TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH CÀ MAU .... Phương pháp nghiên cứu Với số liệu thứ cấp về chi tiêu công giáo dục trong giai đoạn 1992
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
PGS.TS NGUYỄN HỒNG THẮNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Ngày 10 tháng 8 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Minh Trí
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1.SỰCẦNTHIẾTCỦAVẤNĐỀNGHIÊNCỨU 1
1.2.MỤCTIÊUNGHIÊNCỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu 3
1.4 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 3
Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 4
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
2.1.1 Chi tiêu công giáo dục đào tạo 4
2.1.2 Phát triển nguồn nhân lực 5
2.1.3 Vai trò của giáo dục, đào tạo đối với kinh tế, xã hội 7
2.1.4 Vai trò của nhà nước đối với chi tiêu công cho giáo dục đào tạo 7
2.2 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 10
2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài 10
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước 12
2.3 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 14
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
Trang 53.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 15
3.1.1 Mô hình phân tích 15
3.1.2 Khung nghiên cứu 16
3.2 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 17
3.2.1 Dữ liệu nghiên cứu 17
3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 18
3.3 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 18
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH CÀ MAU 20
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên 20
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau 21
4.2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Ở CÀ MAU GIAI ĐOẠN 1992 – 2014 23
4.2.1 Chi tiêu công cho giáo dục, đào tạo 23
4.2.2 Công tác quản lý giáo dục, đào tạo ở tỉnh Cà Mau 25
4.2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý giáo dục, đào tạo ở tỉnh Cà Mau 34
4.3 TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH CÀ MAU 36
4.3.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 36
4.3.2 Kết quả phân tích hồi quy tác động của chi tiêu công đối với giáo dục đào tạo tỉnh Cà Mau 38
4.3.3 Thảo luận kết quả hồi quy 40
4.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 4 42
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 43
5.1 KẾT LUẬN 43
5.1.1 Thực trạng chi tiêu công giáo dục đào tạo ở tỉnh Cà Mau 43
5.1.2 Tác động đầu tư công đối với chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Cà Mau 43
5.2 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA CHI TIÊU CÔNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH CÀ MAU 44
Trang 65.2.1 Đẩy mạnh đầu tư công cho giáo dục đào tạo 44
5.2.2 Nâng cao hiệu quả chi tiêu thường xuyên cho giáo dục đào tạo 45
5.2.3 Tăng cường đội ngũ giáo viên 46
5.2.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững 48
5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Trang 7CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
GDTX Giáo dục thường xuyên
NSNN Ngân sách Nhà nước
PTTH Phổ thông trung học
VIF Độ phóng đại phương sai
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Biến quan sát trong mô hình nghiên cứu 16
Bảng 4.1: GDP giá thực tế theo khu vực kinh tế giai đoạn 2010 - 2014 22
Bảng 4.2: Chi thường xuyên giáo dục đào tạo tỉnh Cà Mau giai đoạn 1992 – 2014 23
Bảng 4.3: Đầu tư công giáo dục đào tạo tỉnh Cà Mau giai đoạn 1992 – 2014 24
Bảng 4.3: Thống kê mô tả các biến trong mô hình phân tích định lượng 37
Bảng 4.5: Phân tích hồi quy các yếu tố tác động đến nguồn nhân lực 38
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan trong phần dư 39
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai phần dư thay đổi 40
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 3.1: Khung nghiên cứu 17
Trang 9Chương 1 GIỚI THIỆU
Giáo dục đào tạo luôn nhận được sự quan tâm đầu tư của mọi người, mọi gia đình và xã hội Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng giáo dục đào tạo và đã có nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp phát triển giáo dục đào tạo Trong thời kỳ đổi mới, cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục của nước ta đã có những bước phát triển đáng kể Quy mô giáo dục nước nhà trong thời kỳ đổi mới đã tăng lên đáng kể, nhờ tăng quy mô giáo dục và đào tạo mà số sinh viên tốt nghiệp tăng lên đã bổ sung một lực lượng lao động có trình độ ngày càng lớn
Cà Mau là tỉnh cuối cùng cực Nam tổ quốc, một trong bốn tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL (Chính phủ, 2010) Trong những năm qua, tỉnh Cà Mau rất quan tâm đầu tư phát triển giáo dục đào tạo theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam và Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Cà Mau lần thứ XIV Giai đoạn 2010 –
2014, nguồn vốn đầu tư công cho giáo dục đào tạo tỉnh Cà Mau bình quân đạt 1.300
tỷ đồng/năm Nhờ được đầu tư, cơ sở vật chất và chất lượng đội ngũ giáo viên đã được cải thiện, từ đó nâng dần chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh
Tuy nhiên, Cà Mau có xuất phát điểm thấp, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội Trình độ học vấn và kỹ thuật nguồn nhân lực của tỉnh Cà Mau thấp, chưa đạt mức bình quân cả nước Trình độ lao động của tỉnh còn rất hạn chế: 58% có trình độ trung học cơ sở và tiểu học, 42%
có trình độ phổ thông trung học, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề là 40% (UBND tỉnh Cà Mau, 2015) Để cải thiện, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Cà Mau thì cần phải tiếp tục ưu tiên chi đầu tư cho giáo dục đào tạo của tỉnh trong thời gian tới Đây là một tất yếu nhưng cũng là thách thức trong bối cảnh tỷ lệ nợ công của cả nước nói chung và tỉnh Cà Mau hiện ở mức cao Bên cạnh việc tăng cường chi tiêu công cho giáo dục đào tạo, vấn đề đặt ra là chi tiêu công giáo dục đào tạo ảnh hưởng như thế nào đến
Trang 10phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Cà Mau? Để từ đó có những giải pháp phù hợp
để nâng cao ảnh hưởng tích cực của các khoản chi tiêu công cho giáo dục đào tạo
của tỉnh Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Tác động của chi tiêu công đến
phát triển nguồn nhân lực tỉnh Cà Mau” để làm luận văn thạc sĩ
Chi tiêu công cho giáo dục có góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Cà Mau? Và
Cần có các giải pháp gì để nâng cao tác động tích cực của chi tiêu công giáo dục đào tạo ở tỉnh Cà Mau?
