1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa trong nước bằng biện pháp hành chính từ chính sách đến thực thi

68 565 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu “Bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa trong nước bằng biện pháp hành chính – từ chính sách đến thực thi” sử dụng Bộ tiêu chí ROCCIPI để phân tích những nguyên nhân hạ

Trang 1

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

********************

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

Chuyên ngành: Chính sách Công

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Phạm Duy Nghĩa

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện Các dữ liệu được sử dụng trong luận văn được tuân thủ theo quy định trích dẫn nguồn đầy đủ và chính xác trong phạm vi hiểu biết của tôi

Luận văn không nhất thiết phản ánh quan điểm của trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh hay của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright./

Tác giả

Vũ Thanh Minh

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Phạm Duy Nghĩa - Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright đã hướng dẫn và cung cấp cho tôi những dữ liệu, thông tin và kiến thức hữu ích

để tôi có thể hoàn thành đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giảng viên của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright đã truyền đạt cho tôi những kiến thức, kỹ năng thông qua các môn học nhằm giúp tôi hoàn thiện bản thân hơn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, cơ quan và các bạn học viên MPP7 đã luôn bên cạnh động viên, hỗ trợ tôi trong suốt chương trình học, đây là khoảng thời gian đáng nhớ nhất trong cuộc đời tôi Mặc dù đã nỗ lực, tuy nhiên một số hạn chế của bản thân nên luận văn không tránh khỏi những sơ sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Quý thầy cô và người đọc

Tác giả

Vũ Thanh Minh

Trang 7

TÓM TẮT

Nhãn hiệu hàng hóa được xem như một tài sản quan trọng của doanh nghiệp và cần được bảo vệ như những tài sản khác Tuy nhiên, tại Việt Nam hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu đã được bảo hộ là một thực trạng thách thức sự phát triển lành mạnh của thị trường và quản

lý của cơ quan Nhà nước Vì vậy, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa càng trở nên quan trọng giúp doanh nghiệp tạo ra rào cản tự vệ trước các đối thủ cạnh tranh

Đề tài nghiên cứu “Bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa trong nước bằng biện pháp hành chính – từ chính sách đến thực thi” sử dụng Bộ tiêu chí ROCCIPI để phân tích những nguyên nhân hạn chế của biện pháp hành chính, qua đó cung cấp góc nhìn sát thực hơn trong hoạt động quản lý nhà nước về bảo hộ quyền sở hữu ở cấp tỉnh, thành phố

Kết quả nghiên cứucho thấy, có nhiều nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả thực thi của biện pháp hành chính Trong đó một số nguyên nhân chính như: (i) Các quy tắc Luật lệ không đủ để ngăn chặn hành vi vi phạm, chưa quy định trách nhiệm giải trình của các cơ quan thực thi, (ii) Nhận thức về công tác bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa còn yếu

ở cả hệ thống các cơ quan thực thi và chính chủ sở hữu nhãn hiệu, (iii) Quy trình thực thi chưa nhắm đến mục tiêu chung của bảo hộ

Từ các nguyên nhân hạn chế, Tác giả đưa ra khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả thực thi sau xác lập như: thay đổi Luật lệ bằng phương thức áp dụng các mức xử lý khác nhau theo nhóm hàng hóa, quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan thực thi Ban hành quy trình tổng thể nhắm đến mục tiêu chung trong thực thi Xây dựng hệ thống quản

lý thông tin thống nhất tại Việt Nam

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC VIẾT TẮT vi

DANH MỤC HỘP THÔNG TIN vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

DANH MỤC PHỤ LỤC viii

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

-1.1 Bối cảnh nghiên cứu - 1 -

1.2 Mục tiêu nghiên cứu - 2 -

1.3 Câu hỏi nghiên cứu - 2 -

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 2 -

1.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin - 3 -

1.6 Kết cấu đề tài - 3 -

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4

-2.1 Các khái niệm - 4 -

2.1.1 Nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hàng hóa - 4 -

2.1.2 Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa - 5 -

2.1.3 Xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa và các biện pháp can thiệp - 7 -

2.1.4 Phân cấp quản lý nhà nước - 8 -

2.1.5 Thực thi sau bảo hộ bằng biện pháp hành chính và các mức xử lý vi phạm - 9 -

2.2 Cơ sở can thiệp của nhà nước - 10 -

2.3 Bộ tiêu chí ROCCIPI - 12 -

2.3.1 Nhóm năm yếu tố khách quan trong bộ tiêu chí ROCCIPI - 12 -

2.3.2 Nhóm hai yếu tố chủ quan trong bộ tiêu chí ROCCIPI - 13 -

CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH 15

-3.1 Thực trạng xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa - 15 -

3.2 Đánh giá theo ROCCIPI - 17 -

Trang 9

3.2.1 Luật lệ (Rules) - 17 -

3.2.2 Cơ hội (Opportunity) - 22 -

3.2.3 Năng lực (Capacity) - 26 -

3.2.4 Truyền thông (Communication) - 27 -

3.2.5 Quy trình (Proccess) - 29 -

3.2.6 Lợi ích (Interest) - 30 -

3.2.7 Ý thức hệ (Ideology) - 31 -

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 34

-4.1 Kết luận - 34 -

4.2 Khuyến nghị chính sách - 35 -

4.3 Hạn chế của đề tài - 36 -

4.4 Gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo - 36 -

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

PHỤ LỤC 41

Trang 10

WTO Tổ chức thương mại thế giới

WIPO Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới

Trang 11

DANH MỤC HỘP THÔNG TIN

Hộp 2.1: Phân biệt Nhãn hàng hóa và Nhãn hiệu hàng hóa - 5 -

Hộp 2.2: Tóm tắt sơ đồ bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa - 6 -

Hộp 2.3: Sơ đồ phân cấp xác lập quyền sở hữu SHTT - 9 -

Hộp 3.1: Các mức xử lý vi phạm - 18 -

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Số vụ vi phạm về NHHH từ 2010-2015 - 15 -

Biểu đồ 3.2: Lựa chọn biện pháp can thiệp của DN khi bị xâm phạm - 21 -

Biểu đồ 3.3: Đánh giá mức độ nhận diện hàng hóa của người tiêu dùng - 25 -

Biểu đồ 3.4: Hình thức DN nắm bắt các thông tin liên quan về lĩnh vực SHTT - 28 -

Biểu đồ 3.5: Sự lựa chọn của người tiêu dùng khi biết hàng nhái, giả NHHH đã được bảo hộ - 32 -

Trang 12

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Trình tự, thủ tục xử lý đơn khiếu nại xâm phạm NHHH - 41 -

Phụ lục 2: Các mức xử lý vi phạm hành chính - 42 -

Phụ lục 3: Thông tin hoạt động bảo hộ NHHH - 45 -

Phụ lục 4: Một số nhiệm vụ, quyền hạn về lĩnh vực SHTT cấp địa phương - 47 -

Phụ lục 5: Hình thức công bố thông tin liên quan hoạt động SHTT năm 2015 tại 10 tỉnh, thành phố - 48 -

Phụ lục 6: Một số chi phí thu nhập, chứng minh bị xâm phạm NHHH - 50 -

Phụ lục 7: Bảng câu hỏi phỏng vấn Chuyên gia - 51 -

Phụ lục 8: Bảng câu hỏi khảo sát Người tiêu dùng - 53 -

Phụ lục 9: Bảng câu hỏi khảo sát Doanh nghiệp - 55 -

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu

Nhãn hiệu hàng hóa (NHHH) được xem như một tài sản quan trọng của doanh nghiệp và cần được bảo vệ như những tài sản khác Tuy nhiên tại Việt Nam (VN), hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu đã được bảo hộ là một thực trạng thách thức sự phát triển lành mạnh của thị trường và sự quản lý của cơ quan Nhà nước (Nguyễn Trọng Tín, 2015) Với sự phát triển khoa học và công nghệ thì hành vi nhái, giả nhãn hiệu trở nên dễ dàng, tinh vi và khó phân biệt hơn Do đó vai trò của việc bảo hộ NHHH càng trở nên quan trọng hơn trong việc giúp doanh nghiệp (DN) tạo ra rào cản tự vệ trước các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam gia nhập các tổ chức kinh tế như APEC, WTO, TPP

