Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài với tên gọi là “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu của mình, vớ
Trang 1-
NGUYỄN KIM BẰNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2-
NGUYỄN KIM BẰNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN HỮU HUY NHỰT
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 3Tôi tên là Nguyễn Kim Bằng, học viên cao học Khóa 22, chuyên ngành
Ngân hàng Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi
dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn khoa học là Thầy PGS.TS Nguyễn Hữu Huy Nhựt
Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn này là trung thực, được đúc kết từ quá trình học tập và nghiên cứu thực tiễn Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng
TP.HCM, ngày 01 tháng 06 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Kim Bằng
Trang 4DANH MỤC HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
1.6 Kết cấu của luận văn 5
Kết luận chương 1 6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
2.1 Giới thiệu 7
2.2 Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 7
2.2.1 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 7
2.2.2 Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 11
2.2.2.1 Nhóm yếu tố ngoại sinh 11
2.2.2.2 Nhóm yếu tố nội sinh 14
2.3 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 17
2.3.1 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại bằng phân tích các chỉ số tài chính 17
2.3.2 Đánh giá hiệu quả bằng mô hình CAMELS 21
Trang 52.3.4.1 Các cách lựa chọn biến đầu vào và biến đầu ra trong phương pháp phân tích
DEA 25
2.3.4.2 Các mô hình DEA đánh giá hiệu quả kỹ thuật 26
2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 28
2.4.1 Nghiên cứu nước ngoài 28
2.4.2 Nghiên cứu trong nước 32
Kết luận chương 2 34
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM HIỆN NAY 35
3.1 Giới thiệu 35
3.2 Thực trạng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam hiện nay 35
3.2.1 Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 35
3.2.2 Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam trong thời gian qua 38
3.2.2.1 Số lượng ngân hàng 38
3.2.2.2 Quy mô hoạt động 41
3.2.2.3 Khả năng sinh lời: 43
3.2.2.4 An toàn hoạt động 45
3.2.2.5 Hoạt động tín dụng, huy động vốn của các ngân hàng thương mại 46
Kết luận chương 3 49
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
4.1 Giới thiệu 50
Trang 6Nam 52
4.3.1 Xác định các biến đầu vào - đầu ra 52
4.3.2 Mô hình ước lượng các chỉ số đo lường hiệu quả 53
4.4 Mô hình hồi quy Tobit để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 54
4.5 Kết quả nghiên cứu 55
4.5.1 Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu 55
4.5.2 Kết quả nghiên cứu bằng mô hình phân tích bao dữ liệu DEA 57
4.5.2.1 Kết quả ước lượng hiệu quả kỹ thuật (crste), hiệu quả kỹ thuật thuần (vrste), hiệu quả quy mô (scale) trong mô hình DEA 57
4.5.2.2 Kết quả ước lượng hiệu suất hoạt động của các NHTMCP Việt Nam 59
4.5.3 Kết quả mô hình hồi quy Tobit đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 63
Kết luận chương 4 66
CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NHTMCP VIỆT NAM 67
5.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 67
5.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 67
5.2.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước 67
5.2.2 Đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 68
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 72
Kết luận chương 5 73
KẾT LUẬN 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 72 CAR Hệ số an toàn vốn tối thiểu Capital Adequacy Ratio
4 CIC Trung tâm thông tin tín dụng của
Ngân hàng Nhà nước
Credit Information Center
5 CRS Sản lượng không đổi theo quy mô Constant returns to scale
6 CRSTE Hiệu quả kỹ thuật (từ mô hình
DEACRS)
7 DEA Phương pháp phân tích bao dữ liệu Data Envelopment
Analysis
8 DEACRS Mô hình DEA theo điều kiện sản
lượng không đổi theo quy mô
9 DEAP Chương trình phân tích bao dữ liệu A Data Envelopment
Analysis Program
10 DEAVRS Mô hình DEA theo điều kiện sản
lượng thay đổi theo quy mô
11 DMU Đơn vị ra quyết định Decision Making Unit
12 DRS Sản lượng giảm theo quy mô Decreasing returns to
scale
13 Effch Thay đổi hiệu quả kỹ thuật Technical efficiency
change
14 EPS Hệ số thu nhập trên cổ phiếu Earnings per share
15 IRS Sản lượng tăng theo quy mô Increasing returns to
scale
16 M&A Mua bán và sáp nhập Mergers and acquisitions
17 NHNN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trang 821 NM Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên Non Interest Margin
22 PE Hiệu quả kỹ thuật thuần túy Pure technical efficiency
23 Pech Thay đổi hiệu quả kỹ thuật thuần Pure Technical
efficiency change
24 ROA Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản Return on assets
25 ROE Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Return on equity
26 SCALE Hiệu quả kỹ thuật (từ mô hình
DEAVRS)
28 Sech Thay đổi hiệu quả quy mô Scale efficiency change
29 TCTD Tổ chức tín dụng
31 Techch thay đổi tiến bộ công nghệ Technological change
32 TFP Năng suất nhân tố tổng hợp Total factor productivity
33 Tfpch Thay đổi năng suất nhân tố tổng
Trang 9Bảng 3.3: Các thương vụ sắp xếp lại hệ thống ngân hàng giai đoạn 2011 - 2015 Bảng 3.4: Tình hình M&A giữa các NHTM và Công ty tài chính tại Việt Nam Bảng 3.5: Tài sản và vốn của các tổ chức tín dụng đến 31/12/2015
Bảng 3.6: Danh sách 10 NHTM có vốn điều lệ cao nhất đến cuối năm 2015
Bảng 3.7: Tỷ suất sinh lời của ngân hàng trong năm 2014 – 2015
Bảng 3.8: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của ngân hàng trong năm 2014 - 2015 (%)
Bảng 4.1: Danh sách mẫu nghiên cứu (các DMU)
Bảng 4.2: Danh sách các biến đầu vào – đầu ra của mô hình DEA
Bảng 4.3: Thống kê mô tả các biến trong mô hình phân tích DEA
Bảng 4.4: Kết quả ước lượng hiệu quả kỹ thuật (crste), hiệu quả kỹ thuật thuần (vrste), hiệu quả quy mô (scale) trong giai đoạn 2010 - 2014
Bảng 4.5: Hiệu suất hoạt động của các NHTMCP trong giai đoạn 2010 – 2014 Bảng 4.6: Bảng chỉ số Malmquist bình quân thời kỳ 2010 – 2014
Bảng 4.7: Kết quả ước lượng effch, techch, pech, sech, tfpch cho 20 ngân hàng trung bình, thời kỳ 2010 – 2014
Bảng 4.8: Kết quả ước lượng effch, techch, pech, sech, tfpch cho từng giai đoạn Bảng 4.9: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Tobit phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả kỹ thuật của các NHTMCP
Trang 10Hình 3.2: Đóng góp của các ngành kinh tế vào tăng trưởng GDP
Hình 3.3: Tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng GDP
Hình 3.4: Tăng trưởng huy động vốn và dư nợ tín dụng 2014 - 2015
Hình 3.5: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng qua các năm
Hình 4.1: Giá trị bình quân của một số chỉ tiêu hoạt động ngân hàng (tỷ đồng) trong giai đoạn 2010 – 2014
Hình 4.2: Giá trị bình quân của một số chỉ tiêu hoạt động ngân hàng (người, tỷ đồng) trong giai đoạn 2010 – 2014
Hình 4.3: Số lượng các ngân hàng có hiệu suất giảm (DRS), tăng (IRS) và không đổi (CONS) theo quy mô, thời kỳ 2010 – 2014
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
1.1 Đặt vấn đề
Ngân hàng là mạch máu của nền kinh tế, là trung tâm điều phối nguồn vốn cho nền kinh tế, do đó “sức khỏe” của ngân hàng và của nền kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay, hoạt động của hệ thống ngân hàng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ những khó khăn của nền kinh tế trong bối cảnh chung của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới Những khó khăn từ thị trường hàng hóa, thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, cùng với những tồn tại hạn chế trong chính hoạt động của các ngân hàng đã trở thành những vấn đề lớn của nền kinh tế trong giai đoạn này như sức cầu thấp, nợ xấu và hàng tồn kho tăng cao, khó khăn về thanh khoản, thị trường bất động sản đóng băng,…
Đối với quá trình hội nhập quốc tế, sau khi Việt Nam trở thành thành viên của
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mở ra quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên mọi lĩnh vực như kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế, Hội nhập kinh