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chi tiêu công giáo dục và ảnh hưởng của chi tiêu công đến chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Cà Mau
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: giới hạn trong tỉnh Cà Mau
Trang 11Giới hạn về nội dung: Nguồn nhân lực của con người gồm có thể lực và trí lực, do hạn chế về thời gian và khả năng nghiên cứu, đề tài chỉ xem xét nguồn nhân lực dưới khía cạnh trí lực, cụ thể là học vấn của người dân tỉnh Cà Mau
Phạm vi dữ liệu nghiên cứu: các dữ liệu thứ cấp sử dụng để đánh giá tác động của chi tiêu công đối với giáo dục, đào tạo trong đề tài được giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 1992 đến năm 2014 Các số liệu thống kê mô tả về tình hình kinh
tế - xã hội chung của tỉnh Cà Mau giới hạn trong giai đoạn 2010 – 2014
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu
Với số liệu thứ cấp về chi tiêu công giáo dục trong giai đoạn 1992 – 2014, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng mô hình hồi quy đa biến bình phương bé nhất (OLS) để phân tích ảnh hưởng của chi tiêu công cho giáo dục đào tạo đối với chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Cà Mau
1.4 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn bao gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách
Trang 12Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU
TRƯỚC
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1.1 Chi tiêu công giáo dục đào tạo
Theo Dương Thị Bình Minh (2004) thì chi tiêu công là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan gắn liền với sự tồn tại của nhà nước, là công cụ tài chính của nhà nước để trang trải và đảm bảo các hoạt động của bộ máy quản lý, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, can thiệp vào các hoạt động kinh tế xã hội nhằm ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, bảo vệ lợi ích chung của các chủ thể trong xã hội Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công phục vụ lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng (Dương Thị Bình Minh, 2004)
Nguồn tài trợ chi tiêu công gồm: Nguồn thu từ thuế và lệ phí; Nguồn thu từ đóng góp của các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội và dân cư; Nguồn tại trợ từ bên ngoài; Các nguồn khác được ghi thu vào ngân sách nhà nước (Dương Thị Bình Minh, 2004)
Như vậy, từ khái niệm chi tiêu công có thể hiểu chi tiêu công cho giáo dục đào tạo là các khoản chi của nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đào tạo nhằm thực hiện các chức năng quản lý của nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ giáo dục đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân và phát triển kinh tế - xã hội
Chi tiêu công giáo dục đào tạo được chia làm 2 nội dung lớn: chi thường xuyên và chi đầu tư công
Chi thường xuyên về giáo dục đào tạo là quá trình phân phối, sử dụng quỹ tiền
tệ của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý giáo dục đào tạo Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các nhiệm vụ chi thường xuyên về giáo dục đào tạo ngày càng gia tăng
Chi đầu tư công là quá trình nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã tạo lập
Trang 13được thông qua các hoạt động thu của ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất và để dự trữ vật tư hàng hóa, nhằm bảo đảm thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế (Dương Thị Bình Minh, 2004) Như vậy, có thể hiểu chi đầu tư công cho giáo dục đào tạo là
hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng cho lĩnh vực giáo dục đào tạo và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ cho giáo dục đào tạo
Vốn đầu tư công gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương
để đầu tư (Luật Đầu tư công, 2014)
2.1.2 Phát triển nguồn nhân lực
2.1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực Theo định nghĩa của Liên Hợp quốc (1995) thì nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng Theo Begg, Fischer và Dornbusch (1995), nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai
Theo Phạm Minh Hạc (2001), nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương và nó khác với các nguồn lực khác (tài
Trang 14chính, đất đai, công nghệ) ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên vào trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội
Trong phạm vi nghiên cứu này, nguồn nhân lực được xem xét ở nghĩa hẹp thể hiện ở trình độ văn hóa của người dân trong phạm vi tỉnh Cà Mau
2.1.2.2 Phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực có nhiều cách tiếp cận khác nhau UNESCO (1997) cho rằng phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp trong mối quan hệ phát triển của đất nước Các nhà kinh tế có quan niệm phát triển nguồn nhân lực gần với quan niệm của UNESCO là phải gắn với phát triển sản xuất và chỉ nên giới hạn phát triển nguồn nhân lực trong phạm vi phát triển
