ tiếp cận với nguồn vốn tài chính một cách dễ dàng hơn và thay đổi chiến lược sinh kế theo hướng hiệu quả hơn
2.3 Của cải và nghèo
Theo World Bank (2000), “Nghèo được hiểu là sự thiếu hụt về của cải” Vậy thì
của cải được định nghĩa là gì? Và nghèo được đo lường như thế nào? Sau đây là một số tiếp cận chính khi tìm hiểu về nghèo
Thứ nhất, của cải được xem như là sự làm chủ các hàng hóa nói chung Con người trở nên giàu hơn khi họ nắm giữ nhiều hàng hóa hơn Vấn đề là một hộ gia đình hay
cá nhân có đủ hàng hóa để đáp ứng nhu cầu cần thiết của họ hay không? Theo hướng tiếp cận này, nghèo được đo lường bằng cách so sánh thu nhập hoặc chi tiêu của một cá nhân hay hộ gia đình với cái ngưỡng xác định mà dưới nó có nghĩa là nghèo Việc xác định ngưỡng nghèo này tùy thuộc vào phương thức phân loại nghèo tuyệt đối hay nghèo tương đối Đối với nghèo tuyệt đối, ngưỡng nghèo là tổng giá trị của một nhóm hàng hóa tiêu dùng đảm bảo được mức sống tối tiểu của
hộ gia đình Đối với nghèo tương đối, các hộ gia đình thường được phân theo năm nhóm thu nhập và ngưỡng nghèo được xác định dựa vào vị trí của các hộ gia đình Đây là cách tiếp cận truyền thống, nghèo được đo lường bằng tiền thông qua thu nhập hoặc chi tiêu của hộ gia đình
Trang 24Thứ hai, nghèo được xác định một cách mở rộng bởi khả năng nắm giữa những loại hàng hóa tiêu dùng hoặc dịch vụ khác nhau như lương thực, nhà ở, sức khỏe, giáo dục Việc trả lời các câu hỏi sau giúp xác định tình trạng nghèo: hộ gia đình có đủ lương thực, hoặc chỗ ở, hoặc sức khỏe, hoặc giáo dục hay không? Cách nhìn này khác với cách nhìn truyền thống ở chỗ nghèo không chỉ được đo lường dưới dạng đơn vị là tiền Nghèo có thể được đo lường trong nhiều lĩnh vực khác nhau Chẳng hạn như nghèo về dinh dưỡng được đo lường bằng cách xem xét một cá nhân có bị còi xương hay không, hay chiều cao, cân nặng có đạt chuẩn hay không
Một hướng tiếp cận khác về nghèo của Sen (1987) cũng được nhìn nhận một cách rộng rãi Ông cho rằng của cải của một cá nhân đến từ khả năng hoạt động của cá nhân đó trong xã hội Nghèo gia tăng khi con người thiếu các khả năng tiếp cận một cách đồng thời về các mặc như lương thực, nhà ở, giáo dục, y tế Vì vậy, họ thiếu thốn trong thu nhập, lương thực, giáo dục, sức khỏe, hoặc một số thứ khác Theo cách tiếp cận này, nghèo là một hiện tượng đa chiều và khó được giải quyết bới các biện pháp đơn lẻ
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng hướng tiếp cận nghèo tương đối Việc giàu nhanh và nghèo nhanh của một hộ gia đình được xác định dựa vào sự thay đổi trong phân vị về thu nhập của hộ gia đình đó
2.4 Các nhân tố tác động đến thu nhập hộ gia đình
Haughton và Khandker (2009) xác định ba nhóm nhân tố chính quyết định đến tình trạng nghèo của hộ gia đình gồm: (i) đặc điểm vùng; (ii) đặc điểm địa phương; và (iii) đặc điểm hộ gia đình và cá nhân Hai tác giả đánh giá nghèo theo hướng tiếp cận thứ nhất, có nghĩa là nghèo được đo bằng đơn vị tiền tệ thông qua thu nhập hay chi tiêu của hộ gia đình Như vậy, các nhân tố này tác động làm tăng hoặc giảm thu nhập của hộ
Trang 252.4.1 Đặc điểm về vùng