tế quốc tế được coi là xu hướng chủ đạo trong thời gian vừa qua và còn mãi tiếp diễn sau này, điều này sẽ có nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển của khu vực tài chính Việt Nam – một lĩnh vực được xem rất nhạy cảm với sự biến động của nền kinh tế Tại buổi hội thảo với chủ đề “Phát triển kinh tế - xã hội và ngành Ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” do NHNN và Bộ Khoa học và Công nghệ đồng chủ trì vào cuối năm 2015 cho thấy, hội nhập kinh tế quốc tế mở ra nhiều cơ hội, nhưng cũng có không ít thách thức đối với ngành ngân hàng Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ giúp ngành ngân hàng Việt Nam dễ dàng tiếp cận được các nguồn vốn từ thị trường tài chính quốc tế, tiếp cận được trình độ quản lý, công nghệ quản trị tiên tiến từ các tổ chức tài chính nước ngoài khi họ tham gia vào thị trường Việt Nam Hội nhập cũng tạo ra động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và nâng cao tính minh bạch, tính tự chịu trách nhiệm, qua đó nâng cao hiệu quả điều hành trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng Áp lực cạnh tranh từ các ngân hàng nước ngoài buộc các ngân hàng trong nước phải đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch
Trang 12vụ nhằm phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế hoặc hợp tác với ngân hàng nước ngoài Sau khi hội nhập, ngành ngân hàng Việt Nam đã có những chuyển biến rõ rệt tăng trưởng cả về quy mô và loại hình hoạt động
Song hành với những cơ hội luôn hiện hữu những thách thức Dòng vốn đổ vào cũng khiến cho giá tài sản tài chính, bất động sản và các tài sản khác tăng, góp phần tăng thêm mất cân đối cơ cấu kỳ hạn và loại tiền của bảng cân đối của ngân hàng và doanh nghiệp, gây nguy cơ nợ xấu gia tăng, thị trường tài chính càng trở nên dễ bị tổn thương Sự cạnh tranh cũng gây sức ép không nhỏ đến hệ thống ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là các ngân hàng quy mô nhỏ với tiềm lực tài chính nhỏ bé, chất lượng tài sản thấp, danh mục sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn,… đã tạo ra khoảng cách đáng kể so với trình độ của khu vực và thế giới Hội nhập còn đòi hỏi ngân hàng phải có nguồn nhân lực không chỉ có chuyên môn cao về nghiệp vụ mà còn phải am hiểu Luật quốc tế, phải được trang bị đầy đủ những kiến thức và kỹ năng nghiên cứu, phân tích, đánh giá và dự báo
Từ những vấn đề thực tại nêu trên, việc đánh giá mức độ hiệu quả, nhận diện được tính phi hiệu quả và tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng Việt Nam đang được đặt lên hàng đầu
Ở góc độ nhà quản lý kinh tế, nền kinh tế thế giới cũng như trong nước có nhiều biến động, điều này cũng đặt các NHTM trước những thách thức phải có sự đổi mới một cách toàn diện để nâng cao chất lượng hoạt động, nâng cao năng lực quản trị của mình Nhà điều hành cũng phải đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho các NHTM, tạo điều kiện để các ngân hàng thể hiện tối đa vai trò của mình đối với sự phát triển kinh tế đất nước
Đứng ở góc độ nội bộ ngân hàng, việc nghiên cứu và đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như xem xét các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng là rất cần thiết để các nhà quản trị ngân hàng có thể nhận biết nguyên nhân gây ra tính phi hiệu quả để từ đó đưa ra các quyết định, chính sách thích hợp nhằm cải thiện năng suất, mang lại lợi nhuận tối đa cho ngân hàng
Trang 13Trước đây, nội dung nghiên cứu này cũng được một số tác giả nghiên cứu, tuy nhiên với phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận cũng như cơ sở dữ liệu khác nhau trong từng thời kỳ sẽ có kết quả đánh giá cũng khác nhau
Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài với tên gọi là “Giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” làm
nội dung nghiên cứu của mình, với mục tiêu đưa ra những giải pháp thiết thực, có
cơ sở khoa học để các NHTMCP Việt Nam ngày càng hoạt động hiệu quả hơn, an toàn hơn, có thể thích ứng với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá, đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam
- Xác định các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam
- Đề xuất, gợi ý những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam hiện nay
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam trong thời gian qua như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam trong thời gian qua?
- Những đề xuất để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam trong thời gian tới là gì?
1.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam Luận văn nghiên cứu khả năng biến các đầu vào thành các đầu ra để thấy được tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh và phân tích định lượng để thấy được mức độ
Trang 14tác động của các yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam
Luận văn nghiên cứu hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng dựa trên số liệu thu thập của 20 NHTMCP mang tính đại diện cho các NHTMCP Việt Nam, trong đó gồm có 03 NHTMCP Nhà nước và 17 NHTMCP trong khoảng thời gian 5 năm từ năm 2010 - 2014 Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng ở đây được hiểu bao gồm hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô, phạm
vi nghiên cứu của luận văn không bao gồm hiệu quả phân bổ và hiệu quả chi phí
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên các bài nghiên cứu tham khảo trong và ngoài nước, luận văn sử dụng phương pháp phân tích định tính và phân tích định lượng
Phương pháp phân tích định tính: Thống kê mô tả, tổng hợp, phân tích, so
sánh thông qua bảng số liệu, đồ thị
Phương pháp phân tích định lượng:
- Sử dụng mô hình phân tích bao dữ liệu (sau đây gọi là mô hình DEA) để đo lường, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP trong mẫu nghiên cứu; kế thừa kết quả nghiên cứu trước tác giả tiếp tục dùng mô hình hồi quy Tobit để xác định các yếu tố tác động lên hiệu quả đó
- Công cụ thực hiện mô hình phân tích bao dữ liệu (DEA) là phần mềm DEAP 2.1 (A Data Envelopment Analysis Program) và mô hình hồi quy Tobit là phần mềm Stata
Nguồn dữ liệu bao gồm: Báo cáo tài chính hợp nhất năm được kiểm toán của các NHTMCP, số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Tổng cục Thống kê,… được công bố từ năm 2010 đến 2015
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần tham gia vào việc bổ sung, hoàn thiện mô hình đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng trên cơ sở xác định các yếu tố đầu vào và đầu ra, đồng thời kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trên thị trường vốn dĩ có khá ít nghiên cứu sâu về vấn đề
Trang 15này Ngoài ra, đề tài có thể được xem là một nghiên cứu kiểm nghiệm lại những kết quả nghiên cứu trước đây, kiểm nghiệm mô hình tại môi trường kinh tế Việt Nam cũng như mở ra những hướng nghiên cứu tiếp theo mà đề tài còn hạn chế
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp nhiều thông tin có giá trị cho các nhà quản trị ngân hàng, các cổ đông hiện hữu, các nhà đầu tư và các nhà hoạt định chính sách Thông qua kết quả bài nghiên cứu các nhà quản trị có thể nhận diện được tính phi hiệu quả ở đâu, biết được các yếu tố tác động đến hiệu quả để từ đó đưa ra các chính sách phù hợp giúp phát huy các nhân tố tác động tích cực và khắc phục loại
bỏ các nhân tố tiêu cực tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đối với các nhà hoạch định chính sách việc đánh giá được hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như xác định các nhân tố tác động sẽ giúp cho việc ban hành các quy định và chính sách phù hợp hơn, hỗ trợ cho việc điều hành chính sách tiền tệ, tạo môi trường lành mạnh, tạo điều kiện thuận lợi để hệ thống ngân hàng hoạt động hiệu quả, vững mạnh, thể hiện mạnh mẽ vai trò quan trọng của mình trong nền kinh
tế thị trường
Đối với các nhà đầu tư đề tài góp phần cung cấp sự hiểu biết sâu hơn về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng và là căn cứ để đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn
1.6 Kết cấu của luận văn
Luận văn được chia thành năm chương như sau:
- Chương 1: Giới thiệu về luận văn thạc sĩ kinh tế
- Chương 2: Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM
- Chương 3: Thực trạng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam hiện nay
- Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam
Trang 16Kết luận chương 1