Theo J Schumpeter (1942), tính năng động và sáng tạo là động lực cơ bản của nền kinh tế thị trường Hai đặc tính cơ bản này thường xuất hiện trong các tài sản trí tuệ và cần thiết được bảo hộ Trong đó NHHH cũng là loại tài sản vô hình của DN, giúp DN đầu tư nghiên cứu nâng cao năng suất thông qua NHHH để gắn kết và mở rộng thị trường, giảm chi phí lựa chọn cho khách hàng (Idris, 2004) Khi DN chưa được xác lập quyền sở hữu thì không có cơ sở để can thiệp khi bị xâm phạm Thực thi bảo hộ NHHH sẽ có 2 tác động chính Thứ nhất giúp DN có công cụ pháp lý để tự vệ Thứ hai thúc đẩy sự sáng tạo, đổi mới, khuyến khích cạnh tranh công bằng giữa các DN trên thị trường, ngăn chặn các hành

vi nhái, giả, xâm phạm quyền sở hữu NHHH (Lê Nết, 2006)

Trong trường hợp DN bị xâm phạm quyền sở hữu, theo Luật sở hữu trí tuệ (2005) có bốn biện pháp để can thiệp: (i) tự thương lượng, hòa giải, (ii) biện pháp hình sự; (iii) biện pháp dân sự (khởi kiện ra tòa), (iv) biện pháp hành chính (yêu cầu cơ quan hành chính can thiệp) Theo Phạm Văn Toàn (2013), trong bốn biện pháp nêu trên, biện pháp hành chính được sử dụng phổ biến, do tính can thiệp nhanh chóng theo yêu cầu của chủ thể quyền, chi phí thấp và thủ tục đơn giản, đồng thời biện pháp này còn phát huy vai trò quản lý nhà nước, mang tính kiểm soát, hướng tới ngăn chặn vi phạm trong tương lai

Theo Idris (2004), khi việc thực thi không đảm bảo quyền sở hữu thì cho dù quyền và lợi ích đã được quy định rõ ràng trong hệ thống pháp luật thì quyền này cũng bị phủ nhận Trong khi hoạt động bảo hộ Sở hữu trí tuệ (SHTT) tại Việt Nam (VN) được Chính phủ khuyến khích các DN tham gia bằng nhiều chương trình hỗ trợ kinh phí Tuy nhiên hoạt động thực thi sau xác lập quyền lại không phát huy được vai trò bảo hộ, thể hiện qua tình

Trang 14

trạng hàng hóa xâm phạm quyền xuất hiện trên thị trường tại khắp các tỉnh, thành phố và được bày bán công khai

Hiện nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực bảo hộ NHHH như: luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Tiến Lập (2011) hoặc luận án tiến sĩ của tác giả Lê Mai Thanh (2006) và một số nghiên cứu khác Tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ tập trung đến những vấn đề về hệ thống pháp luật đối với bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ra quốc tế khi hội nhập Kết quả nghiên cứu đề cập đến nhận thức về NHHH nổi tiếng, đánh giá hệ thống pháp luật của VN với các nước khác Cho đến nay, tại Việt Nam còn thiếu những

nghiên cứu chuyên sâu bằng biện pháp hành chính Do đó, đề tài nghiên cứu “Bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa trong nước bằng biện pháp hành chính – từ chính sách đến thực thi” với phương thức tiếp cận góc nhìn thực thi từ cấp tỉnh, thành phố để

phân tích nguyên nhân hạn chế của biện pháp hành chính, từ đó kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi trong thời gian tới

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích những nguyên nhân dẫn tới hạn chế của biện pháp hành chính trong việc thực thi bảo hộ NHHH của Việt Nam Từ các kết quả phân tích đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi bảo hộ quyền sở hữu NHHH bằng biện pháp hành chính

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu, bài nghiên cứu tập trung trả lời hai câu hỏi sau:

Câu hỏi 1: Nguyên nhân nào hạn chế hiệu quả biện pháp hành chính khi thực thi quyền sở hữu NHHH bị xâm phạm?

Câu hỏi 2: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi bảo hộ NHHH bằng biện pháp hành chính của Việt Nam?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: các hoạt động thực thi, ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu NHHH của các cơ quan hành chính

Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành dựa trên các tình huống xâm phạm và các trường hợp vi phạm phát hiện tại nhiều tỉnh, thành trong cả nước

Trang 15

1.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, phỏng vấn các chuyên gia, kết hợp thu thập thông tin khảo sát doanh nghiệp, người tiêu dùng về lĩnh vực bảo hộ NHHH để trả lời các câu hỏi nghiên cứu trên

Nguồn dữ liệu phục vụ phân tích:

(i) Khảo sát DN: Các DN tham gia khảo sát là các DN đã được xác lập bảo hộ NHHH

để lấy ý kiến DN trong việc lựa chọn các biện pháp áp dụng khi bị xâm phạm NHHH, phương thức tiếp cận thông tin cùng một số thông tin khác phục vụ bài nghiên cứu Mẫu khảo sát được chọn theo phương thức thuận tiện Hình thức khảo sát trực tiếp và qua mạng đối với 47 DN

(ii) Khảo sát người tiêu dùng: để đánh giá phản ứng của người tiêu dùng đối với tình

trạng hàng giả, xâm phạm quyền Mẫu khảo sát được chọn theo phương thức thuận tiện Hình thức khảo sát qua mạng và phỏng vấn trực tiếp gồm 100 người tham gia khảo sát

(iii) Phỏng vấn một số chuyên gia trong ngành: nhằm đánh giá phương thức tổ chức

thực thi bằng biện pháp hành chính, làm rõ một số vấn đề nghiên cứu, những trường hợp phát sinh trong quá trình thực thi

Nguồn thông tin phục vụ nghiên cứu gồm:

- Các báo cáo kết quả hoạt động SHTT hàng năm;

- Các thông tin liên quan đến trường hợp khiếu nại về xâm phạm quyền sở hữu NHHH trong nước;

- Nguồn số liệu phục vụ nghiên cứu được khai thác từ dữ liệu thứ cấp và sơ cấp qua các báo cáo của Cục SHTT, các cơ quan hữu quan, các nghiên cứu và các bài báo được đăng tải trên các website

1.6 Kết cấu đề tài

Luận văn được cấu trúc thành 4 chương Chương 1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu; Chương 2 Cơ sở lý thuyết; Chương 3 Phân tích chính sách bảo hộ NHHH; Chương 4 Kết luận và khuyến nghị chính sách

Trang 16

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Nội dung Chương 2 gồm 3 phần Trong đó, phần 2.1 giải thích các khái niệm về NHHH

và bảo hộ NHHH; Phân cấp quản lý nhà nước và vấn đề thực thi sau bảo hộ bằng biện pháp hành chính Phần 2.2 cơ sở can thiệp của nhà nước vào hoạt động bảo hộ NHHH Phần 2.3 đề cập Bộ tiêu chí ROCCIPI dùng để làm cơ sở phân tích trong phần tiếp theo của luận văn

2.1 Các khái niệm

2.1.1 Nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hàng hóa

Theo Luật SHTT (2005), NHHH được định nghĩa là những dấu hiệu, từ ngữ, hay hình ảnh hoặc được kết hợp với nhau để có tính khác biệt Thể hiện những đặc trưng dễ dàng nhận diện, phân biệt giữa DN này với các DN khác NHHH còn được dùng để phân biệt nguồn gốc khác nhau của hàng hóa (Idris, 2004) NHHH được xem là tài sản vô hình của DN và được pháp luật thừa nhận thông qua chứng nhận bảo hộ