Đặc điểm vùng có tác động quan trọng lên thu nhập hộ gia đình Những hộ sống ở vùng bị cô lập về địa lý, các nguồn lực cơ bản thấp và điều kiện thời tiết khắc nghiệt thì có thu nhập thấp hơn Ngoài ra, một số đặc điểm khác cũng ảnh hưởng đến thu nhập hộ như chính sách về môi trường, chính trị, kinh tế, an ninh, tính công bằng và hiệu quả của pháp luật, sự ổn định của thị trường
Sử dụng bộ dữ liệu VHLSS trong gia đoạn từ 1992 – 1993 đến 1997 – 1998, kết quả nghiên cứu các thành phần trong thu nhập của Hoàng Văn Kính và các cộng sự (2001) cho thấy những đặc điểm về vị trí địa lý có tác động mạnh lên thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình Các đặc điểm này cũng tác động mạnh lên thu nhập bình quân mỗi giờ và số giờ làm việc bình quân của hộ Kết quả nghiên cứu của Haughton và các cộng sự (2001) cho thấy các yếu tố về mưa bão có ảnh hưởng đến
hộ gia đình trong giai đoạn 1993 – 1998 Nghiên cứu của Trương Ngọc Quang (2013) một lần nữa khẳng định tác động của các nhân tố về vùng lên thu nhập bình quân đầu người của hộ Một kết quả đáng chú ý trong nghiên cứu là khu vực thành thị có mức thu nhập cao hơn khu vực nông thôn 8% khi các nhân tố khác không đổi
Cũng sử dụng bộ dữ liệu VHLSS trong gia đoạn 1992 – 1993 và 1997 – 1998, kết quả nghiên cứu tiền lương trên thị trường lao động của Gallup (2002) cũng chỉ những khác biệt lớn giữa các vùng Tác giả nhận thấy có sự khác biệt giữa hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội với phần còn lại Hai thành phố này chỉ chiếm 8% dân số nhưng chiếm tới 25% tổng việc làm cả nước Kết quả phân tích hồi quy tiền lương theo các vùng miền cũng chỉ ra những khác biệt lớn: Tác động của việc đi học lên mức tiền lương khá thấp ở khu vực miền Trung và những vùng thành thị nhỏ, thậm chí là bằng không đối với vùng nông thôn ở miền Nam, trong khi đó tác động này lại khá cao ở những vùng nông thôn ở miền Bắc,
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Trang 26Về vấn đề cải cách thị trường, nhiều tác giả đã nghiên tác động của chính sách tự do hóa thương mại của Việt Nam đến thu nhập Seshan (2005) nhận định việc mở cửa thị trường phân bón và lúa gạo đã không tạo ra nhiều phúc lợi cho hộ gia đình cũng như giảm nghèo trong giai đoạn 1993 – 1998 Trong khi đó Nguyễn Chân, Trần Kim Dung và Ghosh (2004) nghiên cứu tác động của chính sách tự do hóa thương mại lên sự khác biệt trong thu nhập giữa nông thôn và thành thị chỉ ra những hộ gia đình ở khu vực thành thị nhận được nhiều lợi ích hơn những hộ ở khu vực nông thôn
2.4.2 Đặc điểm địa phương
Sự khác biệt về đặc điểm địa phương cũng có thể dẫn đến sự khác biệt về thu nhập của hộ gia đình Bốn nhân tố quan trọng nhất gồm: (i) Cơ sở hạ tầng như đường nhựa, chợ, trường học, trung tâm y tế, trung tâm hành chính, hệ thống điện, nước ở địa phương; (ii) Khả năng tiếp cận việc làm; (iii) Nhân tố về tự nhiên như thiên tai, hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh; và (iv) thể chế và mạng lưới xã hội ở địa phương
Nghiên cứu của Fan và các cộng sự (2000) ở Ấn Độ cho thấy việc đầu tư vào đường
sá, nghiên cứu nông nghiệp và giáo dục là những cách hiệu quả nhất để giảm nghèo
ở vùng nông thôn Các hoạt động đầu tư này không chỉ làm giảm nghèo mà còn góp phần làm gia tăng năng suất ở vùng nông thôn Trong khi đó những khoảng đầu tư vào tưới tiêu, bảo tồn đất và nước lại có tác động không đáng kể đến tăng trưởng và giảm nghèo Việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng vận tải, truyền thông, giáo dục và sức khỏe có thể giúp thúc đẩy phát triển các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp
ở khu vực nông thôn (Siegel, 2005)
Nhiều nghiên cứu ở Việt Nam sử dụng bộ dữ liệu VHLSS giai đoạn 1992 – 1993 và
1997 – 1998 cũng chỉ ra tác động của các đặc điểm địa phương lên thu nhập Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến thu nhập của Hoàng Văn Kính và các cộng
sự (2001) chỉ ra những hộ gia đình ở địa phương có đường nhựa đi qua thì có thu nhập cao hơn 16% so với những hộ gia đình còn lại Nghiên cứu của Haughton và
Trang 27các cộng sự (2001) cũng cho thấy những hộ gia đình nằm trong vùng có trường trung học và cơ sở sản xuất kinh doanh trong bán kính 10 km thì có nhiều khả năng trở thành những hộ “ngôi sao mới nổi” hơn
Kozel và Parker (2000) chỉ ra vai trò của vốn xã hội ở các ngôi làng miền bắc Ấn
Độ Nghiên cứu cho thấy những người nghèo có mối quan hệ xã hội ít hơn so với người không nghèo Một nghiên cứu khác của Fafchamps và Minten (1998) chỉ ra chi phí giao dịch có thể giảm đi nếu như tồn tại mối quan hệ thân thiết giữa các bên giao dịch Tạ Thị Thùy Dương (2012) một lần nữa khẳng định vai trò của vốn xã hội đối với các hộ gia đình Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố vốn xã hội – dưới dạng niềm tin và người bảo lãnh – có ảnh hưởng tích cực lên khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam
2.4.3 Đặc điểm hộ gia đình và cá nhân
Đặc điểm hộ gia đình và cá nhân có thể được chia làm ba nhóm: (i) đặc điểm nhân khẩu học;(ii) đặc điểm về kinh tế; và (iii) đặc điểm về xã hội
Thứ nhất, những đặc điểm về nhân khẩu học: Những chỉ số về quy mô và cấu trúc
hộ gia đình đóng vai trò quan trọng đối với tình trạng nghèo của hộ Thành phần cấu tạo của hộ gia đình thường khác nhau giữa những hộ nghèo và không nghèo Ở hầu hết các quốc gia, những hộ gia đình nghèo thường có xu hướng có nhiều thành viên hơn những hộ giàu Tỷ lệ phụ thuộc là tỷ lệ các thành viên không tham gia vào lực lượng lao động trên tổng các thành viên của hộ Những thành viên này có thể là trẻ
em hoặc người già Chỉ số này cho phép đo lường gánh nặng về ngân sách lên những thành viên lao động trong hộ Ngoài hai chỉ số trên, một chỉ số khác được xem là có tác động lên tình trạng nghèo của hộ gia đình là giới tính của chủ hộ, với
kỳ vọng những hộ gia đình có chủ hộ là nữ thì nghèo hơn những hộ có chủ hộ là nam
Thứ hai, những đặc điểm về kinh tế: Những đặc điểm quan trọng nhất là công việc
của hộ và những tài sản thuộc sở hữu riêng của hộ gia đình Một vài chỉ số về công
Trang 28việc của hộ như các thành viên có được tuyển dụng làm việc không, họ làm việc bao nhiêu giờ, họ có nhiều công việc không, và họ có thường xuyên thay đổi công việc không Trong khi đó, tài sản của hộ gia đình gồm có những hàng hóa hữu hình như đất ở, đất sản xuất, vật nuôi, trang thiết bị nông nghiệp, máy móc, nhà cửa, các dụng cụ trong hộ, những hàng hóa lâu bền khác và những tài sản tài chính như tiền mặt, tiền tiết kiệm
Thứ ba, những đặc điểm về xã hội: Một số chỉ số về đặc điểm xã hội của hộ có
