Trong đề tài này, tác giả xin giới hạn về đối tượng và phạm vi nghiên cứu lại như sau: V ề đối tượng nghiên cứu _ Luận văn tập trung nghiên cứu về KTTN, tiến hành thu thập dữ liệu thứ c
Trang 1HUỲNH HIỆP NHÂN
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẾN NĂM 2025
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số : 60310102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
T p Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 2c ủa tác giả, không sao chép công trình khác Nếu có gì sai sót, tác giả xin chịu trách nhi ệm trước pháp luật của nhà nước
Tác giả
HU ỲNH HIỆP NHÂN
Trang 3Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ cái viết tắt
D anh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài 1
Tình hình nghiên cứu 2
Mục đích nghiên cứu 5
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
Phương pháp nghiên cứu 6
Kết cấu nghiên cứu 6
NỘI DUNG 7
Chương 1 : Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế tư nhân 1.1 Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân 7
1.1.1 Sở hữu tư nhân 7
1.1.2 Kinh tế tư nhân 10
1.1.3 Đặc điểm và bản chất của kinh tế tư nhân 12
1.2 Tính tất yếu khách quan của quá trình phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta 14
1.3 Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân 15
1.4 Vai trò tích cực và hạn chế của kinh tế tư nhân 17
1.5 Phát triển kinh tế tư nhân 19
1.5.1 Nội dung lý thuyết về phát triển kinh tế tư nhân 19
1.5.2 Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân 21
1.5.3 Tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế tư nhân 22
1.5.3 Nhân tố tác động đến phát triển kinh tế tư nhân 23
1.6 Tình hình phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta trong thời gian qua và bài học kinh nghiệm 25
Trang 4Tóm tắt chương 1 37
Chương 2 : Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân tại Tp.HCM giai đoạn 2005 - 2013 2.1 Những đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tư nhân tại Tp.HCM 38
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 38
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 39
2.2 Khái quát quá trình phát triển của kinh tế tư nhân tại Tp.HCM 42
2.2.1 Trước năm 1975 42
2.2.2 Từ 1975 đến 1986 43
2.2.3 Từ 1986 đến 2004 45
2.3 Những nhân tố tác động đến phát triển kinh tế tư nhân tại Tp HCM 46
2.4 Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân tại Tp HCM giai đoạn 2005 - 2013 47
2.4.1 Số lượng doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân đang hoạt động 47
2.4.2 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân 49
2.4.3 Tình hình lao động và thu nhập của các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân 54
2.4.4 Tình hình đóng góp của các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân vào lĩnh vực ngân sách 55
2.5 Đánh giá sự phát triển của kinh tế tư nhân tại Tp HCM giai đoạn 2005 - 2013 55
2.5.1 Những thành tựu và nguyên nhân của nó 55
2.5.2 Những tồn tại và nguyên nhân của nó 57
Tóm tắt chương 2 65
Chương 3 : Quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tại Tp HCM đến năm 2025
Trang 53.1.2 Định hướng về phát triển kinh tế tư nhân tại Tp HCM 67
3.1.3 Mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân tại Tp HCM 68
3.2 Dự báo về xu hướng phát triển kinh tế tư nhân tại Tp HCM và các hệ quả 69
3.2.1 Dự báo về xu hướng phát triển của kinh tế tư nhân tại Tp.HCM 69
3.2.2 Các hệ quả đến tư xu hướng phát triển của kinh tế tư nhân tại Tp.HCM 74
3.3 Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tại Tp HCM 76
3.3.1 Hỗ trợ các doanh nghiệp quy mô nhỏ 76
3.3.2 Khuyến khích đa dạng hóa ngành nghề hoạt động 78
3.3.3 Khắc phục tình trạng phân biệt đối xử 79
3.3.4 Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước ở khu vực kinh tế tư nhân 81
3.3.5 Khắc phục hạn chế nội tại của doanh nghiệp khu vực tư nhân 83
Tóm tắt chương 3 85
KẾT LUẬN 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6CSVN Cộng sản Việt Nam
Trang 7giai đoạn 2006 - 2011 53
Trang 8Biểu đồ 1.2: Giá trị TSCĐ và ĐTDH của DN giai đoạn 2005 - 2014 29 Biểu đồ 2.1: Số doanh đang hoạt động tại Tp.HCM giai đoạn 2009 - 2014 48
Trang 9M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài nghiên cứu
Đã 25 năm trôi qua kể từ khi Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI (vào năm 1986) lần đầu tiên đề cập đến việc cải cách, sửa chữa những sai lầm trong
quản lý và điều hành đất nước với tên gọi là "Đổi Mới" Mà trong đó đổi mới về kinh tế đóng vai trò rất quan trọng
Trước "Đổi Mới" chúng ta áp dụng mô hình kinh tế chỉ huy tập trung, mô hình
mà vốn dĩ quá phụ thuộc vào tính chủ quan duy ý chí trong việc điều hành, xa rời tính tất yếu và các tín hiệu vận hành của thị trường, tập trung vào việc phát triển thành phần kinh tế nhà nước và thành phần kinh tế tập thể, thủ tiêu hoặc hạn chế tối
đa đến mức có thể các thành phần kinh tế khác như KTTN ; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Chủ trương về "Đổi Mới" đã công nhận sự tồn tại và tính khách quan vốn có
của KTTT, chúng ta tiến hành nghiên cứu và dần dần thực hiện mô hình KTTT định hướng XHCN Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, kinh tế có VĐTNN cũng
lần lượt được công nhận Chính sự đột phá đó đã giúp cho những thành phần kinh tế này phát huy được thế mạnh vốn có của mình, mà đặc biệt là thành phần KTTN
Từ năm 2000, khi "Luật doanh nghiệp 1999" ra đời và có hiệu lực, thành phần KTTN đã thể hiện được sức mạnh của mình khi liên tục có những đột phá mang tính nhảy vọt Từ bước ngoặt đó KTTN đã đóng 1 vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước Tiềm năng của thành phần kinh tế này còn
rất lớn Vấn đề sắp tới là cần phải phát huy và khai thác tối đa nguồn lực hiện có
của khu vực này Qua đó phục vụ cho sự phát triển chung của kinh tế quốc gia, nâng cao đời sống cho nhân dân
Là một bộ phận của kinh tế Việt Nam, và đồng thời cũng chính là đầu tàu của
cả nước về lĩnh vực kinh tế Tp HCM với 24 quận, huyện trực thuộc, có một vị trí đặc biệt quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Đồng thời cũng chính
là địa phương có KTTN lớn nhất cả nước về số lượng doanh nghiệp cũng như quy
mô hoạt động, KTTN trên địa phàn Tp HCM có truyền thống năng động trong
Trang 10trong sản xuất kinh doanh, có những lợi thế nhất định trong việc tiếp cận và giao thương với các đối tác nước ngoài Trong những năm vừa qua đã chứng kiến các đóng góp rất đáng kể của KTTN vào sự phát triển chung của kinh tế thành phố Mà
cụ thể là lên đến 42% GPD toàn thành , giải quyết công ăn việc làm cho 80% dân
cư và góp phần đáng kể vào ngân sách của địa phương (Nguyễn Văn Sáng, 2009)
Tuy nhiên, bênh cạnh những mặt tích cực đó thì khu vực KTTN tại Tp HCM cũng đang gặp phải rất nhiều khó khăn, hạn chế và bộc lộ những mặt yếu kém Vấn
đề được đặt ra ở đây là Tp.HCM cần làm gì để khai thác và huy động các nguồn lực
hiện có của khu vực kinh tế này để góp phần vào tiến trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu thực trạng phát triển cũng như làm rõ hơn vai trò của KTTN trong tiến trình phát triển kinh tế của đất nước là hết sức cần thiết Từ
đó kịp thời có những giải pháp phát huy những mặt mạnh, hạn chế những tác động tiêu cực, đề xuất các chính sách thúc đẩy KTTN phát huy hết sức mạnh
Với những mong muốn trên, đồng thời góp phần vận dụng lý luận của chủ nghĩa Marx Lenin và quan điểm của Đảng CSVN vào thực tiễn tại địa phương đang sinh sống là Tp HCM Tác giả lựa chọn đề tài: "PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN T ẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2015" làm luận văn cao