Hoạt động bảo hộ NHHH không phải là quy định bắt buộc, đây là hoạt động khuyến khích các tổ chức, DN tham gia nhằm bảo vệ quyền hợp pháp của mình trong thị trường thương mại NHHH được gắn trên bao bì hay sản phẩm và có thể được dùng cho nhiều loại hàng hóa khác nhau của cùng một DN NHHH có thời hạn sử dụng là thời gian được nhà nước bảo hộ (Luật SHTT, 2005)

Hiện nay có sự nhầm lẫn giữa NHHH và NHH Trong khi NHH dùng để phân biệt giữa các nhóm sản phẩm, hàng hóa với nhau (thông qua tên hàng hóa được thể hiện bởi tính năng công dụng) còn NHHH chủ yếu dùng để phân biệt hàng hóa giữa các tổ chức, DN khác nhau NHH thể hiện các thông tin cần thiết theo quy định bắt buộc của Chính phủ, được gắn kèm trên sản phẩm hoặc đi kèm với sản phẩm Mỗi hàng hóa khác nhau của cùng DN đều có NHH khác nhau (xem Hộp 2.1)

Trang 17

Hộp 2.1: Phân biệt Nhãn hàng hóa và Nhãn hiệu hàng hóa

Nguồn: Tác giả tự vẽ

2.1.2 Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

Bảo hộ NHHH là một đối tượng liên quan thuộc bảo hộ Sở hữu công nghiệp Theo quy định tại Điều 72, Luật SHTT (2005) - điều kiện chung đối với NHHH được bảo hộ đáp

NHH (nhãn thông tin về hàng hóa):

- Nội dung bắt buộc thể hiện thông tin trên

nhãn (Điều 13, 14 Nghị định 89/2006/NĐ-CP)

Ngôn ngữ, kích thước, màu sắc theo quy định

- NHH được gắn trực tiếp trên bao bì, tài liệu

từ một hoặc một số yếu tố độc đáo, dễ nhận biết (Luật SHTT, 2005)

- Thông thường NHHH được gắn trên nhãn hàng hóa, trên bao bì để dễ dàng nhận diện

- NHHH áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ được xác lập bảo hộ từ phía Cục SHTT

Nhãn hàng hóa

Nhãn hiệu hàng hóa

Bắt buộc theo quy định nhà nước trước

khi đưa hàng hóa ra lưu thông trên thị

trường

Doanh nghiệp tự chịu

trách nhiệm thực hiện

Khuyến khích (không bắt buộc) DN

tham gia bảo hộ (trước hoặc sau khi đưa hàng hóa, dịch vụ ra lưu thông trên thị

trường)

Hình

thức

Hình thức

Thực

thi

Cơ quan nhà nước xác lập quyền bảo hộ (Cục Sở hữu trí tuệ) Thực

thi

Trang 18

ứng theo hai điều kiện cơ bản sau: (i) Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; (ii) Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu đối với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác

Tại Điều 73, Luật SHTT có quy định loại trừ như: “không được phép sử dụng hình ảnh, biểu tượng, quốc kỳ, quốc huy, cờ, tên viết tắt của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội nghề nghiệp” Đặc biệt đối với các dấu hiệu dễ gây nhầm lẫn

về xuất xứ, tính năng công dụng hay tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa sẽ không được chấp thuận bảo hộ Theo phân cấp quản lý hiện nay, Cục Sở hữu trí tuệ là cơ quan duy nhất trong cả nước có thẩm quyền cấp bằng bảo hộ NHHH

Theo Lê Nết (2006), kể từ khi được xác lập quyền bảo hộ thì chủ thể là đối tượng duy nhất trong cả nước sở hữu độc quyền đối với nhãn hiệu đã đăng ký Bên khác chỉ được quyền sử dụng NHHH đã được bảo hộ khi có sự chấp thuận của chủ sở hữu Các DN có thể tham gia bảo hộ trong nước hoặc bảo hộ quốc tế tùy vào nhu cầu đăng ký của DN Và ngược lại, các doanh nghiệp tại các quốc gia khác có quyền tham gia bảo hộ NHHH tại Việt Nam (Hộp 2.2)

Hộp 2.2: Tóm tắt sơ đồ bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

Nguồn: Tác giả tự vẽ

Trang 19

2.1.3 Xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa và các biện pháp can thiệp

Theo Luật SHTT (2005), xâm phạm quyền sở hữu NHHH là hành vi sử dụng bất hợp pháp NHHH khi chưa được sự chấp thuận của chủ sở hữu Quyền sở hữu này là quyền dân sự, do đó nhà nước chỉ can thiệp khi có yêu cầu của chủ sở hữu Khi quyền sở hữu bị xâm phạm, thì áp dụng các nguyên tắc của luật Hành chính, luật dân sự và luật hình sự để can thiệp

Theo quy định tại Điều 13, Thông tư 11/2015/TT-BKHCN và Nghị định 99/2013/NĐ-CP một số hành vi bị coi là xâm phạm quyền sở hữu NHHH gồm: “(i) Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với NHHH đã được bảo hộ, (ii) Gắn nhãn hiệu đã được bảo

hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh khi chưa được phép của chủ sở hữu; (iii) Sản xuất bao gồm gia công, lắp ráp, chế biến, đóng gói hàng hóa mang dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hoặc đặt hàng, giao việc, thuê người khác thực hiện các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu; (iv) Nhập khẩu hàng hóa mang dấu hiệu xâm phạm quyền đối

với nhãn hiệu…” Như vậy khi phát hiện hàng hóa có các dấu hiệu xâm phạm như trên,

chủ thể có thể lựa chọn các biện pháp can thiệp để bảo vệ quyền của mình

Biện pháp áp dụng khi chủ thể bị xâm phạm bảo hộ NHHH

Bảo vệ quyền sở hữu NHHH được hiểu là nhà nước và chủ thể quyền sở hữu NHHH sử dụng các phương thức pháp lý được quy định bởi các văn bản pháp luật (Luật, Nghị định, Thông tư, văn bản quy phạm pháp luật liên quan) để bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của chủ thể Trong trường hợp tổ chức, DN phát hiện bị xâm phạm NHHH đã được bảo hộ thì

có bốn biện pháp để can thiệp như:

(i) Biện pháp tự vệ: đây là hình thức chủ thể sở hữu tự thương lượng với bên xâm phạm,

bằng cách DN phát thông báo vi phạm đến đối tượng xâm phạm quyền bảo hộ NHHH của mình Trường hợp kết quả giải quyết không đạt yêu cầu của chủ thể, thì DN có thể áp dụng các biện pháp khác để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình Ưu điểm của biện pháp này là nhanh chóng, ít tốn kém và không bị thủ tục rườm rà do không phải chờ

sự giải quyết của cơ quan chức năng và bảo mật thông tin do hai bên tự thương lượng, thỏa thuận với nhau

(ii) Biện pháp hành chính: đây là biện pháp sử dụng công cụ của nhà nước bằng cách DN

gửi thông báo đến các cơ quan chức năng liên quan để yêu cầu can thiệp bảo vệ quyền sở hữu đã được xác lập của chủ thể Trong đó, các cơ quan liên quan trong việc tham gia

Trang 20

đảm bảo quyền được bảo hộ cho chủ sở hữu NHHH gồm hai cấp: cấp Trung ương do Cục SHTT thực thi; cấp địa phương do UBND tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm chung Ưu điểm của biện pháp này, thủ tục đơn giản (chủ thể gửi đơn và thông tin lên cơ quan chức năng); ít tốn kém và quan trọng nhất là biện pháp can thiệp của nhà nước còn hướng đến thị trường, hỗ trợ thị trường cạnh tranh lành mạnh Kiểm soát và ngăn chặn vi phạm diện rộng Tuy nhiên hạn chế của biện pháp này là phụ thuộc và mức chế tài xử lý