Việc lựa chọn nội dung nghiên cứu của luận văn xuất phát từ việc nhận thức được vai trò quan trọng của các NHTM đối với nền kinh tế, ngoài ra trong thời gian qua còn tồn tại một số hạn chế nội tại của hệ thống ngân hàng đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh để đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển kinh tế Bằng phương pháp định lượng là chủ yếu, luận văn đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam, đồng thời xác định các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh để từ đó đề ra những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam hiện nay
Chương 1 đã trình bày khái quát về nội dung nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa của đề tài Với cấu trúc luận văn gồm năm chương, những nội dung chi tiết sẽ được trình bày cụ thể ở các chương sau
Trang 17CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Giới thiệu
Chương này nhằm tổng quan một số lý thuyết liên quan đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM, các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Đồng thời, chương này cũng sẽ trình bày tóm tắt các nghiên cứu trong và ngoài nước được thực hiện trước đây có liên quan đến đề tài
2.2 Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
2.2.1 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Hiệu quả là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực như kinh tế, kỹ thuật, chính trị, xã hội Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất khi đề cập đến vấn đề hiệu quả; bởi vì ở mỗi lĩnh vực khác nhau, khi xem xét trên các góc độ khác nhau thì người ta sẽ có cách nhìn nhận khác nhau
về vấn đề hiệu quả Chẳng hạn như trong lĩnh vực kinh tế hiệu quả thường gắn liền với giá trị tiền tệ mang lại, nhưng trong xã hội hiệu quả còn thể hiện qua việc tạo ra công ăn việc làm cho người dân, công bằng xã hội,…
Trong lĩnh vực kinh tế cũng có khá nhiều định nghĩa về vấn đề hiệu quả Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh
tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa (Đặng Đình Đào (1997)) Theo Đỗ Hoàng Toàn (1994) thì hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp thể hiện kết quả hoạt động thực tiễn của con người thông qua các phương án quyết định tốt nhất trong một điều kiện cụ thể nào đó Theo định nghĩa của European Central Bank (2010) thì hiệu quả là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững, lợi nhuận đầu tiên được dùng dự phòng cho các khoản lỗ nếu có xảy ra và tăng cường vị thế về vốn, cải thiện lợi nhuận thu được trong tương lai thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại Như vậy trước tiên thì hiệu quả phải gắn liền với kết quả hoạt động kinh
Trang 18doanh, một trong những biểu hiện của hiệu quả là đạt kết quả tốt như tạo ra doanh thu bán hàng cao, mang lại lợi nhuận cao, bền vững
Theo định nghĩa trong cuốn Từ điển kinh tế học của Nguyễn Văn Ngọc (2012) thì hiệu quả trong kinh tế là mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra là hàng hóa và dịch vụ hình thành, đồng thời khái niệm hiệu quả được dùng
để đánh giá xem xét tài nguyên được các thị trường phân phối như thế nào Theo Farrell (1957) thì hiệu quả thể hiện qua mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được (gọi là outputs) so với các biến số đầu vào (gọi là inputs) đã sử dụng để tạo ra
nó Theo Draft (2008) thì hiệu quả hoạt động kinh doanh được hiểu là khả năng biến đổi các đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với các đối thủ cạnh tranh Như vậy, có thể hiểu hiệu quả là mức độ thành công mà các doanh nghiệp đạt được trong việc sử dụng, phân bổ các yếu tố đầu vào để sản xuất các sản phẩm đầu ra nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó
Các quan điểm trên đều có điểm chung rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực của quá trình sản xuất kinh doanh (các yếu tố sản xuất như vốn, nhân lực, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên,…) nhằm đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất
Nó phản ánh những lợi ích đạt được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên
cơ sở so sánh lợi ích thu được (doanh thu, lợi nhuận,…) so với chi phí bỏ ra trong suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
Theo Farrell (1957), hiệu quả kinh tế (Economic efficiency) hay hiệu quả chi phí (Cost efficiency - CE) gồm hai thành phần như sau:
- Hiệu quả kỹ thuật (Technical efficiency - TE): phản ánh khả năng doanh nghiệp tối đa hàng hóa đầu ra với các đầu vào cho trước (hoặc sử dụng tối thiểu đầu vào để đạt được các đầu ra cho trước) Banker, Charnes và Cooper (1984) phân chia hiệu quả kỹ thuật thành hai thành phần:
+ Hiệu quả kỹ thuật thuần túy (Pure technical efficiency - PE): phản ánh hiệu quả kỹ thuật thuần của doanh nghiệp xuất phát từ yếu tố kỹ thuật như trình độ năng lực quản lý, điều hành của nhà quản trị, chất lượng kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro,
Trang 19chiến lược kinh doanh,… Vì vậy chỉ tiêu này có thể được sử dụng như là chỉ số để
đo lường năng lực quản lý
+ Hiệu quả quy mô (Scale efficiency – SE): phản ánh khả năng doanh nghiệp đang hoạt động ở quy mô có tối ưu hay không, phản ánh tính hiệu quả của quy mô hoạt động (trình độ công nghệ, vốn,…) Không phải doanh nghiệp nào cũng hoạt hoạt động với quy mô tối ưu do nhiều lý do như hạn chế về vốn, chính sách,… Tính kinh tế theo quy mô thể hiện một sự tăng lên trong sản lượng sản phẩm sẽ làm giảm chi phí bình quân trên mỗi sản phẩm sản xuất ra, trong khi tính phi kinh tế theo quy
mô thì ngược lại Do đó, quy mô tối ưu tồn tại ở điểm sản lượng mà tại đó chi phí bình quân trên mỗi sản phẩm là thấp nhất Như vậy, hiệu quả quy mô cho biết khả năng của ban quản trị chọn lựa quy mô tối ưu của các nguồn lực để xác định quy
mô của doanh nghiệp Hay nói cách khác, hiệu quả quy mô cho biết sự chọn lựa quy
mô sản xuất để đạt được mức sản xuất mong đợi Một quy mô không phù hợp (quá lớn hay quá nhỏ) có thể là nguyên nhân gây ra tính phi hiệu quả kỹ thuật
+ Việc phân tách hiệu quả kỹ thuật thành hai thành phần như trên giúp chúng ta tìm ra được nguyên nhân gây ra tình trạng phi hiệu quả Phi hiệu quả có thể từ phi hiệu quả kỹ thuật thuần hoặc phi hiệu quả quy mô để từ đó có những giải pháp phù hợp Khi hiệu quả kỹ thuật thuần nhỏ hơn 100% chứng tỏ có tồn tại phi hiệu quả kỹ thuật thuần, để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh doanh nghiệp cần chú trọng nâng cao năng lực quản trị, điều hành, nâng cao năng lực quản trị rủi ro,… Nếu hiệu quả quy mô đạt 100% (doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện CRS) có nghĩa
là doanh nghiệp hoạt động với quy mô tối ưu và do đó tăng hay giảm quy mô sản xuất không làm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh Nếu hiệu quả theo quy mô nhỏ hơn 100% chứng tỏ doanh nghiệp đang hoạt động với quy mô không tối ưu và tồn tại phi hiệu quả quy mô Phi hiệu quả quy mô có thể tồn tại trong điều kiện sản lượng tăng theo quy mô (IRS) hoặc sản lượng giảm theo quy mô (DRS) Điều kiện DRS ngụ ý rằng quy mô của ngân hàng quá lớn và ngân hàng có thể cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh, giảm chi phí đơn vị bằng cách giảm quy mô Còn điều
Trang 20kiện IRS cho biết ngân hàng có thể cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh, giảm chi phí đơn vị bằng cách tăng quy mô
- Hiệu quả phân bổ (Allocative efficiency - AE): phản ánh khả năng đơn vị sản xuất sử dụng đầu vào theo tỷ lệ tối ưu với mức giá tương ứng của chúng đã biết
- Công thức liên hệ giữa các chỉ tiêu hiệu quả trên như sau:
Tóm lại, quan điểm về hiệu quả rất đa dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu mà
có thể tiếp cận khái niệm hiệu quả theo những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, xuất phát từ vấn đề nghiên cứu cũng như từ những hạn chế về thời gian và nguồn số liệu,
do vậy quan điểm về hiệu quả mà luận văn sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần là dựa trên hiệu quả kinh tế, trong đó tập trung nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật của các NHTMCP Việt Nam, nó
Trang 21phản ánh khả năng của một ngân hàng biến các nguồn lực đầu vào (lao động, tài sản
cố định, vốn, kỹ thuật,…) thành các đầu ra (cho vay, đầu tư, dịch vụ, thu nhập,…)