học
2 Tình hình nghiên c ứu
Cho đến nay đã có 1 số tác giả thực hiện các công trình NCKH, đề tài luận văn
thạc sĩ, tiến sĩ về chủ đề phát triển kinh tế tư nhân bao gồm :
Sách tài liệu tham khảo
1) Trịnh Thị Hoa Mai (2006), Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình h ội nhập, NXB Thế Giới Tác phảm phân tích đánh giá vai trò
của khu vực KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với tiến trình hội nhập, đồng thời đề xuất những giải pháp phát triển KTTN tại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 112) Nguyễn Minh Phong (2004), Phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thành ph ố Hà Nội NXB Chính Trị Quốc Gia Tác phẩm đi sâu vào
phân tích quá trình hình thành và phát triển thành phần KTTN ở thủ đô trên cơ sở những đặc trưng về kinh tế, văn hóa và xã hội của địa phương Cùng đó là những giải pháp mang tính đặc thù cho Hà Nội trong vấn đề này
3) Đinh Thị Thơm (2005), Kinh tế tư nhân Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới, thực trạng và những vấn đề đặt ra, NXB Khoa học - Xã
Hội, Hà Nội Tác phẩm chủ yếu nhấn mạnh đến quá trình tồn tại và phát triển của kinh tế tư nhân ở Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới, phân tích những thành tựu đạt được Những yếu kém cần khắc phục cùng với những giải pháp để phát triển kinh tế tư nhân
4) Nguyễn Văn Thức (2004), Sở hữu lý luận và vận dụng ở Việt Nam,
NXB Khoa học - Xã Hội, Hà Nội Tác phẩm trình bày và phân tích
những vấn đề lý luận và thực tiễn của sở hữu tư liệu sản xuất trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
5) Nguyễn Thanh Tuyền, Lương Minh Cừ, Nguyễn Quốc Tế (2006), Sở
h ữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, Hà Nội
Đây là sự tổng hợp của gần 50 bài viết hội thảo khoa học nhằm phân tích và làm rõ những luận cứ khoa học về sự tồn tại khách quan của sở
hữu tư nhân và KTTN Từ đó đề ra những giải pháp phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN
Trang 122) Hoàng Nguyễn Hồng Hòa (2003), Tình hình phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn TP HCM - những vấn đề đặt ra và giải pháp,
Luận văn thạc sĩ trường Đại Học Kinh Tế Tp HCM Tác phẩm đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của thành phần kinh tế tư nhân tại
Tp HCM trong giai đoạn đầu của thiên niên kỷ mới
3) Lưu Thị Thái Tâm (2007), Thực trạng và giải pháp phát triển kinh
t ế tư nhân tỉnh An Giang : Luận văn thạc sĩ Trường Đại Học Kinh Tế
Tp HCM Tác phẩm đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của thành phần kinh tế tư nhân tại An Giang
4) Hoàng Thanh Tân (2000), M ột Số Giải Pháp Hỗ Trợ Phát Triển Doanh Nghi ệp Vừa và Nhỏ Khu Vực Kinh Tế Tư Nhân Trên Địa Bàn Thành Ph ố Hồ Chí Minh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Luận văn
thạc sĩ Trường Đại Học Kinh Tế Tp HCM Luận văn tập trung vào các
giải pháp về tài chính, nhân sự và điều hành nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ đạt được hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh
5) Hoàng Thị Thu Hiền (2011), Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm phát tri ển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, Luận văn
thạc sĩ Đại học Kinh tế TP HCM Tác phẩm tập trung vào quá trình hình thành và vận động của thành phần kinh tế tư nhân tại Đồng Nai Cùng các giải pháp tác động đến môi trường hoạt động nhắm thúc đẩy
sự phát triển của thành phần KTTN tại địa phương
6) Nguyễn Hữu Trinh (2011), Phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình công nghi ệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011-2020 , Luận văn thạc sĩ Đại học Kinh tế TP HCM Tác
phẩm đề cập đến thành phần KTTN tại Tp HCM trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra Bên cạnh đó là các yêu cầu cần
thực hiện để phát triển thành phần kinh tế này trong bối cảnh hiện tại
Trang 13Luận án tiến sĩ
1) Nguyễn Văn Sáng (2009), Xu hướng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn TP Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
Luận án tiến sĩ Trường Đại Học Kinh Tế Tp HCM
Công trình nghiên cứu khoa học
1) Nguyễn Minh Tuấn (2005), Vai trò, thực trạng và giải pháp phát tri ển kinh tế tư nhân trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, Đề tài NCKH Trường Đại Học Kinh Tế TP HCM Trong công trình này, tách giả
tập trung vào phân tích đánh giá các đóng góp của KTTN vào tình hình phát triển kinh tế xã hội nói chung trên địa bàn thành phố Cùng với đó
là những thuận lợi, khó khăn bên cạnh những giải pháp được tác giả đưa ra rất chi tiết
2) Hồ Trọng Viện (2007), Vai trò, thực trạng và giải pháp phát triển kinh t ế tư nhân trên địa bàn thành Phố Hồ Chí Minh, Đề tài NCKH
Công trình này được tác giả đề cập sâu đến vấn đề quản lý của nhà nước đến với thành phần KTTN Làm rõ những điểm còn hạn chế và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý của nhà nước đến với thành phần KTTN ở thành phố
Tóm lại các công trình khoa học trên chưa nghiên cứu thực trang phát triển của KTTN đến giai đoạn 2013 và đề ra giải pháp đến năm 2025 Do đó luận văn của tác
giả sẽ tập trung vào nghiên cứu KTTN ở giai đoạn này
3 M ục đích nghiên cứu
Xây dựng khung lý luận của đề tài, làm rõ các vấn đề có liên quan đến KTTN; Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển của KTTN trên địa bàn Tp HCM trong giai đoạn 2005 - 2013;
Dự báo xu hướng vận động của thành phần KTTN trên địa bàn Tp HCM trong
thời gian sắp đến Đề xuất 1 số giải pháp cơ bản về quản lý phát triển thành phần KTTN tại Tp HCM đến năm 2025
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trang 14KTTN là khái niệm rộng lớn, sâu sắc cả về phương diện nhận thức lý luận lẫn
và cả về khảo sát điều tra Vì vậy, do khả năng và điều kiện có hạn Trong đề tài này, tác giả xin giới hạn về đối tượng và phạm vi nghiên cứu lại như sau:
V ề đối tượng nghiên cứu
_ Luận văn tập trung nghiên cứu về KTTN, tiến hành thu thập dữ liệu thứ cấp
về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp của khu vực tư nhân bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh; công ty TNHH; công ty cổ phần (bao gồm hình thức cả công ty cổ phần có vốn đầu tư của nhà nước nhưng dưới 50% vốn điều lệ)
_ Với lĩnh vực hoạt động gồm : Nông - lâm - thủy sản ; công nghiệp xây dựng
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tác giả sử dụng các phương pháp nghiên như:
_ Duy vật biện chứng;
_ Trừu tượng hóa khoa học;
_ Logic kết hợp với lịch sử;
_ Phương pháp nghiên cứu tại bàn
6 K ết cấu của luận văn
Theo dự kiến thì đề tài nghiên cứu bao gồm 3 chương là
_ Chương 1 : Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế tư nhân
_ Chương 2 : Thực trạng phát triển kinh tư nhân trên địa bàn Tp HCM giai đoạn 2005 - 2013
_ Chương 3 :Quan điểm và giải pháp phát triển Kinh tế tư nhân tại Tp HCM đến năm 2025
Trang 15Chương 1 : Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế tư nhân
1.1 Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân
1.1.1 S ở hữu tư nhân
"S ở hữu" là một phạm trù kinh tế vừa có tính chất xuất phát điểm vừa cơ bản
của kinh tế chính trị học Nếu chúng ta xem chiếm hữu là một hoạt động có tính tự nhiên của con người nhằm khai phá và chinh phục thiên nhiên rồi từ đó tạo ra được
của cải vật chất Thì sở hữu cũng chính là hình thức xã hội của chiếm hữu
Quan niệm của K.Marx về sở hữu (tư hữu) với tư cách là nội dung cơ bản, mang tính quyết định trong ba nội dung của quan hệ sản xuất Cụ thể theo ông quan
niệm về sở hữu như sau:
_ Sở hữu là một điều kiện của sản xuất, là nền móng của toàn bộ kết cấu xã