kĩ năng lao động và thích ứng với yêu cầu về việc làm
Tổ chức Lao động quốc tế (2000) cho rằng phát triền nguồn nhân lực không chỉ chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc bao gồm cả vấn đề đào tạo nói chung mà còn
là phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con người để phát triển tiến tới có việc làm hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân
Mặc dù có sự diễn đạt khác nhau, song có một điểm chung nhất của các định nghĩa là đều coi phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển quốc gia
Do vậy, có thể hiểu, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế - xã hội Quá trình đó bao gồm phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề; tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá, truyền thống lịch sử dân tộc…
Trong phạm vi nghiên cứu này, phát triển nguồn nhân lực được xem xét ở khía cạnh nâng cao trình độ văn hóa của người dân trong phạm vi tỉnh Cà Mau
Trang 152.1.3 Vai trò của giáo dục, đào tạo đối với kinh tế, xã hội
Giáo dục được xem là hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế - xã hội, đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậm của một quốc gia Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu
tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững (Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị Đại hội IX, 2001)
Giáo dục đào tạo có vai trò quan trọng đối với kinh tế Giáo dục là con đường
cơ bản nhất để tích luỹ nguồn nhân lực - nhân tố quyết định tăng năng suất lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nguồn nhân lực là tài sản vô hình của mỗi quốc gia Các nhà kinh tế cho rằng khi định giá tài sản quốc giá cần phải tính toán phần giá trị của nguồn nhân lực Vai trò của nguồn nhân lực trong việc thúc đẩy kinh tế đã được ghi nhận trong các lý thuyết về tăng trưởng nội sinh Romer (1986), Lucas (1988) đã khẳng định nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tăng trưởng và giảm nghèo
Nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế là vì các kỹ năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo, khi kết hợp với vốn hữu hình sẽ tạo ra sản phẩm và kiến thức tạo ra sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế (Mincer, 1989) Vai trò của chi tiêu giáo dục góp phần cải thiện nguồn nhân lực, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Barro và Martin (1995) đã xây dựng hàm tăng trưởng có dạng Y = Kα(uH)1-α .Với u là thời gian dành cho sản xuất, H là nguồn nhân lực và K
là vốn, Y là sản lượng quốc gia
2.1.4 Vai trò của nhà nước đối với chi tiêu công cho giáo dục đào tạo
2.1.4.1 Quan điểm của trường phái tân cổ điển
Quan điểm của trường phái này cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào nền kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực như vốn và lao động mà sự vận động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này Trường phái này khẳng định,
Trang 16một trong các ưu điểm của kinh tế thị trường đó là sự phân bổ nguồn lực một cách
tự động thông qua bàn tay vô hình của thị trường
Theo lý thuyết này, các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế trong quá trình tìm đến điểm tối đa hoá lợi nhuận sẽ tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt nhất cho chính mình, và như vậy nhà nước không cần can thiệp để tạo ra một cơ cấu đầu tư hợp lý cho doanh nghiệp vì bản thân doanh nghiệp biết rõ hơn ai hết là cần phải làm gì để đạt lợi ích tốt nhất Cộng các đơn vị sản xuất này trong nền kinh tế sẽ hình thành cơ cấu đầu tư của nền kinh tế và cơ cấu đó là hợp lý Vai trò của nhà nước trong trường hợp này chỉ dừng lại ở mức cung cấp các hàng hoá công cộng cần thiết cho nền kinh tế như kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội (giáo dục đào tạo, y tế …) mà nếu để thị trường tự vận động thì không thể đáp ứng được
Như vậy, trường phái tân cổ điển dù không ủng hộ nhà nước can thiệp vào nền kinh tế nhưng lại ủng hộ vai trò của nhà nước trong chi tiêu cho giáo dục đào tạo
2.1.4.2 Quan điểm ủng hộ sự can thiệp của nhà nước
Quan điểm này cho rằng do sự không hoàn hảo của thị trường, nhất là các nước đang phát triển, nên sự tự thân vận động của thị trường sẽ không mang lại kết quả tối ưu Thông tin không hoàn hảo có thể sẽ dẫn đến sản xuất và đầu tư quá mức Trong trường hợp này, nhà nước phải là người tổ chức cung cấp thông tin tốt để thị trường hoạt động tốt hơn Mặt khác, ở hầu hết các nước đang phát triển, nền kinh tế còn lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, nếu để thị trường tự thân vận động thì sẽ không thể tạo ra sự phát triển công nghiệp mạnh mẽ được mà chuyển dịch cơ cấu là nội dung của tiến trình công nghiệp hoá, nhà nước cần phải tạo ra sự khởi động ban đầu để các thành phần kinh tế phát triển, tránh những rủi ro, mất cân đối trong nền kinh tế, và sự can thiệp của nhà nước, nhất là trong việc phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế là rất cần thiết
