Câu trả lời được cung cấp bởi lý thuyết về tiết kiệm phòng ngừa, gợi ý rằng phản ứng đối với một sự gia tăng bất ổn thu nhập tăng lên, ngoài việc tăng khả năng bị thất nghiệp, các nhân t
Trang 1Ờ Ồ
Ô ẮNG
MỐ L Ê Ệ GIỮA T KIỆ Â Ở
Ớ A ỂN KHU VỰ ÂU
LUẬ Ă SĨ
TP Hồ hí inh- 2016
Trang 2Ờ Ồ
Ô ẮNG
MỐ L Ê Ệ GIỮA T KIỆ Â Ở
Ớ A ỂN KHU VỰ ÂU huyên ngành: ài chính – gân hàng
ã số: 60340201
LUẬ Ă SĨ
gười hướng dẫn khoa học:
PGS TS.Nguyễn Khắc Quốc Bảo
TP Hồ hí inh- 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
(i) Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của tôi,
(ii) Số liệu trong luận văn được điều tra trung thực,
(iii) Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
TP.Hồ Chí Minh, ngày … tháng 06 năm 2016 Học viên
Đoàn Công Thắng
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT - 1 -
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI - 2 -
1.1 Lý do chọn đề tài - 2 -
1.2 Mục tiêu nghiên cứu - 3 -
1.3 Vấn đề nghiên cứu - 3 -
1.4 Phạm vi nghiên cứu - 4 -
1.5 Phương pháp nghiên cứu - 4 -
1.6 Ý nghĩa của đề tài - 5 -
1.7 Bố cục của Luận văn - 5 -
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM - 7 -
2.1 Lý thuyết về TOT - 7 -
2.1.1 TOT của hàng hóa - 7 -
2.1.2 TOT của thu nhập - 8 -
2.1.3 TOT nhân tố đơn - 8 -
2.1.4 TOT nhân tố kép - 9 -
2.1.5 Biến động TOT - 11 -
2.2 Lý thuyết về tiết kiệm tư nhân - 12 -
2.2.1 Định nghĩa - 12 -
2.2.2 Các nhân tố kinh tế vĩ mô khác có tác động lên tiết kiệm tư nhân - 13 -
2.3 Những lý thuyết về tác động của biến động TOT lên tiết kiệm tư nhân - 15 -
Trang 52.3.1 Lý thuyết về hiệu ứng Harberger-Laursen-Metzler (HLM) - 15 -
2.3.2 Lý thuyết căn bệnh Hà Lan - 17 -
2.4 Các bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới - 20 -
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 28 -
3.1 Mô hình - 28 -
3.2 Giải thích biến số - 31 -
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU - 35 -
4.1 Phân tích thống kê mô tả - 37 -
4.2 Kiểm định tương quan và đa cộng tuyến - 39 -
4.2.1 Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến - 39 -
4.2.2 Kiểm định đa cộng tuyến - 41
-4.3 Kiểm định lựa chọn mô hình Pooled và mô hình dữ liệu bảng FEM - 42
-4.4 Kiểm định lựa chọn mô hình Pooled và mô hình dữ liệu bảng REM - 42
-4.5 Kiểm định lựa chọn mô hình FEM và mô hình dữ liệu bảng REM - 43
-4.6 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi phần dư trên dữ liệu bảng - 44
-4.7 Kiểm định hiện tượng tự tương quan phần dư trên dữ liệu bảng - 44
-4.8 Kết quả nghiên cứu và thảo luận - 45
-CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN - 53
-5.1 Kết luận chung - 53
-5.2 Một số gợi ý quan điểm - 54
-5.3 Hạn chế đề tài - 55
-5.4 Hướng mở rộng đề tài: - 55
-DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 56
-PHỤ LỤC - 58
Trang 6-DANH MỤC VIẾT TẮT
TOT Terms of trade – Sau đây trong đề tài gọi là TOT
GMM Gaussian Mixture Model – Mô hình Gaussian hỗn hợp
OLS Ordinary Least Square – Phương pháp ước lượng hồi quy tuyến
tính RPCY Real Per Capital Income – Thu nhập thực bình quân đầu người GRPCY Real Per Capital GDP Growth – Tăng trưởng GDP thực bình
quân đầu người GDP Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội
INF Inflation Rate – Tỷ lệ lạm phát
PUBSAV The Ratio Of Public Savings To Gross National Disposable
Income - Tỷ lệ tiết kiệm công trên thu nhập quốc gia ròng sẵn có DEP Dependency Ratio – Tỷ lệ phụ thuộc
HLM Lý thuyết về hiệu ứng Harberger-Laursen-Metzler
OECD Organisation For Economix Co-operation And Development –
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế BKK Backus Kehoe Kydland – Mô hình kinh tế BKK
REER Real Effective Exchange Rate – Tỷ giá thực hiệu quả
NER Nominal Exchange Rate – Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
CPI Consumer price index – Chỉ số giá tiêu dùng
HP Hodrick-Prescott Filter – Bộ lọc Hodrick-Prescott
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Danh mục Bảng
Bảng 4.1: Thống kê mô tả gữa các biến trong mô hình trang 36 Bảng 4.2: Kết quả ma trận tương quan trang 41 Bảng 4.3: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai trang 42 Bảng 4.4: Kết quả kiểm định lựa chọn Pooled và FEM trang 42 Bảng 4.5: Kết quả kiểm định lựa chọn Pooled và REM trang 43 Bảng 4.6: Kết quả kiểm định lựa chọn FEM và REM trang 43 Bảng 4.7: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi mô hình trang 44 Bảng 4.8: Kết quả kiểm tra tự tương quan phần dư trang 45 Bảng 4.9 (a): Kết quả hồi quy mô hình 1 trang 46 Bảng 4.9 (b): Kết quả hồi quy mô hình 2 trang 51
Danh mục biểu đồ:
Biểu đồ 2.1: Mối quan hệ giữa giá khu vực N với giá khu vực L và số lượng hàng hóa khu vực N trang 18
Trang 8- 1 -
TÓM TẮT
Trong bài nghiên cứu này, tác giả tiến hành nghiên cứu mối quan hệ của TOT
và tiết kiệm tư nhân sau khi giải thích cho các yếu tố khác – các yếu tố trung gian của TOT Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp mô men tổng quát GMM năng động hồi quy dạng bảng kiểm soát việc phát sinh, đồng thời sử dụng biến phụ thuộc có độ trễ
và bỏ đi các hiệu ứng đặc trưng quốc gia, sử dụng dữ liệu bảng không cân xứng hàng năm của 22 quốc gia đang phát triển thuộc Châu Á trong giai đoạn 1993 – 2014 Kết quả hồi quy cho thấy bằng chứng biến độc lập độc về tài chính, tỷ lệ phụ thuộc của dân số ngoài độ tuổi lao động có tác động ngược chiều đến tiết kiệm tư nhân có ý nghĩa thống kê; ngược lại tiết kiệm tư nhân tương quan đồng biến với tỷ lệ tiết kiệm
tư nhân năm trước, thu nhập thực trên đầu người, tăng trưởng GDP bình quân, lạm phát và sự không chắc chắn của thu nhập Trong mối quan hệ với TOT, bài nghiên cứu tìm thấy tác động cùng chiều của biến động tạm thời của TOT với tỷ lệ tiết kiệm của khu vực tư nhân Điều này phản ánh sự thiếu hụt khả năng tiếp cận việc vay mượn nước ngoài mà nhiều nước đang phát triển phải đối mặt trong suốt thập kỷ qua Các biến động đo lường sự bất ổn theo thời gian của TOT tương quan dương trong khi kỳ vọng nghiên cứu là quan hệ nghịch biến Tác động của các biến động thường xuyên TOT không có ý nghĩa thống kê
Trang 9có liên quan đặc biệt với các quốc gia xuất khẩu hàng hóa ra thế giới vì sẽ có lợi lớn