tương quan chặc chẽ với mức sống của hộ gia đình Những đặc điểm phổ biến nhất thường được xem xét là sức khỏe, giáo dục và chổ ở Có bốn loại chỉ số thường được sử dụng để mô tả đặc điểm sức khỏe trong phân tích mức sống hộ gia đình: (1) Tình trạng về dinh dưỡng chẳng hạn như các chỉ số đo lường về cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, và cân nặng theo chiều cao; (2) Tình trạng bệnh tật chẳng hạn như tỷ lệ tử vong của trẻ em và trẻ sơ sinh, tỷ lệ mắc bệnh liên quan đến sốt rét, nhiễm trùng đường hô hấp, tiêu chảy, bại liệt; (3) Khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe chẳng hạn như trung tâm chăm sóc sức khỏe cơ sở, bệnh viện và nhà thuốc, nhân viên y tế cơ sở, y tá, nữ hộ sinh, bác sĩ; và dịch vụ y tế như tiêm chủng vắc xin và tiếp cận với thuốc và các thông tin y tế; (4) Việc sử dụng các dịch vụ trên
của các hộ gia đình nghèo và không nghèo
Có ba loại chỉ số thường được sử dụng để mô tả đặc điểm giáo dục trong phân tích mức sống hộ gia đình Các chỉ số này gồm mức độ giáo dục đạt được của các thành viên trong gia đình, khả năng tiếp cận với dịch vụ giáo dục Nơi cư trú đề cập đến không gian sống riêng của hộ gia đình Nơi cư trú được đánh giá dựa vào ba thành phần: nhà ở, các dịch vụ, và môi trường Các chỉ số về nhà ở như kích thước, loại vật liệu; nhà thuê hay thuộc quyền sở hữu và trang thiết bị trong nhà Các chỉ số về dịch vụ như việc sử dụng điện, nước, các dịch vụ truyền thông Các chỉ số về môi trường liên quan tới hệ thống vệ sinh và mức độ an ninh
Trang 29Nhiều nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu VHLSS của Việt Nam khẳng định vai trò quan trọng của các đặc điểm của hộ và cá nhân lên thu nhập của hộ gia đình (Hoàng Văn Kính và các cộng sự , 2001;Haughton và các cộng sự, 2001; Bùi Thái Quyên
và các cộng sự, 2001; Trương Ngọc Quang, 2013; Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh, 2014; ) Ở quy mô nhỏ hơn, Nguyễn Minh Hà và các cộng sự (2013) cũng chỉ
ra tác động của các nhân tố trong nhóm này lên khả năng tái nghèo của hộ gia đình
ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp Các nhân tố được sử dụng trong các nghiên cứu này là quy mô hộ, giới tính chủ hộ, tuổi, công việc, trình độ giáo dục, kinh nghiệm của các thành viên Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu chỉ ra thu nhập của
hộ gia đình sẽ tăng lên khi có ít thành viên hơn, tỷ lệ phụ thuộc thấp hơn, các thành viên có trình độ giáo dục cao hơn Đặc biệt nghiên cứu của Bùi Thái Quyên và các cộng sự (2001) nhấn mạnh trình độ giáo dục của các thành viên có tác động quan trọng lên thu nhập theo hai cách: Thứ nhất, trình độ học vấn cao hơn cho phép con người có thể lựa chọn theo đuổi những công việc phù hợp với những lợi ích cao hơn Thứ hai, trình độ giáo dục cao hơn giúp gia tăng hiệu quả trong bất kỳ hoạt động nào
2.5 Kỹ thuật phân tích hồi quy
Những thông tin từ thống kê mô tả dưới dạng biểu đồ hay bảng số liệu có ý nghĩa quan trọng trong việc mô tả hình ảnh của hộ nghèo Tuy nhiên, thống kê mô tả là không đủ khi chúng ta muốn xem xét tác động của một nhân tố nhất định lên thu nhập của hộ trong khi kiểm soát các nhân tố khác không đổi Haughton và Khandker (2009) đề xuất phương pháp phân tích hồi quy để đánh giá tác động của các nhóm nhân tố trên lên thu nhập đầu người của hộ gia đình