Như vậy, theo quan điểm của trường phái ủng hộ sự can thiệp của nhà nước trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế và nguồn lực xã hội, tức là ủng hộ sự can thiệp của nhà nước trong chi tiêu công cho giáo dục đào tạo
Trang 172.1.4.3 Vai trò của chi tiêu công trong giáo dục đào tạo
Các nền kinh tế hiện đương đầu với nhiều thách thức trong phát triển nguồn nhân lực Để giải quyết vấn đề này, chính phủ các nước phải có trách nhiệm trong phân bổ nguồn lực Chi tiêu công cho giáo dục có tác động tích cực nhất định tới việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, hiệu quả chi tiêu công cho giáo dục phụ thuộc nhiều vào sự phân bổ nguồn lực cho các lĩnh vực này (Barro, 1990; Lee, 2012)
Trong số các nguồn lực tài chính chi cho giáo dục đào tạo thì chi tiêu công đóng vai trò chủ đạo trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo
Sở dĩ chi tiêu công đóng vai trò chủ đạo là vì:
Thứ nhất, trong hệ thống tài chính nước ta thì tài chính công chiếm một tỷ trọng lớn Trong các nhu cầu tiêu dùng xã hội mà tài chính công đảm bảo thì theo chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước thì nhu cầu cho giáo dục đào tạo đứng hàng đầu
Thứ hai, chi tiêu công có tác dụng hướng dẫn, huy động các nguồn vốn khác đầu tư cho giáo dục đào tạo vì giáo dục là hàng hoá công cộng, tạo ra ngoại ứng tích cực và có vai trò quyết định đến sự phát triển nguồn nhân lực
Thứ ba chi tiêu công có vai trò điều phối cơ cấu toàn ngành giáo dục Thông qua chi đầu tư cho giáo dục đào tạo đã góp phần định hướng sắp xếp cơ cấu các cấp học, mạng lưới trường Tập trung vốn chi tiêu công cho những chương trình mục tiêu quốc gia như xóa mù chữ, phổ cập giáo dục, xây dựng hệ thống trường dân tộc nội trú, hệ thống trường lớp, khu ký túc xá, phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc gia, tăng cường cơ sở vật chất các trường học,…
Thứ tư, chi tiêu công, đặc biệt là đầu tư từ NSNN cho giáo dục nhằm đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục Nếu giáo dục được cung cấp hoàn toàn theo cơ chế thị trường không có sự đầu tư từ NSNN thì bộ phận dân cư không có khả năng chi trả các khoản chi phí giáo dục sẽ không có cơ hội được học tập, tiếp thu kiến thức, từ đó mất công bằng xã hội trong giáo dục
Trang 18Thứ năm, chi tiêu công cho giáo dục đào tạo nhằm để khắc phục khiếm khuyết của thị trường vốn Trên thực tế, thị trường vốn cho việc đầu tư vào giáo dục là không hoàn hảo Vì hầu như không có cơ sở nào cho việc xác định khả năng chắc chắn để hoàn trả lại các khoản vay cho việc học tập của các cá nhân sau khi đã kết thúc khoá học Do vậy, các chủ thể cho vay không dễ dàng chấp nhận bỏ vốn để đầu
tư vào giáo dục Để khắc phục khiếm khuyết này cần thiết phải có sự can thiệp và đầu tư của Nhà nước cho giáo dục
Trên thực tế tại Việt Nam hiện nay nguồn lực tài chính để phát triển giáo dục chủ yếu từ nguồn NSNN NSNN đóng vai trò quan trọng, là yếu tố chính quyết định tới sự nghiệp giáo dục đào tạo
2.2 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Philip Stevens and Martin Weale (2003) cho rằng GDP và GDP bình quân đầu người và trình độ giáo dục có liên quan với nhau Ở các quốc gia có GDP cao như Pháp, Đức, Anh thì trình độ giáo dục cao Các tác giả cho rằng có sự kết nối giữa giáo dục và sự tăng trưởng kinh tế
Johns – Goffan và cộng sự (1970) trong nghiên cứu “Các nhân tố kinh tế ảnh hưởng đến tài chính giáo dục”, tác giả cho rằng số lượng học sinh ở các cấp ảnh hưởng đến nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục Ngoài ra GDP cũng ảnh hưởng đến đầu tư cho giáo dục
Agustin Molina (2013) khi nghiên cứu về chi tiêu giáo dục ở các quốc gia thuộc tổ chức OECD đã sử dụng 3 mô hình hồi quy là FGLS, PCSE và robust GMM để phân tích các yếu tố tác động đến chi tiêu cho giáo dục Mô hình nghiên cứu gồm 1 biến độc lập là tỷ lệ chi tiêu giáo dục so với GDP và 17 biến độc lập gồm: (1) Thu nhập bình quân đầu người; (2) Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu GDP; (3) Cân bằng ngân sách; (4) Tỷ lệ chi tiêu công so với GDP; (5) Chi tiêu công cho xã hội (y tế, giảm nghèo); (6) Chỉ số phát triển con người GINI; (7) Chi tiêu của tư nhân cho giáo dục; (8) Số năm đi học bình quân; (9) Số lượng sinh viên
Trang 19đại học tốt nghiệp hằng năm; (10) tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi trong tổng dân số; (11) Biến giả về hình thức quản lý của nhà nước; (12) Biến giả về loại hình tôn giáo; (13) Chỉ số mở của nền kinh tế; (14) Chỉ số toàn cầu hóa; (15) Quyền của công dân Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình giải thích được 70% kết quả nghiên cứu Tất cả 15 biến trên đều có ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục
Ioannis Kostakis (2014) cho rằng lạm phát cũng có tác động đến tăng trưởng kinh tế qua đó ảnh hưởng đến đầu tư cho giáo dục