từ sự bùng nổ giá cả hàng hóa trong thập kỷ qua Câu trả lời được cung cấp bởi lý thuyết về tiết kiệm phòng ngừa, gợi ý rằng phản ứng đối với một sự gia tăng bất ổn thu nhập tăng lên, ngoài việc tăng khả năng bị thất nghiệp, các nhân tố kinh tế sẽ tăng tiết kiệm để phòng ngừa và chống lại các vấn đề lớn hơn của biến động thu nhập sụt giảm đáng kể trong tương lai Lý thuyết kinh tế thế giới bắt đầu với các nghiên cứu của Obstfeld (1982), Sachs (1981) và Svensson và Razin (1983) dành sự chú ý đặc biệt cho phản ứng của tiết kiệm tư nhân đối với những biến động TOT trong bối cảnh của mô hình kinh tế vĩ mô trải qua các quyết định dựa trên sự tối ưu hóa tạm thời bằng cách cải tiến các nhân tố Một kết quả quan trọng nổi lên từ việc này là bản chất tác động của những biến động này lên tiết kiệm tư nhân phụ thuộc vào vấn đề các biến động này là tạm thời hay thường xuyên, và có thể dự đoán được hay không? Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực này lại chỉ tập trung vào các nước đã phát triển Có rất ít bài nghiên cứu đề cập đến các nước đang phát triển
Bên cạnh đó, việc người dân phản ứng lại các chính sách kinh tế thông qua việc tiêu dùng hay tiết kiệm nhiều hơn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế nước
đó Việc người dân tiêu dùng hay tiết kiệm quá nhiều trong một thời gian dài đều không tốt cho nền kinh tế, vì nó có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của quốc gia, do đó phải có chính sách quản lý kinh tế vĩ mô hợp lý để kích thích hoặc
Trang 10Nam, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa TOT và tiết kiệm tư
nhân ở các nước đang phát triển khu vực Châu Á” để làm luận văn thạc sĩ của
mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu này nhằm mục tiêu kiểm định tác động của các biến động TOT lên tiết kiệm tư nhân ở các nước đang phát triển, mà ở đây là các nước đang phát triển thuộc khu vưc Châu Á Cụ thể như sau:
_ Kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố của biến động TOT và tiết kiệm tư nhân _ Mức độ tương quan giữa các yếu tố này với tiết kiệm tư nhân
1.3 Vấn đề nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau:
Tác động của thu nhập thực trên đầu người đến tỷ lệ tiết kiệm theo đầu người
Tác động của tăng trưởng GDP thực trên đầu người đến tỷ lệ tiết kiệm theo đầu người
Ảnh hưởng của mức độ lưu hành tiền tệ đến tỷ lệ tiết kiệm theo đầu người
Ảnh hưởng của tỷ lệ lạm phát lên tỷ lệ tiết kiệm theo đầu người
Tác động của tỷ lệ tiết kiệm công trên tổng thu nhập sẵn có của quốc gia đến
tỷ lệ tiết kiệm theo đầu người
Cách thức tỷ lệ phụ thuộc tác động lên tỷ lệ tiết kiệm theo đầu người
Trang 11lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiểu dụng nhân công cao và ngày càng tăng, phụ thuộc rất lớn vào nông nghiệp và sản phẩm thô, bị chèn ép, bị phụ thuộc và dễ bị tổn thương trong quan hệ với bên ngoài
Tuy nhiên, các quốc gia này cũng có những điểm khác biệt về ngôn ngữ, tôn giáo, dân số, chế độ chính trị, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát…những yếu tố này ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của các quốc gia nghiên cứu làm ảnh hưởng kết quả
phân tích tác động của các biến động TOT lên tiết kiệm khu vực tư nhân
1 5 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trên dữ liệu bảng không cân xứng thu thập từ 22 quốc gia đang phát triển thuộc Châu Á trong giai đoạn từ 1993 đến 2014, từ tổng hợp lý thuyết các yếu tố nghiên cứu và các bằng chứng thực nghiệm liên quan vấn đề nghiên cứu Sử dụng mô hình hồi quy định lượng nhằm xác định các mối quan hệ trên các biến đại diện nhân tố nghiên cứu, từ
đó trả lời câu hỏi nghiên cứu và nêu ra các kiến nghị, hướng mở rộng
Trang 12- 5 -
Bài nghiên cứu thực hiện định lượng trên dữ liệu bảng, sử dụng khung phương pháp hệ thống GMM và đối chiếu với kết quả OLS GMM cho phép ước lượng vững và hiệu quả trên dữ liệu tồn tại cả phương sai thay đổi, tự tương quan và nội sinh Các biến được sử dụng trong bài nghiên cứu sẽ được mô tả rõ hơn trong Chương 3
Bài nghiên cứu sử dụng phần mềm Stata để thực hiện định lượng phục vụ cho việc kiểm định các bằng chứng thực nghiệm ảnh hưởng đến tiết kiệm tư nhân của các biến động TOT
1.6 Ý nghĩa của đề tài
Về mặt định tính, bài nghiên cứu tổng hợp các lý thuyết kinh tế và bằng chứng thực nghiệm về tác động của các biến động TOT lên tiết kiệm tư nhân ở các nước đang phát triển thuộc khu vực Châu Á
Về mặt định lượng, việc xây dựng một mô hình nghiên cứu giải quyết các vấn đề nghiên cứu được đặt ra sẽ cung cấp cơ sở thực nghiệm của cách thức mà các yếu tố của biến động TOT tác động lên tiết kiệm tư nhân từ đó đưa ra các giải pháp nhằm kiểm soát các yếu tố của biến động TOT để đạt mục tiêu kinh tế vĩ mô
1.7 Bố cục của Luận văn
Nội dung chính của luận văn bao gồm 5 chương, được trình bày cụ thể theo trình tự sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khi thực hiện đề tài
Trang 13- 6 -
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp cơ sở lý luận khoa học, những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về các yếu tố tác động đến tiết kiệm tư nhân và tài khoản vãng lai cũng như tác động của cấu trúc tài chính đến hai yếu tố trên
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chính của chương này tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giải thích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, mô tả các đặc điểm của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt ra để kiểm định và nguồn dữ liệu
để thực hiện nghiên cứu, phương pháp thực hiện nghiên cứu
Bài nghiên cứu thực hiện định lượng trên dữ liệu bảng, sử dụng khung phương pháp hệ thống GMM và đối chiếu với kết quả OLS GMM cho phép ước lượng vững và hiệu quả trên dữ liệu tồn tại cả phương sai thay đổi, tự tương quan
và nội sinh
Chương 4: Nội dung và các kết quả nghiên cứu
Trong chương này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của các yếu tố biến động TOT đến tiết kiệm tư nhân Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành kiểm định dựa trên dữ liệu của các quốc gia đang phát triển đồng thời thảo luận các kết quả thực nghiệm nhận được