2.2.2 Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề quyết định sự sống còn của ngân hàng trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt NHTM là một tổ chức quan trọng trong nền kinh tế, hoạt động của tổ chức này luôn chịu sự ảnh hưởng và chi phối của các nhân tố môi trường bên ngoài và nội tại bên trong của tổ chức Để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải xác định các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM có thể được chia làm hai nhóm: nhóm yếu tố ngoại sinh và nhóm yếu tố nội sinh Tùy theo điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà hai nhóm này có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của chính các ngân hàng thương mại
2.2.2.1 Nhóm yếu tố ngoại sinh
Nhóm yếu tố ngoại sinh tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM bao gồm: Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước; môi trường pháp lý; khả năng tiếp cận thông tin và đối thủ cạnh tranh Đây là các yếu tố bên ngoài, không nằm trong tầm kiểm soát của các NHTM; do đó các ngân hàng không thể can thiệp tác động vào mà chỉ có những giải pháp xuất phát từ bản thân
để có thể sẵn sàng thích nghi với điều kiện môi trường kinh doanh thay đổi, từ đó hạn chế những tác động tiêu cực và nâng cao được hiệu quả kinh doanh
Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước
Với xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây và còn tiếp diễn, các nền kinh tế của các nước trên thế giới ngày càng sát lại gần nhau và có mối quan hệ tương tác qua lại Có thể nói sức khỏe nền kinh tế của một nước còn là mối quan tâm chung của toàn cầu Trong khi ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính quan trọng đóng vai trò làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế, do vậy những biến động của
Trang 22môi trường kinh tế, chính trị và xã hội cả trong nước và trên thế giới đều có những ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của các ngân hàng Nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định (thể hiện qua sự ổn định về chính trị, tốc độ tăng trưởng kinh
tế, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, thu nhập bình quân đầu người,…) sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các NHTM, vì đây cũng là điều kiện làm cho quá trình sản xuất của nền kinh tế được diễn ra bình thường, đảm bảo khả năng hấp thụ vốn và hoàn trả vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Khi nền kinh tế có tăng trưởng cao và ổn định, các khu vực trong nền kinh tế đều có nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh do đó nhu cầu vay vốn tăng làm cho các NHTM dễ dàng
mở rộng hoạt động tín dụng của mình đồng thời khả năng nợ xấu có thể giảm vì năng lực tài chính của các doanh nghiệp cũng được nâng cao, các NHTM lúc này đã thực hiện tốt vai trò của mình Ngược lại, khi môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trở nên bất ổn thì lại là những yếu tố bất lợi cho hoạt động của các NHTM như nhu cầu vay vốn giảm, nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM
Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý được thể hiện thông qua tính đồng bộ và đầy đủ của hệ thống pháp luật, các văn bản dưới luật, việc chấp hành pháp luật và trình độ dân trí Trong đó, hệ thống pháp luật đóng vai trò quan trọng nhất trong việc định hướng nền kinh tế, vừa tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, người tiêu dùng, người lao động và cộng đồng xã hội nói chung
Môi trường pháp lý đóng vai trò là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tài chính, NHTM chịu sự kiểm soát chặt chẽ về phương diện pháp lý hơn so với các ngành khác bởi sự bất ổn của hệ thống ngân hàng sẽ gây ra hệ lụy nặng nề đối với nền kinh tế Nhiều chính sách ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NHTM như: chính sách cạnh tranh, phá sản, sát nhập, cơ cấu và tổ chức ngân hàng, các quy định về cho vay, tiền gửi, dự phòng rủi ro tín dụng, các chính sách tài chính tiền tệ, thuế, tỷ giá… Một môi trường pháp lý phù hợp bảo đảm sự hoạt động ổn định và
Trang 23phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng thương mại, giữ vững niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng Đây là nền tảng vững chắc để các NHTM phát triển hoạt động kinh doanh, nâng cao hiệu quả
Ngược lại, môi trường pháp lý không đồng bộ không phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế có thể gây cản trở đối với sự phát triển của ngân hàng, hạn chế thế mạnh của từng ngân hàng, làm lãng phí nguồn lực và không thúc đẩy kinh tế phát triển Sự thay đổi trong chủ chương, chính sách kinh tế của chính phủ một cách đột ngột có thể gây xáo trộn hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp không tiêu thụ hết được sản phẩm hay chưa có phương án kinh doanh mới dẫn đến không đủ nguồn tiền để trả các khoản nợ đến hạn cho ngân hàng, điều này sẽ dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng Ngoài ra, sự quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng
Khả năng tiếp cận thông tin
Thông tin trở nên quan trọng đối với các chủ thể tham gia vào nền kinh tế và các ngân hàng cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Đối với hoạt động tín dụng, ngân hàng cho vay chủ yếu dựa trên sự tín nhiệm đối với khách hàng Sự tin tưởng này lại phụ thuộc nguồn thông tin của khách hàng mà ngân hàng thu thập được Các ngân hàng phải nắm bắt những thông tin về khách hàng từ nhiều nguồn khác nhau,
từ nguồn thông tin sẵn có của ngân hàng (được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu trong hệ thống ngân hàng); nguồn thông tin từ Trung tâm thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước (CIC); nguồn thông tin từ các đối thủ cạnh tranh; nguồn thông tin từ những thay đổi của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, luật pháp, công nghệ thông tin, Sự nắm bắt kịp thời những thông tin về kinh tế, xã hội, thị trường
sẽ giúp cho các ngân hàng có được những phương hướng hoạt động kinh doanh kịp thời và phù hợp
Ngược lại nếu thông tin không được nắm bắt kịp thời, không chính xác thì ngân hàng sẽ đưa ra những quyết định cho vay, đầu tư không hợp lí, có thể dẫn tới rủi ro mất vốn
Trang 24Đối thủ cạnh tranh
Trong quá trình toàn cầu hóa như hiện nay, các ngân hàng không chỉ cạnh tranh với nhau trong phạm vi quốc gia mà còn phải cạnh tranh với các ngân hàng từ các quốc gia khác trên thế giới Với sự gia tăng đáng kể về số lượng cũng như chất lượng dịch vụ của các ngân hàng, khách hàng có sự lựa chọn riêng của họ khi quyết định sử dụng các dịch vụ của ngân hàng nào có lợi cho họ hơn Việc nghiên cứu, tìm hiểu về đối thủ cạnh tranh để ngày càng tạo nên sự khác biệt là vô cùng quan trọng Có thể nói sự khác biệt sẽ quyết định việc thu hút khách hàng về với ngân hàng Khác biệt nhưng vẫn phải đảm bảo phù hợp với sự mong muốn của khách hàng, các ngân hàng phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu thực tế của khách hàng để phát triển các sản phẩm dịch vụ thỏa mãn nhu cầu khách hàng đồng thời mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
2.2.2.2 Nhóm yếu tố nội sinh
Các yếu tố xuất phát từ bên trong bản thân ngân hàng có tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh bao gồm: năng lực tài chính, trình độ kỹ thuật công nghệ, năng lực quản trị điều hành và chất lượng nguồn nhân lực
Năng lực tài chính
Năng lực tài chính thường được biểu hiện trước hết qua khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, vì vốn chủ sở hữu là thước đo sức mạnh của một NHTM tại một thời điểm nhất định Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô kinh doanh của ngân hàng như: khả năng huy động và cho vay vốn, khả năng đầu tư tài chính và trình độ công nghệ, trang bị cở sở vật chất
Khả năng sinh lời cũng là một yếu tố phản ánh về năng lực tài chính của một ngân hàng vì nó thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận của một đồng vốn kinh doanh Khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro cũng là yếu tố phản ánh năng lực tài chính Nếu nợ xấu tăng thì dự phòng rủi ro cũng phải tăng để bù đắp rủi ro, có nghĩa
là khả năng tài chính cho phép sử dụng để bù đắp tổn thất có thể xảy ra Ngược lại, nếu nợ xấu tăng nhưng dự phòng rủi ro không đủ để bù đắp có nghĩa là tình trạng
Trang 25tài chính xấu và năng lực tài chính bù đắp cho các khoản chi phí này bị thu hẹp, ảnh hượng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng
Ngân hàng thương mại có năng lực tài chính vững mạnh sẽ có nhiều lợi thế trên thương trường như được sự tín nhiệm của khách hàng gia tăng thị phần, có khả năng cạnh tranh cao, có khả năng mở rộng quy mô kinh doanh (mạng lưới, dư nợ,
đa dạng hóa hình thức đầu tư,…) và khả năng dự phòng rủi ro Do đó, năng lực tài chính có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM
Trình độ kỹ thuật công nghệ
Khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phản ánh năng lực công nghệ của một ngân hàng Trình độ khoa học công nghệ cũng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, ngành ngân hàng cần ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động kinh doanh để có thể duy trì khả năng cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh doanh
Trình độ khoa học công nghệ không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như hệ thống thông tin điện tử, hệ thống ngân hàng trực tuyến, máy rút tiền tự động mà còn cả hệ thống thông tin quản lý, hệ thống báo cáo rủi ro trong nội
bộ ngân hàng Những công nghệ mang tính tác nghiệp giúp ngân hàng mở rộng các kênh tiếp cận khách hàng, đa dạng hóa các dịch vụ, nâng cao khả năng phục vụ, giảm thiểu chi phí và hạn chế sai sót có thể xảy ra Trong khi đó, công nghệ quản lý thông tin nội bộ giúp ngân hàng quản lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn, tăng cường khả năng dự báo rủi ro và hạn chế những tổn thất
Năng lực công nghệ còn thể hiện ở khả năng nâng cấp, đổi mới công nghệ, khả năng liên kết công nghệ giữa các ngân hàng và tính đặc trưng về công nghệ của mỗi ngân hàng Một NHTM với công nghệ hiện đại có nhiều thuận lợi hơn trong phát triển kinh doanh, chiếm lĩnh thị phần, gia tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
Năng lực quản trị điều hành
Năng lực quản trị điều hành có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Năng lực quản trị điều hành được phản ánh bằng khả năng
Trang 26giảm thiểu chi phí hoạt động, nâng cao hiệu suất sử dụng các đầu vào để tạo ra đầu
ra tốt nhất cho ngân hàng, đồng thời thể hiện qua khả năng giám sát, kiểm soát rủi
ro, bảo đảm an toàn hoạt động Nhà quản trị có kinh nghiệm, có khả năng chuyên môn cao sẽ dễ dàng hơn trong công tác quản lý và điều hành Nhà quản trị cần có khả năng phân tích và dự báo những thay đổi trong môi trường kinh doanh, đề ra chính sách kinh doanh đúng đắn và có hiệu quả, cũng như xây dựng các thủ tục, điều hành các quy trình nghiệp vụ hợp lý, sát thực và đúng pháp luật; đồng thời tạo lập một cơ cấu tổ chức phù hợp, vận hành hiệu quả, giảm thiểu rủi ro Ngược lại, nhà lãnh đạo không nắm bắt được tín hiệu thị trường, thiếu tầm nhìn xa, không sử dụng nhân viên đúng vị trí, đều dẫn đến lãng phí các nguồn lực ngân hàng, làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng
Chất lượng nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng không thể thiếu đối với hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào, là yếu tố mang tính kết nối các nguồn lực khác lại với nhau, đồng thời cũng là cái gốc của mọi cải tiến hay đổi mới Nguồn nhân lực cần đảm bảo cả số lượng và chất lượng Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện ở kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp Ngân hàng thương mại với nguồn nhân lực dồi dào, có chất lượng sẽ giúp ngân hàng tăng thêm giá trị dịch vụ ngân hàng, ngăn ngừa và giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh Nói cách khác, đội ngũ nhân viên giỏi giúp NHTM giảm chi phí hoạt động, gia tăng lợi nhuận và hiệu quả hoạt động kinh doanh Ngược lại, nhân viên ngân hàng hạn chế về kiến thức, yếu kém nghiệp vụ, không có đạo đức nghề nghiệp sẽ làm tăng chi phí hoạt động, giảm thị phần, tăng mức độ rủi ro tổn thất cho ngân hàng
Do đó, chất lượng nguồn nhân lực cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng Xã hội càng phát triển đòi hỏi ngân hàng phải cung cấp nhiều dịch vụ mới và có chất lượng, chính điều này làm cho chất lượng nguồn nhân lực ngân hàng cũng phải được nâng cao để đáp ứng kịp thời đối với nhu cầu của thị trường
Trang 272.3 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại có thể được chia làm hai nhóm đó là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối:
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tuyệt đối chủ yếu dựa trên công thức: Hiệu quả hoạt động kinh doanh = Kết quả kinh tế - Chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Cách đánh giá này thể hiện hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng là một giá trị tiền tệ xác định, cho phép xem xét hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM theo
cả chiều sâu và chiều rộng Tuy nhiên loại chỉ tiêu này trong một số trường hợp lại khó có thể thực hiện so sánh được Chẳng hạn như những ngân hàng có nguồn lực lớn thì tạo ra lợi nhuận lớn hơn những ngân hàng có nguồn lực nhỏ, nhưng không
có nghĩa là các ngân hàng quy mô lớn lại có hiệu quả lớn hơn các ngân hàng có quy
mô nhỏ hơn Như vậy, hiệu quả tuyệt đối không cho biết khả năng sử dụng tiết kiệm hay lãng phí các đầu vào
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tương đối có thể được thể hiện dưới dạng tĩnh: Hiệu quả hoạt động kinh doanh = Kết quả kinh tế/Chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó; hoặc dưới dạng động (dạng cận biên): Hiệu quả hoạt động kinh doanh = Mức tăng kết quả kinh tế/Mức tăng chi phí Chỉ tiêu tương đối rất thuận lợi trong việc so sánh theo thời gian và không gian cũng như cho phép so sánh hiệu quả giữa các ngân hàng có quy mô khác nhau, các thời kỳ khác nhau
Sau đây tác giả trình bày một số phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng theo chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tương đối
2.3.1 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại bằng phân tích các chỉ số tài chính
Các chỉ tiêu tài chính là công cụ thường được sử dụng phố biến để phân tích, đánh giá hoạt động của một doanh nghiệp, trong đó có các NHTMCP Đây là các chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ giữa hai biến số tài chính cho phép so sánh hoạt động giữa các chi nhánh, giữa các ngân hàng thông qua việc phân tích xu hướng biến động của các biến số này theo thời gian Nhiều chỉ tiêu tài chính khác
Trang 28nhau được sử dụng để đánh giá nhiều khía cạnh khác nhau trong hoạt động của các NHTMCP Các nhóm chỉ tiêu tài chính thường được sử dụng bao gồm: các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời, kết quả kinh doanh và rủi ro của ngân hàng
Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
Các chỉ tiêu này nhằm đo lường khả năng sinh lời của các NHTMCP theo từng góc độ khác nhau Đây là nhóm chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá công tác quản
lý và các hoạt động chiến lược của các NHTMCP thành công hay thất bại Nhóm chỉ tiêu này bao gồm: tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), hệ số thu nhập trên cổ phiếu (EPS), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NM)
- ROA là chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tính hiệu quả quản lý, cho thấy khả năng sử dụng tài sản của ngân hàng thành lợi nhuận ròng, thể hiện khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của các NHTMCP
- ROE là chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng, thể hiện khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn của cổ đông Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với các cổ đông Chỉ tiêu này còn được sử dụng khá phổ biến trong phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh vì phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
- NIM đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng thương mại có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời
và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất
- NM đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi (chủ yếu là các nguồn thu từ dịch vụ) với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàng thương mại phải chịu (tiền lương, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị, chi phí tổn thất tín dụng…)