Birdsall và cộng sự (1999) phát hiện ở các quốc gia giàu có, nếu tỉ lệ nhập học
ở bậc tiểu học và trung học cơ sở tăng 1,4% thì 25 năm sau, có sự khác biệt đến 40% trong GDP bình quân đầu người Tsai và cộng sự (2010) sử dụng phương pháp hồi quy OLS để giải thích sự khác biệt về tăng trường do tác động của nguồn nhân lực ở các quốc gia phát triển và đang phát triển giai đoạn 1999 – 2006 Kết quả cho thấy giáo dục trung học có đóng góp lớn vào tăng trưởng ở các nước đang phát triển nhiều hơn so với các nước phát triển Nghiên cứu cũng hàm ý giáo dục đại học giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng ở cả các nước phát triển và đang phát triển Đặc biệt, nguồn nhân lực sử dụng công nghệ cao có tác động cùng chiều đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế
Tang và Lai (2011) sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 1970 – 2007 ở Malaysia
để kiểm tra mối quan hệ giữa chi giáo dục, y tế và tăng trưởng kinh tế Kết qua nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa chi giáo dục, y tế đối với tăng trưởng cả trong ngắn hạn và dài hạn Người dân Malaysia có xu hướng ưu tiên chi cho giáo dục cao hơn so với sức khỏe
Tuy nhiên, một số nghiên cứu không tìm thấy tác động của nguồn nhân lực đối với tăng trưởng Maku (2009) sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 1977 – 2006 ở Nigeria đã đi đến kết luận chi tiêu công của chính phủ cho giáo dục đào tạo không
có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng Musai (2011) sử dụng dữ liệu bảng của 11 quốc gia xuất khẩu dầu mỏ trong giai đoạn 1971 – 2007 để kiểm định mối quan hệ giữa giáo dục đào tạo và tăng trưởng kinh tế Kết quả nghiên cứu cho thấy, tăng trưởng GDP có tác động đến chi tiêu cho giáo dục đào tạo
Trang 202.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Sử Đình Thành và Đoàn Nguyên Vũ (2015), trong nghiên cứu “Chi tiêu công, vốn con người và tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu các quốc gia phát triển” đã tập trung đánh giá tác động trực tiếp và gián tiếp của chi tiêu công lên nguồn nhân lực
và tăng trưởng kinh tế trên cơ sở phân tích sự tương tác giữa chính sách chi giáo dục và y tế ở 26 quốc gia đang phát triển trong khoảng thời gain từ 1995 – 2012 Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp ước lượng bình phương bé nhất 3 giai đoạn (3SLS) và phương pháp GMM Nghiên cứu sử dụng 3 mô hình gồm:
Một là, mô hình tác động của các yếu tố đến tăng trưởng kinh tế Trong đó, biến phụ thuộc là thu nhập bình quân đầu người theo ngang giá sức mua (GDPGR) Các biến nội sinh là: Tỷ lệ đầu tư trên GDP (INV); Tỷ lệ nhập học của học sinh tiểu học và trung học (EDU); Vốn sức khỏe (HEAL) Và các biến độc lập là: Độ mở thương mại của nền kinh tế (OPEN); Cân bằng cán cân NSNN (BAL); Tỷ lệ gia tăng dân số (POPG); Tỷ lệ lạm phát (INF)
Hai là, mô hình nguồn nhân lực Trong đó, biến phụ thuộc là Tỷ lệ nhập học của học sinh tiểu học và trung học (EDU) và các biến độc lập: Thu nhập thực bình quân đầu người theo ngang giá sức mua; Tỷ lệ chi tiêu công cho giáo dục trên GDP (EDUS); Mối quan hệ giữa sức khỏe và giáo dục (HEAL); Tỷ lệ dân số dưới 15 tuổi (POP15); Mức độ đô thị hóa (URBAN); Chất lượng giáo dục (QUA); Tỷ lệ sinh viên nữ đại học
Ba là, mô hình đầu tư Trong đó biến phụ thuộc là vốn đầu tư Các biến nội sinh là Tỷ lệ nhập học của học sinh tiểu học và trung học (EDU); vốn sức khỏe Các biến độc lập là Độ mở thương mại của nền kinh tế (OPEN); Cân bằng cán cân NSNN (BAL); Tỷ lệ gia tăng dân số (POPG); Tỷ lệ lạm phát (INF)
Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Tỷ lệ nhập học tăng 1% dẫn đến tăng trưởng tăng 0,16% đến 0,59% Tăng trưởng ở các nước có năng lực thể chế dưới trung bình thấp hơn những nước trên trung bình 5,4%; (2) Kết quả nghiên cứu cũng tìm thấy mối quan hệ giữa vốn con người với tỷ lệ đầu tư Yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất đến tỷ lệ đầu tư là độ mở thương mại và lạm phát Đối với các nền kinh tế đang phát
Trang 21triển, tỷ lệ lạm phát cao trở thành rào cản đối với quyết định đầu tư; (3) Tỷ lệ chi tiêu công cho giáo dục trên GDP tăng 1% thì tỷ lệ nhập học tăng từ 0,009% đến 0,018% và nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa chi tiêu công cho y tế đối với sức khỏe của người dân
Action Aid (2010), trong báo cáo Thúc đẩy bình đẳng trong tiếp cận giáo dục chất lượng cho trẻ em Việt Nam đã chỉ ra một số tồn tại trong hệ thống giáo dục của Việt Nam Mặc dù có những cam kết của Nhà nước, sự công nhận của xã hội và các khung pháp lý hiện hành, giáo dục vẫn là điều cao xa đối với nhiều trẻ em, phụ nữ
và người dân tộc thiểu số Nhiều giáo viên chỉ có phương tiện giảng dạy thật nghèo nàn hoặc không có Trẻ em không có giấy khai sinh càng khó được đi học Tỷ lệ bỏ học cao, khoảng cách về địa lý và dân tộc, vai trò yếu kém của các hiệp hội phụ huynh và giáo viên cũng như sự tham gia của cộng đồng trong quản lý và giám sát giáo dục nằm trong số những vấn đề nổi cộm Ngoài ra, còn có những vấn đề khác như các rào cản như thiếu giáo viên có trình độ, thiếu một chương trình học phù hợp với nhu cầu của trẻ em