Các tác giả đề xuất hai loại mô hình hồi quy trong phân tích nghèo: Loại thứ nhất, giải thích mức thu nhập bình quân đầu người của hộ: biến phục thuộc được xem như một hàm số của các biến giải thích, là các đặc điểm được trình bày ở phần trên Loại thứ hai, giải thích liệu một hộ gia đình có nghèo hay không Trong trường hợp này, các biến giải thích vẫn như cũ nhưng biến phụ thuộc là biến nhị phân Đối với
Trang 30loại thứ hai, biến phụ thuộc nhận giá trị bằng 1 nếu hộ gia đình thuộc nhóm nghèo
và bằng 0 nếu ngược lại Chúng ta có thể áp dụng mô hình sác xuất tuyến tính với phương pháp hồi quy OLS cho trường hợp này Tuy nhiên, kết quả hồi quy tỏ ra không phù hợp vì các giá trị dự báo của phương trình trong nhiều trường hợp có thể lớn hơn 1 hoặc nhỏ hơn 0 Mô hình hồi quy binary logit với phương pháp ước lượng hợp lý cực đại được ưu tiên sử dụng hơn trong những trường hợp này
2.6 Khung phân tích
Dựa vào các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm có liên quan được trình bày ở trên, chúng tôi xây dựng khung phân tích đánh giá tác động của các nhân tố lên khả năng giàu nhanh cũng như nghèo nhanh của các hộ gia đình
Các nhân tố tác động lên hộ gia đình được chia làm ba nhóm: (1) Đặc điểm hộ gia đình; (2) Các đăc điểm vị trí địa lý; (3) Đặc điềm địa phương Riêng đối với nhóm đặc điểm hộ gia đình, các nhân tố được chia thành ba nhóm nhỏ là các đặc điểm chung của hộ, các đặc điểm riêng của chủ hộ và các đặc điềm về kinh tế hộ
Trang 31Hình 2.4a: Khung phân tích (a)
Trang 32Hình 2.4b: Khung phân tích (b)
Trang 33CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này gồm ba phần: dữ liệu, phương pháp nghiên cứu và các biến trong mô hình Số liệu phục vụ nghiên cứu được rút trích ra từ bộ dữ liệu Khảo sát mức sống
hộ gia đình Việt Nam 2010 và 2012 Về phương pháp nghiên cứu, bài viết sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp với phân tích mô hình hồi quy binary logit Cuối cùng, các biến trong mô hình được xác định một cách chi tiết cùng với giả thuyết về chiều tác động của các biến giải thích
3.1 Dữ liệu
Để đánh giá mức sống phục vụ hoạt động hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Tổng cục Thống kê, với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới và Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, đã tiến hành nhiều cuộc điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình Từ năm 2002 đến 2012, Tổng cục Thống kê đã tiến hành thực hiện các cuộc Khảo sát mức sống hộ gia đình một cách định kỳ 2 năm một lần
Số liệu phục vụ trong nghiên cứu lấy từ hai bộ dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam VHLSS 2010 và VHLSS 2012 Bộ dữ liệu VHLSS 2010 gồm thông tin về thu nhập và chi tiêu của 9402 hộ gia đình Bộ VHLSS 2012 gồm thông tin của 9399 hộ gia đình và 2219 xã có hộ khảo sát Trong số 9402 hộ trong VHLSS
2010 có 4173 hộ được khảo sát lại trong VHLSS 2012 Tất cả các phân tích trong bài viết đều được lấy từ bộ dữ liệu bảng tổng hợp của 4173 hộ này trong giai đoạn
2010 – 2012
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết kết hợp sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích hồi quy binary logit trong nghiên cứu này Trong quá trình tính toán, chúng tôi giả định chi tiêu phản ánh thu nhập trong dài hạn Thay vì sử dụng thu nhập bình quân đầu người để phân chia hộ gia đình theo ngũ phân vị thì bài viết này sử dụng chỉ số chi tiêu bình