Chương 5: Kết luận và các hàm ý
Ở chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, tổng kết lại các kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng
mở rộng đề tài
Trang 14- 7 -
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Lý thuyết về TOT:
Để đánh giá tiềm lực kinh tế của quốc gia trong thương mại quốc tế, ảnh hưởng của thương mại quốc tế đến thu nhập quốc gia tính theo hàng hóa nhập khẩu của nước ngoài và đánh giá sự phụ thuộc của sản xuất trong nước đối với hàng hóa nhập khẩu, các nhà kinh tế vĩ mô đã đưa ra khái niệm và công thức tính chỉ tiêu TOT (Terms of trade)
TOT là một thuật ngữ chung, mô tả một nhóm các TOT khác nhau gồm: TOT của hàng hóa (Commodity term of trade), TOT của thu nhập (Income term of trade), TOT nhân tố đơn (Single factoral term of trade) và TOT nhân tố kép (Double factoral term of trade)
2.1.1 TOT của hàng hóa
Là chỉ tiêu kinh tế biểu thị mối quan hệ tỷ lệ giữa giá hàng xuất khẩu với giá hàng nhập khẩu của quốc gia, được tính theo công thức:
N = Giá xuất khẩu/Giá nhập khẩu = P/(S.P*) (1)
Trong đó:
N – TOT của hàng hóa;
P – Giá hàng xuất khẩu theo nội tệ;
P*- Giá hàng nhập khẩu theo ngoại tệ;
S – Tỷ giá hối đoái giữa nội tệ so với ngoại tệ
Trong thực tế, hoạt động trao đổi thương mại của một quốc gia với bên ngoài diễn ra với nhiều loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau, khi đó TOT được tính bằng tỷ
lệ giữa chỉ số giá hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu với chỉ số giá hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu của quốc gia:
Trang 152.1.2 TOT của thu nhập
Là chỉ tiêu kinh tế đánh giá khả năng dựa vào xuất khẩu để nhập khẩu của quốc gia, được tính theo công thức:
I = (PX / PM) x QX (3)
Trong đó:
I – TOT của thu nhập;
PX , PM – Lần lượt là chỉ số giá hàng xuất, nhập khẩu;
QX - Chỉ số khối lượng hàng xuất khẩu
Biến động của TOT thu nhập là chỉ tiêu quan trọng đối với các nước đang phát triển vì những nước này phụ thuộc rất nhiều vào tư liệu sản xuất nhập khẩu để
phát triển kinh tế
2.1.3 TOT nhân tố đơn
Là chỉ tiêu kinh tế đánh giá lượng hàng nhập khẩu của một quốc gia có trong một đơn vị nhân tố sản xuất trong nước của hàng xuất khẩu TOT nhân tố đơn phản ánh mức độ phụ thuộc của sản xuất hàng xuất khẩu của quốc gia đối với hàng nhập khẩu và được tính theo công thức:
S = (PX / PM) ZX (4)
Trong đó:
S – TOT nhân tố đơn;
PX, PM – Lần lượt là chỉ số giá hàng xuất, nhập khẩu;
Trang 16D = (PX / PM) (ZX / ZM) (5)
Trong đó:
D – TOT nhân tố kép;
PX , PM – Lần lượt là chỉ số giá hàng xuất, nhập khẩu;
ZX – Chỉ số năng suất khu vực xuất khẩu của quốc gia;
ZM – Chỉ số năng suất nhập khẩu
Trong bốn loại TOT nêu trên, TOT nhân tố kép (D) không sử dụng thường xuyên đối với các nước đang phát triển và ít được tính toán TOT của thu nhập và TOT nhân tố đơn là hai loại quan trọng nhất đối với các nước đang phát triển Vì TOT của hàng hóa (N) dễ tính toán nhất trong số bốn loại TOT, nên trong hầu hết các giáo trình kinh tế thường dùng TOT của hàng hóa và N thường được gọi đơn giản là TOT (Term of trade)
Biến động của TOT phản ánh thay đổi thu nhập của quốc gia tính theo hàng hóa nhập khẩu của nước ngoài Khi TOT giảm, đồng nghĩa với thu nhập quốc gia giảm vì cần phải tăng thêm hàng xuất khẩu để mua được một đơn vị hàng nhập khẩu định trước Nếu chỉ đơn thuần dựa vào tăng, giảm của TOT khó có thể đánh giá mức sống tăng hay giảm Ví dụ, khi giá hàng xuất khẩu tăng dẫn tới TOT tăng, nghĩa là với một lượng hàng xuất khẩu nhất định có thể đổi lấy một lượng hàng nhập khẩu lớn hơn Tuy nhiên, giá hàng xuất khẩu tăng có thể dẫn tới nhu cầu của bên ngoài đối với hàng xuất khẩu giảm, do vậy trong khi một đơn vị hàng xuất khẩu có thể đổi
Trang 17i Ảnh hưởng của giá: hàng hóa xuất khẩu tính theo ngoại tệ sẽ rẻ hơn, hàng
hóa nhập khẩu tính theo nội tệ sẽ đắt hơn, vì vậy ảnh hưởng của giá sẽ làm cho cán cân vãng lai xấu đi;
ii Ảnh hưởng của lượng: hàng hóa xuất khẩu rẻ hơn sẽ dẫn tới tăng khối lượng
hàng xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu đắt hơn sẽ làm giảm khối lượng hàng nhập khẩu, vì vậy ảnh hưởng của lượng sẽ cải thiện cán cân vãng lai
Ảnh hưởng của lượng cần có thời gian vì nó phụ thuộc vào nhu cầu của bên ngoài Vì vậy, ảnh hưởng thuần của phá giá đồng tiền đối với cán cân vãng lai phụ thuộc vào ảnh hưởng của giá hay ảnh hưởng của lượng nổi trội hơn
TOT của hàng hóa ở các nước đang phát triển có xu hướng giảm theo thời gian Nguyên nhân của hiện tượng này là do cách ứng xử khác nhau đối với hiện tượng tăng năng suất tại các nước phát triển và các nước đang phát triển Tại các nước phát triển, kết quả của tăng năng suất được chuyển hết vào người lao động dưới dạng tiền lương và thu nhập cao hơn Trong khi đó tại các nước đang phát triển tăng năng suất được phản ánh dưới dạng giá cả hàng hóa thấp hơn Các nước phát
Trang 18- 11 -
triển giữ được mối lợi từ tăng năng suất của riêng họ, đồng thời hưởng lợi từ tăng năng suất của các nước đang phát triển qua việc họ mua các sản phẩm xuất khẩu của các nước đang phát triển với giá rẻ hơn
Nhu cầu của các nước đang phát triển đối với sản phẩm công nghiệp xuất khẩu từ các nước phát triển có xu hướng tăng nhanh hơn nhu cầu của các nước phát triển đối với sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu từ các nước đang phát triển Điều này cũng là nguyên nhân dẫn tới TOT của hàng hóa ở các nước đang phát triển giảm
Nếu tăng năng suất tại các nước phát triển và các nước đang phát triển đều được phản ánh dưới dạng giá cả hàng hóa thấp hơn, khi đó TOT của các nước đang phát triển sẽ tăng theo thời gian Tăng năng suất trong nông nghiệp nhìn chung thấp hơn trong công nghiệp, vì vậy chi phí sản xuất và giá cả của sản phẩm công nghiệp giảm mạnh hơn so với sản phẩm nông nghiệp Các nước đang phát triển chủ yếu xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, ngược lại, các nước phát triển chủ yếu xuất khẩu sản phẩm công nghiệp, nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp và nguyên liệu thô Vì vậy TOT của hàng hóa ở các nước phát triển sẽ giảm