Do tăng trưởng kinh tế được ưu tiên, chi tiêu và đầu tư cho giáo dục đã được
“xã hội hóa” Điều đó có nghĩa là các nguồn lực cho giáo dục (và các dịch vụ công khác) được huy động từ khu vực tư nhân và xã hội Do vậy, nhu cầu được học tập
và quyền được đi học cho mọi người, đặc biệt là trẻ em dễ bị tổn thương, khó có thể được đáp ứng đầy đủ và đảm bảo
Nghiên cứu của Action Aid cũng đề xuất các biện pháp can thiệp như (1) Cải thiện phổ cập giáo dục bắt buộc và chất lượng cho mọi người bằng cách thúc đẩy một môi trường học tập an toàn hơn và không phân biệt đối xử Thực hiện cách giảng dạy tích cực, hướng tới giáo dục chất lượng; (2) Huy động sự tham gia vào quản lý trường học bằng cách tăng cường vai trò của học sinh, cộng đồng, các hiệp hội giáo viên và phụ huynh trong giám sát quản lý trường học nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình trong nhà trường; (3) Hỗ trợ các liên minh và mạng lưới ở các cấp (từ địa phương đến quốc tế) để phát triển các mô hình thay thế nhằm thúc đẩy các quyền trong trường học (PRS), đào tạo giáo viên và phát triển chương trình giảng
Trang 22dạy Cải thiện đầu tư tài chính cho giáo dục nhằm góp phần gia tăng sự công bằng
xã hội, kinh tế và môi trường
Nhìn chung những công trình nghiên cứu này đã cho thấy sự tác động qua lại giữa nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế cũng như vai trò của chi tiêu công đối với chất lượng nguồn nhân lực Có thể nhận thấy một số yếu tố có ảnh hưởng đến nguồn nhân lực qua lược khảo các nghiên cứu là: (1) Thu nhập bình quân đầu người; (2) Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu GDP; (3) Cân bằng ngân sách; (4) Tỷ lệ chi tiêu công so với GDP; (5) Số lượng sinh viên đại học tốt nghiệp hằng năm; (6) Tỷ lệ dân số dưới 15 tuổi
Các nghiên cứu trên đều nghiên cứu ở cấp độ quốc gia và trong vòng 10 năm trở lại đây, trên địa bàn tỉnh Cà Mau chưa có nghiên cứu nào liên quan đến tác động của chi tiêu công đối với phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Cà Mau Có thể khẳng định đây chính là điểm mới của đề tài
Chương 2 đã trình bày cơ sở lý thuyết về chi tiêu công và mối quan hệ giữa chi tiêu công trong giáo dục đào tạo với phát triển nguồn nhân lực Đồng thời lược khảo các tài liệu và nghiên cứu có liên quan để làm cơ sở cho việc hình thành mô hình nghiên cứu ở chương 3
Trang 23Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
3.1.1 Mô hình phân tích
Từ lý thuyết về vai trò của nhà nước đối với giáo dục đào tạo và các nghiên cứu có liên quan ở chương 2, ta thấy tồn tại mối tương quan tỷ lệ thuận giữa chi tiêu công với chất lượng giáo dục đào tạo Dựa trên nghiên cứu có liên quan, mô hình tác động của chi tiêu công đối với nguồn nhân lực tỉnh Cà Mau được xác định như sau: EDUt = α0 + α1tINCOMEt + α2tEDUSPt + α3tEDUSEt + α4tAGRIt + α5tPt +
Do chi tiêu công gồm có đầu tư công và chi tiêu thường xuyên nên chi tiêu công cho giáo dục đào tạo được tách làm 2 khoản gồm: (1) EDUSI là tỷ lệ đầu tư công cho giáo dục đào tạo trên GDP, được tính bằng tổng đầu tư công cho giáo dục đào tạo chia cho GDP của tỉnh; (2) EDUSE là tỷ lệ chi tiêu thường xuyên cho giáo dục đào tạo trên GDP, được tính bằng tổng chi thường xuyên hàng năm cho giáo dục đào tạo chia cho GDP của tỉnh Theo Baldacci và cộng sự (2008) thì chi tiêu công cho giáo dục trên GDP tăng dẫn đến thời gian đi học trung bình cũng tăng AGRI là mức thay đổi tỷ trọng của GDP ngành nông nghiệp trong cơ cấu GDP, được tính bằng tỷ trọng GDP của ngành nông nghiệp ở thời điểm năm sau trừ
đi (-) năm trước Theo Agustin Molina (2013), khi tỷ trọng GDP của ngành nông nghiệp tăng sẽ làm giảm tỷ trọng GDP của ngành thương mại, dịch vụ qua đó gián tiếp làm giảm chất lượng nguồn nhân lực
P: Tỷ lệ tăng dân số dưới 15 tuổi Theo Mingat và Tan (1992), cấu trúc tuổi của
Trang 24dân số có ảnh hưởng đến nguồn nhân lực
QTY: Tỷ lệ giáo viên Hanushek (2013) sử dụng tỷ lệ giáo viên/100 học sinh tiểu học và trung học làm cơ sở cho biến đánh giá này
αit : hệ số hồi quy của các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu; i:sai sốngẫu nghiên của mô hình
Ioannis Kostakis (2014) cho rằng chỉ số giá tiêu dùng có tác động đến các yếu
tố thu nhập và đầu tư, tác động này có thể âm hoặc dương Trong thời kỳ lạm phát
ổn định, tiết kiệm và đầu tư được cải thiện, chỉ số giá tiêu dùng có tác động dương đến tăng trưởng và ngược lại gây ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng Do vậy, để loại bỏ ảnh hưởng của chỉ số giá tiêu dùng đến các biến độc lập trong mô hình, đề tài sử dụng giá so sánh năm 2010
Bảng 3.1: Biến quan sát trong mô hình nghiên cứu
T
Kỳ vọng dấu
Cơ sở lý thuyết