(iii) Biện pháp hình sự: trường hợp vi phạm NHHH có dấu hiệu gây nguy hiểm, thiệt hại

nghiêm trọng và ảnh hưởng đến xã hội thì áp dụng biện pháp hình sự theo thủ tục tố tụng của Bộ luật Hình sự Lợi thế của biện pháp này là ngăn chặn triệt để hành vi xâm phạm,

có biện pháp cưỡng chế kèm theo Tuy nhiên hạn chế của biện pháp này là thủ tục tố tụng hình sự kéo dài, thông tin không được bảo mật

(iv) Biện pháp dân sự: DN gửi đơn khiếu kiện dân sự ra Tòa án để yêu cầu bên vi phạm

chấm dứt các hành vi xâm phạm, bồi thường thiệt hại và thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều

202 Luật SHTT, 2005) Lợi thế của biện pháp này là ngăn chặn triệt để vi phạm, chủ thể được yêu cầu bồi thường Biện pháp này thời gian kéo dài, thủ tục phức tạp, và tốn kém chi phí cho bên khởi kiện

2.1.4 Phân cấp quản lý nhà nước

Khi hàng hóa đáp ứng các yêu cầu của pháp luật thì được tự do lưu thông trên thị trường, không bị giới hạn bởi phạm vi và lãnh thổ trong một địa phương hay trong một quốc gia nào Do vậy, hàng hóa xuất hiện tại tất cả các khu vực mà DN có thị phần và được thị trường chấp nhận Hiện nay, theo Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12 việc phân cấp quản lý và thực thi được thiết lập và phân bổ theo lĩnh vực quản lý nhà nước từ nông nghiệp, y tế, tài chính, v.v; và theo chức năng quyền hạn của từng ngành như: quản lý trong sản xuất, trên thị trường, xuất nhập khẩu

Hoạt động phân cấp quản lý nhà nước từ Trung ương xuống Tỉnh nhằm phát huy hiệu quả quản lý theo xu hướng phi tập trung (Worldbank, 2005) Việc trao quyền phù hợp giúp can thiệp kịp thời những vấn đề phát sinh trong thị trường; gia tăng cạnh tranh giữa các chính quyền địa phương (Chiavo-Campo và đ.t.g, 2003) Tuy nhiên để việc phân cấp trao quyền giảm rủi ro thực thi chính sách thì việc phân quyền đòi hỏi phải đảm bảo tính công khai, trách nhiệm giải trình, tăng tính tuân thủ và hiệu quả chính sách của chính quyền Theo Luật SHTT (2005), hoạt động xác lập quyền sở hữu NHHH trong nước do Cục SHTT Việt Nam (thuộc Bộ KHCN) cấp chứng nhận, trường hợp đăng ký bảo hộ quốc tế

Trang 21

thì quyền bảo hộ được xác lập do cơ quan có thẩm quyền của quốc gia DN đăng ký (xem Hộp 2.3)

Hộp 2.3: Sơ đồ phân cấp xác lập quyền sở hữu SHTT

Nguồn: Bùi Huy Bình (2008), hình 3.1 trang 13

Hoạt động thực thi sau bảo hộ gồm: (i) giải quyết đơn khiếu nại theo yêu cầu của chủ thể

sở hữu; (ii) hoạt động kiểm soát, ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền thông qua các hoạt động thanh, kiểm tra Hai nhiệm vụ này được phân cấp từ Trung ương xuống địa phương Các cơ quan hành chính thực thi gồm: UBND cấp tỉnh, Sở KHCN, Sở Công thương, Cục Hải quan, Công an kinh tế và UBND cấp huyện

2.1.5 Thực thi sau bảo hộ bằng biện pháp hành chính và các mức xử lý vi phạm

Thực thi sau bảo hộ bằng biện pháp hành chính

Can thiệp bằng biện pháp hành chính được thể hiện thông qua hai hình thức bị động và

chủ động Hình thức bị động là hình thức nhà nước can thiệp khi có yêu cầu của chủ thể

khiếu nại về việc bị xâm phạm quyền Cơ quan xử lý là Cục SHTT hoặc các cơ quan chức

Trang 22

năng của Tỉnh như: thanh tra KHCN, Công thương, Cục Hải quan, v.v Thời gian, trình tự, thủ tục xử lý không quá 40 ngày kể từ ngày nhận đơn và hồ sơ đầy đủ (xem Phụ lục 1) Kết quả xử lý khiếu nại phụ thuộc vào bên cung cấp thông tin, chứng minh quyền sở hữu được đầy đủ hơn Phương thức này can thiệp giữa chủ thể sở hữu với chủ thể xâm phạm Không hướng tới việc rà soát, phát hiện, ngăn chặn các xâm phạm khác trên thị trường mà chủ thể không phát hiện Trường hợp chủ thể sở hữu quyền gửi đơn yêu cầu can thiệp tăng cường bằng biện pháp kiểm tra, kiểm soát thì các cơ quan chức năng sẽ tiến hành thanh kiểm tra các đối tượng xâm phạm Biện pháp này can thiệp nhanh chóng và xử lý vi phạm

áp dụng theo quy định Nghị định 99/2013/NĐ-CP

Hình thức chủ động là hình thức can thiệp bằng chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà

nước để tăng cường kiểm soát, ngăn chặn các hành vi xâm phạm

Các mức xử lý vi phạm

Mức xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu NHHH được phân theo đối tượng vi phạm

là cá nhân hay tổ chức Việc xác định mức xử phạt hành chính phụ thuộc vào giá trị vi phạm và đối tượng vi phạm Đối với mỗi cấp QLNN thì thẩm quyền xử phạt của từng cấp

là khác nhau Trong đó, mức phạt thấp nhất là nhắc nhở, cảnh cáo Đối với trường hợp vi phạm là cá nhân thì mức xử phạt hành chính tối đa xử lý là 250 triệu đồng; đối với vi phạm là tổ chức thì tối đa 500 triệu đồng do cấp Trung ương xử phạt Các mức xử phạt tùy thuộc vào hành vi và mục đích vi phạm, và giá trị hàng hóa vi phạm (Nghị định 99/2013/NĐ-CP, Điều 2) Ngoài biện pháp xử phạt vi phạm hành chính, các cơ quan chức năng còn áp dụng những hình thức xử lý bổ sung như: đình chỉ hoạt động có thời hạn, tịch thu hàng hóa vi phạm, tiêu hủy nếu không loại bỏ được những xâm phạm trên hàng hóa (xem Phụ lục 2)

Trường hợp vi phạm có tổ chức, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hay vi phạm đã bị xử phạt hành chính nhiều lần cùng hành vi thì ngoài xử phạt hành chính còn áp dụng biện pháp hình sự như cải tạo hay giam giữ (Điều 171 Luật Hình sự, 2009) Về thẩm quyền xử

lý và hành vi xâm phạm, mức xử lý thực hiện theo điều 200, 211 Luật SHTT (2005) và Nghị định 99/2013/NĐ-CP

2.2 Cơ sở can thiệp của nhà nước

Theo Ngân hàng thế giới (1997), sự can thiệp của nhà nước được phân thành ba chức năng: (i) tối thiểu, (ii) trung gian, (iii) và tích cực Ba chức năng này nhằm giải quyết thất

Trang 23

bại của thị trường và cải thiện công bằng cho xã hội Với mỗi chức năng khác nhau nhà nước sẽ sử dụng biện pháp can thiệp khác nhau bằng những quy định hay chính sách nhưng mục tiêu chung đều hướng đến cải thiện công bằng và giải quyết thất bại của thị trường

Trong đó NHHH đại diện cho tài sản, hình ảnh của DN trong thương mại là rất cần thiết Nhà nước bảo hộ một cách hữu hiệu đối với quyền sở hữu NHHH nhằm đảm bảo cho DN

có công cụ tự vệ trong thị trường thương mại, tạo ra ngoại tác tích cực, nâng cao giá trị hình ảnh, tài sản của DN trên thị trường, và thúc đẩy sự sáng tạo (Lê Nết, 2006)