TOT của thu nhập và TOT nhân tố đơn có thể tăng ngay trong trường hợp TOT của hàng hóa giảm Trường hợp này xảy ra khi chỉ số khối lượng hàng xuất khẩu (QX) và chỉ số năng xuất khu vực xuất khẩu của quốc gia (ZX) tăng đủ lớn để
bù đắp sự suy giảm của TOT của hàng hóa
2.1.5 Biến động TOT:
Là tình trạng tăng hoặc giảm bất thường với biên độ lớn của TOT Điều này làm ảnh hưởng đáng kể lên thu nhập thực của quốc gia, đầu tư, tiết kiệm cá nhân và cuối cùng là sản lượng quốc gia trong tương lai
Các lý thuyết nền tảng về biến động TOT:
Trang 19- 12 -
2.2 Lý thuyết về tiết kiệm tƣ nhân:
2.2.1 Định nghĩa:
Tiết kiệm tư nhân là tiết kiệm của hộ gia đình và doanh nghiệp Tiết kiệm
tư nhân được tính bằng bằng tiết kiệm cá nhân cộng với lợi nhuận sau thuế của công
ty trừ cổ tức được trả
Tiết kiệm trong nền kinh tế:
Trong một nền kinh tế đóng, không có hoạt động xuất nhập khẩu, ta có:
X – M <0 là tương đương với thâm hụt thương mại., ta sẽ có TD = Y – C – G – I
Và ta đã biết Y – C – G chính là tiết kiệm S nên có thể viết là:
Trang 20- 13 -
Như vậy theo phương trình cân bằng sản lượng kinh tế thì tiết kiệm cá nhân phụ thuộc vào 03 biến số là chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu, đầu tư và tiết kiệm chính phủ
2.2.2 Các nhân tố kinh tế vĩ mô khác có tác động lên tiết kiệm tư nhân:
a) GRPCY: Tỷ lệ tăng trường GDP thực đầu người
Theo định nghĩa của Worldbank: tốc độ tăng trưởng hàng năm của GDP bình quân đầu người dựa trên cơ sở tiền tệ nội địa không thay đổi Tập hợp này dựa trên hằng số là giá trị của đô la Mỹ năm 2005 GDP bình quân đầu người là tổng sản phẩm trong nước chia cho dân số giữa năm GDP theo giá mua là tổng của giá trị gia tăng ròng của tất cả các nhà sản xuất thường trực trong nền kinh tế cộng với mọi khoản thuế sản phẩm và trừ đi bất kỳ khoản trợ cấp không tính vào giá trị của sản phẩm Nó được tính toán mà không thực hiện trích khấu hao tài sản không có thực hoặc nguồn thu từ việc làm cạn kiệt và suy thoái tài nguyên thiên nhiên
b) RPCY: Thu nhập thực bình quân đầu người
Thu nhập thực bình quân đầu người là thu nhập trung bình của một người trong một khu vực cho trước (thành phố, quốc gia, vùng miền…) Chỉ số này được tính bằng cách chia tổng thu nhập của khu vực cho dân số của toàn khu vực đó
c) GDP: Tồng giá trị sản phẩm quốc gia
GDP theo giá mua là tổng giá trị gia tăng của tất cả các nhà sản xuất thường trực trong nền kinh tế cộng với mọi khoản thuế sản phẩm và trừ đi bất kỳ khoản trợ cấp không tính vào giá trị của sản phẩm Nó được tính toán mà không thực hiện trích khấu hao tài sản không có thực hoặc nguồn thu từ việc làm cạn kiệt
và suy thoái tài nguyên thiên nhiên
d) Mức độ cung tiền tính theo % trên GDP:
Trang 21- 14 -
Tiền và tương đương tiền bao gồm các khoản tiền bên ngoài ngân hàng, nhu cầu tiền gửi khác ngoài tổ chức chính phủ, và những khoản tiết kiệm, tiền gửi ngoại tệ của các thành phần cư dân khác ngoài tổ chức chính phủ Định nghĩa này của cung tiền thường được gọi là M2
Trong bài nghiên cứu thì chỉ số này được tính bằng phần trăm thay đổi hàng năm trong CPI
f) DEP: Tỷ lệ phụ thuộc
Tỷ lệ phụ thuộc ghi nhận hiệu ứng vòng đời và nó đo lường tác động của biến nhân khẩu học lên tiết kiệm cá nhân Nó được đo lường bằng tỷ lệ của sự khác
nhau giữa tổng dân số và số lượng lao động được tuyển dụng trên tổng dân số
g) PUBSAV: Tỷ lệ tiết kiệm công trên thu nhập quốc gia ròng sẵn có
Tỷ lệ tiết kiệm công trên thu nhập quốc gia ròng sẵn có được tính bằng tỷ lệ của tiết kiệm công trên GDP Tiết kiệm công được tính bằng cách lấy tổng thu nhập trừ đi tổng chi tiêu của Chính phủ
Trang 22
- 15 -
2.3 Những lý thuyết về tác động của biến động TOT lên tiết kiệm tƣ nhân:
2.3.1 Lý thuyết về hiệu ứng Harberger-Laursen-Metzler (HLM):
Tồn tại một mối liên quan đáng kể về lý thuyết nghiên cứu hiệu ứng HLM Mối quan hệ cùng chiều giữa TOT và cán cân thương mại được đưa ra bởi Harberger, Laursen và Metzler, dựa trên việc sử dụng phương trình tiêu dùng của Keynesian Các yếu tố kỹ thuật được sử dụng trực tiếp để tạo ra kết quả Một sự cải thiện trong TOT làm tăng thu nhập quốc nội thực của quốc gia, đó là sản lượng nội địa đo lường bằng giá nhập khẩu hoặc giá nhóm hàng tiêu dùng thực Tuy nhiên với
xu hướng biên ngắn hạn giảm bớt tiêu dùng kết hợp sau đó thì ít hơn mức tăng tương ứng của chi tiêu cho tiêu dùng Kết quả là mức tiết kiệm cá nhân tăng lên và các mặt khác không thay đổi dẫn đến một sự cải thiện trong cán cân thương mại của quốc gia
Trong những năm 1980 sự tồn tại của hiệu ứng HLM đã đúc kết lại một hệ thống tối ưu hóa nhất thời Nó thiết lập nền tảng kinh tế vĩ mô của hiệu ứng HLM và lọc ra các điều kiện mà hiệu ứng tồn tại Một mối liên kết của lý thuyết này sử dụng
mô hình dự báo hoàn hảo Một phát hiện quan trọng của lý thuyết này là những phản ứng đương thời của cán cân thương mại do tác động của biến động TOT phụ thuộc vào sự duy trì của biến động Những thay đổi tạm thời trong các TOT dẫn đến hiệu ứng HLM, nhưng do tác động của các biến động trở nên dai dẳng hơn nên hiệu ứng HLM bị giảm bớt Trong mô hình hai giai đoạn cơ bản của một nền kinh tế mở nhỏ, những thay đổi vĩnh viễn trong TOT không có tác động đối với cán cân thương mại, xem Sachs (1981)
Phần mở rộng về mô hình kinh điển đã được thực hiện bởi một số tác giả Obstfeld (1982) nói về các vấn đề nhấn mạnh của Uzawa (1969), trong đó tỷ lệ trừ hao của các khu vực kinh tế phụ thuộc vào mức độ hiệu năng hiện thời của chúng Theo các giả định rằng tỷ lệ trừ hao tăng ở mức độ hiệu năng hiện tại, Obstfeld cho thấy một sự cải thiện lâu dài (bất ngờ) trong TOT dẫn đến thâm hụt trên cán cân
Trang 23- 16 -
thương mại Svensson và Razin (1983) khái quát những kết quả của Sachs và Obstfeld bằng cách phân biệt giữa những thay đổi hiện tại và tương lai trong TOT Persson và Svensson (1985) sử dụng một mô hình nhiều lớp chồng lên nhau để kiểm tra các phần mở rộng của mô hình kinh điển đã được thực hiện bởi một số tác giả