Biến phụ thuộc: Nguồn nhân lực EDU
Biến độc lập
1 Mức thu nhập đầu người INCOME + Agustin Molina (2013)
2 Tỷ lệ đầu tư công cho giáo
dục đào tạo so với GDP EDUSI +
Baldacci (2008)
Sử Đình Thành (2015)
3 Tỷ lệ chi thường xuyên cho
giáo dục đào tạo so với GDP EDUSE +
Baldacci (2008)
Sử Đình Thành (2015)
4 Mức thay đổi tỷ trọng kinh tế
Agustin Molina (2013)
5 Tỷ lệ tăng dân số dưới 15 tuổi P + Mingat và Tan (1992)
6 Tỷ lệ giáo viên/học sinh QTY + Hanushek (2013)
Nguồn: Tổng hợp lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan
3.1.2 Khung nghiên cứu
Khung nghiên cứu được thiết kế như hình 3.1
Trang 25Hình 3.1: Khung nghiên cứu
Nguồn: Tổng hợp lý thuyết và đề xuất của tác giả
3.2 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 3.2.1 Dữ liệu nghiên cứu
Thu thập số liệu thứ cấp là các thông tin về tăng trưởng kinh tế tỉnh Cà Mau,
số liệu thống kê về vốn đầu tư công và chi thường xuyên cho giáo dục đào tạo, dân
số, dân số dưới 15 tuổi, số lượng học sinh và giáo viên ở các bậc học … được thu thập từ niên giám thống kê, báo cáo quyết toán, các báo cáo tổng kết của Sở Tài chính, Cục Thống kê, Sở Giáo dục đào tạo tỉnh Cà Mau; từ UBND tỉnh Cà Mau Các tài liệu liên quan đến đầu tư công và các công trình nghiên cứu liên quan đến
đề tài đã được công bố trên internet, các tạp chí chuyên ngành, nguồn tài liệu từ các văn bản Luật, Nghị định, Thông tư của các cơ quan nhà nước
Số liệu thống kê quy đổi về giá so sánh năm 2010 theo phương pháp sau: (1)
Phân tích hồi quy
Kiểm định mô hình
Xây dựng các giải pháp
Thu thập số liệu
Phân tích hồi quy đa biến bằng mô hình OLS
Kiểm định mô hình tổng thể, kiểm định hệ
số hồi quy thành phần; kiểm định tự tương quan; kiểm định phương sai phần dư
Thiết lập và xây dựng mô
hình phân tích
Vấn đề nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước
Trang 26tính hệ số quy đổi đầu tư theo chỉ số lạm phát; (2) GDP, vốn đầu tư công, chi thường xuyên, thu nhập đầu người trên địa bàn tỉnh theo giá năm 2010 được tính bằng cách lấy số liệu theo giá thực tế nhân hoặc chia cho chỉ số lạm phát đầu tư đã tính ở bước trên (từ năm 2009 trở về trước thì nhân với chỉ số lạm phát; từ 2011 trở
về sau thì chia cho chỉ số lạm phát)
Vốn đầu tư công giáo dục đào tạo bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, ODA, trái phiếu Chính phủ, vốn của các doanh nghiệp nhà nước và nguồn vốn khác của nhà nước Chi thường xuyên giáo dục, đào tạo là khoản chi do NSNN đảm nhiệm
3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Nhằm đạt mục tiêu 1, đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp thống kê so sánh và phương pháp tổng hợp nhằm đánh giá tổng quan về tình hình đầu tư công giáo dục, đào tạo; có so sánh tình hình đầu tư công chung của toàn tỉnh qua các năm của tỉnh Cà Mau
Luận văn sử dụng mô hình phân tích hồi quy OLS Theo Hoàng Trọng (2008) đối với hồi quy đa biến cần thực hiện một số kiểm định gồm: (1) Kiểm định tương quan từng phần của hệ số hồi quy; (2) Mức độ giải thích của mô hình; (3) Hiện tượng đa cộng tuyến; (4) Hiện tượng phương sai phần dư thay đổi (thực hiện kiểm định do White (1980) đề xuất) và (5) Hiện tượng tự tương quan
Nhằm đạt mục tiêu 2, luận văn sử dụng phương pháp diễn dịch kết quả đã phân tích được ở các mục tiêu 1 làm căn cứ đề xuất giải pháp nhằm nâng cao tác động tích cực của vốn đầu tư công đối với giáo dục, đào tạo Cà Mau
Đề tài sử dụng phần mềm Stata 12.0 để hỗ trợ xử lý dữ liệu
Chương 3 trình bày khung phân tích và mô hình hồi quy tổng quát của nghiên cứu Kết quả của chương 3 đã hình thành mô hình định lượng đánh giá tác động của chi tiêu công đối với nguồn nhân lực của tỉnh Cà Mau gồm biến phụ thuộc là nguồn nhân lực (EDU) và 6 biến độc lập: (1) mức thu nhập (INCOME); (2) tỷ lệ đầu tư công cho giáo dục đào tạo trên GDP (EDUSI); tỷ lệ chi tiêu thường xuyên cho giáo
Trang 27dục đào tạo trên GDP (EDUSE); Mức thay đổi tỷ trọng của GDP ngành nông nghiệp trong cơ cấu GDP (AGRI); Tỷ lệ tăng dân số dưới 15 tuổi (P); Tỷ lệ giáo viên (QTY)
Trang 28Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH CÀ MAU
4.1.1.2 Thời tiết - khí hậu
Khí hậu tỉnh Cà Mau mang đặc trưng khí hậu của vùng ĐBSCL, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt cao (nhiệt độ trung bình 26,50C, nhiệt
độ trung bình cao nhất trong năm vào tháng 4 khoảng 27,60C; nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng Giêng khoảng 250C), tạo điều kiện phát triển đa dạng cây con trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản (Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau giai đoạn 2010 – 2020)
Nét đặc trưng là khí hậu phân mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11,
Trang 29mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trong mùa mưa chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm; tháng có lượng mưa cao nhất là từ tháng 8 đến tháng 10
4.1.1.3 Thủy văn, địa hình