hội, do đó, của mọi hình thái đặc thù nhất định của nhà nước;
_ Quan hệ sở hữu biến đổi theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; _ Quan hệ sở hữu quyết định quan hệ phân phối
Các quan điểm này được trình bày ở nhiều tác phẩm Trong đó, có những tác
phẩm viết riêng như “Tư bản”, “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844; có những tác
phẩm viết chung với F Engels như “Hệ tư tưởng Đức”, “Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản” Bên cạnh đó, có những tác phẩm riêng của Engels, với các luận điểm
biểu hiện lập trường kiên định đấu tranh bảo vệ Marx về vấn đề “xóa bỏ chế độ tư
hữu”, như “Chống Đuy-rinh”, “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”… (Nguyễn An Ninh, 2015)
Bên cạnh đó, dưới quan điểm của luật pháp, theo chương XII về "Nội dung quyền sở hữu" thuộc Bộ luật dân sự 2005 Nêu rõ về quyền sở hữu bao gồm: quyền chiếm hữu (quyền nắm giữ, quản lý tài sản); quyền sử dụng (quyền khai thác công
dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản) và quyền định đoạt (quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó)
Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu phạm trù sở hữu qua cách diễn đạt như sau :
Trang 16Sở hữu là quan hệ giữa người và người trong việc chiếm hữu của cải Sự phát triển của các hình thức sở hữu là do sự phát triển của lực lượng sản xuất quy định
Nội dung của sở hữu luôn được xét trên 2 mối quan hệ bao gồm:
_ Quan hệ giữa chủ thể sở hữu với đối tượng sở hữu;
_ Và quan hệ người với người trong quá trình sản xuất
Lịch sử xã hội loài người đã chứng kiến sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội khác nhau Tương ứng với đó là sự thay đổi các chế độ và hình thức sở hữu khác nhau Với mỗi hình thái kinh tế xã hội sẽ có một hình thức sở hữu đặc trưng giữ vị trí thống trị Cho đến nay chủ nghĩa Marx - Lenin đã chỉ ra 5 hình thức sở hữu đặc trưng cho 5 hinh thái kinh tế xã hội từ thời nguyên thủy đến hiện tại bao gồm: _ Cộng sản nguyên thủy;
_ Chiếm hữu nô lệ;
_ Sở hữu phong kiến;
_ Sở hữu tư bản;
_ Và sở hữu cộng sản
Tất nhiên trong xã hội loại người không chỉ dừng lại với 5 hình thái sở hữu như
vừa nêu trên Mà theo thời gian còn sẽ xuất hiện thêm nhiều hình thái sở hữu khác Trước mắt chúng ta đã có thể bắt gặp được sự pha trộn kết hợp về sở hữu chẳng hạn như : sở hữu hỗn hợp tồn tại trong hiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau
Như vậy ta có thể kết luận rằng các hình thái sở hữu luôn vận động, phát triển
và không cố định ở một con số nào đó Bất kể đó là một hình thái sở hữu hoàn toàn
mới hoặc chỉ đơn thuần là sự pha trộn - kết hợp của những hình thái sở hữu đã từng
xuất hiện trong quá khứ
Trong giai đoạn trước "Đổi mới", chúng ta từng coi việc xác lập chế độ công
hữu là mục tiêu Dẫn đến việc nóng vội trong việc xóa bỏ đi tư hữu, đẩy mạnh sự phát triển của công hữu để sớm có CNXH Qua những hành động mang tính chất
vội vã như dồn tất cả ruộng đất vào hợp tác xã, quốc hữu hóa toàn bộ xí nghiệp,
biến từng địa phương thành một pháo đài riêng rẽ Cuối cùng khiến cho nền kinh tế
bị rơi vào tình trạng "ngăn sông cấm chợ", đình đốn trì trệ trong suốt một thời gian
Trang 17dài Trong những năm gần đây lại xuất hiện quan điểm coi sở hữu chỉ là phương
tiện Thực tiễn những năm đổi mới vừa qua đã cho thấy cả 2 quan niệm trên đều chưa đúng, chưa đầy đủ và mang tính phiến diện rất cao Vì thế để trung hòa, quan điểm trong giai đoạn hiện tại của Đảng CSVN (1991, trang 79) về sở hữu là:
"Coi sở hữu vừa là mục tiêu vừa là phương tiện Vì sở hữu nói riêng và quan hệ
sản xuất nói chung không chỉ đơn giản như phương tiện thông thường mà có thể thay đổi từ phương tiện này sang phương tiện khác Là một bộ phận cấu thành hữu
cơ của một hình thái kinh tế xã hội nhất định CNXH có những đặc trưng riêng về
sở hữu, những quan hệ sản xuất và phân phối nảy sinh từ chế độ sở hữu đó"
Ngày nay phần lớn các quan điểm đều cho rằng mặc dù có những biểu hiện rất
đa dạng và phong phú Nhưng tựu chung lại trên thực tế chỉ tồn tại ba hình thức sở
hữu cơ bản là:
_ Sở hữu nhà nước;
_ Sở hữu tư nhân;
_ và sở hữu hỗn hợp
Ở Việt Nam , trong văn kiện đại hội lần X của Đảng CSVN (2006, trang 83)
cũng đã xác định : “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế gồm:
_ Kinh tế nhà nước;
_ Kinh tế tập thể;
_ Kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân);
_ Kinh tế tư bản nhà nước;
_ Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.”
Nhận ra được sự đa dạng, phong phú của sở hữu và tìm ra phương pháp ứng
dụng chúng vào cuộc sống chính là đòn bẩy quan trọng để mở đường thúc đẩy sản
xuất đi lên từ đó đưa nền kinh tế phát triển
Hướng đến việc giải phóng mọi năng lực sản xuất, chính là hướng đến việc phát triển lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao đời sống của người dân Đây mới chính là "bản chất của sở hữu trong CNXH" Trong công cuộc đổi mới hiện nay,
Trang 18việc nhận thức sở hữu theo phương thức tư duy mới, chính là điểm mấu chốt quan
trọng để phát huy bản chất, vai trò động lực của sở hữu trong quá trình xây dựng CNXH (Nguyễn Thanh Tuyền, 2006)
Đứng trên góc độ về luật pháp, theo điều 211 bộ luật dân sự năm 2005 thì "Sở
hữu tư nhân" là sở hữu cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình Sở hữu tư nhân bao gồm: sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ và sở hữu tư bản tư nhân
Như vậy, theo quan điểm vừa nêu trên thì "Sở hữu tư nhân" sẽ được hiểu là:
"Sở hữu các tư liệu tiêu dùng cá nhân thường được coi là sở hữu cá nhân và sở hữu
tư liệu sản xuất thường được hiểu là sở hữu tư nhân."
Tóm lại chúng ta thấy rằng "Sở hữu tư nhân" là quan hệ sở hữu xác nhận
quyền hợp pháp của tư nhân trong việc chiếm hữu, quyết định cách thức tổ chức sản
xuất kinh doanh, chi phối và hưởng lợi từ kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh
1.1.2 Kinh t ế tư nhân
Ở Việt Nam hiện tại có nhiều cách thức khác nhau để hiểu về KTTN chẳng hạn như:
_ Theo nghĩa rộng: Khu vực KTTN là khu vực dân doanh bao gồm các doanh nghi ệp của tư nhân trong nước, kể cả các HTX nông nghiệp, các doanh nghi ệp phi nông nghiệp và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức liên doanh 100% vốn Với cách hiều này sẽ đánh giá
tương đối chính xác tiềm năng của khu vực KTTN, tuy nhiên thường gặp khó khăn khi thống kê, khi không phân biệt được phần góp vốn của nhà nước trong các liên doanh cũng như công ty cổ phần mà nhà nước góp vốn
_ Theo nghĩa hẹp: Khu vực KTTN là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nhưng không bao gồm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Như vậy số
liệu thống kê theo cách phân loại này thì khi phân chia nền kinh tế thành ba khu vực gồm có "doanh nghiệp quốc doanh", "doanh nghiệp ngoài quốc doanh" và "doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài"
Trang 19Ngoài ra còn có quan điểm cho rằng KTTN là kinh tế ngoài quốc doanh nhưng không bao gồm kinh tế tập thể
Theo Ban tư tưởng văn hóa Trung ương (2002, trang 24), quan điểm của Đảng
về KTTN được đưa ra trong hội nghị lần 5 khóa IX vào tháng 3/2002: "KTTN bao
gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân"
Quan điểm về KTTN tiếp tục được nêu ra trong văn kiện đại hội X, xác định kinh tế nước ta cùng lúc tồn tại nhiều hình thức sở hữu trên cơ sở tồn tại nhiều thành phần kinh tế : KTNN, Kinh tế tập thể ; KTTN ( bao gồm cá thể hộ tiểu chủ và
tư bản tư nhân ), Kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
th ức hộ kinh doanh cá thể vác các loại hình doanh nghiệp của tư nhân."