- EPS đo lường thu nhập của cổ đông tính trên mỗi cổ phiếu hiện đang lưu hành Ngoài ra, để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM, các mô hình phân tích khả năng sinh lời cũng được đưa ra xem xét như mô hình đánh đổi lợi nhuận - rủi ro, mô hình phân chia tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu và mô hình tách các chỉ số phân tích lợi nhuận trên tài sản Bằng cách tách các tỷ lệ ROA, ROE thành nhiều tỷ lệ khác để đánh giá sự phụ thuộc của các chỉ tiêu ROA, ROE vào các
Trang 29tỷ lệ khác; hoặc phân tích mối quan hệ giữa ROA và ROE; các nhà quản trị có thể đánh giá toàn diện hơn hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP
Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh
Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các ngân hàng thương mại thường gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh bằng cách giảm chi phí và tăng năng suất lao động Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại bao gồm các tỷ số như sau:
- Tổng chi phí hoạt động/tổng thu từ hoạt động: Chỉ tiêu này phản ánh mối quan
hệ giữa đầu vào và đầu ra, cho biết khả năng bù đắp chi phí trong hoạt động của ngân hàng thương mại
- Tổng thu nhập hoạt động/tổng tài sản: Chỉ tiêu này phản ánh hiệu suất sử dụng tài sản Tỷ lệ này gồm hai phần là thu nhập lãi bình quân trên tổng tài sản và thu nhập ngoài lãi bình quân trên tổng tài sản Khi cạnh tranh trên thị trường tín dụng gia tăng và các khoản vay kém chất lượng ngày càng nhiều, các ngân hàng thương mại chuyển hướng vào việc tăng thu nhập ngoài lãi
- Năng suất lao động là chỉ tiêu đo lường khả năng tạo ra thu nhập của một nhân viên ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng lao động của ngân hàng thương mại
Nhóm chỉ tiêu đánh giá rủi ro
Ngoài việc quan tâm đến giá trị cổ phiếu và lợi nhuận cao, các NHTMCP cần phải quản trị rủi ro để bảo đảm ngân hàng hoạt động an toàn Hoạt động của ngân hàng thương mại liên quan đến các loại rủi ro chính: tín dụng, thanh khoản, thị trường, lãi suất, thu nhập và rủi ro phá sản Các chỉ tiêu tài chính thường sử dụng để đánh giá rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại bao gồm: tỷ lệ nợ xấu, hệ
số rủi ro tín dụng, tỷ lệ giữa tài sản nhạy cảm lãi suất và nợ nhạy cảm lãi suất, dự trữ thanh khoản/tổng tài sản, tỷ lệ đòn bẩy tài chính, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
- Tỷ lệ nợ xấu (nợ xấu/tổng dư nợ cho vay): Là chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng thường được sử dụng để đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Tỷ lệ này càng nhỏ thể hiện chất lượng tín dụng ngày càng cao
Trang 30- Hệ số rủi ro tín dụng (tổng dư nợ cho vay/tổng tài sản có) Hệ số này cho ta thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có Khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ càng cao, nhưng đồng thời rủi ro tín dụng cũng tăng lên
- Tổng cho vay/tổng vốn huy động: Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư của một đồng vốn huy động, đồng thời cũng là chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ ngân hàng sử dụng vốn huy động chủ yếu là để cho vay nên rủi ro tín dụng càng cao Tỷ lệ này càng thấp càng giảm thiểu rủi ro tín dụng của ngân hàng vì ngân hàng đa dạng hóa danh mục đầu tư và dịch vụ cung ứng cho khách hàng
- Tỷ lệ giữa tài sản nhạy cảm lãi suất và nợ nhạy cảm lãi suất: Tỷ lệ này đo lường rủi ro lãi suất Khi quy mô tài sản nhạy cảm với lãi suất vượt quá các khoản
nợ nhạy cảm lãi suất trong một thời kỳ nhất định, một ngân hàng có thể rơi vào tình trạng bất lợi và thua lỗ nếu lãi suất giảm Ngược lại, khi nợ nhạy cảm với lãi suất vượt quá tài sản nhạy cảm lãi suất, ngân hàng sẽ thua lỗ nếu lãi suất tăng
- Dự trữ thanh khoản/tổng tài sản: Đây là chỉ tiêu đo lường rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại Tỷ lệ này càng nhỏ thì khả năng chống đỡ rủi ro thanh khoản càng yếu và ngược lại Tuy nhiên, nếu tỷ lệ này cao thì ngân hàng cần xem lại khả năng đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận, vì tài sản thanh khoản có mức sinh lợi thường thấp hơn nhiều so với các tài sản sinh lời khác
- Tỷ lệ đòn bẩy tài chính (tổng vốn chủ sở hữu/tổng tài sản): Chỉ tiêu này phản ánh có bao nhiêu đồng vốn chủ sở hữu tạo ra một đồng tài sản và ngân hàng thương mại phải dựa vào nguồn vốn vay nợ là bao nhiêu Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ ngân hàng thương mại vay nợ càng nhiều, tận dụng được đòn bẩy tài chính nhưng đồng thời rủi ro cũng tăng lên
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (vốn tự có/tổng tài sản có rủi ro quy đổi): Thể hiện mức độ rủi ro mà các ngân hàng được phép mạo hiểm trong sử dụng vốn cao hay thấp tùy thuộc vào độ lớn vốn tự có của ngân hàng, cụ thể đối với những ngân hàng
Trang 31có vốn tự có lớn thì nó được phép sử dụng vốn với mức độ liều lĩnh hơn với hy vọng đạt được lợi nhuận cao nhất, nhưng rủi ro sẽ cao hơn và ngược lại
- Ngoài ra, để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, các nhà quản trị ngân hàng còn sử dụng các chỉ tiêu khác như: Vốn huy động/ vốn tự có (phản ánh khả năng và quy mô thu hút vốn từ nền kinh tế), tiền gửi không
kỳ hạn/ tiền gửi có kỳ hạn (phản ánh khả năng cung ứng dịch vụ của ngân hàng),… Tóm lại, trong phân tích hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại hiện nay, thì các tỷ số tài chính vẫn được sử dụng khá phổ biến vì chúng khá đơn giản và tương đối dễ hiểu trong phân tích, tuy nhiên chính mức độ đơn giản của nó
có thể trở thành vấn đề khá phức tạp nếu các nhà quản lý cố gắng đưa ra một bức tranh tổng thể khi kết hợp nhiều mặt, nhiều khía cạnh hoạt động khác nhau của ngân hàng Vì mỗi tỷ số chỉ cho biết hay đánh giá mỗi quan hệ tỷ lệ giữa hai biến số cụ thể, không có một tỷ số nào cho chúng ta các kết luận tổng quát về tình trạng của một ngân hàng, do đó, trong việc đánh giá tổng quan thực trạng của một ngân hàng cần phải xem xét một loạt các chỉ số Việc xem xét đồng thời hoặc việc tổng hợp các kết quả phân tích từ các tỷ số khác nhau có thể đưa đến nguy cơ nhầm lẫn trong việc đánh giá hoạt động của các ngân hàng vì các chỉ số này chỉ là những chỉ số phân tích đơn
2.3.2 Đánh giá hiệu quả bằng mô hình CAMELS
Hệ thống phân tích CAMELS là một phương pháp dung để phân tích tình hình hoạt động và rủi ro của một ngân hàng Cần lưu ý là báo cáo tài chính không thể cung cấp đầy đủ thông tin để tiến hành đánh giá mức độ an toàn, khả năng sinh lời
và thanh khoản của ngân hàng, cần có sự kết hợp việc phân tích CAMELS với những đánh giá định tính để có thể thu được kết quả tốt nhất
Phân tích CAMELS dựa trên 6 yếu tố cơ bản được sử dụng để đánh giá hoạt động của ngân hàng bao gồm:
- Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy): thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh ngân hàng và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quan đến mức độ rủi ro cao hơn
Trang 32- Chất lượng tài sản có (Asset Quality): liên quan đến việc quản lý rủi ro tín dụng, khi chất lượng tài sản có giảm xuống thì nguy cơ đổ vỡ ngân hàng càng tăng lên
- Quản lý (Management): Nhiều quan điểm cho rằng quản lý đóng vai trò quyết định đến sự thành công trong hoạt động ngân hàng, sẽ ảnh hưởng trực tiếp lên chất lượng tài sản có, tăng trưởng tài sản có, mức độ thu nhập, năng lực lãnh đạo, tuân thủ quy định, khả năng ứng phó với sự thay đổi của môi trường kinh doanh, chất lượng của các chính sách kinh doanh
- Lợi nhuận (Earnings): Là chỉ số quan trọng đánh giá công tác quản lý và hoạt động chiến lược của nhà quản lý thành công hay thất bại Lợi nhuận sẽ bổ sung thêm vốn (từ nguồn bổ sung và huy động), bù đắp tổn thất và trích dự phòng đầy
Phương pháp CAMELS đánh giá bao quát đầy đủ về mức độ hiệu quả và rủi
ro của ngân hàng, phương pháp tính toán đơn giản (dựa trên các chỉ số tài chính) Tuy nhiên, phương pháp cũng có một số hạn chế như yêu cầu cơ sở dữ liệu thông tin đầy đủ, khi phân tích cần có sự kết hợp với phân tích phi tài chính và không có
sự thống kê dữ liệu nhiều năm
2.3.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng bằng phương pháp phân tích hiệu quả biên
Phân tích hiệu quả biên là phương pháp xác định chỉ số hiệu quả tương đối dựa trên việc so sánh khoảng cách của các đơn vị (chẳng hạn, trong đề tài này là các ngân hàng) với một đơn vị thực hiện hoạt động tốt nhất trên đường biên Ưu điểm của phương pháp này là cho phép xác định chỉ số hiệu quả chung của từng ngân