Hàng hóa trên thị trường đa dạng về kiểu dáng, chủng loại và có xuất xứ từ nhiều nơi khác nhau Hàng hóa được sản xuất trong nước và nhập khẩu đều tuân theo quy định pháp luật

về tiêu chuẩn, chất lượng, nhãn mác, định lượng trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường Để giảm bất cân xứng thông tin trên thị trường hàng hóa, Chính Phủ ban hành quy định DN thực hiện công bố thông tin trên nhãn như Nghị định 89/2006/NĐ-CP về nhãn hàng hóa Theo đó, DN tự thực hiện và chịu trách nhiệm tuân thủ các quy định về nhãn mác, bao bì, v.v Do đó bất cứ hình ảnh, thông tin đều do DN lựa chọn đưa trên sản phẩm,

và không bắt buộc thông qua cơ quan chức năng nào để đăng ký Không có sự khác biệt giữa hàng hóa đã được bảo hộ hay chưa được bảo hộ NHHH Trường hợp các DN chưa được xác lập bảo hộ NHHH khi phát hiện hàng giả, nhái với sản phẩm của mình thì lại không có cơ sở để yêu cầu can thiệp

Theo ông Lê Thế Bảo (2015)1, hàng nhái, xâm phạm quyền xuất hiện không loại trừ thị trường nào từ các trung tâm thương mại đến các chợ và kể cả hình thức kinh doanh phổ biến trên mạng internet hiện nay Hàng giả, nhái, xâm phạm quyền sở hữu xuất hiện rộng khắp xã hội, tuy pháp luật đã có đầy đủ các biện pháp để can thiệp nhưng hiệu quả chưa cao Tình trạng vi phạm quyền sở hữu ngày càng quy mô, tính giả mạo càng tinh vi và xuất hiện tại khắp các tỉnh, thành trong cả nước, ảnh hưởng môi trường kinh doanh và niềm tin của người tiêu dùng (Hoàng Văn Trực, 2016)2

Do đó vai trò của nhà nước can thiệp trong việc xác lập và thực thi bảo hộ NHHH rất quan trọng trong việc tạo lập thị trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ người tiêu dùng và

DN chân chính

1 Chủ tịch Hiệp hội chống hàng giả và bảo vệ quyền SHTT Việt Nam

2 Phó cục trưởng Cục Cảnh sát Điều tra tội phạm về kinh tế (Bộ Công an)

Trang 24

2.3 Bộ tiêu chí ROCCIPI

Theo Phạm Duy Nghĩa (2014), một chính sách tốt không chỉ được xây dựng tốt trên văn bản mà còn phải đáp ứng việc thực thi áp dụng trong đời sống có hiệu quả, trong đó các bên liên quan sẽ bị điều chỉnh theo quy định của chính sách trên tinh thần thượng tôn pháp luật Bộ tiêu chí ROCCIPI của Seidman và đ.t.g (2000) đã đưa ra 7 tiêu chí để nhận diện các yếu tố tác động đến chính sách bao gồm cả các yếu tố khách quan và chủ quan Bảy tiêu chí này được phân làm hai nhóm: nhóm thứ nhất gồm năm tiêu chí được nhìn nhận khách quan những vai trò của Luật lệ, Cơ hội, Thông tin, Năng lực và Quy trình Nhóm thứ hai gồm tiêu chí Lợi ích và Ý thức hệ Đây là hai tiêu chí chủ quan phụ thuộc vào cá nhân và thay đổi theo thời gian

2.3.1 Nhóm năm yếu tố khách quan trong bộ tiêu chí ROCCIPI

i) Luật lệ (Rules)

Luật lệ là những quy định trong luật và những quy tắc ứng xử xã hội có tác động đến các bên liên quan hay ảnh hưởng đến hành vi trong mối tương tác với xã hội (Seidman và đ.t.g, 2000) Tiêu chí Luật lệ sẽ giải thích tại sao con người có xu hướng thực hiện những hành vi như vậy trong mối tương quan với pháp luật, và với những ràng buộc của xã hội

Để đánh giá đầy đủ những tác động của tiêu chí Luật lệ Sedarmayanti (2003) cho rằng, Luật lệ nên được phân tích trên 5 góc độ:

(1) Những quy định của Luật có rõ ràng không?

(2) Các quy định pháp luật có đủ ngăn chặn hay khuyến khích hành vi thực hiện không? (3) Các quy định có giải quyết được nguyên nhân thực hiện hành vi vi phạm không? (4) Luật có quy định về trách nhiệm giải trình của những cơ quan thực thi không?

(5) Luật có mở rộng hay hạn chế quyền tự do lựa chọn của các bên liên quan hay không?

ii) Cơ hội (Opportunity)

Tiêu chí Cơ hội liên quan đến những hoàn cảnh, trường hợp, cơ hội hay xác suất thúc đẩy các bên liên quan thực hiện những hành vi tuân thủ hay vi phạm luật, lệ, quy tắc xã hội Các bên liên quan thường sẽ có cơ hội để thực thi pháp luật Vì thế khi xem xét tiêu chí

Cơ hội không chỉ nhìn nhận ở xu hướng thực hiện hành vi mà nên phân tích trong mối tương quan với tiêu chí Năng lực của đối tượng tham gia

iii) Năng lực (Capacity)

Trang 25

Tiêu chí này xem xét khả năng thực thi pháp luật của các bên tham gia Như đã nói ở trên Tiêu chí Năng lực cần kết hợp với Tiêu chí Cơ hội để xem xét toàn diện hơn vì trong những hoàn cảnh, cơ hội khác nhau thì năng lực thực thi cũng khác nhau

iv) Truyền thông (Communication)

Tiêu chí Truyền thông liên quan đến sự hiệu quả của việc truyền tải thông tin về luật, thông lệ, quy tắc xã hội của vấn đề này đến các bên liên quan Đây là một tiêu chí quan trọng vì nếu những quy định pháp luật và quy tắc xã hội mặc dù chặt chẽ và hiệu quả nhưng khó có khả năng truyền tải đến những bên tham gia thì cũng không đảm bảo tính hiệu quả thực thi của luật

Tiêu chí Truyền thông liên quan đến khả năng truyền tải và giao tiếp thông tin giữa các bên liên quan, mà qua đó họ cần phải nhận được và hiểu được thông tin về mục tiêu và quy định của luật này

v) Quy trình (Proccess)

Tiêu chí Quy trình liên quan tới những tiêu chuẩn và thủ tục mà qua đó giải thích được hai vấn đề, thứ nhất khả năng các bên liên quan tuân thủ hoặc không các quy định của pháp luật, thông lệ, hay quy tắc xã hội Thứ hai khuyến khích hay hạn chế những hành vi vi phạm hay tuân thủ Quy trình đảm bảo cho việc thực thi được vận hành đồng nhất giữa các cơ quan và giữa các địa phương với nhau

2.3.2 Nhóm hai yếu tố chủ quan trong bộ tiêu chí ROCCIPI

vi) Lợi ích (Interest)

Tiêu chí Lợi ích liên quan đến động cơ thúc đẩy hay khuyến khích (hữu hình hay vô hình) hành vi của các bên tham gia thực thi theo quy phạm pháp luật Thông thường những động cơ thúc đẩy thì liên quan đến chi phí và lợi ích của việc thực thi pháp luật Seidman

và đ.t.g (2000) không phủ nhận việc rất nhiều cá nhân hay tổ chức khác nhau phản ứng trước những động cơ thúc đẩy hay khuyến khích khác nhau để điều chỉnh hành vi Tuy nhiên đặt trong bối cảnh là DN thì ba yếu tố sau đây là quan trọng nhất: (i) tăng cường ảnh hưởng, (ii) mở rộng nguồn lực, (iii) giảm thiểu rủi ro

vii) “Ý thức hệ” (Ideology)