Trong một động thái đi từ mô hình cụ thể Backus (1993) cung cấp một lý thuyết phân tích sự tương tác giữa TOT và cán cân thương mại trong một thế giới không ổn định, nhưng các điều kiện cần thiết của thị trường là hoàn chỉnh Nghiên cứu này có một số kết luận nổi bật Trong khuôn khổ hai nước Backus, TOT và cán cân thương mại được xác định là nội sinh, tuy nhiên không giống như các mô hình
dự báo hoàn hảo, độ lớn của các mối tương quan giữa TOT và cán cân thương mại thì không liên quan đến dao động của biến động TOT Với thị trường hoàn chỉnh nó được xác định bởi các yếu tố ưu tiên, thông số kỹ thuật và bản chất của các rối loạn cung và cầu, các yếu tố này điều khiển hệ thống Các mô hình thị trường hoàn chỉnh cho phép các yếu tố đại diện bảo đảm việc chống lại tất cả những biến động riêng biệt (theo quốc gia cụ thể) và điều này hàm ý rằng không có tác động về thu nhập gắn với những biến động như vậy Ngược lại trong khuôn khổ dự báo hoàn hảo thì tác động là tương đối khác biệt trong quy mô của hiệu ứng thu nhập gắn với một biến động tạm thời và một biến động vĩnh viễn lên TOT, đó là một yếu tố quan trọng trong gây ra phản ứng khác nhau cho cán cân thương mại
Tính khả thi của mô hình thị trường hoàn chỉnh bao gồm hai nước thực sự phù hợp với sự tương tác giữa TOT và cán cân thương mại, đã được kiểm tra bởi Backus et al (1992, 1994) Backus và các cộng sự (1994), BKK, tổng kết các mối quan hệ thực nghiệm giữa TOT (mà họ định nghĩa là tỉ lệ giá xuất khẩu trên giá nhập khẩu) và cán cân thương mại thông qua một hàm số tương quan chéo Sử dụng
dữ liệu cho một số nước OECD họ xác định một hàm số tương quan chéo hình chữ
S như là một quy luật thực nghiệm Trong khuôn khổ BKK, cả TOT và cán cân thương mại là nội sinh và nguồn gốc cơ bản của sự bất ổn là những biến động tới chi tiêu chính phủ và thông số kỹ thuật Đối với tham số nhất định của mô hình của
Trang 24- 17 -
BKK họ có thể tái tạo một số tính năng trong các dữ liệu, bao gồm cả những đường cong S Các yếu tố quan trọng để có được các đường cong S trong mô hình BKK là dạng của những biến động cơ bản và sự tích tụ vốn
Một khuôn khổ lý thuyết phù hợp hơn cho việc phân tích hiệu ứng HLM trong nền kinh tế mở nhỏ được cung cấp bởi Mendoza (1992, 1995) Ngược lại với BKK, Mendoza phát triển một mô hình lý thuyết của một quốc gia duy nhất mà phải đối mặt với việc TOT là ngoại sinh Biến động trong TOT là một nguồn gốc cơ bản của những biến động cho nền kinh tế thị trường không hoàn chỉnh trong khuôn khổ của Mendoza, các nước có thể giao dịch một tài sản đơn thuần là trái phiếu phi rủi
ro theo từng đợt Mendoza (1992) là một phiên bản tổng quát ngẫu nhiên của mô hình Obstfeld (1982) Đó là một nền kinh tế có các khoản trợ cấp với ba loại hàng hóa: hàng nhập khẩu, hàng xuất khẩu và phi thương mại Các khu vực đại diện được giả định có một tỷ lệ thời gian ưu tiên là nội sinh và nó gia tăng ở mức độ hiện thời ngay lập tức Mendoza hiệu chỉnh mô hình của ông cho nền kinh tế Canada và thấy rằng các mô hình tạo ra mối tương quan tích cực giữa TOT và cán cân thương mại- hiệu ứng HLM Một mối tương quan tích cực tương tự cũng là bằng chứng trong các
dữ liệu của Canada
2.3.2 Lý thuyết căn bệnh Hà Lan:
Mô hình sơ khai giải thích lý thuyết căn bệnh Hà Lan đến từ Corden và Neary (1982) và Corden (1984) Mô hình Core thảo luận 03 khu vực: khu vực bùng
nổ (B), khu vực lạc hậu (L) và khu vực phi thương mại (N) Corden (1984) mô tả 03
sự kiện có thể cung cấp yếu tố thúc đẩy cho khu vực B: cải tiến kỹ thuật dẫn đến sự gia tăng sản lượng của B, phát hiện nguồn tài nguyên mới chưa được khai thác, hoặc tăng giá ngoại sinh trên thị trường toàn cầu của hàng hóa khu vực bùng nổ so với giá của các nước nhập khẩu Trong trường hợp thứ ba này, khu vực bùng nổ ban đầu được giả định là hoàn toàn được xuất khẩu, hoặc giá trong nước được tách ra khỏi giá thị trường toàn cầu (như trường hợp ở một số nước sản xuất dầu mỏ), có nghĩa là
nó không trực tiếp chịu áp lực lạm phát trong nước Khi bùng nổ B từ một hoặc
Trang 25- 18 -
nhiều hơn các sự kiện, tổng thu nhập gia tăng cho tất cả các yếu tố hoạt động ban đầu Giả sử có ít nhất một phần thu nhập tăng thêm này được chi cho hàng hóa và dịch vụ không giao dịch được, N, các hiệu ứng chi tiêu nói trên diễn ra Giá của N
so với giá cả của hàng hóa thương mại phải cao lên, vì giá của N được thiết lập trên thị trường trong nước, các khu vực xuất khẩu giá được thiết lập trên toàn cầu (và do
đó ổn định, trừ trường hợp thứ ba, nơi PB tăng nhưng không phải là tiêu thụ trong nước, và như vậy sẽ không ảnh hưởng đến mức giá của các quốc gia Sự tăng giá này là một sự đánh giá thực tế, và có thể được xác định bởi công thức: REER = NER (P * / P) (8) Trong (8), REER là tỷ giá thực hiệu quả, NER là tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa bất kỳ hai nước (cụ thể là nhà đơn vị tiền tệ trên một đơn vị ngoại tệ), P * là mức giá của nước ngoài, và P là mức giá trong nước Lưu ý REER được đánh giá cao ngay cả dưới chế độ tỷ giá hối đoái cố định, như lạm phát trong nước vượt trội hơn lạm phát nước ngoài do hiệu ứng triệt tiêu này Trong hình 2.1, trục dọc cho thấy Pn, mà theo mô hình Core là giá của hàng hóa và dịch vụ không thể giao dịch, tương quan với các ngành xuất khẩu chậm phát triển Đường cầu cho thấy nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ không thể giao dịch, nơi thu nhập bằng chi phí
ở tất cả các cấp Hiệu ứng chi tiêu dịch chuyển nhu cầu từ D0 đến D1, làm tăng Pn
Biểu đồ 2.1: Mối quan hệ giữa giá khu vực N với giá khu vực L (Pn) và số lượng
hàng hóa khu vực N
Trang 26- 19 -
Ngoài ra, năng suất lao động biên tăng trong B, khu vực bùng nổ, làm tăng nhu cầu về lao động và do đó tăng tiền lương trong của khu vực này, đó là hiệu ứng dịch chuyển tài nguyên Điều này di chuyển lao động ra khỏi L, khu vực kém phát triển, sang B, làm giảm sản lượng và nhân lực của khu vực kém phát triển, được gọi
là phi - công nghiệp hóa trực tiếp Corden lưu ý rằng phi - công nghiệp hóa chỉ đơn thuần là viết tắt, vì khu vực kém phát triển có thể chỉ đơn giản bao gồm chủ yếu là nông nghiệp, ví dụ như vậy Lao động cũng di chuyển từ khu vực có thể giao dịch,