Trang 33hàng và xếp hạng hiệu quả của ngân hàng dựa trên hoạt động thực tế Đây cũng là hiệu quả tốt nhất mà một ngân hàng đang thực hiện khi so sánh với các ngân hàng khác Những thông tin này giúp các nhà quản trị đánh giá được hiệu quả hiện tại của ngân hàng và tìm cách cải thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Phân tích hiệu quả biên được chia thành 2 nhóm: tiếp cận tham số và tiếp cận phi tham số
- Cách tiếp cận tham số yêu cầu chỉ ra một dạng hàm cụ thể đối với đường
biên hiệu quả Hạn chế của phương pháp này là nếu việc chỉ định dạng hàm sai thì kết quả tính toán sẽ ảnh hưởng ngược đến các chỉ số hiệu quả, đồng thời cách tiếp cận này đòi hỏi người sử dụng phải có một số kiến thức nhất định về toán học Phương pháp thường được sử dụng trong cách tiếp cận này là phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên
- Cách tiếp cận phi tham số không yêu cầu đưa ra một dạng hàm cụ thể, cũng
như không đòi hỏi các ràng buộc về hình dáng của đường biên thực hiện tốt nhất Phương pháp thường được sử dụng trong cách tiếp cận này là phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA - Data Envelopment Analysis)
Phương pháp phân tích các hệ số tài chính nêu trên là phương pháp truyền thống Phương pháp này thường được các nhà quản trị ngân hàng, các nhà nghiên cứu, nhà đầu tư sử dụng rộng rãi để phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Tuy nhiên, các chỉ tiêu này về cơ bản phản ánh quy mô sử dụng các đầu vào để tạo ra các đầu ra trong hoạt động của các NHTM, mang tính chất thời điểm, mỗi tỷ số chỉ đánh giá mối quan hệ tỷ lệ giữa hai biến số cụ thể, không có một tỷ số nào phản ánh khái quát về tình trạng của một NHTM Hiện nay các nhà quản trị ngân hàng cũng quan tâm hơn đến các chỉ tiêu theo tiêu chuẩn quốc tế như CAMELS, tuy nhiên cách đánh giá này hiện nay cũng chưa áp dụng phổ biến tại Việt Nam do một số chỉ tiêu của CAMELS khó lượng hóa được Để bổ sung cho những phần hạn chế của phương pháp phân tích truyền thống nêu trên, phương pháp phân tích hiệu quả biên giúp chúng ta có thể nhìn thấy một bức tranh tổng thể trong hoạt động của các ngân hàng
Trang 34Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung vào phương pháp tiếp cận phi tham số - phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam
2.3.4 Giới thiệu khái quát về phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA
Phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA là một cách tiếp cận phi tham số được khởi xướng bởi Charnes, Cooper và Rhodes (1978) để đo lường hiệu quả trong các tổ chức công Thực ra, nó lại có xuất phát điểm từ trước đó hơn 20 năm, bắt đầu từ ý tưởng của Farrel Mục tiêu của DEA là xây dựng một mặt bao lồi hiệu quả phi tham số sao cho các điểm quan sát không nằm cao hơn đường giới hạn hiệu quả Đường giới hạn hiệu quả được xây dựng từ những đoạn thẳng kết nối các điểm hiệu quả nhất
Farrel đã đưa ra công thức tổng quát tính hiệu quả cho trường hợp doanh nghiệp (i) sử dụng (k) đầu vào và có (m) đầu ra như sau:
Vì DEA được xây dựng dựa trên các điểm thực tế nên nó có thể áp dụng được với các mẫu nghiên cứu nhỏ và thường được sử dụng trong phân tích chuyên sâu theo lĩnh vực, địa phương Mặc dù vậy, do đây là phương pháp tiếp cận phi tham số,
nó không tính toán mức sai số nên không tồn tại mức ý nghĩa hay độ tin cậy; đồng thời điểm hiệu quả DEA là điểm hiệu quả tương đối giữa các đơn vị khảo sát với nhau nên nếu có một DEA có điểm hiệu quả 100% nằm trên đường giới hạn hiệu quả thì cũng không có nghĩa là nó đạt hiệu quả tối ưu trên thực tế mà nó chỉ tốt hơn các đơn vị khác trong phạm vi khảo sát
Trang 35Phương pháp DEA đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các đơn vị ra quyết định DMU (Decision Making Unit) có hai hướng tiếp cận: hướng tiếp cận đầu vào trả lời cho câu hỏi doanh nghiệp cần giảm chi phí tối thiểu là bao nhiêu để đạt đến trạng thái tối ưu mà không thay đổi sản lượng đầu ra Ngược lại, hướng tiếp cận đầu ra trả lời cho câu hỏi doanh nghiệp cần tối đa hóa sản lượng là bao nhiêu để đạt đến trạng thái tối ưu trong điều kiện giữ nguyên chi phí đầu vào
2.3.4.1 Các cách lựa chọn biến đầu vào và biến đầu ra trong phương pháp phân tích DEA
Do đặc điểm của ngân hàng là ngành dịch vụ có nhiều yếu tố đầu vào và đầu ra nên điều quan trọng trong phân tích DEA đối với các NHTMCP là lựa chọn biến đầu vào và đầu ra cho hợp lý Tác giả đã tổng hợp có 5 cách tiếp cận trong việc xác định đầu vào và đầu ra của ngân hàng, đó là:
- Cách tiếp cận trung gian: Cho rằng ngân hàng là tổ chức tài chính trung gian thực hiện huy động và phân bổ nguồn vốn cho vay và hình thành tài sản có khác
Do đó, tiền gửi, lao động được xem là đầu vào của ngân hàng, đầu ra là tiền cho vay, các tài sản sinh lời,
- Cách tiếp cận tài sản: Khác với cách tiếp cận trung gian khi coi tài sản nợ là đầu vào, tài sản có là đầu ra
- Cách tiếp cận sản xuất, ngân hàng thương mại được xem là doanh nghiệp sử dụng vốn và lao động để tạo ra các sản phẩm tiền gửi và cho vay khác nhau Theo cách tiếp cận này, đầu vào và đầu ra được lấy theo đơn vị lượng
- Cách tiếp cận giá trị gia tăng: Các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán thu hút đóng góp của lao động và tư bản thì được xem là đầu ra và ngược lại Theo cách tiếp cận này, tiền gửi được coi là đầu ra
- Cách tiếp cận chi phí sử dụng: Xem sự đóng góp ròng vào doanh thu của ngân hàng để định nghĩa là các đầu vào hay đầu ra Trong trường hợp này, tiền gửi được coi là đầu ra
Tùy theo quan điểm của từng tác giả, khả năng thu thập số liệu và tình hình hoạt động của các ngân hàng mà lựa chọn cách tiếp cận phù hợp để xác định các
Trang 36biến đầu vào và đầu ra tốt nhất, đáp ứng yêu cầu đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng Trong phạm vi luận văn này, tác giả chọn cách tiếp cận trung gian với quan điểm cho rằng ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian
có vai trò quan trọng trong nền kinh tế
2.3.4.2 Các mô hình DEA đánh giá hiệu quả kỹ thuật
Mô hình DEA CRS
Charnes, Cooper và Rhodes (1978) đã phát triển mô hình của Farrel (công thức (1)) bằng cách giả định xảy ra trường hợp sản lượng không đổi theo quy mô (CRS)1, với cách tiếp cận định hướng đầu vào Trong trường hợp này, doanh nghiệp thứ i nếu không đạt được hiệu quả tương đối hoàn toàn (EF=1) có thể tối đa hóa hiệu quả của nó bằng cách giải bài toán: Maxu,v EFi, với điều kiện: EFi ≤ 1, 1 ≤ i ≤ n, 0 ≤ um,vk ≤ 1, ∑vkxki =1 (2)
Bài toán (2) còn được gọi là mô hình DEACRS với giả định các doanh nghiệp hoạt động ở quy mô tối ưu Mục đích của mô hình DEACRS là xác định điểm hiệu quả kỹ thuật toàn bộ của các doanh nghiệp được khảo sát với giả định các doanh nghiệp hoạt động ở quy mô tối ưu, đồng thời xác định phi hiệu quả kỹ thuật có thể xảy ra Phi hiệu quả kỹ thuật là lượng mà tất cả các đầu vào có thể giảm xuống mà không làm giảm đầu ra Nguyên nhân gây ra phi hiệu quả kỹ thuật có thể là do cơ cấu giữa đầu vào và đầu ra, do khả năng quản lý yếu hoặc do quy mô hoạt động Trong luận văn sử dụng thuật ngữ hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kỹ thuật toàn bộ là như nhau
Mô hình DEACRS chỉ phù hợp với điều kiện các doanh nghiệp hoạt động ở quy
mô tối ưu Thực tế không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng hoạt động ở quy mô tối ưu Khi đó, mô hình DEACRS không còn phù hợp nữa
Mô hình DEA VRS
Năm 1984, Banker, Charnes và Cooper đề xuất mô hình mở rộng của mô hình DEACRS là mô hình DEAVRS với giả định sản lượng thay đổi theo quy mô (VRS)2 Việc sử dụng giả định của mô hình DEACRS khi không phải tất cả DMU đều hoạt
Trang 37động ở quy mô tối ưu làm cho kết quả đo lường hiệu quả kỹ thuật bao gồm cả hiệu quả quy mô Trong khi đó, mô hình DEAVRS cho phép tính toán hiệu quả kỹ thuật
mà không có các tác động này của hiệu quả theo quy mô
Trong mô hình DEAVRS, hiệu quả kỹ thuật được tách ra thành hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả theo quy mô, giúp chúng ta tìm ra được nguyên nhân gây ra tình trạng phi hiệu quả Phi hiệu quả có thể từ phi hiệu quả kỹ thuật thuần hoặc phi hiệu quả quy mô để từ đó có những giải pháp phù hợp Khi hiệu quả kỹ thuật thuần nhỏ hơn 100% chứng tỏ có tồn tại phi hiệu quả kỹ thuật thuần, để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh doanh nghiệp cần chú trọng nâng cao năng lực quản trị, điều hành, nâng cao năng lực quản trị rủi ro,… Nếu hiệu quả quy mô đạt 100% (doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện CRS) có nghĩa là doanh nghiệp hoạt động với quy