Trang 34quân đầu người của hộ Chúng tôi cho rằng việc đo lường thu nhập một cách chính xác thì khó khăn hơn chi tiêu Đo lường thu nhập phức tạp, nhiều biến quan sát hơn
so với chi tiêu Ngoài ra, một khó khăn trong đo lường thu nhập đến từ sự “chân thật” của hộ gia đình
Để so sánh sự thay đổi thu nhập của các hộ gia đình, các nhà nghiên cứu thường chia thu nhập thành ba thành phần gồm thu nhập mỗi giờ, số giờ làm việc bình quân của mỗi thành viên, và tỷ lệ lao động của mỗi hộ:
Trong đó:
: thu nhập bình quân đầu người hằng năm của hộ
: thu nhập bình quân mỗi giờ của hộ
: số giờ làm việc trung bình của mỗi lao động trong hộ
: tỷ lệ thành viên đang làm việc trong hộ
Sự thay đổi trong thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình có thể được xem là
do sự thay đổi trong ba thành phần này gây ra Những phân tích sâu hơn về các nhân tố cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập hộ được thực hiện nhằm so sánh sự khác biệt giữa các hộ giàu nhanh và nghèo nhanh với phần còn lại cũng như tác động của các nhân tố này lên việc làm giàu nhanh và nghèo nhanh Các nhân tố
cơ bản này được chia làm ba nhóm chính bao gồm nhóm biến đặc điểm hộ gia đình, nhóm biến về đặc điểm vị trí địa lý và nhóm biến về đặc điểm địa phương Trong
Trang 35phân tích thống kê mô tả, bài viết sử dụng kiểm định chi_quare để kiểm định sự khác biệt về các đặc điểm giữa những hộ giàu nhanh, nghèo nhanh với phần còn lại Trong phân tích hồi quy, chúng tôi xây dựng hai mô hình hồi quy binary logit nhằm giải thích tác động của các nhân tố lên khả năng giàu nhanh và nghèo nhanh của hộ gia đình Trong mỗi mô hình gồm có hai phương trình hồi quy Thứ nhất là phương trình hồi quy với mẫu quan sát tổng thể xem xét tác động của các biến đặc điểm hộ gia đình và vị trí địa lý lên khả năng giàu, nghèo nhanh Thứ hai là phương trình hồi quy với mẫu quan sát ở khu vực nông thôn để xem xét tác động của các biến đặc điểm địa phương lên hộ gia đình
Mô hình thứ nhất lấy mẫu quan sát gồm các hộ gia đình thuộc hai nhóm thu nhập thấp nhất ở thời điểm năm 2010 Biến phụ thuộc là biến nhị phân, nhận giá trị bằng
1 nếu một hộ gia đình có sự gia tăng ít nhất hai phân vị thu nhập vào năm 2012, và bằng 0 nếu ngược lại Các biến giải thích thuộc ba nhóm biến về đặc điểm hộ, vị trí địa lý và đặc điểm địa phương
Log [pi/(1- pi)] ∑ jXij + ui
Trong đó : pi bằng 1 nếu hộ gia đình thứ i là hộ giàu nhanh, và bằng 0 nếu hộ đó không phải là hộ giàu nhanh; Xij là các biến độc lập thứ j của hộ gia đình i ; α và βj
là các hệ số hồi quy ; ui phần dư của mô hình
Tương tự, mô hình thứ hai gồm các hộ gia đình thuộc hai nhóm thu nhập cao nhất ở thời điểm năm 2010 Biến phụ thuộc bằng 1 nếu một hộ gia đình giảm ít nhất hai phân vị thu nhập vào năm 2012 và bằng 0 nếu ngược lại Các biến giải thích được giữ nguyên như mô hình đầu
Trong nghiên cứu này, mô hình hồi quy được xây dựng theo hướng tiếp cận từ đơn giản đến phức tạp Nghiên cứu cũng xem xét tác động của các biến tương tác lên các hộ gia đình Để kiểm tra xem nên sử dụng phương trình hồi quy logit đầy đủ hay phương trình hồi quy áp đặt, bài viết sử dụng thống kê chi – square với giả