Tiêu chí “Ý thức hệ” liên quan đến những giá trị và thái độ mà xã hội thừa nhận làm tác động đến hành vi của đối tượng liên quan Ví dụ trong một xã hội có thái độ nghiêm khắc với hành vi xâm phạm quyền và những người vi phạm bị xã hội lên án phán xét hành vi

đó sẽ làm giảm khả năng thực hiện hành vi vi phạm của những cá nhân liên quan

Trang 26

Như vậy, các tiêu chí này nhằm xác định các nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi của các bên liên quan trong việc thực thi chính sách Nếu nhận diện được cụ thể các nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả thực thi thì ta có thể giải quyết những trục trặc bằng quy định hoặc những phương thức tổ chức thực hiện khác

Trang 27

CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH

Trong chương này, để tìm hiểu nguyên nhân hạn chế hiệu quả thực thi bằng biện pháp hành chính; tác giả tiến hành phân tích bảy tiêu chí ROCCIPI để nhận diện các yếu tố làm ảnh hưởng đến chính sách thực thi sau bảo hộ Dựa vào kết quả khảo sát các DN, khảo sát ý kiến người tiêu dùng và phỏng vấn chuyên gia trong ngành, kết hợp cùng một

số tình huống xâm phạm để phân tích cho các tiêu chí này

3.1 Thực trạng xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa

Hoạt động thực thi sau bảo hộ bằng hai hình thức chủ động và bị động như đã nêu trong phần 2.1.4 thì hình thức bị động chủ yếu do cấp Trung ương là Cục SHTT tiếp nhận và xử

lý các đơn khiếu nại Hình thức chủ động trong công tác phòng chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được triển khai bởi hai lực lượng chủ yếu là Thanh tra Sở KHCN, lực lượng QLTT, Cảnh sát kinh tế và Hải Quan

Trường hợp chủ thể phát hiện xâm phạm và làm đơn khiếu nại yêu cầu cơ quan chức năng giải quyết, chủ yếu do Cục SHTT là cơ quan cấp chứng nhận bảo hộ NHHH xử lý Theo báo cáo thường niên hoạt động Sở hữu trí tuệ, năm 2015 Cục SHTT tiếp nhận 158 khiếu nại về xâm phạm nhãn hiệu và xử lý 1.450 vụ xâm phạm về NHHH với tổng số tiền xử lý 12.426.159.000 đồng Năm 2014, Cục SHTT tiếp nhận và xử lý 106 đơn khiếu nại về xâm phạm nhãn hiệu, xử lý 1.082 vụ vi phạm về NHHH với tổng số tiền xử lý là 15.223.701.000 đồng Phần lớn các đơn khiếu nại được xử lý liên quan về việc sử dụng nhãn hiệu trùng lắp, gây nhầm lẫn, hoặc xâm phạm quyền sở hữu do chủ thể khiếu nại (xem Biểu đồ 3.1 và Phụ lục 3)

Biểu đồ 3.1 Số vụ vi phạm về NHHH từ 2010-2015

Nguồn: Tác giả tự vẽ

Trang 28

Hiện nay chưa có dữ liệu thống kê một cách cụ thể và đầy đủ về tổng số vi phạm, giá trị hàng hóa xâm phạm, nhóm hàng hóa xâm phạm Các dữ liệu thông tin về kết quả thực thi của một số lực lượng chức năng thể hiện trong báo cáo hoạt động hàng năm riêng lẻ từng ngành mà chưa có dữ liệu tổng hợp chung

Theo báo cáo của Cảnh sát kinh tế năm 2015, toàn ngành phát hiện 560 vụ xâm phạm quyền sở hữu, khởi tố hình sự 38 vụ vi phạm Tiêu biểu một số mặt hàng phát hiện nhái giả nhãn hiệu đã được bảo hộ như phụ tùng xe máy giả nhãn hiệu Honda với trị giá vi phạm 500 triệu đồng, xử phạt hành chính 1,5 tỷ đồng Hoặc một số mặt hàng nội thất xâm phạm giả, nhái nhãn hiệu INAX, American Standard; Viglacenra với hơn 5.000 tấn hàng nhái tổng giá trị hàng xâm phạm khoảng 1 tỷ đồng

Trong năm 2014, toàn ngành QLTT đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 17.396 vụ hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu với tổng mức xử phạt 57,6 tỷ đồng trong đó giá trị hàng hóa làm giả, xâm phạm là 35,9 tỷ đồng Trong năm 2015, tổng số vụ kiểm tra và xử lý là 16.876

vụ với tổng mức tiền xử phạt 53,2 tỷ đồng và giá trị hàng hóa vi phạm là 41,4 tỷ đồng Kết quả thanh, kiểm tra năm 2012 của Thanh tra ngành KHCN, có đến 36/69 đơn vị có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hàng hóa và bị xử lý vi phạm hành chính Tổng số tiền xử phạt là 859 triệu đồng, đồng thời yêu cầu khắc phục đối với 25.703 sản phẩm có dấu hiệu gây nhầm lẫn; buộc tiêu hủy 7.462 sản phẩm xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Thanh tra Bộ KHCN đã phối hợp với Cục QLTT xử lý 9.556 trường hợp và với lực lượng cảnh sát điều tra xử lý 36 trường hợp vi phạm bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa Năm 2013 thanh tra cũng đã tiến hành xử lý 13.037 vụ hàng giả, hàng kém chất lượng và hàng hóa xâm phạm sở hữu nhãn hiệu hàng hóa Năm

2015, xử lý 40 vi phạm với tổng mức xử phạt trên 1,6 tỷ đồng và tiêu hủy hàng ngàn sản phẩm thời trang giả nhãn hiệu “HERMES”, “CHARLES&KEITH”; “PEDRO”; v.v Đối với ngành Hải quan, trong năm 2012 tiếp nhận và xử lý 101/106 đơn yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với gần 300 nhãn hiệu bị xâm phạm các loại Kết quả xử lý gồm

101 vụ với số tiền xử phạt hành chính khoảng 300 triệu đồng, năm 2013 là xử lý 120 đơn yêu cầu và xử lý số hàng hóa lên đến hàng triệu sản phẩm đối với các mặt hàng rượu 10.110.000 chai, mỹ phẩm 300.000 sản phẩm

 Như vậy, hoạt động thực thi sau bảo hộ được các cơ quan chức năng triển khai thực hiện và áp dụng các biện pháp để xử lý vi phạm Trong đó, số vụ vi phạm và hàng hóa xâm phạm với quy mô lớn lên đến hàng trăm ngàn sản phẩm được các cơ quan chức năng

Trang 29

phát hiện trong thời gian gần đây Tuy nhiên theo đánh giá của một số chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực SHTT thì các kết quả về phát hiện vi phạm theo báo cáo chưa phản ánh đầy đủ thực tế tình trạng xâm phạm quyền sở hữu NHHH đang xảy ra trên thị trường hàng hóa hiện nay

3.2 Đánh giá theo ROCCIPI

Như đã đề cập trong phần 2.3, phần này sẽ xem xét các yếu tố tác động của biện pháp hành chính đối với hoạt động thực thi sau xác lập bảo hộ quyền sở hữu NHHH thông qua

7 khía cạnh của Bộ tiêu chí ROCCIPI

Nhóm các yếu tố khách quan trong bộ tiêu chí ROCCIPI

3.2.1 Luật lệ (Rules)

Luật lệ là những quy định trong luật và những quy tắc ứng xử xã hội Do đó để đảm bảo việc thực thi đòi hỏi các dựa trên nền tảng cơ sở pháp luật để ban hành có đủ đáp ứng thực tế, cơ sở thực tiễn Tiêu chí này xem xét các quy định của Luật, quy tắc xã hội có đủ

rõ ràng để thực thi hay không

3.2.1.1 Xem xét tính rõ ràng của Luật

Hiện tại các văn bản liên quan để đáp ứng việc thực thi bảo hộ quyền SHTT đã được quy định cụ thể trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành như: Luật số 50/2005/QH11 về SHTT và Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT có quy định về đối tượng được bảo hộ, các hành vi xâm phạm quyền, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại, v.v