N, và vào B, giảm việc cung cấp của N và tiếp tục tăng giá tỷ giá hối đoái thực Điều này được thể hiện trong hình 2.1 bởi sự chuyển đổi bên trái của đường cung từ
S0 đến S1 Sự gia tăng giá hàng hóa phi thương mại củng cố quá trình phi - công nghiệp hóa của khu vực kém phát triển, vì nó thu hút thêm lao động thông qua tiền lương cao hơn để di chuyển ra khỏi L và vào N, một cuộc di cư mà Corden gọi gián tiếp là phi - công nghiệp hóa
Kết quả cuối cùng là một sự suy yếu khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực xuất khẩu kém phát triển do đánh giá cao tỷ giá và áp lực tiền lương cao hơn gây ra sự sụt giảm trong ngành xuất khẩu truyền thống này Điều này mô hình Core dựa trên một số giả định đơn giản hóa, cụ thể là tính di động trong nội bộ ngành lao động và lao động quốc tế và tài chính cố định Nó cũng giả định mức tăng thu nhập trong khu vực đang bùng nổ là tiêu dùng hoàn toàn và không được đầu tư Giảm nhẹ xu hướng tiêu dùng để làm giảm các tác động, nhưng không phải là xu hướng chung của sự suy giảm trong L (Corden 1984)
Ví dụ, ông cho rằng trường hợp các sản phẩm của khu vực bùng nổ không hoàn toàn xuất khẩu, và có một số tác động hấp thụ nội địa Nếu sản phẩm của khu vực bùng nổ là hàng hóa tiêu dùng cuối cùng, việc tăng giá của nó sẽ dẫn đến một tác động (thu nhập) chi tiêu tích cực do chủ sở hữu và người lao động của B mua thêm tất cả mọi thứ, một hiệu ứng (thu nhập) chi tiêu tiêu cực do những người từ các khu vực khác không mua hàng hóa ở khu vực bùng nổ mà lại mua nhiều hàng hóa ở khu vực khác ( L và N) Điều này có thể sẽ dẫn đến sự gia tăng thực tế; các
Trang 27- 20 -
hiệu ứng dịch chuyển nguồn tài nguyên là như nhau Mặt khác, nếu các sản phẩm đang bùng nổ là hàng hóa trung gian, chẳng hạn như dầu, vấn đề này phức tạp hơn một chút Thu nhập trong khu vực kém phát triển và khu vực phi thương mại sụt giảm, dẫn đến hiệu ứng chi tiêu tiêu cực Điều này có thể hoặc không thể hủy bỏ tác động tiêu cực do thu nhập tăng lên trong khu vực đang bùng nổ Các tác động dịch chuyển nguồn tài nguyên trong trường hợp này sẽ lớn hơn, kể từ khi năng suất lao động biên giảm ở khu vực L và N do giá mua dầu mỏ tăng sẽ tạo ra sức ép tăng giá trên mỗi sản phẩm ở các khu vực kia
2.4 Các bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới:
Các nghiên cứu của (Dornbusch, 1983; Edwards, 1989) đặt vấn đề nhìn nhận rằng các biến động nhất thời lên chu kỳ kinh tế có tác động rõ ràng lên tiết kiệm khu vực tư nhân Sử dụng một mô hình 03 loại hàng hóa (nhập khẩu, xuất khẩu và phi thương mại), những bài nghiên cứu này cho thấy rằng biến động TOT đối nghịch có thể ảnh hưởng đến tiết kiệm tư nhân bằng 03 cách (Chowdhury, 2004) Thứ nhất, nó sẽ làm giảm thu nhập quốc gia hiện tại tương đối so với thu nhập quốc gia trong tương lai (san bằng nhu cầu tiêu dùng hay hiệu ứng HLM) Thứ hai, nó sẽ làm tăng giá cả nhập khẩu hiện tại tương đối so với giá nhập khẩu tương lai dẫn đến việc người tiêu dùng hoãn việc mua sắm, do đó, tiết kiệm nhiều hơn (hiệu ứng làm lệch nhu cầu tiêu dùng) Thứ ba, nó sẽ làm tăng giá nhập khẩu tương đối với giá hàng hóa phi thương mại, do đó dẫn đến tăng tỷ giá thực Ở đây, nói cách khác, sẽ tăng lãi suất vay tiêu dùng do đó khuyến khích việc hoãn lại nhu cầu tiêu dùng hiện tại và tăng tiết kiệm (hiệu ứng tỷ giá hối đoái thực) Như một quan điểm nhìn nhận bên ngoài bởi Cashin và McDermott (2002), phản ứng lại một biến động TOT đối nghịch nhất thời, tiết kiệm sẽ gia tăng (hoặc giảm) nếu hiệu ứng san bằng nhu cầu tiêu dùng chiếm ưu thế (hoặc yếu hơn) tác động tăng cường tiết kiệm của hiệu ứng tỷ giá hối đoái thực và hiệu ứng làm lệch nhu cầu tiêu dùng
Trang 28- 21 -
Obstfled, M (1982): Trong một nền kinh tế mở, phạm vi của chính sách bình ổn hoạt động phụ thuộc vào bản chất của các mối liên kết giữa thị trường trong nước và quốc tế đối với hàng hóa và tài sản Mối quan hệ Tgoimportant – sức mua tương đương và lãi suất không hỗ trợ tương đương – đã nhận được nhiều kinh nghiệm sâu rộng trong những năm gần đây và là nền tảng cơ bản của một số mô hình tỷ giá hối đoái truyền thống Qua đánh giá bài nghiên cứu này và mở rộng các khám phá kinh tế học gần đây về hai mối quan hệ ngang giá từ xưa và hệ quả tất yếu của chúng, trạng thái cân bằng quốc tế của lãi suất kỳ vọng Các kiểm định kinh tế cho rằng kỳ vọng hợp lý là không có lợi cho mối quan hệ ngang giá truyền thống: có vài trường hợp ngoại lệ chúng bị từ chối mạnh mẽ Một chủ đề trọng tâm trong việc xem xét các nghiên cứu thực nghiệm là điều kiện phương sai thay đổi của lạm phát
và sai số dự báo tỷ giá hối đoái và độ lệch thống kê này có thể quan trọng với các kiểm định của các mối quan hệ ngang giá quốc tế Bài nghiên cứu đề xuất và thực hiện một một kiểm định phương sai thay đổi mà trong nhiều trường hợp tạo ra bằng chứng mạnh mẽ rằng vấn đề là thực sự quan trọng
Dornbusch, R (1983): Bài nghiên cứu này điều tra phần vỏ bọc tối ưu của tiêu dùng và vay nợ nước ngoài trong mô hình nền kinh tế phụ thuộc Các quốc gia nhỏ phải đối mặt với việc chấp nhận giá cả thế giới và tỷ lệ lãi suất thực tế trên thế giới Sự xuất hiện của một ngành hàng nội địa ngụ ý rằng tỷ lệ lãi suất thực có liên quan phù hợp với quyết định tiêu dùng phụ thuộc vào tỷ lệ thay đổi giá cả thực sự của hàng hóa nội địa Bài viết cho thấy làm thế nào rối loạn tạm thời về sản lượng hoặc tác động của tỷ giá hối đoái thế giới đến hoạt động tiêu dùng qua thời gian Đặc biệt nó cho thấy sự hiện diện của một ngành hàng nội địa làm suy giảm những tác động tiêu dùng do những thay đổi trong lãi suất
Edwards, S (1989): Trong bài nghiên cứu này, một mô hình cân bằng tổng thể liên thời gian với người tiêu dùng và nhà sản xuất tối ưu hóa được phát triển để phân tích làm thế nào các biến động TOT tạm thời ảnh hưởng đến xu hướng tỷ giá hối đoái thực và tài khoản vãng lai Những thay đổi trong các yếu tố nội sinh của
Trang 29- 22 -