Các loại hình kinh doanh của KTTN đều có điểm chung là dựa trên sở hữu tư nhân nhưng có sự khác nhau về trình độ sản xuất kinh doanh Theo quan điểm hiện hành ở nước ta thì KTTN bao gồm hai loại hình như sau :
_ Một là kinh tế "cá thể tiểu chủ": gồm những đơn vị kinh tế hoạt động trên
cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, với qui mô hỏ hơn các loài hình doanh nghiệp của tư nhân, chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình
_ Hai là kinh tế "tư bản tư nhân": gồm những đơn vị kinh tế hoạt động trên
cơ sở tư hữu lớn về tư liệu sản xuất với qui mô lớn hơn cá thể, tiểu chủ, có thuê mướn lao động Kinh tế tư bản tư nhân tồn tại dưới các loại hình doanh nghiệp như : doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần và công
ty hợp danh (Nguyễn Thanh Vân, 2003)
Trên phương diện pháp luật, từ luật doanh nghiệp 2005 cho đến luật doanh nghiệp 2014 Các loại hình doanh nghiệp sau đây nếu do tư nhân đứng tên thành lập
Trang 20và có phần góp vốn ( cổ phần ) lớn hơn 50% thì cũng có thể được xem là các doanh nghiệp ở khu vực KTTN :
_ "Doanh nghiệp tư nhân": Doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
_ "Công ty TNHH": Doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi
số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp
_ "Công ty c ổ phần": Doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia nhỏ thành
nhiều phần bằng nhau và được gọi là cổ phần, cổ đông góp vốn chỉ trịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số
vốn đã góp vào doanh nghiệp
_ "Công ty h ợp danh": Doanh nghiệp trong đó có ít nhất 2 thành viên hợp
danh Ngoài 2 thành viên hợp danh còn có thêm thành viên góp vốn Thành viên hợp danh là cá nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm
về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả vận dụng quan điểm của Đảng về KTTN được đưa ra trong hội nghị lần 5 khóa IX vào tháng 3/2002 là quan điểm xuyên suốt trong quá trình thực hiện luận văn
1.1.3 Đặc điểm và bản chất của kinh tế tư nhân
1.1.3.1 Đặc điểm của kinh tế tư nhân
Do nhiều yếu tố lịch sử để lại mà KTTN ở Việt Nam bên cạnh những đặc điểm chung như mọi khu vực KTTN trên thế giới còn có thêm những đặc điểm riêng biệt đến từ quá trình "chuyển đổi" khi bước từ giai đoạn dự định xóa sổ KTTN sang
phục hồi và phát triển lại thành phần kinh tế này Một cách tổng quát thì KTTN ở nước ta có những đặc điểm như sau :
Trang 21_ Một là: Qui mô và hình thức sở hữu rất đa dạng Các loại hình doanh nghiệp
với qui mô nhỏ và "siêu nhỏ" thường xuất hiện trong các hộ sản xuất kinh doanh cá thể, các cơ sở nhỏ có tính gia đình Với trường hợp quy mô lớn hơn thì chúng ta có sở hữu tư bản tư nhân trong các công ty TNHH, công ty cổ
phần với hàng ngàn công nhân;
_ Hai là: Bộ máy - đội ngũ quản lý của các doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN gần như rất gọn nhẹ, năng động và đầy quyết đoán trong quá trình điều hành doanh nghiệp;
_ Ba là: Khả năng sử dụng lao động và công nghệ trong kinh doanh rất hiệu
quả Việc tối ưu hóa lao động là rất cao đặc biệt là các hộ kinh doanh cá thể _ Bốn là: Lĩnh vực đầu tư của những doanh nghiệp thuộc nhóm KTTN có xu hướng tập trung vào lĩnh vực thương mại dịch vụ Với trọng tâm nằm ở các ngành như thương mại, nhà hàng, khách sạn, môi giới bất động sản, dịch vụ
vận tải , cùng các ngành nghề có qui mô vốn đầu tư nhỏ, mang tính ngắn
hạn;
_ Năm là: Với mục đích kinh doanh rõ ràng, tôn chỉ hoạt động hướng đến tối
đa hóa lợi nhuận Vì vậy thành phần KTTN sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm trong quá trình kinh doanh Đôi lợi nhuận trở thành động cơ mãnh đến mức
một bộ phận doanh nghiệp chấp nhận "lách luật" để tìm kiếm nó
_ Sáu là: Do nguồn lực tài chính của doanh nghiệp gắn liền với tài sản của chủ doanh nghiệp nên phương thức huy động vốn của doanh nghiệp khu vực tư nhân cũng rất linh hoạt (do ít ràng buộc bởi thủ tục) Nguồn vốn huy động
của KTTN cũng rất đa dạng do có thể tìm được tư do tiếp cận nhiều nguồn Nhưng chủ yếu vần xoay quanh nguồn từ những người thân quen như gia đình và bạn bè Cùng hình thức vay phổ biến là tín chấp
1.1.3.2 Bản chất của kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân là một loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất, gắn liền với lao động cá nhân người chủ sở hữu và lao động làm thuê Kinh tế
tư nhân ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội
Trang 22nhất định, do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định Như vậy
bản chất của lọai hình kinh tế này đó là dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Thông thường người sở hữu tư liệu sản xuất chính là người chủ doanh nghiệp,
là người sử dụng lao động Và họ luôn có xu hướng tối đa hóa lợi ích thu được thông qua việc bóc lột giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất
1.2 Tính t ất yếu khách quan của quá trình phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta
Trong suốt quá trình lịch sử hình thành và phát triển của loài người nói chung
và lịch sử kinh tế nói riêng Sự xuất hiện và vận động của KTTN là tất yếu, khách quan và phù hợp với quy luật tự nhiên, xã hội Điều này có thể được minh chứng thông qua các luận điểm như sau :
_ M ột là: Xuất phát từ qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
độ của lực lượng sản xuất Ở nước ta hiện nay trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vẫn còn khá kém (Việt Nam vẫn nằm trong nhóm các nước đang phát triển) Tồn tại khá nhiều chênh lệch ở mức độ lớn giữa các ngành
và các vùng sản xuất Do đó không thể xuất hiện ngay từ đầu một quan hệ
sản xuất đứng trên tất cả mà đặc biệt lại được gây dựng một cách thuần khiết trên nền tảng của công hữu Vì vậy việc duy trì một hệ thống sở hữu đa dạng trong đó có sở hữu tư nhân Làm tiền đề cho việc hình thành nên KTTN là
một điều tất yếu Điều này hoàn toàn phù hợp với qui luật kinh tế khách quan, với trình độ lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay
_ Hai là: Đặc điểm cơ bản của thời kỳ quá độ là có sự đan xen và tồn tại lâu dài giữa các hình thức kinh tế cũ - "tư hữu" , với các hình thức kinh tế mới -
"công hữu" Trong đó KTTN là một bộ phận quan trọng là một nhân tố không thể thiếu của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ
_ Ba là : Trong thực tiễn xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chúng ta đều thấy rằng KTTT sẽ và chỉ phát triển lành mạnh trên cơ sở đẩy mạnh phân công lao động xã hội, mà trong đó khu vực KTTN
với bản chất của mình sẽ luôn tìm mọi cách để tối thiểu hóa chi phí và tối đa
Trang 23hóa lợi nhuận Điều này hoàn toàn phù hợp với tính thần của phân công lao động Không dừng lại ở đó KTTN còn là cơ sở tạo ra khả năng huy động
tiềm lực vật chất và tinh thần cho phát triển kinh tế một cách rất hiệu quả
_ B ốn là: Nhờ sự cạnh tranh từ các thành phần kinh tế với nhau trên thị trường,
mà đặc biệt trong đó có KTTN tham gia vào Làm cho thị trường trở nên sôi động, cung cấp ngày càng nhiều các sản phẩm phong phú về chủng loại, đa
dạng về mẫu mã, cải tiến về chất lượng và có một mức giá cả cạnh tranh nhất
nhằm tạo ra mãi lực thúc đẩy mua sắm của người tiêu dùng
_ Năm là: Trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay KTTN vừa
là lực lượng quan trọng góp phần thức hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Lại vừa là lực lượng thúc đẩy việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Thông qua tiến trình phát triển KTTN sẽ tạo ra môi trường canh tranh lành
mạnh giữa các thành phần kinh tế, đồng thời khắc phục tình trạng độc quyền trong 1 số ngành lĩnh vực mà trước đây chỉ có kinh tế nhà nước tham gia Điều này hoàn toàn có lợi cho công cuộc đổi mới nền kinh tế