Về thủy văn, địa bàn tỉnh Cà Mau chịu tác động trực tiếp của chế độ thủy triều biển Đông (bán nhật triều không đều) và của Vịnh Thái Lan (nhật triều không đều) Biên độ triều biển Đông tương đối lớn, từ 3-3,5 m vào ngày triều cường; trong khi triều Vịnh Thái Lan thấp hơn, trung bình từ 0,5 – 1m
Địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, trong đất liền không có núi đá (ngoài biển cũng chỉ có một số cụm đảo gần bờ), cao trình phổ biến từ 0,5-1m so với mặt nước biển, các khu vực trầm tích sông hoặc sông - biển hỗn hợp có địa hình cao hơn; các khu vực trầm tích biển - đầm lầy hoặc đầm lầy có địa hình thấp hơn (trung bình và thấp trũng) chiếm tới 89%
Địa hình của tỉnh Cà Mau bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông rạch chằng chịt,
có nhiều sông rạch là lợi thế về giao thông đường thủy, nhưng là hạn chế rất lớn đối với phát triển giao thông đường bộ, phát sinh nhiều cầu cống, là một trong những nguyên nhân chính làm giao thông đường bộ của tỉnh chậm phát triển
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau
4.1.2.1 Dân số và lao động
Theo Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2015) thì đến 31/12/2014 dân số tỉnh Cà Mau có 1.216,4 nghìn người, mật độ dân số 232 người/km2 Mật độ dân số tỉnh Cà Mau thấp nhất trong các tỉnh ĐBSCL, bằng 53,34% mật độ dân số vùng ĐBSCL và bằng 86,92% mật độ dân số cả nước Trong đó, dân số thành thị Cà Mau chiếm 21,58% dân số của tỉnh Dân số nông thôn Cà Mau chiếm 78,42% dân số của tỉnh
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của Cà Mau giai đoạn 2010 - 2014 có xu hướng tăng Năm 2010 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh là 1,06%, đến năm 2014 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh là 1,21%
Cơ cấu lao động theo ngành chủ yếu vẫn là nông nghiệp và thủy sản Trình độ
Trang 30học vấn, ngành nghề, trình độ đào tạo, đạt mức trung bình của vùng Tập quán, kinh nghiệm canh tác và kỹ năng nghề nghiệp của lao động Cà Mau được tích lũy qua nhiều thế hệ thuộc loại khá so với các tỉnh khác, nhất là kỹ năng lao động nghề nuôi trồng, khai thác thủy, hải sản, trồng lúa (UBND tỉnh Cà Mau, 2015)
4.1.2.2 Về tăng trưởng kinh tế
Trong 5 năm (từ 2010 – 2014), kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cơ cấu kinh
tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng của khu vực dịch vụ và giảm dần tỷ trọng của khu vực nông nghiệp trong GDP (tỷ trọng của khu vực nông nghiệp trong GDP năm 2010 là 39,2%, đến năm 2014 giảm còn 36,5%, tương ứng khu vực dịch
vụ tăng từ 24,2% tăng lên 27,0% riêng khu vực công nghiệp - xây dựng giảm từ 36,6% xuống còn 36,5%)
Theo giá hiện hành thì GDP năm 2014 của tỉnh Cà Mau đạt 40.684 tỷ đồng
Cơ cấu kinh tế ngành trong tỉnh thời kỳ 2010 – 2014 có sự chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng ngành nông - ngư - lâm nghiệp (năm 2010 là 39,2% đến năm 2014 là 36,5%), tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp – xây dựng và thương mại - dịch vụ (năm 2010 ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 36,6%, đến năm 2014 là 36,5%; thương mại - dịch vụ năm 2010 là 24,2%, đến năm 2014 là 27%) (UBND tỉnh Cà Mau, năm 2015)
Bảng 4.1: GDP giá thực tế theo khu vực kinh tế giai đoạn 2010 - 2014
Nguồn: Cục Thống kê Cà Mau năm 2015
GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 19,8 triệu đồng, tương đương 1.000 USD; năm 2011 đạt 23,2 triệu đồng, tương đương 1.220 USD; năm 2012 đạt 25,6
Trang 31triệu đồng, tương đương 1.230 USD; năm 2013 đạt 28,2 triệu đồng, tương đương 1.342 USD (Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau 2011, 2014)
4.1.2.3 Về hệ thống đường giao thông
Cà Mau là tỉnh có hệ thống sông kênh rạch chằng chịt Do vậy, hệ thống giao thông đường thuỷ là lợi thế của tỉnh Vận tải hành khách và hàng hoá bằng đường thuỷ chiếm tỷ trọng lớn so với đường bộ do năng lực chuyên chở bằng đường thủy rất lớn Như vậy có thể thấy Cà Mau bị bất lợi là địa phương cách trở nhất đối với trung tâm kinh tế TPHCM, nhưng sự phát triển của hệ thống đường bộ, đường thủy
và đường không đã rút ngắn đáng kể khoảng cách này
4.2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Ở CÀ MAU GIAI ĐOẠN 1992 – 2014
4.2.1 Chi tiêu công cho giáo dục, đào tạo
4.2.1.1 Chi thường xuyên cho giáo dục đào tạo
Bảng 4.2 cho thấy chi thường xuyên cho giáo dục đào tạo tỉnh Cà Mau giai đoạn 1992 – 2014 đạt 23.224,0 tỷ đồng Trong đó, giai đoạn 1992 – 2002 là 5.948,0 tỷ đồng; giai đoạn 2003 – 2014 là 17.276,0 tỷ đồng (gấp 2,9 lần so với giai đoạn 1992 – 2002)
Bảng 4.2: Chi thường xuyên giáo dục đào tạo tỉnh Cà Mau giai đoạn 1992 – 2014
2 Tốc độ tăng chi thương
4 Chi thường xuyên cho giáo
Nguồn: Cục Thống kê, Sở Tài chính Cà Mau và tính toán của tác giả (2016)
Tốc độ tăng trưởng chi thường xuyên cho giáo dục đào tạo tỉnh Cà Mau giai đoạn 1992 – 2014 đạt bình quân 7,4%/năm Trong đó, giai đoạn 1992 – 2002