TOT (do thay đổi thuế quan) và các yếu tố ngoại sinh của TOT được xem xét Mô hình này là hoàn toàn có thật, và xem xét một nền kinh tế mở nhỏ sản xuất và tiêu thụ ba loại hàng hóa trong từng thời kỳ Nó cho thấy không có áp đặt cứng nhắc hoặc chi phí điều chỉnh, xu hướng lãi suất cho tỷ giá hối đoái cân bằng thực có thể được tạo ra Đặc biệt là trạng thái “vượt ngưỡng cân bằng” có thể quan sát đuợc Điều kiện chính xác theo đó mức thuế nhập khẩu tạm thời sẽ làm thâm hụt thêm tài khoản vãng lai ở giai đoạn một Cách thức mà các yếu tố ngoại sinh tạm thời và vĩnh viễn của biến động TOT sẽ ảnh hưởng đến tài khoản vãng lai được phân tích Một vài cách mà các mô hình có thể được mở rộng được thảo luận: Các kết quả thu được từ mô hình này có ý nghĩa quan trọng cho việc thiết lập chính sách cán cân thanh toán và cho các phân tích sai lệch tỷ giá hối đoái thực và vượt giá trị thực
Agenor và Aizenman (2004) đã gợi ý rằng các biến động TOT có thể cũng dẫn đến một phản ứng không tương xứng với tiết kiệm Sự sụt giảm sức mua và bong bóng trong giá cả hàng hóa có thể gây ra phản ứng khác với các thay đổi về phúc lợi Các hộ gia đình có thể sẽ không bỏ qua nhu cầu tiêu dùng khi phải đối mặt với các biến động đối nghịch của TOT bởi vì sự có mặt của nó, gia tăng kiềm chế vay mượn trong thị trường tài chính thế giới Cho nên, để duy trì một đường lối tiêu dùng đều đặn, các thành phần trong nền kinh tế có thể bị buộc không tiết kiệm một khoản lớn hơn mà lẽ ra họ sẽ có Mở rộng ra các thành phần kinh tế nội địa thu nhận khả năng đối mặt với giới hạn kiềm chế vay mượn trong suốt thời gian khó khăn, họ
có thể tiêu dùng ít hơn và tiết kiệm nhiều hơn trong thời kỳ kinh tế tốt Với giả định rằng các hộ gia đình trong các nền kinh tế đang phát triển đối mặt với kiềm chế tín dụng, khả năng của hiệu ứng bất tương xứng của chu kỳ kinh tế lên tiết kiệm có thể nằm ngoài quy luật
Nghiên cứu của Agenor và Aizenma (2004) mở rộng ra một số hướng Đầu tiên, bài nghiên cứu nhận định một chuỗi các nền kinh tế đang phát triển từ các vùng khác nhau ở Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ Latin Điều này sẽ giúp quan sát nếu các kết quả nhạy cảm với các điều kiện kinh tế đặc biệt theo vùng Thứ hai, đưa các
Trang 30- 23 -
biến nội sinh chung vào các biến giải thích trong một phương trình động và vào các
độ lệch tiềm năng được kết luận bởi các hiệu ứng cá biệt quốc gia được gán trực tiếp Thứ ba, một nhóm các phân tích độ nhạy được tiến hành để kiểm tra sự chắn chắc của kết quả Điều này bao gồm việc sử dụng các yếu tố loại trừ, dự đoán sự sụt giảm của quốc gia tại một thời điểm để nhận diện một quốc gia, nhóm quốc gia nằm ngoài sự sụt giảm v.v… Cuối cùng, những nghiên cứu về giới hạn cực trị được tiến hành để kiểm tra độ tin cậy và chắc chắn cả mối liên hệ giữa các biến động chu kỳ thương mại và tỷ lệ tiết kiệm
Chowdhury, A (2004): Các nhân tố kinh tế trong nền kinh tế chuyển đổi khó tránh khỏi thắt chặt kiểm soát tín dụng, điều này rõ ràng hơn trong thời gian nền kinh tế suy yếu Như vậy, những biến động bất lợi đến giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới có thể buộc họ phải giảm tiết kiệm một lượng lớn hơn so với thu nhập họ sẽ có Phân tích thực nghiệm bằng cách sử dụng một mô hình dữ liệu bảng động lực học và dữ liệu từ 21 nền kinh tế chuyển đổi xác nhận rằng hầu hết các yếu
tố quyết định tiết kiệm của các nghiên cứu cũng áp dụng đối với các nền kinh tế chuyển đổi Các thành phần chuyển tiếp trong các yếu tố của TOT có tác động cùng chiều lớn hơn so với các thành phần vĩnh viễn Điều này phản ánh việc thiếu tiếp cận với vốn vay nước ngoài Mặc dù tác động của các biến động TOT được tìm thấy
là không tương xứng, độ lớn của những tác động dường như là nhỏ Kết quả kiểm định cho các ước lượng thay thế, yếu tố quyết định và các nhóm nước là vững chắc
Agenor, P và Aizenman, J (2004): Nghiên cứu này là sự mở rộng của biến động nhân tố thường xuyên trong TOT có ảnh hưởng bất đối xứng lên tiết kiệm tư nhân Phần đầu tiên sử dụng một mô hình ba giai đoạn đơn giản để cho thấy rằng, nếu các hộ gia đình kỳ vọng đối mặt với những hạn chế vay mượn khi nền kinh tế yếu kém, tỷ lệ tiết kiệm sẽ phản ứng không tương xứng với những diễn biến thuận lợi trong thành phần thường trực của các yếu tố TOT trong mối tương quan với mô hình san bằng tiêu dùng theo hướng thông thường sẽ dự đoán Các thử nghiệm phần thứ hai cho sự xuất hiện của hiệu ứng bất đối xứng của các xáo trộn TOT sử dụng
Trang 31- 24 -
mô hình kiểm soát các yếu tố thay thế chuẩn khác của tiết kiệm tư nhân Kết quả, dựa trên dữ liệu bảng các nhà xuất khẩu hàng hóa phi dầu mỏ của châu Phi cận Sahara cho giai đoạn 1980-1996, cho thấy sự gia tăng trong thành phần thường trực của các yếu tố TOT (đo lường bằng cách sử dụng kỹ thuật sàn lọc ngoại sinh) quả thực có xu hướng kết hợp với tỉ lệ tiết kiệm tư nhân cao hơn
Aquino, J và Espino, F 2013: Bài viết này cung cấp bằng chứng về hiệu ứng Harberger - Laursen - Metzler ( HLM ) đối với trường hợp của Peru Các hiệu ứng HLM là sự suy giảm trong mức độ tiết kiệm của một nền kinh tế do sự sụt giảm trong các TOT đối với một mức độ nhất định của đầu tư Sự suy giảm này là do doanh thu thấp làm trầm trọng các tài khoản vãng lai Các nhà nghiên cứu ước tính
mô hình VAR phù hợp cho các biến về thương mại sau: giá xuất khẩu, giá nhập khẩu, tài khoản vãng lai, đầu tư và tiết kiệm Kết quả cho thấy sự gia tăng bất ngờ thường xuyên trong các TOT (hoặc giá xuất khẩu) cải thiện tài khoản vãng lai và tiết kiệm tăng lên Tuy nhiên, hiệu ứng này biến mất như đầu tư phát triển nhanh hơn so với tiết kiệm Mặt khác, sự tăng giá của hàng nhập khẩu có tác động tiêu cực đến tài khoản vãng lai
Chowdhury, A 2001a: Trong suốt thập kỷ qua, Bangladesh đã thực hiện một chương trình trên diện rộng của cải cách tài chính và thị trường, bao gồm những thay đổi trong cấu trúc của hệ thống tài chính, khung bảo đảm an toàn - giám sát và quản lý tiền tệ Bài viết này ước tính một phương trình tiết kiệm để đánh giá tác động của các yếu tố quyết định khác nhau về tiết kiệm tư nhân ở Bangladesh, với sự nhấn mạnh đặc biệt về tác động của cải cách tài chính Kết quả cho thấy mức độ thu nhập, lãi suất thực và tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp trong GDP có một tác động tích cực đến tỷ lệ tiết kiệm, tỷ lệ phụ thuộc và tỷ lệ tiết kiệm công cộng, mặt khác,