1.3 Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân
Việc hình thành và đổi mới tư duy về KTTN của Đảng trong quá trình xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN càng khẳng định tính tất yếu khách quan
về sự tồn tại của khu vực này trong nền kinh tế
Lenin từng chỉ rõ ra trong "Chính sách kinh tế mới" rằng ở các nước quá độ lên CNXH cần phải: Phát triển kinh tế hàng hóa và xây dựng nền kinh tế nhiều thành
phần, bao gồm cả kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư
bản nhà nước và kinh tế XHCN Cũng theo Lenin, nếu như có một cơ chế đến từ sự
kết hợp giữa sức mạnh kinh tế của CNTB với sức mạnh chính trị của nhà nước Soviet Thì sẽ vô cùng thuận lợi cho việc hiện thực hóa những mục tiêu XHCN do nhà nước Soviet đề ra Thông qua đó thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp xây dựng CNXH (Nguyễn An Ninh, 2015)
Trang 24Vào đại hội Đảng lần VI năm 1986 đã xác định rằng cải tạo XHCN là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ với những hình thức và bước đi thích hợp (Đảng CSVN, 1986)
Đại hội Đảng lần thứ VII, Đảng CSVN (1991, trang 32) tiếp tục đường lối đổi
mới đồng thời nhấn mạnh: "Thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, không phân biệt đối xử, không tước đoạt tài sản hợp pháp, không gò ép tập thể hóa, không
áp đặt hình thức kinh tế, khuyến khích các hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh "
Kế thừa tư tưởng của đại hội lần VII, trong đại hội lần VIII tháng 6/ 1996, Đảng CSVN (1996, trang 45) đã tiếp tục khẳng định : "Khuyến khích tư bản tư nhân đầu
tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài, bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp,
tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý hướng dẫn làm ăn đúng luật " Vào đại hội lần thứ IX tháng 4/2001, Đảng xác định nước ta có 6 thành phần kinh tế, Nghị quyết hội nghị BCH TW lần thứ 5 khóa IX tháng 3/2002 đã được Ban
tư tưởng văn hoá Trung ương (2002, trang 26 – 27) nêu rõ: "Kinh tế tư nhân là bộ
phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân là
vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong bổi cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế"
Trong Đại hội X của Đảng CSVN (2006, trang 53) tiếp tục nhấn mạnh : "Kinh
tế tư nhân có vai trò quan trọng,là một trong những động lực của nền kinh tế" và
"xóa bỏ mọi rào cản, tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân, phát triển không hạn chế qui mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lịnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh tế
Trang 25hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng vận hành Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh
tế " (Đảng CSVN, 2011)
Tại kỳ Đại hội Đảng vừa diễn ra gần đây nhất, tức đại hội lần XII, Đảng tiếp tục
nhấn mạnh về các định hướng hỗ trợ sở phát triển cho KTTN như: Hoàn thiện cơ
chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu
hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh
tế Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp
khởi nghiệp Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước (Đảng CSVN, 2016)
Như vậy cho đến nay, quan điểm của Đảng vẫn tiếp tục khẳng định sự có mặt
của KTTN không chỉ là vấn đề tất yếu trong phát triển nền kinh tế thị trường, mà còn rất cần thiết trong việc huy động mọi nguồn lực cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế Thúc đầy tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu
1.4 Vai trò tích c ực và hạn chế của kinh tế tư nhân
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, thành phần KTTN bên cạnh các đóng góp tích cực thì vẫn còn đó những mặt hạn chế Có thể tóm lược vai trò và hạn
chế của thành phần KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta như sau
Vai trò :
_ Vai trò chính của thành phần KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN chính là trở thành động lực cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Thông qua việc vận dụng hiệu quả lực lượng sản xuất, thành phần KTTN đã làm cho lực lượng này phát triển một cách mạnh mẽ từ đó kéo theo sự hình thành
và phát triển của quan hệ sản xuất mới, tiến bộ hơn, tích cực hơn để phù hợp
với lực lượng sản xuất này
Trang 26_ KTTN đảm nhận vai trò vận dụng và khai thác triệt để các tác dụng của quy
luật thị trường Từ đó tạo ra tính năng động sáng tạo trong sản xuất, linh họat trong việc nắm bắt nhu cầu của thị trường và hỗ trợ định hướng kinh doanh
của doanh nghiệp Đồng thời các DN khu vực tư nhân luôn ý thực được việc
sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả Góp phần tạo nên sức cạnh tranh trong
nền kinh tế
_ KTTN cũng có sự đóng góp tích cực vào vấn đề phát triển năng lực con người và các quyền cá nhân KTTN có cội nguồn từ cá nhân Vì vậy phát triển KTTN phải dựa trên nền tảng phát triển các giá trị các nhân, năng lực cá nhân và phát triển con người
_ Hơn nữa bên cạnh các thành phần kinh tế khác thì thành phần KTTN cũng tham gia vào việc ổn định đời sống xã hội cho người dân bằng việc giải quyết nhu cầu việc làm, thu nhập, tạo ra ngày một nhiều các của cải vật chất giúp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội
H ạn chế :
_ KTTN gắn liền với lợi ích cá nhân và động lực cá nhân Điều nàm làm cho
một bộ phận các nhà đầu tư thường có xu hướng chạy theo lợi ích trước mắt,
lợi ích cá nhân mà quên đi lợi ích lâu dài và lợi ích cộng đồng
_ Khi mà pháp luật hiện hành còn nhiều bất cập Bộ máy quản lý kinh tế của nhà nước còn thiếu những kinh nghiệm trong điều tiết kinh tế thì trường Nền kinh tế còn đang trong quá trình chuyển Tất cả những điểm trên góp phần
tạo ra môi trường tốt cho sự tồn tại và phá triển của các tiêu cực của không ít các doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN Chẳng hạn như vi phâm cá nguyên tắc về kế toán để dây dưa nộp thuế, trốn thuế; thành lập công ty ma, mua bán hóa đơn, gian lận thương mại
_ Tính tự phát, đầu tư ồ ạt theo phong trào hoạt động thương mại theo kiểu tranh mua, tranh bán, đầu cơ tăng giá vẫn còn diễn ra khá phổ biến trong các hoạt động sản xuất - kinh doanh của khu vực KTTN Vấn đề này làm cho quan hệ cung - cầu mất cân đối, tác động tiêu cực đến nền kinh tế và gây
Trang 27không ít khó khăn cho công tác bình ổn thị trường của các cơ quan quản lý
nhà nước
Tuy nhiên cùng cần nhìn nhận một cách rõ ràng là : KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN có các mặt hạn chế không hoàn toàn giống với bản chất của KTTN trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản
Dưới chế độ tư bản, KTTN chịu sự tác động mạnh mẽ của qui luật giá trị thặng
dư - quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản và ảnh hưởng bởi bản chất của nhà nước tư bản Còn KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN hoạt động với điều kiện qui luật giá trị thặng dư không còn là quy luật kinh tế tuyệt đối, sở hữu tư nhân không còn là loại hình sở hữu thống trị, quan hệ phân phối theo giá trị sức lao động chỉ là một trong những hình thức phân phối đa dạng trong nền kinh tế bên
thần tượng tôn pháp luật Vì trong văn kiện đại hội lần thứ X của Đảng CSVN
(2006, trang 32)đã chỉ rõ : "Đảng viên làm KTTN phải gương mẫu chấp hành pháp
luật, chính sách của nhà nước, nghiệm chỉnh chấp hành điều lệ Đảng và quy định
của banh chấp hành TW"
1.5 Phát tri ển kinh tế tư nhân
1.5.1 N ội dung lý thuyết về phát triển kinh tế tư nhân
Phát triển kinh tế tư nhân là quá trình tăng lên cả về chất và lượng của khu
vực kinh tế tư nhân Tăng lên về số lượng nghĩa là ở đó có sự tăng trưởng về số lượng các doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp được mở rộng, lao động tăng lên,