Trường hợp bị xâm phạm quyền bảo hộ, chủ thể sử dụng biện pháp để can thiệp Trong đó biện pháp hành chính được can thiệp xử lý phụ thuộc vào chức năng của mỗi cơ quan thực thi Các tỉnh, thành phố đều áp dụng chung hệ thống pháp luật này Các chức năng, nhiệm

vụ của từng ngành do UBND các tỉnh, thành phố phê duyệt (xem phụ lục 4)

Theo ông TL – Trưởng phòng SHTT tỉnh X đánh giá về các quy định liên quan về thực thi bảo hộ NHHH bằng biện pháp hành chính được quy định rõ ràng trong một văn bản thống nhất, cụ thể Nghị định 99/2013/NĐ-CP như hành vi vi phạm, mức xử lý hành chính, biện pháp áp dụng (Tác giả phỏng vấn)

 Như vậy, các quy định pháp Luật về bảo hộ và thực thi bảo hộ bằng biện pháp hành chính như các hành vi vi phạm, các mức xử lý, thẩm quyền xử lý được quy định tập trung trong Nghị định 99/2013/NĐ-CP

Trang 30

3.2.1.2 Xem xét tính ngăn chặn hay khuyến khích hành vi của Luật

Hàng hóa với nhiều tính năng công dụng khác nhau, có những mặt hàng chỉ khi người sử dụng mới phân biệt được hàng chất lượng hay không, có những mặt hàng rất khó phân biệt được ngay cả khi sử dụng hoặc để thời gian dài mới nhận biết được Chẳng hạn như các mặt hàng về lĩnh vực nông nghiệp Tuy nhiên mức xử lý hiện nay không có phân biệt nhóm hàng hóa xâm phạm nên một số mặt hàng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người

sử dụng gây tổn thất nặng thì mức xử phạt này không đủ ngăn chặn hành vi xâm phạm (xem Hộp 3.1 và Phụ lục 2)

Hộp 3.1: Các mức xử lý vi phạm

Nguồn: Tác giả tự vẽ

Theo ông ĐT – Chi cục trưởng Chi cục QLTT tỉnh Y, biện pháp xử lý hành chính có quy định mức phạt cảnh cáo với hành vi xâm phạm về NHHH theo Nghị định 99/2013/NĐ-CP khi giá trị hàng hóa vi phạm dưới 3 triệu đồng (Khoản 1, Điều 11) Biện pháp này không tương xứng với hành vi xâm phạm quyền sở hữu Thực tế hiện nay tại Việt Nam, hình thức kinh doanh mua bán theo dạng bán lẻ, tiểu thương, tạp hóa, nên số lượng hàng hóa xâm phạm khi phát hiện có tổng giá trị thấp Trong khi phương thức quản lý nhà nước

Cảnh cáo (vi phạm

dưới 3 triệu)

Bán, chào hàng, vận chuyển, đặt hàng

Thấp nhất

Thẩm quyền cấp tỉnh

Biện pháp xử lý

kèm theo

Tịch thu, tiêu hủy

Tạm ngưng kinh doanh

Điều tra, khởi tố

Hành vi

Giá trị vi phạm

Trang 31

theo dạng kiểm soát trong khâu mua bán là chủ yếu Các hàng hóa xâm phạm không loại trừ từ các mặt hàng thực phẩm, nước giải khát, dược phẩm, đến các sản phẩm may mặc, hàng tiêu dùng, từ những hàng hóa có giá trị thấp đến giá trị cao Một số các mặt hàng thực phẩm tuy có giá trị không cao nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người dùng hoặc các mặt hàng nông nghiệp gây thiệt hại rất lớn đến mùa vụ nhưng cũng áp dụng theo giá trị hàng hóa và hành vi vi phạm này (tác giả phỏng vấn)

Các cơ quan hành chính thực thi bảo vệ quyền sở hữu NHHH cho chủ thể chủ yếu bằng công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, việc lựa chọn đối tượng kiểm tra, tổ chức thực hiện riêng lẻ hay phối hợp hiện chưa có sự khác biệt đáng kể so với các hoạt động kiểm tra thông thường khác

 Như vậy, việc không phân biệt các nhóm hàng hóa vi phạm, các mức xử phạt hành chính theo đánh giá của chuyên gia thực thi thì mức xử phạt đang áp dụng hiện nay cho các hành vi xâm phạm quyền sở hữu NHHH như cảnh cáo hoặc mức phạt tiền chưa tương xứng với hành vi vi phạm Do đó chưa đảm bảo ngăn chặn được tình trạng xâm phạm

3.2.1.3 Xem xét các quy định của Luật giải quyết được nguyên nhân thực hiện hành vi vi phạm

Có nhiều nguyên nhân thực hiện hành vi vi phạm, và xuất phát từ nhiều phía:

(1) Về phía người vi phạm: có nhiều nguyên nhân, trong đó có hai nguyên nhân chính Thứ nhất người vi phạm không biết mình vi phạm Theo ông HL – thanh tra Sở KHCN

tỉnh X, tại Việt Nam kênh phân phối phổ biến nhất vẫn là các đại lý bán lẻ, tạp hóa, tiểu thương tại chợ với phương thức kinh doanh dạng hộ gia đình và không biết được các quy định pháp luật nhà nước cũng như không phân biệt được hàng hóa đã được bảo hộ NHHH hay không, không phân biệt được hàng nhái, giả NHHH (Tác giả phỏng vấn)

Thứ hai người vi phạm biết bị vi phạm nhưng lợi nhuận đem lại từ việc sản xuất, kinh

doanh hàng nhái, giả nhãn hiệu đem lại lợi nhuận lớn Phương thức kiểm soát hàng hóa của các cơ quan chức năng hiện nay chủ yếu kiểm tra trực tiếp tại các điểm mua bán ngoài thị trường, rất ít kiểm soát hình thức mua bán qua mạng, thêm vào đó mức xử lý vi phạm hành chính thấp Các kết quả xử lý vi phạm được báo cáo chưa phản ánh hết thực tế của thị trường về hàng giả, xâm phạm quyền Biện pháp áp dụng kèm theo như tịch thu hay đình chỉ kinh doanh chưa thực sự răn đe Thêm vào đó việc thành lập cơ sở, DN mới theo Nghị định 43/2010/NĐ-CP, Điều 52 thì quy trình thủ tục đơn giản (điền theo mẫu đăng

ký, chứng minh nhân dân người đại diện, hộ khẩu, hợp đồng địa điểm kinh doanh,…) và

Trang 32

được cấp chứng nhận đăng ký trong vòng 5 ngày, nên các đối tượng vi phạm dễ dàng thành lập DN mới nếu áp dụng biện pháp cao nhất là ngưng kinh doanh kèm theo

(2) Về phía cơ quan quản lý: Hoạt động thanh, kiểm tra đối với lĩnh vực SHTT được triển

khai theo hai hình thức Thứ nhất là theo kế hoạch năm đã được lập; thứ hai là kiểm tra đột xuất theo yêu cầu chỉ đạo của cấp trên hay từ phía DN bị xâm phạm yêu cầu Việc kiểm soát này do nhiều cơ quan khác nhau, trong đó lực lượng QLTT, Thanh tra Sở KHCN, Cảnh sát kinh tế là chủ yếu nhưng nguồn lực thực thi còn hạn chế