mô tối ưu và do đó tăng hay giảm quy mô sản xuất không làm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh Nếu hiệu quả theo quy mô nhỏ hơn 100% chứng tỏ doanh nghiệp đang hoạt động với quy mô không tối ưu và tồn tại phi hiệu quả quy mô Phi hiệu quả quy mô có thể tồn tại trong điều kiện sản lượng tăng theo quy mô (IRS) hoặc sản lượng giảm theo quy mô (DRS) Điều kiện DRS ngụ ý rằng quy mô của ngân hàng quá lớn và ngân hàng có thể cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh, giảm chi phí đơn vị bằng cách giảm quy mô Còn điều kiện IRS cho biết ngân hàng có thể cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh, giảm chi phí đơn vị bằng cách tăng quy mô
Chỉ số Malmquist
Năm 1953, Sten Malmquist – nhà kinh tế học và thống kê học người Thụy Điển đã đề xuất sử dụng một chỉ số để đo lường sự thay đổi của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và sự thay đổi của các thành phần hiệu quả có liên quan như: thay đổi hiệu quả kỹ thuật (effch), thay đổi tiến bộ công nghệ (techch), thay đổi hiệu quả
kỹ thuật thuần (pech) và thay đổi hiệu quả theo quy mô (sech), gọi là chỉ số Malmquist
Tim Coelli và các cộng sự (1996) đã giới thiệu phương pháp phân tích thay đổi năng suất thông qua việc xác định chỉ số thay đổi năng suất tổng hợp Malmquist bằng phương pháp DEA Tăng năng suất sẽ biểu thị bằng chỉ số Malmquist lớn hơn
Trang 38một (>1) Năng suất giảm sẽ gắn với việc chỉ số Malmquist nhỏ hơn 1 (<1) Ngoài
ra, việc tăng lên trong mỗi bộ phận của chỉ số Malmquist sẽ dẫn tới việc giá trị của
bộ phận đó lớn hơn 1
2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Mô hình phân tích bao dữ liệu DEA (Data Envelopment Analysis) được dùng
để đo lường hiệu quả của đơn vị ra quyết định DMU (Decision Making Unit) Với những ưu điểm vượt trội, mô hình này được sử dụng khá bổ biến trong các nghiên cứu khoa học để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế trong nhiều ngành lĩnh vực khác nhau, trong đó được dùng để xem xét, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trên thế giới
Với kết quả từ mô hình DEA, người ta có thể đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của từng ngân hàng thông qua chỉ số đo lường hiệu quả kỹ thuật (hiệu quả kỹ thuật thuần, hiệu quả quy mô), hiệu quả phân bổ; đánh giá được tính kinh tế theo quy mô của từng ngân hàng (tăng, giảm hoặc không thay đổi theo quy mô); tìm ra được nguyên nhân gây ra tính phi hiệu quả có thể từ năng lực quản trị hay quy mô hoạt động chưa tối ưu Mô hình hồi quy tuyến tính (Tobit hoặc OLS) được sử dụng
để xác định các yếu tố tác động đến chỉ số đo hiệu quả để từ đó định hướng những giải pháp để khắc phục
2.4.1 Nghiên cứu nước ngoài
Anthony N.Rezitis (2004) nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuật và tốc độ tăng trưởng năng suất của 6 ngân hàng Hy Lạp trong giai đoạn 1982-1997 bằng việc áp dụng mô hình DEA (biến đầu vào: tiền gửi, số lượng nhân viên, chi phí vốn; biến đầu ra: dư nợ cho vay, tài sản đầu tư), sau đó áp dụng mô hình hồi quy Tobit để đánh giá các nhân tố tác động lên hiệu quả Phạm vi nghiên cứu được chia thành hai giai đoạn 1982-1992 và 1993-1997 để đánh giá, vì từ sau năm 1992, ngành ngân hàng Hy Lạp trải qua những thay đổi đáng kể Nghiên cứu sử dụng mô hình DEA
để đo lường hiệu quả kỹ thuật, áp dụng chỉ số Malmquist để đo lường và phân tích
Trang 39tốc độ tăng trưởng năng suất Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc độ tăng trưởng năng suất trung bình là 2,4%/năm và cao hơn sau năm 1992 Yếu tố dẫn đến sự tăng trưởng này là do tiến bộ kỹ thuật Ngoài ra, kết quả phân tích cho thấy rằng quy mô
và chuyên môn hóa có tác động dương lên cả hiệu quả thuần và hiệu quả quy mô Donsyah Yudistira (2004) đo lường hiệu quả kỹ thuật và đánh giá mức độ tác động của các biến môi trường đến hiệu quả kỹ thuật của 18 ngân hàng tại các nước Hồi giáo trong giai đoạn 1997 – 2000 bằng việc áp dụng mô hình DEA (biến đầu vào: tài sản cố định, tiền gửi, chi phí nhân viên; biến đầu ra: dư nợ cho vay, tài sản
có tính thanh khoản cao, thu nhập khác) và mô hình hồi quy OLS (biến phụ thuộc: hiệu quả kỹ thuật; biến độc lập: tỷ số vốn/tổng tài sản, thu nhập ròng/tổng tài sản, tổng tài sản, thị phần tiền gửi) Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả kỹ thuật tổng thể là khá thấp (gần 90%), các ngân hàng thuộc các nước Trung Đông hoạt động ít hiệu quả hơn so với các đối tác ở khu vực bên ngoài Kết quả còn thể hiện tính phi hiệu quả kinh tế nhờ quy mô và chỉ có thị phần tiền gửi ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng các nước này
Nghiên cứu của Fotios Pasiouras, Emmanouil Sifodaskalakis & Constantin Zopounidis (2007) kiểm định hiệu quả chi phí (bao gồm hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ) của 16 ngân hàng Hy Lạp trong giai đoạn 2000-2004 Dựa vào cách tiếp cận trung gian, nghiên cứu áp dụng mô hình DEA (biến đầu vào: tài sản cố định, tiền gửi, số lượng nhân viên; biến đầu ra: dư nợ cho vay, tài sản có tính thanh khoản cao và các khoản đầu tư) Sau đó, nghiên cứu tiếp tục sử dụng mô hình hồi quy Tobit để xác định các nhân tố nội sinh và ngoại sinh tác động lên hiệu quả Kết quả phân tích cho thấy các ngân hàng của Hy Lạp có thể nâng cao hiệu quả chi phí lên khoảng 17%, sự không hiệu quả xuất phát từ sự không hiệu quả về phân bổ chứ không phải về kỹ thuật Kết quả phân tích hồi quy thể hiện quy mô ngân hàng có tác động dương lên các chỉ số đo hiệu quả Mức độ vốn hóa, số lượng chi nhánh và số lượng máy ATM đếu có tác động đến hiệu quả Biến số GDP bình quân đầu người
có tác động âm lên tất cả các chỉ số đo hiệu quả Tỷ lệ thất nghiệp có tác động âm lên hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả chi phí, không có tác động lên hiệu quả phân bổ
Trang 40Gupta Omprakash K., Yogesh Doshit and Aneesh Chinubhai (2008) sử dụng
mô hình DEA để đo điểm hiệu quả của 57 ngân hàng bao gồm cả ngân hàng khu vực công và ngân hàng khu vực tư nhân của Ấn Độ trong giai đoạn từ năm 1999 –
2003, mẫu nghiên cứu không bao gồm các ngân hàng nước ngoài tại Ấn Độ Mô hình DEA được chọn với chi phí lãi và các chi phí điều hành là biến đầu vào và thu nhập lãi, thu nhập từ phí (hoa hồng, môi giới,…), thu nhập đầu tư là ba biến đầu ra Sau đó, mô hình Tobit được áp dụng sử dụng 05 biến độc lập bao gồm năng suất lao động (kết quả kinh doanh/nhân viên), tỷ lệ an toàn vốn (CAR), chất lượng tài sản (nợ xấu/tổng tài sản), khả năng sinh lời (lợi nhuận hoạt động/tổng tài sản), quy mô (tổng tài sản) Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả trung bình của tất cả các ngân hàng đã tăng khoảng 2,4% trong giai đoạn nghiên cứu, đồng thời cũng chỉ ra rằng
sự gia tăng hiệu quả chủ yếu đến từ các ngân hàng nhỏ Nhóm ngân hàng Nhà nước đạt hiệu quả nhất trong tất cả các năm, tiếp theo là các ngân hàng tư nhân, kém hiệu quả nhất là các ngân hàng quốc hữu khác Trong tất cả các biến độc lập, chỉ có khả năng sinh lời (lợi nhuận hoạt động/tổng tài sản) và tỷ lệ an toàn vốn (CAR) có tác động đối với hiệu quả Các yếu tố khác không có ý nghĩa thống kê
Ngo, Dang Thanh (2010) sử dụng mô hình DEA (biến đầu vào: tiền lương nhân viên, chi phí lãi vay, chi phí khác; biến đầu ra: tổng tài sản, thu nhập lãi, thu nhập khác) để nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh của 22 NHTM Việt Nam trong năm 2008 Kết quả phân tích cho thấy điểm hiệu quả trung bình của các ngân hàng là gần với điểm tối ưu, có nghĩa là các ngân hàng nằm gần đường biên Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các ngân hàng hiệu quả thực sự, mà chỉ là hiệu quả tương đối so sánh với nhau Kết quả này cho thấy mặc dù hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tương đối cao, nhưng vẫn có cơ hội để cải thiện chỉ số này Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy sự mất cân bằng của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam: trong khi hơn 1/3 ngân hàng trong mẫu có lợi thế kinh tế tăng theo quy mô, thì 1/3 lại giảm theo quy mô
Một nghiên cứu tương tự của Ngo, Dang Thanh (2012) vẫn tiếp tục sử dụng
mô hình DEA (biến đầu vào: tiền gửi; biến đầu ra: dư nợ cho vay, GDP, M2) để