mặt bằng sản xuất kinh doanh được mở rộng, máy móc thiết bị được đầu tư Tăng lên về chất là tăng về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, trình độ quản lý
Trang 28được nâng lên, trình độ sản xuất kinh doanh phát triển lên một bước mới, thị trường không ngừng được mở rộng, giá trị đóng góp cho nền kinh tế của khu vực KTTN ngày càng tăng lên Cụ thể hơn:
_ Vấn đề "Gia tăng về số lượng doanh nghiệp": có ý nghĩa rằng người dân
yên tâm, tin tưởng vào môi trường kinh doanh mà bỏ vốn ra xây dựng thành
lập doanh nghiệp ngày một nhiều hơn, quy mô của doanh nghiệp được mở
rộng hơn, số lao động mà doanh nghiệp sử dụng đông hơn, máy móc trang thiết bị được đưa vào sử dụng nhiều hơn Được biểu hiện qua khả năng phát triển về số lượng cũng như tăng trưởng
_ Vấn đề "Nâng cao về chất lượng doanh nghiệp": có ý nghĩa gia tăng về
hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao trình độ quản lý, ứng
dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, đẩy mạnh việc tìm kiếm và phát triên
thị trường Được biểu hiện qua khả năng phát triển về quy mô của doanh nghiệp, cụ thể hơn là tăng trưởng về vốn, mặt bẳng sản xuất kinh doanh; Nâng cao trình độ, năng lực quản lý doanh nghiệp; tìm kiếm và mở rộng thị trường
Phát triển KTTN là phương tiện hiệu quả nhất để phát triển kinh tế, phát triển con người:
_ Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng, sự tiến bộ, thịnh vượng để đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn Phát triển kinh tế ở đây gắn liền với thuật ngữ “Phát triển bền vững” Phát triển bền vững về cơ bản bao hàm phương diện: Môi trường, kinh tế, xã hội, văn hóa, là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của hiện tại xong không xâm hại tới khả năng thỏa mãn của các thế hệ tương lai
_ Phát triển con người là trung tâm của phát triển và là động lực cũng như mục tiêu của phát triển nói chung và phát triển kinh tế tư nhân nói riêng Phát triển kinh tế tư nhân phải dựa trên nền tảng phát triển con người như phát triển các giá trị cá nhân, phát triển năng lực cá nhân Trong một xã hội đang
Trang 29phát triển, buộc mỗi người tham gia kinh doanh có những hướng đi cho riêng mình và không ngừng phát huy tính sáng tạo cá nhân Chừng nào con người còn cần đến kinh tế tư nhân như là một phương tiện hữu hiệu để xây dựng và
kiến tạo cuộc sống của mình và đồng loại, thì kinh tế tư nhân còn tồn tại như
một hành trang của con người trong tiến trình đi tới tương lai Như vậy, có
thể nói lý thuyết phát triển kinh tế tư nhân bắt nguồn từ lý từ thuyết phát triển con người
Kinh tế tư nhân chính là sự chọn lọc tự nhiên trong quá trình phát triển Kinh tế
tư nhân có vai trò đắc lực tạo ra sự phát triển của xã hội, tạo cho mỗi cá nhân vô số
cơ hội có việc làm để khẳng định mình, để mưu cầu cuộc sống và hạnh phúc, góp
phần tạo ra con người với nhiều phẩm chất tốt đẹp hơn Phát triển kinh tế không
phải là mục tiêu, mục tiêu tối thượng của nhân loại là xã hội phát triển, con người phát triển
Có thể nói rằng kinh tế tư nhân là một phương tiện quan trọng để con người có
cơ hội hoàn thiện mình trong quá trình phát triển hướng thiện của nhân loại Con người đã sáng tạo ra và quyết định lựa chọn kinh tế tư nhân để phát triển, nhưng đồng thời kinh tế tư nhân lại là môi trường tốt để con người tự thân phát triển, con người có cơ hội tự hoàn thiện vì sự phát triển của chính nó và thông qua đó phát triển toàn xã hội Vì vậy, phát triển KTTN phải hướng tới sự hài hoà giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường tức là nhằm đạt tới sự phát triển bền vững
1.5.2 Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân
Kể từ sau Đổi Mới, Quan điểm của đảng ta về phát triển KTTN bao gồm 1 số
nội dung chính như sau:
_ Phát triển KTTN để phát triển kinh tế, từ đó xây dựng một chế độ xã hội ấm
no, công bằng, văn minh, không có người bóc lột người như CNTB thời kỳ đầu Mà hướng về dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đó là mục tiêu bất di bất dịch, cho cả trước đây, hiện nay và sau này
Trang 30_ Phát triển KTXH nói chung và KTTN nói riêng không tách rời với công bằng
xã hội Mục tiêu của phát triển đất nước ta trước mắt cũng như lâu dài là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Để thực hiện mục tiêu đó thì phải huy động được mọi tiềm năng của đất nước từ con người, tài nguyên, trí tuệ, truyền thống văn hóa, điều kiện quốc tế…phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội có lợi nhất cho quốc kế dân sinh
_ Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước vừa đóng vai trò chủ thể quản lý nền
kinh tế thị trường, trong đó có khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời Nhà nước
cũng là đối tác của kinh tế tư nhân Với tư cách là chủ thể quản lý đối với
kinh tế tư nhân, Nhà nước ban hành luật pháp; ban hành và thực hiện cơ chế
quản lý phù hợp với cơ chế thị trường và luật pháp quốc tế, hỗ trợ (không
phải là bảo hộ) các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ và hộ nông dân; kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động kinh tế của các thành phần kinh
tế; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân vươn
ra thị trường thế giới Trong mối quan hệ này, Nhà nước là chủ thể quản
lý nhưng phải tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, phục vụ nhân dân,
những tổ chức và cá nhân đại diện cho chủ thể quản lý không được gây phiền
hà cho doanh nhân để hưởng lợi bất chính
1.5.3 Tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế tư nhân
Thông qua các quản điểm về "nội dung phát triển KTTN" như đã trình bày ở trên Chúng ta cần tiến hành song song giữa nâng cao về chất lẫn gia tăng về lượng Đồng thời kết hợp với những kế thừa trong nghiên cứu của các tác giả trước đây đã
từng trình bày về vấn đề phát triển của thành phần KTTN Người viết xin được đưa
ra các tiêu chí đánh giá sự phát triển của KTTN như sau:
_ M ột là số lượng các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành
ph ố: Trên cơ sở so sánh số lượng các doanh nghiệp giữa các thành phần kinh
tế với nhau Chúng ta sẽ biết rõ được các doanh nghiệp ở khu vực tư nhân
Trang 31trên địa bàn thành phố có sự phát triển về lượng hay đang bị thu hẹp dần so
với những thành phần kinh tế khác;
_ Hai là lĩnh vực SXKD của doanh nghiệp: Nghiên cứu về lĩnh vực kinh
doanh của doanh nghiệp sẽ giúp chúng ta biết được xu thế chuyển dịch cơ
cấu của thành phố trong những năm sắp tới sẽ đi theo hướng tập trung phát triển lĩnh vực nào Đồng thời hiểu chi tiết hơn từng lãnh vực ngành nghề mà các doanh nghiệp khu vực tư nhân đang đẩy mạnh đầu tư Từ đó làm cơ sở
đề xuất các chính sách khuyến khích phát triển hoặc hạn chế đối với các ngành nghề này;
_ Ba là về nội lực của doanh nghiệp: Đây là một trong những điểm cốt lõi
trong việc đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp về mặt chất lượng Vì vậy
để có thể đánh giá một cách chi tiết người viết xin đề xuất một số tiêu chí cụ
thể gồm:
• Vốn của doanh nghiệp;
• Tài sản của doanh nghiệp;
• Doanh thu của doanh nghiệp;
• Lợi nhuận của doanh nghiệp;
• Cùng với quy mô lao động của doanh nghiệp và thu nhập của người lao động đang làm việc
Người viết tin rằng, còn nhiều tiêu chí nữa trong việc đánh giá sự phát triển của KTTN nhưng trong giới hạn của luận văn này, người viết xin được trình bày các nét
cơ bản trên để phác thảo bức tranh toàn cảnh về quá trình hoạt động của các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN tại Tp.HCM trong giai đoạn vừa qua
1.5.4 Nhân t ố tác động đến phát triển kinh tế tư nhân