Chẳng hạn trong suốt giai đoạn từ năm 2012 – 2015 hoạt động thực liên quan đến SHTT tại tỉnh X do thanh tra Sở KHCN kiểm tra là 105 vụ, Chi cục QLTT kiểm tra 133 đơn vị Cục Hải quan nhận được 96 trường hợp can thiệp bằng biện pháp xuất nhập khẩu tuy nhiên không phát hiện trường hợp nào Tổng số vụ vi phạm quyền sở hữu NHHH là 128

vụ với tổng số tiền xử phạt cho cả giai đoạn này là 886.200.000 đồng

Nguồn: Báo cáo số 12/BC-SKHCN ngày 18/3/2016 Kết quả của cả nước ở giai đoạn này tổng số vụ xâm phạm là 5.695 vụ với tổng số tiền xử phạt là 49.491.175.000 đồng Với số vụ phát hiện xâm phạm và các mức xử phạt hành chính áp dụng được tính theo giá trị hàng hóa vi phạm, hành vi vi phạm còn thấp

3.2.1.4 Xem xét trách nhiệm giải trình của những cơ quan thực thi

Việc thực thi hoạt động bảo hộ quyền sở hữu được quy định tại Luật Số 50/2005/QH11 và Luật số 36/2009/QH12, về phân công trách nhiệm thực hiện giữa các cơ quan chức năng Việc thực hiện theo chức năng nhiệm vụ của các cơ quan được triển khai dưới hai hình thức (i) Theo kế hoạch hoạt động đã định sẵn, (ii) đột xuất khi có yêu cầu từ cơ quan cấp trên hay từ phía chủ thể Đánh giá các hoạt động triển khai thực hiện dưới hình thức báo cáo năm, báo cáo định kỳ và được thể hiện chung thông qua dữ liệu báo cáo hoạt động Sở hữu trí tuệ thường niên hàng năm do Cục SHTT thể hiện Theo nội dung phỏng vấn ông

TL – Trưởng phòng SHTT, Sở KHCN tỉnh X thì công tác thực thi của Đoàn 168 với mục tiêu chính của đoàn là tuyên truyền và hướng dẫn, do đó Đoàn 168 không có chủ trương

Trang 33

“nhắm đến các đối tượng vi phạm”, mà chủ yếu là nhắm đến các đối tượng có các hoạt động sản xuất, kinh doanh liên quan nhiều đến sở hữu công nghiệp (tác giả phỏng vấn)

 Như vậy, trách nhiệm giải trình trong hoạt động thực thi của các cơ quan chưa được quy định cụ thể Đồng thời hoạt động thực thi không chịu sự kiểm soát cũng như phân định cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc thực thi Điều này phần nào hạn chế hiệu quả thực thi của các cơ quan chức năng

3.2.1.5 Xem xét tính mở rộng hay hạn chế quyền tự do lựa chọn của các bên liên quan

Theo quy định Luật Số 50/2005/QH11 và Luật số 36/2009/QH12 thì khi chủ thể bị xâm phạm quyền có thể lựa chọn các hình thức can thiệp phù hợp như (i) tự thương lượng, hòa giải, (ii) dân sự, (iii) hình sự, (iv) hành chính Quyền sở hữu NHHH là quyền dân sự do đó chủ thể có thể yêu cầu các cơ quan chức năng can thiệp hay không Các biện pháp can thiệp được mở rộng và chủ thể không bị hạn chế quyền lựa chọn biện pháp áp dụng Kết quả khảo sát của tác giả về lựa chọn biện pháp can thiệp khi bị xâm phạm thì hình thức lựa chọn hòa giải, tự thương lượng là cao nhất chiếm 60%, kế đến là biện pháp hành chính chiếm 26% (xem Biểu đồ 3.2)

Biểu đồ 3.2: Lựa chọn biện pháp can thiệp của DN khi bị xâm phạm

Nguồn: Tác giả tự vẽ

 Như vậy, các DN được mở rộng quyền tự do lựa chọn hình thức can thiệp khi bị xâm phạm NHHH đã được bảo hộ Kết quả khảo sát cho thấy các DN lựa chọn nhiều biện pháp khác nhau phụ thuộc vào quy mô và lĩnh vực hoạt động của DN

Trang 34

3.2.2 Cơ hội (Opportunity)

Với sự phát triển của khoa học, công nghệ và dịch vụ như dễ dàng đặt in nhãn hiệu, bao bì tương tự như các mẫu có sẵn trên thị trường Do đó có nhiều cơ hội để các đối tượng dễ dàng làm nhái, giả các bao bì hàng hóa đã được bảo hộ quyền với nhiều phương thức thực hiện khác nhau Chẳng hạn như sang, chiết vào vỏ đựng sản phẩm của các hàng hóa đã được bảo hộ; hoặc gắn tem, nhãn hiệu giả mạo các NHHH đã được bảo hộ; đặt hàng gia công nơi khác và nhập về gắn tem nhãn rồi đưa ra thị trường, v.v Chẳng hạn như trường hợp vi phạm nêu trong Hộp 3.2 Để làm rõ hơn vấn đề, Tác giả liên hệ với các cơ sở in gia công bao bì, nhãn hiệu để thực hiện đặt hàng in các mẫu mã bao bì của các mặt hàng có nhãn hiệu đã được bảo hộ Phương thức đặt hàng đơn giản bằng việc cung cấp mẫu bao bì sẵn, thỏa thuận giá cả và số lượng đặt in Trong vòng 3-5 ngày sẽ hoàn thành hợp đồng với giá trị từ 2-5 triệu đồng

Hình thức thương mại của nước ta ngày càng đa dạng, việc kinh doanh không chỉ dưới hình thức mua bán tại các đại lý, các điểm bán hàng thông thường mà ngày càng phát triển dưới dạng kinh doanh qua mạng Lợi thế của việc kinh doanh qua mạng đem lại ưu thế vượt trội trong thời đại hiện nay như: kinh doanh 24/24 giờ trong ngày, giảm chi phí mặt bằng, chi phí thuê nhân viên và quan trọng hơn là ít chịu sự kiểm soát của cơ quan quản

lý Do đó hình thức giao dịch mua bán qua mạng này thuận tiện và hầu như là lựa chọn cho cả những doanh nghiệp kinh doanh truyền thống không chỉ thông qua mạng lưới phân phối Việc kinh doanh ít chịu sự kiểm soát của cơ quan nhà nước nên dễ dàng tạo điều kiện cho các mặt hàng xâm phạm quyền có mặt khắp nơi trong cả nước Để có góc nhìn khách quan hơn về cơ hội để đưa các mặt hàng xâm phạm nhãn hiệu ra ngoài thị trường, tác giả đã liên hệ để trở thành đại lý phân phối một số mặt hàng đã được bảo hộ như: túi xách, mắt kính, mỹ phẩm, quần áo của một số nhãn hàng nổi tiếng Với phương thức kinh doanh đơn giản như trở thành đại lý phân phối với số vốn ban đầu từ 5-10 triệu đồng và lợi nhuận đem lại là 30-60% tổng vốn, hoặc kinh doanh dưới dạng cộng tác viên với lợi nhuận trung bình từ 15-25% tùy mặt hàng và tùy đầu mối cung cấp Qua đó cho thấy, cơ hội để thực hiện các hành vi và lợi nhuận đem lại rất lớn từ việc đưa các hàng hóa xâm phạm ra thị trường là rất lớn

Ngày đăng: 13/03/2017, 13:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hộp 2.3: Sơ đồ phân cấp xác lập quyền sở hữu SHTT - Bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa trong nước bằng biện pháp hành chính   từ chính sách đến thực thi
p 2.3: Sơ đồ phân cấp xác lập quyền sở hữu SHTT (Trang 21)
Phụ lục 5: Hình thức công bố thông tin liên quan hoạt động SHTT năm 2015 tại 10 - Bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa trong nước bằng biện pháp hành chính   từ chính sách đến thực thi
h ụ lục 5: Hình thức công bố thông tin liên quan hoạt động SHTT năm 2015 tại 10 (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w