có tác động tiêu cực đối với tiết kiệm tư nhân Điều thú vị là, chỉ số cải cách tài chính có tác động tiêu cực đối với tiết kiệm tư nhân Do đó những cải cách được khởi xướng từ cuối những năm 1980 đã thực sự làm giảm tiết kiệm Một lời giải thích cho kết quả này có thể được bắt nguồn từ các cải cách của Chính phí đối với
Trang 32số thay đổi tích cực đã được giới thiệu trong các lĩnh vực tài chính cải cách sau này, những yếu tố này đã ảnh hưởng xấu đến tiết kiệm tư nhân trong nền kinh tế Tốc độ cải cách đã không bắt kịp với mức độ nghiêm trọng của tình hình và việc tiếp tục cải cách kịp thời là cần thiết
Chowdhury, A 2004: Bài viết xem xét tác động của các biến động TOT về tiết kiệm tư nhân trong nền kinh tế chuyển đổi (quá độ) sau khi bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác Các nhân tố kinh tế trong nền kinh tế chuyển đổi có thể hạn chế tín dụng chặt chẽ và rõ rệt hơn trong tình trạng các điều kiện kinh tế không tốt Như vậy, những biến động bất lợi đến giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới có thể buộc họ phải giảm tiết kiệm một lượng lớn hơn so với so với khoản tiết kiệm dự kiến Phân tích thực nghiệm sử dụng một mô hình bảng điều khiển năng động và dữ liệu từ hai mươi mốt nền kinh tế chuyển đối xác nhận rằng hầu hết các yếu tố quyết định tiết kiệm của các nghiên cứu cũng áp dụng đối với các nền kinh tế chuyển đổi
Sự dịch chuyển thuận lợi ở cả hai thành phần thường trực và tạm thời của các TOT
có tác động tích cực đáng kể tiết kiệm tư nhân với các biến động tạm thời có một tác động lớn hơn so với các biến động vĩnh viễn Điều này phản ánh sự thiếu hụt việc tiếp cận với vốn vay nước ngoài mà người dân trong các nền kinh tế chuyển đổi đã phải đối mặt trong thập kỷ qua Mặc dù ảnh hưởng của biến động TOT được xác định là không đối xứng, tầm quan trọng của các tác động dường như là nhỏ Kết quả kiểm định là vững đối với các ước lượng thay thế, yếu tố quyết định, và các nhóm nước
Denizer, C và, Wolf, H 2000: Hầu như tất cả các nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu và Liên Xô trước đây có một sự sụt giảm nghiêm trọng về tỷ lệ tiết kiệm
Trang 33- 26 -
quốc gia của họ Sự sụp đổ tiết kiệm có thể được giải thích bằng việc loại bỏ tiết kiệm tự nguyện, một tính năng của kế hoạch tập trung, hoặc bởi một sự thay đổi trong trạng thái cân bằng tiết kiệm phản ánh kinh tế hoàn cảnh mới sau khi kết thúc của chủ nghĩa xã hội Lãi suất tiết kiệm dự đoán của nền kinh tế thị trường với các nguyên tắc cơ bản giống như các nền kinh tế chuyển tiếp trước khi chuyển đổi được tính toán để kiểm tra sự hiện diện của tiết kiệm tự nguyện Các kết quả cung cấp một số hỗ trợ cho giả thuyết về làm phẳng nhu cầu tiêu dùng Cũng coi là liệu sự khác biệt về mức độ tự do hóa bị ảnh hưởng tỷ lệ tiết kiệm trong các mặt cắt của các nền kinh tế chuyển đổi Điều này được tìm thấy là các trường hợp: tự do hóa hơn là gắn với tiết kiệm thấp hơn với độ trễ một năm Trong phạm vi tự do hóa được liên kết với sự phát triển trong tương lai, kết quả này phù hợp với làm phẳng nhu cầu khi đối mặt với lượng phát triển dọc theo đường cong J
Otto, G 2003: Dựa theo hiệu ứng Harberger - Laursen - Metzler ( HLM ) thì biến ngoại sinh làm gia tăng việc TOT phải đối mặt bởi một nền kinh tế mở nhỏ dẫn đến việc cải thiện cán cân thương mại của quốc gia đó Trong bài báo này các
kỹ thuật vectơ cấu trúc tự hồi quy được sử dụng để điều tra xem liệu có bất kỳ mô hình hệ thống trong các câu trả lời của cán cân thương mại với các biến động TOT cho một số lượng lớn các nền kinh tế mở nhỏ Có hai kết quả quan trọng nổi lên: đầu tiên có sự hỗ trợ mạnh mẽ trong các dữ liệu cho sự tồn tại của một hiệu ứng HLM; thứ hai phản ứng của cán cân thương mại và thu nhập thực tế đến một biến động TOT ngụ ý của các mô hình vectơ cấu trúc tự hồi quy là phù hợp hơn với các báo cáo của Mendoza (1995) từ mô phỏng một mô hình cân bằng ngẫu nhiên động
Trang 34- 27 -
quốc gia xác nhận rằng phần lớn yếu tố của tiết kiệm được xác định trong lý thuyết cũng được áp dụng vào các nước đang phát triển Các thành phần tạm thời của biến động TOT có tác động cùng chiều lớn hơn là các thành phần thường trực Điều này phản ánh sự hiếu hụt khả năng tiếp cận việc vay mượn nước ngoài Mặc dù tác động của những biến động TOT được tìm thấy là không tương ứng và độ lớn của tác động xuất hiện tương đối nhỏ Những kết quả cho thấy một vài khác biệt trong phản ứng của tiết kiệm tư nhân trong ba khu vực được xem xét là Châu Á, Chây Phi và Châu
Mỹ Latin Tuy nhiên, kết quả các ước lượng của những yếu tố ngoại sinh tác động lên tiết kiệm tư nhân là đáng tin cậy
Trang 35Tác giả liên hệ những vấn đề này bằng việc thực hiện dự báo hệ thống động lực một bước GMM (Arellano và Bover, 1995; Blundell và Bond, 1998), xem xét các biến tài chính như biến nội sinh, được cho là có khả năng xảy ra cả nguyên nhân trái ngược và độ dốc đồng thời Công cụ của tác giả cho biến phụ thuộc trễ là độ trễ thứ nhất, trong khi cung cấp co tất cả biến nội sinh khác với độ trễ thứ hai của chúng trong phương trình khác nhau Kết quả báo cáo tương đương với một khu vực đặc trưng, như là GDP được xem là ngoại sinh, nhưng tác động của sự đối lập khả năng tài chính thì không đổi nếu lạm phát được xem là ngoại sinh, tuy nhiên trong trường hợp gần đây cung cấp nhiều giá trị cả trở thích hợp của những công cụ ngoại sinh kết hợp Điều này nên được lưu ý trong một số trường hợp, đó là nguyên nhân từ khả năng tài chính đến GDP nên do đó tập trung trong những biến quốc gia, công bố GDP như yếu tố ngoại sinh trong thiết lập hiện tại thì không phải nghi ngờ (Cardenas et al 2010)
Điều đáng đề cập là hệ thống dự báo GMM cần công cụ khác nhau đầu tiên
sử dụng cho biến trong mức độ không tương quan với hiệu ứng quốc gia không quan sát được Tác giả đưa nhận định này vào tất cả dự báo: cho rằng những khác nhau ban đầu của tất cả giá trị trễ của khả năng tài chính, và giá trị đồng thời của sự đối nghịch là không tương quan với một vài đặc trưng cá biệt quốc gia Trong khi