Với đặc thù của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta đã làm cho sự phát triển của thành phần KTTN không chỉ chịu tác động của các quy luật thị trường đơn thuần mà còn bị ảnh hưởng rất nhiều từ những yếu tố khác Trong đó nổi bật lên
một số nhân tố như :
Trang 32_ Một là đường lối của Đảng: Đây là nhân tố có tính quyết định Từ chính nhân
tố này mà khu vực KTTN nhận được thuận lợi hay gặp phải khó khăn trong quá trình phát triển, có môi trường đầu tư ổn định hay không, có nhận được các chính sách hỗ trợ phát triển hay không Tất cả đều chịu ảnh hưởng trực
tiếp từ đường lối của Đảng Qua các kỳ Đại hội Đảng từ lần thứ VI năm
1986 cho đến dự thảo văn kiện cho đại hội XII năm 2016 vai trò và vị thế của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế ngày càng được coi trọng hơn
_ Hai là vai trò quản lý kinh tế của nhà nước trong nền KTTT: đây là nhân tố các tác động trực tiếp đến sự phát triển của KTTN Cụ thể hơn vai trò quan lý kinh tế của nhà nước được biện hiện qua các mặt như:
• Thiết lập hành lang pháp lý về kinh tế;
• Tạo lập môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, nhất là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định chính trị và ổn định xã hội;
• Bảo đảm kết cấu hạ trầng của nền kinh tế vận hành hiệu quả;
• Các quyết sách hỗ trợ phát triển kinh tế;
• Cải cách khu vực hành chính công
_ Ba là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ: Đây là nhân tố ảnh
hưởng mạnh, trực tiếp đến doanh nghiệp Nếu các doanh nghiệp có điều kiện ứng dụng các thành tựu của công nghệ sẽ tạo ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao hơn mặt bằng chung của thị trường Tuy nhiên nếu DN không có điều kiện đầu tư dây chuyền sản xuất mới sẽ trở nên yếu thế hơn trong năng
lực cạnh tranh Làm khoảng cách về trình độ sản xuất giữa các doanh nghiệp
có quy mô lớn và các doanh nghiệp có quy mô nhỏ sẽ ngày càng kéo dài hơn _ Bốn là từ những cam kết về định hướng thay đổi trong chính sách song và đa phương khi Việt Nam gia nhập các tổ chức, hiệp định quốc tế
_ Năm là chủ trương cho phép Đảng viên được làm KTTN
Trang 331.6 Tình hình phát tri ển kinh tế tư nhân ở nước ta trong thời gian qua và bài h ọc kinh nghiệm
1.6.1 Tình hình phát tri ển kinh tế tư nhân ở nước ta trong thời gian qua
1.6.1.1 Thực trạng số lượng doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN đang
hoạt động
Trước Đổi Mới, các doanh nghiệp tư nhân không được thừa nhận thậm chí bị thu hẹp hoạt động đến mức tối đa Cho đến sau khi bước ngoặt "luật công ty 1990";
"luật doanh nghiệp 1999" và đặc biệt là "luật doanh nghiệp 2005" ra đời, đã chính
thức mở ra một trang mới cho sự phát triển của các doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN Số lượng DN thuộc thành phần KTTN só sự tăng trưởng rất nhanh chóng Năm 2005, số DN ở khu vực tư nhân đã lên đến 98.883 doanh nghiệp chiếm 92,69% tổng số doanh nghiệp trên toàn quốc Trong khi đó số lượng doanh nghiệp
quốc doanh là 4.086 ( chiếm 3,83% ) và số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 3.697 - chiếm 3,46% (chi tiết xem tại biểu đồ 1.1)
8 năm sau, ta càng thấy rõ hơn nữa sự tăng trưởng về số lượng DN thuộc thành
phần KTTN khi mà số lượng doanh nghiệp thuộc thành phần này lên đến 334.562 doanh nghiệp Tức tăng 238,51% so với năm 2005, trung bình 1 năm tăng 29,81% Chiếm tỷ trọng 96,4% tổng số doanh nghiệp trên cả nước
Cụ thể hơn về sự phát triển của doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN ta có biểu
đồ về "Số lượng doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau giai đoạn
2005 - 2012" được trình bày chi tiết xem tại biểu đồ 1.1
Trang 34(Nguồn : Sự phát triển của Doanh nghiệp ngoài nhà nước, (2014) trang 22
Niên giám thống kê Việt Nam năm 2015, (2016), trang 133 )
Theo biểu đồ về lĩnh vực hoạt động của các DN thuộc thành phần KTTN (xem
dịch vụ và xây dựng Đây đều là những lĩnh vực mà khi có những biến động về kinh
tế xuất hiện sẽ làm cho những ngành này bị ảnh hưởng trước tiên và với mức độ cao hơn hơn nhiều so với những lĩnh vực ngành nghề khác Nhất là những hoạt động như thương mại, vui chơi giải trí, nhà hàng khách sạn và xây dựng cơ bản Nguyên
226,676 183,246
140,627 117,173 98,833
0 50,000 100,000 150,000 200,000 250,000 300,000 350,000 400,000 450,000 2014
Biểu đồ 1.1: Số lượng doanh nghiệp tại Việt Nam
giai đoạn 2005 - 2014 (ĐVT : Doanh nghiệp)
DN NNN
DN VĐTNN
DN NN
Trang 35nhân cho việc các doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN tập trung đầu tư vào phát triển lĩnh vực TMDV là vì:
_ Mức độ đầu tư linh hoạt, tùy vào quy mô và khả năng mà nhà đầu tư có thể
chọn bỏ vào ít hay nhiều vốn
_ Thời gian biết được hiệu quả kinh doanh nhanh chóng, cung cấp tín hiệu kịp
thời cho chủ doanh nghiệp đầu tư thêm hoặc thoái vốn an toàn
_ Vòng quay của vốn tương đối nhanh, chủ đầu tư sớm thu được lợi nhuận 1.6.1.2 Thực trạng hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp thuộc thành
phần KTTN trong những năm qua
a) Xét về vốn của doanh nghiệp
Từ số liệu của biểu đồ về "Vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp giai đoạn 05 - 14" (xem chi tiết tại phụ lục13) Ta dễ dàng nhận ra sau năm 2005 số vốn
tỷ lệ thuận với số lượng doanh nghiệp được hình thành, lượng vốn sxkd của khu
vực tư nhân cũng bắt đầu có những bước tăng trưởng thần tốc Vào năm 2005 chỉ đạt được mức 682,3 ngàn tỉ đồng, chưa bằng một nửa so với vốn của doanh nghiệp nhà nước (1.444,9 ngàn tỉ đồng) và chỉ hơn khoảng 25% so với khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài Nhưng đến cuối năm 2014 thì ta thấy mọi diễn biến đả đảo chiều ngược lại Vốn sxkd của khu vực tư nhân lên đến 9.016 ngàn tỉ đồng Chiếm đến hơn 51% tổng số vốn sản xuất kinh doanh của toàn bộ các doanh nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam Trong khi khối doanh nghiệp nhà nước lại bị tụt xuống vị trí thứ
2 khi chỉ nắm giữ 31,66% tổng số vốn sxkd tương đương với 5.879 ngàn tỉ đồng
Phần còn lại là thuộc về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Nếu như lựa chọn "quy mô về vốn của doanh nghiệp" là tiêu chí để phân loại
thì qua biểu đồ về "Số lượng các DN xét theo quy mô vốn tại thời điểm Ta thấy
phần lớn doanh nghiệp ở Việt Nam đều nằm trong khoảng vốn tư 1 - 50 tỉ đồng Bên cạnh đó cũng có 1 điểm cần lưu ý là quy mô vốn hoạt động của doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN rất đa dạng Ở bất kỳ một quy mô vốn nào từ "siêu nhỏ" (dưới
500 triệu đồng) , cho đến "quy mô vừa" ( từ 1 đến 50 tỷ ) cho đến quy mô lớn và rất
Trang 36lớn ( trên 200 tỉ đồng ) thì các doanh nghiệp khu vực tư nhân đều chiếm tỷ trọng
lớn nhất (xem chi tiết tại phụ lục 14) Mức độ chênh lệch này rất cao (từ vài chục đến cả trăm lần) nếu xét ở mốc dưới 200 tỷ đồng Nhưng ở mốc 200 tỷ trở lên, sự chênh lệch chỉ khoảng gấp đôi gấp ba khi ta so sánh giữa các thành phần kinh tê.Phân tích cụ thể hơn trong khu vực tư nhân, từ biểu đồ "Số lượng các DN thuộc thành phần KTTN xét theo quy mô vốn năm 2014" (xem chi tiết tại phụ lục 15 và 16), ta thấy loại hình doanh nghiệp nắm giữ vốn SXKD nhiều nhất ở thời điểm cuối năm 2014 chính là CTCP với 5.528,4 ngàn tỉ đồng vào năm 2014 tiếp theo đó là đến
loại hình công ty TNHH với 3.341 ngàn tỉ 2 nhóm này đã bỏ xa loại hình doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh
Tương tự với thực trạng về việc đa phần các doanh nghiệp tập trung vào lĩnh
vực TMDV Khi xem xét tiêu chí "vốn sản xuất kinh doanh", ta thấy phần lớn các doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN cũng huy động cho việc phát triển ở lĩnh vực
Nếu xem xét về "quy mô vốn" của doanh nghiệp khu vực KTTN theo "lĩnh vực
sản xuất" Thì dù ở lĩnh vực nông lâm thủy sản, công nghiệp xây dựng hay dịch vụ
Tỷ trọng doanh nghiệp có mức vốn sxkd từ 1 - 5 tỉ đồng chiếm ưu thế tuyệt đối tại
bất kỳ thời điểm nào trong giai đoạn từ 05 - 12 (xem chi tiết tại phụ lục 18, 19, 20)
b) Xét về tài sản của doanh nghiệp
Với những thông số như vừa phân tích ở trên về vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Theo logic thông thường, những chênh lệch từ vốn sản xuất kinh doanh giữa các thành phần kinh tế khác nhau cũng sẽ tỷ lệ thuận với chênh lệch từ tài sản cố định và đầu tư dài hạn giữa chúng Nhưng theo thống kê mới nhất, vào
cuối năm 2014, sự chênh lệch giữa nhóm doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN là không nhiều Lý do giải thích cho vấn đề này có thể đến
từ các khía cạnh như :
_ Một là: các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN tuy có vốn SXKD nhiều nhưng tỷ trọng nhóm "doanh nghiệp vừa và nhỏ" lại chiếm đa số Nhóm này thì lại không đầu tư vào tài sản cố định nhiều do lĩnh vực lựa chọn kinh
Trang 37doanh chưa có nhu cầu cấp thiết về nâng cấp trang thiết bị hiện đại Hoặc có
thể là do những lĩnh vực kinh doanh đó chỉ yêu cầu vốn lưu động cao để đáp ứng được khả năng thanh toán nhanh chóng, khi doanh nghiệp có nhu cầu quay vòng vốn
_ Hai là: tồn tại thực trạng không chỉ doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN
mà còn ở các thành phần khác Đó là khi kinh doanh có được lợi nhuận, thay
vì đầu tư vào tái sản xuất bằng cách như : nâng cấp trang thiết bị, mua thêm máy móc hoặc mở rộng quy mô nhân công thì những khoản lợi nhuận này
lại chảy ngược sang kênh bất động sản như một hình thức đầu tư mạo hiểm
(Nguồn : Sự phát triển của Doanh nghiệp ngoài nhà nước (2014), trang 81 - 82;
Niên giám thống kê Việt Nam năm 2015 (2016), trang 271 )
2,842.7 2,621.3 2,496.9 2,416.5 1,759.0
1,747.2 1,236.0
877.6 797.1 486.6
1,378.4 1,245.2 1,175.9 1,023.1 770.2
690.3 515.5 390.2 337.3 269.7
2,722.5 2,621.7 2,424.3 2,151.0
2,129.7 1,269.0
941.2 583.3
291.9 190.6
Trang 38Khi phân tích v ề yếu tố "giá trị TSCĐ và ĐTDH" theo loại hình doanh nghi ệp thuộc thành phần KTTN, vị trí cao nhất khi nói về tích lũy "TSCĐ và
ĐTDH" phải nhắc đến loại hình CTCP với 1721,6 ngàn tỉ đồng vào cuối năm 2014 Đây cũng chính là loại hình doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng ở tiêu chí này nhanh nhất, khi mà ở năm 2007 giá trị TSCĐ và ĐTDH của loại hình các CTCP chỉ
bằng khoảng 345,1 ngàn tỉ (xem chi tiết tại phụ lục 21)
Khi phân tích v ề yếu tố "giá trị TSCĐ và ĐTDH" theo lĩnh vực kinh doanh
s ản xuất giữa các doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN, trong năm 2007 sự
chênh lệch giữa giá trị TSCĐ và ĐTDH của nhóm DN tại 2 lĩnh vực công nghiệp xây dựng và thương mại dịch vụ là không lớn (226,5 ngàn tỉ so với 353,1 ngàn tỉ) Nhưng trước lợi thế quá hấp dẫn của lĩnh vực thương mại dịch vụ đã làm cho nhiều
cá nhân và tổ chức trở nên mạnh dạn hơn trong việc đầu tư vào lĩnh vực này và kết
quả là đến năm 2014, mức chênh lệch đã lên đến gần 1.300 tỉ đồng giữa lĩnh vực CNXD và TMDVN (xem chi tiết tại phụ lục 22)
c) Xét về doanh thu của doanh nghiệp
Tại thời điểm 2005, khi nói về doanh thu của doanh nghiệp Chúng ta thấy rằng doanh thu của khu vực KTTN và khu vực VĐTNN gần như là bằng nhau (838,4 ngàn tỉ so với 833,8 ngàn tỉ) nhưng đến năm 2014 thì doanh số của khu vực KTTN này đã vươn lên đến gần 6988 ngàn tỉ đồng Tức là lớn hơn cả khu vực KTNN và khu vực kinh tế VĐTNN cộng lại (xem chi tiết tại phụ lục 23) Lý do khiến cho doanh thu ở khu vực KTTN sau 8 năm có được sự tăng tốc thần kỳ đến như vậy đến
_ Ba là: lực lượng tham gia thành lập và quản lý các DN nằm có xuất thân đa
dạng, tích cực phát triển mối quan hệ để tìm kiếm đầu ra cho doanh nghiệp
Trang 39Khi phân tích v ề yếu tố "Doanh thu" theo loại hình doanh nghiệp thuộc thành ph ần KTTN thì công ty TNHH và CTCP chiếm gần như toàn bộ doanh thu
của khối doanh nghiệp khu vực tư nhân ( xem chi tiết tại phụ lục 24)
Khi phân tích v ề yếu tố "Doanh thu" theo lĩnh vực đầu tư giữa các doanh nghi ệp thuộc thành phần KTTN Ta thấy doanh thu của các doanh nghiệp ở lĩnh
vực TMDV luôn chiếm tỷ trọng gần như gấp đôi cả 2 lĩnh vực "Nông, lâm thủy
sản" và "Công nghiệp xây dựng" cộng lại Tuy nhiên các thống kê trên chỉ mang tính tham khảo vì trên thực tế xuất hiện tình trạng : Doanh nghiệp "tổng hợp" kinh doanh đa ngành nghề, đa lĩnh vực (xem chi tiết tại phụ lục 25)
d) Xét về lợi nhuận của doanh nghiệp
Khi nói về lợi nhuận của doanh nghiệp, thông thường nếu doanh thu cao thì lợi nhuận sẽ cao Nhưng các số liệu thực tế lại cho thấy rằng Không phải các doanh nghiệp khu vực tư nhân là nơi có doanh thu cao nhất mà chính các doanh nghiệp nhà nước luôn dẫn đầu khi xét về tiêu chí này trong suốt giai đoạn từ 05 - 14 (xem
Tuy nhiên nếu dùng tiêu chí này để kết luận các doanh nghiệp khu vực KTTN
hoạt động không hiệu quả như các khu vực khác có lẽ chưa chính xác Vì xuất hiện
thực trạng các doanh nghiệp tư luôn cố tình khai báo lỗ để tránh thuế Còn doanh nghiệp nhà nước thì luôn có gắng khai báo lợi nhuận cao để đảm bảo các chỉ tiêu
mà kế hoạch đã đề ra
Khi phân tích v ề yếu tố "Lợi nhuận" giữa các loại hình doanh nghiệp thu ộc thành phần KTTN, loại hình CTCP luôn dẫn đầu về tiêu chí này xuyên suốt
giai đoạn 2005 - 2014 (xem chi tiết tại phụ lục 27)
Khi phân tích v ề yếu tố "Lợi nhuận" theo lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghi ệp thuộc thành phần KTTN, ta thấy lợi nhuận từ hai lĩnh vực
"TMDV" và "CNXD" đều áp đảo lĩnh vực Nông, lâm, thủy sản Một điểm đáng lưu
ý là sự trồi sụt với biên độ rất lớn trong lĩnh vực TMDV giai đoạn 2009 đến 2011
do tác động từ suy thoái - phục hồi kinh tế (xem chi tiết tại phụ lục 28)
e) Xét về các đóng góp vào ngân sách
Trang 40Khi mà luật doanh nghiệp vừa bắt đầu có hiệu lực, Số lượng DN thuộc khu vực KTTN vẫn chưa nhiều và các đóng góp của nhóm DN này vào ngân sách rất khiêm
tốn chỉ đạt khoảng 33 ngàn tỉ đồng Trong khi đó khu vực quốc doanh đạt đến con
số 72 ngàn tỉ và khu vực vốn đầu tư nước ngoài là 85 ngàn tỉ
Nhưng đến cuối năm 2011 thì mức đóng góp vào ngân sách của 3 thành phần kinh tế này gần như là ngang nhau với 166 ngàn tỉ cho doanh nghiệp khu vực vốn đầu tư nước ngoài 169 ngàn tỉ cho khu vực tư nhân và khoảng 180 ngàn tỉ cho khu
vực quốc doanh (xem chi tiết tại phụ lục 29)
Khi phân tích v ề "đóng góp cho NS" giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc thành ph ần KTTN thì khả năng đóng góp ngân sách của CTCP và công ty TNHH
là gần như ngang bằng nhau trong suốt giai đoạn từ 05 - 11 Nhưng sắp tới với quy
mô lớn mạnh vượt trôi, loại hình CTCP sẽ bứt phá về mặt nộp ngân sách so với các nhóm còn lại (xem chi tiết tại phụ lục 30)
Về lĩnh vực kinh doanh thì các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương
mại dịch vụ nộp ngân sách nhiều hơn hẳn so với lĩnh vực công nghiệp xây dựng và nông lâm thủy sản (xem chi tiết tại phụ lục 31)
1.6.2 Bài h ọc kinh nghiệm về phát triển kinh tế tư nhân
1.6.2.1 Kinh nghiệm của Đồng Nai
Tại địa bàn tỉnh Đồng Nai thì KTTN tăng nhanh về mặt số lượng ,đa phần nằm
ở trong các lĩnh vực như trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và thương mại
dịch vụ Tuy nhiên tình trạng thiếu quy hoạch thiếu định hướng cho phát triển các doanh nghiệp chưa chủ động đầu tư đổi mới công nghệ và nâng cao trình độ quản lý
dẫn đến thiếu cả chiến lược SXKD trong ngắn và dài hạn Cuối cùng làm cho giá thành sản xuất bị đội lên cao, mất khả năng cạnh tranh ngay cả trên "sân nhà"
Cụ thể hơn thì khu vực KTTN của tỉnh Đồng Nai đang gặp 1 số tình trạng như : _ Khả năng đổi mới công nghệ, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn đời sống bị hạn chế bởi nguồn vốn yếu Bênh cạnh đó thủ tục vay vốn từ